Tóm tắt công trình nghiên cứu: MỞ ĐẦU Chọn để tài nghiên cứu “Người Việt Nam ở các nước Đông Nam Á và mối quan hệ với Thành phố Hồ Chí Minh” có lý do xuất phát từ nhận thức chính sách,
Trang 2Báo cáo tóm tắt dé tài Người Việt Nam ở các nước Đông Nam Á
và mối quan hệ với Thành phố Hồ Chí Minh
Chủ nhiệm để tài:
PGS.TS Nguyễn Quốc Lộc
* Thời gian thực hiện từ 11-2002
s Nghiệm thu giai đoạn 1 ngày 17-5-2004
+ Hoàn thành ngày 30-4-2005
s Công trình nghiên cứu “Người Việt Nam ở các nước Đông Nam Á
và mối quan hệ với Thành phố Hồ Chí Minh” dày 289 trang, trong đó phân
ban van 216 trang và phụ lục 72 trang
Tóm tắt công trình nghiên cứu:
MỞ ĐẦU
Chọn để tài nghiên cứu “Người Việt Nam ở các nước Đông Nam Á
và mối quan hệ với Thành phố Hồ Chí Minh” có lý do xuất phát từ nhận thức chính sách, chủ trương của Đảng và Nhà Nước ta coi “người Việt Nam định cư ở nước ngoài là bộ phận không tách rời và là một nguồn lực của cộng đồng dân tộc Việt Nam” (NQ đại hội IX của Đẳng) và vị thế cũng
như lợi thế của Thành phố Hồ Chi Minh trong việc thực hiện đối với người
Việt ở các nước láng giểng
Đối tượng nghiên cứu của để tài được xác định rõ: Trọng tâm nghiên cứu là người Việt Nam ở các nước Thái Lan, Campuchia và Lào Đó là người Việt di cư từ đất nước Việt Nam đến sinh sống ở các nước láng giéng
và con cháu họ sinh ra và lớn lên ã đó Họ đã và đang chưa được mang
quốc tịch của nước đang sinh sống, nhưng còn lưu giữ ít nhiều yếu tố văn
hóa Việt Nam đủ để nhận biết họ khác với người dân bản địa và họ tự nhận mình là gốc Việt Nam
Phương pháp tiếp cận của để tài khá đa dạng: phương pháp lịch sử, phương pháp văn bản học, phương pháp thu thập thông tin qua mạng
Internet, qua nhân chứng mang tin, phương pháp khảo sát chụp ảnh ở thực
địa, phương pháp tổng hợp, phân tích và so sánh
-1~
Trang 3Đề tài nghiên cứu là một vấn để còn mới mẻ Ở nước ta, để tài nghiên cứu về người Việt Nam ở nước ngoài được bắt đầu chú ý đến trong khoảng gần 20 năm nay Một số quyển sách đã được xuất bản và phần lớn
là những bài viết trên các báo và tạp chí Danh mục tài liệu tham khảo mà
công trình giới thiệu có 130 quyển sách và bài báo, trong đó có 6 tài liệu tiếng Anh và 4 quyển sách tiếng Thái Lan xuất bản ở Thái Lan
Chương 1: Người Việt Nam ở Thái Lan
1.1 Người Việt Nam đến Thái Lan trước 1945
1.1.1 Sự có mặt của người Việt Nam ở Ayuthaya hôi thế kỉ XVI: Ở Ayuthaya, người Nhật Bản, người Bê Đào Nha đến lập thương điểm sau năm 1511 ít lâu Người Hà Lan mở thương điểm năm 1608 Sau đó, người
Anh đến buôn bán và người Pháp vào giao thương và giảng đạo Khi người
Pháp đến thì tại Ayuthaya đã có khá đông người Việt Nam ở thành làng, gọi là “làng Việt Nam” hoặc “Trại Việt Nam” Ngày nay ở Ayuthaya còn địa danh “Ban Yoan”
Giáo sĩ De La Monte đến Ayuthaya ngày 26-8-1662 và ông đã đến
“làng Vệt Nam” truyền đạo cho 40 gia đình người Việt Đến năm 1666 một Đại chủng viện được xây dựng ngay tại “làng Việt Nam” Thống kê công giáo cho thấy số người Việt Nam theo đạo, học ở đại chủng viện Ayuthaya
