- Chủ nghĩa duy vật CNDV là những học thuyết TH khẳng định : vật chất, giới tự nhiên là các có trước, nó tồn tại khách quan, độc lập với ý thức và quyết định ý thức của con người ; Nhữn
Trang 1Câu 1: Triết học là gì? Nguồn gốc ra đời của triết học? Vấn đề cơ bản của triết học? Vai trò của triết học trong đời sống xã hội?
1- Triết học là gì?
Triết học ra đời vào khoảng thế kỷ thứ 8 tr.CN đến thế kỷ thứ 6 tr.CN ở những
vùng có nền văn minh sớm nhất như Ấn Độ cổ đại, Trung Quốc cổ đại và Hy Lạp cổ đại
Thuật ngữ triết học có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp: Philossophia, có nghĩa là sự
thông thái và yêu thích sự thông thái
Ngay từ khi mới ra đời, triết học là một hình thái ý thức xã hội nghiên cứu thế giới với tính cách như một chỉnh thể thống nhất và tìm cách đem lại cho con người một hệ thống các quan niệm chung nhất về giới tự nhiên, xã hội và con người, cũng như mối quan hệ giữa con người với thế giới xung quanh
Do vậy, triết học là hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con người về thế giới; về vị trí và vai trò của con người trong thế giới ấy.
2- Nguồn gốc ra đời của triết học
- Nguồn gốc nhận thức: triết học ra đời khi năng lực nhận thức của con người đạt
đến trình độ tư duy trừu tượng
- Nguồn gốc xã hội: từ khi xã hội loài người có sự phân chia giai cấp, phân công lao động trí óc và lao động chân tay
+ TH được ra đời trong xã hội chiếm hữu nô lệ, do nhu cầu về nhận thức và giải quyết những vấn đề sống còn của con người và xã hội loài người, do hoạt động thực tiễn của con người ngày càng trở nên đa dạng và phức tạp
Cái nôi của TH pĐông là đất nước Ấn Độ cổ đại và Trung Quốc cổ đại
Cái nôi của triết học phương Tây là đất nước Hy Lạp và La Mã cổ đại
+ Trước khi TH Mác ra đời, TH được coi là «khoa học của mọi khoa học”, bởi vì
TH bao gồm toàn bộ tri thức, lí luận của nhân loại, nó không có đối tượng riêng Khi các
bộ môn khoa học chuyên ngành dần xuất hiện và tách khỏi TH, trở thành các bộ môn khoa học độc lập, thì đối tượng của TH cũng dần thu hẹp lại, chỉ đề cập đến vấn đề cơ bản của tồn tại và sự nhận thức của tồn tại ấy
+ Sự ra đời của TH Mác là một bước ngoặc cách mạng trong sự phát triển của tư tưởng TH nhân loại, nó đoạn tuyệt triệt để quan niệm xem TH là « khoa học của mọi khoa học»
Đối tượng của TH mácxít được xác định là tiếp tục giải quyết mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trên lập trường duy vật biện chứng và nghiên cứu những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy.
3- Vấn đề cơ bản của triết học
- Trong thế giới có vô vàn các sự vật, hiện tượng song vẫn có thể phân thành 02 loại :
+ Một là những hiện tượng vật chất (hay còn gọi là tồn tại và tự nhiên)
+ Hai là những hiện tượng tinh thần (hay còn gọi là ý thức và tư duy)
Mối quan hệ giữa tư duy và tồn tại, giữa ý thức và vật chất là vấn đề cơ bản của
triết học.
Trang 2Theo Ph.Ăngghen: « Vấn đề cơ bản của mọi triết học, đặc biệt là triết học hiện đại, là vấn đề quan hệ giữa tư duy với tồn tại »
- Vấn đề cơ bản của triết học gồm có hai mặt: (hai mặt của cùng một vấn đề)
+ Một là, giữa vật chất và ý thức, cái nào có trước, cái nào có sau và cái nào giữ vai
trò quyết định ?
+ Hai là, con người có khả năng nhận thức được thế giới hay không? hay nói cách khác là, ý thức con người có thể phản ánh trung thực thế giới khách quan không ?
Tùy theo cách giải quyết mặt thứ nhất của vấn đề cơ bản mà TH được chia thành 02
trường phái lớn : Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm.
- Chủ nghĩa duy vật (CNDV) là những học thuyết TH khẳng định : vật chất, giới tự
nhiên là các có trước, nó tồn tại khách quan, độc lập với ý thức và quyết định ý thức của con người ; Những hình thái lịch sử cơ bản của chủ nghĩa duy vật :
+ CNDV chất phát ngây thơ thời cổ đại
+ CNDV siêu hình, máy móc thế kỷ 17-18
+ CNDV biện chứng
Ngoài 3 hình thái lịch sử nêu trên còn có : CNDV tầm thường ; CNDV kinh tế
- Chủ nghĩa duy tâm (CNDT) là những học thuyết TH cho rằng : ý thức tinh thần
là cái có trước ; vật chất, giới tự nhiên là cái có sau và ý thức giữ vai trò quyết định ; CNDT tồn tại dưới 2 hình thức :
CNDT khách quan cho rằng CNDT chủ quan cho rằng
- Thực thể tinh thần là cái có trước
- Tồn tại bên ngoài, độc lập với con
người và sản sinh ra giới tự nhiên
- Cảm giác, ý thức là cái có trước
- Tồn tại trong chủ thể nhận thức, còn
các sự vật bên ngoài chỉ là phức hợp của các cảm giác
? Vì sao nói: Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức là vấn đề cơ bản của triết học?
Vật chất và ý thức được coi là hai phạm trù cơ bản nhất của triết học, bao trùm toàn bộ thế giới tự nhiên, xã hội Các học thuyết triết học dù có khác nhau, song đều có nội dung
cơ bản về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức
4- Vai trò của triết học trong đời sống xã hội
4.1 Vai trò thế giới quan và phương pháp luận :
a Thế giới quan :
- Chức năng của thế giới quan triết học là: cung cấp cho con người một hệ thống những quan niệm chung nhất về thế giới, nhờ đó định hướng cho toàn bộ hoạt động, xây dựng lý tưởng, xác định mục đích, ý nghĩa cuộc sống cho mỗi người hay mỗi cộng đồng
người Tri thức triết học làm cho thế giới quan như là một quá trình tự giác dựa trên sự
tổng kết những kinh nghiệm thực tiễn và tri thức của các khoa học
- Thế giới quan đúng đắn sẽ là cơ sở để xây dựng nhân sinh quan tích cực, lành mạnh (Nhân sinh quan là: có hoài bảo, lý tưởng, có nhân cách, có lẽ sống, có tinh thần trách nhiệm với công việc, có ý thức tổ chức, )
b Phương pháp luận.
