Vì vậy, dé tai “piéu ché nhién liéu diesel sinh hgc biodiesel tiv đầu thực vật phế thải theo công nghệ hóa siêu âm” được đặt ra với mục đích đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu và ứn
Trang 1ULM 5 53
ỦY BAN NHÂN DÂN TP HỒ CHÍ MINH
SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
tbh heh
BAO CAO TONG KET DE TAI
DIEU CHE NHIEN LIEU DIESEL SINH HOC (BIODIESEL) TU DAU THUC VAT PHE THAI | THEO PHUONG PHAP HOA SIEU AM
TP HỒ CHi MINH
THANG 12 NAM 2005
Trang 2VLW 46/ FE
ỦY BAN NHÂN DÂN TP HO CHi MINH
SG KHOA HOC VÀ CÔNG NGHỆ
BAO CAO TONG KET DE TAI
Điều chế nhiên liệu diesel sinh học
(biodiesel) từ dầu thực vật phế thải theo
phương pháp hóa siêu âm
ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HCM
TP HỒ CHÍ MINH
TP HỒ CHÍ MINH
THÁNG 12 NĂM 2005
Trang 3CAN BO THAM GIA THUC HIEN DE TAI
TS HOÀNG NGỌC CƯỜNG
ThS LE VIET HAI
ThS NGUYEN THAI HOANG
CN DANG NGQC HOA
ThS TRAN VAN MAN
CN NGUYEN TH] THANH NHANH
CN VO THI DONG PHONG
CN NGUYEN TH] MAI THANH
TS LE VIET TIEN
ThS NGUYEN NHI TRU
Trang 4
1.1 Nhién liéu diesel 3
IIL.1 Các phương pháp điều chế biodiesel từ dấu thực vật 20 IH.2 Phản ứng transeste hóa 21 IL3 Điều chế biodiesl theo phương pháp hóa âm 26
Phân 2: Kết quả nghiên cứu 29
TV.1 Phương pháp, nguyên liệu và thiết bị 29 TV.2 Xác định một vài tính chất hóa lý của nguyên, nhiên liệu 29
Chương V: Điều chế BDF từ dầu nành thải 37 V.1 Anh hưởng của nổng độ xúc tác và thời gian phản ứng 37 V.2 So sánh một số điều kiện phản ứng điều chế BDF từ dâu nành 39 V.3 Thông số tối ưu cho phương pháp hóa âm điều chế BDF từ dầu nành | 40
VI.3 Anh hưởng của điểu kiện phản ứng lên biệu suất tạo thành BDE 45
VI4 Phân tích sản phẩm BDF từ đầu cọ thải 48
KẾT LUẬN 54
Trang 5MG DAU
Khi xã hội càng phát triển thì nhu câu về nhiên liệu càng tăng Trong cơ cấu
nhiên liệu hiện tại, dầu mỏ đang chiếm tỷ lệ lớn nhất Tuy nhiên, dẫu mỏ không phải là tài nguyên vô tận, gần như không tái sinh: Việc nghiên cứu và sử dụng
các dạng nhiên liệu mới thay cho nhiên liệu hóa thạch đã trở thành vấn đề cấp thiết với mọi quốc gia trên thế giới
Một trong những sản phẩm từ dầu mổ được sử dụng ngày càng nhiều là
nhién liéu diesel (DO — diesel oil) Việc tiêu thụ diesel tăng hàng năm, đặc biệt
khi công nghiệp và giao thông vận tải phát triển, là một trong những nguyên
nhân gây ra ô nhiễm môi trường trầm trọng Dầu diesel sinh học hay còn gọi là
nhién liéu biodiesel (BDF — biodiesel fuel) đã được nghiên cứu và đưa vào sử
dụng thay cho đầu DO là một trong các hướng giải quyết vấn đề này
Thực tế BDF đã có lịch sử hơn 100 năm Dâu lạc là dang đầu tiên của nhiên
liệu này được Rudolf Diesel sử dụng để chạy động cơ diesel đầu tiên do ông chế
tạo vào năm 1895 Tuy nhiên, phải đến những năm 80 của thế kỷ 20, BDF mới
được nghiên cứu và sử dụng rộng rãi Châu Âu đi tiên phong trong lĩnh vực này
cũng vì đa số các nước ở đó không có nguồn nhiên liệu từ dầu mỏ Chỉ trong thời gian tương đối ngắn hàng loạt các nhà máy sản xuất nhiên liệu biodiesel ở qui
mô công nghiệp với công suất vài trăm ngàn tấn/năm đã ra đời, tập trung nhiều
nhất ở Đức, Italia, Áo, Pháp, Thụy Điển, Tây Ban Nha Trong khi đó tại châu Á,
việc nghiên cứu và ứng dụng BDF cũng phát triển mạnh, tiêu biểu như: Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản, Hồng Kông Ngoài ra, các nước Châu Phi và Châu Úc
cũng đang bước đâu triển khai nghiên cứu nhiễu về BDE Trong thực tế, trên thế
giới, nước sử dụng rộng rãi BDF nhất hiện nay là Hoa Kỳ với nhiều chính sách ưu
đãi
Sử dụng BDE góp phần giải quyết an ninh năng lượng, thay thế nguồn nhiên liệu hóa thạch đang cạn dần, góp phần đa dạng hóa và tạo ra nguồn năng lượng sạch Trong tương lai, khi các nguồn năng lượng truyền thống cạn dẫn thì khả
năng sử dụng nguồn nhiên liệu mới sẽ có nhiều triển vọng hơn Do đó, đạng
nhiên liệu mới được tạo ra từ dầu thực vật có thể sẽ là tiền để cho việc định hướng phát triển cây thực vật có dầu và mở rộng ngành công-nông nghiệp sản
xuất và tinh chế đâu thực vật làm nhiên liệu ở qui mô lớn
Ở Việt Nam ngay từ cách đây 20 năm đã bắt đầu có những công trình nghiên cứu về biodiesel, tuy nhiên do còn một số hạn chế trong kết quả nghiên
cứu cũng như chưa có những chính sách khuyến khích từ phía Nhà nước nên biodiesel chưa được ứng dụng rộng rãi
Trang 6Trong kỹ thuật diéu ché BDF duge nghién cứu tại nước ta cho đến nay, thì
phương pháp hóa học cổ điển vẫn là chủ yếu Trong khi đó, theo tài liệu, việc sử
dụng kỹ thuật siêu âm có thể cho ra sản phẩm với độ tính khiết cao, năng suất
phh hợp với quy mô sản xuất ở Việt Nam, giá thành lại thấp Vì vậy, dé tai
“piéu ché nhién liéu diesel sinh hgc (biodiesel) tiv đầu thực vật phế thải theo
công nghệ hóa siêu âm” được đặt ra với mục đích đánh giá tổng quan tình hình
nghiên cứu và ứng dụng nhiên liệu diesel sinh học trên thế giới và trong nước,
bước đầu áp dụng các phương pháp hóa âm để điều chế nhiên liệu điesel sinh
học từ dầu thực vật phế thải Đề tài được thực hiện với các nội dung sau:
i) Khảo sát đầu thực vật và dâu thực vật phế thải;
ii) Nghiên cứu động học các phần ứng từ dầu thực vật phế thải;
ii) — Lựa chọn công nghệ siêu âm thích hợp để sản xuất dầu diesel sinh
học;
iv) Đánh giá hiệu quả kinh tế-kỹ thuật của việc sẩn xuất và sử dung dau
điesel sinh học
Nhóm để tài trân trọng cắm ơn sự hỗ trợ tích cực của Sở KHCN TPHCM
trong suốt quá trình thực hiện dé tai
Để hoàn thành để tài, chúng tôi cũng nhận được sự giúp đỡ của các cơ quan
sau đây:
- Cé6ng ty TECAWORLD,
- Céng ty Best Food
-_ Công ty Lắp máy và Xây đựng số 18, Tổng Công ty LILAMA Việt Nam
- NICHIYO ENGINEERING CORPORATION (Nhat Bản)
- OSAKA PREFECTURE UNIVERSITY
Xin chân thành cẩm ơn sự giúp đỡ có hiệu quả của các quý cơ quan
Trang 71.1 Nhiên liệu điesel
Nhiên liéu diesel (viét tit 14 DF — diesel fuel hay cdn goi 14 DO — diesel
oil) 14 một loại nhiên liệu lỏng, nặng hơn dầu lửa và xăng, được sử dung chủ yếu
cho động cơ diesel, cho các tuabin khí và các loại động cơ đốt trong khác,
Nhiên liệu diesel được sản xuất chủ yếu từ phân đoạn gasoil và là sản phẩm của quá trình chưng cất trực tiếp từ dầu mỏ Phân đoạn điesel có khoảng nhiệt độ sôi là 250 — 370C, thành phần hydrocacbon của phân đoạn này gồm có:
