Định hướng và giải pháp chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trên địa bàn Thành phố Hà Nội đến năm 2020
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Cơ cấu kinh tế và tăng trưởng kinh tế có mối quan hệ với nhau rất mật thiết.Nếu cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch hợp lý phù hợp thì sẽ góp phần thúc đẩy tăngtrưởng kinh tế và ngược lại Cơ cấu kinh tế tổng thể các bộ phận cấu thành nềnkinh tế như cơ cấu ngành, cơ cấu các khu vực kinh tế, cơ cấu vùng lãnh thổ Vềhình thức cơ cấu kinh tế được thể hiện dưới các dạng tỷ trọng của các chỉ tiêu kếtquả Trong cơ cấu kinh tế thì cơ cấu ngành có ý nghĩa kinh tế cực kỳ lớn Có thểnói sự thành công hay thất bại của một quốc gia phụ thuộc vào sự chuyển dịch cơcấu ngành kinh tế
Ngày nay khi quá trình CNH-HĐH và xu hướng quốc tế hoá toàn cầu và toàncầu hoá khu vực đang diễn ra hầu hết ở các quốc gia Đứng trước thực trạng nhưvậy Việt Nam sẽ gặp rất nhiều khó khăn những thách thức cũng như những cơ hộicho sự tăng trưởng kinh tế của mình Việt Nam cũng giống như các nước phát triểnmuộn, CNH mới ở chặng đầu, nền kinh tế vẫn chuyển dịch theo hướng nôngnghiệp Để phấn đấu nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp vào năm 2020 vấn
đề được đặt ra là chúng ta cần phải nghiên cứu một cánh toàn diện những tác động
xu thế mới để đưa ra những quyết định về lựa chọn các bước đi thích hợp, phù hợpvới yêu cầu phát triển kinh tế xã hội trong thời kỳ mới là vấn đề lớn cấp bách cả ở
lý luận và thực tiễn ở phạm vi quốc gia, từng ngành và ở từng địa phương
Cùng với nhịp độ phát triển chung của cả nước, Hà Nội cũng đang tìm hướngchuyển dịch cơ cấu riêng cho mình Với đặc điểm là thành phố đã được mở rộnghơn, nguồn lực tự nhiên và nguồn lực xã hội đã có sự thay đổi Do vậy hướng đi cũcần được điều chỉnh cho phù hợp vời tình hình thực tế hiện nay của thành phố.Thành phố Hà Nội cũng xác định chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế là một việc hếtsức khó khăn phức tạp Đòi hỏi chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của thành phốphải dựa vào định hướng chung của Đảng và nhà nước, đồng thời phải phù hợp với
Trang 2nguồn lực thực tế của thành phố Từ đó đưa ra các giải pháp thích ứng với tình hình
cụ thể của địa phương Đây là căn cứ cho việc lựa chọn cơ cấu hợp lý mà nhân tốchính được dựa trên tín hiệu về lợi thế so sánh của Thành phố Hà Nội đối với trongnước và quốc tế
Với những suy nghĩ như vậy sau thời gian thực tập và nghiên cứu các tài liệuliên quan và tìm hiểu tình hình thức tế Cùng với những kiến thức đã học và dưới
sự hướng dẫn tận tình của thầy Lê Huy Đức em chọn đề tài “ Định hướng và giải pháp chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trên địa bàn Thành phố Hà Nội đến năm 2020 ” làm chuyên đề thực tập với mục đích tìm hiểu nghiên cứu để hiểu rõ
hơn về quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế, cũng như xu hướng của quátrình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của thành phố Hà Nội trong thời gian tới Trongbài viết này, em xin đưa ra nội dung nghiên cứu như sau :
CHƯƠNG 1: SỰ CẦN THIẾT CỦA CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ
NGÀNH TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI.
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ
CỦA THÀNH PHỐ HÀ NỘI.
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ CỦA THÀNH PHỐ HÀ NỘI ĐẾN NĂM 2020.
Trong quá trình thực hiện đề tài không tránh khỏi thiếu sót Em mong nhận được
sự phê bình đánh giá của thầy và các bạn, để các bài viết sau của em dược hoànchỉnh hơn
Em xin cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của thầy Lê Huy Đức để em hoàn thành bàiviết này Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn thầy
Trang 3CHƯƠNG 1 SỰ CẦN THIẾT CỦA CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU
KINH TẾ NGÀNH TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI
1 CƠ CẤU KINH TẾ VÀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NGÀNH 1.1.Cơ cấu kinh tế
1.1.1.Khái niệm
Cơ cấu kinh tế là một tổng thể hợp thành bởi nhiều yếu tố kinh tế của nền kinh
tế quốc dân, giữa chúng có những mối liên hệ hữu cơ, tương tác qua lại cả về sốlượng lẫn chất lượng, trong những không gian và điều kiện kinh tế- xã hội cụ thể,chúng vận động hướng vào những mục tiêu nhất định
1.1.2 Nội dung cơ cấu kinh tế.
a Đặc trưng :
- Cơ cấu kinh tế được hình thành một cách khách quan do trình độ phát triểncủa lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội Một cơ cấu kinh tế mới trongtừng thời kỳ bao giờ cũng đứng trước một cơ cấu kinh tế của thời kỳ trước để lại
Sự khác nhau về điều kiện tự nhiên,hoàn cảnh lịch sử cụ thể, sự hoạt động của cácquy luật kinh tế đặc thù của các phương thức sản xuất sẽ quyết định tính khác biệt
về cơ cấu kinh tế của mỗi vùng, mỗi nước.Do vậy cơ cấu kinh tế phản ánh quy luậtchung của quá trình phát triển ,nhưng những biếu hiện cụ thể phải thích ứng vớiđặc thù của mỗi nước mỗi vùng về tự nhiên , kinh tế và lịch sử Không có một mẫu
cơ cấu kinh tế chung cho mọi phương thức sản xuất Mỗi quốc gia mỗi vùng có thể
và cần thiết phải lựa chọn cho mình một cơ cấu kinh tế phù hợp với mỗi giai đoạnlịch sử phát triển
- Cơ cấu kinh tế không thể cố định mà phải có sự biến đổi điều chỉnh vàchuyển dịch cho phù hợp với sự biến đổi các điều kiện kinh tế xã hội và tiến bộ
Trang 4khoa học công nghệ để đảm bảo quy mô và nhịp độ phát triển kinh tế Cơ cấu kinh
tế luôn vân động, phát triển và chuyển hoá cho nhau theo hướng ngày cáng hoànthiện Cơ cấu cũ chuyển đổi dần dần và ra đời cơ cấu mới thay thế nó Cơ cấu mớisau một thời gian lại trở nên không phù hợp và lại được thay thế băng cơ chế khácphù hợp hơn Cứ như thế cơ cấu vận động không ngừng từ đơn giản đến phức tạp
và ngày càng thêm hoàn thiện Tuy nhiên cơ cấu kinh tế không thể luôn luôn thayđổi mà phải tương đối ổn định đảm bảo sự phù hợp với quá trình hình thành và pháttriển một cách khách quan
- Việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế là một quá trình ,không phải dược hìnhthành ngay một lúc và lập tức thay thế cơ chế cũ Quá trình chuyển dịch cơ cấungành kinh tế phải là quá trình tích luỹ về lượng đến một mức độ nào đó dẫn đền sựthay đổi về chất Trong quá trình đó , cơ cấu cũ thay đổi dần dần và chuyển sang cơchế mới Quá trình này nhanh hay chậm tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố trong đó có sựtác động trực tiếp rất quan trọng của các chủ thể quản lý và lãnh đạo
b Phân loại.
