Nội dung cuốn sách này được xây dựng trên cơ sở các tài liệu về chính sách đô thị từ các hội thảo quốc tế, các hội nghị toàn quốc về quản lý đô thị do Bộ Xây dựng chủ trì tổ chức, các d
Trang 4LỜI NÓI ĐẦU
Nước ta đang trong quá trình công nghiệp hóa, quá trình công nghiệp hỏa cũng là quá trình đô thị hóa Nền kinh tế nước ta lại đang trong quá trình chuyển đổi từ cơ chế hành chinh bao cấp qua cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa Quản lý
đô thị trong bối cảnh nền kinh tế - xã hội phát triên nhanh và có nhiều thay đôi như thê tất yếu gặp rất nhiều khó khăn phức tạp Nhu cầu học tập và bồi dưỡng kiến thức về quàn lý đô thị cho cán bộ công chức trở nên rất cấp thiết.
Trong hệ thống kiến thức về quản lý đô thị, chính sách đô thị được coi là các kiến thức cơ bản, nó trang bị cho cán bộ quản lý một tầm nhìn bao quát về đô thị, một hệ thống các quan diêm và giải pháp cơ bản đế cải tạo và phát trien đô thị, những van đề chiến lược nhát của đô thị Trên cơ sở đó sẽ dề dàng tiếp thu và vận dụng một cách có
hệ thong và sâu sắc các kiến thức, pháp luật và nghiệp vụ chuyên môn trong công tác quản lý đô thị.
Nội dung cuốn sách này được xây dựng trên cơ sở các tài liệu về chính sách đô thị từ các hội thảo quốc tế, các hội nghị toàn quốc về quản lý đô thị (do Bộ Xây dựng chủ trì
tổ chức), các dự án nâng cao năng lực quy hoạch và quản lý đô thị do Chương trình phát triển Liên hiệp quốc (UNDP), Ngân hàng Thế giới (WB) và một số nước phát triển tài trợ, các để tài nghiên cứu trong chương trình Quản lý đô thị của TP Hô Chí Minh, các tài liệu có liên quan khác và kinh nghiệm 15 năm (1989 - 2004) trực tiếp tham gia quàn lý xây dựng theo quy hoạch tại TP Hồ Chí Minh của tác giả.
Cuốn sách này có thể dược dùng làm tài liệu tham khảo cho cán bộ công chức, học viên các lóp bồi dưỡng kiến thức về quản lý đô thị, học viền cao học và sinh viên các trường đại học và cao đẳng về quản lý dô thị và đông đảo bạn đọc quan tâm đến lĩnh vực này.
Tác giả xin chân thành cảm ơn các bạn đồng nghiệp, bạn đọc và Nhà xuất bản Xây dựng đã góp ý kiến sau lần xuất bán đầu tiên năm 2006 Trên cơ sở các ý kiên đó tác giả đã cập nhật và sửa đổi nhiều nội dung quan trọng trong lần tái bán này Tuy nhiên thực tiễn luôn biến đổi, cuốn sách chắc chan còn nhiều khiếm khuyết, mong sẽ tiếp tục nhận được nhiều ý kiến phê bình của quỷ độc giả, xin chân thành cảm ơn.
Tác giả
Trang 5CHỮ VIẾT TẮT
Tiếng Anh
ADB - Asian Development Bank (Ngân hàng Phát triển Châu Á)
BOT - Build Operate Transfer (Xây dựng - Khai thác - Chuyển giao)
CDS - City Development Strategy (Chiến lược phát triển đô thị)
GDP - Gross Domestic Product (Tổng sản phẩm nội địa)
HDI - Human Development Index (Chỉ tiêu phát triển con người)
IMF - International Monetary Fund (Quỹ Tiền tệ quốc tế)
ISO - International Standards Organization (Tổ chức Tiêu chuẩn quốc tế)
MRT - Massive Rapid Transport (Giao thông khối lớn tốc độ cao)
ODA - Official Development Assistance (Viện trợ phát triển chính thức)
UNCHS - United Nations Committee o f Human Settlements (Uy ban định cư liên
hiệp quốc)UNDP - United Nations Development Programme (Chương trình Phát triển Liên hiệp quốc) UNESCO - United Nations Educational, Scieutific and Cultural
Organization (Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa liên hiệp quốc)
UNEP - United Nations Environmental Programme (Chương trình Môi trường Liên
hiệp quốc)
WB - World Bank (Ngân hàng thế giới)
WHO - World flealth Organization (Tổ chức Y tế thế giới)
WTO - World Trade Organization (Tổ chức thương mại quốc tế)
Trang 6QHC - Quy hoạch chung
QHCT- Quy hoạch chi tiết
Trang 8P H Ầ N M Ở Đ Ầ U
I CIIÍNII SẢCII DÔ THỊ VÀ QUẢN LÝ ĐÔ THỊ
1 Chính sách đô thị (Urban policy)
Từ điển Anh - Việt Viện Ngôn ngừ học, do Hồ Hải Thụy, Chu Khắc Thuật, Cao Xuân Phố chủ biên (Nhà xuất bản Tổng họp TP Hồ Chí Minh) có định nghĩa từ policy:
“kế hoạch hành động, sự trình bày các ý tưởng v,v do một chính phú, đảng chính trị,
tô chức doanh nghiệp v,v đ ư a ra hoặc áp dụng - chính sách”
Từ “chính sách” có thể hiểu theo kiểu: Chính sách = chính + sách
Sách là dối sách, là cách ứng xử theo nghĩa các từ như “phương sách”, “sách lược” Còn chính là chính trị, chính quyền, chính đảng Như vậy theo nghĩa hẹp chính sách là cách ứng xử, cách xử lý các vấn đề do một tổ chức chính trị đưa ra (sau này mở rộng cho mọi tổ chức khác kể cả doanh nghiệp, hoặc cá nhân) Theo nghĩa rộng được sử
dụng trong cuốn sách này, chính sách đô tlụ là hệ thống các quan điém, mục tiêu, và giải pháp (bao gồm định hưởng hành động) của chính quyền về đô thị nhằm đạt mục tiêu quan lý cùa mình.
Chính sách đô thị có nghĩa rộng hơn chính sách quản lý đô thị Đối tượng của chính sách dô thị là dô thị Đối tượng của chính sách quản lý đô thị là công tác quản lý dô thị
Đe hiểu rõ chính sách dô thị, ta cần nghiên cứu nguồn gốc của chính sách Dó là hệ thống các quan điểm chính trị, các giải pháp cơ bản thường đã có sẵn trong hệ thống các chính sách vĩ mô của quốc gia Từ các quan điểm cơ bản và các chính sách vĩ mô dó, đối chiếu với thực trạng và xu hướng phát triển của đô thị, đồng thời trên cơ sở khoa học về cấu trúc dô thị, ta dưa ra các mục tiêu quản lý và các giải pháp đê đạt đen mục tiêu Khái quát quá trình hình thành chính sách đô thị như sơ dồ hình 0 - 1
Sơ dồ hình 0 - lcũng diễn tả quá trình thực hiện quản lý dô thị sau khi có chính sách Đối với một nhà nước pháp quyền, về cơ bàn muốn các chính sách được thực hiện trong
dô thị, Nhà nước phải thể chế hóa các chính sách thành pháp luật và quy hoạch, kế hocạch dể thực hiện
Sơ đồ hình thành chính sách dô thị về cơ bcàn tương tự sơ đồ thiết kế quy hoạch đô thị Chính sách vĩ mô chính là đường lối chung của Đảng và Nhà nước liên quan tới đô thị sẽ được cụ thể hóa thành quan điểm, mục tiêu của chính sách đô thị Trên cơ sở quan điểm và mục tiêu đó, đối chiếu vào thực trạng bên trong và bcn ngoài đô thị, xu hướng phát triển cùa dô thị để đề ra các chính sách Bên cạnh đó, người làm chính sách cần am hiểu khoa học về cấu trúc đô thị, khoa học về dự báo phát triển kinh tế, xã hội và kinh nghiệm theo chiều dài lịch sử phát triển đô thị trong nước và trên thế giới
Trang 9Hình 0-1 Sơ đồ hình thành chính sách đô thị và thực hiện quàn lý đô thị
Đối tượng của chính sách đô thị là tất cả các vấn đề của đô thị trên ba lĩnh vực bao quát nhất là kinh tế, xã hội và môi trường Tuy nhiên với quan điểm “Nhà nước tạo điều kiện”, những gì mà chỉ bằng nỗ lực của cá nhân công dân không tự làm được thì Nhà nước phải tạo điều kiện và phải có chính sách ở đó Do đó chính sách đô thị sẽ tập trung vào bốn nhiệm vụ chức năng cơ bản của Nhà nước là đảm bảo về hạ tầng đô thị, bảo vệ môi trường, tạo điều kiện cho các thị trường và chăm lo cho người nghèo (sẽ được trình bày kỹ hơn ở chương sau)
2 Quản lý đô thị
Quản lý đô thị là một quá trình hoạt động để đi đến mục tiêu đảm bảo cho đô thị phát triển ổn định bền vững, đảm bảo hài hòa các lợi ích quốc gia, cộng đồng và cá nhân trước mắt và lâu dài
Quá trình hoạt động quản lý là một quá trinh xây dựng pháp luật và thực hiện pháp luật, là một quá trình huy động nhân tài vật lực của đô thị, tận dụng các thời cơ, chế ngự các nguy cơ để phục vụ cho việc cải tạo và phát triển đô thị, nâng cao không ngừng đời sống nhân dân
Nội dung quản lý đô thị bao gồm quản lý hành chính (hành chính công) và quản lý
kỹ thuật đô thị Nói cách khác nghiệp vụ quản lý đô thị bao gồm nghiệp vụ hành chính công và nghiệp vụ quản lý kỹ thuật đô thị Nghiệp vụ kỹ thuật đô thị là nghiệp vụ cùa các nhà chuyên môn kỹ thuật nhằm đảm bảo hoạt động của hệ thống hạ tầng đô thị Nghiệp vụ hành chính đô thị đảm bào sự vận hành của đô thị trên tất cả các lĩnh vực, là nội dung cơ bản của quản lý đô thị
Chính sách đô thị là nền tảng của hệ thống pháp luật, cũng là nền tảng của nghiệp vụ quản lý đô thị và của nền hành chính đô thị
8
Trang 10II ĐÓI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN cứu
Đối tượng nghiên cứu của tài liệu này là các chính sách đô thị phục vụ công tác quản
lý đô thị Nghiên cứu các chính sách là phải trả lời được câu hỏi: “Tại sao lại có các chính sách đó?” Nghĩa là phải nghiên cứu các quy luật của đô thị, nắm được cơ sở khoa học của các chính sách đô thị để phục vụ công tác quản lý đô thị
Để nắm được cơ sở khoa học của các chính sách đô thị, cần nắm được các quy luật
cơ bản vận động trên từng lĩnh vực hoạt động của đô thị Hệ thống các quy luật đó
chính là khoa học về đô thị, hay đô thị học Đây là một lĩnh vực khoa học tổng hợp, nó
liên quan tới tất cả các lĩnh vực khoa học có liên quan tới đô thị Một cách khái quát, nó
là vùng chính giữa nối kết với các lĩnh vực khoa học rộng lớn là kinh tể, xã hội, khoa học tự nhiên và môi trường như hình 0 - 2
Khoa học về đô thị hiện nay chủ yếu bao gồm 10 lĩnh vực sau đây:
1 Vấn đề tăng trưởng đô thị và đô thị hóa
2 Thị trường đô thị (còn gọi là kinh tế học đô thị)
3 Quy hoạch kiến trúc và xây dựng đô thị
9 Xã hội đô thị và người nghèo (xã hội học đô thị)
10 Quản lý nhà nước đô thị
Hình 0- 2 Quan hệ giữa các lĩnh vực khoa học trong đô thị
Trang 11Các lĩnh vực trên cùng là các lĩnh vực quản lý đô thị Trong mồi lĩnh vực đều phái có chính sách quàn lý Tuy nhiên trong nền kinh tế thị trường vai trò chù yếu của Nhà nước
là tạo điều kiện nên tài liệu này chỉ tập trung giới thiệu các chính sách liên quan tới việc