parafin, naphten, aromatic va olefin với số nguyên tử cacbon từ 12 — 18
Bang 1.1 cho biết vài thông số về nhiên liệu diesel
Bang 1.1: Mét vài thông số về DO
Nhiên liệu diesel được sử dụng rộng rãi trong các quá trình sắn xuất công, nông, lâm, ngư nghiệp, trong hàng hải, giao thông Việc tiêu thụ diesel tăng hàng năm, đặc biệt khi công nghiệp phát triển mạnh và giao thông vận tải tăng
Những yêu cầu đối với nhiên liệu diesel gầm :
~- Đảm bảo cấp nhiên liệu liên tục và tin cậy vào buồng cháy, phù hợp với quá trình làm việc của động cơ
- Có khả năng tự cháy và bay hơi phù hợp để động cơ khởi động dễ dàng, có
tốc độ tăng áp suất xi lanh không quá lớn và có tốc độ cháy đủ lớn
- Ít đóng cặn trong hệ thống cấp nhiên liệu và trong xi lanh
Trang 8L1.1 Trị số xetan
Khả năng tự bốc cháy là đặc trưng quan trọng nhất của nhiên liệu diesel
Khả năng tự bốc cháy của nhiên liệu diesel được biểu thị bằng trị số xetan (ký
hiệu là: CN — cetane number) Tri số xetan của nhiên liệu DO là một đại lượng
qui ước, có giá trị đúng bằng tỷ số phần trăm (%V - theo thể tích) xetan (n -
hecxadecan C¡¿H¿¿) trong hỗn hợp với œ-metyl naphtalen (CjoH7CHs) mà khả
năng tự bốc cháy của hỗn hợp ấy tương đương với khả nãng tự bốc cháy của
nhiên liệu DO trong những điều kiện thử nghiệm tiêu chuẩn
N-xetan có công thức cấu tạo mạch thẳng Chất này dễ tự cháy, quy ước có
chỉ số xetan bằng một trăm (CN = 100) œ~metyl naphalen có cấu tạo là hai vòng
thơm ngưng tụ với một nhóm metyl Chất này rất khó tự cháy, có nhiệt độ tự cháy
cao, quy ước có trị số xetan bằng khong (CN = 0) Hỗn hợp hai chất này sẽ có
chỉ số xetan bằng % thể tích của chất n-xetan trong hỗn hợp Theo cấu trúc hóa
học, parafin có CN lớn nhất, aromatic có CN bé nhất, isoparafin có CN trung
bình, CN tăng với phân tử lượng
Trong thực tế, thay cho o-metyl naphtalen người ta hay dùng
heptanmetylnonan với CN bằng 15, nên hỗn hợp x% xetan có :
CN=x+0,15(100-— x)
Trị số xetan không có ý nghĩa sống còn như trị số octan Nó không hoàn
toàn quyết định hiệu suất động cơ (liên quan đến độ nén), song nhiên liệu có trị
số xetan thấp hơn yêu cầu có thể dẫn đến những khó khăn, trục trặc khi khởi
động máy, gây nhiều tiếng ổn, đặc biệt khi giảm tốc độ trong trời lạnh, tạo nhiều
khói lúc khởi động, tạo ra khí thải chứa nhiều chất độc hại và ở một mức độ nhất
định, nhiên liệu đó không cho phép dùng động cơ có độ nén cao Nói chung,
nhiên liệu có CN càng lớn thì máy càng dễ khởi động Nhiệt độ tối thiểu khởi
động được máy càng thấp, càng ít tiếng dn, hệ số tác dụng hữu ích càng lớn, song
CN cao quá thường gây ra hiện tượng cháy kém hoàn toàn, cháy không hết Đa
số động cơ diesel nhẹ đòi hỏi nhiên liệu có CN vào khoảng 46 - 55
1.1.2 Độ nhớt của nhiên liệu diesel
Độ nhớt quyết định khả năng lưu động và hóa sương của nhiên liệu, do đó
cũng quyết định đặc tính cháy của nhiên liệu trong xilanh
Cũng như đối với áp suất phun dâu, độ nhớt lớn sẽ ảnh hưởng xấu cho hoạt
động của bơm cao áp và kim phun Ngược lại nếu độ nhớt quá lỏng sẽ không làm
kín tốt xilanh piston bơm cao áp và kim phun, đồng thời nhiên liệu thiếu đặc tính
bôi trơn, một yếu tố vô cùng quan trọng đối với bơm cao áp và kim phun nhiên
liệu Vì vậy, độ nhớt của nhiên liệu diesel phải được chọn cho thích hợp với cấu
trúc của động cơ đã thiết kế sẩn
Trang 91.1.3 Thành phần cất
Thành phần cất của nhiên liệu diesel được đánh giá bằng các nhiệt độ
chưng cất Đối với nhiên liệu điesel, người ta quan tâm đến nhiệt độ chưng cất
10%V, 50%V, 90%V nhiên liệu
Nhiệt độ chưng cất 10%V nhiên liệu (tax) là nhiệt độ mà tại đó 10% thể
tích nhiên liệu được bay hơi Nhiệt độ chưng cất 10%V đặc trưng cho các hydrocacbon nhẹ, đễ bay hơi trong điều kiện xi lanh Thực tế yêu cầu tiog khong thấp hơn 200°C Nếu tuạz, thấp hơn 200°C, chứng tỏ trong nhiên liệu diesel có hợp
phần nhẹ cao, khi cháy sẽ làm tăng nhanh áp suất, đễ dẫn tới cháy kích nổ Điều
đó làm tăng vận tốc, tăng áp lực của khí trong xi lanh Động cơ làm việc với nhiên liệu như vậy thường có tiếng dn lớn kèm theo dao động và cường độ ăn
mồn chỉ tiết cao
Nhiệt độ chưng cất 50%V của nhiên liệu (tsoz) đặc trưng cho tính đồng đều
của phân bố hydrocacbon và tính bay hơi hoàn toàn trong quá trình tạo hỗn hợp
tsọ„ ảnh hưởng tới tính khởi động của máy: nhiên liệu có t;o„ thích hợp (không vượt qué 280°C) sé khiến động cơ khởi động dễ dàng
Nhiệt độ chưng cất 90%V của nhiên liệu dùng để đánh giá hàm lượng các hydrocacbon khó bay hơi trong nhiên liệu Các hydrocacbon loại này làm giảm vận tốc bay hơi của nhiên liệu trong quá trình phun, làm tăng khả năng bay hơi
không hoàn toàn cũng như cháy không hết của nhiên liệu Như vậy, tính kinh tế
và công suất của động cơ sẽ giảm, khá năng tạo muội trong buồng cháy và độ độc khí xảy ra cũng tăng Tóm lại tsox biểu thị cho khả năng cháy hoàn toàn của hơi nhiên liệu, tọz của nhiên liệu điesel không nên vượt quá 370C
1.1.4 Một số tính chất khác
Hàm lượng lưu huỳnh, nhiệt độ kết tỉnh, tính chất nhiệt độ thấp, khả năng
lọc được, ăn mòn tấm đồng, điểm đông đặc, điểm van duc, chi số axit, nhiệt trị,
điểm chớp cháy cốc kín, nước và tạp chất cơ học là những tính chất quan trọng
Trang 10Bang L3 Tiéu chuẩn Việt Nam về nhiên liệu diesel : TCVN 5689 : 2002
D4294 Nhiệt độ chưng cất °C, 90%V max D86 2698: 2002 370
Hàm lượng tro, %KL max D 482 2690: 1995 0,01
Hàm lượng nước và tạp chất cơ D2709 0,05
(*): Phương pháp tính trị số xetan không áp dụng cho các loại nhiên liệu điesel có phụ
1.2 Dâu thực vật
Dâu thực vat (viét wit 1A VO - Vegetable Oil) 14 hén hợp của các chất hữu
cơ trong đó thành phần chủ yếu là các axit béo
Dâu thực vật là sẩn phẩm được chiết ép chủ yếu từ hạt của cây có dầu VO
được sử dụng chủ yếu làm thực phẩm trong công nghiệp thực phẩm, trong công
nghiệp nhẹ và trong một số lĩnh vực khác Về khía cạnh sử dụng dầu thực vật làm
thực phẩm, người ta quan tâm đến các tính chất như: khối lượng riêng, chỉ 86 axit,
màu sắc, chỉ số iốt, các giới hạn nhiệt độ đông đặc, nhiệt độ kết tinh, nhiệt độ sôi
L2.1 Các thành phần chú yếu của dầu thực vật
Các glyxerit: Là thành phần chủ yếu của VO, nó là một este tao thành từ
axit béo có phân tử lượng cao và glyxerin (a một loại rượu 3 chức), đo đó người
ta còn gọi các VO thuần khiết là các triglyxerit.