Cơ cấu kinh tế là hình thức tồn tại và hoạt động của nền kinh tế quốc dân xéttheo những tiêu thức khác nhau.Từ đó xuất hiện nhiều loại cơ cấu khác nhau có cấutrúc chồng chéo lên nhau, những loại cơ cấu thường được quan tâm như là: cơ cấutheo các ngành kinh tế, cơ cấu theo các thành phần kinh tế, cơ cấu vùng kinh tế, cơcấu đầu tư…
Tuy nhiên ,xét một cách tổng quát thì ba bộ phận cơ bản hợp thành cơ cấu kinh tế
là cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu thành phần kinh tế, cơ cấu vùng kinh tế
- Cơ cấu ngành kinh tế :
Theo quan điểm của lý thuyết hệ thống, có thể đưa ra một định nghĩa như sau:
Cơ cấu ngành kinh tế là tập hợp tất cả các ngành hình thành lên nền kinh tế và các mối quan hệ tương đối ổn định giữa chúng
Trang 5Cơ cấu ngành kinh tế phản ánh phần nào trình độ phân công lao động xã hộichung của nền kinh tế và trình độ phát triển của lực lượng xản suất Nó biểu hiệncác mối liên hệ giữa các nhóm ngành của nền kinh tế quốc dân Thay đổi mạnh mẽ
cơ cấu ngành là nét đặc trưng của các nước đang phát triển
- Cơ cấu lãnh thổ :
Nếu cơ cấu ngành kinh tế hình thành từ quá trình phân công lao động xã hội vàchuyên môn hoá sản xuất thì cơ cấu kinh tế lãnh thổ lại được hình thành chủ yếu từviệc bố trí sản xuất theo không gian địa lý
Cơ cấu lãnh thổ và cơ cấu ngành kinh tế thực chất là hai mặt của một thể thốngnhất và đều là biểu hiện của sự phân công lao động xã hội Cơ cấu lãnh thổ hìnhthành gắn liền với cơ cấu ngành và thống nhất trong vùng kinh tế Trong cơ cấulãnh thổ, có sự biểu hiện của cơ cấu ngành trong điều kiện cụ thể của không gianlãnh thổ Xu hướng phát triển kinh tế lãnh thổ thường là phát triển nhiều mặt tổnghợp, có ưu tiên một vài ngành và gắn liền với các điều kiện, tiềm năng phát triểnkinh tế của lãnh thổ Việc chyển dịch cơ cấu lãnh thổ phải đảm bảo sự hình thành
và phát triển có hiệu quả các ngành kinh tế, các nước, phù hợp với đặc điểm tựnhiên, kinh tế xã hội, phong tục tập quán, truyền thống của mỗi vùng, nhằm khaithác triệt để thế mạnh của vùng đó
- Cơ cấu thành phần kinh tế:
Cơ sở hình thành cơ cấu thành phần kinh tế là chế độ sở hữu Một cơ cấu thànhphần kinh tế hợp lý phải dựa trên cơ sở hệ thống tổ chức kinh tế với chế độ sơ hữu
có khả năng thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất,thúc đẩy phân công laođộng xã hội… theo đó,cơ cấu thành phần kinh tế cũng là một nhân tố tác động đến
cơ cấu ngành kinh tế và cơ cấu lãnh thổ Sự tác động đó là một biểu sinh động củamối quan hệ giữa các loại cơ cấu trong nền kinh tế
Trang 61.2 Cơ cấu ngành kinh tế
Cơ cấu ngành kinh tế là tương quan giữa các ngành trong tổng thể kinh tế,thể hiện mối quan hệ hữu cơ và sự tác động qua lại cả về số và chất lượng giữa cácngành với nhau Các mối quan hệ này được hình thành trong những điều kiện kinh
tế - xã hội nhất định, luôn luôn hướng vào những mục tiêu cụ thể Có thể hiểu cơcấu ngành kinh tế theo những nội dung sau:
Thứ nhất, đó là số lượng các ngành kinh tế được hình thành Số lượng ngànhkinh tế không cố định, nó luôn được hoàn thiện theo sự phát triển của phân cônglao động xã hội Nguyên tắc phân ngành xuất phát từ tính chất phân công lao động
xã hội, biểu hiện cụ thể qua sự khác nhau về quy trình công nghệ của các ngànhtrong quá trình tạo ra sản phẩm vật chất và dịch vụ Các ngành kinh tế được phânthành 3 khu vực hay gọi là 3 ngành gộp : khu vực I bao gồm các ngành nông – lâm– ngư nghiệp; khu vực II là các ngành công nghiệp và xây dựng; khu vực III gồmcác ngành dịch vụ
Thứ hai, cơ cấu ngành kinh tế thể hiện mối quan hệ tương hỗ giữa các ngànhvới nhau Mối quan hệ này bao gồm cả mặt số và chất lượng Mặt số lượng thể hiện
ở tỷ trọng ( tính theo GDP, lao động, vốn, …) của mỗi ngành trong tổng thể nềnkinh tế quốc dân, còn khía cạnh chất lượng phản ánh vị trí, tầm quan trọng của từngngành và tính chất của sự tác động qua lại giữa các ngành với nhau Sự tác độngqua lại giữa các ngành có thể là trực tiếp hoặc gián tiếp Tác động trực tiếp baogồm tác động cùng chiều và ngược chiều còn mối quan hệ gián tiếp được thể hiệntheo các cấp 1, 2, 3,…Nói chung mối quan hệ của các ngành cả số và chất lượngđều thường xuyên biến đổi và ngày càng trở lên phức tạp hơn theo sự phát triển củalực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội trong nước và quốc tế
Các chỉ tiêu đánh giá cơ cấu kinh tế ngành là: Tốc độ của chuyển dịch cơ cấu kinh
tế, tính hợp lý chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tính hiệu quả của chuyển dịch cơ cấukinh tế, tính bền vững của chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Trang 71.3 Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
1.3.1.Khái niệm
Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế là quá trình thay đổi của cơ cấu ngành từtrạng thái này sang trạng thái khác ngày càng hoàn thiện hơn, phù hợp với môitrường và điều kiện phát triển Chuyển dịch cơ cấu ngành không chỉ là thay đổi về
số lượng các ngành, tỷ trọng của mỗi ngành mà còn bao gồm sự thay đổi về vị trí,tính chất mối quan hệ trong nội bộ cơ cấu ngành Việc chuyển dịch cơ cấu ngànhphải dựa trên cơ sở một cơ cấu hiện có và nội dung của sự chuyển dịch là cải tạo cơcấu cũ, lạc hậu hoặc chưa phù hợp để xây dựng cơ cấu mới tiên tiến, hoàn thiện và
bổ sung cơ cấu cũ nhằm biến cơ cấu cũ thành cơ cấu mới hiện đại và phù hợp hơn
1.3.2 Xu hướng chuyển dịch cơ cấu ngành
Cơ cấu kinh tế luôn thay đổi theo từng thời kỳ phát triển bởi các yếu tố hợpthành cơ cấu kinh tế không cố định Cấu tạo của cơ cấu kinh tế bao gồm cơ cấungành kinh tế, cơ cấu lãnh thổ và cơ cấu thành phần kinh tế Trong đó cơ cấu ngành
là quan trọng nhất, sự chuyển dịch của cơ cấu ngành quyết định đến sự chuyển dịchcủa cơ cấu kinh tế Ta biết rằng cơ cấu ngành là khái niệm mang tính chất “động”
do dựa vào phân công lao động xă hội, sự phát triển của khoa học kỹ thuật Màchúng lại là những yếu tố không cố định do đó cơ cấu ngành là khái niệm mangtính chất động Do đó chuyển dịch cơ cấu kinh tế cũng cần phải có sự chuyển dịchsao cho phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế Theo kinh nghiệm của các nước
đi trước và căn cứ vào các quy luật phát triển kinh tế xã hội Ngày nay, một xuhướng thay đổi kinh tế rõ ràng trong quá trình phát triển là:
- Khi thu nhập theo đầu người tăng lên thì tỷ trọng của sản phẩm côngnghiệp trong tổng sản phẩm quốc dân sẽ giảm xuống ,tỷ trọng công nghiệp dịch
vụ sẽ tăng lên và đền một trình độ nhất định tỷ trọng của dịch vụ sẽ tăng nhanhhơn công nghiệp
Trang 8- Các ngành kinh tế sẽ tịnh tiến đến ngành có vốn cao (như nề kinh tế tri thức,ngành kinh tế có ứng dụng nhiều khoa học công nghệ …).
- Xu hướng toàn cầu hoá, đó cũng chính là cơ hội và thách thức đối với cácnước đang phát triển
1.4 Ý nghĩa nghiên cứu cơ cấu ngành và xu hướng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế.
Xét trên khía cạnh tăng trưởng và phát triển kinh tế thì dạng cơ cấu ngànhđược xem là quan trọng nhất, được quan tâm nghiên cứu nhiều nhất vì nó phản ánh
sự phát triển của khoa học công nghệ, lực lượng sản xuất, phân công lao độngchuyên môn hoá và hợp tác sản xuất Trạng thái cơ cấu ngành là dấu hiệu phản ánhtrình độ phát triển kinh tế của mỗi quốc gia.Quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành làmột quá trình diễn ra liên tục và gắn liền với sự phát triển kinh tế Ngược lại nhịp
độ phát triển, tính chất bền vững của quá trình tăng trưởng lại phụ thuộc vào khảnăng chuyển dịch cơ cấu ngành linh hoạt, phù hợp với những điều kiện bên trong,bên ngoài và các lợi thế tương đối của nền kinh tế
Mối quan hệ giữa chuyển dịch cơ cấu ngành với sự phát triển chung của nềnkinh tế có ý nghĩa hết sức quan trọng vì gắn với nó là cả một động thái về phân bốcác nguồn lực hạn hẹp của một quốc gia trong những thời điểm nhất định vàonhững hoạt động sản xuất riêng Sự chuyển dịch cơ cấu ngành thể hiện tính hiệuquả của việc phân bố nguồn lực Trong nền kinh tế hội nhập kinh tế quốc tế và khuvực ngày càng phát triển thì việc lựa chọn và chuyển dịch hợp lý cơ cấu ngành thểhiện được các lợi thế tương đối và khả năng cạnh tranh của một quốc gia trong nềnkinh tế toàn cầu, là cơ sở cho sự chủ động tham gia và thực hiện hội nhập thắng lợi
1.5.Tiêu chí và chỉ tiêu đánh giá chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
1.5.1.Tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Trong quá trình mở rộng quy mô của nền kinh tế, do tốc độ tăng trưởng củacác bộ phận cấu thành nền kinh tế không giống nhau, dẫn đến các mối quan hệ về
Trang 9số lượng và chất lượng giữa chúng thay đổi, tức cơ cấu kinh tế biến đổi Sự biếnđổi của cơ cấu kinh tế là một quá trình thường xuyên, liên tục và thường diễn ra vớitốc độ tương đối chậm chạm theo thời gian Các nhà kinh tế gọi quá trình biến đổi
đó là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế Có nhiều phương pháp đánh giá trình độchuyển dịch cơ cấu kinh tế song phương pháp vector là phương pháp được sử dụngphổ biến hơn cả Đ ể lượng hoá mức độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế giữa hai thờiđiểm t0 và t1, người ta thường dùng công thức sau:
n
i
i n
i i
t S t S
t S t S
2 0 2
1 0 1
) ( )
(
) ( ) ( cos
Trong đó: Si(t) là tỷ trọng ngành i tại thời điểm t
φ được coi là góc hợp bởi 2 véc tơ cơ cấu S(t0) và S(t1)
Khi đó Cosφ càng lớn bao nhiêu thì các cơ cấu càng gần nhau bấy nhiêu và ngượclại Khi cosφ = 1 thì góc giữa hai vector này bằng φ điều đó có nghĩa là hai cơ cấuđồng nhất Khi cosφ = 0 thì góc giữa hai véc tơ này bằng 900 và các vector cơ cấu
là trực giao với nhau Như vậy:
0 ≤ φ ≤ 900
Để đánh giá một cách trực giác sự chuyển dịch có thể so sánh góc 0 với giớihạn tối đa của sự sai lệch giữa hai vector Do vậy tỷ số φ / 90 phản ánh tỷ lệ chuyểndịch cơ cấu
1.5.2.Hiệu quả chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Sự ổn định về kinh tế, chính trị, xã hội là yêu cầu trước hết để các nhà kinhdoanh yên tâm bỏ vốn đầu tư, có thể dự kiến và thực thi những dự án đầu tư dài
Trang 10hạn, giảm bớt rủi do trong quá trình đầu tư Sự ổn định về kinh tế liên quan đặc biệtđến sự ổn định của tiền tệ, sự đúng đắn của các định hướng chiến lược phát triểndài hạn đất nước.
