Trong bộ môn Hóa học ngoài lý thuyết được rút ra từ các thí nghiệm HS phải vận dụng kiến thức, kỹ năng, tiến hành các suy luận lôgic hoặctoán học vào giải quyết một số bài tập mang tính
Trang 1MỤC LỤC
1/ Thực trạng đối với nội dung sáng kiến kinh nghiệm Trang 4 2/ Phương pháp giảng dạy và nâng cao chất lượng Trang 5
1/ Giải pháp nghiên cứu vấn đề Trang 7
2/ Quá trình thực hiện, sáng kiến kinh nghiệm Trang 8
2/ Hướng phổ biến kinh nghiệm Trang 17
Trang 2A PHẦN MỞ ĐẦU I.Lí do chọn đề tài:
Mục đích giáo dục của nhà nước ta là đào tạo thế hệ trẻ có những phẩmchất và năng lực, để trở thành những con người phát triển toàn diện Quátrình giáo dục giữ vai trò quyết định : Truyền thụ cho học sinh những kiếnthức vững chắc có khả năng vận dụng vào cuộc sống tạo niềm tin, tínhcách, thói quen, hứng thú, tình cảm…của học sinh giúp học sinh hìnhthành và phát triển nhân cách
Trong bộ môn Hóa học ngoài lý thuyết được rút ra từ các thí nghiệm
HS phải vận dụng kiến thức, kỹ năng, tiến hành các suy luận lôgic hoặctoán học vào giải quyết một số bài tập mang tính chất định tính, địnhlượng Muốn như vậy thì HS phải có khả năng vận dụng tổng hợp cáckiến thức, kỹ năng một cách tích cực, tự lực và sáng tạo
- Qua nhiều năm giảng dạy, bản thân tôi nhận thấy đa số học sinh gặp khókhăn khi giải các bài tập Hóa học nhất là bài tập mang tính định lượng HSkhi vận dụng làm bài tập rất máy móc rập khuôn không biết vận dụng linhhoạt, trong khi đó các bài tập Hóa học định lượng lại rất phong phú và đadạng Xuất phát từ những vấn đề trên, bản thân tôi tiến hành nghiên cứu
giải pháp “Rèn kỹ năng giải bài tập Hóa học lớp 9A 1 ”
II Đối tượng nghiên cứu
- Quá trình học tập của học sinh
- Kỹ năng giải bài tập vật lý lớp 9A2 trường THCS Thị trấn Tân Châu
- Sự quan tâm của ban giám hiệu việc dạy của giáo viên và học của họcsinh
III Phạm vi nghiên cứu đề tài:
Không gian : Rèn kỹ năng giải bài tập Hóa học lớp 9A1
Thời gian : Chia làm 3 giai đoạn
+ Giai đoạn 1: Từ tháng 9 đến hết tháng 10: Thu thập thông tin
Trang 3+ Giai đoạn 2: Từ tháng 11 đến cuối học kì I : Tìm hiểu thực trạng nghiêncứu
+ Giai đoạn 3: Từ cuối học kì I đến giữa học kì II: Điều tra kết quả
IV Phương pháp nghiện cứu
- Phương pháp đọc tài liệu:
+ Sách giáo khoa hóa học lớp 9 của Lê Xuân Trọng xuất bản 2005
+ Sách bài tập hóa học lớp 9 của Lê Xuân Trọng xuất bản 2005
+ Sách giáo viên hóa học lớp 9 của Lê Xuân Trọng xuất bản 2005
- Phương pháp điều tra:
2.1 Phương pháp dự giờ: Dự giờ học hỏi và trao đổi kinh nghiệm với
đồng nghiệp ( dự giờ 1 tiết / tháng đúng chuyên môn, ngoài ra còn dự giờmột số giáo viên dạy bộ môn khác trong tổ)
2.2 Phương pháp đàm thoại:
- Họp tổ chuyên môn (2 lần / tháng): Trao đổi với đồng nghiệp học hỏiphương pháp, kinh nghiệm giải bài tập vật lý
- Họp với phụ huynh học sinh (định kỳ 4 lần / năm học, học sinh yếu và
cá biệt thì trao đổi thường xuyên trong năm học): Kết hợp với gia đình để
có tìm ra biện pháp hữu hiệu giáo dục học sinh
- Thường xuyên trao đổi với HS để tìm hiểu về thực trạng khả năng giảibài tập của các em
2.3 Phương pháp kiểm tra- so sánh: Kiểm tra đối chiếu kết quả qua
bốn giai đoạn: đầu năm học, giữa học kì I, học kì I, giữa học kì II
Trang 4+ Trò chuyện với học sinh: Đặt câu hỏi có liên quan đến đề tài như: các
em có thích học môn hóa học khi có sử dụng thí nghiệm không ?hoặc khi
sử dụng thí nghiệm thì chất lượng tiếp thu bài như thế nào?
+ Trò chuyện với đồng nghiệp: Tìm hiểu những thuận lợi và khó khăn khi
sử dụng phương pháp giải bài tập
- Phương pháp thống kê: là phương pháp kiểm tra so sánh kết quả đạt được
so với yêu cầu đề ra trong quá trình nghiên cứu thực nghiệm
B NỘI DUNG
I CƠ SỞ LÝ LUẬN
Phương pháp giải bài tập trong dạy học hóa học là một trong những phương pháp quan trọng để tích cực hoạt động của học sinh
Phương pháp giải bài tập là nền tảng của việc dạy và học hóa học
Khi làm thí nghiệm học sinh sẽ làm quen với các chất hóa học và trựctiếp nắm bắt các tính chất lí hóa của chúng Từ đó các em hiểu quá trìnhhóa học
II CƠ SỞ THỰC TIỄN
1 Thực trạng đối với nội dung sáng kiến kinh nghiệm:
a Tình hình học sinh:
Lớp có 35 học sinh trong đó :
- Có 8 học sinh thực hiện thành thạo các thao tác thí nghiệm , có kĩ năngquan sát hiện tượng nhận xét chính xác và rút ra kết luận Vận dụng kiếnthức đã học vào các loại bài tập khá tốt do:
+ Thường xuyên thực hiện các thao tác thí nghiệm
+ Luôn ôn lại các kiến thức cũ có liên quan
+ Có ý thức học tập cao luôn chú ý nghe giảng
Trang 5- Có 8 học sinh thực hiện tương đối các thao tác thí nghiệm có kĩ năngquan sát hiện tượng, nhận xét chính xác nhưng rút ra kết luận chưa chínhxác Vận dụng kiến thức vào các loại bài tập do:
+ Thực hiện các thao tác trong thí nghiệm
+ Ôn lại các kiến thức có liên quan
+ Kết luận chưa phù hợp với hiện tượng
- Có 9 học sinh thực hiện các thao tác thí nghiệm còn lúng túng chưa quansát được hiện tượng để rút ra nhận xét.Vận dụng kiến thức vào bài mới cònhạn chế do:
+ Không ôn lại kiến thức cũ
+ Ít thực hiện các thao tác thí nghiệm
+ Không chú ý nghe giảng
- Có 10 học sinh không thành thạo các thao tác thí nghiệm chưa quan sátđược hiện tượng để rút ra nhận xét Không vận dụng kiến thức vào bài mớicòn hạn chế do:
+ Không ôn lại kiến thức cũ
+ Không chuẩn bị bài ở nhà
+ Không chú ý nghe giảng, làm việc riêng, thường xuyên mất trật tự
- Giáo viên chuẩn bị dụng cụ hóa chất cho học sinh tốn nhiều thời gian do
đó giáo viên ít sử dụng thí nghiệm hóa học Nếu có sử dụng thí nghiệm thìgiáo viên lại chưa khai thác được các hiện tượng, chưa tổ chức cho họcsinh nghiên cứu thí nghiệm để nhận xét hiện tượng, giải thích và viếtphương trình hóa học và rút ra kết luận về tính chất của chất
d Sự quan tâm của ban giám hiệu:
Ban giám hiệu phân công đúng chuyên môn luôn tạo điều kiện thuận lợicho giáo viên hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao
e Nhận thức của học sinh:
- Học sinh khá giỏi luôn có ý thức học tập nghiêm túc , các học sinh khágiỏi luôn thắc mắc những hiện tượng mà các em chưa quan sát được khi
Trang 6làm thí nghiệm hoặc các em chưa giải thích được các hiện tượng mà các
em quan sát Các em luôn có sự năng động sáng tạo, tư duy trong việc tìmtri thức mới
- Học sinh yếu kém chưa có ý thức học tập thường xuyên không học bài ,làm bài, chưa vận dụng kiến thức vào bài tập Các em không tin vào khoahọc, lười làm thí nghiệm, chưa giải thích được các hiện tượng mà các emquan sát, chưa vận dụng kiến thức vào thực tế
- Nhiều em học sinh còn nhúc nhát không dám làm thí nghiệm vì các em
sợ làm thí nghiệm sẽ không an toàn, các em sợ axit vây vào người, sợ cácphản ứng đốt cháy
g Sự quan tâm của phụ huynh học sinh:
- Học sinh khá giỏi : Phụ huynh luôn quan tâm đến việc học của em mìnhnên thường xuyên trao đổi với giáo viên bộ môn để tìm ra nhiều biện pháphọc tập tốt cho con em mình
- Học sinh yếu kém: Phụ huynh ít quan tâm đến việc học tập của em mìnhdẫn đến các em lười học và ngày càng yếu hơn
III NỘI DUNG NGHIÊN CỨU:
1 Vấn đề đặt ra:
Từ những hạn chế và nguyên nhân trên tôi đặt ra một số vấn đề sau:
a Phương pháp sử dụng thí nghiệm đảm bảo an toàn cho học sinh tạo niềmtin cho các em để các em không còn sợ hóa chất từ đó các em tự tay biểudiễn thí nghiệm và thích thú làm thí nghiệm
b Phương pháp sử dụng thí nghiệm được coi là tích cực khi thí nghiệm lànguồn kiến thức để học sinh khai thác tìm kiếm kiến thức mới dưới nhiềuhình thức khác nhau : có các hình thức tổ chức thí nghiệm, phương phápgiảng dạy khi sử dụng thí nghiệm.Giáo viên linh hoạt trong việc sử dụng
cụ hóa chất, giao nhiệm vụ cụ thể cho học sinh tạo mọi điều kiện thuận lợi
để nghiên cứu thí nghiệm
2 Giải quyết vấn đề:
a Những yêu cầu sư phạm về kỹ thuật biểu diễn thí nhiệm:
a.1 Phải đảm bảo an toàn cho học sinh:
- Giáo viên nhất thiết phải kiểm tra dụng cụ hóa chất trước khi làm thínghiệm và tuân thủ những qui định về bảo hiểm
- Các chất độc, dễ nổ, dễ cháy phải cẩn thận không dùng lượng lớn
a.2 Thí nghiệm phải bảo đảm thành công:
- Nắm vững kỹ thuật thí nghiệm
- Kỹ năng , kỹ xảo , thao tác phải nhanh chóng, khéo léo
a.3 Thí nghiệm phải rõ ràng học sinh phải quan sát đầy đủ:
- Thí nghiệm không bị che lấp
- Dụng cụ dễ nhìn
a.4 Thí nghiêm dành cho học sinh phải đơn giản:
Trang 7- Dụng cụ phải gọn gàng mỹ thuật, đảm bảo tính khoa học.
a.5 Các thí nghiệm phải tốn ít thời gian.
g Số thí nghiệm trong một tiết nên vừa phải.
- Giáo viên nên chọn thí nghiệm trọng tâm , tránh gây nhàm chán ở họcsinh làm mất tác dụng của thí nghiệm
a.6 Phải kết hợp chặt chẻ thí nghiệm với bài giảng:
- Trước khi biểu diễn thí nghiệm giáo viên phải giải thích mục đích thínghiệm và tác dụng của từng loại dụng cụ Cần tập luyện cho học sinhquan sát giải thích hiện tượng và rút ra kết luận Như vậy thí nghiệm dùnglàm cơ sở để xây dựng bài học có thể dùng thí nghiệm để minh họa lờigiảng của giáo viên
b.Các hình thức tổ chức thí nghiệm:
- Thí nghiệm do giáo viên tự tay làm thí nghiệm cho học sinh quan sát gọi
là thí nghiệm biểu diễn của giáo viên
- Thí nghiệm của học sinh tự làm gọi là thí nghiệm của học sinh được chialàm hai loại:
+ Thí nghiệm của học sinh khi học bài mới trên lớp để nghiên cứu sâuhơn nội dung bài học
+ Thí nghiệm ở các tiết thực hành để ôn lại kiến thức đã học
* Ngoài ra còn có các thí nghiệm ngoại khóa: thí nghiệm vui…
* Trong các hình thức thí nghiệm trên thì thí nghiệm biểu diễn của giáoviên là quan trọng nhất
b.1Những điều cần chú ý khi tổ chức thí nghiệm:
- Chú ý về chất lượng của hóa chất và dụng cụ
- Tổ chức thực hành theo nhóm nhỏ: phân chia nhóm nhỏ hợp lí
- Có kế hoạch theo dõi kiểm tra đánh giá
- Dự tính thời gian của từng thí nghiệm
b.2 Phương pháp giảng dạy khi sử dụng thí nghiệm:
- Chuẩn bị:
+ Giáo viên:
* Chuẩn bị đầy đủ dụng cụ hóa chất cho 6 nhóm học sinh
* Giáo viên làm thí nghiệm nhiều lần để xác định thời gian đúng, hợplí
+ Học sinh:
* Chuẩn bị tốt các kiến thức có liên quan đến bài mới
* Xem trước cách tiến hành thí nghiệm
Trang 8+ Phương pháp minh họa : minh họa kiến thức do giáo viên trình bày lànguồn kiến thức mà học sinh tiếp thu dưới sự hướng dẫn của giáo viêntrong quá trình quan sát thí nghiệm.
+ Phương pháp nghiên cứu kết hợp với phương pháp thảo luận nhóm :kích thích học sinh làm việc tích cực tạo điều kiện phát triển khả năngnhận thức của học sinh
* Tình hình học tập:
- Giao nhiệm vụ cụ thể cho học sinh ( Phân công trách nhiệm trong nhómnhư nhóm trưởng , thư kí để các em thực hiện một nhiệm vu cụ thể ) Sựphân công này cũng có sự thay đổi để mỗi học sinh có thể phát huy vai trò
cá nhân của mình, để tất cả các em tham gia biểu diễn thí nghiệm , tạo điềukiện cho các em biểu diễn các thí nghiệm ngoại khóa giúp học sinh hứngthú học tập và áp dụng những kiến thức đã học được vào thực tiễn
*.Tình hình giáo viên :
- Tích cực dự giờ đồng nghiệp, tham khảo các tài liệu chuyên môn như :các loại sách bài tập cơ bản và nâng cao, tài liệu bồi dưỡng giáo viên , một
số vấn đề đổi mới phương pháp dạy học môn hóa học
- Cập nhật những thông tin từ sách báo, Internet, tivi có liên quan đến bộmôn
- Giáo viên làm mẫu nhiều lần thí nghiệm trước khi lên lớp, chuẩn bị chuđáo các dụng cụ hóa chất cho tiết dạy sử dụng thí nghiệm biểu diễn thànhcông
- Tạo điều kiện cho học sinh nghiên cứu thí nghiệm để các em tích cựcthực hiện trong giờ học
*.Sự quan tâm của phụ huynh học sinh:
- Giải thích rõ cho phụ huynh hiểu được vai trò của thí nghiệm đối vớimôn học
- Môn hóa học rất quan trọng trong đời sống và vận dụng kiến thức vàothực tiễn
* Quá trình thực hiện sáng kiến kinh nghiệm :
- Qua quá trình giảng dạy, dự giờ và học hỏi kinh nghiệm các đồngnghiệp, tôi rút ra kinh nghiệm trong giảng dạy môn Hóa Học đòi hỏi họcsinh phải tư duy tưởng tượng và liên hệ thực tế Cho nên việc dạy môn
Trang 9Hóa Học cần phải có thí nghiệm để các em vừa học vừa thực hành.Vì vậytôi đưa ra một số nhiệm vụ sau :
a Cung cấp cho học sinh những kiến thức phổ thông sơ đẳng nhất về cáctính chất và ứng dụng của các loại chất quan trọng nhất đối với hoạt độngthực tiễn, nắm được các phản ứng hóa học
b Bước đầu cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản có tính mĩthuật tổng hợp về một số sản xuất hóa học và ứng dụng của hóa học dốivới nông nghiệp, công nghiệp quốc phòng và đời sống nhân dân
c Tập cho học sinh có thói quen quan sát thí nghiệm , rèn kĩ năng làm thínghiệm, mô tả có suy nghĩ các hiện tượng hóa học, kết hợp lí thuyết vớithực hành
d Hình thành ở học sinh thế giới quan khoa học và nhân sinh quan cáchmạng
Người giáo viên phải phối hợp các hình thức, các lời nói với cácphương tiện trực quan, có thể áp dụng hình thức giảng dạy trên lớp với thínghiệm Kết quả cho thấy dùng hình thức phối hợp lời nói với thí nghiệm
là đạt hiệu quả cao hơn
Để đảm bảo hiệu quả cao phương pháp biểu diễn thí nghiệm đòi hỏihọc sinh phải có trí nhớ , tư duy tưởng tượng và giải thích chính xác cáchiện tượng thí nghiệm Giáo viên vừa làm thí nghiệm vừa giải thích , có những thí nghiệm quá phức tạp thì giáo viên phải dùng phương pháp trựcquan để học sinh quan sát Do đó học sinh phải có tính tự giác cao
Từ những lập luận trên cho thấy việc giảng dạy môn Hóa Học ởtrường Trung học cơ sở rất quan trọng , đây cũng là vấn đề hết sức khókhăn vì đây là một môn học hết sức mới mẻ đối với các em , cho nên khigiảng dạy cần kết hợp với thực hành thí nghiệm giúp học sinh tiếp thu bàisâu hơn , thích thú với môn học
Qua đó , cho thấy chất lượng của tiết dạy cao hơn , tạo sự sinh độngcho tiết học giúp giáo viên đỡ tốn công sức giảng dạy những vấn đề trừutượng, khô khan
Với đề tài “Nâng cao chất lượng giảng dạy bằng phương pháp sử
vào nghiên cứu một số bài cụ thể thực hiện sáng kiến kinh nghiệm nhưsau:
Bài 16 TÍNH CHẤT HÓA HỌC CỦA KIM LOẠI
Dụng cụ hóa chất dành cho 6 nhóm học sinh nghiên cứu thí nghiệm
+ Dụng cụ: Ống nghiệm, kẹp gỗ, giá ống nghiệm
+ Hóa chất: Đinh sắt, sợi dây đồng , dây kẽm ,dung dịch CuSO4
Dụng cụ hóa chất dành cho giáo viên biểu diễn thí nghiệm:
+ Dụng cụ: Đèn cồn, , muỗng sắt
+ Hóa chất: Lọ clo
Trang 10Qua sử dụng thí nghiệm , nghiên cứu thí nghiệm của học sinh và giáoviên giúp học sinh nắm được tính chất hóa học của kim loại nói chung :Kim loại tác dung với phi kim ; với dung dịch muối ;
Vận dụng linh hoạt các phương pháp nêu và giải quyết vấn đề , phươngpháp nghiên cứu thí nghiệm , phương pháp học tập hợp tác theo nhóm nhỏ,phương pháp trực quan
Giáo viên làm nhiều lần thí nghiệm trước khi lên lớp, chuẩn bị dụng
cụ, hóa chất cho giáo viên và nhóm học sinh Hệ thống câu hỏi gợi mở
Học sinh chuẩn bị kiến thức liên quan tới bài học ( axít tác dụng vớikim loại , muối tác dụng với kim loại)
HOẠT ĐÔNG CỦA GIÁO VIÊN HOẠT DỘNG CỦA HỌC SINH
* Giáo viên dùng phương pháp trực
quan cho học sinh quan sát lọ khí Clo,
mẫu kim loại Natri, và dụng cụ sử dụng
trong thí nghiệm
* Giáo viên dùng hê thống câu hỏi :
Trạng thái, màu sắc của lọ Clo và kim
loại Natri
* Giáo viên biểu diễn thí nghiệm cho
học sinh quan sát : đưa muỗng sắt đựng
Natri nóng chảy vào lọ đưng khí Clo
Học sinh quan sát , nhận xét hiện tượng,
kết luận
Giáo viên dùng phương pháp hợp tác
nhóm nhỏ để rút ra kết luận
Gọi học sinh viết PTHH
Giáo viên dùng phương pháp trực quan
cho học sinh quan sát hóa chất và tác
dụng của dụng cụ
Giáo viên dùng hệ thống câu hỏi giúp
học sinh nhận xét trạng thái , màu sắc của
dung dịch muối đồng (II) sunfat
Giáo viên hướng dẫn học sinh làm thí
nghiệm Giáo viên theo dõi học sinh làm
thí nghiệm , kịp thời uốn nắn những thao
tác làm sai của học sinh
Giáo viên dùng phương pháp hợp tác
nhóm nhỏ để giúp học sinh quan sát được
Thí nghiệm : kim loại tác dụng với phi kim
Trước khi làm thí nghiệm : Lọ Clo
là thể khí có màu vàng lục, kim loại Natri ở thể rắn
Học sinh quan sát thí nghiệm biểu diễn của giáo viên , nghiên cứu thí nghiệm và rút ra hiện tượng , nhận xét → rút ra kết luận
Hiện tượng : Natri nóng chảy trong khí Clo tạo thành khói trắng
Nhận xét : do Natri tác dung với khí Clo tạo thành tinh thể muối Natriclorua có màu trắng Phương trình hóa học :
2Na(r) + Cl2(k) → 2NaCl(r) Vàng lục Trắng Thí nghiệm : cho kẽm vào dung dịch Đồng (II) sunfat
Học sinh quan sát hóa chất trước khi làm thí nghiệm
Học sinh làm và nghiên cứu thí nghiệm : cho dây kẽm vào ống nghiệm đựng dung dịch muối đồng (II) sunfat
Hiện tượng : có chất rắn màu đỏ bám ngoài dây kẽm , màu xanh lam của dung dịch đồng (II) sunfat bị nhạt dần
Phương trình hóa học :