Trang 3- Phương pháp luận là hệ thống quan điểm chỉ đạo chủ thể trong việc tìm tòi, lựa
chọn và vận dụng các phương pháp trong quá trình nhận thức và hoạt động thực tiễn
- Sự phát triển của triết học không chỉ diễn ra cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật
và chủ nghĩa duy tâm mà còn là cuộc đấu tranh giữa 2 phương pháp luận đối lập nhau biện chứng và siêu hình Trong thực tế, Một hệ thống triết học khi giải thích một sự vật, hiện
tượng theo một quan điểm nhất định thì đồng thời cũng thể hiện một nguyên tắc xem xét nhất định
Do vậy, ngoài chức, năng thế giới quan triết học còn thực hiện chức năng phương pháp luận chung nhất của toàn bộ nhận thức khoa học và hoạt động thực tiễn.
4.2 Vai trò của triết học Mác - Lênin
- Triết học ML là sự kế thừa những thành quả của tư duy TH nhân loại và được nâng lên một tầm cao mới
- Trong triết học ML, giữa lý luận và phương pháp có sự thống nhất hữu cơ với
nhau Chủ nghĩa duy vật là chủ nghĩa duy vật biện chứng ; phép biện chứng là phép biện
chứng duy vật
- Sự thống nhất giữa chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng khiến cho chủ nghĩa duy vật trở thành triệt để và phép biện chứng trở thành lý luận khoa học, góp phần định
hướng cho hoạt động nhận thức và thực tiễn của con người
- Nghiên cứu triết học ML không chỉ là tiếp nhận một thế giới quan khoa học mà giúp ta hình thành phương pháp luận đúng đắn Lịch sử phát triển của khoa học đã cho thấy :
+ Kiên định thế giới quan duy vật và phương pháp biện chứng là nhân tố quan trọng giúp cho các khoa học cụ thể vượt qua những giới hạn của nhận thức cũ để vươn tới
những thành tựu mới
+ Quán triệt thế giới quan duy vật và phương pháp luận biện chứng của triết học
ML, chúng ta mới có thể tiếp thu được những quan điểm KT, CT, XH của chủ nghĩa ML
trên tinh thần khoa học, khắc phục, ngăn ngừa được chủ nghĩa chủ quan và phương pháp
tư duy siêu hình
? Hãy phân biệt vai trò của triết học nói chung và vai trò của triết học Mác - Lênin nói riêng đối với đời sống xã hội bằng 02 từ ?
Đó là từ «Khoa học»
- TH ra đời với tư cách là hạt nhân lý
luận của thế giới quan, làm cho thế
giới quan phát triển như một quá trình
tự giác dựa trên sự tổng kết kinh
nghiệm thực tiễn và tri thức do các
khoa học đưa lại Đó là chức năng thế
giới quan của triết học.
- TH bao gồm toàn bộ tri thức lý luận
của nhân loại, nó không có đối tượng
riêng mà TH được coi là « khoa học
của mọi khoa học »
- Đoạn tuyệt triệt để quan niệm xem TH
là « khoa học của mọi khoa học»
Đối tượng của TH mácxít được xác định
là tiếp tục giải quyết mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trên lập trường duy vật biện chứng và nghiên cứu những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy.
Trang 4Câu 2 : Phân tích nội dung định nghĩa vật chất của Lênin? Rút ra ý nghĩa của định nghĩa?
1- Phân tích định nghĩa vật chất của Lênin
Dựa trên quan niệm duy vật của Mác và phương pháp định nghĩa vật chất của
Ph.Ăngghen, Lênin đã đưa ra định nghĩa: « Vật chất" là một phạm trù triết học dùng để
chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh lại và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác»
Ở định nghĩa này, Lênin phân biệt những vấn đề quan trọng sau :
Thứ nhất: « Vật chất là một phạm trù triết học», tức là sự khái quát của tư duy nhằm
rút ra cái chung, cái vốn có phổ biến trong các sự vật hiện tượng của thế giới khách quan
Do đó cần phân biệt vật chất với tư cách là một phạm trù TH với các quan niệm của khoa học tự nhiên về cấu trúc và những thuộc tính cụ thể của các đối tượng các dạng vật chất khác nhau ;
Vật chất với tư cách là một phạm trù triết học chỉ vật chất nói chung, vô hạn, vô tận, không sinh ra, không mất đi ; còn các đối tượng, các dạng vật chất của khoa học cụ thể nghiên cứu đều có giới hạn, nó sinh ra và mất đi để chuyển hóa thành cái khác Vì vậy,
không thể quy vật chất nói chung về vật thể, không thể đồng nhất vật chất nói chung với
những dạng cụ thể của vật chất
Thứ hai: « dùng để chỉ thực tại khách quan » Điều này có nghĩa là:
- Thực tại khách quan (hay là tồn tại khách quan), tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác của con người tức là sự tồn tại có thật, không phải do ý muốn thần linh thượng đế sinh
ra Không phải do ý thức chủ quan của con người sinh ra mà đó là do sự tồn tại, vận động, chuyển hóa và phát triển theo những quy luật vốn có của bản thân các sự vật, hiện tượng,
dù con người có muốn hay không; có biết hay chưa biết về sự tồn tại đó thì chúng vẫn tồn tại
- Tồn tại khách quan đó được biểu hiện ra muôn hình, muôn vẻ, luôn luôn biến đổi, chuyển hóa không ngừng, đó có thể là tồn tại trong tự nhiên, xã hội; tồn tại dưới dạng vi
mô, vĩ mô, có thể dưới dạng trường điện tử… có những dạng tồn tại có thể nhận biết bằng giác quan, có những dạng phải nhận biết bằng cách gián tiếp, có những dạng đặc biệt như
những quan hệ vật chất trong đời sống xã hội…Dù có khác nhau về chất nhưng cái chung nhất của chúng là tồn tại khách quan, không phụ thuộc vào ý thức, ý muốn chủ quan của
con người
Thứ ba: Cảm giác của con người là sự : « chép lại, chụp lại, phản ánh lại» vật chất
Điều này có nghĩa là vật chất là tính thứ nhất (nguyên bản), còn cảm giác là tính thứ hai (bản sao) của vật chất và với sự chụp, chép, phản ảnh đó, con người hoàn toàn có khả năng nhận thức được thế giới vật chất
2- Ý nghĩa của định nghĩa vật chất của Lênin :
- Định nghĩa này giải quyết một cách khoa học cả 2 mặt của một vấn đề cơ bản của triết học theo lập trường duy vật biện chứng, xác lập nền tảng thế giới quan vững chắc để đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm các loại và khắc phục được hạn chế của chủ nghĩa duy vật cũ Bác bỏ chủ nghĩa duy tâm và thuyết bất khả tri ; khắc phục được khuyết điểm của quan điểm siêu hình
- Cung cấp thế giới quan khoa học, định hướng cho các nhà khoa học đi sâu khám phá thế giới khách quan
- Là cơ sở khoa học cho việc khẳng định vật chất xã hội mà Mác đã từng quan niệm
Trang 5? Sự giống và khác nhau của phạm trù vật chất theo nghĩa triết học và vật chất theo nghĩa thông thường ?