và tiểu chủng viện Araluprau khá dong Năm 1668 có một số người Việt thụ phong linh mục (Ô.Tràng 29 tuổi, Ô.Bên, Ô.Huệ 46 tuổi, Ô.Hiển 54
tuổi)
Một số bản để cổ do người Pháp vẽ năm 1687 và năm 1693 có vẽ khu cư trú của người Việt, ghỉ là "Cochichinois” hoặc “Annamite” Giữa thế kỷ XVII “làng Việt Nam” ở Ayuthaya có tới 60 xuất đính thiết lập một đơn vị hải quân trực tiếp tháp tùng nhà vua Xiêm ra trận
Trong công trình, đã nhận định: “để đến giữa thế kỉ XVII có được một số lượng khá đông, đã có thế hệ 2 (“người sinh trưởng tại chỗ ”) thì đầu thế kỷ XVII đã có người Việt Nam ở Ayuthaya
1.1.2 Những đợt nhập cư của người Việt vào Thái Lan trong thế kỷ
XVII - XIX:
- Năm 1776 Tôn Thất Xuân và Mạc Thiên Tứ (sách Thái Lan viết là
éng Ong Chieng soon va Ong Chnengsu) chay qua Bangkok va hang tram ngudi Viét
Trang 4- Năm 1785 Nguyễn Anh chạy sang Xiêm xin trú đóng ở LongKỳ (Vọng Các) Năm 1787 Nguyễn Anh về nước hằng ngàn người ở lại Thái
Lan, vùng Thanon Pahuret
- Năm 1787 Nguyễn Huỳnh Đức cầm đầu 5000 quân vượt qua Lào sang Bangkok Đức về nước nhưng 2/3 số quân ở lại Thái Lan, ở vùng Saphan Han (Bangkok)
- 1835 sau vụ Lê Văn Khôi, 2000 người Việt sang cư trú vùng Sảm Sén (Bangkok)
1.1.3 Người Việt Nam sang Thái Lan trong thé ki XX:
- Phan Bội Châu sang Thái Lan 3 lần (1908, 6-1909, 9-1910) xây dựng căn cứ ở Bản Thâm, Pạc Nam Phô: Năm 1924 gửi lời kêu gọi Việt Kiểu ở Xiêm
- Nguyễn Ái Quốc đến Thái Lan 2 lần (1927 - 1929 và 3-1930) Bài viết "người An Nam ở Xiêm”, 1926
1.2.Người Việt Nam ở Thái Lan từ 1945 - 1975:
1.2.1.Thời kì 1945 - 1954:
- “Chiến khu Sakon” và “Việt Nam Độc lập quân”
- Người Việt ở Lào tần cư sang Thái Lan 4-3-1946
- "Việt kiểu giải phóng quân”, 13 chiến khu được thành lập trên đất
Thái, 4 đơn vị hải ngoại (Bộ đội Hải ngoại số 1, Bộ đội Quang Trung, Chi
đội Trần Phú tức Chi đội Hải ngoại IV và Tiểu đoàn Hải ngoại Cửu Long 1I) được tổ chức tôi về nước chiến đấu chống Pháp trong năm 1946 — 1947
1.2.2 Thdi ki 1954 — 1975:
Cuộc hổi hương của Việt Kiểu ở Thái Lan về nước (1960 - 1964)
hơn 45.000 người, 75 chuyến tầu thủy
- Việt Kiểu Thái Lan tổ chức đám tang Bác Hỗ 1969
- Các phong trào yêu nước, chống Mỹ: Lao động đồng tâm, Bán hàng đông tâm, Hũ gạo đồng tam, NG hoa đánh Mỹ, nuôi quân, dũng sĩ điệt Mỹ
Suết thời kì 1945 - 1975 người Việt Nam ở Thái Lan đã tổ rõ là bộ
phân không tách rời và là nguồn lực của cộng đồng dân tộc Việt Nam Nguồn lực đáng quý đó từ lòng yêu nước và truyền thống cách mạng Việt
Nam biểu hiện trong hoàn cảnh sinh sống ổ nước ngoài, ở một nước mà
chính phủ cm quyền theo đuổi một chính sách cấu kết với kể thù chống lại
nhân dân Việt Nam
1.3 Người Việt Nam ở Thái Lan hiện nay (Qui mô, cấu trúc cộng đồng, các khu vực kiểu cư)
- Số lượng 120.000 người, đứng thứ 6 trong gần 100 nước có người
Việt Nam sinh sống.
Trang 5- Địa bàn cư trú rộng, cả 4 vùng của Thái Lan, đều có người Việt,
- Thủ đô Bangkok có người Việt cư trú lâu đời, ở Phố Tàu, ở Sảm Sển, ở Bang Phô, ở Saphan Khao
- Đông Bắc Thái Lan: 13 trong 19 tỉnh có người Việt, đông nhất là ở
6 tỉnh (Nọng Khai, Mucdahan, Ubon Ratchathani, Udon Tham, Nakhon Phanom, SaKon Nakhon) ở đây có những nơi người Việt Nam ở tập trung, thuần Việt hoặc gân thuần Việt Ví dụ: Bản Mạy, nay là làng Hữu nghị Thái- Việt, 127 gia đình người Việt Nam
1.3.2 Hoạt động kinh tế của người Việt Nam ở Thái Lan
1.3.3 Văn hóa — xã hội người Việt Nam ở Thái Lan:
- Quan hệ người Việt Nam với nhân dan SỞ tại
1.3.4 Chính sách của Thái Lan đối với Việt kiểu
Chương 2: Người Việt Nam ở Campuchia
2.1 Người Việt Nam đến Campuchia trước 1945:
Tài liệu lịch sử của Việt Nam và Biên niên lịch sử Hoàng Gia Campuchia cho thấy người Việt Nam đến sinh sống ở vùng đất ngày nay là lãnh thổ Vương quốc Campuchia khá sớm, từ thế kỷ XVII
Năm 1620 Công chúa Ngọc Vạn trở thành Hoàng hậu Chân lạp Người Việt sang khẩn hoang được vua “cho định cư trong lãnh thổ được làm chủ phần đất khai hoang và hưởng quyển lợi ngang hàng với người
Campuchia” Vùng đất người Việt đến sinh sống sớm nhất là xã Ba Nam,
huyện Srok Peamchoc, tỉnh Prây Veng hiện nay Tên làng, tổng đặt tên
Việt Nam (An Phú, An Bình, Mỹ Thiện, Kim Hưng, Vĩnh lợi, Vĩnh Hòa )
Tỉnh Kanda! có các làng Mỹ Quý, Phú Mỹ, Chỉ Phu, Cây Dầu, Ba Thu, Sóc Nóc Các tỉnh này giáp với Việt Nam Các hương chức làng do người Việt đảm nhiệm
Đến cuối thế kỷ XIX đầu XX người Việt Nam đến sinh sống Ở Campuchia đông với nhiều lí do khác nhau: tìm đất làm ăn, tránh giặc khủng bố, lập nghiệp, làm trong bộ máy cai trị của Pháp, công nhân các đền điển cao su, làm đường, hầm mồ, làm nghề cá ở sông và Biển Hồ
Trang 6Hoạt động kinh tế đa dang, nhiều người lao động cực nhọc, đời sống khổ sở, nhất là phu đôn điển cao su và làm nghề cá ở Biển Hồ
2.2 Người Việt Nam ở Campuchia từ 1945 đến 1975:
Tham gia Cách mạng Tháng Tám 1945 và kháng chiến chống Pháp ở
Nam Bộ và trên đất Campuchia Đại đội “Cao Miên Việt kiểu cứu quốc
quân” thành lập 24-9-1945 với 200 Việt kiểu
Tham gia “Bộ đội độc lập số 1” và “Bộ đội Quang Trung”
Đóng góp xây dựng và hoạt động của các đơn vị ở tại Camouchia:
*Bộ đội Ngô Quyền” ở Siêm Riệp, Bộ đội “Tran Quang Khải” ở Kompong Spư, Bộ đội "Triệu Quang Phục” ở Battambang, Bộ đội “Lý Thường Kiệt”,
Bộ đội “Trần Nguyên Hãn”, Bộ đội “Yết Kiêu”
*Đội quyết tử” của Việt Kiểu Thành phố PhnomPênh thành lập năm
1951 đã ám sát tên Pháp đứng đầu chính quyển ở Campuchia ngày 29 - 12
- 1951,
Trong công trình đã viết “350.000 người Việt Nam ở Campuchia là một lực lượng to lớn và rất tích cực ủng hộ cách mạng, đóng góp cho kháng chiến”
Bằng nhiều hình thức, ở tất cổ các mặt trận người Việt Nam ở
Campuchia trong suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp (1945 — 1954) và chống Mỹ (1954 - 1975) đã trực tiếp tham gia chiến đấu, đóng góp sức người sức của và hy sinh xương máu đã được tái hiện trong các phần của chương này
Từ 1959 đến 1967 có 15 ngàn người về miễn Nam kháng chiến
Qui I ndm 1968 có 6.353 tân binh là Việt Kiểu Campuchia về nước
2.3 Người Việt Nam ở Campuchia từ 1975 đến nay:
Ngày 17 - 4— 1975 thủ đô PhnomPênh và cả nước Campuchia được
giải phóng, nhưng bọn PonPót - Yeng Sari đã đưa đất nước đi vào con đường thẩm khốc, thi hành chế độ diệt chủng Đến ngày 7- 1 — 1979 nhân dân Campuchia đã vùng đậy làm lại cuộc cách mạng bị phần bội, giành lại chính quyển về tay nhân dân
2.3.1 Số lượng, nơi sinh sống và hoạt động kinh tế của người Việt ở Campuchia:
Trang 7Những biến động trong lịch sử đất nước Campuchia mấy thập niên vừa qua đã tác động mạnh mẽ cộng đổng người Việt Nam ở Campuchia
Thời thống trị của bọn PônPốt - lêng Sary có hằng triệu người dân Campuchia bị giết và có đến 4 vạn người Việt Nam ở Campuchia bị sát hại
Số lớn người Việt phải trốn chạy về Việt Nam để lánh nạn Tính đến 6 —
1976 đã có 236.679 người Việt ở Campuchia phải rời khỏi nơi cư trú nhiều đời chạy về Việt Nam với hai bàn tay trắng Hàng ngàn người bị giết dọc
đừơng Số còn lại trốn vào rừng, ở trên sông, trên hồ
Sau khi PônPốt bị lật đổ, số người Việt định cư ở Campuchia trước
đây chạy về Việt Nam lánh nạn dần dân trở lại Campuchia làm ăn sinh
sống Hòa cùng dòng người này có cả một số trước đây là ngụy quân, ngụy
quyển không chịu cải tạo, có tiễn án tién sự, lưu manh trộm cướp cũng kéo
đến Campuchia Một số là bộ đội của ta đã hoàn thành nhiệm vụ hoặc bổ
ngũ cũng tìm cách ở lại Campuchia để sinh sống Từ năm 1990 trở lại đây
do việc quản lí qua lại giữa hai nước thiếu chặt chế nên nhiều người dễ
dàng sang Campuchia làm ăn, trong đó có số khá đông là gái hành nghề
mại dâm và những người đến dây tìm kiếm công việc theo thời vụ
Số người Việt sinh sống ở Campuchia tăng lên nhiều từ năm 1990
Theo Báo cáo của "Ban Liên lạc Việt kiểu ở Campuchia hồi hương” thì
đến tháng 2 - 1992 những nơi có đông người Việt sinh sống như sau: Thủ
đô PhnomPênh có trên 40.000 người, ở 5 tỉnh quanh Biển Hể có 25.000 người, ở 5 tỉnh Tây Nam và cảng Kompongsom có 55.000 người (nhiều nhất là tỉnh Kanda] 35.000 người), ở 3 tỉnh Đông Nam có 26.000 người (nhiều nhất là tỉnh Prây Veng 20.000 người)
Năm 1998 Campuchia đã tiến hành điều tra dân số Số lượng người Việt được đưa ra là hơn 20.000 người ở thủ đô PhnomPênh và 130.000
người trên cả nước Campuchia
Trong Báo cáo của Bộ Nội vụ Campuchia 6 tháng đầu năm 1999 cho biết hiện có 243.388 người nước ngoài, trong đó 103.961 người Việt Nam, chỉ tính 16 tỉnh và thành phố (còn 8 tỉnh chưa được kiểm kê) ,
Trong Báo cáo đã viết: “Tình hình nói trên cho thấy số người Việt ở
Campuchia luôn biến động Khi mà không có sự quần lí chặt chẽ và các biện pháp để thống kê chưa thật khoa học thì số liệu có được chỉ là tương
đối ” Con số tương đối đó là khoảng 140.000 người
Hiện nay, hầu hết các tỉnh của Campuchia đều có người Việt sinh sống Những nơi tập trung đông hơn cả là thủ đô PhnomPênh, các tỉnh giáp Việt Nam (Kandal, Prây Veng, Sray Rieng, Takeo ), vùng Biển Hỗ (làng
nổi hiện có 356 gia đình), đổn điển Những nơi gần đây người Việt Nam
Trang 8tăng lên nhiều là Siêm Riệp, vùng PoiPet giáp Thái Lan và các vùng kinh
tế cửa khẩu giáp Việt Nam
Hoạt động kinh tế của người Việt Nam ở Campuchia rất đa dạng Họ
đã đóng góp quan trọng trong việc phát triển kinh tế — xã hội của đất nước Campuchia, nhưng cũng phải trải qua nhiều gian truân, khốn khó Giờ đây, cùng với tình hình đất nước Campuchia ổn định và quan hệ Việt Nam ~ Campuchia phát triển tốt đẹp, hoạt động kinh tế của người Việt Nam ở Campuchia có diéu kiện phát triển vững chắc
2.3.2 Đời sống văn hóa — xã hội của người Việt Nam ở Campuchia:
Ở Campuchia, trong điều kiện địa lí, lịch sử nói trên, ý thức cộng đông của người Việt Nam được duy trì Những nơi mà người Việt sống tập
trung, ở thành cụm dân cư, thành “Phum”, thành “Khum” riêng tính cộng
đồng không chỉ thể hiện trong ý thức, là giá trị, mà còn cả thiết chế xã hội
nữa Những làng nông nghiệp ở Prây Veng, ở Svay Riêng, những làng trên
sông ở Kandal, ở Takeo, ở Meanchey, làng nổi ở Biển Hồ, ở các đồn điển cao su Chụp, Mimot, Snual, Chamca An Đông tính cộng đồng giúp họ dựa vào nhau, tương trợ nhau, cùng làm ăn, sinh sống Những Chauvay Khum, Chauvay Phum, Chauvay Srok, là người Việt thuận lợi cho việc phát huy
tính cộng đồng Việc tổ chức lực lượng đông đảo Việt kiểu ở Campuchia
tham gia cách mạng, đóng góp cho kháng chiến là sức mạnh của lòng yêu
nước và lợi thế của tính cộng đồng được phát huy
Công đồng gia đình là gần gũi, thân thiết nhất được truyền giữ trong người Việt ở Campuchia Truyén thống văn hóa Việt Nam coi trọng gia đình, quan hệ các thành viên trong gia đình thân ái, hòa thuận Họ luôn nhớ
về cội nguồn, nghĩ về quê hương, gắn bó với Tổ quốc
Người Việt ở Campuchia hiện nay dân trí rất thấp, nhiều nơi bà con
lo làm ăn, kiếm sống, lao động lam lũ, không được học hành Tỷ lệ mù chữ
cao
Việc dạy và học tiếng Việt cho con em Việt kiêu ở Campuchia còn nhiều khó khăn Cả nước Campuchia hiện nay chỉ có 24 trường lớp dạy và học chữ Việt (từ mẫu giáo đến lớp 5) Thành phố PhnomPênh chỉ còn vài
trường tiểu học (Lạc Hồng, Tiến Hóa, Kim Biên, Hữu Nghị, Tân Tiến
Một số vùng gần biên giới Việt Nam bà con hằng ngày cho con em qua biên giới để học Nhu cầu dạy và học tiếng Việt rất lớn và cấp bách nhưng điều kiện để thực hiện thì hết sức khó khăn Việc mở trường lớp rất hạn chế, lực lượng giảng viên ít ỏi, phương tiện dạy và học (sách giáo khoa) hết sức thiếu thốn.
Trang 9Con em người Việt ở Campuchia cũng rất khó khăn trong việc học
hỏi, nâng cao dân trí ở các trường của nhà nước Campuchia Do cuộc sống
khó khăn, không ổn định, nhiều gia đình chỉ lo mưu sinh, kiếm sống, không
chăm lo được việc học cho con em, đành chịu thất học
Ở Campuchia, người Việt định cư cũng đã xây dựng nên một số đình,
đến thờ, nhà thờ và chùa Có hằng chục ngôi chùa Phật giáo đại thừa do
người Việt lập nên ở Campuchia, nay vẫn mang tên Việt — như các chùa: Long Quan, Kim Phước, Thiên Phước, Kim Quang, Sùng Phước, Kim Chương, Dao Trang Quan Am
2.3.3 Sự hòa nhập của Việt Kiểu vào xã hội Campuchia: Đến sinh sống ở nước láng giểng Campuchia, người Việt có nhiều thuận lợi về địa
lý, môi sinh, xã hội văn hóa để hòa nhập nơi sở tại Việt Nam và
Campuchia đều là thuộc địa của thực dân Pháp, nhân dân hai nước cùng
trải qua lịch sử lâu dài đấu tranh giành độc lập cho Tổ quốc mình Cùng một số phận, chung một kể thù nên người Việt Nam và người Campuchia
có cùng cảnh ngộ, đồng cảm nhau Đó cũng là thuận lợi quan trọng cho người Việt Nam đến sinh sống ở Campuchia hòa nhập vào xã hội nước sở tại
6 Campuchia, người Việt lao động cần cù, vượt qua mọi thách thức,
gian nan, tạo lập cho mình, gia đình mình cuộc sống mới Những vùng đất
hoang vu được khai phá thành ruộng vườn, những vùng đất đỏ rộng lớn thành đồn điển cao su, nguồn cá to lớn của Mekong và Biển Hồ được khai thác có công lao đóng góp của người Việt
Những khó khăn mà người Việt ở Campuchia gặp phải là do tình hình đất nước này nhiều biến động, luôn bất an và những biện pháp quản
lí, đối xử của chính quyền và ở các địa phương: sắc lệnh cấm hành nghề hổi 1957 (18 nghề, sau thêm 6 nghề nữa), Hiến pháp Campuchia (1947,
1956, 1993) qui định về quyển sở hữu, luật nhập cư 1994, Luật quốc tịch
1996 Ở Campuchia nạn hối lộ và cướp bóc điễn ra ở khắp nơi thì Việt kiểu
là nạn nhân Các phe phải ở Campuchia tranh giành quyển lực thì vấn để
Việt kiểu là một trong những điểm nóng mà họ đều lợi dung, tim cách kích
động Việt kiểu của Campuchia là nạn nhân của những vụ xua đuổi, tàn sát, khủng bố,
Tình hình nói trên làm cho nhiều người Việt không có cuộc sống ổn định ở Campuchia Tư tưởng “dễ ở, khó về” phổ biến trong khá nhiều người Những năm gần đây, xuất hiện một số người Việt đến Campuchia bất hợp pháp, có người là tội phạm trốn sang Campuchia, có những người
làm ăn phi pháp (buôn lậu, gái mại dâm ) Trong khí đó, một bộ phận lại
Trang 10
-8-sống bừa bãi, tùy tiện, bất chấp cả pháp luật sở tại, cả dư luận, gây tâm lý
đố ky, níu kéo, chèn ép lẫn nhau dễ tạo cớ cho kẽ xấu lợi dụng phá hoại,
gây ảnh hưởng đến cộng đồng và đất nước
Một thực trạng đáng quan ngại là một số đông người Việt Nam bằng nghề sông nước, không có giấy tờ hợp lệ
Tình hình trên đây cho thấy cộng đồng người Việt Nam ở Campuchia phải được ổn định lâu dài và xây dựng mạnh mẽ mọi mặt mới có thể tự khẳng định được mình và mới có thể góp phần vào xây dựng và phát triển đất nước Campuchia và Tổ quốc Việt Nam Phải từng bước nâng dẫn vị thế kinh tế, chính trị của cộng đồng Dần xóa bỏ những vướng mắc liên quan đến vấn để Việt kiểu trong quan hệ giữa hai nước Phải từng bứơc xây dựng, củng cố và phát triển tổ chức hội Việt kiểu ở Campuchia
Có thể nói trong tất cả các cộng đồng người Việt dang sinh sống tại
các nước trên thế giới, thì cộng đồng người Việt ở Campuchia có đời sống khổ cực và nguy hiểm Nhiều người sống lênh đênh trên những con thuyền
vừa là chỗ nương thân, vừa chài lưới kiếm sống Trong quá khứ, bị đây đọa luôn ám ảnh Nay những nguy cơ bị tàn sát, khủng bố, kỳ thị vẫn còn là mốt đe dọa họ
Người Việt ở Campuchia tuy nghèo về vật chất nhưng phần tình cảm, một lòng son sắt với quê hương, Tổ quốc, yêu thương đùm bọc lẫn nhau và luôn hướng tới tương lai tốt đẹp Trong hai cuộc kháng chiến trứơc đây cộng đồng người Việt ở Campuchia đã có nhiều hy sinh, và tổn thất to lớn Đảng và Nhà nước ta đã khẳng định công lao đó và có qui định (1977) rõ Việt kiểu ở Campuchia được hưởng trọn vẹn quyển công dân và mọi chính sách giống như nhân dân miền Nam và nhân dân cả nước
Ngày nay, cộng đồng người Việt ở Campuchia cũng như ở các nước
khác là bộ phận không tách rời và là nguồn lực của cộng dổng dân tộc Việt
Nam, là nhân tố quan trọng góp phần tăng cường quan hệ, họp tác, hữu nghị giữa nước ta với các nước
Chương 3: Người Việt Nam ở Lào
3.1 Lịch sử của người Việt sang Lào:
Là nước láng giểng hiện có chung biên giới với Việt Nam hơn hai ngàn cây số, cho nên Lào là quốc gia có người Việt đến sinh sống vào loại
sớm nhất
Thế kỷ 16, năm 1520 Vương quốc Lào là Sạ Đấu cấp đất Sầm Châu cho số người Việt sang Lào để ở Lê Duy Ninh sang lánh nạn cũng ở Sầm