Trang 11Công thức cấu tạo chung như sau:
tạp Đa số VO ở dưới dạng glyxerit hỗn tạp Chỉ khi nào một loại axit béo nào đó
có hàm lượng cao thì hàm lượng các glyxerit đồng nhất mới ít nhiều có số lượng
rõ rệt
Các axit béo: Thường có trong VO ở dạng kết hợp trong glyxerit và một lượng nhỏ ở trạng thái tự do Các glyxerit có thể thủy phân tạo thành axit béo theo phương trình phản ứng như sau:
(Tryglyxerit + Nước + Glyxerin + — Axi báo)
Bảng L4 cho biết hàm lượng các axit béo chủ yếu trong các dau thực vật
thông dụng ở Việt Nam [3]
Bảng L4 79 lệ (% KL} các axít báo trong một số dầu thực vật
Trang 12
Bảng 1.5: Một số axit báo điển hình trong thanh phdn VO [A]
"Tên axit béo Công thức Phân tử lượng _| Điểm nóng chảy °C
Axit captilic C;H¡:COOH 142.2 16
Axit capric CoHigCOOH 172,3 31,3
Axit lauric CuH;;COOH 200,3 435
Axit panmitic C1sH3,COOH 256,4 62.9
Axit stearic C17H3sCOOH 284,5 69,6
Axit arasidic C19H3>COOH 312,5 75,4
Axit oleic C\7H33COOH 282.4 14
Axit elaidic C\7H33COOH 282,4 51
Axit linolic Ci7H3;COOH 280,4 -9,5
Axit elaeostearic Cy7H2gCOOH 278,4 -
Axit eruxic C2)H4,COOH 338,4 34
Axit Rixinolenic CigH3403 298 -
Glyxerin : Glyxerin là rượu ba chức Trong dau VO, glyxerin tổn tại ở dang
kết hợp trong các glyxerit, lượng glyxerin thu được khoảng 8 - 12% so với khối
lượng VO ban đâu
1.2.2 Các thành phần phụ trong dầu thực vật
Dâu VO thô còn chứa một ít chất không thuộc loại triglyxerit Một số dâu
như dầu cao su, dầu cám bị men lipase thủy phân chứa axit béo tự do, diglyxerit
hay monoglyxerit
Dầu VO thé còn có thể chứa một số lượng nhỏ các tạp chất sau:
phospholipit, những hợp chất này còn gọi là phosphatit thường chiếm tỷ lệ dưới
3%; sáp, là este của axit béo có đây cacbon dài thường có 24-26 carbon và một
rượu đơn hay đa; sterol; hydrocacbon Ngoài ra, trong thành phan VO còn có các
chất màu, các chất gây mùi và các sinh tố (vitamin) [5]
1.2.3 Các tính chất hóa — lý cơ bản của dầu thực vật
Tính chất hóa lý của các loại VO nói chung là khác nhau, thậm chí tính chất
hóa lý của VO cùng loại cũng khác nhau khi quá trình thu hoạch và chế biến
khác nhau
Ti Bang L4 tỷ lệ (% khối lượng) các axit béo trong một số dầu thực vật cho
thấy tỷ lệ các axit béo của các loại dâu thực vật rất khác nhau, hàm lượng axit
béo biến đổi trong dải rộng Các axit béo oleic và linolic thường có tỷ lệ cao
trong nhiều loại VO Sự khác nhau về tỷ lệ các axit béo của các loại đâu là
nguyên nhân làm cho các VO có tính chất hoá lý khác nhau
Trang 13Trên Bảng L6 so sánh tính chất hóa lý của VO với DO về khía cạnh sử
dung lam nhiên liệu [Š]
Bảng 1.6 Các tính chất hóa lý cơ bân của dầu diesel và các đầu thực vật
Nhiệt độ kết tỉnh và nhiệt độ đông đặc của các VO đều cao hơn so với DO
Nhiều loại dầu không no như dầu đậu tương, tuy vẫn còn ở trạng thái lỏng khi nhiệt độ dưới 0°C, nhưng độ nhớt của chúng vẫn cao hơn khoảng 10 lần độ nhớt của DO, Độ nhớt cao của các VO có liên quan đến tính chất chưa no của thành
phân triglyxerit có mặt trong mọi loại đầu
Nhìn chung, các dầu thực vật sử dụng lầm thực phẩm đều có trị số axit lớn hơn một ít so với nhiên liệu diesel Điều này có khả năng gây ăn mòn lớn hơn cho các chỉ tiết động cơ khi tiếp xúc với dầu thực vật
Các VO đều có hàm lượng lưu huỳnh thấp hơn DO
Nếu bổ qua một lượng rất nhỏ các nguyên tố như lưu huỳnh và nitơ thì tỷ lệ
C:H:O trong nhiều loại VO gần đúng là 77:12:1 [5] So với nhiên liệu DO, lượng cacbon của VO ít hơn, lượng hydro tương đương còn lượng oxy thì nhiều hơn
Trang 14Các VO có nhiệt trị tính theo khối lượng thấp hơn so với nhiên liệu DO
khoảng 15% Nếu tính đến khối lượng riêng của VO cao hơn DO thi nhiệt trị của
VO thấp hơn nhiệt trị DO vào khoảng 5 - 6% tính theo thể tích Nhiệt trị thấp hơn
của các VO so với DO là đo tỷ lệ oxi lớn hơn Điều này có thé d& dang nhận thấy
qua công thức Mendeleep:
Qu = [34,013C + 125,6H — 10,9(0— 5)- 2,512(0H + W)].10° [J/kg]
Trong đó :
-C, H,O, §: là tỷ lệ về khối lượng của các nguyên tố cacbon, hydro, oxi, lưu
huỳnh
- W: là lượng hơi nước có trong 1 kg nhiên liệu
So sánh các tính chất hóa lý cơ bản của dâu thực vật và của nhiên liệu diesel
có thể nhận thấy, dầu thực vật có thể được sử dụng như là nhiên liệu điesel
Trong các thử nghiệm ngắn hạn, dâu thực vật nguyên chất thỏa mãn các tính
năng động cơ và sản sinh năng lượng tương đương diesel tuyển thống Tuy
nhiên, việc sử dụng dầu thực vật nguyên chất không phối trộn cũng có những vấn
đề nhất định Nghiên cứu cho thấy sử dụng trực tiếp VO làm nhiên liệu cho động
cơ điesel gây ảnh hưởng xấu đến quá trình cấp nhiệt, quá trình phun và cháy của
động cơ Nguyên nhân của vấn để này là do sự polyme hóa các nối đôi trong
triglyxerit dẫn đến việc hình thành chất cặn trong động cơ, làm động cơ kém ổn
định và tạo độ nhớt cao
Bên cạnh đó, nhiên liệu dầu thực vật nguyên chất còn có một số vấn để môi
trường Ngoài sự gia tăng lượng khí NO,, việc sử dụng loại nhiên liệu này còn
sinh ra aldehid Trong các báo cáo về vấn để này, người ta còn khẳng định rằng
thành phần triglyxerit trong dâu thực vật dẫn tới việc hình thành các hợp chất
vòng thơm từ các acrolein [6]
Vì những lý do trên, người ta không khuyến khích dùng đầu thực vật nguyên
chất thay thế nhiên liệu hóa thạch và cẩn phải có những biện pháp lầm tăng tính
năng của VO cho phù hợp với động cơ diesel
1.3 Nhiên liệu biodiesel
Vào những năm 1970, các nhà khoa học khám phá rằng độ nhớt của dầu
thực vật có thể giảm bớt đáng kể thông qua một quá trình hóa học đơn giản là
phần ứng transeste hóa Sản phẩm của phản ứng này - những monoalkil este của
các axit béo đây dài thu được từ nguyên liệu ban đầu là chất béo — có thể dùng
làm nhiên liệu cho động co diesel, nén có tên gọi 1 biodiesel (viết tắt là BĐE:
biodiesel fuel) Là một loại nhiên liệu thay thế, biodiesel có thể dùng ở dạng