Môi trường đầu tư được hệ thống luật pháp và chính sách của nhà nước đảmbảo Hệ thống luật pháp, trước hết là luật đầu tư công bằng, hợp lý và được đảmbảo thực thi trong thực tiễn đối với mọi thành phần kinh tế, tạo dựng một nềnkinh tế thị trường, với những quy luật vốn có phát huy tác dụng tích cực của cơchế thị trường Nhờ đó, các nguồn vốn đầu tư được huy động, phân bổ, sử dụng
có hiệu quả
1.5.3.Tính hợp lý của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Tính hợp lý của một cơ cấu kinh tế thực chất là sự chuyển dịch cơ cấu sảnlượng đầu ra Sự chuyển dịch đó phụ thuộc vào hai yếu tố: năng suất lao động vàquy mô sử dụng các yếu tố đầu vào như vốn, lao động, tài nguyên và khoa họccông nghệ
Việc xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý có ý nghĩa vô cùng quan trọng Vì tăngtrưởng kinh tế và biến đổi cơ cấu kinh tế là hai mặt của phát triển kinh tế Giữachúng có mối quan hệ qua lại như mối quan hệ giữa lượng và chất Cơ cấu kinh tếhợp lý thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tăng trưởng kinh tế tạo điều kiện cần thiết đểhoàn thiện hơn nữa cơ cấu kinh tế trong tương lai
1.5.4.Tính bền vững trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
- Về mặt xã hội: Các chỉ số xã hội là thước đo mục tiêu cuối cùng của sựphát triển, nó được thể hiện trên các khía cạnh: mức độ bảo đảm các nhu cầu củacon người, mức độ nghèo đói và bất bình đẳng về kinh tế cũng như xã hội Cácnghiên cứu kinh tế phát triển cho rằng vấn đề đảm bảo xã hội và tăng trưởng kinh
tế không phải luôn vận động đồng biến với nhau, nó phụ thuộc vào trình độ pháttriển kinh tế, hướng đi của mỗi nước trong quá trình thực hiện mục tiêu phát triển
Trang 11và quan trọng hơn là chính sách phân phối thu nhập cũng như sự quan tâm đối vớingười nghèo và tầng lớp dễ bị tổn thương trong xã hội của nhà nước.
- Về môi trường: Việc khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên luôn gắn bóhữu cơ với bảo vệ môi trường sinh thái Vì thế, cần phải hoàn thiện hệ thống phápluật, chính sách về khai thác sử dụng tài nguyên thiên nhiên và tổ chức thực thi cóhiệu lực các luật pháp đã ban hành Một mặt sử dụng các biện pháp sinh học để táitạo, nâng cao độ phì miêu của đất đai, duỳ trì và phát triển các loài thực vật, độngvật, đảm bảo sự ổn định và cân bằng sinh thái Mặt khác, sử dụng các thành tựukhoa học, công nghệ tiên tiến để khắc phục tình trạng ô nhiễm không khí, ô nhiễmnguồn nước, xử lý các chất thải rắn, sử dụng các loại thiết bị lọc bụi, giảm thanh,chống bức xạ, phóng xạ
- Tăng trưởng ổn định: Bản chất của tăng trưởng là phản ánh sự thay đổi vềlượng của nền kinh tế Ngày nay, yêu cầu tăng trưởng kinh tế được gắn liền vớitính bền vững hay việc bảo đảm chất lượng tăng trưởng ngày càng cao Theo khíacạnh này, điều được nhấn mạnh nhiều hơn là sự gia tăng liên tục, có hiệu quả củachỉ tiêu quy mô và tốc độ tăng thu nhập bình quân đầu người Hơn thế nữa, quátrình ấy phải được tạo nên bởi nhân tố đóng vai trò quyết định là khoa học, côngnghệ và vốn nhân lực trong điều kiện một cơ cấu kinh tế hợp lý
2 CÁC MÔ HÌNH LÝ THUYẾT VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ
2.1.Mô hình hai khu vực của Arthus Lewis
2.1.1.Cơ sở nghiên cứu của mô hình Lewis
Nghiên cứu của Lewis xuất phát từ cách đặt vấn đề của nhà kinh tế học cổđiển David Ricardo, người đàu tiên nghiên cứu vấn đề hai khu vực kinh tế trong tácphẩm “Những nguyên lý của kinh tế chính trị học và thuế khoá” xuất bản năm
1817 Trong nghiên cứu của mình, Ricardo đã đưa ra 2 vấn đề: Một là, khu vực
Trang 12nông nghiệp có lợi nhuận biên giảm dần theo quy mô và tiến tới bằng không.Nguyên nhân của hiện tượng này là do quy mô sản xuất nông nghiệp ngày càngtăng lên đòi hỏi phải sử dụng đất đai ngày càng xấu hơn, dẫn đến chi phí sản xuấttăng dần khi sản xuất một tấn lương thực, với mức tăng cho trước ở đầu vào dẫnđến các mức tăng liên tục nhỏ hơn ở đầu ra Số và chất lượng ruộng đất là yếu tố cóđiểm dừng, nếu con người khai thác đến điểm đó, việc tăng thêm các yếu tố đầuvào sẽ không làm tăng mức sản lượng đầu ra.
Hai là, trong khi ruộng đất có xu hướng cạn kiệt dần thì lao động trongkhu vực nông nghiệp vẫn tiếp tục tăng và dẫn đến hiện tượng dư thừa ngày càngphổ biến Ông cho rằng lao động dư thừa ở nông thôn về hình thức khác với laođộng dư thừa ở thành thị Ở thành thị, lao động được coi là dư thừa khi họ cókhả năng lao động, có mong muốn làm việc nhưng không tìm được việc làm.Còn
ở nông thôn thì không phải như vậy, hiện tượng phổ biến ở đây là mọi người đều
có việc làm nhưng với năng xuất lao động ngày càng thấp, các thành viên tronggia đình phải chia việc ra để làm Sản phẩm biên của lao động giảm dần và tiếntới bằng không
Với hai vấn đề nêu trên, Ricardo kết luận rằng khu vực nông nghiệp mangtính trì trệ tuyệt đối, cần phải giảm dần cả về quy mô và tỷ trọng đầu tư Trong điềukiện đó cần phải xây dựng và mở rộng khu vực công nghiệp để cho nền kinh tế tiếptục tăng trưởng
2.1.2.Nội dung của mô hình
a, Bắt đầu từ khu vực truyền thống (khu vực nông nghiệp)
Khi khu vực nông nghiệp có dư thừa lao động thì mức tiền công trong khuvực nông nghiệp được trả theo mức sản phẩm biên của lao động và Lewis gọi đây
là mức tiền công tối thiểu hay mức tiền công đủ sống cho người lao động ở khu vựcnày Trong điều kiện có dư thừa lao động thì mọi người lao động trong khu vực
Trang 13nông nghiệp được trả một mức tiền công như nhau và nó chính là mức tiền công tốithiểu, được tính bằng mức sản phẩm trung bình của lao động.