tạo điều kiện của Nhà nước Đó là các chính sách về : (1) Tăng trưởng đô thị đô thị hóa, (2) Quy hoạch kiến trúc và xây dựng, (3) Hạ tầng và dịch vụ đô thị (4) Đất đai, (5) Nhà ở (6) Tài chính và (7) Quản lý nhà nước đô thị Kinh tế học đô thị, xã hội học đô thị và khoa học về môi trường là ba lĩnh vực khoa học lớn và bao trùm, trong tài liệu này chỉ giới thiệu những vấn đề kinh tế, xã hội và môi trường có liên quan đến 7 chính sách đô thị nêu trên
III MỤC TIÊU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cửu
Mặc dù đối tượng nghiên cứu của quyển sách này là các chính sách phục vụ công tác quản lý đô thị, tuy nhicn mục tiêu của nó không phải là nhằm trang bị kiến thức chi tiết,
cụ thể dể thực hiện các nghiệp vụ quản lý đô thị Mục tiêu của quyển sách này hướng tới việc cung cấp cho bạn đọc những thông tin cơ bản về đô thị, các quan diêm, mục tiêu cũng như các giải pháp cơ bản của Nhà nước để quản lý đô thị Những thông tin
này giúp bạn đọc có dược tầm nhìn bao quát và hệ thống về dô thị và quản lý đô thị, từ
đó có cơ sở khoa học để dễ dàng tiếp thu và vận dụng các kiến thức, pháp luật và kỹ năng quản lý trên từng cương vị công tác cụ thể của mình
Khi nghiên cứu tài liệu này, bạn đọc cần đứng ở vị trí người có trách nhiệm quản lý
sự phát triển của đô thị, thường xuyên liên hệ những vấn đề được nêu tromỉ tài liệu với thực tế đô thị Dô thị đang tồn tại và vận dộng quanh ta Các kiến thức dược dúc kết thường lạc hậu so với thực tiễn Do đó để vận dụng được kiến thức rất cần xem xét các bối cảnh cụ thể trong thực tế, trà lời các càu hỏi thực tiễn thường xuyên đặt ra cho mỗi chúng ta
10
Trang 12Chuong 1
DÔ T in , ĐÔ THỊ HÓA VÀ VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC
1.1 KHÁI NIỆM VÊ ĐÔ THỊ
1.1.1 Định nghĩa đô thị
Đô thị là tên gọi chung các thành phố, thị xã, thị trấn và được hiểu là nơi tập trung dân cư đông đúc, là trung tâm của một vùng lãnh thổ với hoạt động kinh tế chủ yếu là công nghiệp và dịch vụ Hiện nay chưa có định nghĩa chính xác và bao quát về đô thị Phàm những khái niệm phức tạp khó có định nghĩa chính xác Tuy nhiên có hai cách xác định một vùng lành thổ nào đó có phải là đô thị hay không Cách thứ nhất là theo cấu trúc Theo cách này có hai tiêu chí được sử dụng để làm rõ khái niệm về đô thị, đó
là độ kết tụ (agglomeration) và ngưỡng dân so (Population threshold)
Độ kết tụ biểu hiện mức dộ tập trung các công trình và nhà ở Một khu vực nào đó
được coi là đô thị khi các công trinh và nhà ở trong khu vực này phải nằm kề sát nhau Tuy nhiên nằm sát nhau tới mức nào thì còn tùy điều kiện và cách xác định của mồi nước Ví dụ ở Pháp, một ngôi nhà được coi là thuộc dô thị A nếu nó cách ngôi nhà gần nhất nằm trong A dưới 200m Không gian chứa các công trình đô thị này được gọi là
không gian cấu trúc đô thị, là khu vực tập trung công trình đạt mức độ kết tụ nêu trên Ngưỡng dân số là số dân tối thiểu cư trú trong ranh giới đô thị được xác định bàng độ
kết tụ nêu trên Cũng ở Pháp, một điểm cư dân được coi là đô thị khi số dân > 2000 người [97]
Cách thứ hai là xác định đô thị theo hành chính, phân biệt ranh giới đô thị bằng ranh
giới hành chính Ranh giới hành chính đô thị có thế cắt qua không gian cấu trúc đô thị,
có the bao bọc vùng lãnh thổ rộng lớn bên ngoài không gian cấu trúc đô thị Ranh giới
đô thị theo hành chính có tính chủ quan, do ý chí của Nhà nước Ranh giới đô thị theo cấu trúc có tính khách quan, phụ thuộc độ kết tụ của đô thị Tiêu chuẩn, quy chuẩn quy hoạch đô thị là theo cấu trúc đô thị, các quy định về quản lý kinh tế - xã hội lại theo ranh giới hành chính
Ờ nước ta, theo khoản 1, điều 3 Luật Quy hoạch đô thị [42] đã định nghĩa: “Đô thị là nơi tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh
tế phi nông nghiệp; là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hóa hoặc chuyên ngành; có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh
Trang 13thổ, một địa phương; bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phố, nội thị, ngoại thị của thị xã, thị trấn”.
Nghị định 72/2001/NĐ-CP ngày 05/10/2001 của Chính phủ về việc phân loại đô thị
và phân cấp quản lý đô thị [68] đã đưa ra 5 tiêu chuẩn để xác định một điểm dân cư là
đô thị:
1 Là trung tâm tổng họp hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy phát triển kinh tế -
xã hội,
2 Dân số > 4000 người,
3 Lao động phi nông nghiệp > 65%,
4 Cơ sờ hạ tầng kỹ thuật và xã hội đạt hơn 70% mức tiêu chuẩn, quy chuẩn đối với từng loại đô thị,
5 Mật độ dân số đủ cao (tùy theo tùng vùng)
Các thành phố, thị xã, thị trấn được xác định bằng ranh giới hành chính Trong ranh giới hành chính đó, nội thành, nội thị có thể coi là khu vực đô thị thuần khiết, là khu vực
đô thị theo hai tiêu chí về độ kết tụ và ngưỡng dân số nêu trên; khu vực ngoại thành, ngoại thị là khu vực nông thôn, nông lâm ngư nghiệp Khu vực ngoại thành, ngoại thị này có ý nghĩa rất lớn đối với toàn đô thị Trên khu vực này thường bố trí các mảng xanh, các khoảng không gian cách ly, các khu xử lý kỹ thuật và các khu đất dự trữ phát triển của đô thị
1.1.2 Phân loại đô thị
Các đô thị có mức độ lớn nhỏ khác nhau, vị trí và tầm quan trọng khác nhau, từ đó sẽ
có chế độ quản lý khác nhau Điều 4 Luật Quy hoạch đô thị quy định phân các đô thị thành sáu loại, gồm loại đặc biệt, loại I, II, III, IV và V Tiêu chuẩn cụ thể cho mỗi loại
do Chính phủ quy định theo năm tiêu chí nêu ở mục 1.1.1
Việc xác định cấp hành chính quản lý đô thị được quy định như sau:
a) Thành phố trực thuộc trung ương phải là đô thị loại đặc biệt hay loại I;
b) Thành phố thuộc tinh phải là đô thị loại I, loại II hoặc loại III;
c) Thị xã phải là đô thị loại III hoặc loại IV
d) Thị trấn phải là đô thị loại IV hoặc loại V
1.1.3 Cấu trúc không gian đô thị
Không gian đô thị là không gian chứa đựng đô thị Do có hai cách xác định đô thị
nêu trên nên cũng có hai khái niệm không gian đô thị, không gian cấu trúc và không gian lãnh thổ (hành chính) Không gian cấu trúc đô thị bao gồm không gian cấu trúc hiện hữu và không gian được quy hoạch để phát triển đô thị Không gian lãnh thổ đô thị
là không gian đô thị trong ranh giới hành chính
12
Trang 14c ấ u trúc đô thị bao gồm hệ thống các công trình hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng kinh tế, hạ tầng xã hội và các hoạt động kinh tế - xã hội trên hệ thống đó c ấ u trúc không gian đô thị bao gồm không gian và các công trình, các vật thể tự nhiên tồn tại trong không gian
đó Không gian đô thị được cấu trúc một cách cân đối để thỏa mãn nhu càu thẩm mỹ của con người tạo thành kiến trúc cảnh quan đô thị
Hệ thống hạ tầng kỹ thuật tạo thành bộ xương của đô thị, là cơ sở hình thành không gian cấu trúc đô thị
v ề mặt sử dụng đất, người ta chia không gian đô thị theo bốn loại công năng [79]:
- Đất sản xuất (đất công nghiệp)
- Đất công trinh công cộng và nhà ở (đất dân dụng)
- Đất giao thông
- Đất cây xanh, nghỉ ngơi, giải trí
Thiết kế cấu trúc không gian bao gồm việc chọn mô hình không gian phát triển chung và thiết kế cấu trúc không gian kiến trúc đô thị Hiện nay có một số mô hình phát triển không gian đô thị như:
- Mô hình tuyến, chuỗi đô thị (đô thị phát triển theo các trục giao thông),
- Mô hình đơn tâm lan tỏa (sprawl - đô thị phát triển lan tỏa theo các trục đường hướng tâm),
- Mô hình hướng tâm và vành đai, (vành đai nhàm tránh giao thông xuyên tâm),
- Mô hình đô thị trung tâm và vệ tinh, đô thị cực lớn (megacity)
- Mô hình vùng đô thị (Mega Urban Region - MUR)
Kiến trúc đô thị là tổ hợp các vật thể trong đô thị, bao gồm các công trình kiến trúc,
kỹ thuật, nghệ thuật, quảng cáo, cây xanh và mặt nước mà sự tồn tại, hình ảnh, kiểu dáng của chúng chi phối hoặc ảnh hưởng trực tiếp đến cảnh quan đô thị
Không gian kiến trúc đô thị bao gồm kiến trúc cảnh quan (landscape) và kiến trúc
công trình đô thị Kiến trúc cảnh quan thành tạo từ bốn thành phần cơ bản được tổ chức một cách hài hòa với nhau gồm: các công trình xây dựng (địa hình, địa vật), cây xanh, bầu trời và mặt nước Kiến trúc cùa mỗi công trình và bố cục các công trinh, quy mô và
vị trí cây xanh, mặt nước được thiết kế phù hợp với nhu cầu sống và hoạt động (nhu cầu tâm sinh lý với hai yếu tố cơ bản là tiện lợi và đẹp mắt) của người dân đô thị [23] Thiết
kế đô thị chính là thiết kế kiến trúc cảnh quan đô thị [42], đồng thời cũng thành tạo cái hồn của đô thị nhờ có các yếu tố văn hóa lịch sử làm cơ sở cho sáng tác kiến trúc
Khoa học về cấu trúc đô thị được chuẩn hóa trong bộ quy chuẩn, tiêu chuẩn quy hoạch và thiết kế đô thị [90] Quy hoạch đô thị dựa trên cơ sở khoa học về cấu trúc đô thị và tạo hình kiến trúc đô thị về tạo hình kiến trúc có thể tham khảo thêm tài liệu [77]
Trang 151.2 NHỬNG ĐẶC ĐIỂM c o BẢN CỦA ĐÔ THỊ
Đô thị có ba đặc điểm chung nhất và sẽ là tiền đề cơ bản cho các chính sách đô thị
1.2.1 Dô thị như một cơ thể sống
Đặc điểm này rứt ra từ tính chất đồng bộ và hoàn chỉnh của cấu trúc đô thị, của từng
bộ phận cũng như toàn cơ thể đô thị và đặc tính luôn luôn vận động của nó Các chức năng vận động của đô thị bao gồm toàn bộ các hoạt động của nền kinh tế - xã hội trên
cơ sở hệ thống hạ tầng đô thị nêu trên Giống như một cơ thể sống có “sinh, lão, bệnh, tử”, bất kỳ một sự trục trặc nào trong hệ thống cấu trúc cũng sẽ dẫn tới sự rối loạn trong các hoạt động của đô thị Neu như trong y học người ta định nghĩa: “bệnh là sự mất cân bằng giữa cơ thể và môi trường”, thì đô thị cũng có những căn bệnh do mất cân bàng như vậy Nếu như sức khỏe được coi là yếu tố quan trọng số 1 của đời người, thì sự cân bằng, ổn định, bền vững cũng là mục tiêu số 1 của đô thị
1.2.2 Đô thị luôn luôn phát triển