nguyên chất hay phối trộn với diesel truyền thống ở nhiều thể tích khác nhau mà
không cần bất cứ sự thay đổi đáng kể nào trong động cơ và cũng rất an toàn khi
sử dụng BDF thay cho DO [1]
10
Trang 15Các tính năng khi sử dụng BDEF
Uu điểm về môi trường của biodiesel
Báo cáo tổng kết của US EPA (Tổ chức Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ) về ảnh
hướng của nhiên liệu biodiesel đến sức khỏe con người và môi trường cho biết:
"_ Khi sử dụng BDF làm nhiên liệu trực tiếp cho động cơ điesel, BDF cháy
sạch hơn 75% so với ĐO Biodiesel có một ưu điểm là giảm thiểu đáng kể khí CO; -thủ phạm chính gây hiệu ứng nhà kính [11] BDF có nguồn gốc từ cây trồng nên có tác động làm giảm hiệu ứng nhà kính khi đốt cháy chúng thay cho
DO Khí CO; do BDEF thải ra có “nguồn gốc thực vật” và được hấp thụ bởi thực vật, giữ được cân bằng CO; trong khí quyển Ngoài ra, hàm lượng CO; do BDF
thải ra khi đốt cháy cũng thấp hơn khi sử dụng DO
= Khd nang gây thủng tầng ozon của biodiesel thap hon diesel 50%
* Sy phat thai khí CO (một loại khí độc và là yếu tố gây sương mù quang hóa) thấp hơn diesel 50%
= Chat thai dang hat 1d lửng (viết tất PM) - tác nhân gây bệnh đường hô
hấp - của biodiesel gidm 30% so vdi diesel
= Biodiesel hon toan khong thai ra SO¿ và sulfat là thành phân chính của
mưa axit
" _ Sự phát thải các hợp chất aldehid như formaldehid và acetaldehid (có hai
cho sức khỏe con người) của biodiesel thấp hơn điesel 30%
= Su phat thai NO, ctia biodiesel 100% tăng từ 5 - 13% so với tổng lượng oxit nitơ do diese] thải ra Nếu hệ phối trộn chứa < 20% BDF (nhiên liệu B20) thì
hàm lượng NOx trong khí thải gần bằng so với DO Tuy nhiên, do không chứa lưu
huỳnh, chất đầu độc xúc tác, nên có thể dùng nhiều chất xúc tác chuyển hóa cho
nhiên liệu chứa BDF để giữ mức thải NO, của xe chạy bằng BDE thậm chí ở mức
thấp hơn so với xe tương ứng chạy bằng dầu DO
» _ Sự phát thải các hợp chất hydrocarbon khó cháy (yếu tố gây sương mù quang hóa và thủng tầng ozon) của biodiesel gidm 95% so vdi diesel
Lượng hợp chất có vòng thơm (PAH và NPAH - được cho là nguyên nhân gây các bệnh ung thư) do biodiesel thải ra giảm từ 75-85% so với nhiên liệu
diesel, ngoại trừ benzoantraxen chỉ giảm 50% Tất cả các hợp chất NPAH đều
giảm hơn 90%, chỉ còn & dang vết Thành phần hóa học của nhiên liệu diesel
truyền thống chứa đến 40% hợp chất có vòng thơm trong khi biodiesel không
chứa các hợp chất này Khả năng gây biến đổi gen của dư lượng biodiesel và biodiesel phát thải (đối với cả biodiesel 100% và nhiên liệu biodiesel phối trộn) thấp hơn diesel Theo kết quả nghiên cứu của Bộ Năng lượng Mỹ, sử dụng biodiesel thay cho nhiên liệu diesel từ đâu mỏ có thể giảm 93,6% nguy cơ nhiễm các bệnh ung thư từ khí thải động cơ
" Khả năng phân hủy sinh học của biodiesel nhanh hơn điesel từ 4—5 lần Biodiesel 100% và biodiesel phối trộn nổng độ cao phân hủy từ 64-91% trong
Trang 1614-28 ngày, su phan hay ciia diesel 1a t¥ 15-18% trong cùng thời gian Nhién
liệu phối trộn B20 được ghi nhận là phân hủy nhanh gấp đôi diesel trong cing
khoảng thời gian (Hình L1)
Hình I.1: Tác động trung bình của BDF đối với khí thải từ động cơ CI (nguồn:
EPA tổng hợp từ kết quả của 39 công trình nghiên cứu)
Nhóm nghiên cứu của giáo sư Y Maeda, Nhật Bản [9] cũng kết luận là việc
sử đụng biodiesel làm nhiên liệu thay thế giúp giảm bớt đáng kể ô nhiễm môi
trường không khí (Bảng I.7)
Bảng L7: Múc độ giảm khí thải khi sử dụng biodiesel [9]
Kết quả nghiên cứu của các tác giả Phan Minh Tân, Phan Ngọc Anh [10]
cho thấy lượng khí hydrocarbon (HC) không cháy và CO do biodiesel thải ra
giảm đáng kể so với nhiên liệu diesel truyền thống Tuy nhiên, lugng oxit nits
NO, thì lại tăng nhẹ (Bảng L8)
Bang L8: Lượng khí thâi của nhiên liệu biodiesel so với diesel [10]
Khí thải | Đơn vị truyền thống đầu nành dầu thải
Trang 17Về mặt kỹ thuật:
BDF cé thể phối trộn với DO theo mọi tỷ lệ Biodiesel và các hệ phối trộn
BDF có thể sử dụng cho các động cơ nén đốt trong được thiết kế chạy bằng DO
như các loại xe chạy bằng điesel, xe tấi, máy kéo, thiết bị khai thác mổ, máy
phát điện Hầu hết các động cơ điesel thiết kế từ sau năm 1994 đều có thể dùng BDF ma khong can cải tạo hoặc thay thế gì
BDF có tính bôi trơn tốt hơn DO, hệ phối trộn dù chỉ 1-2% BDF da ting d6
bôi trơn lên 66% so với DO không phối trộn Đặc tính này cải thiện tuổi thọ của
động cơ điesel Tính bôi trơn tốt của BDEF sẽ ngày càng có tầm quan trọng lớn
hơn do từ năm 2006 đa số các nước phát triển (Mỹ, Châu Au, Nhật Bản, ) đều
bắt buộc sử dụng nhiên liệu chứa hàm lượng lưu huỳnh siêu thấp cho tất cả động
cơ diesel trong giao thông vận tải, mà các nhiên liệu hóa thạch chứa lưu huỳnh
siêu thấp thường có tính chất bôi trơn rất kém, do đó việc thay thế DO bằng các
hệ phối trộn đù chỉ với hàm lượng thấp BDF đã giúp giải quyết vấn dé nay
Điểm chớp cháy của BDF (276°F) cao hơn DO (125°F) làm cho việc sử dụng BDF an toàn hơn so với DO
BDF có giá trị nhiệt lượng thấp hơn DO dẫn đến tăng lượng tiêu hao nhiên liệu biodiesel Ngoài ra, do điểm vẩn đục và điểm chấy của BDF cao hơn DO
nén BDF 100% không sử dụng được ở nhiệt độ âm hơn 10°C Người ta thường
khắc phục điểu này bằng cách thêm phụ gia hoặc dùng các hệ phối trộn BDF —
DO Hỗn hợp BDF < 20% thỏa mãn mọi yêu cầu của nhiên liệu đùng cho động cơ diesel và sử dụng được ở mọi nhiệt độ như DO Khi chuyển đổi sang sử dụng
BDF, công suất, lực kéo, mã lực của xe bằng với xe sử dụng dau diesel truyền
thống
Một số ưu điểm khác của biodiesel:
" Biodiesel có thể được bảo quản trong cùng điều kiện với diesel dầu mỏ
" Biodiesel từ VO hầu như không mùi; BDF điều chế từ dầu VO thải thì có mùi dễ chịu hơn nhiều so với DO
" Do khả năng tự phân hủy sinh học cao và không độc nén biodiesel rất thích hợp cho môi trường biển và các khu vực nhạy cảm như rừng và công viên