b, Khu vực hiện đại (công nghiệp)
Trước hết để tiến hành hoạt động của mình, khu vực công nghiệp phải lôikéo được lao động từ nông nghiệp sang Điều kiện để chuyển được lao động từnông thôn ra thành thị là khu vực công nghiệp phải trả cho họ một mức tiền cônglao động cao hơn mức tiền công tối thiểu ở khu vực nông nghiệp hiện họ đang đượchưởng Theo Lewis mức tiền công phải trả cao hơn là khoảng 30% so với mức tiềncông tối thiểu
Tóm lại mô hình hai khu vực của Lewis xác định một hướng giải quyết mốiquan hệ giữa công nghiệp và nông nghiệp trong quá trình thực hiện mục tiêu tăngtrưởng và phát triển Mô hình này xây dựng trên cơ sở khả năng dịch chuyển laođộng từ nông nghiệp sang công nghiệp và nhu cầu thu hút lao động của khu vựccông nghiệp theo khả năng tích luỹ vốn của khu vực này Mô hình này chỉ ra rằngkhi khu vực nông nghiệp có dư thừa lao động, tăng trưởng kinh tế được quyết địnhbởi khả năng tích luỹ và đầu tư của khu vực công nghiệp Cũng chính từ lập luận
đó mà mô hình Lewis còn chỉ ra những hệ quả về mặt xã hội trong quá trình tăngtrưởng kinh tế và góp phần lý giải hiện tượng nghiên cứu thực chứng về mối quan
hệ giữa tăng trưởng và bất bình đẳng xã hội
2.2.Mô hình hai khu vực của trường phái tân cổ điển
2.2.1.Khu vực nông nghiệp
Dưới sự tác động của khoa học công nghệ, các nhà kinh tế học tân cổ điểncho rằng yếu tố ruộng đất trong nông nghiệp không có điểm dừng, con người có thểcải tạo và nâng cao chất lượng ruộng đất Điều đó có nghĩa là sự tăng dân số khôngphải là hiện tượng bất lợi hoàn toàn và do đó không có lao động dư thừa để có thểchuyển sang khu vực khác mà không làm giảm đầu ra của nông nghiệp Mức sản
Trang 14phẩm biên của lao động trong nông nghiệp luôn dương điều này cũng có nghĩa làmức tiền công lao động trong nông nghiệp được trả theo mức sản phẩm cận biêncủa lao động chứ không phải trả theo mức sản phẩm trung bình của lao động như
mô hình Lewis
2.2.2 Khu vực công nghiệp
Để chuyển lao động từ nông nghiệp sang, khu vực công nghiệp phải trả mộtmức tiền công lao động cao hơn mức tiền công của khu vực nông nghiệp Hơn thếnữa mức tiền công phải trả của khu vực công nghiệp sẽ tăng dần lên theo xu hướng
sử dụng ngày càng nhiều lao động Mức tiền công khu vực công nghiệp có xuhướng tăng lên được giải thích bằng các lý do sau đây:
Thứ nhất, sản phẩm biên của lao động khu vực nông nghiệp luôn lớn hơn 0.Khi chuyển dịch lao động ra khỏi khu vực nông nghiệp sẽ làm tăng liên tục sảnphẩm cận biên của lao động còn lại trong khu vực nông nghiệp, cho nên khu vựccông nghiệp phải trả mức tiền công ngày càng cao hơn cho số người lao độngchuyển từ nông nghiệp ngày càng nhiều
Thứ hai, khi lao động chuyển khỏi nông nghiệp làm cho đầu ra của nôngnghiệp giảm xuống và kết quả là giá cả nông sản ngày càng cao, tạo ra áp lực phảităng lương cho người lao động khu vực công nghiệp
2.2.3.Quan điểm đầu tư
Để quá trình trao đổi giữa 2 khu vực không tạo ra những bất lợi ngày càngnhiều cho công nghiệp thì các nhà tân cổ điển cho rằng cần phải đầu tư cả cho nôngnghiệp ngay từ đầu chứ không phải chỉ quan tâm đến đầu tư cho công nghiệp Việcđầu tư cho nông nghiệp phải được thực hiện theo hướng nâng cao năng suất laođộng ở khu vực này để mặc dù dút bớt lao động nông nghiệp chuyển sang côngnghiệp nhưng không ảnh hưởng đến sản lượng lương thực, thực phẩm, giá nông sảnkhông tăng, giảm áp lực tăng giá tiền công lao động công nghiệp Mặt khác, để
Trang 15giảm bớt áp lực khu vực công nghiệp một mặt cần đầu tư theo chiều sâu để giảmcầu lao động; mặt khác, khu vực này cần tập trung đầu tư phát triển sản xuất hànghoá xuất khẩu để đổi lấy lương thực thực phẩm nhập khẩu từ nước ngoài về Điều
đó làm cho mặc dù lượng lương thực thực phẩm sản xuất trong nước có thể giảm
đi, nhưng giá nông sản không tăng do được thay thế bằng nông sản nhập khẩu Tuykhu vực nông nghiệp không có thất nghiệp nhưng vẫn có biểu hiện trì trệ tương đối
so với công nghiệp tức là với một số lượng lao động bổ sung cho nông nghiệp bằngnhau nhưng mức tổng sản phẩm gia tăng có xu hướng ngày càng giảm, vì vậy cácnhà tân cổ điển cho rằng, mặc dù phải quan tâm đến đầu tư cho cả hai khu vực ngay
từ đầu nhưng tỷ trọng đầu tư cho nông nghiệp có xu hướng giảm đi và ưu tiên tăngdần tỷ trọng đầu tư cho khu vực công nghiệp
2.3.Mô hình hai khu vực của Harry T Oshima
2.3.1.Cách đặt vấn đề của H.T.Oshima
Để đưa ra mô hình của mình, Oshima đã có sự xem xét đến những khả năngthực hiện của những mô hình đã có: đối với mô hình hai khu vực của Lewis,Oshima đồng ý rằng khu vực nông nghiệp có dư thừa lao động, nhưng theo ông thìđiều đó không phải lúc nào cũng xảy ra, đặc biệt là lúc thời vụ căng thẳng thì khuvực nông nghiệp còn thiếu lao động Vì vậy, quan điểm của Lewis cho rằng sự dưthừa lao động nông nghiệp có thể chuyển sang khu vực công nghiệp mà không làmgiảm sản lượng nông nghiệp là điều không thích hợp với đặc điểm châu Á, nhất là
ở những vùng lúa nước, ở đây sản lượng nông nghiệp được tạo ra phụ thuộc nhiềuvào đỉnh cao của thời vụ Oshima cũng cho rằng về mặt lý thuyết thì trường pháitân cổ điển hoàn toàn đúng khi họ đặt vấn đề ngay từ đầu phải đồng thời quan tâmđầu tư cho cả hai khu vực công nghiệp và nông nghiệp, hoặc là ông cũng đồng ývới quan điểm của Ricardo cho rằng một mô hình phát triển phải được bắt đầu từhiệu xuất nông nghiệp hoặc từ khả năng xuất khẩu sản phẩm công nghiệp để nhập
Trang 16khẩu lương thực Nhưng Oshima cho rằng quan điểm của trường phái tân cổ điển
và hướng thứ hai trong quan điểm của Ricardo là khó thực hiện được nếu khôngnói là thiếu thực tế trong điều kiện của các nước đang phát triển, ở đây còn thiếu rấtnhiều các khả năng nguồn lực, nhất là nguồn lực về vốn đầu tư và lao động có kỹthuật cao, kỹ năng quản lý và trình độ quan hệ kinh tế quốc tế
2.3.2.Nội dung mô hình hai khu vực Oshima
a, Gia đoạn bắt đầu của quá trình tăng trưởng
Oshima cho rằng do đặc điểm của sản xuất nông nghiệp, nhất là ở các nướcchâu Á gió mùa là mang tính thời vụ rất cao, lao động thất nghiệp mang tính thời
vụ lại càng trầm trọng hơn khi sản xuất nông nghiệp mang nặng tính chất độc canh,nhỏ lẻ, phân tán Vì vậy mục tiêu của giai đoạn đầu trong quá trình tăng trưởng làphải giải quyết hiện tượng thất nghiệp thời vụ ở khu vực nông nghiệp Biện pháphợp lý nhất để thực hiện mục tiêu này là đa dạng hoá sản xuất nông nghiệp, xencanh, tăng vụ trồng thêm rau, quả, cây lấy củ, mở rộng chăn nuôi gia súc, gia cầm,nuôi và đánh bắt cá, trồng cây nông nghiệp Hướng phát triển này tỏ ra phù hợp vớikhả năng vốn, trình độ kỹ thuật của nông nghiệp, nông thôn trong giai đạn này Do
có nhiều việc làm hơn thu nhập ở nông dân bắt đầu tăng lên, họ có thể chi tiêunhiều hơn cho giống mới, phân hoá học, thuốc trừ sâu và công cụ lao động
b, Giai đoạn hướng tới có việc làm đầy đủ bằng cách đầu tư phát triển đồng thời
cả nông nghiệp và công nghiệp.
