1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

skkn Kinh nghiệm viết một bài văn hay

26 600 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 259,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong văn học Việt Nam, có một đề tài mà nhiều cây bút đề cập đến, đó là vấn đề miếng ăn: Ngô Tất Tố, Nam Cao, Nguyên Hồng, Tản Đà, Nguyễn Tuân, Thạch Lam, Vũ Bằng...So sánh cách tiếp cậ

Trang 1

Kinh nghiệm viết một bài văn hay

Ngày s ạn: 18/9/2008

Tiểu luận, phê bình văn học có thể có nhiều kiểu dạng khác nhau, với nhiều tầm cỡ, nhiều khuôn khổ dài ngắn khác nhau Tuy nhiên, nhìn một cách bao quát nhất, có thể gọi chung là thể văn nghị luận văn học

Nghị luận là bàn luận, là nói lí nói lẽ, là thuyết phục người đọc bằng lập luận lôgic chặt chẽ Nhưng đối tượng của nghị luận văn học lại là các hiện tượng văn học, các tác phẩm văn chương Đối tượng này không thể lĩnh hội chỉ bằng lí trí đơn thuần, bằng trí tuệ tỉnh táo Trong lĩnh vực này,

mọi nhận thức chỉ có nghĩa lí khi kết hợp lí trí với tình cảm, cảm xúc thẩm mĩ Bêlinxki nói: "Thẩm

mĩ không phải là đại số ( ) ngoài trí thông minh và học vấn còn đòi hỏi cảm xúc về cái đẹp" Hoài Thanh thì quan niệm, hiểu thơ là đồng cảm với tâm hồn thi sĩ Vì thế ông chủ trương "lấy hồn tôi để hiểu hồn người".

Vậy nghị luận văn học là thuyết phục người đọc bằng lí trí, bằng lập luận, bằng chứng minh theo những quy tắc lôgic Nhưng lí lẽ ấy phải được xây dựng trên cơ sở nhận thức văn chương bằng

cả tâm hồn rung lên trước những hình tượng đẹp Người viết nghị luận văn học, vì thế phải có hai điều kiện chủ quan: tư duy lôgic va năng lực thẩm văn tương đối khá Và một bài nghị luận văn học hay cũng phải thể hiện được hai năng lực ấy Tôi sẽ trở lại vấn đề này ở các phần sau

Văn chương không chỉ phản ánh sự sống mà chính nó cũng là sự sống - tất nhiên là nói văn

đạt phẩm chất nghệ thuật cao Người nghệ sĩ tài năng có thể được xem là một tiểu hoá công,

nghĩa là tạo ra được sự sống Một hiện tượng sống thì bao giờ cũng phong phú, đa chiều, đa dạng,

đa diện và vì thế đa nghĩa Cho nên người ta nói một áng văn hay là một áng văn không có đáy, nghĩa là khai thác mãi vẫn không cạn ý, cũng không hết nghĩa Và mỗi độc giả, do vốn sống, vốn

văn hoá, trình độ thẩm mĩ khác nhau, có thể phát hiện ra ở cùng một tác phẩm văn học

những vẻ đẹp khác nhau và những ý nghĩa khác nhau Cái gọi là ý mới, ý riêng của người viết

bài nghị luận văn học chính là ở đấy mà ra

Dưới đây là một số kinh nghiệm tìm ý, lập ý:

1 Rút ra nhận xét khái quát từ những hiện tượng "ám ảnh" trong thế giới nghệ thuật của nhà văn.

Đó là những hiện tượng được lặp đi lặp lại nhiều lần Nhưng nói lặp đi lặp lại thì chỉ

có nghĩa thuần tuý về số lượng Nói "ám ảnh" mới bao hàm phẩm chất của hình tượng, nghĩa là

chứa đựng tư tưởng nghệ thuật, chứa đựng tâm huyết của nhà văn

Thí dụ: Đọc các tác phẩm của Nam Cao, thấy ông hay nói đến hiện tượng con người

trước miếng ăn không giữ được nhân phẩm, nhân tính nghĩa là bị biến chất, bị tha hoá (Một

bữa no, Quên điều độ, Tư cách mõ, Trẻ con không được ăn thịt chó, Đòn chồng, Chí Phèo, Sống mòn ) Từ đó, có thể rút ra nhận xét khái quát về tư tưởng chi phối sâu sắc những tác phẩm tiêu

biểu của Nam cao: ấy là nỗi đau đớn trước tình trạng con người không giữ được nhân tính,

nhân phẩm do miếng cơm manh áo Ở tầng lớp trí thức nghèo thì đó là tình trạng chết mòn

(Sống mòn hay Đời thừa ); ở người nông dân nghèo, thì là tình trạng chết hẳn về tinh thần, mất

Trang 2

hết ý thức về cái nhục (Một bữa no, Tư cách mõ ), hoặc trở thành quỷ dữ (Chí Phèo) Như thế là

khác với Ngô Tất Tố, lên án xã hội cũ đã xô đẩy con người vào nạn đói, vào cái khổ; Nam Cao cũng tố cáo xã hội ấy, nhưng ở chỗ nó lăng nhục con người, huỷ hoại nhân tính, nhân phẩm của conngười

Một thí dụ khác: Nguyễn Công Hoan có sở trường đặc biệt về truyện ngắn trào phúng Ông

tạo ra hàng trăm thiên truyện ngắn rất ngắn và rất vui Mỗi truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan thường được tổ chức xoay quanh một mâu thuẫn giữa hai hạng người Ở những truyện viết về đề tài

xã hội, là mâu thuẫn giữa một gã nhà giàu nào đó với một người nghèo Và Nguyễn Công Hoan đứng hẳn về phía người nghèo để châm biếm, lật tẩy bản chất bất lương, vô liêm sĩ của kẻ giàu có quyền thế cùng tay sai của chúng Còn ở những truyện viết về đề tài luân lí gia đình, thì lại là mâu thuẫn giữa một nam, một nữ hoặc lớp già, lớp trẻ Và nhà văn đứng hẳn về phía nam giới và thế hệ già Ông đả kích rất ác loại phụ nữ gọi là tân thời và lớp thanh niên Âu hoá mà ông cho là đàng điếm, hư hỏng, vô giáo dục

Hiện tượng nói trên rất phổ biến trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan trước Cách mạng tháng Tám, gần như không có ngoại lệ Vì thế cần hết sức lưu ý Từ những hiện tượng trở đi trở lại với tần số cao ấy có thể rút ra nhận xét khái quát: về thái độ đối với xã hội thực dân, Nguyễn Công Hoan có tinh thần dân chủ khá sâu sắc Nhưng về quan điểm đạo đức trong quan hệ hôn nhân, gia đình, ông tỏ ra hết sức bảo thủ lạc hậu

Đọc Vũ Trọng Phụng, thấy ông hay dùng cụm từ "vô nghĩa lí" (đời vô nghĩa lí, loai người

vô nghĩa lí, con người vô nghĩa lí, hành vi vô nghĩa lí ) Từ đó có thể phán đoán: con người sính

khái quát, triết lí này đã ráo riết đi tìm nghĩa lí cuộc đời mà không hiểu được, đâu đâu cũng chỉ thấy toàn chuyện vô nghĩa lí Vì thế ông đã rơi vào tư tưởng bi quan định mệnh chủ nghĩa: định mệnh, sốđen, số đỏ, ấy là cách giải thích "thoả mãn" nhất đối với mọi thắc mắc về các hiện tượng vô nghĩa lí trên đời

Tìm hiểu thơ của Hồ Chí Minh (phần lớn bằng chữ Hán, theo thể tuyệt cú) thấy ở câu cuối,

ở phần cuối của bài thơ tác giả thường tô đậm hình ảnh con người hoạt động, sự sống tươi vui, bình minh rực rỡ:

Phương đông màu sắc chuyển sang hồng

Bóng tôí đêm tàn quét sạch không

(Giải đi sớm)

Cô em xóm núi xay ngô tối

Xay hết lò than đã rực hồng

(Chiều tối)

Làng xóm ven sông đông đúc thế

Thuyền câu rẽ sóng nhẹ thênh thênh

( Giữa đường đáp thuyền đi Ung Ninh)

Trong ngục giờ đây còn tối mịt

2 Đề xuất luận điểm từ sự so sánh những đối tượng cùng loại.