quốc gia
NHận thấy ưu điểm rõ rệt về bảo vệ môi trường khi chuyển qua sử dụng BDF nên nhiều hãng sản xuất xe hơi, động cơ diesel, đi tiên phong là Volswagen
đã đưa ra thị trường các động cơ chạy được bằng cả DO và BDF Theo thông báo
của nhiều hãng sẵn xuất lớn, hầu hết động cơ diesel trên thị trường hiện nay đều
có thể sử dụng các hệ phối trộn BDE mà không cần thay đổi chỉ tiết nào
Trang 18Chương II
TINH HINH NGHIEN CUU SAN XUAT VA SU DUNG
BIODIESEL TREN THE GIOI VA VIET NAM
IL1 Thi trudng biodiesel trên thế giới
Trong những năm gần đây, có rất nhiều viện nghiên cứu của Pháp, Úc, Nam
Phi, các nước châu Âu, châu A, Mỹ đã nghiên cứu các vấn để liên quan đến BDF
Một số dầu thực vật được dùng làm nguyên liệu sản xuất BDF như: dầu cải dầu,
dầu hướng đương, dâu đậu tương, dầu oliu, dầu lạc, dau co, dâu repak ở nhiệt độ bình thường Các dẫu thực vật có khối lượng riêng và có độ nhớt cao hơn nhiên liệu diesel, có khả năng bay hơi kém Chính vì vậy, sử dung VO ở động cơ diesel
thích hợp hơn so với động cơ xăng
Tại Châu Âu, từ năm 1992 đã bắt đầu sản xuất BDF ở quy mô công nghiệp Hiện nay, có trên 40 nhà máy lớn với công suất vài trăm nghìn tấn/năm, những
nhà máy này tập trung ở Đức, Áo, Italia, Pháp, Thụy Điển Áo là nước đẩu tiên
nghiên cứu sử dụng BDF (1982) và cũng là nước đầu tiên trên thế giới có tiêu
chuẩn đánh giá nhiên liêu biodiesel (1992) Từ năm 2001, Anh cũng đã đưa ra thị
trường nhiên liệu chứa 5% biodiesel Hiện nay toàn bộ nhiên liệu diesel cla châu
Âu trên thị trường đều chứa từ 2% dén 5% biodiesel Năm 2003 Đức có hơn 1500 trạm bơm nhiên liệu BDF với tổng sản lượng BDF trên l triệu tấn (Bảng II.]),
tương đương trên 20 triệu tấn nhiên liệu phối trộn B5
Bảng IL1: Sản xuất biodiesel của CHLB Đúc từ năm 1998 - 2003
Với lượng dầu thực vật trung bình 41,9 kg/người/năm, sản lượng BDF của
các nước trong khối Liên minh Châu Âu (EU - European Union) năm 2002 đã
14
Trang 19
tăng lên gấp 4 lần so với năm 1996 va đạt mức 2 triệu tấn Tại các nước EU, thuế
nhiên liệu cấu thành khoảng 50% giá bán điesel Tháng 2/1994, Nghị viện Châu
Âu đã quyết định giảm 90% thuế cho nhiên liệu BDF (Pháp và Đức miễn thuế
hoàn toàn cho BDF) Với những luật định ưu đãi về thuế, Châu Âu dự tính sẽ tăng thị phần biodiesel từ 2% năm 2005 lên 5,75% năm 2010 (tương đương 7 triệu tấn BDF) đến năm 2020 đạt 20% Nguyên liệu cho sản xuất BDF ở Châu
Âu là dâu thực vật trong đó đa số có nguồn gốc đầu hạt cải và dầu hạt hướng dương
Tại Mỹ, BDF có nguồn gốc từ dâu đậu nành được sử dụng cho xe tải, máy kéo, máy nông nghiệp, tàu thuỷ và xe bus nội thành Biodiesel được bán tại Mỹ
là nhiên liệu chứa 20% biodiesel (gọi là B20) Năm 1990 bang Missouri đã
nghiên cứu sử dụng monoalkyleste của dầu đậu nành làm nhiên liệu thay thế cho
DO Năm 1992, Hội đồng biodiesel quốc gia được thành lập nhằm phối hợp thực
hiện các chương trình kỹ thuật và điều phối BDE Tháng 3/2002, bang Minnesota
ban hành đạo luật qui định toàn bộ nhiên liệu diesel trên thị trường phải chứa ít
nhất 2% biodiesel Việc nghiên cứu, sản xuất, kinh doanh và thử nghiệm BDF được phát triển rộng khắp ở nhiều bang như: California, Nevada, Idaho, Alaska, Missouri.Năm 2001, ASTM (American Society for Testing Materials) hoàn chỉnh bộ tiêu chuẩn D - 6751 cho nhiên liệu B20 Hiện nay, có trên 100 công sở
và tập đoàn lớn đăng ký sử dụng BDF như Bộ quốc phòng, Hải quân, Bưu điện,
Bộ giao thông, Các Sở giáo dục Ngoài ra, Mỹ đã thông qua đạo luật Chiến lược
năng lượng, quyết định thay thế 10% DO bằng BDF vào năm 2000, và đến năm
2010 sẽ là 30% Tháng 8/1999, tổng thống Clntơn ký quyết định mở rộng sử
dung BDF Ngay 8/8/2005, tổng thống Bush đã phê chuẩn điều luật ưu đãi về thuế cho sẵn xuất kinh đoanh và sử dụng BDF: 1$/1 galon BDF ti VO va 0,5$/1
galon BDF tir đầu VO thải; điều luật này sẽ có hiệu lực kéo đài đến hết năm
2008 Ngày 10/8/2005 tổng thống Bush cũng đã phê duyệt cấp kinh phí 8 triệu
USD cho chương trình nghiên cứu về BDF của Ủy ban Biodiesel quốc gia Với sự phát triển không ngừng của sắn xuất và tiêu thụ cùng với các ưu đãi về thuế, giá bán BDF từ đâu đậu nành tại Mỹ giảm dần: từ 3 - 4 USD/gallon (lgallon ~
3/7854 lí) năm 1993 giảm xuống 2,81 $/gallon B2-B5; 2,91 USD/gallon B20 vào
tháng 9/2005, tiến gần đến giá bán ĐO là 2,91 $/galon DO vào cùng thời điểm
(Bảng II.2) Năm 2004 Mỹ đã sử dụng trên 36 tỷ gallon BDF
Bảng II.2: Giá nhiên liệu trung bình tháng 9/2005 (USD/gallon,1 gallon = 3,8 1)
(CNG - khí thiên nhiên nhiên nén)
Trang 20Rõ rằng, với những chính sách ưu đãi, giá bán các hệ phối trộn B2 - B20
hoàn toàn có thể cạnh tranh với DO
Canada là nước xuất khẩu dâu canola lớn (chủ yếu sang Nhật) Công nghệ sẵn xuất BDF của Canada tập trung theo hướng làm sạch dâu thực vật bằng hydro
để tạo xetan sinh học rổi pha vào điesel, sản phẩm gọi là diesel xanh
Châu Đại Dương: Australia đang san xuất biodiesel theo tiêu chuẩn của EU
từ đâu ăn phế thải Hiệu nước này tiêu thụ khoảng 100.000 tấn BDE từ nguồn dẫu phế thải
Tại Châu Á, nghiên cứu về BDF phát triển mạnh ở Trung Quốc, Nhật Bản, Hồng Kông, Ấn Độ
Ấn Độ là nước tiêu thụ DO lớn (40 triệu tấn hàng năm) đã có kế hoạch phát
triển các đồn điển trồng cây Jatropha ở những vùng đất khô cần chỉ để cung cấp
nguyên liệu sản xuất BDF Jatropha 1A loai cây lâu năm và chịu hạn tốt, theo tính toán từ năm thứ hai bắt đầu cho hạt và từ năm thứ năm cho sản lượng ổn định l- 2 tấn biodiesel/hecta/năm
Tuân thủ nghị định thư Kyoto, nhằm thực hiện nghĩa vụ giấm 6% khí thải
CO¿, từ năm 1995 Nhật đẩy mạnh nghiên cứu sản xuất và từ năm 1997 đưa nhiên
liệu BDF vào phương tiện giao thông nội thành Với hơn 400.000 tấn đầu thải/năm, Nhật đã đưa vào sử dụng làm nhiên liệu BDF, Một nhà máy công suất
200 nghìn tấn/năm được xây dựng để xử lý dầu thực vật phế thải của vùng Tokyo Thành phố Tokyo đã sử dụng biodiesel cho xe tải và toàn bộ xe bus với hàm lượng 20% BDF + 80% DO Nhật Bản cũng là nước đầu tiên nghiên cứu việc áp dụng kỹ thuật môi trường tới hạn và kỹ thuật siêu âm vào điểu chế BDF Mối quan tâm của Nhật tập trung vào đầu cọ, canola, hướng dương
Trung Quốc, Hồng Kông cũng đã thử nghiệm dùng BDF cho xe tải, xe bus BDF ở đây được điều chế chủ yếu từ dầu và mỡ thải Ngoài ra, các nước Đông Nam Á như Malaysia, Thái Lan, Philippines cũng bắt đầu quan tâm đến sản
xuất biodiesel, đặc biệt là từ dầu cọ (Malaysia, Thái Lan) và đầu dừa
(Philippines)
Khó khăn lớn nhất khi mở rộng sản xuất biodiesel từ dầu thực vật là giá thành sắn xuất cao hơn nhiều so với DO Giá thành sản xuất BDF vẫn cồn cao gấp khoảng 2 lần giá thành DO, do đó cân có ưu đãi về thuế Nếu sử dụng dâu thực vật phế thải để sản xuất BDF thì giá thành sẽ giảm đi rất nhiều và mang lại hiệu quả kinh tế
16
Trang 21IL.2 Kha ning phat triển biodiesel 6 Viét nam
Tiêu thụ VO ở nước ta thuộc loại thấp so với thế giới (Bảng H.1 và II.2)
Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của xã hội, mức sống ngày càng được nâng cao
và tiêu thụ VO trong những năm gần đây tăng đột biến Dự tính năm 2008 sẽ đạt
tiêu thụ 8 kg/người năm
Bảng II.1: Tiêu thụ dầu thực vật ở Việt Nam
Bảng IL2: Sản xuất dầu thực vật ở Việt Nam (nghìn tấn)
2000 2002 2005 Dầu thực vật (nghìn tấn) 317 456 650
Dâu tỉnh luyện (nghìn tấn) 290 423 600
Dâu thô 27 33 50
Hiện nay Việt nam mới tự túc được 10 — 15% nguyên liệu sản xuất dầu,
nhập 85-90% nguyên liệu VO thô Việc phát triển cây có dâu trong những năm qua gặp nhiều khó khăn như: cây có dầu nhạy cẩm thời tiết, sâu bệnh; năng suất
thấp so với thế giới; khó cạnh tranh với các loại cây ăn quả hoặc cây công nghiệp khác Vì vậy, sẵn xuất dầu từ nguyên liệu trong nước chủ yếu gồm: dừa, vừng,
lạc, hướng dương (đang thử nghiệm) Các Bắng H 3 - IL.6 nêu lên thực trạng phát
triển một số cây có đầu ở nước ta hiện nay
Bảng IL3: Diện tích cây có dầu ở Việt Nam trong 10 năm gân đây (nghìn ha)
Bảng II.4: Năng suất hại, tạ/ha
4995 1896 1887 1995 1999 2000 2001 2002 2003 SO?
Bông 73 TÔ 92 92 105 104 121 14,7 12/6 192 Lạc 129 136 139 143 128 145 148 162 167 174 Đậunàn 104 103 106 3 114 120 124 130 143 13,3
Trang 22
Bang ILS: Sản lượng, nghìn tấn
489B 1886 1897 1998 1999 2000 2001 2002 2003 S000 Bông 128 12 140 220 222 188 336 400 351 296
Từ hơn 10 năm trước đã trồng thử nghiệm tại Long An, đạt 4 tấn đâu/ba Tuy
nhiên có một số khó khăn sau:phải trồng quy mô lớn mới hiệu quả vì cẩn
đầu tư dây chuyển xử lý ngay sau thu hoạch: trong hạt chứa men lipase phân
hủy dầu trong vòng 24 giờ thành este và glyxerin nên cần diệt men lipase
(bằng nổi hơi).Cây cọ đâu không khó trồng nhưng cần mưa quanh năm, khó
đạt được ở VN Trong khi ở Malayxia cây cọ đầu được xem như món quà của Thượng đế, hiện Malayxia với 22 triệu dân, mỗi năm sản xuất 14 triệu tấn dầu cọ (So sánh VN 80 triệu dân, sản lượng ít hơn 500.000 tấn dầu các loại) Sâu róm cũng là một yếu tố gây khó khăn Hiện nay hầu như không phát triển được
Dién tich trén 180.000 ha, nhung nang suất dầu thấp, tối đa đạt 1 tấn dâu/ha,
bằng 1⁄4 so với cọ dầu Sản lượng dâu ép không cao vì cây dừa rất hiệu quả
đối với nông dân do các sẵn phẩm khác như cơm dừa sấy, xơ dừa, than gáo
dừa, thủ công mỹ nghệ từ gỗ dừa v.v nên gid dita trái tăng -> giá đầu dừa
cao (khoảng 15.000 d/lit)
Bông vải Theo chính sách Nhà nước về tự túc 70% nguyên liệu đệt may, sẽ phát triển
nhanh chóng Diện tích 2003: 33.000 ha; 2005: 60.000 ha; 2010: 120.000 ha
Đâu hạt bông vải có thể là nguồn nguyên liệu tốt để s/x BDF vi ta chưa loại
được độc tố gossypol nên không thể dùng để sắn xuất dầu ăn Giá dầu thô
hiện nay trên thị trường khoảng 7.000 d/it
Tại Việt Nam, việc điều chế và thử nghiệm BDE từ dầu thực vật bất đầu
được quan tâm từ những năm 1980 [11] Trong khoảng 5 năm gần đây các nghiên
cứu về điều chế BDF được chú ý nhiều, chủ yếu theo phương pháp este hóa với
nguén nguyên liệu từ đầu đậu nành, dẫu đừa, dầu ăn phế thải [12,13] Tuy nhiên,
18
Trang 23
kết quả đạt được của các nghiên cứu trên chỉ mang tính định hướng, thăm do và
việc thử nghiệm biodiesel chưa phát triển rộng khấp
Với việc đẩy mạnh nghiên cứu và sử dụng đầu thực vật làm nhiên liệu
diesel, cd thé sé 1A tién dé cho việc định hướng phát triển cây thực vật có dầu và
mổ rộng ngành công nghiệp sản xuất và tình chế dầu thực vat lam BDF ở qui mô
lớn Tuy vậy, trong tương lai gần việc sử dụng biodiesel tạo ra từ VO tại Việt
Nam chắc chắn còn bị hạn chế vì ta chưa có quy hoạch trồng cây có dầu nguyên liệu cho sắn xuất nhiên liệu thay thế và các nguồn nhiên liệu truyền thống vẫn
đang đóng vai trò chính Hơn nữa, tuy là nước nông nghiệp nhưng hàng năm chúng ta vẫn phẩi nhập một lượng rất lớn VO để tỉnh luyện phục vụ nhu cầu
trong nước và xuất khẩu (Bảng IL2) Sở đĩ như vậy vì giá mua nguyên liệu hạt,
quả có dâu ở nước ta đôi khi bằng hoặc đắt hơn so với giá nhập VO thô từ những
nước có tiểm năng như Malayxia, Mỹ,
Từ khảo sát về thực trạng cây có dầu ở Việt nam chúng tôi cho rằng trong thời gian trước mắt nên định hướng nghiên cứu sản xuất BDF tit ddu mỡ thải và các loại dầu thực vật không thực phẩm có giá thành thấp như dầu bông, dầu hạt
CaO §U,
Trang 24Chương II CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU CHẾ BIODIESEL
I1 Các phương pháp điều chế biodiesel từ đầu thực vật
Để sản xuất BDE làm nhiên liệu cần áp dụng các phương pháp xử lý dầu
thực vật để tính chất của nó gần với nhiên liệu diesol Sự khác nhau cơ bản của dầu thực vật so với nhiên liệu điesel chính là độ nhớt Ảnh hưởng của độ nhớt đến quá trình làm việc của động cơ được thể hiện ở việc hệ thống cấp nhiên liệu của động cơ làm việc không bình thường, nên chất lượng của quá trình phun và cháy kém hơn Do chất lượng của quá trình phun và cháy kém nên các chỉ tiêu của động cơ diesel sẽ kém đi khi sử dụng VO Vì lý do trên, trong số các giải pháp xử
lý dầu thực vật để tính chất của nó gần với nhiên liệu diesel thì các giải pháp lầm
giảm độ nhớt được quan tâm trước tiên đưới đây, giới thiệu một số phương pháp
làm giảm độ nhớt của dầu thực vật
Các phương pháp điều chế BDF:
-_ Phương pháp sấy nóng:
Hiện nay ít sử dụng vì không thích hợp, cân có nhiệt độ trên 80°C
-_ Phương pháp pha loãng:
Pha loãng là giải pháp đơn giản, để dàng thực hiện ở mọi qui mô Pha trộn
được tiến hành bằng phương pháp cơ học, không đồi hỏi thiết bị phức tạp, hỗn hợp nhận được bền vững và ổn định trong thời gian dài Nhược điểm lớn nhất của
giải pháp này là khi tỷ lệ dầu thực vật lớn hơn 50% thì không thích hợp, bởi vì lúc
này độ nhớt của hỗn hợp lớn hơn độ nhớt nhiên liệu điesel nhiều và đây là khó
khăn khi sử dụng VO với tỷ lệ cao làm nhiên liệu Pha loãng diesel bằng dầu thực vật, hỗn hợp 10% VO có độ nhớt gần bằng diesel và thể hiện tính năng kỹ thuật tốt đối với động cơ điesel
hiện ở qui mô nhỏ và sản phẩm gồm nhiều dạng nhiên liệu
- _ Phương pháp nhũ tương hóa:
Nguyên liệu ban đầu là dầu thực vật, rượu, và chất tạo sức căng bể mặt Với
thiết bị tạo nhũ có thể tạo ra nhũ tương dầu VO — rượu trong đó các hạt rượu có kích thước hạt khoảng 150um được phân bố đều trong nhũ tương
20
Trang 25Nhược điểm: Khó khăn trong việc tạo và duy trì nhũ, lọc nhiên liệu và do rượu bay hơi (nhiệt độ hóa hơi của rượu thấp) làm cần trở hoạt động bình thường của hệ thống cấp nhiên liệu cho động cơ
- Phương pháp transeste hóa:
Là phương pháp không phức tạp có thể thực hiện ở qui mô nhỏ với điểu kiện
cần phải có các hiểu biết cơ bản về điều kiện của phan ting este hóa
Trong các phương pháp trên, phản ứng transeste hóa là lựa chọn tối ưu do quá trình phần ứng tương đối đơn giản và tạo ra sắn phẩm este có tính chất hóa lý
gần giống nhiên liệu diesel Hơn nữa, các este có thể được đốt cháy trực tiếp trong buồng đốt của động cơ và khả năng hình thành cặn thấp [13]
TH.2 Phần ứng franseste hóa
Transeste hóa là thuật ngữ dùng để mô tả loại phẩn ứng khi cdc este phan ứng với alcol, quá trình này còn được gọi là sự alcol giải
Transeste hóa dầu thực vật là phương pháp được chú ý nhiều trong thời gian
qua Nguyên lý chuyển hóa cơ bản có thể mô tả như là phần ứng của một phân tử
triglyxerit (đây là axit béo không no, có độ nhớt cao) và ba phân tử rượu tạo ra ba phân tử este với một phân tử glyxerin (Hình 1)
H;0- OCOR " H;C—OH ROCOR ”
Hình III.1 Phần ứng este hóa dầu thực vật nói chung Phản ứng transeste hóa là một quá trình thuận nghịch, tuy nhiên sự hiện
diện của xúc tác (các axit hoặc baz mạnh) sẽ thúc đẩy quá trình phần ứng Để đạt được lượng sản phẩm cao nhất, alcol ban đâu phải được dùng với lượng dư
Ứng dụng của phản ứng transeste hóa không chỉ giới hạn trong phòng thí nghiệm Rất nhiều quy trình công nghiệp sử dụng phan Ung này sản xuất ra nhiều
loại hợp chất khác nhau, thí dụ: sản xuất PET (polyethylene terphtalat), hay các
dẫn xuất của axit acryle [13]
HI.2.1 Các phương pháp thực hiện phần ứng transeste hóa
Phan ứng transeste hóa thường được tiến hành bằng những phương phấp sau
đây:
Phương pháp khuấy-gia nhiệt
Còn được gọi là phương pháp cổ điển Người ta sử dụng máy khuấy cơ học
hay may khuấy từ có gia nhiệt để khuấy trộn hỗn hợp tạo diện tích tiếp xúc tốt
giữa hai pha đồng thời cung cấp nhiệt cho quá trình phản ứng
Trang 26Phương pháp này dễ thực hiện, có thể dat phần ứng hoàn toàn nhưng đồi hỏi
thời gian khá dài
Phương pháp siêu âm
Trong những nghiên cứu gần đây, phương pháp siêu âm thường được áp
dụng cho phản ứng transeste hóa vì có ưu điểm là rút ngắn thời gian phẩn ứng
đồng thời độ chuyển hóa của phản ứng tương đối cao
Phương pháp vi sóng
Phương pháp vi sóng ấp dung cho phản ứng transeste hóa cho độ chuyển
hóa cao và thời gian phản ứng ngắn [16 ]
TH.2.2 Xúc tác sử đụng trong phần ứng transeste hóa
Phần ứng transeste hóa thường sử dụng các loại xúc tác axit, baz, enzym và
cả một số baz hữu cơ
Xúc tác axit
Thường sử dụng các axit Brönsted như H;S§O,, HCI và axit sulfonic (axit p-
toluensulfonic) Cơ chế phần ứng được biểu diễn như sau:
9H
Hình IIL2: Cơ chế phân ứng transeste hóa xúc tác axit
Sự kết hợp proton với nhóm carbonyl của este dẫn tới sự hình thành
carbocation, sau đó tác nhân thân hạch là alcol tấn công vào carbocation này sinh
ra hợp chất trung gian tứ diện, loại glyxerin để hình thành este mới và tái sinh
xúc tác H”
Theo cơ chế này, những axit carboxylic có thể được tạo thành bởi phản ứng
của carbocation với sự hiện điện của nược trong hỗn hợp phản ứng Vì vậy nên
2
Trang 27thực hiện phẩn ứng transeste hóa xúc tác axit mà không có nước để tránh sự tạo
thành axit carboxylic, làm giảm hiệu suất phản ứng
Phần ứng transeste hóa xúc tác axit cho độ chuyển hóa các alkil este cao Tuy nhiên, phần ứng diễn ra chậm, thời gian phan ứng là hơn 3 giờ để đạt tới độ chuyển hóa hoàn toàn Phần ứng chọn lọc, đòi hỏi nhiệt độ cao trên 100C Ngoài
ra, xúc tác axit có giá thành khá cao và còn gây ăn mòn thiết bị phần ứng, đây cũng là những nguyên nhân làm cho loại xúc tác này không được sử dung trong công nghiệp Thường chỉ dùng xúc tác axít khi đâu thực vật có hàm lượng axít tự
đo cao [26]
Xúc tác baz
Phần ứng transeste hóa dầu thực vật xúc tác baz diễn ra nhanh hơn phần ứng
xúc tác axit Vì lý do này, cùng với việc xúc tác baz ít ăn mòn thiết bị hơn axit
nên loại xúc tác baz rất được ưa chuộng trong công nghiệp, như là alkoxit kim
loại kiểm, các hydroxit cũng như các muối carbonat của kali và natri
Bước đầu tiên là phản ứng của baz với alcol, sinh ra một alkoxit và một xúc tác proton hóa Tác nhân thân hạch alkoxit tấn công vào nhóm carbonil của triglyxerit tạo ra hợp chất trung gian tứ diện, từ alkil este và anion tương ứng của
điglixerit được tạo thành đo đó tái tạo hoạt tính, lúc bấy giờ có thể phan ứng với
phân tử alcol tiếp theo, bắt đầu một chu trình xúc tác mới Các diglixerit và
monoglixerit được chuyển hóa với cùng cơ chế tạo ra một hỗn hợp alkil este và glyxerin
Trang 28phit) ngay c4 6 néng dé thap (0,5% mol) Tuy nhiên, yêu cầu sự khan nước, điều
này không phù hợp với một số quy trình công nghiệp Hydroxit kim loai kiểm
(KOH va NaOH) rẻ hơn alkoxit kim loại, nhưng cũng kém hoạt động hơn Tuy
vậy chúng vẫn là những xúc tác tốt vì cho độ chuyển hóa cao khi tăng nổng độ
xúc tác lên 1 — 2% mol Ngay cả khi sử dụng hỗn hợp alcol/đầu khan nước, một
lượng nhỏ nước vẫn được sinh ra trong hệ thống bởi phản ứng giữa hydroxit với
alcol Sự hiện diện của nước làm tăng sự thủy giải những este tạo thành, kết quả
là tạo ra xà phòng Phản ứng xà phòng hóa không mong đợi này làm giảm hiệu
suất este và gây khó khăn cho việc thu hổi glyxerin đồng thời tạo nhũ trong sản
phẩm
Kali carbonat ở nồng độ 2-3% mol cho hiệu suất alkil este cao và giảm
lượng xà phòng
Xúc tác enym
Do tính sẵn có và sự thân thiện môi trường, các enzym thủy giải ngầy cang
được ứng dụng rộng rãi trong tổng hợp hữu cơ Chúng có tính chọn lọc cao, tương
đối ổn định và chịu được môi trường dung môi hữu cơ
Mặc dù phần ứng transeste hóa xúc tác lipase chưa được đưa vào sản xuất
công nghiệp, những nghiên cứu về xúc tác enzym vẫn được phát triển mạnh mẽ
Điểm chủ yếu của những công trình này là tối ưu hóa các điểu kiện phản ứng
(dung môi, nhiệt độ, pH, cơ chế sinh ra enzym ) để thiết lập những đặc tính phù
hợp để áp dụng vào sản xuất Tuy nhiên, hiệu suất phản ứng vẫn chưa hiệu quả
bằng phản ứng transeste hóa xúc tác baz và thời gian phản ứng kéo dài (hàng
chục giờ)
Xúc tác baz không ion
Trong những nghiên cứu ban đầu, một số baz hữu cơ đã được phát triển và
sứ dụng làm xúc tác cho phẩn ứng transeste hóa dầu thực vật Trong Bảng HLI
hoạt tính xúc tác của một số alkylguanidin đã được so sánh với các baz khác như
amidin DBU và DBN, triaminophosphoran BEMP và Me,P
"ân chối
một số baz hiữu cơ TBD 25,9 91
trong phần ứng vo MeP 252 a
với metanol [L5] DBU 2132 »
24
Trang 29Bảng II.1 cho thấy, dùng xúc tác TBD (1,5,7-triazabicyclo[4.4.0]dec-5-ene)
dù chỉ với nồng độ 1% vẫn thu được hơn 90% metil este sau 1 giờ phản ứng Khi
sử dụng những baz khác trong cùng điểu kiện thì hiệu suất phẩn ứng không vượt
quá 66% Điều này không liên quan đến độ baz của các hợp chất mà được giải thích bằng động học của phần ứng
TED DBU DBKE BEMP
Me;P MTED BCOG Tcœ
Hình HL4: Công thức phân từ của một số baz hiểu cơ
Do đôi điện tử tự do trên nguyên tử nitơ của TBD không bị cẩn trở nên cho
phép metanol tiếp cận dễ dàng, trong khi với các baz khác đều có chướng ngại
trong công nghiệp (NaOH và KạCO;) được trình bầy trong Bảng HIL2
Bang III.2: So sánh hoạt tính xúc tác của TBD và một sé baz vd co
Hiệu suất phan ứng với xúc tác và TBD gần bằng những phản ứng tương tự
xúc tác NaOH và không có sản phẩm phụ là xà phòng Khi so với KạCO; , TBD
Trang 30luôn hoạt động hơn ngay cả 6 néng d6 thap Mac di TBD kém hoạt động hơn
natri metoxit nhưng nó không yêu cầu bất cứ điều kiện đặc biệt nào
TII.2.3 Phần ứng transeste hóa trong môi trường alcol siêu tới hạn
Một trong những hướng nghiên cứu mới về biodiesel trong thời gian gần đây tập trung vào phương pháp điều chế không xúc tác trong môi trường alcol siêu tới
hạn
Đối với phần ứng transeste hóa thông thường, người ta phải giải quyết hai
vấn đề: thời gian phần ứng và thời gian tách biodiesel (loại xúc tác và xà phòng
ra khỏi sản phẩm)
Trong phương pháp dùng alcol siêu tới hạn không có xúc tác, những vấn để trên không xẩy ra Phản ứng transeste hóa dầu hạt cải trong methanol siêu tới hạn cho độ chuyển hóa hơn 95% trong vòng 4 phút [32] Điểu kiện tối ưu là: nhiệt độ 350°C, áp suất 30 Mpa, tỷ lệ mol methanol:dầu = 42:1
Năm 2002, Thổ Nhĩ Kỳ cũng dùng phương pháp này để tổng hợp biodiesel
từ dâu thực vật với metanol (850 K, 100 Mpa) [17]
Năm 2003, nhóm tác giả Y.Warabi thuộc đại học Kyoto nghiên cứu phan ting transeste héa triglyxerit va axit béo vdi metanol siéu tdi han (300 °C), két
quả nhận được phần ứng hoàn toàn sau 14 phút {14]
Tuy vậy, phương pháp này không phù hợp với điều kiện Việt Nam hiện nay
do rất đắt tiễn
III.3 Điều chế biodiesl theo phương pháp hóa âm
11.3.1 Hiéu ting kích hoạt phần ứng của siêu âm
Hiện nay phương pháp siêu âm đã phát triển mạnh mẽ trong nhiều lĩnh vực khác nhau Đây là một kỹ thuật hiện đại được ứng dụng trong sinh hóa học, vật lý hay trong y học để chữa bệnh
Hoá học siêu âm, được định nghĩa như phần ứng hoá học xẩy ra dưới tác động của sóng siêu âm Hoá học siêu âm phát triển không ngừng trong 10 năm
trở lại đây Tần số của siêu âm nói chung nằm trong khoảng từ 20 KHz -100
MHz Tân số được sử dụng trong phản ứng hóa học thông thường khoảng từ 20 KH¿ - 100 KHz, với một số phản ứng đặc biệt (phân hủy các chất hữu cơ dộc hại,
điêu chế hạt nano ) có thể sử dụng tần số cao đến vài MHz
Giống như tất cả các dạng năng lượng khác, năng lượng siêu âm được lan truyễn thông qua một dãy sóng dãn và sóng nén Chu kỳ đãn có năng lượng đủ lớn để vượt qua lực hút của các phân tử lỏng với nhau, khi đó chất lỗng sẽ hình
thành những “lỗ hổng” Những “bọt” khí này tổn tại và lớn lên sau một vài chủ
kỳ kế tiếp Những “bọt” khí này thường không ổn định vì sự giao thoa của quá
trình hình thành những bọt khí khác Sự cộng hưởng xung quanh nó dẫn đến sự
dãn rộng kích thước của những bọt khí đến một kích thước không ổn định rồi vỡ
mạnh ra Ở phương diện vi mô, quá trình trên giải phóng khối lượng năng lượng
26