Đặc điểm này vừa biểu hiện tính “sống” của đô thị vừa biểu hiện sự gắn kết chặt chẽ giữa đô thị với xã hội loài người Sự hình thành và phát triển của các đô thị gắn liền với lịch sử phát triển của loài người, đặc biệt gắn liền với sự phát triển nền kinh tế hàng hóa
về ngôn ngữ, chữ “đô” có ý nghĩa là trung tâm, chữ “thị” có ý nghĩa là chợ - là trung tâm giao lưu trao đổi hàng hóa Xã hội loài người luôn luôn phát triển, kinh tế hàng hóa luôn luôn phát triển do đó đô thị luôn luôn phát triển Luôn luôn phát triển là đặc điểm chung và phổ biến của các đô thị, chỉ do gặp hoàn cảnh rất đặc biệt mới có những đô thị lụi tàn
Đặc điểm này cũng cho thấy sự hình thành, tồn tại và phát triển của đô thị chịu sự tác động mạnh mẽ của các quy luật kinh tế - xă hội, đặc biệt là các quy luật của nền kinh tế thị trường Các tác động này vừa là thời cơ, vừa là thách thức cho sự phát triển ổn định bền vững của các đô thị
1.2.3 Sự vận động và phát triển của đô thị có thể điều khiển được
Đặc điểm này cho thấy, mặc dù các đô thị được hình thành và phát triển theo các quy luật khách quan của nền kinh tế - xã hội, nhưng con người có thế tham gia và điều khiển được quá trình phát triển đó Nói cách khác, đô thị được coi là một hệ điều khiển; tuy nhiên đó là một hệ mở, một hệ điều khiển bán hoàn chỉnh Con người chỉ có thể điều khiển được sự hình thành, hoạt động và phát triển của đô thị theo đúng các quy luật khách quan của nó Con người có thể định hướng phát triển, có thể can thiệp vào sự vận động của đô thị nhưng không thể bắt đô thị vận động theo ý chí chủ quan trái quy luật của mình Nhờ có đặc điểm này ta mới có thể quản lý được sự vận động và phát triển của đô thị
14
Trang 161.3 ĐÔ THỊ HÓA VÀ CÁC THÁCH THỨC
1.3.1 Dô thị hóa
1.3.1.1 Khải niệm đô thị hóa và tăng trưởng đô thị
Đô thị hóa là quả trình phát triển đô thị ở một quốc gia Đô thị hóa bao gồm việc mở
rộng các đô thị hiện có và việc hình thành các đô thị mới Một khu vực lãnh thổ nào đó được “hóa” thành đô thị khi nó hội đủ năm tiêu chuẩn của đô thị (mục 1.1.1) Tuy nhiên
để đánh giá quá trình đô thị hóa người ta chỉ dựa trên hai tiêu chí liên quan đến dân số
đô thị là mức độ đô thị hóa và tốc độ đô thị hóa
Số dân đô thịMức độ đô thị hóa = - (%)
Ví dụ, theo kết quả điều tra dân số 0 giờ ngày 1/4/1999 và 1/4/2009 của nước ta như sau:
Mức độ đô thị hóa và tốc độ đô thị hóa phụ thuộc vào cách xác định phạm vi đô thị,
do đó có thể không hoàn toàn chính xác Ví dụ như do quan niệm về dân cư đô thị, như trình bày ở mục 1.1.1, nó có thể là số dân sống trong khu vực đô thị thuần khiết (nội thành, nội thị), có thể là số dân nằm trong ranh giới hành chính đô thị số dân đô thị tăng đột biến khi có một khu dân cư nào đó được công nhận là đô thị bàng một quyết định hành chính
Tăng trưởng đô thị là sự phát triển của đô thị Việc đánh giá tăng trưởng đô thị
thường trên cơ sở tăng dân số, cho nên nói đến tăng trưởng đô thị cũng là nói đến tăng dân số đô thị và ngược lại
Trên thế giới hiện nay có hai xu hướng đô thị hóa Xu hướng “điểm” là tập trung phát triển các đô thị lớn và cực lớn Xu hướng “diện” là phát triển đồng đều các đô thị và vùng
Trang 17nông thôn Kinh nghiệm ở nhiều nước cho thấy đô thị hóa theo “điểm” có hiệu quả kinh tế cao hơn Nhiều nước đã bốc lên nhờ các đô thị cực lớn như Hàn Quốc nhờ Seoul, Mexico nhờ Mexico city, Thái Lan nhờ BangKok v,v Trong khi đó ở một số nước khác có chính sách nhằm chuyển quá trình phát triển từ các thành phố lổm có năng lực cao qua các thành phố nhỏ kém năng lực hơn hoặc về vùng nông thôn đã làm tốc độ phát triển bị chậm lại [97], Điều này cũng dễ hiểu, vì năng suất lao động, cơ hội kinh doanh, hiệu quả đầu tư cơ
sở hạ tầng ờ thành phố lớn thường cao hơn ở thành phố nhỏ hoặc vùng nông thôn Tuy nhiên việc tập trung phát triển các thành phố cực lớn lại nảy sinh nhiều yếu tố bất lọi về xã hội và môi trường như làm tăng khoảng cách giàu nghèo, tăng sự cách biệt đô thị và nông thôn, gây nhiều khó khăn cho việc bảo vệ môi trường v ,v
Chiến lược phát triển đô thị ở nước ta cũng như của nhiều nước khác hiện nay là một mặt khai thác tính ưu việt của xu hướng phát triển tập trung (xu hướng “điểm”), mặt khác chú trọng phát triển khu vực nông nghiệp và nông thôn để hạn chế các mặt tiêu cực của xu hướng này c ầ n lưu ý rằng xu hướng “điểm” còn là xu hướng tự phát trong nền kinh tế thị trường Nó phản ảnh tác động của luật cung cầu nên việc hạn chế, điều chỉnh xu hướng này là việc khó Ví dụ ở Trung Quốc, điều 4 Luật Quy hoạch 1989 có ghi:” Nhà nước thực hiện phương châm khống chế nghiêm ngặt quy mô các thành phố lớn, phát triển họp lý các thành phố vừa và n h ỏ ”(thành phố lớn theo quy định là từ
500 ngàn dân trở lên) Đồng thời có cả phong trào “ly nông bất ly hương” để phát triển các ngành sản xuất phi nông nghiệp ở nông thôn, giữ dân ở lại nông thôn Nhưng kết quả của chính sách mở cửa (bắt đầu từ 1979) các thành phố lớn và cực lớn đã phát triển nhanh chóng, nhất là khu vực phía Đông nước này
v ề các mô hình đô thị hóa và cấu trúc đô thị Việt Nam (theo quan điểm xã hội học)
có thể tham khảo tài liệu của TS Lê Thanh Sang [53] Một số mô hình phát triển đô thị
và quản lý đô thị ở các nước Châu Á đã được tác giả Nguyễn Minh Hòa nghiên cứu tổng kết trong tài liệu [75]
1.3.1.2 Đô thị hóa là tất yếu
Điều dễ hiểu là đi đôi với quá trình phát triển kinh tế hàng hóa là việc hình thành và phát triển các trung tâm trao đổi hàng hóa Đó chính là các đô thị Các đô thị hình thành
từ quả trình này là tất yếu cùa sự phát triển Đô thị càng phát triển mạnh mẽ hơn trong thời kỳ công nghiệp hóa Thời kỳ công nghiệp hóa là thời kỳ có 4 tiến trình song song:
- Trước hết là tiến trinh nâng cao năng suất lao động Năng suất lao động công
nghiệp cao hơn nhiều lần so với lao động nông nghiệp và thủ công nghiệp
- Thứ hai là tiến trình tái định cư trên quy mô quốc gia Đó là tiến trình chuyển 80%
dân cư sống ở nông thôn trước khi công nghiệp hóa thành 80% dân cư sống ở đô thị khi hoàn thành cơ bản công cuộc công nghiệp hóa
16
Trang 18- Thứ ba là tiến trình tái bố trí sử dụng đất, không những là tiến trình phát triển các
cơ sở công nghiệp quy mô lớn, các khu đô thị mới, các công trình hạ tầng kỹ thuật và giao thông mà còn là tiến trình tái bố trí sử dụng đất khi hiện đại hóa nền sản xuất nông lâm ngư nghiệp
- Thứ tư là tiến trinh cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân Tiến trình
này vừa là động lực, vừa là kết quả của ba tiến trình trên
Chúng ta có thể thấy rõ cả bốn tiến trình này đều gắn với quá trình đô thị hóa Công nghiệp hóa là tất yếu thi đô thị hóa cũng là tất yếu
Trước đây do chịu ảnh hưởng hàng ngàn năm của tư tưởng phong kiến “trọng nông khinh thương”, đồng thời trước mặt trái của đô thị như hiện tượng nghèo khô, thất nghiệp, hiện tượng ăn chơi xa hoa và các tệ nạn xã hội thường tập trung ở đô thị nên người ta e ngại sự phát triển của đô thị Nhưng trên thực tế do đô thị là nơi tập trung các
cơ sở sản xuất có năng suất cao, là nơi tập trung các cơ sở văn hóa, giáo dục, nghiên cứu phát triển, là trung tâm giao lưu thông tin v.v nên các đô thị trở thành nguồn lực của quốc gia, đóng góp sản phẩm để đáp ứng phần lớn nhu cầu của quốc gia Ví dụ TP Hồ Chí Minh chỉ chiếm 6% dân số nhưng đã đóng góp 1/3 ngân sách quốc gia (theo sổ liệu thống kê nhiều năm, từ 1995) Các đô thị chính là nơi sinh sôi phát triển
Một vai trò đặc biệt quan trọng khác của quá trình đô thị hóa là chính quá trinh này
đă giải quyết tình trạng nghèo nàn lạc hậu ở khu vực nông thôn Chính nông thôn mới là nơi sản sinh ra nạn thất nghiệp Lý do là vì ruộng đất có hạn, tăng dân số tự nhiên ngày một cao, nhu cầu lao dộng ngày một giảm do kết quả của việc cơ giới hóa Các đô thị phát triển là nơi tiếp nhận số lao động dư thừa này ở nông thôn Không những thế còn là nơi nâng cao năng suất lao động và thu nhập của họ Đô thị cũng là nơi tiêu thụ các sản phẩm nông nghiệp ngày một lớn, chất lượng ngày một cao Đây là yếu tố quyết định sự tăng năng suất lao động và nâng cao đời sống nhân dân ở khu vực nông - lâm - ngư nghiệp và nông thôn
1.3.2 Các thách thức đối vói tưong lai đô thị
1.3.2.1 Bổi cản/t
Theo kinh nghiệm các nước, khi mức độ đô thị hóa đạt tới 20% thi đô thị bắt đầu có vai trò nổi bật trong nền kinh tế - xã hội Đến năm 2000, đã có 51% dân số thế giới sống trong các đô thị Các vấn đề của đô thị đã trở nên các vấn đề lớn của thế giới Loại trừ các vấn đề chính trị, những vấn đề trọng yếu được thế giới cùng quan tâm hiện nay là:
- Vấn đề môi trường sinh thái và biến đổi khí hậu,
- Vấn đề toàn cầu hóa về kinh tế,
- Vấn đề phát triển bền vững,
- Vấn đề chống nghèo đói
Trang 19Do không xử lý tốt các vấn đề của quá trình công nghiệp hóa, ở nhiều nước (trong đó
có Việt Nam) đã gặp phải tình trạng tồi tệ về đô thị như nhận định của các chuyên gia Ngân hàng Thế giới (WB) là “yếu kém, không hiệu quả, không lành mạnh, thiếu công bằng” [146],
Trên thực tế, do hậu quả của quá trình toàn cầu hóa, chính quyền các nước đang phát triển mất dần khả năng kiểm soát phát triển với tư cách là chính quyền của một quốc gia độc lập Sự phát triển kinh tế của các nước phụ thuộc rất nhiều vào ý chí của các công ty
đa quốc gia Theo tài liệu của hai tác giả Medard Gabel và Henry Buner phát hành ở Hoa Kỳ năm 2003, năm 2000 thế giới có 63.000 công ty đa quốc gia Trong đó 1000 công ty đa quốc gia lớn nhất đã chiếm 80% giá trị sản lượng công nghiệp toàn cầu Exxon Mobil Corp là công ty đa quốc gia lớn nhất thế giới có doanh thu hàng năm lớn hơn giá trị tổng sản phẩm nội địa (GDP) của 200 trong số 220 quốc gia và vùng lãnh thổ
toàn cầu (Nguồn: Báo đầu tư chứng khoán sổ 217, ngày 2/2/2004).