Tất nhiên so sánh theo quy tắc logic thì phải so sánh những hiện tượng cùng loại và trên

cùng một bình diện.

Hoài Thanh thường lập ý bằng cách này.Thí dụ ông so sánh hình ảnh Hồ Chí Minh trong cácbài thơ của Tố Hữu ra đời trong những thời kỳ khác nhau để thấy những đổi mới về nhận thức và

Trang 3

phát hiện những sáng tạo nghệ thuật của nhà thơ ở mỗi tác phẩm Xuân Diệu cũng làm như thế khi bình thơ Huy Cận Chẳng hạn ông so sánh hai bài thơ của Huy Cận ra đời trước và sau Cách mạng

tháng Tám cùng viết về mưa (Buồn đêm mưa và Mưa xuân trên biển) để thấy những chuyển biến tư

tưởng và nghệ thuật của tác giả Mùa thu, cảnh thu là đề tài của hàng loạt bài thơ kim cổ đặc sắc Vìthế bình giảng thơ về đề tài này người ta cũng thường lập ý bằng lối so sánh

Tôi cũng thường lập ý bằng cách đó

Chẳng hạn so sánh những phát hiện khác nhau của Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan và

Nam Cao về nỗi khổ của người nông dân trong xã hội cũ, qua ba tác phẩm Tắt đèn, Bước đường

cùng và Chí Phèo: "Khi Tắt đèn của Ngô Tất Tố và Bước đường cùng của Nguyễn Công Hoan ra đời, tôi chắc ít ai nghĩ rằng thân phận người nông dân dưới ánh đế quốc phong kiến lại có thể có một nỗi khổ nào hơn những nỗi khổ của chị Dậu, anh Pha Nhưng khi Chí Phèo ngật ngưỡng bước

ra từ những trang sách của Nam Cao, thì người ta thường nhận ra rằng, đây mới là hiện thân đầy

đủ những gì gọi là khốn khổ tủi nhục nhất của người dân cùng ở một nước thuộc địa: bị giày đạp,

bị cào xé, bị huỷ hoại từ nhân tính đến nhân hình Chị Dậu bán chó, bán con, bán sữa nhưng đời chị còn được gọi là người Chí Phèo phải bán cả diện mạo và linh hồn của mình đi để trở thành con quỷ dữ của làng Vũ Đại ".

Trong văn học Việt Nam, có một đề tài mà nhiều cây bút đề cập đến, đó là vấn đề miếng ăn: Ngô Tất Tố, Nam Cao, Nguyên Hồng, Tản Đà, Nguyễn Tuân, Thạch Lam, Vũ Bằng So sánh cách tiếp cận khác nhau về miếng ăn của những cây bút ấy, có thể phát hiện được nhiều thú vị Ngô Tất

Tố đề cập đến miếng ăn của người nông dân nghèo là để nói đến nạn đói thê thảm ở nông thôn ta

ngày trước Nam Cao nói miếng ăn là nói cái nhục của con người - miếng ăn là miếng nhục

Nguyên Hồng đề cập đến miếng ăn của người dân nghèo lại phát hiện ra cái tinh tế, sành sỏi

riêng của khẩu vị người dân lao động Còn Nguyễn Tuân lại tiếp cận miếng ăn không như một

thực phẩm, mà như một giá trị văn hoá nghệ thuật tinh vi "sang trọng", rất đáng tự hào của

một dân tộc có hàng nghìn năm văn hiến Nghĩa là từ một đề tài có vẻ hết sức nhỏ mọn là miếng

ăn, nhờ so sánh mà ta có thể phát hiện tư tưởng nghệ thuật rất khác nhau của các tác giả

Để thấy được đặc sắc của những bức tranh thiên nhiên trong thơ Xuân Diệu, tôi so

sánh với thơ Thế Lữ Thơ Thế Lữ rất giàu chât hoạ (ông vốn là một hoạ sĩ) Màu sắc trong thơ ông thường rõ ràng, có thể gọi tên ra được:

Ánh hồng tía rắc ngọc châu trên lá

Trời trong xanh, chân trời đỏ hây hây

( ) Trời cao xanh ngắt Ô kìa !

Hai con hạc trắng bay về Bồng Lai

Nhưng trên những bức tranh của Xuân Diệu thì hình ảnh, màu sắc rất khó định danh Có một cái gì không rõ đường viền, là một thứ màu sắc, ánh sáng đang chuyển, đang ở dạng biến thái rất khó nắm bắt:

Con đường nhỏ nhỏ, gió xiêu xiêu

Lả lả cành hoang nắng trở chiều

( Xuân Diệu )

Nhưng chính cái hay, cái tài của thơ Xuân Diệu là ở đó, đúng như lời bình của tác giả Thi

nhân Việt Nam : " cảnh như muốn theo lời thơ mà tan ra Nó chỉ mất một tí rõ ràng để được thêm rất nhiều thơ mộng" Thơ Xuân Diệu tinh vi là ở đấy Vận dụng kinh nghiệm của trường thơ tượng

trưng Pháp, đặc biệt là của Bôđơle, Xuân Diệu muốn ghi lại bằng ngôn ngữ thơ ca những biến thái tinh vi của tạo vật và lòng người Thậm chí ông còn muốn diễn tả cả những cảm ứng vô hình trong đôi cánh của một con cò trên ruộng:

Mây biếc về đâu bay gấp gấp

Con cò trên ruộng cánh phân vân

Chim nghe trời rộng giang thêm cánh

Trang 4

Hoa lạnh chiều thưa sương xuống dần

Một trong những vẻ đẹp độc đáo của thơ nghệ thuật Hồ Chí Minh là màu sắc cổ điển đậm đà Vìthế , bình thơ Bác, người ta thường so sánh với thơ Đường, thơ Tống Chẳng hạn Xuân Diệu so

sánh bài thơ Nhập Tĩnh Tây huyện ngục của Bác với bài Độc toạ Kính Đình san của Lý Bạch; hoặc như Hoàng Trung Thông so sánh bài Tẩu lộ của Hồ Chí Minh với bài Đăng Quán Tước lâu của

Vương Chi Hoán

Bình bài thơ Cảnh khuya của Hồ Chí Minh tôi cũng lập ý bằng cách so sánh tiếng suối trong thơ Bác với tiếng suối trong bài Côn Sơn ca của Nguyễn Trãi: "Ta lắng nghe một tiếng hát từ xa vọng lại Không, đó là tiếng suối ngân nga trong rừng sâu:

Tiếng suối trong như tiếng hát xa

Câu thơ đột nhiên có một dáng điệu trẻ trung rất thích Hình như người xưa thường nói đàn suối, phách suối, - "Ta nghe suối chảy như cung đàn cầm" (Nguyễn Trãi) - chứ không nói suối hát chăng? Một hiện tượng rất thực, phù hợp với cảnh vật và sinh hoạt của con người ta lúc bấy giờ ở chiến khu Việt Bắc Nhưng lối ví von thoát sáo ấy, đồng thời lại muốn đưa thẳng trí tưởng tượng của nhà thơ vào cõi mơ màng: tiếng suối hay giọng người , âm thanh của tự nhiên hay điệu hát cất lên từ một cõi xa xăm nào giữa rừng khuya lung linh bóng nguyệt?"