Xuất phát từ mục tiêu hướng tới giải quyết đầy đủ việc làm cho người laođộng, quan điểm của Oshima trong giai đoạn này là đầu tư phát triển các ngànhnông nghiệp, công nghiệp và cả dịch vụ theo chiều rộng, cụ thể: tiếp tục thực hiện
đa dạng hoá sản xuất cây trồng và vật nuôi trong nông nghiệp, thực hiện sản xuấtnông nghiệp theo quy mô lớn, xen canh, tăng vụ, nhằm tạo ra khối luợng nông sảnhàng hoá ngày càng lớn Phát triển ngành công nghiệp chế biến lương thực thực
Trang 17phẩm, đồ uống, đồ gỗ đồ thủ công mỹ nghệ nhằm tăng cường số luợng việc làm vànâng cao tính hàng hoá; phát triển các ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp sảnxuất nông cụ thường, nông cụ cầm tay, nông cụ cải tiến cho nông nghiệp, đồng thờiphát triển các ngành công nghiệp sản xuất phân bón, thuốc trừ sâu, giống và cácyếu tố đầu vào khác cho nông nghiệp Để đảm bảo hiệu quả các loại hình phát triểntrên đòi hỏi phải có sự hoạt động đồng bộ từ sản xuất vận chuyển, bán hàng đến cácdịch vụ hỗ trợ tài chính tín dụng và các ngành có liên quan khác.Cần thiết phải hìnhthành các hình thức tổ chức sản xuất mang tính liên kết sản xuất giữa công nghiệp,nông nghiệp và cả dịch vụ dưới dạng các trang trại các tổ hợp sản xuất công – nôngnghiệp, nông – công nghiệp – thương mại,…
c, Giai đoạn sau khi có việc làm đầy đủ thực hiện phát triển các ngành kinh tế theo chiều sâu nhằm giảm cầu lao động.
Quan điểm của Oshima trong giai đoạn này là phải đầu tư phát triển theochiều sâu trên toàn bộ các ngành kinh tế Một mặt, trong nông nghiệp cần hướngtới sử dụng máy móc thiết bị thay thế lao động và áp dụng phương pháp công nghệsinh học nhằm tăng sản lượng Các máy cày gặt đập, phun nước máy bơm, làm cỏ,máy sấy và các phương tiện vận tải cơ giới ngày càng mở rộng và tiết kiệm thờigian cho người lao động trên đồng ruộng Tại các nông trại có quy mô nhỏ, nôngdân thường sử dụng máy móc cơ khí nhỏ chạy bằng động cơ điện Trong điều kiện
đó khu vực nông thôn có khả năng rút bớt lao động để chuyển sang các ngành côngnghiệp ở thành phố mà vẫn không làm giảm sản lượng nông nghiệp ở nông thôn.Mặt khác khu vực công nghiệp tiếp tục phát triển theo hướng thay thế sản phẩmnhập khẩu và hướng về xuất khẩu với sự chuyển dịch dần về cơ cấu sản xuất sảnphẩm Các ngành sản xuất sản phẩm có dung lượng lao động cao sẽ giảm dần vàcác ngành sản xuất sản phẩm có dung lượng vốn cao sẽ tăng lên
Trang 183.CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NGÀNH
3.1.Nhân tố khách quan
- Các lợi thế về tự nhiên của đất nước cho phép có thể phát triển ngành sảnxuất nào một cách thuận lợi, tác động của nó đến tăng trưởng kinh tế không nhữngtheo chiều rộng mà còn đảm bảo cho tăng trưởng theo chiều sâu nếu có chính sáchkhai thác và sử dụng hiệu quả
- Đặc điểm văn hoá – xã hội là nhân tố quan trọng có tác động nhiều tới quátrinh phát triển của đát nước Nhân tố văn hoá – xã hội bao trùm nhiều mặt từ cácchi thức phổ thông đến các tích luỹ tinh hoa của văn minh nhân loại về khoa học,công nghệ , văn học, lối sống và các ứng sử trong quan hệ giao tiếp,những phongtục tập quán,…Trình độ văn hoá cao đồng nghĩa với trình độ văn minh cao và sựphát triển cao của mỗi quốc gia Ngoài ra, nhu cầu của từng xã hội, thị trường ởmỗi giai đoạn lại là cơ sở để sản xuất phát triển đáp ứng nhu cầu không chỉ về sốlượng mà cả chất lượng hàng hóa, từ đó dẫn đến những thay đổi về vị trí, tỷ trọngcủa các ngành nghề trong nền kinh tế
sự phát triển trong động thái chung của thị trường thế giới
+ Xu thế toàn cầu hóa kinh tế quốc tế hiện nay có tác động rất mạnh mẽ đến
sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của từng nước, vì chính sự phân công lao động diễn
ra trên phạm vi quốc tế ngày càng sâu sắc và cơ hội thị trường rộng lớn được mở ra
Trang 19trong quá trình toàn cầu hóa kinh tế quốc tế, cho phép các nước có khả năng khaithác những thế mạnh của nhau để trao đổi các nguồn lực, vốn, kỹ thuật, hàng hóa
và dịch vụ một cách hiệu quả
+ Những thành tựu của cách mạng khoa học, kỹ thuật, đặc biệt sự bùng nổcủa công nghệ thông tin tạo nên những bước nhảy vọt trong mọi lĩnh vực sản xuấtgóp phần đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các nước vì thông tinnhanh chóng làm cho sản xuất, kinh doanh được điều chỉnh nhanh nhạy, hợp lýhơn, dẫn đến cơ cấu sản xuất được thay đổi phù hợp hơn với thị trường và lợi íchcủa từng nước
+ Mục tiêu, chiến lược, quy hoạch phát triển kinh tế của từng quốc gia có tácđộng quan trọng đến sự chuyển dịch của cơ cấu kinh tế vì mặc dù cơ cấu kinh tếmang tính khách quan, tính lịch sử xã hội nhưng lại chịu tác động, chi phối rất lớnbởi mục tiêu của Nhà nước
3.2 Nhân tố chủ quan
- Nhà nước có thể tác động gián tiếp lên tỷ lệ của cơ cấu ngành kinh tế bằngcác định hướng phát triển, đầu tư, những chính sách khuyến khích hay hạn chế pháttriển các ngành nghề nhằm bảo đảm sự cân đối của nền kinh tế theo mục đích đề ratrong từng giai đoạn nhất định
- Các thể chế chính trị - xã hội – kinh tế được thừa nhận tác động đến quátrình phát triển đất nước theo khía cạnh tạo dựng hành lang pháp lý và môi trường
xã hội
Thể chế biểu hiện như là một lực lượng đại diện cho ý chí của cộng đồng,nhằm điều chỉnh các mối quan hệ kinh tế, chính trị và xã hội theo lợi ích của cộngđồng đặt ra Thể chế được thể hiện thông qua các dự kiến mục tiêu phát triển, cácnguyên tắc tổ chức quản lý kinh tế xã hội, hệ thống pháp luật, các chế độ chínhsách, các công cụ và bộ máy tổ chức thực hiện
Trang 204 SỰ CẦN THIẾT CỦA CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NGÀNH
4.1 Xuất phát từ tình hình, xu hướng chung của khu vực, thế giới.
Trong mấy thập kỷ qua, các nước vùng Châu Á - Thái Bình Dương đã tậndụng khá tốt những lợ thế so sánh để phát triển nền kinh tế của mình nên đã đạttốc độ tăng trưởng khác cao, làm cho khu vực này trở thành khu vực phát triểnkinh tế năng động nhất trên thế giới Nhờ đó, đã xuất hiện những nước côngnghiệp hoá mới, có những nước đã đứng vào hàng ngũ các nước có tốc độ tăngtrưởng cao Cùng với sự tăng trưởng kinh tế ở các nước này giá nhân công ngàycàng tăng đã làm giảm khả năng cạnh tranh của sản phẩm do họ sản xuất ra bởigiá thành tăng Các nước này vì thế phải tìm cách chuyển một phần cách lĩnhvực sản xuất khó cạnh tranh sang các nước khác dưới hình thức đầu tư, chuyểngiao công nghệ Các nước kém phát triển hơn lại có nhu cầu tiếp nhận các côngnghệ có trình độ thấp để từng bước tham gia vào thị trường thế giới, tạo ra cơmay, tại điều chính hành vi và tăng cường khả năng cạnh tranh trên thị t rườngthế giới Sự gặp gỡ cung và cầu công nghệ trình độ thấp đã thúc đẩy nhanh quátrình chuyển giao công nghệ và đầu tư trực tiếp vào các nước đang phát triểnlàm thay đổi cơ cấu kinh tế ở các nước này
- Sự thay đổi nhanh chóng của khoa học công nghệ đã tạo ra những lĩnh vựccông nghệ mới, có hiệu quả cao đặc biệt là các công nghệ tiếp kiệm tài nguyên, bảo
vệ môi trường Việc thực hiện công nghệ này trước mắt chưa thu lợi nhuận, nhưngtrong tương lai thì lại có cơ sở để tiành vị trí thống trị hoặc áp đảo thị trường khuvực và thế giới Trước những biến đổi nhanh chóng trên thế giới đòi hỏi chúng taphải nhận thức rõ để không bị lạc hậu, phải biết tận dụng những lợi thế của nước đisau để phát triển, hội nhập mà không bị biến thành nơi tiếp nhận những công nghệtrình độ thấp, bị lệ thuộc vào các nước xuất khẩu công nghệ Việt Nam là một trongnhững nước nghèo trên thế giới, dù chúng ta đã đạt được nhiều thành tựu trong phát
Trang 21triển kinh tế xã hội trong thời gian qua Song so với các nước trong khu vực và trênthế giới chúng ta cần phải phấn đấu hơn nữa Một trong những giải phpá quan trọng
đó chính là phải điều chỉnh cơ cấu kinh tế đặc biệt là cơ cấu ngành cho phù hợp vớitình hình kinh tế trong nước và khu vực, thế giới theo hướng công nghiệp hoá, hiệnđại hoá