Nước ta đang trong quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa và cũng là quá trinh đô thị hóa Đồng thời quá trình này cũng là quá trình hội nhập với nền kinh tế thế giới Sự phát triển của nước ta một mặt chịu sự chi phối của các quy luật vận động và phát triển toàn cầu, mặt khác chịu sự chi phối của các đặc điểm phát triển trong nước Đặc điếm chung và bao trùm nhất là nền kinh tế - xã hội nước ta đang trong thời kỳ chuyển đổi với ba trạng thái quá độ song hành Ta biết trạng thái quá độ là trạng thái có nhiều biến động phức tạp Ba trạng thái đó là:
- Quá độ từ nền sản xuất tự nhiên lên sản xuất hàng hóa,
- Quá độ từ nền kinh tế theo cơ chế kế hoạch hóa (hành chính bao cấp) qua cơ chế thị trường,
- Quá độ từ chế độ thuộc dịa - nửa phong kiến lèn chế độ xã hội chủ nghĩa [141].Các trạng thái chuyển đổi của nền kinh tế - xã hội của nước ta xảy ra trong môitrường toàn cầu hóa với yêu cầu cạnh tranh gay gắt đặt ra trước mắt các đô thị cũng như công tác quản lý đô thị những thách thức rất lớn
1.3.2.2 Các íliách thức
a) Tính cạnh tranh
Tính cạnh tranh và vai trò của các đô thị quyết định tương lai kinh tế của các quốc gia Khả năng cạnh tranh của các đô thị biểu hiện qua khả năng hấp dẫn đầu tư để phát triển kinh tế theo yêu cầu phát triển ổn định bền vững Điều này có nghĩa là không phải cạnh tranh phát triển kinh tế bằng mọi giá, tuy nhiên nếu các đô thị mất khả năng cạnh tranh, nền kinh tế quốc gia sẽ suy sụp
18
Trang 20b) M ôi trường
Phát triển công nghiệp đi liền với phát triển chất thải là quá trình làm ô nhiễm đất, nước và không khí Đặc biệt nghiêm trọng là làm bầu khí quyển trái đất nóng lên, tạo ra hiệu ứng nhà kính và biến đối khí hậu toàn cầu Nhu cầu hạ giá thành sản phẩm đê tăng tính cạnh tranh làm hạn chế khả năng xử lý ô nhiễm, nhất là khi thiếu sự kiểm soát chặt chẽ của Nhà nước Nhu cầu phát triển đô thị tùng ngày, từng giờ đe dọa môi trường nước và không khí, làm giảm diện tích và làm suy thoái đất rừng và đất nông nghiệp.Theo dự báo trong vòng 25 năm tới, mức độ ô nhiễm nguồn nước có thể tăng lên 10
lần và lượng khí thải độc hại sẽ tặng lcn 15 lần Trên 70% chất thải độc hại là của đô thị Theo các tài liệu khí hậu quốc tế, trong vòng hon 130 năm qua nhiệt độ Trái Đất đã tăng
0,40°c Tại hội nghị khí hậu được tổ chức gần đây, các nhà khí hậu học trên thế giới đã đưa ra dự báo rằng đến năm 2050 nhiệt độ của Trái Đất sẽ tăng thêm 1,5 + 4,50°c nếu như con người không có biện pháp hữu hiệu để khắc phục hiện tượng hiệu ứng nhà
kính (Nguồn Bách khoa toàn thư mở Vikipedia, 5/2011).
Phát triển đô thị, tăng khả năng cạnh tranh về kinh tế trong yêu cầu bảo vệ môi trường là một thách thức lớn của các đô thị
c) Nạn nghèo đói và bất công xã hội
Nông dân nghèo thiếu đất canh tác thường xuyên bổ sung vào đội quân thất nghiệp ờ
đô thị Mặt khác kinh tế thị trường là nền kinh tế cạnh tranh, trong đó động lực cá nhân được giải phóng Động lực cá nhân tạo nên tính năng động và năng suất lao động cao, nhưng đồnq thời trong sự cạnh tranh “mạnh được yếu thua” của cơ chế thị trường tất yếu sẽ có người thắng, người thua Người thắng càng mạnh thêm, người thua càng yếu thêm, từ đó làm cho khoảng cách giàu nghèo trong xã hội ngày một lớn Chống nghèo đói không chi là mục tiêu xã hội lớn lao ở nước ta mà còn là mục tiêu của nhiều nước khác trên thế giới Vì cùng với nghèo đói là bất công và xung đột xã hội, là mất ổn định
về kinh tế và chính trị
d) X u hướng đô thị hóa tự phát
Đô thị hóa tự phát là sự phát triển đô thị mà Nhà nước không kiểm soát được Đó là
sự phát triển đô thị không theo quy hoạch và kế hoạch, tạo nên các khu đô thị thiếu và không đủ tiêu chuẩn về hạ tầng, không bảo đảm được môi trường sống của người dân, cản trở sự phát triển bền vững của đô thị
Đô thị hóa tự phát là một xu hướng tự nhiên, phát sinh do sự chi phối của thị trường (luật cung cầu) Người dân có quyền mưu cầu công ăn việc làm, có quyền tự do cư trú
và tìm một cuộc sống tốt đẹp hơn Thị trường lao động ở đô thị được mở rộng, cầu về lao động tăng do quá trình công nghiệp hóa Việc di dân từ nông thôn vào đô thị là tất
Trang 21yếu Khi thiếu sự quản lý hoặc do năng lực quản lý của chính quyền yếu, hiện tượng dô thị hóa tự phát sẽ xảy ra và để lại hậu quả nặng nề cho sự phát triển ổn định bền vững của đô thị.
Một là nguồn nhân lực Kiến thức và kinh nghiệm về đô thị thường lạc hậu hon so
với thực tiễn vận động và phát triển đô thị Trong quá trình đô thị hóa nhanh, phần đông dân cư đô thị cũng như nguồn nhân lực quản lý có nguồn gốc từ nông thôn Hoàn cảnh
đô thị mỗi nước một khác Do đó đòi hỏi phải thường xuyên nâng cao trình độ dân trí, đồng thời đội ngũ cán bộ quản lý đô thị phải “vừa học vừa làm”
Hai là công cụ pháp luật Hệ thống pháp luật cũng thường đi sau thực tiễn theo kiểu
«mất bò mới lo làm chuồng » Ở nước ta, thời kỳ chuyển đổi cũng là thời kỳ đổi mới về pháp luật một cách chóng mặt Nhiều nhà đầu tư đã than phiền về sự thay đổi quá nhanh, nhiều khi rất «giật cục» của các chính sách và pháp luật trong thời gian qua Tuy nhiên pháp luật buộc phải thay đổi theo chính sách đổi mới để ngày một phù hợp hơn với nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế
Ba là cơ cấu hệ thống tổ chức quản lý thường nặng nề, bảo thủ so vói tính linh hoạt của
thị trường Ví dụ ở nước ta, mặc dù chính sách đổi mới đã qua 26 năm (tính từ 1986) nhung
bộ máy chính quyền đô thị vẫn không khác bộ máy chính quyền nông thôn
Bốn là cơ sở vật chất phục vụ công cuộc quản lý thường thiếu hụt Tiền lương, chế
độ đãi ngộ, phương tiện làm việc cũng như kinh phí hoạt động quản lý đô thị thường không đủ phục vụ nhu cầu quản lý Hậu quả là không ngăn chặn nổi các căn bệnh kinh niên là quan liêu, tham nhũng, cửa quyền và làm giảm năng lực quản lý
1.3.3 Nhu cầu về sự can thiệp chính trị
Đô thị hình thành và phát triển do sự đòi hỏi của thị trường Dướì tác dộng mạnh mẽ của các quy luật kinh tế thị trường (toàn cầu cũng như trong nước), các đô thị phải đối mặt với các thách thức nặng nề như nêu ở mục trên Nếu không vượt qua các thách thức
đó sẽ dẫn đô thị tới chỗ mất cân bằng, kinh tế đình đốn, đời sổng nhân dân bị đe dọa, khả năng cạnh tranh của nền kinh tế quốc gia bị suy yếu, đất nước bị suy yếu theo Không một nhà nước hay chính quyền đô thị nào muốn xảy ra tình trạng đó Do đó sự can thiệp của chính trị vào quá trình đô thị hóa và phát triển đô thị là tất yếu
20
Trang 22Sir can thiệp của chính trị thông qua hệ thống chính sách, pháp ỉuật và công tác quản lý
đô thị Sir can thiệp của chính trị có thể tốt hay xấu tùy theo chính sách được đề ra đúng hay sai Điều đó thể hiện tầm quan trọng của chính sách đô thị Chỉ có chính sách đúng mới tạo điều kiện quản lý đô thị tốt, mới bảo đảm đô thị phát triển ổn định, bền vũng
1.4 MỤC TIÊU QUẢN LÝ DÔ THỊ
1.4.1 Mục tiêu con người
Ta đều biết mọi sự vận động đều có cái bất biến làm cơ sở cho sự vận động Ví dụ trục của bánh xe hay khối lượng của vật thể chuyển động là bất biến (tương đối) trong chuyển dộng Trước khi lên máy bay sang Pháp để đàm phán về nền độc lập của nước nhà (ngày 31/5/1946), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nắm tay cụ Huỳnh Thúc Kháng và nói:
« .Cụ ở nhà d ĩ bất biến ứng vạn biến » [142]
Cái «bất biến» mà Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc đến là gì ? Có thể thấy ngay câu trả lời từ câu khẩu hiệu phía dưới danh xưng của nước ta: «độc lập, tự do, hạnh phúc» Đó
là độc lập cho dân tộc, tự do hạnh phúc cho nhân dân Đây chính là mục tiêu chiến đấu
cả đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh Nó bắt nguồn từ chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa nhân đạo của Người và cũng là của Đảng Cộng sản Việt Nam Tất cả mọi đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước đều bắt nguồn từ hai bất biến ấy Đây cũng chính là mục tiêu cơ bản của công tác quản lý đô thị - mục tiêu con người
Mục tiêu con người là cơ sở đế định hướng cho mọi chủ trương chính sách, đồng thời
cũng là định hướng xử thế của các chủ thể tham gia quá trình quản lý đô thị theo tinh thần «dĩ bất biến ứng vạn biến» Dĩ bất biến ứng vạn biến là một phương châm hành dộng tạo nên kỹ năng của các nhà quản lý, lãnh đạo
Bản thân lợi ích của mồi con người có các yếu tố mâu thuẫn nhau Đó là mâu thuấn giữa các cặp lợi ích (hình 1.1):
- Lợi ích cá nhân với lợi ích chung (hay cộng đồng)
- Lợi ích cục bộ với lợi ích toàn cục
- Lợi ích trước mắt với lợi ích lâu dài
Lợi ích ờ đây bao gồm cả lợi ích vật chất và lợi ích tinh thần mà nhiều tài liệu khác gọi là lợi ích và giá trị Sở dĩ nói đây là lợi ích của mỗi người, là vì trong lợi ích cộng đồng, lợi ích cục bộ hay toàn cục, lợi ích trước mắt hay lâu dài đều có phần lợi ích của
cá nhân Có một số tài liệu nói tới mâu thuẫn giữa lợi ích của Nhà nước với lợi ích của người dân, phải hiểu ràng dưới chế độ ta về bản chất không có mâu thuẫn này Chỉ có mâu thuẫn giữa các lợi ích chung, toàn cục và lâu dài của người dân do Nhà nước đại diện (gọi là lợi ích nhà nước) với lợi ích riêng của họ
Trang 23Trên cơ sở mục tiêu con người này, có thể có một định nghĩa khác về quản lý đô thị: Quản lý đô thị là một quá trình hoạt động liên tục của Nhà nước để tìm kiếm các nguồn lực và tổ chức thực hiện các giải pháp nhằm thỏa mãn không ngừng các nhu cầu về vật chất và tinh thần của nhân dân trong sự hài hòa các lợi ích.
1.4.2 Mục tiêu phát triển on định bền vững
Như đã trình bày ở trên, nếu thiếu sự tác động của quản lý, xu thế phát triển tự phát theo các quy luật của thị trường là nguy cơ đe dọa sự ổn định của nền kinh tế - xã hội, hủy hoại môi trường sống của con người Do đó mục tiêu con người được cụ thể hóa
hơn thành mục tiêu p h á t trien on định hển vững.