Trong quá trình tìm hiểu những cách tân của thơ Xuân Diệu, tôi đã nhận ra được một đặc

điểm độc đáo của thi pháp tác giả Thơ Thơ và Gửi hương cho gió bằng cách đối chiếu thơ ông với

thơ ca truyền thống: Trong cái vũ trụ nghệ thuật Xuân Diệu mà Xuân và Tình làm chủ "ngưòi ta thấy một nguyên tắc mỹ học được xác định: vẻ đẹp của con người là vẻ đẹp chuẩn mực của vẻ đẹp thế giới, vẻ đẹp của vũ trụ Nếu như chúng ta nhớ rằng trong văn chương xưa, ngưòi ta lấy vẻ đẹp của thiên nhiên làm chuẩn cho vẻ đẹp của con người thì mới thấy nguyên tắc mĩ học nói trên của Xuân Diệu là cả một cuộc đỏi mơi đáng kể trong thơ ca Việt Nam hiện đại"

Thơ xưa viết về người đẹp thì nào là mặt hoa, tóc mây , mày liễu, làn thu thuỷ, nét xuân sơn

Bây giờ Xuân Diệu so sánh ngược lại:

.Lá liễu dài như một nét mi

.Trăng vú mộng của muôn đời thi sĩ

.Hơi gió thở như ngực người yêu đến

.Mây đa tình như thi sĩ đời xưa

Quan niệm mĩ học ấy đã giúp ông sáng tạo nên một câu thơ vào loại tuyệt vời của nền thi ca VIệt Nam hiện đại:

"Tháng giêng ngon như một cặp môi gần"

và v.v

3.Ý kiến được xây dựng từ những phản đề.

Trong nghiên cứu văn học, nhiều khi ý kiến nảy sinh và hình thành nhờ nhu cầu phản

bác một luận điểm nào đấy.

Chúng ta biết rằng, từ sau Đại hội Đảng lần thứ VI (1986), đất nước bước vào công cuộc đổi mới sâu sắc và toàn diện Nói riêng trong lĩnh vực văn học, nhiều hiện tượng văn học cần được

đánh giá lại theo tinh thần đổi mới, trong đó có trào lưu văn học lãng mạn giai đoạn 1930-1945.

Theo quan niệm cũ, trào lưu văn học này hết sức tiêu cực, độc hại Nó đánh lạc hướng thanhniên ra khỏi con đưòng Cách mạng mà Đảng đã vạch ra từ 1930 Nghĩa là về tác dụng khách quan,

nó có tính chất phản động Thực ra thì không phải hoàn toàn như vậy Vì hầu hết các cây bút lãng mạn đều rất hăng hái tham gia cách mạng ngay khi cuộc tổng khởi nghĩa tháng Tám thành công Riêng Xuân Diệu, Huy Cận thì đã tham gia từ trước đấy nữa

Vậy thì phải phản bác quan niệm cũ nói trên như thế nào đây?

Trang 5

Trong quá trình suy nghĩ về vấn đề này, tôi tình cờ đọc được một câu nói của một nhân vật

trong cuốn tiểu thuyết Cha và con của nhà văn Nga I Tuôcghênhép như sau: "Anh bạn có thấy tôi đang làm gì đây không? Té ra vali của tôi rỗng tuếch, tôi đang phải nhét cỏ khô vào Chiếc vali trường đời của chúng ta cũng thế đấy, ta phải nhét vào bất cứ thứ gì , cốt sao cho nó khỏi trống rỗng".

Câu nói này đã gợi ý cho tôi hiểu được tâm lí xã hội của các thế hệ thanh niên trí thức thời Pháp thuộc

Hồi ấy Đảng hoạt động bí mật Trong hoàn cảnh ấy có phải ai cũng có thể tiếp nhận được lí tưởng của Đảng đâu Trong khi đó thì tâm hồn con người ta không bao giờ chịu để trống không cả Quy luật tâm lí của con người ta, nhất là của thanh niên là như vậy Không tiếp nhận được lí tưởng

của Đảng thì họ cũng phải "nhét" cái gì vao "hành lí tâm hồn" của mình chứ - dù là phải "nhét cỏ khô"vào đấy Đương thời bọn thực dân và tay sai chỉ mong muốn họ "nhét" những tư tưởng nô dịch,

chống cộng, tư tưởng sùng bái Đại Pháp, coi Tổ quốc là nước Pháp, coi nòi giống mình là người Gô-loa Cố đạo Puyginiê đã từng mơ ước như thế khi vạch ra chương trình đồng hoá dân Viêt

Nam để cuối cùng biến nước ta thành "một nước Pháp ở hải ngoại".Nhưng do tinh thần yêu nước không đến nỗi nguội lạnh , họ đã không chịu "nhét" những "của" ấy vào tâm hồn mình, dù chúng

được Nhà nước thực dân truyền bá hàng ngày bằng mọi phương tiện thông tin và bằng nội dung

chương trình của các nhà trường Pháp - Việt Họ đã "nhét" Thơ mới lãng mạn vào đấy cùng với những Hồn bướm mơ tiên, Nửa chừng xuân, Đôi bạn, Gió đầu mùa, Vang bóng một thời, Thiếu quê hương

Họ làm như thế , trong hoàn cảnh ấy, có nên xem là có hại cho cách mạng không? Những tác phẩm ấy đúng là không kêu gọi tranh đấu, không tuyên truyền cho cộng sản, nhưng cũng không

bán nước, không ca ngợi kẻ xâm lược Ít ra nó cũng giúp độc giả thêm yêu mảnh đất đã sinh ra

mình, biết yêu tiếng mẹ đẻ, biết mất nước là buồn, là đau, biết Thiếu quê hương là bơ vơ tủi

nhục Như vậy không thể nói những tác phẩm văn chương ấy đã đầu độc tâm hồn con người , là

đẩy thanh niên xa rời con đường cách mạng Trái lại, xét ở chừng mực nào đấy , những áng văn thơ kia đã vô tình chuẩn bị cho con người đến với cách mạng dễ dàng hơn khi họ có điều kiện tiếp xúc với lí tưởng của Đảng Thục tế lịch sử đã chứng minh điều đó

Nhà thơ Chế Lan Viên có bài thơ Hai câu hỏi Bài thơ diễn tả cơ chế chuyển biến tư tưởng

và nghệ thuật của tác giả trước và sau Cách mạng tháng Tám:

Ta là ai? Như ngọn gió siêu hình,

Câu hỏi hư vô thổi nghìn nến tắt ;

Ta vì ai? Khẽ xoay chiều ngọn bấc,

Bàn tay người thắp lại triệu chồi xanh.

Nói chung, những nhà văn "tiền chiến" vào những năm 50, 60 của thế kỷ trước thường có

thái độ đối lập như thế giữa cái tôi riêng và cái ta chung, giữa cá nhân và cộng đồng

Trong quá trình tìm hiểu con đường nghệ thuật riêng của mỗi nhà văn, tôi đã mượn cách

diễn đạt nói trên của Chế Lan Viên nhưng đồng thời bác bỏ sự đối lập cái tôi và cái ta của nhà

thơ Tôi cho rằng con đường nghệ thuật độc đáo của mỗi nhà văn được vạch ra từ sự giải đáp khác

nhau về hai câu hỏi nói trên trong quá trình sáng tác: Ta vì ai? (là lí tưởng xã hội của nhà văn) Ta

là ai? (là sở trường riêng, phong cách nghệ thuật riêng của mỗi cây bút) Lời giải đáp đúng đắn chỉ

có thể có được bằng thực tiễn sáng tác của người cầm bút - qua sáng tác, nhà văn, cùng một lúc tìm hiểu mình và tìm hiểu đời

Trong lĩnh vực khoa học, nhiều luận điểm mới mẻ đã nảy sinh từ sự bác bỏ những luận điểmnào đó Vì thế việc tổ chức những cuộc tranh luận lành mạnh, dân chủ, bình đẳng là tạo ra những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của khoa học Những ý kiến của tôi về Nguyễn Huy Thiệp, về

một số bài thơ của Bác như Tức cảnh Pắc Bó, Giải đi sớm, Ốm nặng, Cảnh chiều hôm đã nảy sinh

từ những cuộc tranh luận như thế "

Trang 6

4.Ghim những câu hỏi trong đầu như những cái đinh để móc vào đấy những kiến thức thu lượm được.