4.2 Xuất phát từ yêu cầu trong nước.
Mục tiêu công nghiệp hoá hiện đại hoá là xây dựng nước ta thành một nướccông nghiệp có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sảnxuất tiên tiến, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vậtchất và tinh thần cao, quốc phòng an ninh vững chắc, dân giàu nước mạnh, xã hộicông bằng, văn minh
Chính yếu tố đó Hà Nội ra sức phấn đấu đến năm 2020 cơ bản trở thành mộtthành phố công nghiệp.Với mục tiêu trên thì yêu cầu lực lượng sản xuất của Hà Nộiđến lúc đó sẽ đạt trình độ khá hiện đại, phần lớn lao động thủ công được thay thếbằng lao động sử dụng máy móc, điện khí hoá cơ bản được thực hiện trong cảnước, năng suất lao động xã hội và hiệu quả sản xuất kinh doanh cao hơn so vớihiện nay Công nghiệp và dịch vụ sẽ phải chiếm tỷ trọng rất lớn trong GDP và laođộng xã hội dù nông nghiệp vẫn tiếp tục phát triển mạnh… Muốn thực hiện đượcmục tiêu đề ra chúng ta không còn cách nào khác buộc phải chuyển dịch cơ cấukinh tế đặc biệt là cơ cấu ngành kinh tế theo hướng công nghiệp hoá hiện đại hoá.Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế nhằm đáp ứng được sự phân công lao độngquốc tế sớm đưa Hà Nội hội nhập vào khu vực và thế giới tạo cho chúng ta có đượcchỗ đứng và sánh ngang với các thành phố trong khu vực và thế giới Chuyển dịch
cơ cấu ngành kinh tế cũng nhằm khai thác, tận dụng hết những tiềm năng của thànhphố Thứ nhất đó chính là tiềm năng con người, con người Việt Nam được đánh giá
là thông minh cần cù, chăm chỉ, nhẫn nại, giới trẻ có óc cầu tiến, có năng lực hấp
Trang 22thụ cái mới, thích ứng với hoàn cảnh mới Hơn nữa với dân số hơn 6 triệu dân với
cơ cấu dân số tỷ lệ thanh niên cao thuận lợi cho phát triển Với tỷ lệ lao động phổthông cao việc chuyển dịch cơ cấu ngành cũng tận dụng được nguồn lao động dồidào này Thứ hai là việc tận dụng tốt các cơ hội và đối phó với những thách thứcbuộc chúng ta phải có chiến lược công ngiệp hoá đúng đắn, có sự chuyển dịch kinh
tế mạnh mẽ nhằm thúc đẩy sự phát triển trong nước, đưa hàng hoá của chúng ta đủsức cạnh tranh đối với hàng hoá của các nước khác Sự chuyển dịch cơ cấu ngànhkinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá hướng về xuất khẩu của chúng ta
có được sức sống để phát triển lớn mạnh
Trang 23CHƯƠNG 2.THỰC TRẠNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH
Khí hậu Hà Nội tiêu biểu cho vùng Bắc Bộ với đặc điểm của khí hậu nhiệtđới gió mùa ẩm, mùa hè nóng, mưa nhiều và mùa đông lạnh, ít mưa Thuộc vùngnhiệt đới, thành phố quanh nǎm tiếp nhận lượng bức xạ Mặt Trời rất dồi dào và
có nhiệt độ cao Và do tác động của biển, Hà Nội có độ ẩm và lượng mưa khálớn, trung bình 114 ngày mưa một năm Một đặc điểm rõ nét của khí hậu Hà Nội
là sự thay đổi và khác biệt của hai mùa nóng, lạnh Mùa nóng kéo dài từ tháng 5tới tháng 9, kèm theo mưa nhiều, nhiệt độ trung bình 29,2ºC Từ tháng 11 tớitháng 3 năm sau là khí hậu của mùa đông với nhiệt độ trung bình 15,2ºC Cùngvới hai thời kỳ chuyển tiếp vào tháng 4 và tháng 10, thành phố có đủ bốn mùaxuân, hạ, thu và đông
Trang 241.2 Dân số
Mật độ dân số Hà Nội hiện nay, cũng như trước khi mở rộng địa giới hànhchính, không đồng đều giữa các quận nội ô và khu vực ngoại thành Trên toànthành phố, mật độ dân cư trung bình 1.875 người/km² nhưng tại quận Đống Đa,mật độ lên tới 35.341 người/km² Trong khi đó, ở những huyện như ngoại thànhnhư Sóc Sơn, Ba Vì, Mỹ Đức, mật độ không tới 1.000 người/km² Sự khác biệtgiữa nội ô và còn huyện ngoại thành còn thể hiện ở mức sống, điều kiện y tế, giáodục Về cơ cấu dân số, theo số liệu 1 tháng 4 năm 1999, cư dân Hà Nội và Hà Tâykhi đó chủ yếu là người Kinh, chiếm tỷ lệ 99,1% Các dân tộc khác như Dao,Mường, Tày chiếm 0,9% Năm 2006, cũng trên địa bàn Hà Nội và Hà Tây, cư dân
đô thị chiếm tỷ lệ 41,1% và cư dân nông thôn là 58,1%, tỷ lệ nữ chiếm 50,7% vànam là 49,3%
Toàn thành phố hiện nay còn khoảng 2,5 triệu cư dân sinh sống nhờ sản xuất nôngnghiệp
1.3 Đặc điểm kinh tế - xã hội
Giai đoạn phát triển của thập niên 1990 cũng cho thấy Hà Nội đã có nhữngthay đổi về cơ cấu kinh tế Từ 1990 tới 2000, trong khi tỷ trọng ngành công nghiệptăng mạnh từ 29,1% lên 38% thì nông–lâm nghiệp và thuỷ sản từ 9% giảm xuốngcòn 3,8% Tỷ trọng ngành dịch vụ cũng giảm trong khoảng thời gian này, từ 61,9%xuống còn 58,2% Ngành công nghiệp của Hà Nội vẫn tập trung vào 5 lĩnh vựcchính, chiếm tới 75,7% tổng giá trị sản xuất công nghiệp, là cơ–kim khí, điện–điện
tử, dệt–may–giày, chế biến thực phẩm và công nghiệp vật liệu Bên cạnh đó, nhiềulàng nghề truyền thống như gốm Bát Tràng, may ở Cổ Nhuế, đồ mỹ nghệ Vân Hà cũng dần phục hồi và phát triển Năm 2007, GDP bình quân đầu người của Hà Nộilên tới 31,8 triệu đồng, trong khi con số của cả Việt Nam là 13,4 triệu Hà Nội làmột trong những địa phương nhận được đầu tư trực tiếp từ nước ngoài nhiều nhất,
Trang 25với 1.681,2 triệu USD và 290 dự án Thành phố cũng là địa điểm của 1.600 vănphòng đại diện nước ngoài, 14 khu công nghiệp cùng 1,6 vạn cơ sở sản xuất côngnghiệp Nhưng đi đôi với sự phát triển kinh tế, những khu công nghiệp này đangkhiến Hà Nội phải đối mặt với vấn đề ô nhiễm môi trường Bên cạnh những công tynhà nước, các doanh nghiệp tư nhân cũng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế
Hà Nội Năm 2003, với gần 300.000 lao động, các doanh nghiệp tư nhân đã đónggóp 77% giá trị sản xuất công nghiệp cùa thành phố Ngoài ra, 15.500 hộ sản xuấtcông nghiệp cũng thu hút gần 500.000 lao động Tổng cộng, các doanh nghiệp tưnhân đã đóng góp 22% tổng đầu tư xã hội, hơn 20% GDP, 22% ngân sách thànhphố và 10% kim ngạch xuất khẩu của Hà Nội.Sau khi mở rộng địa giới hành chính,với hơn 6 triệu dân, Hà Nội có 3,2 triệu người đang trong độ tuổi lao động.Mặc dùvậy, thành phố vẫn thiếu lao động có trình độ chuyên môn cao Nhiều sinh viên tốtnghiệp vẫn phải đào tạo lại, cơ cấu và chất lượng nguồn lao động chưa dịch chuyểntheo yêu cầu cơ cấu ngành kinh tế Hà Nội còn phải đối đầu với nhiều vấn đề khókhăn khác Năng lực cạnh tranh của nhiều sản phẩm dịch vụ cũng như sức hấp dẫnmôi trường đầu tư của thành phố còn thấp Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế vẫnchậm, đặc biệt cơ cấu nội ngành công nghiệp, dịch vụ và các sản phẩm chủ lực mũinhọn Chất lượng quy hoạch phát triển các ngành kinh tế ở Hà Nội không cao vàthành phố cũng chưa huy động tốt tiềm năng kinh tế trong dân cư
Mặc dù là thủ đô của một quốc gia nghèo, thu nhập bình quân đầu ngườithấp, nhưng Hà Nội lại là một trong những thành phố đắt đỏ nhất thế giới và giá bấtđộng sản không thua kém các quốc gia giàu có Điều này đã khiến những cư dân
Hà Nội, đặc biệt tầng lớp có thu nhập thấp, phải sống trong điều kiện chật chội,thiếu tiện nghi Theo con số năm 2003, 30% dân số Hà Nội sống dưới mức 3 métvuông một người Ở những khu phố trung tâm, tình trạng còn bi đát hơn rất nhiều.Nhà nước cũng không đủ khả năng để hỗ trợ cho người dân Chỉ khoảng 30% cán
bộ, công nhân, viên chức được phân phối nhà ở Do truyền thống văn hóa và những
Trang 26khó khăn về chỗ ở, hiện tượng 3, 4 thế hệ cùng sống chung trong một ngôi nhà rấtphổ biến ở Hà Nội Mỗi năm, thành phố xây dựng mới hàng triệu mét vuông nhà,nhưng giá vẫn ở mức quá cao so với phần lớn người dân Gần như 100% các giađình trẻ ở Hà Nội chưa có nhà ở, phải sống ghép chung hoặc thuê nhà ở tạm Vớigiá từ 500 triệu tới 1,5 tỷ đồng một căn hộ chung cư, một người dân có thu nhậptrung bình chỉ có thể mua được sau nhiều năm tích lũy tài chính.