Định nghĩa phát triển bền vững cùa ủ y ban về Môi trường và Phát triển của Ngân hàng Thế giới (Brundland Commission 1987) và được đưa vào văn kiện Hội nghị Quốc
tế về Môi trường tại Saopaulo, Brazin năm 1999 là : «Phát triển để đáp ứng các nhu cầu của hiện tại mà không phương hại tới khả năng các thế hệ tương lai đáp ứng các nhu cầu của chính các thế hệ đó» [ 109]
Ta thấy định nghĩa này đã chứa đựng mục tiêu con người một cách rõ ràng và không chỉ vì một thế hệ Việt Nam đã tham gia Chương trình nghị sự quốc te (Agenda 21) về phát triển bền vững theo hướng dẫn của Bộ Ke hoạch - Đầu tư [7]
Sự ổn định của một đô thị chính là sự ổn định của môi trường kinh tế, môi trường xã hội và môi trường sinh thái Kinh tế, xã hội, môi trường tạo thành ba chân trong thế cân bằng chân vạc của đô thị (hình 1- 2a) Đe có thế cân bằng này mỗi « chân » đều phải chắc chắn, đồng thời ba « chân » phải cân bằng với nhau Thực tế thường xảy ra mâu thuẫn giữa các « chân » trong thế cân bàng này:
22
Trang 24a) Thể cân bằng chân vạc b) Bốn tiêu chí ổn định bền vững
Hình 1 - 2 Sự cân bang cùa đô thị
- Phát triển kinh tế vì mục tiêu lợi nhuận có thể hủy hoại môi trường hay nhân phẩm,
- Những yêu cầu quá cao về xã hội và môi trường có thể làm tăng giá thành sản phẩm
và giảm khả năng cạnh tranh
- Môi trường bị hủy hoại có thể dẫn đến rối loạn xã hội, suy thoái kinh tế v,v
Sự ổn định bền vững là sự ổn định theo thời gian, qua nhiều thế hệ
Như vậy muốn đảm bảo phát triển ổn định bền vững, các thị trường trong đô thị phải phát triển ổn định bền vững, môi trường xã hội nhân văn phải ổn định bền vững, môi trường sinh thái được bảo đảm Đồng thời phải đảm bảo sự cân bằng, hài hòa giữa các nhu cầu trong từng lĩnh vực kinh tế, xã hội và môi trường Mỗi một giải pháp quản lý phải được đối chiếu, xem xét sự tác động của nó trong từng lĩnh vực và tới các lĩnh vực khác trong ba lĩnh vực cơ bản này
Điều cần lưu ý là loài người đã và đang hủy hoại môi trường sinh thái của chính mình Trong quá trình phát triển kinh tế và đô thị hóa hàng trăm năm qua, hệ sinh thái
đã bị tổn hại tới mức báo động Tiến sỳ A.L Clark, Trung tâm Đông - Tây (Hoa Kỳ) cho rằng: «Hệ sinh thái là tài sản được định giá thấp nhất của thế giới»[l] Hậu quả đang diễn ra không chỉ là môi trường nước và không khí bị ô nhiễm, mà còn là hiệu ứng nhà kính và biến đổi khí hậu Xu hướng lớn của thế giới hiện nay là phát triển thân thiện với môi trường Đó cũng chính là nội dung cơ bản của phát triển bền vững
Đê đảm bảo mục tiêu ổn định bền vững nêu trên, Ngân hàng Thế giới đã đưa ra bốn tiêu chí đánh giá và trở thành bốn mục tiêu phấn đấu cụ thể (hình 1- 2b) Một đô thị bảo đảm phát triển ổn định bền vững là đô thị: (1) Cạnh tranh tốt, (2) sống tốt, (3)Tài chính lành mạnh, (4) Được quản lý tốt
Bảo đảm ổn định bền vững về kinh tế không gì hơn là bảo đảm tính cạnh tranh tốt Tính cạnh tranh tốt được thể hiện bằng nhiều yếu tố như năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, tính hấp dẫn đầu tư, hấp dẫn du lịch, hấp dẫn về môi trường sống Đô thị
Trang 25có tính cạnh tranh cao cũng là nơi có nấng suất lao động cao, là trung tâm sáng tạo và phát triển.
Nói đến việc bào đảm ổn định bền vững về xã hội và môi trường không gì bằng nói đến bảo đảm đời sống của người dân đô thị Đời sống của người dân là thước đo của mọi giải pháp quản lý Đô thị sống tốt đã trở thành một mô hình phát triển đô thị (như nhiều mô hình khác như đô thị sinh thái, đô thị thông minh v,v ) Nhiều thành phố trên thế giới đã xây dựng các tiêu chí cụ thể của một đô thị sống tốt [32], Căn cứ theo nhu cầu của con người, mồi độc giả dều có thể đề xuất các tiêu chí cụ thế cho một đô thị sống tốt Chúng ta đều biết người giàu chưa hẳn đã có hạnh phúc Ở Thái Lan đã có phong trào thi đua giữa các thành phố theo tiêu chuẩn đô thị sống tốt [31]
Tài chính là thước đo vật chất các quan hệ trong cộng đồng đô thị, là thước đo nguồn lực của đô thị Các nguồn lực vật chất của đô thị được huy động thông qua hệ thống tài chính - ngân hàng để trở lại phục vụ đô thị Trong nền kinh tế thị trường, các giá trị cuộc sống được lượng hóa bằng tiền Trên thực tế không phải cái gì cũne được định giá bằng tiền Các tác động bên ngoài như quan hệ xã hội, các tác nhân ngoại biên có thể tạo thuận lợi hay gây thiệt hại cho sản xuất Ví dụ một quán giải khát sẽ được hướng lợi khi có vị trí gần một công sở có nhiều giao dịch Tuy nhiên xu hướng chung, đế có thể đánh giá một cách công bằng các giá trị, người ta thường cố gắng quy ra tiền Nền tài chính lành mạnh là nền tài chính rõ ràng, công bằng, trong sạch và đầy đủ Nghĩa là nó phải tạo điều kiện khai thác được mọi nguồn lực trong đô thị Sự định giá không công bằng các giá trị có thể tiêu hủy khả năng huy động nguồn lực Khi khai thác được các nguồn lực một cách hợp lý, sẽ thực hiện được câu «có tiền mua tiên cũng được»
Tiêu chí quản lý tốt không những giúp bảo đảm khả năng cạnh tranh của đô thị mà còn là cơ sở để thực hiện tiêu chí sống tốt Giống như một ngôi nhà được quản lý tốt là một ngôi nhà luôn sạch sẽ, trật tự ngăn nắp, các thành viên trong gia đình sống hòa thuận ; nó thể hiện năng lực tổ chức, trình độ văn hóa, thẩm mỹ của chủ nhà Một đô thị được quản lý tốt là một đô thị luôn giữ được trạng thái sạch đẹp, trật tự, an toàn Nó thể hiện trình độ tổ chức quản lý của bộ máy chính quyền đô thị, trinh độ văn hóa, thẩm mỹ của cư dân
1.4.3 Quản lý đô thị theo mục tiêu và hiệu quả
Do có sự tương đồng nhất định về cấu trúc và hoạt động giữa doanh nghiệp và đô thị, người ta đã xem việc quản lý một đô thị cũng tương tự như quản lý một doanh nghiệp Quản lý doanh nghiệp theo mục tiêu là cách tiếp cận có tính logic chặt chẽ, trả lời các câu hỏi [22]:
Cần phải làm gì ? Xác định mục tiêu và sự cần thiết phải tiến hành các công việc
theo thứ tự ưu tiên
24
Trang 261 c ầ n phải làm như thế nào ? Xác định các giải pháp để thực hiện.
2 Khi nào phai làm ? Lập kế hoạch thực hiện các công việc.
3 Cần kinh p h í bao nhiêu để đạt được kết quả ? Dự trù kinh phí.
4 Các tham số của công việc được coi là đạt yêu cầu là gì ? Xác định các chuẩn
đánh giá kết quả
6 Cách đảnh giá kết quả công việc là gì ?
7 Cân tiến hành những điểu chỉnh gì ?
Khi trả lời các câu hỏi trên, ta thấy sự gắn kết giữa mục tiêu và kết quả Quản lý theo mục tiêu nhằm vào kết quả cuối cùng Trên thực tế đề ra mục tiêu thì dễ còn quản lý để đạt được mục tiêu thì khó Các giải pháp quản lý theo mục tiêu đòi hỏi phải kiểm tra đánh giá chính xác các thông số của công việc theo yêu cầu do mục tiêu đề ra Mục tiêu vừa là điểm quy chiếu để định hướng cho các giải pháp, vừa là tiêu chuẩn để đánh giá kết quả
Nội dung quản lý theo mục tiêu nêu trên cũng tưong đồng với 7 nội dung quản lý hành chính đô thị mà theo tiếng Anh viết tắt là POSCoRDB:
1 p - Planing (Lập quy hoạch, kế hoạch)
Hiện nay việc quản lý đô thị theo mục tiêu ở nhiều nước được thực hiện theo Chiến lược phát triển đô thị - CDS (City Development Strategic) Đây là phương pháp quản lý
đô thị theo quy hoạch do Ngân hàng Thế giới đưa ra với hướng tiếp cận mới có nhiều thành phần tham gia (Partneship approach) CDS là phương pháp quy hoạch và quản lý phát triển đô thị theo tiến trình, gắn chặt mục tiêu với kết quả, bảo đảm tính khả thi của quy hoạch và kế hoạch thực hiện Nội dung chi tiết hơn của phương pháp này sẽ dược trình bày ờ chương 2
Trang 271.5 VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC
1.5.1 Sự chuyển đổi vai trò của Nhà nước
Theo chủ nghĩa Mark, Nhà nước là bộ máy quản lý con người, quản lý xã hội xuất phát từ lợi ích của giai cấp thống trị, là bạo lực có tổ chức của một giai cấp để đàn áp các giai cấp khác
Ớ nước ta hiện nay, Nhà nước là của dân, do dân, vì dân Đó là Nhà nước của giai cấp công nhân liên minh với giai cấp nông dân và giới trí thức dưới sự lãng đạo của Đảng Cộng sản Nhà nước có hai chức năng cơ bản là thực hiện chuyên chính vô sản, trấn áp bọn phản động, bảo vệ tổ quốc và thực hiện công cuộc xây dựng đất nước theo mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công băng, văn minh Trong quá trình chuyên đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa qua nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN, hai chức năng cơ bản của Nhà nước không thay đổi Tuy nhiên vai trò của Nhà nước đối với nền kinh tế đã thay đổi về cơ bản
Sơ đồ hình 1.3 diễn tả mô hình sản xuất - phân phối của nền kinh tế kế hoạch hóa (hành chính bao cấp) và nền kinh tế thị trường Ở nền kinh tế kế hoạch hóa (sơ đồ a) Nhà nước trực tiếp điều hành toàn bộ nền kinh tế thông qua các kế hoạch sản xuất, các chỉ tiêu pháp lệnh Phần lớn sản phẩm được nộp cho Nhà nước để Nhà nước thực hiện việc phân phối thông qua lương gián tiếp cho người lao động Lương gián tiếp chính là phúc lợi xã hội do Nhà nước bao cấp như nhà ở, trường học, bệnh viện, nghỉ dưỡng v,v Chỉ một phần thu nhập của người lao động do xí nghiệp trả qua lương trực tiếp để mua nhu yếu phẩm hàng ngày Lương trực tiếp được tính trên cơ sở bù đắp năng lượng (tính bằng calo) cho người lao động và người ăn theo của họ Lương gián tiếp lớn gấp nhiều lần lương trực tiếp, trên hình vẽ thể hiện bằng các nét đậm hơn [97],
Hình 1- 3 Sơ đổ mô hình sản xuất - phân phổi
26
Trang 28Do trực tiếp điều hành nền sản xuất và phân phối sản phẩm, bộ máy nhà nước ở chế
độ hành chính bao cấp rất cồng kềnh Nhưng nguy hại nhất là Nhà nước không phát huy được tính năng động sáng tạo của mọi người dân Thiếu sự cạnh tranh giữa các sản phẩm làm cho năng suất lao động thấp Đó là nguyên nhân cơ bản dẫn đến sự sụp đổ của nhiều nước XHCN Đông Âu và Liên Xô cũ V.I.Lênin từng nói : “ quyết định việc
ai thắng ai là năng suất lao động ”
Chuyển qua cơ chế thị trường, sự đổi mới cơ bản nhất là đổi mới vai trò của Nhà
nước đối với nền kinh tế Đó là chuyển từ trực tiếp quản lý điều hành qua định hướng
và tạo điều kiện cho nền kinh tế Vai trò đó được thể hiện trên sơ đồ b, hình 1 - 3, lúc
này quan hệ giữa xí nghiệp và người lao động là quan hệ trực tiếp Người lao động bán sức lao động cho xí nghiệp và được xí nghiệp trực tiếp trả lương để trang trải mọi nhu cầu của cuộc sống Phần lương gián tiếp qua phúc lợi xã hội còn lại rất ít (trên hình biêu thị bằng nét mảnh) Nen kinh tế - xã hội chủ yếu vận hành một cách tự động theo pháp luật, công dân có quyền làm những việc mà pháp luật không cấm, không còn tình trạng chỉ hành động theo sự điều hành của Nhà nước như trước
1.5.2 Nhiệm vụ chức năng của chính quyền đô thị trong cơ chế thị trường
Đe thực hiện vai trò tạo điều kiện của Nhà nước như trên, chính quyền đô thị có bốn
chức năng cơ bản Các nhiệm vụ chức năng này được xác định xuất phát từ mục tiêu
quản lý đô thị của Nhà nước và trên nguyên tắc “việc gì người dân không tự lo được Nhci nước mới lo" Bốn nhiệm vụ đó là: (1) Cung ứng cơ sở hạ tầng, (2) Tạo điều kiện
cho các thị trường đô thị, (3) Bảo vệ môi trường, (4) Chăm lo cho người nghèo
1.5.2.1 Cung ứng cơ sở liạ tầng
Cơ sở hạ tầng có vai trò đặc biệt đối với mục tiêu phát triển ổn định bền vừng của đô thị, là yếu tố cơ bản nhất để hình thành đô thị Chính quyền đô thị bằng nguồn lực của mình và bang cách huy động mọi nguồn lực trong xã hội để chăm lo việc cung ứng toàn
bộ hệ thống hạ tầng kỹ thuật, xã hội và kinh tế Trong đó đặc biệt quan trọng là hệ thống
hạ tầng kỹ thuật Do yêu cầu đồng bộ và cần có nguồn vốn đầu tư lớn lại chậm được thu hồi nên Nhà nước phải đứng ra tổ chức việc đầu tư xây dựng và chăm lo việc vận hành của hệ thống hạ tầng kỹ thuật Để đảm bảo sự ổn định và phát triển của nền kinh tế và môi trường sống nhân dân, hạ tầng kỹ thuật phải đi trước một bước
Nhà nước có thể trực tiếp đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách hoặc thông qua chính sách xă hội hóa, tư nhân hóa để huy động vốn từ xã hội, vốn nước ngoài để đầu tư cho
hệ thống hạ tầng đô thị
1.5.2.2 Tạo điều kiện cho thị trường đô thị
Như người nông dân chăm sóc cây lúa, Nhà nước tạo điều kiện cho thị trường nhàm tạo sân chơi bình đẳng và phát huy tính năng động sáng tạo của mọi cá nhân và tổ chức,
Trang 29nhằm tăng tính cạnh tranh trong các thị trường đô thị Trong đô thị có sáu thị trường cơ bản: (1) Thị trường hàng hóa, (2) Thị trường tài chính, (3) Thị trường đất đai và nhà ờ (thị trường bất động sản, (4) Thị trường giao thông vận tải, (5) Thị trường dịch vụ, khoa học và công nghệ, (6) Thị trường lao động.