Vật chất theo nghĩa triết học Vật chất theo nghĩa thông thường
Giống nhau: Đều phản ánh cái thực tại khách quan, tồn tại độc lập với ý thức
con người
- Chỉ khái quát thuộc tính chung
nhất của tất cả các dạng vật chất cụ
thể Đó là thực tại khách quan độc
lập với ý thức của con người
- Nói về những cái riêng vật chất cụ
thể, tồn tại dưới nhiều dạng phong phú
và đa dạng
? Vì sao Lênin dùng từ «cảm giác» mà không dùng từ «ý thức», vì: «cảm giác» là
đề cập đến những giác quan được tiếp xúc với những sự vật ban đầu Theo Lênin thì cảm giác là cái có sau vật chất (Khi nêu định nghĩa này Lênin đã trực tiếp đấu tranh với chủ nghĩa duy tâm chủ quan: Cho rằng cảm giác của con người là cái có trước)
? Tại sao định nghĩa vật chất của Lênin đã giải quyết đúng đắng cả 2 mặt cơ bản của TH
Câu 3: Trình bày nguồn gốc, bản chất và kết cấu của của ý thức Phê phán những quan điểm sai trái?
1-Nguồn gốc
- Trước khi chủ nghĩa Mác ra đời , trong lịch sử TH đã từng xuất hiện nhiều quan điểm khác nhau về nguồn góc, bản chất và vai trò tác dụng của ý thức : Có quan điểm coi ý thức như một hiện tượng thần bí, thậm chí biến ý thức thành một lực lượng sáng tạo độc lập ; trường phái khác lại cho rằng ý thức cũng là một dạng vật chất, óc tiết ra tư tưởng cũng như gan tiết ra mật,
-Triết học duy vật biện chứng đã căn cứ vào những thành tựu của sự phát triển khoa học tự nhiên, kế thừa có chọn lọc những tư tưởng tiến bộ trong lịch sử TH khẳng định
rằng : ý thức của con người không phải là một hiện tượng thần bí tách rời khỏi vật chất,
mà ý thức là đặc tính của một dạng vật chất có tổ chức, đặc biệt là bộ óc của con người, là
sự phản ánh các sự vật, hiện tượng của thế giới bên ngoài vào bộ óc trên nền tảng của lao
động sáng tạo và được hiện thực hóa bằng ngôn ngữ Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan Có hai cách tiếp cận nguồn gốc của ý thức: Tư nhiên và xã hội.
* Nguồn gốc tư nhiên
- Ý thức là một thuộc tính của vật chất nhưng không phải của mọi dạng vật chất mà chỉ là thuộc tính của một dạng vật chất sống có tổ chức cao là bộ óc của con người Bộ óc người là cơ quan vật chất của ý thức ; Hoạt động có ý thức của con người diễn ra trên cơ
sở hoạt động sinh lý thần kinh của bộ óc Nó không thể diễn ra tách rời hoạt động thần kinh của con ngừoi, nhưng cũng không đồng nhất hoàn toàn với quá trình sinh lý
- Các sự vật hiện tượng trong thế giới hiện thực là đối tượng, là khách thể được phản ánh, kết quả sự phản ánh tạo nên hình ảnh của đối tượng trong bộ óc
- Ý thức là sự phản ánh thế giới vật chất vào trong bộ óc người Không có sự tác động của thế giới bên ngoài lên giác quan con người và qua đó đến bộ óc người thì hoạt động
của ý thức không thể xảy ra Như vậy, nguồn gốc tự nhiên của ý thức là bộ óc người cùng với thế giới bên ngoài tác động lên bộ óc của con người.
* Nguồn gốc xã hội
Trang 6- Ý thức được hình thành và phát triển không phải chủ yếu do nguồn gốc, điều kiện tự
nhiên mà chủ yếu do những tiền đề, nguồn gốc xã hội Ý thức ra đời cùng với quá trình
hình thành bộ óc con người nhờ lao động sáng tạo, ngôn ngữ và những quan hệ xã hội + Lao động là hành động sáng tạo, có mục đích, có định hướng của con người bằng việc chế tạo, sử dụng, cải tiến các công cụ lao động nhằm tác động vào các đối tượng hiện thực tạo ra những sản phẩm cần thiết theo nhu cầu và cuộc sống con người Chính trong quá trình lao động nhằm cải tạo thế giới tự nhiên, sự tác động của con người làm cho sự vật bộc lộ những thuộc tính, những kết cấu, những quy luật vận động tác động vào bộ óc con người và hình thành những hiểu biết về sự vật
+ Cũng thông qua quá trình lao động sáng tạo, ở con người xuất hiện nhu cầu trao đổi thông tin, kinh nghiệm, giao tiếp xã hội nhờ đó xuất hiện ngôn ngữ (tiếng nói và chữ viết) Ngôn ngữ là cái vỏ vật chất của tư duy, là hiện thực trực tiếp của ý thức tư tưởng, nhờ ngôn ngữ mà ý thức có thể hiện ra Ngôn ngữ có 2 chức năng đó là giao tiếp và công cụ của tư duy
Như vậy, nguồn gốc tự nhiên là điều kiện cần thiết ; còn nguồn gốc xã hội (bao gồm 2 yếu tố : lao động, hoạt động thực tiễn xã hội và ngôn ngữ) là nguồn gốc trực tiếp và quan
trọng nhất quyết định sự ra đời và phát triển của ý thức Vì vậy, ý thức là một hiện tượng
xã hội.
? Ý thức hình thành cần có điều kiện gì ?
1) Phải có bộ óc không bị tổn thương ;
2) Phải có hoạt động lao động xã hội ;
3) Các tác động quan hệ xã hội
không có tiền đề xã hội, lao động xã hội thì không cóý thức
Không nhất thiết phải có lao động, sản xuất trực tiếp thì mới hình thành nên ý thức
2- Bản chất của ý thức
Ý thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ óc con người, là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan Sự phản ánh này không phải là sự phản ánh thụ động, giản đơn máy móc mà là sự phản ánh mang tính tích cực chủ động và sáng tạo Phản ánh và sáng tạo
của ý thức là 2 mặt của một quá trình thống nhất; phản ánh là nền tảng của sự sáng tạo và sáng tạo là trình độ cao của sự phản ánh Không thể tách rời một mặt nào, nếu không sẽ
dẫn đến sai lầm hoặc của chủ nghĩa duy tâm hoặc của duy vật tầm thường, máy móc
- Tính năng động sáng tạo của ý thức trên cơ sở phản ánh được thể hiện ở những khía cạnh sau :
+ Thứ nhất, ý thức là sự phản ánh khái quát, trù tượng, gián tiếp, được thể hiện thông qua «cái vỏ vật chất » của nó là hệ thống ngôn ngữ (tiếng nói và chữ viết) tr.81
+ Thứ hai, sự phản ánh của ý thức không chỉ là sự sao chép, liệt kê những hiện tượng, những mối liên hệ bên ngoài, mang tính ngẫu nhiên của đối tượng Sự phát triển của ý thức là quá trình con người không ngừng tìm kiếm và tích lũy những hiểu biết mới, ngày
càng đầy đủ hơn, sâu sắc hơn về mặt bản chất, quy luật vận động và phát triển của sự vật + Thứ ba, sự phản ánh sáng tạo của ý thức gắn liền với nhu cầu của cuộc sống vào
hoạt động thực tiễn của con người Căn cứ vào sự vận động và phát triển của thực tiễn, của hiện thực khách quan, ý thức còn có thể dự báo những cái sẽ xảy ra trong tương lai
+ Thứ tư, thông qua hoạt động thực tiễn của con người, ý thức tác động làm biến đổi
thế giới Lênin cho rằng, ý thức của con người không chỉ phản ánh thế giới khách quan
Trang 7mà còn sáng tạo ra thế giới đó Quá trình tổ chức sắp xếp lại hiện thực khách quan cũng
chính là quá trình con người không ngừng nâng cao ý thức sáng tạo
Tóm lại, bản chất của ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan Theo Mác, ý thức « chẳng qua chỉ là vật chất được đem chuyển vào đầu óc người và được cải
biến đi ở trong đó »
3- Kết cấu của ý thức
Thông thường người ta xem xét ý thức theo hai phương diện là cấu trúc theo chiều ngang và chiều dọc
a- Theo chiều ngang: ý thức bao gồm các yếu tố như tri thức, ý chí, tình cảm, niềm
tin, lòng nhiê ̣t tình, đô ̣ng cơ, tâm tra ̣ng của con người Các yếu tố đó đều có vai trò quan tro ̣ng, đều góp phần nhất đi ̣nh ta ̣o nên sức ma ̣nh của ý thức
- Trong các yếu tố đó thì tri thức là nhân tố cơ bản, là cốt lõi của ý thức Mác cho rằng, tri thức là phương thức tồn tại của ý thức Điều đó có nghĩa là : nói đến ý thức trước
hết và cơ bản là nói đến tri thức ; ý thức mà không bao hàm nội dung là tri thức thì chỉ là một sự trù tượng trống rỗng, và trong trường hợp đó, việc phát huy sức mạnh của ý thức có thể dẫn đến thất bại của hoạt động thực tiễn
- Tri thức là kết quả của quá trình nhận thức tích cực sáng tạo về thế giới Quá trình
hình thành và phát triển của ý thức cũng chính là quá trình con người không ngừng tìm kiến, tích lũy tri thức về thế giới xung quanh Tri thức có nhiều lĩnh vực khác nhau như tri thức về tự nhiên, về xã hội, về con người và có nhiều cấp độ khác nhau như tri thức cảm tính và tri thức lý tính ; tri thức kinh nghiệm và tri thức lý luận ; tri thức tiền khoa học và tri thức khoa học
b- Theo chiều dọc: đây là phương diê ̣n tiếp câ ̣n theo chiều sâu của thế giới nô ̣i tâm
của con người, bao gồm các yếu tố như : tự ý thức, tiềm thức, vô thức.
- Tự ý thức: là bô ̣ phâ ̣n của ý thức hướng vào bản thân chủ thể nhâ ̣n thức chính
mình, là ý thức về những hành vi, tình cảm, tư tưởng, đô ̣ng cơ lợi ích của mình, về đi ̣a vi ̣ và
các mối quan hê ̣ của mình trong xã hô ̣i Tự ý thức có tác du ̣ng điều chỉnh hành vi của chủ
thể theo chuẩn mực xã hội
- Tiềm thức: là những hoa ̣t đô ̣ng tâm lý tự đô ̣ng diễn ra bên ngoài sự kiểm soát của
chủ thể, nhưng đó là tri thức đã được chủ thể tiếp nhâ ̣n từ trước và tồn ta ̣i dưới da ̣ng tiềm
tàng Tiềm thức có vai trò quan trọng trong cả hoạt động tâm lý hàng ngày và cả trong tư duy khoa học.
- Vô thức: là những hiê ̣n tượng tâm lý diễn ra bên ngoài pha ̣m vi kiểm soát của ý
thức, chưa được con người ý thức đến Đó là những hành vi do bản năng chi phối hoă ̣c những đô ̣ng tác được lă ̣p đi lă ̣p la ̣i trở thành thói quen tới mức có thể tự đô ̣ng xảy ra Vô
thức có vai trò quan trọng trong việc điều tiết trạng thái tinh thần của con người, lập lại
cân bằng tránh tình trạng quá tải về tâm lý Tuy nhiên, nếu cường điệu tuyệt đối hóa vai trò của vô thức, tách vô thức ra khỏi ý thức và khỏi hoàn cảnh xã hội thì sẽ dẫn đến sai lầm
Thực chất, vô thức của con người là vô thức được chi phối bởi ý thức.
4- Phê phán những quan điểm sai trái
4.1 Bệnh chủ quan duy ý chí: Là khuynh hướng tuyệt đối hóa vai trò của nhân
tố chủ quan, cường điệu tính sáng tạo của ý thức, của ý chí, xa rời hiện thực khách quan, bất chấp quy luật khách quan, lấy nhiệt tình cách mạng thay thế cho sự yếu kém
về tri thức khoa học.
Nội dung và biểu hiện của bệnh chủ quan duy ý chí:
Trang 8Sai lầm của bệnh chủ quan duy ý chí là lối suy nghĩ và hành động giản đơn, nóng vội, chạy theo nguyện vọng chủ quan; thể hiện rõ trong khi định ra những chủ trương, chính sách và lựa chọn phương pháp tổ chức họat động thực tiễn theo hướng
áp đặt, rơi vào ảo tưởng, chủ quan Ví dụ như : mục tiêu đặt ra quá cao, biện pháp không có tính khả thi v.v Ngòai ra bệnh chủ quan duy ý chí còn do nguồn gốc lịch
sử, xã hội, giai cấp, tâm lý của người sản xuất nhỏ chi phối Cơ chế quan liêu bao cấp cũng tạo điều kiện cho sự ra đời của căn bệnh này
Bệnh chủ quan duy ý chí là một sai lầm khá phổ biến ở nước ta và ở nhiều nước XHCN trước đây, gây tác hại nghiêm trọng đối với sự nghiệp xây dựng CNXH Bệnh chủ quan duy ý chí cũng là 1 khuynh hướng sai lầm, ngược lại với bệnh bảo thủ trì trệ,
nó thổi phồng, tuyệt đối hóa vai trò của nhân tố chủ quan, quá đề cao, cường điệu tính sáng tạo của ý thức, của ý chí, xa rời hiện thực khách quan, bất chấp quy luật khách quan, điều kiện khách quan, lấy nhiệt tình cách mạng thay thế cho sự yếu kém về trí thức khoa học Sai lầm của bệnh chủ quan duy ý chí là lối suy nghĩ và hành động giản đơn, nóng vội chạy theo nguyện vọng chủ quan Sai lầm đó thể hiện rõ trong khi định
ra chủ trương chính sách và lựa chọn phương pháp tổ chức hoạt động thực tiễn theo hướng áp đặt ý chí vào thực tế, lấy ảo tưởng chủ quan thay cho hiện thực
Trước thời kỳ đổi mới (ĐH6), Đảng ta đã mắc bệnh chủ quan, duy ý chí trong
việc xây dựng mục tiêu và bước đi về xây dựng cơ sở vật chất kỷ thuật, cải tạo XHCN
và quản lý kinh tế, Đảng ta đã nóng vội muốn xóa bỏ ngay nền kinh tế nhiều thành phần, muốn sau khi cải tạo XHCN chỉ còn lại hai thành phần kinh tế quốc doanh và tập thể hay có lúc đẩy mạnh quá mức việc xây dựng công nghiệp nặng mà không chú
ý phát triển công nghiệp nhẹ, chúng ta đã duy trì quá lâu cơ chế quản lý kinh tế tập trung quan liêu bao cấp cơ chế xin cho, có nhiều chủ trương sai trong việc cải cách giá
cả, tiền lương, tiền tệ
Bệnh chủ quan duy ý chí và bệnh bảo thủ trì trệ là một thực tế tồn tại trong thời kỳ khá dài trước đổi mới (trước Đại hội lần VI tháng 12-1986) Trong giai đoạn này, tình trạng khủng hoảng kinh tế xã hội ngày càng trầm trọng xuất phát từ nguyên nhân chủ quan, bắt nguồn từ những sai lầm nghiêm trọng và kéo dài mà trong đó sai lầm do chủ quan duy ý chí và bảo thủ có tác hại rất lớn
Đại hội VI của Đảng (1986) Đảng đã chỉ rõ bài học kinh nghiệm trong thực tiễn cách mạng ở nước ta là muốn đảm bảo thành công thì phải vận dụng đúng nguyên tắc khách quan “Đảng phải luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo quy luật
là điều kiện đảm bảo sự dẫn đầu của Đảng” (Văn kiện Đại hội Đảng lần VI trang 30) Đây là sự thừa nhận vai trò quyết định của vật chất và các quy luật khách quan vốn có của nó trong việc đề ra các chế định, chủ trương, chính sách vào thực tế của công cuộc xây dựng đất nước ta
- Hướng khắc phục bệnh chủ quan duy ý chí: Để khắc phục bệnh chủ quan
duy ý chí chúng ta phải tiến hành đồng bộ nhiều biện pháp Trước hết là đổi mới tư duy lý luận, nhất là tư duy về CNXH, về con đường đi lên CNXH ở nước ta, đẩy mạnh công tác tổng kết thực tiễn để phát triển lý luận, dùng lý luận để hướng dẫn, giải thích những vấn đề do thực tiễn đặt ra, phải tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan; Đổi mới tòan diện, đồng bộ và triệt để với những hình thức, bước đi và cách làm phù hợp, lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm; tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan, nâng cao năng lực nhận thức và bận dụng quy luật, tăng cường phát
Trang 9huy dân chủ, phát huy tiềm năng, trình độ chính trị, chuyện môn nghiệp vụ, quản lý của cán bộ khoa học kỹ thuật, cán bộ Đảng viên nhằm đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; Đổi mới, nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam trong điều kiện mới, củng cố, bồi dưỡng tình cảm, ý chí cách mạng trong tòan Đảng, tòan dân; xây dựng và kiện tòan bộ máy nhà nước trong sạch, vững mạnh.
4.2 Bệnh bảo thủ trì trệ: là khuynh hướng sai lầm cực đoan do cường điệu hóa
vai trò quyết định của vật chất, sùng bái sức mạnh của quy luật, hạ thấp vai trò của nhân tố chủ quan, ngại gian khổ, bó tay khuất phục trước khó khăn, trước hoàn cảnh khách quan
Nội dung và biểu hiện của bệnh bảo thủ trì trệ:
Qua nghiên cứu nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển Theo quan điểm của phép duy vật biện chứng, mọi sự vận hiện tượng đều tồn tại bằng cách tác động nhau, ràng buộc nhau, quy định và chuyển hóa lẫn nhau; tất cả đều vận động, biến đổi, phát sinh ( phát triển ) và mất đi
Phát triển là một phạm trù triết học dùng để khái quát hóa quá trình vận động tiến lên từ thấp tới cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hòan thiện đến hòan thiện hơn Quan điểm duy vật biện chứng khẳng định rằng thế giới vật chất luôn luôn vận động và phát triển đi lên, sự vận động không ngừng là khuynh hướng chung của mọi
sự vật hiện tượng Nguồn gốc của sự phát triển nằm ngay trong bản thân của sự vật,
do mâu thuẩn của sự vật quy định, là quá trình tự thân của mỗi sự vật hiện tượng Do vậy, phát triển là một quá trình khách quan độc lập với ý thức của con người Vì thế, khi xem xét các sự vật hiện tượng phải đặt nó trong sự vận động, sự phát triển, phải phát hiện ra các xu hướng biến đổi chuển hóa của chúng
Quán triệt quan điểm về sự phát triển chúng ta cần phải khắc phục, phê phán
“bệnh” bảo thủ, trì trệ, định kiến
Biểu hiện của bệnh bảo thủ trì trệ là tình trạng ỷ lại, dựa dẫm, chờ đợi, ngại
đổi mới, thậm chí cản trở cái mới, bằng lòng thỏa mãn với cái đã có Bệnh bảo thủ trì trệ bao giờ cũng gắn liền với bệnh chủ quan duy ý chí, bệnh kinh nghiệm, bệnh giáo điều, là bạn đồng hành của chủ nghĩa quan liêu, chủ nghĩa cá nhân, bệnh gia trưởng và độc đoán Đó là những nguyên nhân làm cản trở, thậm chí kéo lùi sự phát triển
Đề cập đến vấn đề này, Đảng ta đã nhận định, trước thời kỳ đổi mới (1986 tại
Đại hội 6) : «chúng ta vừa chủ quan nóng vội, vừa bảo thủ trì trệ, trong thực tế hai mặt đó cùng tồn tại và đều cản trở bước tiến của cách mạng », ở nước ta căn “bệnh”
này có một số biểu hiện như: duy trì quá lâu cơ chế quản lý kinh tế tập trung quan liêu, bao cấp nên đã kìm hãm sự phát triển kinh tế – xã hội, làm cho nhân dân bị nghèo nàn, đất nước lạc hậu; bảo thủ trong công tác cán bộ : chậm đối mới các chính sách cụ thể, chính sách tiền lương, đãi ngộ v.v nên làm hạn chế việc phát huy các nguồn lực, chậm khai thác tiền năng xây dựng đất nước
Nhằm khác phục thực trạng trên, Đại hội 6 của Đảng đã chỉ ra : «Đảng phải luôn luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan năng lực nhận thức và hành động theo quy luật là điều kiện đảm bảo sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng», Văn kiện Đại hội 11 tiếp tục nhấn mạnh : « Mọi đường lối, chủ trương của Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng quy luật khách quan Phải phòng và chống những nguy cơ lớn: sai lầm về đường lối, bệnh quan liêu và sự thoái hóa, biết chất của cán bộ, đảng viên » Đồng thời, « Toàn Đảng, toàn dân ta phải nêu cao tinh
Trang 10thần cách mạng tiến công , ý chí tự lực, tự cường, phát huy mọi tiềm năng và trí tuệ, tận dụng thời cơ, vượt qua thách thức, quán triệt và thực hiện tốt các phương hướng
cơ bản »
VD: Hiện nay, công tác triển khai ứng dụng CNTT ngày càng phát triển mạnh
mẽ, áp dụng rộng rãi trong các ngành, các lĩnh vực trong xã hội, trong đó có việc ứng dụng CNTT trong thực hiện cải cách thủ tục hành chính nhưng việc áp dụng các cơ quan nhà nước còn rất hạn chế
Nguyên nhân của bệnh bảo thủ trì trệ
- Về mặt nhận thức: sự yếu kém lạc hậu về tư duy lý luận
- Về lịch sử- xã hội: xuất phát điểm của nước ta quá thấp, nền sx nhỏ với trình độ lạc hậu; chế độ phong kiến kéo dài; đất nước trải qua nhiều cuộc chiến tranh kéo dài ảnh hưởng đến tốc độ phát triển kt và trình độ cán bộ
- Bệnh kiêu ngạo cộng sản: thực chất là lối suy nghĩ nông cạn, hời hợt, máy móc của người đảng viên, chỉ nghĩ đến việc sử dụng mệnh lệnh hành chính, ko tính đến sự tác động của quy luật kinh tế xh; cách hiểu cực đoan về đấu tranh giai cấp, khuếch đại mặt bạo lực của đấu tranh giai cấp
Phương hướng khắc phục bệnh bảo thủ trì trệ
- Đổi mới tư duy lý luận nhất là tư duy về CNXH và con đường đi lên CNXH ở nước ta
- Phải tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan, nâng cao năng lực nhận thức và vận dụng quy luật, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ của đảng viên
- Tăng cường phát huy dân chủ, phát huy tiềm năng của đội ngũ cán bộ khkt, khoa học quản lý nhằm đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH-HĐH
- Phải củng cố, bồi dưỡng tình cảm ý chí cách mạng trong toàn đảng toàn dân
Vì sao Không có ngôn ngữ thì không thể có ý thức ? Nhờ có ngôn ngữ con người
mới có thể khái quát hoá, trừu tượng hoá , mới có thể tách rời suy nghĩ cảm tính Cũng nhờ
có ngôn ngữ, kinh nghiệm được truyền từ đời này sang đời khác Chính vì vậy, ý thức không chỉ là một hiện tượng mang tính cá nhân mà là hiện tượng mang tính xã hội Do đó không có ngôn ngữ thì ý thức không thể hình thành và phát triển được
Tính năng động, sáng tạo của ý thức thể hiện trên cơ sở phản ánh hiện thực ở các khía cạnh sau :
- Ý thức là sự phản ánh khái quát trừu tượng, gián tiếp được thể hiện thông qua vỏ chất chất của nó là ngôn ngữ
- Sự phản ánh của ý thức không chỉ là sự sao chép, liệt kê những hiện tượng, những mối liên hệ bên ngoài, mang tính ngẫu nhiên của đối tượng sự phát triển của ý thức là một quá trình con người không ngừng tìm kiếm, tích lũy những hiểu biết mới, đầy đủ hơn, sâu sắc hơn về bản chất và quy luật của thế giới
- Sự phản ánh sáng tạo của ý thức gắn liền với nhu cầu đa dạng của cuộc sống và hoạt động thực tiễn phong phú của con người Căn cứ vào sự vận động và phát triển của thực tiễn, hiện thức khách quan, ý thức con người có thể dự báo những việc sẽ xãy ra trong tương lai, nhờ đó con người có thể chủ động và tư giác hơn
- Tính sáng tạo của ý thức còn thể hiện ở chổ thông qua hoạt động thực tiễn của con người ý thức tác động làm biến đổi thế giới
Trang 11Câu 4: Trình bày mối quan hệ biện chứng giữ vật chất và ý thức Ý nghĩa phương pháp luận Sự vận dụng của Đảng ta?
Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức là vấn đề cơ bản của triết học Triết học duy vật biện chứng giải quyết mối quan hệ giữa vật chất và ý thức theo lập trường duy vật biện chứng ở các nội dung sau:
+ Bộ óc con người là cơ quan vật chất của ý thức
+ Các sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan là đối tượng phản ánh, chúng đươ ̣c phản vào bộ óc con người và hình thành ý thức (tức là hình thành hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan)
+ Hoạt động thực tiễn, hoạt động sản xuất của cải vật chất là nền tảng vật chất của
xã hội đồng thời cũng là nền tảng của sự hình thành và phát triển của ý thức
- Thứ hai, Vật chất quyết định nội dung và xu hướng phát triển của ý thức Ý thức là
hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan Chính hoạt động thực tiễn vật chất của con người luôn đòi hỏi và định hướng cho sự phát triển của ý thức
- Thứ ba, Vật chất còn là điều kiện để hiện thực hóa ý thức, tư tưởng Bản thân ý
thức không thể thực hiện được bất kỳ một biến đổi nào trong hiện thực ý thức chỉ trở thành sức mạnh vật chất, sức mạnh cải tạo hiện thực thông qua việc tổ chức hoạt động thực tiễn, bằng việc khai thác, sử dụng hợp lý các điều kiện, phương tiện vật chất cần thiết cho hoạt động
2- Sự tác động trở lại của ý thức đối với vật chất
Vai trò năng động sáng tạo, sự tác động trở lại của ý thức đối với vật chất thể hiện ở
3 điểm sau :
- Thứ nhất, Khi đã hình thành, ý thức có vai trò định hướng cho con người trong
việc xác định mục tiêu, tìm kiếm giải pháp, bước đi, lựa chọn phương án hành động tối ưu nhất và sử dụng các điều kiện vật chất cần thiết để làm biến đổi chúng, đạt mục tiêu đã đặt ra
- Thứ hai, Sự tác động trở lại của ý thức đối với vật chất có thể theo 2 khuynh
hướng sau :
+ Nếu ý thức phản ánh đúng hiện thực khách quan, con người nhận thức đúng các
quy luật khách quan, ý chí, động cơ đúng…và thông qua cơ chế tổ chức hoạt động thực
tiễn phù hợp thì đó sẽ là điều kiện thúc đẩy cùng chiều đối với sự phát triển của sự vật mà
ta muốn cải tạo nó
+ Ngược lại, Nếu ý thức phản ánh không đúng hiện thực khách quan, ý thức lạc hậu, phản khoa học, con người không có ý chí, không có nhiệt tình, động cơ sai thì sẽ kìm hãm, cản trở, thậm chí phá hoại sự phát triển bình thường của sự vật.
- Thứ ba, Vai trò năng động sáng tạo của ý thức tư tưởng không phải là ở nó thoát
ly sự phản ánh, nó trực tiếp tạo ra hay thay đổi thế giới vật chất Đó là sự sáng tạo trên nên tảng của sự phản ánh, trên cơ sở dựa vào những điều kiện vật chất, biết nhận thức và vận dụng đúng quy luật khách quan ; biết dự báo và tìm những biện pháp hữu hiệu để loại trừ những sự cản trở trên con đường đạt đến mục tiêu
Trang 123- Ý nghĩa phương pháp luận:
* Nguyên tắc (quan điểm) khách quan trong nhận thức và hành động
- Nguyên tắc khách quan là yêu cầu có tính bắt buộc nhằm đảm bảo sự thành công của hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn mức độ thành công của các hoạt động nhiều hay ít trước hết và cơ bản phụ thuộc vào việc vận dụng quan điểm này đúng hay sai
Trong nhận thức và thực tiễn, chúng ta phải quán triệt nguyên tắc khách quan, tức là toàn bộ hoạt động nhận thức và thực tiễn phải xuất phát từ thực tế khách quan, hành động theo quy luật khách quan, lấy thực tế khách quan làm căn cứ cho mọi hoạt động của mình Phải có thái độ tôn trọng sự thật, không được lấy ý muốn chủ quan của mình làm chính sách, không được lấy tình cảm của mình làm xuất phát điểm cho chiến lược, sách lược cách mạng
Yêu cầu phải xuất phát từ khách quan nghĩa là toàn bộ hoạt động của con người phải dựa trên việc phát hiện, khai thác và sử dụng sức mạnh của các yếu tố sau :
+ Những điều kiện hoàn cảnh vật chất khách quan : Tiềm năng tài nguyên ; điều kiện địa lý ; khí hậu, bối cảnh quốc tế,
+ Những quan hệ vật chất khách quan trong đời sống xã hội : quan hệ sản xuất ; quan hệ giai cấp ; quan hệ kinh tế-vật chất ;
+ Những quy luật khác quan bao gồm cả những quy luật tự nhiên và quy luật xã hội,
cả những quy luật được nhận thức và chưa được nhận thức
* Phát huy tính năng động, sáng tạo của ý thức và vai trò nhân tố chủ quan :
- Việc thực hiện nguyên tắc khách quan còn đòi hỏi phải phát huy tính năng động sáng tạo của ý thức, của nhân tố chủ quan
- Thông qua việc phát huy tính năng động sáng tạo của ý thức, nhân tố chủ quan, bằng việc tổ chức các hoạt động phù hợp, con người thực hiện sự biến đổi từ cái ‘vật tự nó’ tức
là thực tại khách quan nguyên thủy thành cái ‘vật cho ta’ tức là cái để phục vụ cho nhu cầu nào đó của con người
- Sức mạnh của việc phát huy vai trò năng động sáng tạo của nhân tố chủ quan thể hiện
ở sự tác động tổng hợp các yếu tố sau:
+ Thứ nhất, tri thức-năng lực nhận thức và vận dụng các quy luật khách quan – đây là
yếu tố cơ bản nhất của nhân tố chủ quan
+ Thứ hai, ý chí, tình cảm, nhiệt tình, động cơ hành động của con người là những yếu tố
có vai trò rất quan trọng có tác dụng định hướng, phát huy sức mạnh của nhân tố chủ quan
+ Thứ ba, năng lực tổ chức hoạt động thực tiễn – đây là điều kiện để thực hiện sự
chuyển hóa sức mạnh cải tạo hiện thực trong thực tế
- Thông qua mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức, trong hoạt động nhận thức
và thực tiễn giúp chúng ta tránh mắc phải 2 khuynh hướng sai lầm cực đoan đó bệnh chủ quan duy ý chí và bệnh bảo thủ trì trệ
+ Bệnh chủ quan duy ý chí: là khuynh hướng thổi phồng, tuyệt đối hóa vai trò của
nhân tố chủ quan, bất chấp quy luật khách quan, điều kiện khách quan Cường điệu tính sáng tạo của ý thức, ý chí, xa rời hiện thực khách quan, lấy nhiệt tình cách mạng thay thế cho sự yếu kém về tri thức khoa học
Sai lầm của bệnh này là lối suy nghĩ và hành động giản đơn, nóng vội, chạy theo nguyện vọng chủ quan, sai lầm này thể hiện trong việc định ra đường lối chủ trương chính sách và chọn phương pháp tổ chức thực hiện theo hướng áp đặt
Trang 13+ Bệnh bảo thủ trì trệ: là khuynh hướng cường điệu hóa vai trò quyết định của vật
chất, sùng bái sức mạnh của quy luật, hạ thấp vai trò của nhân tố chủ quan Khuynh hướng này sẽ dẫn tới việc ngại gian khổ, khuất phục trước khó khăn, hoàn cảnh khách quan
Biểu hiện của bệnh này là tình trạng ỷ lại, dựa dẫm, chờ đợi, ngại đổi mới, thậm chí cản trở đổi mới, thỏa mãn với cái đã có
4- Sự vận dụng của Đảng ta
Dựa trên mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức, ý nghĩa phương pháp luận, Đảng ta đã nhận thức rõ nguyên nhân của những sai lầm trong giai đoạn trước đổi mới, đồng thời đề ra những phương hướng khắc phục căn bệnh chủ quan duy ý chí, bảo thủ trì trệ gắn liền với tệ quan liêu
4.1 Bệnh chủ quan duy ý chí: Là khuynh hướng tuyệt đối hóa vai trò của nhân
tố chủ quan, cường điệu tính sáng tạo của ý thức, của ý chí, xa rời hiện thực khách quan, bất chấp quy luật khách quan, lấy nhiệt tình cách mạng thay thế cho sự yếu kém
về tri thức khoa học.
Nội dung và biểu hiện:
Sai lầm của bệnh chủ quan duy ý chí là lối suy nghĩ và hành động giản đơn, nóng vội, chạy theo nguyện vọng chủ quan; thể hiện rõ trong khi định ra những chủ trương, chính sách và lựa chọn phương pháp tổ chức họat động thực tiễn theo hướng
áp đặt, rơi vào ảo tưởng, chủ quan Ví dụ như : mục tiêu đặt ra quá cao, biện pháp không có tính khả thi v.v Ngòai ra bệnh chủ quan duy ý chí còn do nguồn gốc lịch
sử, xã hội, giai cấp, tâm lý của người sản xuất nhỏ chi phối Cơ chế quan liêu bao cấp cũng tạo điều kiện cho sự ra đời của căn bệnh này
Bệnh chủ quan duy ý chí là một sai lầm khá phổ biến ở nước ta và ở nhiều nước XHCN trước đây, gây tác hại nghiêm trọng đối với sự nghiệp xây dựng CNXH Bệnh chủ quan duy ý chí cũng là 1 khuynh hướng sai lầm, ngược lại với bệnh bảo thủ trì trệ,
nó thổi phồng, tuyệt đối hóa vai trò của nhân tố chủ quan, quá đề cao, cường điệu tính sáng tạo của ý thức, của ý chí, xa rời hiện thực khách quan, bất chấp quy luật khách quan, điều kiện khách quan, lấy nhiệt tình cách mạng thay thế cho sự yếu kém về trí thức khoa học Sai lầm của bệnh chủ quan duy ý chí là lối suy nghĩ và hành động giản đơn, nóng vội chạy theo nguyện vọng chủ quan Sai lầm đó thể hiện rõ trong khi định
ra chủ trương chính sách và lựa chọn phương pháp tổ chức hoạt động thực tiễn theo hướng áp đặt ý chí vào thực tế, lấy ảo tưởng chủ quan thay cho hiện thực
Trước thời kỳ đổi mới (ĐH6), Đảng ta đã mắc bệnh chủ quan, duy ý chí trong
việc xây dựng mục tiêu và bước đi về xây dựng cơ sở vật chất kỷ thuật, cải tạo XHCN
và quản lý kinh tế, Đảng ta đã nóng vội muốn xóa bỏ ngay nền kinh tế nhiều thành phần, muốn sau khi cải tạo XHCN chỉ còn lại hai thành phần kinh tế quốc doanh và tập thể hay có lúc đẩy mạnh quá mức việc xây dựng công nghiệp nặng mà không chú
ý phát triển công nghiệp nhẹ, chúng ta đã duy trì quá lâu cơ chế quản lý kinh tế tập trung quan liêu bao cấp cơ chế xin cho, có nhiều chủ trương sai trong việc cải cách giá
cả, tiền lương, tiền tệ
Bệnh chủ quan duy ý chí và bệnh bảo thủ trì trệ là một thực tế tồn tại trong thời kỳ khá dài trước đổi mới (trước Đại hội lần VI tháng 12-1986) Trong giai đoạn này, tình trạng khủng hoảng kinh tế xã hội ngày càng trầm trọng xuất phát từ nguyên nhân chủ quan, bắt nguồn từ những sai lầm nghiêm trọng và kéo dài mà trong đó sai lầm do chủ quan duy ý chí và bảo thủ có tác hại rất lớn
Trang 14Đại hội VI của Đảng (1986) Đảng đã chỉ rõ bài học kinh nghiệm trong thực tiễn cách mạng ở nước ta là muốn đảm bảo thành công thì phải vận dụng đúng nguyên tắc khách quan “Đảng phải luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo quy luật
là điều kiện đảm bảo sự dẫn đầu của Đảng” (Văn kiện Đại hội Đảng lần VI trang 30) Đây là sự thừa nhận vai trò quyết định của vật chất và các quy luật khách quan vốn có của nó trong việc đề ra các chế định, chủ trương, chính sách vào thực tế của công cuộc xây dựng đất nước ta
- Hướng khắc phục: Để khắc phục bệnh chủ quan duy ý chí chúng ta phải tiến
hành đồng bộ nhiều biện pháp Trước hết là đổi mới tư duy lý luận, nhất là tư duy về CNXH, về con đường đi lên CNXH ở nước ta, đẩy mạnh công tác tổng kết thực tiễn
để phát triển lý luận, dùng lý luận để hướng dẫn, giải thích những vấn đề do thực tiễn đặt ra, phải tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan; Đổi mới tòan diện, đồng
bộ và triệt để với những hình thức, bước đi và cách làm phù hợp, lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm; tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan, nâng cao năng lực nhận thức và bận dụng quy luật, tăng cường phát huy dân chủ, phát huy tiềm năng, trình độ chính trị, chuyện môn nghiệp vụ, quản lý của cán bộ khoa học kỹ thuật, cán
bộ Đảng viên nhằm đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; Đổi mới, nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam trong điều kiện mới, củng cố, bồi dưỡng tình cảm, ý chí cách mạng trong tòan Đảng, tòan dân; xây dựng và kiện tòan bộ máy nhà nước trong sạch, vững mạnh
4.2 Bệnh bảo thủ trì trệ: là khuynh hướng sai lầm cực đoan do cường điệu hóa
vai trò quyết định của vật chất, sùng bái sức mạnh của quy luật, hạ thấp vai trò của nhân tố chủ quan, ngại gian khổ, bó tay khuất phục trước khó khăn, trước hoàn cảnh khách quan
Nội dung và biểu hiện bệnh bảo thủ trì trệ:
Qua nghiên cứu nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển Theo quan điểm của phép duy vật biện chứng, mọi sự vận hiện tượng đều tồn tại bằng cách tác động nhau, ràng buộc nhau, quy định và chuyển hóa lẫn nhau; tất cả đều vận động, biến đổi, phát sinh ( phát triển ) và mất đi
Phát triển là một phạm trù triết học dùng để khái quát hóa quá trình vận động tiến lên từ thấp tới cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hòan thiện đến hòan thiện hơn Quan điểm duy vật biện chứng khẳng định rằng thế giới vật chất luôn luôn vận động và phát triển đi lên, sự vận động không ngừng là khuynh hướng chung của mọi
sự vật hiện tượng Nguồn gốc của sự phát triển nằm ngay trong bản thân của sự vật,
do mâu thuẩn của sự vật quy định, là quá trình tự thân của mỗi sự vật hiện tượng Do vậy, phát triển là một quá trình khách quan độc lập với ý thức của con người Vì thế, khi xem xét các sự vật hiện tượng phải đặt nó trong sự vận động, sự phát triển, phải phát hiện ra các xu hướng biến đổi chuển hóa của chúng
Quán triệt quan điểm về sự phát triển chúng ta cần phải khắc phục, phê phán
“bệnh” bảo thủ, trì trệ, định kiến
Biểu hiện của bệnh bảo thủ trì trệ là tình trạng ỷ lại, dựa dẫm, chờ đợi, ngại
đổi mới, thậm chí cản trở cái mới, bằng lòng thỏa mãn với cái đã có Bệnh bảo thủ trì trệ bao giờ cũng gắn liền với bệnh chủ quan duy ý chí, bệnh kinh nghiệm, bệnh giáo điều, là bạn đồng hành của chủ nghĩa quan liêu, chủ nghĩa cá nhân, bệnh gia trưởng và độc đoán Đó là những nguyên nhân làm cản trở, thậm chí kéo lùi sự phát triển