Để có ý hay, ý mới, điều quyết định là đầu óc phải luôn làm việc Nhà thơ Xuân Diệu có

lần nói với tôi khi tôi than phiền nghĩ mãi không ra một ý gì để giải quyết một vấn đề khoa học mà mình theo đuổi Ông động viên tôi: "Cứ nghĩ tập trung mãi vào một điểm thì rồi thế nào cũng nghĩ

ra, đừng bi quan Mình nhiều lúc cũng bí Hết hạn nộp bài đến nơi rồi mà đầu óc vẫn trống trơn Y như nợ phải trả đến nơi rồi mà trong túi không có một xu Vậy mà cứ nghĩ xoáy mãi vào một điểm thật quyết liệt rồi ý cũng nảy ra và viết được.".

Tôi có một kinh nghiệm thế này: trong quá trình suy nghĩ, tất nảy ra những thắc mắc, những câu hỏi Đó là những đề tài của những bài nghiên cứu rồi có lúc sẽ được giải quyết Hãy

ghim những câu hỏi ấy trong đầu như những cái đinh đóng trên tường để treo mũ, mắc áo hằng ngày

Đọc sách , đọc báo, nghe giảng bài hay nghe nói chuyện mà trong đầu không có sẵn những

cái "đinh" kia thì kiến thức nghe được, đọc được cũng tuột đi mất, vì không khắc sâu vào trí ta

được Nhiều kiến thức rất thú vị đến với ta một cách hết sức bất ngờ và ngẫu nhiên do đọc

sách hay trò chuyện với ai đó Nhưng nếu không có sẵn những cái "đinh" kia trong đầu thì có khi

cũng không bắt lấy được và để tuột mất Những cái "đinh" kia có sức hút rất nhạy những kiến thức liên quan đến nó, tức là những ý kiến làm cho nó được sáng tỏ Một cái "đinh" nào đấy khi đã móc

được nhiều ý kiến rồi thì khi đó ta sẽ có đủ khả năng, có đủ luận điểm để giải quyết được một thắc mắc, một câu hỏi, tức một đề tài khoa học nào đấy mà ta vẫn nung nấu trong đầu Có nghĩa là ta có thể xây dựng được một bài nghiên cứu có giá trị nhất định

Một lần tôi tình cờ đọc được một bài viết của một tác giả Liên Xô bàn về cái tên cuốn tiểu

thuyết của Xtăngđan : Đỏ và đen Tác giả bài viết cho rằng, cuốn tiểu thuyết đã mở đầu bằng mấy

chi tiết báo trước số phận của nhân vật chính là Giuyliêng Soren Anh học trò này trước khi đến nhận làm gia sư cho nhà quý tộc Đơ Rênan, đã đảo qua nhà thờ của thị trấn Anh ta thấy màu đỏ củatấm riđô nơi nhà thờ chiếu vào bình nước thánh, trông như máu, đồng thời nhặt được một tờ báo ai

bỏ lại đấy, đăng tin một vụ án mạng Đấy là cái điềm báo trước số phận của Giuyliêng: anh ta sẽ can

tội giết người và bị án tử hình Đỏ là máu, đen là tang tóc Tên truyện Đỏ và đen diễn đạt dưới hình

thức biểu tượng cái điềm triệu kia mà tác giả Xô Viết gọi là chi tiết tiên tri dự báo Tôi liền chộp lấy

ngay khái niệm này và mắc vào cái "đinh" ghim sẵn trong đầu về trường hợp tư tưởng bi quan định

mệnh chủ nghĩa Vũ Trọng Phụng thể hiện ở hàng loạt nhân vật thầy bói, thầy tướng xuất hiện như

những Quỷ Cốc tái sinh báo trước số phận những nhân vật chính như Mịch (Giông tố), Xuân (Số đỏ), Phúc (Trúng số độc đắc)

Một lần khác, nhân đọc cuốn tiểu thuyết Anh em nhà Karamazôp của Đôtxtôiepxki, tôi thấy

có một nhân vật nói thế này: "Tôi càng yêu nhân loại nói chung thì lại càng ít yêu con người nói riêng, tức là tách bạch ra từng người riêng rẽ Những lúc mơ ước nhiều khi tôi đã có dự định say

mê phụng sự nhân loại ( ) thế nhưng tôi lại không thể sống chung với bất kỳ ai trong một căn phòng" Đó là loại người chỉ có cái mà Đôtxtôiepxki gọi là "tình yêu mơ mộng" chứ không có tình

yêu thật sự Câu nói của nhân vật này khiến tôi liên hệ đến tình cảm nhân đạo vừa mênh mông bao trùm cả nhân loại vừa rất cụ thể thiết thực của Bác Hồ thể hiện trong Nhật ký trong tù - đây cũng là

một cái "đinh" ghim sẵn trong đầu tôi khi nghiên cứu văn thơ Hồ Chí Minh Tôi hiểu ra rằng: "Bác

Hồ không vì những mục đích xa mà quên những mục tiêu gần, không vì chú trọng lợi ích lâu dài mà

bỏ qua lợi ích trước mắt của quần chúng, không vì quan tâm đến cái nhân loại lớn mà thờ ơ với cái nhân loại nhỏ hẹp quanh mình (tức những bạn tù) mà những vui buồn sướng khổ hàng ngày đã dệt nên những cuộc đời cụ thể v.v

Như thế là những kiến thức có tác dụng giải quyết những đề tài của bài viết của mình nhiều

Trang 7

khi nằm ở những tài liệu chẳng có liên quan gì trực tiếp đến đề tài cả Tuy nhiên muốn thu lượm được những kiến thức như thế, trong đầu lúc nào cũng phải ghim sẵn những cái "đinh" như đã nói ởtrên.

Đọc sách, đọc vở nhiều khi vớ được những ý kiến có tác dụng rất lớn giúp mình giải

quyết không phải một đề tài mà hàng loạt đề tài Đó là những ý kiến có ý nghĩa phương pháp

luận khoa học Thí dụ ý kiến sau đây của Plêkhanov đã giúp tôi mở ra cả một phương hướng trong

nghiên cứu các hiện tượng văn học sử: "Nếu không hiểu tâm lí xã hội thì không thể tiến lên một bước nào trong lịch sử văn học, nghệ thuật, triết học " Tôi đã theo phương hướng này để nghiên

cứu một cách có hiệu quả những đặc điểm của nền văn học hiện đại nước ta từ đầu thế kỷ XX đến

1945 và từ 1945 đến 1975, và hàng loạt nhà văn từ Hồ Chí Minh, Tố Hữu, Xuân Diệu, Nguyễn Tuân, Nguyên Hồng, Nam Cao, Tô Hoài, đến Nguyễn Khải, Nguyên Ngọc

Thực tình mà nói, có một thời gian dài, bộ môn lí luận văn học của ta có những biểu hiện giáo điều, xa rời đời sống thực tế sinh động và phức tạp của văn học Muốn thoát ra khỏi sự trói buộc của thứ lí luận "quan liêu" ấy, chỉ có một cách là trực tiếp gắn bó với "cây đời" Vì thế tôi rất chịu khó tiếp xúc với cac nhà văn, trao đổi với họ, lắng nghe ý kiến của họ tự bạch về quan niệm văn chương, về kinh nghiệm sáng tác Nhiều ý kiến của họ đã gợi ý cho tôi giải quyết những vấn đề mình băn khoăn, thắc mắc trong quá trình nghiên cứu văn học Chẳng hạn, ông Hoài Thanh có lần

nói: "Người ta sáng tác bằng những ấn tượng lúc năm, bảy tuổi" Nguyễn Đình Thi thì cho biết, cái ria mép của nhân vật địa chủ Hàn Thanh trong Vỡ bờ là được vẽ theo cái ria mép của một ông giáo

dạy nhà văn hồi học cấp I Ông còn kể rằng hồi nhỏ, những buổi trưa ở lại trường, ông thường thích nằm ngửa trên nệm cỏ sân trường ngắm nhìn bầu trời xanh lồng lộng trên cao Sau này khi ông viết

bài thơ Đất nước, cái bầu trời rất xanh ấy đã trở lại trong tâm hồn ông với tâm trạng vô cùng náo

nức thấy mình được làm chủ giang sơn, trời đất của mình:

"Trời xanh đây là của chúng ta!

Núi rừng đây là của chúng ta!"

Những ý kiến ấy lập tức được mắc vào "cái đinh thắc mắc" đã ghim sẵn trong đầu tôi với

những day dứt không nguôi về nguyên nhân hình thành thế giới nghệ thuật riêng, phong cách nghệ thuật riêng của mỗi nhà văn Tôi tin chắc rằng, cái nhân tố hết sức quan trọng tạo ra hình tượng rất riêng của mỗi nhà văn chính là môi trường xã hội, môi trường văn hoá, là cảnh vật thiên nhiên, là không khí gia đình mà nhà văn từng hít thở từ tuổi ấu thơ Những ấn tượng của môi trường sống rất riêng ấy, bản thân chúng nhiều khi chẳng có ý nghĩa gì, vậy mà sẽ theo đuổi và ám ảnh nhà văn cho đến suốt đời Ấy là cái không khí thơ mộng và trữ tình của Huế đối với Tố Hữu, là cái sinh hoạt

"Vang bóng một thời" của cụ Tú Lan đối với Nguyễn Tuân, là cái không khí náo nhiệt và cái nắng,

cái gió của thành phố cửa biển đối với Nguyên Hồng, là cái làng sơn cước Ân Phú bên bờ sông La với những bãi cát hoang vắng cổ sơ đối với Huy Cận, là cái gió biển nồng nàn của thành phố

Quy Nhơn đối với Xuân Diệu, là những tháp chàm Bình Định, dấu tích diệt vong của một dân tộc từng có một thời oanh liệt đối với Chế Lan Viên v.v

Nói chung, một bài viết mà toàn là ý hay, nghĩa là ý mới, ý riêng cả là điều rất khó đạt

được Nhưng trong mười ý thế nào cũng phải có được vài ba ý hay thì mới được gọi là bài văn

có giá.

Mỗi bài viết có một mặt bằng riêng cao thấp khác nhau do trình độ văn hoá, chuyên môn

khác nhau của mỗi cây bút Trên cái mặt bằng ấy thế nào cũng phải nhô lên một số mũi nhọn,

tức là ý xuất sắc, độc đáo Theo tôi, có đạt được như vậy thì mới nên cầm bút.

Có nhà lí luận phê bình sản xuất hàng trăm bài văn, hàng chục đầu sách, nhưng không có được một mũi nhọn nào Trong khi có người viết rất ít, nhưng bài nào cũng có ý riêng, ý mới và sâu

Công luận tất nhiên đánh giá cao cây bút thứ hai và đánh giá thấp cây bút thứ nhất - đánh giáthấp bằng sự quên đi, thậm chí thấy tên người ấy kí dưới bài viết là không muốn đọc, vì sợ mất thì

Trang 8

II BỐ CỤC MỘT BÀI VĂN

Tôi sẽ không nói ở đây những lí thuyết chung về cách dàn dựng một bài văn như thế nào Chẳng hạn bài văn phải có ba phần: mở bài, thân bài, kết bài Thân bài gồm một số luận điểm là một phán đoán nào đấy nhằm giải quyết một khía cạnh của đề bài (Đề bài là một vấn đề lớn, được phân tích thành nhiều vấn đề nhỏ, tức là một khía cạnh của đề bài)

Các luận điểm phải đồng đẳng, đồng hạng, được triển khai trong những đoạn văn tương

đương với nhau về độ dài Các luận điểm không được giẫm đạp vào nhau, nghĩa là không bao gồm lẫn nhau

Các luận điểm phải được trình bày một cách có hệ thống tuân theo một trật tự lôgic nào

đấy, ví dụ, từ nội dung đến hình thức, từ nguyên nhân đến kết quả, từ chiều rộng đến chiều sâu v.v

Các luận điểm đưa ra phải thuyết phục người đọc về tính chính xác của chúng dựa

trên những luận cứ xác đáng (bao gồm những lí lẽ và những bằng chứng thực tế).

Tất cả những lí thuyết chung như thế, chúng tôi đã có dịp trình bày tỉ mỉ trong cuốn Muốn vIết được bài văn hay (NXB Giáo dục, Hà Nội, tái bản lần thứ tư, năm 2000).

Ở đây tôi chỉ trình bày những kinh nghiệm riêng của mình mà thôi

1.Về thân bài.

Khoan nói về các phần mở đầu và kết bài, hãy đi thẳng vào phần thân bài là phần có ý

nghĩa quyết định nhất đối với nội dung và giá trị một bài văn.

Về bố cục của thân bài, tôi rất tâm đắc với con số 3 Bố cục ba phần (gồm ba lụân điểm) là bố cục chắc chắn nhất, đẹp nhất Không phải ngẫu nhiên mà con số 3 là số "thiêng " của

hầu hết các tôn giáo phương Đông và phương Tây Cho đến cả những thuật bói toán, phù chú của nhiều dân tộc trên thế giới cũng rất tin ở con số 3 Ở ta , dân gian thường nói "vững như kiềng ba

chân" Bố cục ba phần quả là vững chắc thật Hai phần thì không đứng được Bốn, năm phần thì

không chặt chẽ lắm, sức tổng hợp, khái quát của người viết chưa cao.

Nói về sự nghiệp sáng tác của một nhà văn, bố cục ba phần là cổ điển nhất: quan điểm

sáng tác; quá trình sáng tác; phong cách nghệ thuật. Suy nghĩ về văn học nước ta thời kỳ từ đầu thế kỉ XX đến 1945, tôi rút ra ba đặc điểm sau đây cho là đẹp nhất:

1 Nền văn học được hiện đại hoá.

2 Tốc độ phát triển hết sức mau lẹ.

3 Nền văn học phân hoá phức tạp thành nhiều bộ phận, trào lưu, trường phái khác nhau

Điểm 1 là nói diện mạo; điểm 2, nói tốc độ phát triển; điểm 3, nói cấu trúc của nền văn học.

Tìm hiểu thời kì văn học từ sau Cách mạng tháng Tám 1945 đến 1975, tôi cũng thấy ba đặc điểm sau đây thể hiện tính khái quát tổng hợp cao nhất:

1 Phục vụ chính trị, cổ vũ chiến đấu.

2 Hướng về đại chúng, trước hết là công-nông-binh.

3 Chủ yếu được sáng tác theo khuynh hướng sử thi, cảm hứng lãng mạn.

Điểm 1 nói mục đích; điểm 2 nói đối tượng; điểm 3 nói thi pháp.

Tất nhiên cũng có trường hợp tôi không sao khái quát được nội dung bài viết của mình thành

ba luận điểm Ở những trường hợp như thế, dù bài văn cuối cùng phải viết ra với 4, 5 hay 6 luận điểm ở thân bài, tôi thực tình vẫn không hài lòng lắm Vì thế tôi rất vui, khi khái quát tư tưởng mĩ học của Bác Hồ (qua sáng tác thơ nghệ thuật) thành ba điểm:

1 Cuộc sống của nhân dân trong cõi đời trần tục, trần thế này là đẹp nhất

2 Như sự sống, cái đẹp không máy móc, chết cứng Nó luôn luôn vận động hướng về sự sống,

Trang 9

ánh sáng và tương lai.