Nhà nước vừa là chủ thể trong các thị trường (khi là chủ sở hữu hàng hóa hay dịch
vụ tham gia thị trường), vừa đứng ngoài các thị trường để thực hiện nhiệm vụ tạo điều kiện của mình Nội dung tạo điều kiện là tất cả các hoạt động ở tất cả những nơi thị trường cần mà các tổ chức hoặc cá nhân riêng lẻ không làm dược Bạn đọc có thể tự liên
hệ thực tế các thị trường trên đây để tìm thấy các hoạt động tạo điều kiện của chính quyền Nội dung tạo điều kiện cơ bản đồng thời cũng là bốn biện pháp cơ bản của chính quyền trong cơ chế thị trường sẽ được trình bày rõ hơn ở mục 1.5.4
Tạo điều kiện cũng chính là giải pháp nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước, phát huy quyền tự do dân chủ của nhân dân
1.5.2.3 Bảo vệ môi trường
Gìn giữ môi trường sống là thách thức lớn đối với các đô thị Môi trường đô thị ở đây bao gồm an ninh trật tự xã hội và môi trường sinh thái Môi trường sinh thái bao gồm môi trường không gian (hình học) và môi trường hóa lý Môi trường không gian chịu ảnh hưởng của quy hoạch - kiến trúc Môi trường hóa lý chịu ảnh hưởng của các hoạt động sống và sản xuất
Như nói ở trên, mục tiêu lợi nhuận trong nền kinh tế thị trường có xu hướng phá hủy môi trường sinh thái Nguy cơ hiệu ứnc nhà kính, biến đổi khí hậu toàn cầu đã hiển hiện trước mắt, nhưng cuộc đấu tranh cắt giảm khí phát thải theo tinh thần Nghị định thư Tokyo vẫn còn gay go Chi phí để xử lý ô nhiễm môi trường có thể chiếm dến 20% giá thành sàn phẩm Do nhu cầu kinh tế và phát tiền đô thị, rừng phòng hộ, rừng dầu nguồn
có thể bị hủy hoại, đất dành cho cây lương thực bị thu hẹp Nếu không có sự can thiệp của chính quyền theo mục tiêu phát triển bền vững, không thể bảo vệ được môi trường sống của nhân dân trước mắt và lâu dài
1.5.2.4 Chăm lo cho người nghèo
Đê đánh giá chênh lệch giàu nghèo người ta thường so sánh thu nhập của 20% dân sô
có thu nhập thấp so với 20% dân số có thu nhập cao Như vậy có thể hiểu người nghèo
là số dân có thu nhập thấp nêu trên Tuy nhiên người nghèo thật sự là những người có thu nhập dưới mức chuẩn nghèo do Nhà nước quy định Chuẩn hộ nghèo hiện nay (theo
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, năm 2011) là hộ có thu nhập dưới 400.000 đồng/người/tháng ở nông thôn và 500.000 đổng/người/tháng ở đô thị Với chuẩn này cả nước hiện có 4.667.947 hộ nghèo, c ầ n lưu ý là vào thời điểm này (2011) với 400.000 đồng/người/tháng, người ta chỉ đủ để không bị chết đói, chết rét mà thôi!
28
Trang 30Đặc điểm chung của người nghèo là nghèo về khà năng tiếp cận các điêu kiện mưu
sinh, nói cách khác họ là những người kém năng lực và yếu thế trong môi trường cạnh tranh của kinh tế thị trường Người nghèo rất khó tự đảm bảo được các nhu cầu cơ bản nhất của cuộc sống bình thường như ăn, mặc, ở, học hành, chữa bệnh nếu không có sự
hỗ trợ của xã hội Xu hướng tự phát của quá trình cạnh tranh “mạnh được, yếu thua” làm cho sự phân hóa giàu nghèo ngày một trầm trọng hơn
Với bản chất nhà nước của dân, do dân, vì dân và với mục tiêu con người, Nhà nước không thể chỉ lo cho dân một cách chung chung, chỉ lo cho số đông hay phấn đấu theo các chỉ tiêu bình quân mà phải chú trọng đến người nghèo Đảm bảo được điều kiện sống cho người nghèo thì cũng có nghĩa là đảm bảo được điều kiện sống cho toàn xã hội Nâng cao được đời sống cho người nghèo cũng là nâng cao được năng suất lao động xã hội, giữ gìn được an ninh và trật tự xã hội
Khi đã coi việc chăm lo cho người nghèo là một nhiệm vụ chức năng của chính quyền thì không chi chú trọng giải pháp trợ cấp hay tổ chức phong trào từ thiện mà mọi chính sách, từ vĩ mô tới vi mô, mọi quyết định quản lý đều phải đối chiếu tới nhu cầu của người nghèo Có rất nhiều ví dụ về các quyết định có liên quan tới người nghèo, từ định giá điện, nước, xăng dầu cho tới lập quy chuẩn xây dựng nhà ở, lựa chọn mục tiêu đầu tư, thực hiện bình ổn vật giá v,v Theo khảo sát về mức sống của các hộ dân năm
2010 của Tổng cục thống kê, thu nhập bình quân ở nước ta chỉ có 1,3 triệu đồng /tháng, người giàu thu nhập gấp 10 lần người nghèo, trong khi đó chi tiêu của mỗi người đã lên đến 1,2 triệu đồng, 52% số người được hỏi cho rằng đời sống có tăng nhưng “chỉ chút ít”, 6,2% cho ràng đời sống giảm so với năm năm trước Dù có tăng trưởng cao nhưng lạm phát quá cao ảnh hường nặng nề đến người nghèo Các chuyên gia kinh tế đều cho
rằng cần bỉnh ổn vĩ mô mới đảm bảo an sinh cho người nghèo (Bảo Tuổi trẻ 1/7/2011).
1.5.3 Bốn nguồn lực cơ bản
Đe thực hiện bốn nhiệm vụ chức năng nêu trên chính quyền đô thị phải huy động mọi nguồn lực có thể có Tựu trung một quốc gia cũng như mỗi đô thị có bốn nguồn lực
căn bản nhất là nhân lực, tài lực, thế lực và tin lực\ nếu huy động được sẽ có “thiên thời,
địa lợi, nhân hòa”
Trang 31qua đào tạo và trong đó chỉ có 5,2% tốt nghiệp đại học trở lên Theo WB, chất lượng nguồn nhân lực của VN chỉ đạt 3,79 điểm (thang 10) đứng thứ 11/12 nước châu Á được xếp hạng Chỉ số tri thức KEI đạt 3,02 điểm, xếp thứ 102/133 nước được phân loại Đày là nguyên nhân chủ yếu làm năng lực cạnh tranh thấp, chỉ đứng thứ 75/133 nước được xếp hạng [55]
về sử dụng nguồn nhân lực, đối với một nước đang phát triển người ta đặc biệt quan tâm tới việc sử dụng nhân tài Theo UNESCO Science Report 2010, về lĩnh vực nghiên cứu khoa học có các số liệu sau đây:
- Chi phí cho nghiên cứu khoa học ở Việt Nam tính theo đầu người chỉ bằng 1/10 Trung Quốc, 1/150 của Hàn Quốc, 1/250 của Singapore
- Số công trình được công bố trên các Tạp chí quốc tế của Việt Nam chỉ bằng 1/3 của Malaysia, 1/4 Thái Lan, 1/5 Singapore và 1/50 Hàn Quốc
- v ề số cán bộ nghiên cứu tính trên 10.000 dân, Việt Nam bàng 1/2 Thái Lan, Malaysia và 1/40 Singapore
Với các số liệu đó không thể nói việc sử dụng nhân lực ở nước ta đã tốt
Việt Nam chưa có môi trường hoạt động khoa học.[54]
1.5.3.2 Nguồn tài lực
Tài lực là toàn bộ cơ sở vật chất của quốc gia, bao gồm tài nguyên thiên nhiên, đất đai, lực lượng kinh tế và tài chính Tiềm năng lớn nhất trong nguồn tài lực là đất đai Tiềm năng về tài lực của nước ta khá dồi dào nhưng cũng có nhiều thách thức Thách thức không chỉ là do biến đối khí hậu, do nước ngoài dòm ngó mà còn là chi phí khai thác, yêu cầu bào vệ môi trường và phát triển bền vừng Ví dụ, chúng ta có hàng ngàn tỷ tấn quặng boxis ở Tây Nguyên, nhưng có nên khai thác hay không hoặc khai thác ở mức độ nào đang còn là vấn đề tranh cãi Việc khai thác thủy điện, khai thác vàng, titan đều gây tác hại không nhỏ tới môi trường Biến đổi khí hậu và nước biển dâng đang đe dọa nhiều vùng đất nông nghiệp rộng lớn Những thách thức đó đòi hỏi chiến lược khai thác nguồn tài lực của đất nước phải rất khôn ngoan để bảo đảm mục tiêu phát triển bền vững
1.5.3.3 Thế lực
Thế lực có được từ vị thế của quốc gia hay của đô thị Vị thế đó có được từ quan hệ tương hỗ giữa các quốc gia hoặc giữa các địa phương Một nước nhỏ yếu vẫn có thể giữ được nền độc lập nếu lập được quan hệ quân bình giữa các quốc gia lớn mạnh Đối với một đô thị, thế lực chẳng qua là khả năng khai thác được động lực tạo thị của đô thị đó Động lực tạo thị phát sinh từ vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên và tác động thị trường Một
đô thị có vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên thuận lợi, có thị trường và quan hệ đối ngoại tốt có điều kiện thu hút được nguồn đầu tư phát triển tốt Tạo lập thế lực để phát triển30
Trang 32không khác chơi cờ: “Vốn trước hai bên ngang thế lực, mà sau chiến thắng một bên
giành ” (Thơ Hồ Chỉ Minh).