2.THỰC TRẠNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ CỦA THÀNH PHỐ HÀ NỘI.
2.1.Thực trạng chung về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
Kinh tế thủ đô trong những năm gần đây phát triển theo chiều hướng tíchcực GDP của Hà Nội ước tăng 12,1% năm 2007, cao nhất từ 10 năm nay Khu vựcđầu tư nước ngoài và kinh tế ngoài nhà nước ở lĩnh vực công nghiệp tăng trưởngcao: trên dưới 30% Hà Nội đã hoàn thành việc sắp xếp, cổ phần hóa 20 doanhnghiệp, xuất khẩu trên địa bàn tăng đến 20%, đạt trên 4 tỷ USD Thành phố đã đóntrên 1,2 triệu khách du lịch, giá trị tăng thêm của dịch vụ tài chính ngân hàng cũng
ở mức kỷ lục: hơn 20% Hà Nội là một trong 2 địa phương dẫn đầu về thu hút vốnđầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) với 290 dự án và tổng vốn đăng ký 1,7 tỷ USD.Hiện trên 1.600 văn phòng đại diện nước ngoài có trụ sở ở Hà Nội, thành phố thungân sách khoảng 45.709 tỷ đồng Bên cạnh việc phát triển thuận lợi Hà Nội cũnggặp không ít những khó khăn: Thiên tai lớn, dịch bệnh diễn biến phức tạp và sựbiến động bất lợi của thị trường, giá cả thế giới kéo dài.Dịch bệnh gia súc như: dịchlợn tai xanh, dịch lở mồm long móng gia súc lan rộng, dịch cúm gia cầm tái phát tạinhiều địa phương, ảnh hưởng lớn đến tốc độ tăng trưởng ngành chăn nuôi của HàNội Đặc biệt nguy hiểm là dịch tiêu chảy cấp, nhiễm khuẩn tả phát sinh, kéo dàihàng tháng đã gây hậu quả nghiêm trọng đến nhiều ngành sản xuất công nghiệp,
Trang 27ngành nghề, thủy sản, kinh doanh dịch vụ ăn uống công cộng, du lịch trên địa bànthành phố.
Bên cạnh những thuận lợi và khó khăn đó, chúng ta có thể nhìn nhận tổngquan về sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Hà Nội giai đoạn 2005 – 2007 là chuyểndịch theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọng nông nghiệp
Cụ thể nó được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 1 Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế giai đoạn 2005-2007
Đơn vị: %
địa (GDP)
Nông – Lâm nghiệp, thuỷ sản
địa (GDP)
Nông – Lâm nghiệp, thuỷ sản
( Nguồn: Niên giám thống kê TP.Hà Nội - Cục thống kê thành phố Hà Nội )
Qua số liệu của 2 bảng:
Trang 28- Ngành công nghiệp: tỷ trọng ngành công nghiệp trong giai đoạn này có xuhướng tăng dần, từ 40,5% năm 2005 tăng lên 41% năm 2007,trong đó tăng nhanh
là các ngành công nghiệp chế biến và xây dựng Quy mô của ngành này cũng tăngđều qua các năm
- Ngành nông nghiệp : Xu hướng giảm nhanh tỷ trọng là đặc điểm rõ nét củanông nghiệp trong giai đoạn này, từ 1,6% năm 2005 giảm xuống còn 1.3% năm
2007 Nguyên nhân chính là tỷ trọng ngành trống trọt giảm nhanh.Tuy nhiên nhìnvào bảng 2 ta thấy quy mô của ngành này lại có xu hướng tăng lên
- Ngành dịch vụ: Trong giai đoạn này ngành dịch vụ chiếm tỷ trọng tươngđối ổn định ,có xu hướng tăng nhưng chậm từ 57,6% năm 2006 lên 57,7% năm2007.Cùng với xu hướng đó thì quy mô của ngành dịch vụ cũng tăng lên nhưng ởmức chậm Lý do chính là do ngành này chủ yếu phục vụ sự phát triển của haingành trên ,sự gia tăng của ngành này phụ thuộc vào sự gia tăng của hai ngành trên Dưới góc độ đóng góp vào GDP của các ngành cho thấy xu hướng chuyển dịch
cơ cấu ngành kinh tế của Hà Nội trong giai đoạn này phù hợp với xu hướng chungcủa nền kinh tế cả nước hiện nay, tăng tỷ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ, tỷtrọng ngành nông nghiệp giảm
2.2.Thực trạng chuyển dịch cơ cấu các phân ngành
2.2.1.Thực trạng chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp
a, Những thành tựu đã đạt được
Giai đoạn 2005-2007, tiếp tục thực hiện công cuộc đổi mới do Đảng khởisướng và lãnh đạo, cùng với xu thế của cả nước ,của sự phát triển kinh tế xã hộitrong cơ chế thị trường, công nghiệp Hà Nội đã có bước phát triển những thành tựunhư sau:
Trang 29- Cho đến nay công nghiệp trên địa bàn Hà Nội đã chiếm tỷ trọng lớn hơn sản xuấtnông ,lâm nghiệp và dịch vụ Công nghiệp Hà Nội đã tạo ra cơ sở ban đầu để trongthời gian tới xây dựng Hà Nội trở thành Thành phố có cơ cấu công nghiệp -nông ,lâm nghiệp -dịch vụ cao.
Bảng 3 :Cơ cấu giá trị sản xuất các ngành công nghiệp.
Đơn vị: %
Cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải 1,13 1,07 0,93
( Nguồn: Niên giám thống kê TP.Hà Nội - Cục thống kê thành phố Hà Nội )
Bảng 4 Quy mô giá trị sản xuất các ngành công nghiệp (Giá so sánh 1994)
Đơn vị: Tỷ đồng
Cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải,
( Nguồn: Niên giám thống kê TP.Hà Nội - Cục thống kê thành phố Hà Nội )
- Bảng 3 và 4 trên đây đã cho thấy thực trạng của vấn đề này là, chuyển dịch
cơ cấu ngành công nghiệp trong giai đoạn này có xu hướng tăng tỷ trọng các ngànhcông nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu ,ngành công nghiệp chế
Trang 30biến, chế tạo cũng có xu hướng tăng lên Trong khi đó ,các ngành công nghiệp khaikhoáng, khí đốt có chiều hướng giảm tỷ trọng
- Trong thời gian qua công nghiệp trên địa bàn Hà Nội đã tập trung phát triểncác nhóm ngành chủ yếu :
+ Ngành công nghiệp hoá chất -phân bón :Giai đoạn này ,ngành có xuhướng tăng tỷ trọng Các ngành tăng nhanh trong nhóm này là ngành sản xuất hoáchất ,sản xuất phân bón; mặc dù như ở trên đã thấy ngành khai khoáng có xu hướnggiảm tỷ trọng (nguyên nhân chủ yếu là do các khoáng chất chủ yếu phục vụ chongành công nghiệp không còn được khai thác ồ ạt như trước, đồng thời một số mỏcạn trữ lượng hoặc phải đóng cửa vì các lý do xã hội khác) Đặc biệt,trong nhómngành này,ngành công nghiệp sản xuất phân bón với việc tận dụng các lợi thế cho
ra đời hàng loạt các sản phẩm hoá chất mới như sản phẩm chất tẩy rửa,các loại hoáchất xử lý môi trường, các loại thuốc trừ sâu,trừ cỏ,kích thích sinh trưởng của câytrồng…càng ngày càng làm tăng tỷ trọng cũng như vai trò quan trọng của ngànhcông nghiệp chế biến đối với nền kinh tế của Hà Nội
+ Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo: Ngành này có xu hướng giảm tỷtrọng trong khối ngành công nghiệp ,nhưng trong nội bộ ngành này lại có nhiều xuhướng khác nhau, cụ thể ở bảng sau:
Bảng 5.Giá trị sản xuất của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo(Giá so sánh năm 1994) Đơn vị: Tỷ đồng
Trang 31( Nguồn: Niên giám thống kê TP.Hà Nội - Cục thống kê thành phố Hà Nội )
Nhìn vào bảng số liệu trên chúng ta có thể thấy sự đóng góp đáng kể của các
ngành điện tử - công nghệ thông tin, ngành cơ khí, ngành chế biến thực phẩm - đồ
uống, ngành dệt may, ngành vật liệu xây dựng vào tổng thể ngành công nghiệpnói chung
Ngành điện tử - công nghệ thông tin là ngành phát triển mạnh mẽ và có xu
hướng tăng dần năm 2005 là 5070 tỷ lên 6737 tỷ năm 2007.Ngành chuyên về lắpráp thiết bị, sản xuất linh kiện, thiết kế sản phẩm, sản xuất phần mềm và các dịch
vụ điện tử - tin học với sự tham gia của mọi thành phần kinh tế Phát triển công
Trang 32nghiệp điện tử theo mô hình tổ hợp công nghiệp Tập trung xây dựng các trungtâm, các công viên phầm mềm hiện đại, khu công nghiệp điện tử.