3 Cái đẹp là sự kết hợp hài hoà cái cổ điển, cái truyền thống và cái hiện đại, thời đại, từ nội dung đến hình thức, từ tư tưởng đến nghệ thuật.

Về phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân trước cách mạng tháng Tám, tôi xác định ba điểm

là ba khía cạnh thể hiện cái ngông của nhà văn này:

1.Tiếp cận sự vật nghiêng về phương diện văn hoá nghệ thuật, phương diện thẩm mĩ; tiếp cận con người nghiêng về phương diện tài hoa nghệ sĩ.

2.Quan niệm cái đẹp là những hiện tượng đập mạnh vào giác quan nghệ sĩ.

3.Sở trường về thể văn "độc tấu" (tức tuỳ bút) với nhân vật "tôi" phóng túng, độc đáo, tài hoa.

Về thơ Xuân Diệu, tôi khái quát thành ba điểm, thể hiện niềm khát khao giao cảm với đời của thi sĩ:

1 Khẳng định cái tôi cá nhân trong quan hệ gắn bó với đời.

2 Đưa tình yêu thật sự là tình yêu vào thơ ca Việt Nam.

3 Thực hiện một cách tân táo bạo về thi pháp: coi con người giữa tuổi trẻ và tình yêu là chuẩn mực của cái đẹp.

Nam Cao là nhà văn luôn luôn băn khoăn về vấn đề nhân phẩm, nhân tính của con người

trong xã hội cũ bị huỷ hoại vì miếng cơm manh áo và vì cái chất "hèn" đã thấm vào trong máu của những thân phận nô lệ Muốn nắm được tư tưởng ấy của Nam Cao, phải hiểu thế nào là nhân phẩm, nhân tính trong quan niệm của nhà văn Qua tìm hiểu các tác phẩm của nhà văn, đặc biệt là qua hai

tác phẩm Sống mòn và Đời thừa, tôi quy quan niệm về nhân tính, nhân phẩm của Nam Cao vào ba

Tóm lại, viết một bài văn, thành hay bại, chủ yếu do phần thân bài quyết định Chuẩn

bị viết một bài văn, trước hết là chuẩn bị nội dung cái thân bài ấy Sau khi đã tìm được một khối

lượng ý tự cho là đủ để chứa đầy phần thân bài, thì, công việc quyết định nhất là tổ chức các ý lớn

hay nhỏ, chính hay phụ đó lại thành những luận điểm có tính đồng đẳng, đồng hạng. Bố cục của phần thân bài văn là sự sắp xếp các ý đó theo một trật tự lôgic chặt chẽ Nếu đạt được ba ý, ba phần là đẹp nhất Vũ trụ có "tam tài" - "thiên - địa - nhân", Phật có tam bảo, đạo Kitô có chúa ba ngôi, Tam vị nhất thể Con số 3 vẫn là sự khái quát thế giới chặt chẽ nhất, hoàn hảo nhất

2 Mở bài và kết bài

Không thể nói, mở bài và kết bài là những phần có ý nghĩa quyết định đối với giá trị một bài

văn hay, nhưng vai trò của chúng cũng rất quan trọng.

a.Mở bài

Đối với văn nghị luận thì mở bài tức là đặt ra vấn đề mà bài văn sẽ bàn bạc và giải quyết Điều này không khó khăn gì lắm đối với người học trò khi viết một bài tập làm văn Vì vấn đề đã cósẵn ở đề bài rồi nhưng đối với người nghiên cứu, phê bình văn học thì đây là vấn đề cực khó Bởi

vì đặt vấn đề là phát hiện ra một khoảng trống nào đó mà khoa học chưa bù lấp được, chẳng

những phát hiện mà còn giải quyết được nữa - bài văn ra đời chính là vì mục đích ấy.

Cho nên đối với một bài tiểu luận, phê bình văn học, mở đầu hay nhất, hấp dẫn nhất là

đặt ra được một vấn đề mới mẻ, có ý nghĩa sâu sắc và hấp dẫn Mở đầu hay hay không, điều

quyết định là vấn đề đặt ra có hay hay không.

Trang 10

Nhưng thôi, trong phạm vi bài này, không bàn sâu vào công việc của nhà nghiên cứu, chỉ xin nêu lên một số kinh nghiệm về cách đặt vấn đề hay cách mở đầu một bài văn.

Trong bài phê bình tập truyện ngắn Hoa và thép của Bùi Hiển, tôi mở đầu bằng cách phê phán cách trình bày cái bìa của tác phẩm: "Người trình bày cái bìa sách cho Bùi Hiển có lẽ chưa đọc kỹ những truyện của anh Màu sắc xanh đỏ tươi quá có phần hơi sặc sỡ Bút pháp Bùi Hiển không phải như vậy Đúng là anh có nói đến hoa - từ đầu đến cuối toàn là thép và hoa Nhưng đâu phải hoa hường, hoa cúc ( ) phô trương rực rỡ Anh chỉ thích hoa ngâu, hoa sói "hữu hương vô sắc" ( ) Những nhân vật của Bùi Hiển đúng là như thế: hoa và thép của tâm hồn bao giờ cũng ẩn kín ( ) Anh chọn toàn những con ngưòi bình thường, thậm chí có vẻ tầm thường nữa để tìm hiểu, thăm dò Ở truyện này, anh phát hiện ra hoa và thép ở một anh chàng bề ngoài dường như hết sức

xa lạ đối với hoa và thép (Cái mũ), ở truyện kia anh lại tìm ra thép ở những cô gái tưởng chừng sinh ra chỉ để là hoa (Những đêm, Nhớ về một mùa thị chín ), ở truyện khác, trái lại, anh lại khám phá ra hoa ở một con người mà dáng vóc, tướng mạo khiến người ta cứ lầm tưởng chỉ có thể là thép (Hai giọt nước mắt của tiểu đội trưởng Bích Hường) "

Đây là cách mở bài gián tiếp, mượn cớ phê bình người vẽ bìa sách mà nêu lên những

vấn đề cốt lõi của bài viết: chủ đề, thế giới nhân vật, và phong cách nghệ thuật của tập truyện

Hoa và thép của Bùi Hiển ( ).

Trong bài dựng chân dung Nguyên Ngọc, tôi lại mở đầu bằng sự so sánh mình với tác gia

Đất nước đứng lên, Rừng xà nu mà tôi cho là một tâm hồn rất lãng mạn Tôi tự nhận là một người

bình thường, khác với Nguyên Ngọc là con người của lí tưởng:

"Tôi quen Nguyên Ngọc đã lâu, dễ đến hai chục năm Tính anh phóng khoáng, bia rượu khá Chúng tôi bia bọt với nhau đã nhiều lần ( ) Ấy thế mà không hiểu sao tôi cứ cảm thấy giữa anh và tôi có một cái gì vẫn như có một khoảng cách ( ) Có lẽ vì anh theo đuổi một cái gì rất cao, nên có những nguyên tác rất nghiêm Còn tôi thì sống thế nào cũng xong Có phần dễ dãi với mình

và cũng dễ mềm lòng trước những lời nói khéo, nói ngọt tuy biết rằng chưa hẳn đã là chân thật Nghĩa là sống thiếu nguyên tắc Cái yêu, cái ghét của anh thì khác, phân minh lắm và không dễ thay đổi, lắm lúc dương như là cố chấp Vừa rồi Ban chấp hành Hội Nhà văn cấp cho anh mấy triệu gọi là tiền bồi dưỡng sáng tác Anh không nhận Viết gì đã có nhuận bút, còn tiền kia là của nhân dân, anh nghĩ thế và dứt khoát từ chối Tôi thì nhận ngay và tiêu luôn Đấy, cái gọi là khoảng cách giữa tôi và anh là ở đó chăng"

Đặt vấn đề như thế vừa nêu được chỗ hay của Nguyên Ngọc, vừa nói được chỗ dở của

anh (cố chấp) Nhưng nói chung là ngợi ca chất lí tưởng, chất lãng mạn của con người này trong tương quan so sánh với chỗ "tầm thường" của mình Mở bài như thế thì ai có thể chê trách được! Rất khiêm tốn mà!

Nói chung mở đầu các bài viết, tôi đặc biệt chú ý đến việc tìm cho mình một cái gịong

thích hợp và khơi gợi một không khí thích hợp.

Về Chủ tịch Hồ Chí Minh, tất nhiên phải có giọng trang nghiêm thành kính: "Nguời xưa

từng nói, văn chương của những bậc lấy việc hành đạo, cứu đời làm mục đích, tất cũng rộng lớn, phong phú như cuộc đời Đó không phải là thứ nghệ thuật của bồn hoa, chậu cảnh mà là vẻ đẹp của đồng xanh nghìn mẫu, nước bạc muôn trùng Phong cách văn Hồ Chủ tịch là như thế" (Bác

sống như trời đất của ta)

Nhưng viết về thơ Trần Đăng Khoa thì lại chuyến sang giọng khác Cũng là ca ngợi

nhưng ngợi ca một cậu bé (lúc này Khoa mới 15, 16 truổi):

"Đã lâu tôi không đọc thơ Khoa, cũng không gặp Khoa, thành ra tôi không khỏi ngạc nhiên

khi thấy em viết như thế này về Mạc Thị Bưởi:

Cô bỗng thấy hiện lên

Giọng đồng chí bí thư huyện uỷ trang nghiêm:

Trang 11

- Trên các chiến trường

Giặc Pháp đang bị động ".

hay về thằng Tây đồn Coóc:

Ồ nhỉ? Có sao đâu

Lòng hắn hiu hiu nghĩ về nước Pháp

Mẹ hắn thương con, mái đầu sớm bạc

Vợ hắn nhớ chồng, mắt biếc nước sông Ranh

Thế là Khoa đã lớn thật rồi! Mới ngày nào còn sửng sốt về tài thơ của em bé tám, chín tuổi Bây giờ em đã nói toàn những chuyện người lớn, chuyện chính trị, chuyện thời đại, lại còn bàn luận triết lí nữa Mà ai bảo không đường hoàng, chững chạc!" ("Khúc hát người anh hùng" hay

"tiếng hát quê hương".

Nguyễn Minh Châu là một trong những nhà văn tôi rất yêu quý Khi anh ốm, tôi có đến

thăm anh mấy lần Được tin anh mất, tôi vô cùng thương tiếc Tạp chí Văn nghệ quân đội bảo tôi viết một bài về anh Ấy là bài Những ngày cuối cùng gặp Nguyễn Minh Châu Mở đầu bài viết tôi

gợi lại những kỉ niệm với Nguyễn Minh Châu trong những ngày cuối cùng của anh, tất nhiên với giọng tiếc thương đau đớn: "Vài năm lại đây tôi hay đến Nguyễn Minh Châu Vì anh dễ tính và vui

chuyện Nơi anh ở lại thuận đường tôi đi từ Hà Nội về nhà Mới mùng ba tết vừa rồi, tôi đến anh, hai anh em ngồi nói chuyện sôi nổi về thời sự văn học, thế mà bây giờ! Cuộc sống chúng ta sao có lắm cái đau đớn làm vậy! Thời gian anh vào Nam chữa bệnh, tôi không đến thăm anh được Nhưng

từ khi anh trở lại Hà Nội, lúc ở Bạch Mai, lúc ở 108, tôi đến anh luôn Trước cái chết của một nhà văn, người ta thường nghĩ đến sự bất tử của người cầm bút Ôi thời gian, thời gian sẽ vùi lấp tất cả nếu như người nằm xuống không để lại chút gì trong lòng người Mà có được một chút gì như thế thật khó vậy thay!

Thương xót người thân qua đời, người ta thường kể lể Tôi tự nhiên cũng có giọng kể lể

Trước cái chết, người ta thường nghĩ đến thời gian sẽ xoá đi tất cả và đặt vấn đề: người chết liệu còn để lại cái gì có thể thắng được thời gian? Tôi cũng nghĩ như thế trước cái chết của Nguyễn Minh Châu Lời mở đầu đến với tôi một cách tự nhiên theo quy luật tình cảm của mình, không hề

có sự bố trí sắp đặt gì

b Kết luận

Đối với mỗi bài văn, tôi bao giờ cũng chú ý gia công lời kết luận, sao cho có dư ba Như

âm hưởng ngân nga của tiếng chuông, lời kết luận phải gây cảm xúc bồi hồi và gợi được những cảmnghĩ mông lung không dứt trong tâm trí người độc giả khi đọc xong câu cuối cùng của bài văn Lời

hết mà ý cũng hết là kết luận không hay Lời hết mà ý không cùng mới là lời kết có nghệ thuật.

Kết thúc bài Thương tiếc nhà văn Nguyên Hồng tôi nói đến cái cá tính dễ xúc động, dễ khóc

của nhà văn: "Nguyên Hồng là con người rất dễ xúc động, rất dễ khóc Ai từng tiếp xúc với Nguyên

Hồng đều thấy như thế Khóc khi nhắc đến nỗi khổ của con người trong xã hội cũ Khóc khi nghĩ đến công ơn của cách mạng Khóc khi ôn lại những kỉ niệm thắm thiết của mình với bạn bè Khóc

cả khi kể lại nỗi bất hạnh của những nhân vật do mình sáng tạo ra ( ) Nguyên Hồng đã sống hơn

60 năm, đã viết hơn 40 năm, ai biết được ông đã đổ ra bao nhiêu nước mắt cho đời và cho nghệ thuật? Bây giờ nằm dưới ba thước đất, nguồn nước mắt ấy có bao giờ khô cạn được chăng?".

Lời kêt luận một mặt phải thực hiện chức năng thâu tóm lại nội dung cơ bản của thân

bài, mặt khác phải tạo được dư ba trong lòng người đọc Thâu tóm nội dung không phải là lặp lại đúng lời văn trong nội dung mà phải dùng một hình thức khác Còn tạo được dư ba thì

phải phù hợp với nội dung của bài viết Ở bài Thương tiếc nhà văn Nguyên Hồng thì dư ba phải là

gợi tình xót thương, nhớ tiếc bồi hồi đối với nhà văn yêu quý vừa vĩnh biệt chúng ta Chọn vào cái cá tính "dễ khóc" của Nguyên Hồng tôi cho là rất đích đáng.

Trong bài Lại đọc Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân, nhân phân tích vẻ đẹp của nhân vật

Trang 12

quản ngục thể hiện ở thái độ ngưỡng mộ đến mức sùng kính đối với Huấn Cao, tôi chọn một lối kết

luận gợi ở người đọc những suy ngẫm rộng ra về cái sang, cái hèn, cái cao ca, cái đê tiện của con người ta trước cái tài, cái đẹp, cái thiên lương ở trên đời:

"Cái cử chỉ đẹp nhất, cảm động nhất của nhân vật này (tức viên quản ngục) lại chính là cái

cử chỉ khúm núm trước người tử tù cái đêm Huấn Cao cho chữ trong nhà ngục ( ) Có những cái cúi đầu làm cho con người ta trở nên hèn hạ, có những cái vái lạy làm cho con người đê tiện Nhưng cũng có những cái cúi đầu làm cho con người bỗng trở nên cao cả hơn, lẫm liệt hơn, sang trọng hơn Đấy là cái cúi đầu trước cái tài, cái đẹp, cái thiên lương.

Chính Cao Chu Thần, nguyên mẫu của nhân vật Huấn Cao trong Chữ người tử tù, có một câu thơ thật đẹp, thật sang:

Nhất sinh đê thủ bái mai hoa

(Một đời chỉ biết cúi đầu vái lạy hoa mai)

Cái cúi đầu của thầy quản ngục vái lạy Huấn Cao chính là cái cúi đầu của Cao Bá Quát trước hoa mai vậy".

Cái gọi là dư ba của lời kết ở đây chính là gợi mở những ngẫm nghĩ về nhân cách con

người như nói ở trên, cùng một lúc với sự thâu tóm lại - thâu tóm không phải bằng sự lặp lại

mà bằng một hình ảnh mới mẻ hấp dẫn: Vẻ đẹp của nhân vật Huấn Cao và viên quảm ngục vốn là nội dung cơ bản của bài viết.

Nói chung đối với những cây bút lớn vừa qua đời thì để tỏ lòng yêu quý họ, không gì hơn là nói đến sự nghiệp bất tử của họ Trong bài viết về Xuân Diệu tôi kết thúc bằng cái ý ấy, tất nhiên phải tìm cách diễn đạt mới mẻ và cảm động, lại có ý nghĩa tổng kết cuộc đời của nhà thơ - vì đây là lời kết luận:

"Thế Lữ đã đánh giá cao tài năng nghệ thuật của Xuân Diệu ( ) Nhưng thực ra, điểm xuất

phát của Xuân Diệu đâu phải là chuyện tài Cũng chẳng phải là chuyện thơ văn Cao hơn nhà thơ, cao hơn nhà nghệ sĩ là một trái tim hồng muốn đập mãi với cuộc đời này, một linh hồn chân thành

và rộng mở muốn sống mãi với cõi người bất diệt này Vì thế mà Xuân Diệu đã tìm đến với thơ văn như tìm thấy một lẽ sống".

Cuối tập Gửi hương cho gió, Ông có một bài thơ lấy tên Tình mai sau bắt nguồn từ một ý

thơ trong Truyện Kiều:

Mai sau dù có bao giờ

Đốt lò hương ấy so tơ phím này.

Xưa kia Thuý Kiều, nghĩ đến lúc quyên sinh đã để lại cho em và chàng Kim những vật

thiêng để gọi hồn mình: "Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa".

Ngày nay những vật thiêng Xuân Diệu để lại cho chúng ta là những vần thơ, những áng văn sôi nổi tình yêu, chan chứa tình đời:

Nếu trang sách có động mình tuyết bạch

Ấy là tôi dào dạt với âm thanh

( ) Thơ tôi đó gió lùa đem toả khắp

Và lòng tôi mời mọc bạn chia nhau

Như vậy là trong cuộc quyết đấu với cái chết, cuối cùng nhà thơ đã chiến thắng".

Trong nhiều trường hợp tôi kết luận bằng một câu hỏi, khêu gợi sự suy nghĩ cho độc giả

khi đọc hết câu cuối cùng.

Bài về Tô Hoài:

"Được sống với một người bình thường, được sống như một người bình thường, đó là hạnh

Trang 13

Bài viết về cái "sướng" của Nguyễn Tuân:

"Đúng, Nguyễn Tuân là người sướng nhất

Sướng vì chẳng cần chiều ai, chỉ chiều mình, tính khí kiêu ngạo, nhiều khi rất khoảnh, vậy

mà vẫn được quý trọng Có lẽ liên tài là một đặc điểm của nhân tính chăng?

Bài về Quang Dũng:

"Có lẽ cái gốc lớn nhất của tài năng Quang Dũng là ở đó chăng: Chân thật rất mực với

lòng mình Chân thật té ra là cả một bản lĩnh lớn lắm Cho nên thơ cứ trong suốt mà gợi bao cảm nghĩ bồi hồi:

Mẹ đã chiều em như gái nhỏ

Thềm cao em bước mắt tươi cười

Có những vợ chồng

Không là trăm năm

Bỏ em, anh đi

Đường hai mươi năm

Dài bao chia li

Quang Dũng bây giờ anh đang ở đâu? Hồn thi nhân đang lang thang nơi đâu? Hẳn anh

đang du ngoạn thảnh thơi giữa trời mây non nước xứ Đoài yêu dấu của anh Bởi vì xưa kia anh từng ao ước như thế:

Bao giờ trở lại đồng Bương Cấn

Về núi Sài Sơn ngó lúa vàng

Sông Đáy chậm nguồn qua Phủ Quốc

Sáo diều khuya khoắt thổi đêm trăng "

Trong bài Nguyễn Tuân viết yêu ngôn, tôi muốn trong lời kết luận, khẳng định cái tài đặc

biệt viết về ma quỷ của Nguyễn Tuân Nhưng tôi không muốn ca tụng một cách lộ liễu, nên mượn

một câu chuyện của Kim Lân kể về Nguyễn Tuân Và cũng kết thúc bằng một câu hỏi: "Gần đây

nhà văn Kim Lân có cho tôi biết hiện tượng đặc biệt này ở Nguyễn Tuân: có một lần Kim Lân cùng Nguyễn Tuân cùng đi một chuyến công tác ở nước ngoài Đến một nước bạn kia thuộc vùng Đông

Âu, hai ông được xếp ở cùng khách sạn, mỗi người một buồng riêng rất đàng hoàng Nhưng

Nguyễn Tuân lại mang hành lí lên phòng Kim Lân đề nghị ở chung Và đêm nào cũng vậy, Kim Lân

bị đánh thức dậy vì Nguyễn Tuân bật đèn sáng, ăn mặc chỉnh tề, xếp quần áo đồ đạc vào vali, uống cạn một li rượu rồi đi lại lộp cộp trong phòng y như sắp sửa lên đường vậy Nhưng thực ra ông chẳng đi đâu cả Vì sau đó lại cởi quần áo, thu dọn mọi thứ và đi ngủ Kim Lân rất bực vì bị quấy nhiễu không sao ngủ được Và ông không hiểu tại sao Nguyễn Tuân lại như thế Giá một đêm như thế thì bảo là khó ngủ Nhưng đêm nào cũng thế Vả lại khó ngủ tại sao phải ăn mặc cẩn thận và sửa soạn hành lí làm gì? Cho đến nay, Kim Lân chưa tìm được câu trả lời cho câu hỏi ấy của mình Ông hạ giọng nói với tôi: "Này Nguyễn Tuân thế mà lại là tay sợ ma nhé! Hay ông ta cũng là ma!

Ma nên mới sợ ma Ma nên mới viết về ma giỏi như thế chứ? "

Chả lẽ lại đúng như vậy sao?"

Tôi rất lấy làm đắc ý về cái kết luận này Vừa vui, vừa đạt được ý khen mà kín đáo, không nịnh bợ, vừa tạo ra được một cái gì bâng khuâng trước một hiện tượng hư hư thực thực

Nói về chuyện kết luận thì có trăm nghìn cách Nhưng cách nào thì cách đều phải cố thực

hiện được hai chức năng:

- Thâu tóm nội dung bài bằng một hình thức mới mẻ, ngắn gọn,hấp dẫn

- Tạo được dư ba trong tâm tư tình cảm của người đọc.

Nhưng xét cho cùng, muốn đạt được hiệu quả đó phải chân thật, chân thật, chân thật

Tài khéo đến đâu mà không chân thật cũng vất đi, có khi lại gây "phản cảm" nữa là khác

Muốn gợi suy nghĩ cho người đọc thì bản thân mình cũng phải suy nghĩ thật sự Muốn

gây cảm xúc bồi hồi thì bản thân mình cũng phải dạt dào cảm xúc Có một anh bạn dạy văn ở

Ngày đăng: 13/03/2015, 21:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w