ta nhìn thế giới " Qua sự đánh giá này, ta còn có thể thấy vai trò của con người đã khai
thác nguồn tin lực trong thời đại hiện nay như thế nào
1.5.4 Bốn biện pháp cơ bản của Nhà nưóc
Đe thực hiện tốt bốn nhiệm vụ chức năng cơ bản nêu trên, Nhà nước (trong đó có chính quyền đô thị) chú trọng thực hiện 4 biện pháp cơ bản theo tiếng Anh gọi tắt là 41 sau đây [97]:
- Infratructure - Cơ sở hạ tầng
- Incentives - Kích thích
- Interdiction - Ngăn cấm
- Information - Thông tin
Đây là bốn biện pháp và cũng là bốn công việc cần dược thường trực trong dầu người quàn lý đô thị
Đám bảo cơ sở hạ tầng vừa là một nhiệm vụ chức năng, vừa là biện pháp hàng đầu
cùa công tác quản lý đô thị Cơ sở hạ tầng đô thị bao gồm hạ tầng kỹ thuật, xã hội, kinh
tế, trong đó Nhà nước quan tâm trước hết là hạ tầng kỹ thuật Nhà nước giữ vai trò chủ động từ khâu quy hoạch, huy động vốn đầu tư, đến việc tổ chức quản lý, bảo trì, khai thác; bảo đàm hệ thống luôn đồng bộ và hoạt động tốt Nhà nước chú trọng và có chính sách tư nhân hóa, xã hội hóa trong việc đầu tư xây dựng và khai thác hệ thống hạ tầng
xã hội và kinh tế Đặc biệt Nhà nước quan tâm tạo điều kiện phát triển các dịch vụ xã hội như giáo dục, y tế, văn hóa, TDTT trên hệ thống hạ tầng xã hội đô thị
Có người nói “thực chất của quản lý là kích thích” Kích thích là biện pháp khuyến
khích hay xử phạt về tinh thần hay vật chất để định hướng hành vi theo chủ trương của nhà quản lý Biện pháp này Phương Tây còn gọi một các thô thiển nhưng dễ hiêu là
“cây gậy và củ cà rốt”
Trang 33Ngăn cấm là tạo ra một hành lang pháp lý bằng hệ thống quy phạm pháp luật Mọi
hoạt động trong xã hội được duy trì một cách tự động trong hành lang quy phạm pháp luật đó Một quy phạm pháp luật thường có ba yếu tố: giả định, quy định và chế tài Đe thay thế lối quản lý theo lệnh ở chế độ hành chính bao cấp bằng quản lý theo luật trong
cơ chế thị trường, hành lang pháp lý phải rõ ràng, sao cho mọi người dân được tự do làm những gì mà pháp luật không cấm Hơn 20 năm đổi mới, Nhà nước đã ban hành rất nhiều luật và văn bản dưới luật, hệ thống pháp luật ngày một hoàn chinh và đồng bộ Tuy nhiên hiện nay hành lang pháp lý ở nước ta vẫn chưa được hoàn thiện, nội dung pháp luật còn mang nặnc tính hướng dẫn, chỉ đạo hơn là tạo ra hành lang pháp lý Nhiều việc mặc dù pháp luật không cấm nhưng người dân muốn làm còn phải xin phép Cơ chế xin - cho còn tồn tại khá phổ biến
Thông tin là biện pháp hồ trợ đặc biệt của Nhà nước cho các doanh nghiệp và cư dân nói
chung Đúng ờ cương vị quản lý, Nhà nước có điều kiện thu thập và cung cấp thông tin một cách đầy đủ, toàn diện và tin cậy mà cá nhân hay tổ chức riêng lẻ không thể làm được Nhà nước cung cấp thông tin là tạo điều kiện cho mọi người có đủ thông tin đế ra quyết định, Nhà nước không quyết định thay như trong chế độ hành chính bao cấp trước đây Ví dụ Nhà nước cung cấp đầy đủ thône tin về thị trường nước giải khát, ai muốn đầu tư nhà máy sản xuất thêm nước giải khát thì tự xem xét ra quyết định đầu tư Nhà nước không vin vào
lý do đã có quá nhiều cơ sở sản xuất nước giải khát để cấm đầu tư tiếp Nghĩa là thay vì ra quyết định cho phép hay không, Nhà nước chỉ cung cấp thông tin cho nhà đầu tư Doanh nghiệp nước giải khát ra đời sau có thế mạnh về kỹ thuật và công nghệ vẫn có thể giành thắng lợi trong thị trường nước giải khát tưởng như đã bão hòa
1.5.5 Dịnh hưóng XHCN và giải pháp tư nhân hóa, xã hội hóa
Phần trên đã trình bày về bốn nhiệm vụ chức năng và bốn biện pháp cơ bản của Nhà nước nhằm khai thác có hiệu quả các nguồn lực, thực hiện việc quản lý đô thị theo mục tiêu ổn định bền vững Chính quyền đô thị xây dựng chính sách quản lý trên cơ sở các chính sách vĩ mô của Nhà nước trung ương Các chính sách đó bắt nguồn từ nghị quyết các Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam
Hiện nay nước ta đang thực hiện đường lối công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
và hội nhập quốc tế Hội nhập vào nền kinh tế thế giới là hội nhập vào nền kinh tế tư bản chủ nghĩa Hội nhập vào thị trường TBCN toàn cầu đó có nhiều thời cơ nhưng cũng
có nhiều thách thức Những mặt trái tội ác của thị trường TBCN luôn đe dọa sự phát triển đất nước theo mục tiêu XHCN của Đảng và nhân dân ta Mục tiêu đó đã được khẳng định trong cương lĩnh xây dựng đất nước do Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 7
(1991) đề ra và Đại hội Đảng lần thứ 11(2011) tái xác định như sau: “Xã hội - XHCN
mà nhân dãn ta xây dựng là một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, do nhân dân làm chủ; cỏ một nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu; có nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điêu
32
Trang 34kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam hình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp đỡ lan nhau cùng phát triển; có nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhăn dãn do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân các nước trên thế giới ’’.[16,17]
Đe khắc phục sai lầm duy ý chí, nóng vội trong cách mạng về quan hệ sản xuất khi nền sản xuất còn yếu kém, lạc hậu, Đảng đã chủ trưcmg phát triển kinh tế thị trường có nhiều thành phần Từ đó có chủ trưcmg tư hữu hóa nhiều doanh nghiệp nhà nước (chủ yếu bằng hình thức cổ phần hóa) và khuyến khích tư nhân đầu tư phát triển kinh tế Như
vậy tư hữu hóa là biện pháp chuyển quyển sở hữu tư liệu sân xuất từ sở hữu nhà nước
về sở hữu tư nhân và cho tư nhân đầu tư sản xuất và dịch vụ các ngành nghề mà trước
dỏ chỉ có Nhà nước được làm.
Đồng thời với chính sách tư nhân hóa để phát triển nền kinh tế nhiều thành phần,
Nhà nước cũng thực hiện chính sách xã hội hóa để xóa bỏ chế độ hành chính bao cấp
trước đây Theo cơ chế hành chính bao cấp tất cả các dịch vụ xã hội như y tế, giáo dục đào tạo, văn hóa, thể dục thể thao và các dịch vụ đô thị như cấp điện, cấp nước thoát nước, v,v đều do Nhà nước đầu tư và quản lý Người dân được hường các dịch vụ nêu
trên một cách miễn phí X ã hội hóa là việc trực tiếp huy động nguồn lực từ xã hội để đảm bảo các nhu cầu của người dân mà trước đây chỉ do Nhà nước bảo đảm Như vậy
xã hội hóa có nghĩa rộng hơn tư nhân hóa, xã hội hóa bao gồm cả các các hoạt động tư nhân hóa trong các dịch vụ xã hội và dịch vụ đô thị Hình thức xã hội hóa phổ biến là thu phí các dịch vụ như viện phí của các bệnh viện, học phí (từ trung học trở lên) v,v
Có thể nói thực chất của công cuộc đổi mới từ nền kinh tế hành chính bao cấp qua nền kinh tể thị trường là sự giải phóng, kích thích, phát huy động lực cá nhân trong khuôn khổ pháp luật theo định hướng XHCN Động lực cá nhân nếu bùng phát tự do (không nằm trong khuôn kho pháp luật) sẽ gây tác hại như xăng dầu hay chất nô bị cháy nổ Các nguồn năng lượng tự nhiên được chế ngự trong lò phản ứng, trong xi - lanh, động lực cá nhân cũng được chế ngự bằng pháp luật Khai thác động lực cá nhân trong khuôn khổ pháp luật là nghệ thuật quản lý phát triển đất nước trong nền kinh tế thị trường
1.5.6 Quản lý nhà nuóc về đô thị
Quản lý nhà nước về đô thị hay ngắn gọn là quản lý đô thị có nghĩa rộng hơn hành chính đô thị Sơ đồ hình 1- 4 cho ta hình dung được toàn bộ nhiệm vụ quản lý đô thị Để
thực hiện quàn lý đô thị Nhà nước cần có chính sách, đó chính là chính sách đô thị, có công cụ quản lý là nền hành chính đô thị và có hệ thống các nhiệm vụ quản lý cụ thể đối
với đô thị Các công cụ quàn lý bao gồm hệ thống pháp luật, hệ thống bộ máy chính
quyền, nhân lực, cơ sở vật chất và công nghệ quản lý Trên sơ đồ đối tượng quản lý là
đô thị được thể hiện bằng ba lĩnh vực cơ bản là kinh tế, xã hội và môi trường
Trang 35Gông cụ quản lý
Hình 1 - 4 Sơ đồ công tác quàn lý đô thị
Trên cơ sở bốn nhiệm vụ chức măng cơ bản đã nêu ở trên, nhiệm vụ công tác quản lý
đô thị (theo tài liệu tập huấn của Bộ Xây dựng) gồm có:
1 Xây dựng chiến lược phát triiển và quản lý phát triển,
2 Ban hành các văn bản phá]P lluật,
3 Quản lý đầu tư xãy dụng yà thị trường bất động sản,
4 Cung cấp hạ tầng kỹ thuật.,
5. Bảo vệ môi trường, an nin h 'Và trật tự xã hội,
6 Phát triển văn hóa, kiển trủc., bảo vệ cánh quan và di sản,
7 Kiểm tra, xử lý vi phạm về tirât tự đô thị,
8 Giải quyết tranh cháp, khiêu nại, khiếu kiện,
9 Ngăn chặn tệ nạn xà hội, c.hổng bóc lột, xỏa dói giảm nghèo,
10 Tổ chức bộ máy hành chínih đô thị hữu hiệu
Đặc điếm cơ bản của công tác quản lý đô thị ở nước ta hiện nay khác nhiều so với các nước là do quá trình đô thị hỏa ờ nước ta đang diễn ra nhanh chóng trong một thời
kỳ quả độ và chuyển đổi phức tạp Tính chắt phức tạp đó đã được phản ảnh trong tài
liệu [129] Đó thực sự là một quả tirình vừa học vừa làm của các cơ quan nhà nước có liên quan Các cơ sở lý luận, kinh nghiệm và thực tiễn đã được nhiều người nghiên cứu, được thảo luận qua các hội nghị đô thị toàn quốc do Bộ Xây dựng tổ chức [106,83].Những nội dung quản lý đô thị cố tính kỹ thuật và cụ thể hơn có thể tham khảo thêm
ở các tài liệu [84, 76],
34
Trang 36Chưong 2TĂNG TRƯỞNG ĐÔ THỊ, MÔI TRƯỜNG VÀ QUY HOẠCII
2.11 TĂNG TRƯỞNG ĐÔ THỊ
2.11.1 Khái niệm
Tăng trưởng đô thị là sự tăng dân số gắn liền với sự phát triển không gian kiến trúc
đô thị Tuy nhiên cốt lõi của tăng trưởng đô thị là tăng dân số Dân số là yếu tố chi phối các yếu tố khác của đô thị, cho nên khi nói tăng trưởng đô thị thường được hiểu là tăng dâm số đô thị
Đối với một đô thị, tăng trưởng đô thị được đo bằng tốc độ tăng dân số hàng năm Tăng dân số hàng năm bao gồm tăng tự nhiên và tăng cơ học Tăng dân số tự nhiên là hiệu số sinh tử hàng năm, tăng dân số cơ học là số dân tăng lên do nhập cư vào đô thị.Ngoài ra trong cơ cấu dân số (đặc biệt để tính toán quy hoạch đô thị) còn có khách vãng lai Khách vãng lai là những người không đăng ký hộ khấu thường trú tại đô thị, bao gồm lao động thời vụ, khách du lịch, tham quan, chữa bệnh, sinh viên v,v D o có vai trò trung tâm, cơ sở hạ tầng và dịch vụ của đô thị phải đáp ứng nhu cầu của cả lượng khách vãng lai này Nhiều thành phố du lịch trên thế giới có số khách vãng lai đông hơn
số dân thường trú Những người khá giả ở các nước Đông Nam Á thường đến Singapore
để chữa bệnh
2.1.2 Dân số vừa là nguồn lực, vừa là áp lực
Ở chương 1 chúng ta đã nói tới di dân như là một tiến trình phát triển Quá trình đô thị hóa là quá trình di dân từ nông thôn về đô thị, là một quá trình tất yếu của phát triển, quá trình này thường được hoàn tất về cơ bản trong vòng ba, bốn mươi năm Quá trình
di dân vào đô thị cũng là quá trình tăng năng suất lao động xã hội, nhờ đó của cải được làm ra nhiều hơn, mức sống được nâng cao hơn
Việc tăng dân số và việc di dân vào đô thị làm tăng sức lao động cho đô thị Mặc dù số đông dân nhập cư là lao động phổ thông, nhưng chính đô thị cũng cần loại lao động đó.Đồng thời với việc tăng dân số là tăng cầu cho các thị trường đô thị Một lao động trực tiếp thường kéo theo một số lao động gián tiếp và người “ăn theo” Ví dụ, theo thống kê lao động ở TP Hồ Chí Minh năm 2004 có 1.356.827 lao động trong các ngành sản xuất, 1.204 277 lao động trong các ngành dịch vụ và quản lý nhà nước, còn lại là
Trang 37người ăn theo trong tổng sổ 6 triệu dân Có thể thấy theo tỷ lệ là 1 lao động sán xuất kéo theo 4 nhân khẩu Đối với kinh tế thị trường, việc tăng cầu là một động lực phát triển.Tuy nhiên việc tăng nhu cầu quá mức, vượt quá khả năng cung ứng về hạ tầng và dịch vụ sẽ dẫn tới sự mất cân bằng của đô thị, ảnh hưởng xấu tới sự phát triển kinh tế và
ổn định đời sống nhân dân Dân số tăng nhanh trở thành áp lực đối với đô thị
2.1.3 Chi phí và lọi ích của tăng trưỏng
Đồ thị hình 2 - 1 biểu thị mối quan hệ giữa giá trị của lợi ích và chi phí (trục tung) với tốc độ tăng trưởng đô thị (trục hoành)
Chi phí cho đô thị bao gồm chi phí đầu tư hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật và xã hội, chi phí cho các dịch vụ đô thị, dịch vụ xã hội và bảo vệ môi trường v,v kê cả chi phí
mà người dân bo ra dể đàm bào cuộc sổng của mình trong dô thị như thời gian di lại, chi phí sử dụng điện, nước, v,v N hững chi phí này tăng rất nhanh khi tốc độ tăng dân số cao, do phát sinh thêm nhiều chi phí thứ cấp Ví dụ dân số tăng nhanh buộc phải cải tạo
đô thị, chi phí này tốn kém hơn chi phí xây dựng đô thị mới hoặc đô thị lớn thời gian di lại nhiều, chi phí cho việc đi lại cao hơn Do đó đồ thị chi phí - tốc độ tăng trưởng là đường cong “lõm”
Trong khi chi phí tăng nhanh, nhưng lợi ích mang lại cho đô thị (cộng đồng dân cư
đô thị) không tăng nhanh Bởi vì năng suất lao động không tăng theo dân số, phúc lợi xã hội cũng tăng chậm hơn Do đỏ đồ thị lợi ích - tốc độ tăng trưởng là đường cong “lồi” Hiệu sổ giữa lợi ích và chi phí chính là hiệu quả của việc tăng trưởng đô thị Trên hỉnh 2 -1, diêm G tương ứng với tốc độ tăng trưởng có hiệu quả nhất (có hiệu số lợi ích
- chi phí max) Còn điểm II tương ứng với tốc độ mà việc tăng trưởng đô thị không mang lại hiệu quả gì Nếu tốc độ tăng trưởng vượt quá giá trị tương ứng với điểm H, chi
I ’hí cho dô thị sẽ lớn hơn lợi ích, đô thị sẽ sa vào tình trạng mất cân bằng
36
Trang 382.1.4 Nguy cơ phát triển tự phát và kiểm soát tăng trưỏTig
Như hình 2 - 1, về mặt lý thuyết, để cho đô thị phát triển có hiệu quả nhất phải xác định được tốc độ tăng trưởng ứng với điểm G Tất cả các thành phố đều muốn kiểm soát tốc độ tăng trưởng để có hiệu quà phát triển cao nhất Tuy nhiên bài toán xác định tốc
độ tăng trưởng tối ưu đó rất phức tạp và hầu như không làm được, khó tìm ra lời giải thỏa đáng Dưới tác động mạnh mẽ của thị trường, xu hướng phát triển tự phát luôn luôn đe dọa các kế hoạch cứng nhắc của chính quyền đô thị
Phát triển tự phát là việc tăng dân số đô thị không kiểm soát được, kéo theo một loạt các vấn nạn như thất nghiệp, nghèo đói, ô nhiễm môi trường, xây dựng trái phép và các
tệ nạn xã hội khác
Hiện tượng di dân vào đô thị cũng giống như hiện tượng nước chảy về chỗ trũng Lý
do đom giản là ở thành phố dễ kiếm tiền hoai, ở thành phố lớn dễ hom ở thành phố nhỏ Nhà văn Som Nam thường nói đặc điểm của dân cư Sài Gòn là “về quê ăn Tet” Thành phố là nơi để làm ăn, kiếm sống Người tứ xứ đổ về thành phố làm ăn Ban đầu là lao động công nhật, chạy xe kéo, đạp xích lô, bán hàng rong v ,v d ầ n dần học được nghề, kiếm được chỗ làm ổn định và “sinh cơ lập nghiệp” Cũng dễ thấy bản chất của quá trình này là tự phát, chính xác hơn đó là một quá trình vận hành theo quy luật của thị trường N ếu không nhận thức được quy luật ấy sẽ dễ có những giải pháp chù quan sai lầm
Trong lịch sử quản lý đô thị, người ta đã áp dụng nhiều biện pháp để kiểm soát tăng trưởng:
ra lệ phí nhập cư Bằng cách này dễ thấy là những người nghèo khó nhập cư vào đô thị
về hành chính người ta đặt ra các tiêu chuẩn nhập cư, ví dụ muốn nhập cư phải có nhà
ở, có công ăn việc làm, hoặc có trình độ lao động cao Ở nước ta, lâu nay để hạn chế việc nhập cư vào đô thị thường sử dụng biện pháp hành chính, người nhập cư phải qua tạm trú dài hạn (ít nhất 5 năm), có chỗ ở và việc làm ổn định mới được đăng ký hộ khẩu thường trú Theo Hiến pháp, công dân có quyền tự do cư trú nên chính quyền không thể cấm nhập cư, chỉ có thể dùng các biện pháp hạn chế Công dân được tự do phấn đấu hội
đủ các điều kiện nhập cư
Tuy nhiên giải pháp ngăn chặn nhập cư chỉ gây khó khăn cho người dân, hạn chế phần nào số người nhập cư mà không ngăn chặn được việc nhập cư Lý do là vì nhu cầu bức bách của cuộc sống, người dân bất chấp các yêu cầu của chính quyền và sẵn sàng chịu mọi khó khăn để kiếm sống
Họ phải chấp nhận việc không có hộ khẩu, không có chỗ ở tốt, con cái không được nhận vào học các trường công lập, không được hưởng các phúc lợi xã hội, y tế v,v Cùng là công dân của một nước, những người nhập cư đã nghèo lại còn chịu nhiều thiệt
Trang 39thòi là không công bằng Chính quyền các đô thị không thể làm ngơ trước khó khăn của họ.
- Phát triển khu vực nông thôn để hạn chế di dân vào đô thị theo kiểu “ly nông bất ly
hương”, bằng cách đầu tư cho khu vực nông thôn, nhất là phát triển các ngành xản xuất phi nông nghiệp tại nông thôn, về lý thuyết đây là giải pháp phát triển rất lý tưởng, làm cho toàn xã hội phát triển đồng đều, giảm khoảng cách nông thôn - thành thị, kiểm soát được người nhập cư vào đô thị, không làm đô thị bị quá tải Tuy nhiên trong thực tế rất khó thực hiện trong nền kinh tế thị trường Nguyên nhân là việc đầu tư “rải mành mành”
về hạ tầng kỳ thuật sẽ rất tốn kém và có hiệu quả kinh tế thấp, có thể làm chậm sự phát triển của nền kinh tế quốc gia Nền sản xuất nhỏ phi nông nghiệp ở nông thôn (chủ yếu
là thủ công nghiệp và tiểu cộng nghiệp) khó có trình độ kỹ thuật và công nghệ cao, khó cạnh tranh với nền sản xuất đại công nghiệp ở đô thị Cho nên giải pháp này cũng chỉ mang tính bổ trợ
- Ngày nay ở nhiều nước người ta không quá chú trọng vấn đề kiểm soát tăng dân số
đô thị mà chú trọng vào việc quản lý phát triển đô thị bằng chiến lược phát triển và quy hoạch nhằm đáp ứng nhu cầu của tăng trướng Thậm chí chính quyền các đô thị còn đưa
ra các chính sách nhằm thu hút lao động có tay nghề hoặc tạo điều kiện đào tạo nguồn nhân lực từ dân nhập cư để phục vụ nhu cầu lao động của quá trình công nghiệp hóa Từ
đó quy hoạch và chiến lược phát triển trở thành một giải pháp quan trọng trong quản lý tăng trưởng đô thị
2.1.5 Chính sách quốc gia về dân số
Chính sách về dân số là các chính sách liên quan tới số lượng và chất lượng công dân của một quốc gia có liên quan trực tiếp đến dân sổ đô thị Trong đó nổi bật là chính sách kiểm soát tăng dân số, thể chất và tuồi thọ Chính sách về dân số là một trong những chính sách quan trọng nhất của quốc gia, nhất là đối với các nước đang phát triển Chính sách về dân số tác động trực tiếp tới mục tiêu con người, tới phát triển kinh tế và đảm bảo môi trường sống của người dân
Mâu thuẫn lớn nhất trong vấn đề dân số hiện nay là mâu thuẫn giữa dân số với môi trường sống của loài người, số dân càng đông, kinh tế càng phát triển, tài nguyên càng cạn kiệt, môi trường sinh thái càng bị huỷ hoại đang đe doạ trực tiếp đến sự tồn vong của loài người
Xu hướng chung của thế giới là hạn chế sinh đẻ, tăng cường thể chất, tuổi thọ cho mọi người Một số nước đã áp dụng chính sách hạn chế sinh đẻ triệt để, như Trung Quốc, một cặp vợ chồng chỉ được sinh một con Ẩn Độ áp dụng biện pháp triệt sản cưỡng bức, v ,v .Hạn chế sinh đẻ triệt để cũng có nhiều bất lợi, thậm chí còn xảy ra tiêu cực Ví dụ ở Trung Quốc, tại huyện Cao Bình, chính quyền địa phương coi tiền phạt do
38
Trang 40sinh đẻ “ngoài kế hoạch" là nguồn thu chủ yếu của ngân sách (do thuế nông nghiệp đã được miễn) Còn ở Thiệu Dương có tệ nạn bất trộm hoặc mua trẻ em “ngoài kế hoạch” giá chí 2000 đến 3000 tệ/em, bán cho người nước ngoài làm con nuôi giá 3000 USD/em
(Báo Giáo dục VN ngày 12/5/ 2011).
Ớ các nước phát triển việc không tăng (hoặc tăng rất ít) dân số cùng với việc kéo dài tuổi thọ làm cho dân số bị già hóa, gây ra tình trạng thiếu sức lao động Một số nước đã
bỏ chính sách hạn chế sinh đẻ, thậm chí còn có chính sách khuyến khích sinh đẻ
Ở nước ta nhờ có chính sách sinh đẻ có kế hoạch đã làm giảm tốc độ tăng dân số từ
3 + 4% ở cuối thế kỷ 20 xuống dưới 2% như hiện nay, tuy vậy trong 10 năm (1999-2009) dân số Việt Nam đã tăng thêm 9,5 triệu người
Hiện nay Việt Nam đang trong thời kỳ “cơ cấu dân số vàng” (thời kỳ nhóm dân trong
độ tuổi lao động (từ 15 đến 65) cao gấp đôi nhóm dân trong độ tuổi phụ thuộc) nhưng cũng là bắt đầu thời kỳ già hóa dân số Chỉ số già hóa (biểu thị bằng số người từ 60 tuổi trở lên trên số người dưới 15 tuổi) của Việt Nam hiện nay cao hơn mức trung bình của khu vực Đông Nam Á (30%), tương đương mức già hóa của Indonesia, Philippine, nhưng thấp hơn Singapore (85%), và Thái Lan (52%) Cùng với mức chết giảm, hiện nay tuổi thọ trung bình của người Việt Nam đạt 72,8 tuổi (nam đạt 70,2 tuổi, nữ đạt
75,6 tuổi) (Nguồn Điều tra dãn số 1/4/2009).
Dù có những khó khăn, tiêu cực trong khi thực hiện chính sách dân số, các nước đang phát triển đều hướng tới một số dân ổn định Các nước phát triển đã đạt được mục tiêu này
2.2 B1ÉN ĐỎI KHÍ HẬU VÀ MÔI TRƯỜNG ĐÔ THỊ
2.2.1 Biến đổi khí hậu
2.2.1.1 Khái niệm và nguyên nhân
Mặc dù còn những ý kiến khác nhau về nguyên nhân, nhưng hiện tượng trái đất nóng dần lên, mực nước biển trung bình dâng cao và sự thay đổi thời tiết ngày một rõ ràng trên trái đất và “đang đe doạ sự sinh tồn của loài người” như hội nghị Thượng đỉnh toàn cầu về phát triển bền vững tại TP Johannesberg (Cộng hoà Nam Phi, 2002) đã nhận định Mối đe doạ này trực tiếp tác động lên sáu lĩnh vực: Tài nguyên nước, năng lượng, sức khoẻ, nông nghiệp, an toàn lương thực và đa dạng sinh học Sáu lĩnh vực này lại có quan hệ hệ thống với nhau và tới toàn bộ nền kinh tế, xã hội của thế giới
Việt Nam là một trong những nước chịu ảnh hường của biến đổi khí hậu và nước biển dâng nặng nề nhất thế giới Nghiên cứu chính sách đô thị, đặc biệt vấn đề quy hoạch đô thị không thể không nghiên cứu hiện tượng biến đổi khí hậu (BĐKH)