Ngành chế biến thực phẩm - đồ uống: Tăng nhanh sản lượng xuất khẩu, tiếp
tục mở rộng quy mô sản xuất những sản phẩm có thương hiệu, uy tín Kết hợp vớicác tỉnh trong vùng Bắc Bộ để phát triển vùng nguyên liệu và bố trí nhà máy chếbiến phù hợp với quy hoạch vùng nhằm nâng cao hiệu quả vốn đầu tư
Ngành dệt may: Công nghiệp dệt may Hà Nội phát triển theo hướng trở
thành trung tâm cung cấp dịch vụ, trung tâm nghiên cứu, thiết kế mẫu, sản xuấtcác sản phẩm mới, sản phẩm thời trang cao cấp và làm tổng đại lý Chú trọngphát triển theo chiều sâu, mở rộng hợp tác chặt chẽ với các tỉnh trong vùng đểphát triển sản xuất Với ngành dệt đang hướng vào sản xuất sản phẩm cao cấptheo công nghệ mới, hiện đại, không gây ô nhiễm môi trường Những sản phẩmchính của ngành gồm: sản phẩm dệt kim, khăn mặt, quần áo may sẵn, vải mặcngoài, sợi bông và sợi pha
+ Ngành công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng: Ngành sản xuất gạch, đá
ốp lát, tấm lợp vệ sinh, que hàn khung nhôm, vật liệu nhựa thay gỗ…phát triển khánhanh, đây là những sản phẩm có tính ứng dụng cao và là sản phẩm có tiềm năngphát triển trong tương lai
+ Ngành công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu: Tỷ trọngngành này đặc biệt tăng nhanh do quy mô mở rộng của các công ty dệt may giầy da
và một số đáng kể các mặt hàng truyền thống được khôi phục để phục vụ cho xuấtkhẩu Mặt khác, ngành này có nguồn nhân lực dồi dào,giá nhân công rẻ là nhữngnhân tố thuận lợi để phát triển Tuy nhiên, ngành mới chỉ đang phát triển ở hìnhthức nhận ra công sản xuất là chính Song sự ra tăng nhanh về số lượng của các cơ
sở sản xuất thời gian qua cho thấy tiềm năng phát triển của ngành trong tương lai
Trang 33Với vị trí và vai trò rất quan trọng cùng với sự chuyển dịch tương đối hợp lýnhư trên, sản xuất công nghiệp của Hà Nội đã từng bước nâng cao năng lực sảnxuất, tính cạnh tranh của sản phẩm Đây thực sự là những điều kiện quan trọng cho
sự phát triển và chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp một cách hợp lý hơn tronggiai đoạn tới
b, Những khó khăn còn tồn tại
Mặc dù ngành công nghiệp đã chuyển dịch theo đúng hướng đề ra và đã
đóng góp rất lớn vào công cuộc phát triển kinh tế xã hội của Hà Nội Song giaiđoạn này đã nổi lên một số tồn taị và yếu kém
- Cơ sở vật chất kỹ thuật, trình độ công nghệ còn yếu kém, lạc hậu; sản phẩm
có tính cạnh tranh thấp ,đặc biệt là còn gây ô nhiễm môi trường nặng nề
- Trình độ quản lý ,tay nghề trang bị cho người lao động còn nhiều bất cập sovới yêu cầu
- Chưa có sự gắn kết giữa các cơ sở sản xuất trên cùng một lãnh thổ ,chưa gắnlợi ích giữa cơ sở sản xuất công nghiệp với lợi ích người sản xuất nguyên liệu
- Công nghiệp Hà Nội đang đứng trước sức ép và sự cạnh tranh gay gắt của côngnghiệp các tỉnh, các vùng trong cả nước trong tiến trình chung CNH-HĐH đấtnước ,đòi hỏi phải cạnh tranh để vươn lên …Việc giải quyết vấn đề này trên cơ sởnhững gì đã đạtđược chính là những nhân tố cơ bản để tạo nên một cơ cấu côngnghiệp hoàn thiện hơn trong tổng thể nền kinh tế cuả thành phố trong giai đoạn mới
2.2.2.Thực trạng chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp
a, Những thành tựu đã đạt được
Giai đoạn 2005-2007, nông nghiệp của thủ đô đã có bước phát triển toàn diện,theo chiều hướng sản xuất hàng hoá, tăng giá trị trên một đơn vị diện tích, tăng thunhập cho hộ nông dân.Thời kỳ này giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp có xu hướng
Trang 34tăng góp phần làm tăng nguồn thu ngân sách cho thành phố …Để có được nhữngđánh giá sâu rộng về chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp giai đoạn này, chúng
- Cây lâu năm
- Nhận và chăm sóc cây giống
- Chăn nuôi
- Hoạt động dịch vụ nông nghiệp
46,25,60,340,22,1
455,70,440,42,6
45,85,50,440,42,3
( Nguồn: Niên giám thống kê TP.Hà Nội - Cục thống kê thành phố Hà Nội )
Từ những số liệu của bảng 6 cho thấy sản xuất lương thực vẫn giữ vai tròchủ yếu trong ngành trồng trọt qui mô của ngành trồng trọt (chủ yếu là cây lươngthực ) Cũng trong giai đoạn này thì quy mô của các ngành nông-lâm nghiệp cũngđược thu hẹp dần do quá trình đô thị hoá nông nghiệp nông thôn.Cơ cấu giá trị sảnxuất cây lương thực hàng năm cũng có xu hướng giảm năm 2005 là 46,2% xuốngcòn 45,8 của năm 2007 Dưới góc độ sử dụng đất cho thấy, diện tích gieo trồng câylương thực thời gian qua ít biến động diện tích lúa có xu hướng giảm,song diện tíchcây ngô lại tăng,diện tích rau xanh có xu hướng tăng Đối với những cây côngnghiệp ngắn ngày diện tích tăng, giảm bất thường Trong khi đó diện tích các loạicây ăn quả có xu hướng tăng lên Hiện trạng này có thể lý giải là trong giai đoạnnày tiếp tục diễn ra sự lựa chọn cơ cấu cây trồng cho phù hợp hơn với điều kiện của
Trang 35thủ đô Tuy vậy, vẫn có thể thấy được xu hướng sử dụng đất cho cây công nghiệp
và cây ăn quả tăng mặc dù xu hướng này chưa thực sự rõ nét
Ngành trồng trọt hiện nay phát triển một số cây trồng chủ yếu:
+ Cây lương thực: Chủ yếu là lúa, ngô, khoai lang, Khi đi sâu phân tíchthực trạng chuyển dịch của từng loại cây cho thấy cây lương thực giữ một vị trítrọng yếu trong ngành trồng trọt ở khu vực nông thôn Mặc dù diện tích có xuhướng giảm nhưng do năng xuất nâng lên cùng với thực hiện thâm canh gối vụ làmcho sản lượng lương thực qui thóc tiếp tục tăng lên
Bảng7: Năng xuất và sản lượng của các loại cây lương thực chính.
( Nguồn: Niên giám thống kê TP.Hà Nội - Cục thống kê thành phố Hà Nội )
Kết quả trên cho thấy năng xuất và sản lương cây lương thực có xu hướngtăng nhưng ở mức chậm Năng xuất lúa năm 2005 là 42,1 tạ/ha tăng lên 42,4 tạ/hanăm 2007, năng xuất ngô năm 2005 là 29,6 tạ/ha lên 32,3 tạ/ha năm 2007, trong đónăng suất của rau cũng có xu hướng tăng từ 185,4 tạ/ha lên 195,8 tạ/ha
+ Cây ăn quả :Cùng với những biểu hiện ban đầu về xu hướng chuyển dịch vàkhả năng lợi thế của Thủ đô xác định một số loại cây ăn quả chính có diện tíchtrồng ngày càng gia tăng, năng xuất chất lượng được nâng cao Cây ăn quả chủ yếu
là chuối, cam, quýt, hồng, nhãn, bưởi,…đã tạo nguồn nguyên liệu cơ bản chongành chế biến hoa quả, đồ uống hoạt động và phát triển
- Ngành chăn nuôi: