VAI NET VE HIEN TRANG TIENG NGA TREN CAC PHUONG TIEN TRUYEN THONG DAI CHUNG Khoa Ngôn ngữ uà Văn hoá Nga Trường Đại học Ngoại ngữ Đại học Quốc gia Hà Nội Chúng ta đang sống trong một th
Trang 1VAI NET VE HIEN TRANG TIENG NGA TREN CAC PHUONG TIEN TRUYEN THONG DAI CHUNG
Khoa Ngôn ngữ uà Văn hoá Nga
Trường Đại học Ngoại ngữ
Đại học Quốc gia Hà Nội
Chúng ta đang sống trong một thời đại của những đổi thay đến
chóng mặt, những đổi thay không thể không để lại đấu ấn trong ngôn ngữ, buộc ngôn ngữ cũng phải thay đổi để có thể đáp ứng được những
nhu cầu mới của cuộc sống Những quá trình, những hiện tượng ngôn ngữ đang diễn ra trong tiếng Nga, sau những biến cố lịch sử của
những năm gần đây, có thể coi, nếu như không phải là một cuộc cách mạng ngôn ngữ, thì chí ít cũng là những thay đổi đáng kể “Tiến trình phát triển ngôn ngữ rõ rệt đến mức khiến cho không ai cả trong giói ngôn ngữ học, nhà báo và các nhà chính luận, lẫn những người dân
thường, mà về mặt chuyên môn không hề có mối liên quan nào đến
ngôn ngữ, có thể thờ ở” [H.C Banruna, 2001, c 3] Những thay đổi có thể nhận thấy trên tất cả mọi bình diện của ngôn ngữ, trong phát âm và trọng âm, trong từ vựng và hệ thống thành ngữ, trong cấu tạo từ và hình thái học, trong cú pháp và cách chấm câu Và nếu như một thời
gian dài trước đây nguồn dự trữ chính mà tiếng Nga tìm đến để hình
thành chuẩn mực ngôn ngữ là các tác phẩm văn học thì giờ đây vị trí này đã được nhường chỗ cho các phương tiện truyền thông đại chúng (PTTTĐC), nơi đầu tiên phản ánh những thay đổi diễn ra trong lời ăn
tiếng nói của người dân và đồng thời là khuôn mẫu ngôn ngữ để họ học theo Ảnh hưởng của báo chí, truyền thanh, truyền hình đến những gì diễn ra trong tiếng Nga những năm gần đây là hết sức to lớn
Trong bài viết nhỏ này chúng tôi muốn đề cập tới những thay đổi
ngôn ngữ chính có thể nhận thấy trên các PTTTĐC của Nga, các
Trang 2nguyên nhân dẫn đến những thay đổi này va cách nhìn nhận của các nhà ngơn ngữ học đối với chúng
Bộ mặt các PTTTĐC của Nga trong những năm gần đây đã cĩ
những thay đổi lớn về chất mà điều đầu tiên dé dàng nhận thấy là,
bên cạnh mặt nội dung đã được mở rộng nhiều về phạm vị, trên bình
diện ngơn ngữ cũng đã cĩ những khác biệt rõ rệt: phong cách gị ép,
khuơn mẫu của những năm trước cải tổ đã được thay bằng lối nĩi, lối viết tự nhiên, thiết thực, sống động, giàu cảm xúc hơn (mà nhiều khi
vượt quá ngưỡng cho phép và do đĩ tạo cảm giác khĩ chịu cho người
nghe, người đọc) Để minh hoạ, chúng tơi xin trích dịch hai đoạn ngắn
từ hai bài báo được lấy từ hai tạp chí được đăng ở hai giai đoạn trước
và sau khi chính sách tự do ngơn luận được đưa ra vào năm 1989 Các
ví dụ này trong điều kiện cĩ thể đã được chúng tơi lựa chọn trên cơ sở gần gũi về mặt đề tài để tiện cho việc so sánh “2KHTenm cTOHUbI —
pÀOTalOLHI€ JIOIH 3a đ€Hb OHH HATKHYT H€CKOJIbKO MHJUIHOHOB KBADATHbIX M€TDOB TKAH€Í, coOepyT /I€CHTKH TĐICHU T€/I€BH3ODOB, XOJOIHIbHHKOB H aBTOMOOMeH B MACT€DCKHX, AT€JIb€, IDAH€HHbIX H XHMHWCTKAX OHH YCI€IOT OK334Tb MHOTO BCđd€CKHX YCIYT IÏpHMVT H OTIIPABST MHJIIHOHbIL HHC€M, TBICI4H T€JI€TDAMM CTDPOHT€IH CJATVT OH€D€/NHbI€ KBAPTHPBbI, â B DOMJIbHbIX IOMAX NOABATCA Ha CBeT Gonee 200 Manbiue.” [Tu tap chi “CnytHuk” Dan theo 7ewn-3 Jĩum€HCU6nbrit KỊP pycckoezo a3vika Kuuza dna yuayezoca, M Pyccknii s3bik, 1987 C 68-69] -
“Những người dân thủ đơ là những người làm việc Trong một ngày họ
dệt được vài triệu mét vuơng vải, lắp được hàng chục nghìn chiếc vơ tuyến, tủ lạnh và ơ tơ Trong các xưởng, các hiệu may, các cửa hiệu giặt là, các hiệu tẩy hấp, họ kịp thực hiện nhiều dịch vụ các loại Họ nhận và gửi hàng triệu bức thư, hàng nghìn bức điện Các nhà xây dựng bàn giao những căn hộ tiếp theo, cịn trong các nhà hộ sinh cĩ
trên 200 em bé chào đời” “A KaKHe tam JIONH CHOKOÍHBI€
HECYETIIMBbIC, O4€Hb OTKPBITbI€ H IDHB€TJIMBbI€ KpOM€ KOpeHHbIX ›KHT€1I€Ìi OCTPOBOB, TAâHHCTB€HHbIX fyaHyeli, 3eCb 4yBCTByeTCH B/IHSHH€ HOPTYTA7IbHCB, HCTAHI€B, aHrIWwaH, ÕepÕepoB CIOBHO Bobpas B cebs BCe JIYHLIC€ OT HAPOOB CPA3Y TD€X KOHTHH€HTOB, DONHJIACb OCOỐa8 OỐULIHOCTb
— KaHapcKHl Hapon.” [Từ tạp chí «OroHek», 3.7.2003] “Cịn người ở đĩ
thì thế nào Điểm đạm, khơng vội vã, rất cởi mở và niềm nỏ Ngồi
những người dân gốc đảo, những người Guanch bí ẩn, ở đây cịn cảm
Trang 3thấy ảnh hưởng của người Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, người Anh, người Berber Như thể nhập vào mình tất cả những gì tốt nhất của
các dân tộc từ liền một lúc ba châu lục, một cộng đồng đặc biệt đã
được sinh ra - dân tộc Canary”
Nếu so sánh các “tác phẩm” của PTTTĐC Nga những năm trước
và sau cải tổ, bên cạnh những thay đổi chung về phong cách, chúng ta
cĩ thể nhận thấy một số quá trình chủ yếu sau đang diễn ra trong
ngơn ngữ của các PTTTĐC:
1 Sự vay mượn hết sức tích cực từ vựng của các ngơn
ngữ khác, đa phần của tiếng Anh - Mỹ
Những từ mới này, trước tiên, là tên gọi của các sự vật, hiện
tượng, khái niệm mới trong chính trị, kinh tế, khoa học, sinh hoạt, thương mại, nghệ thuật, những lĩnh vực mà khoảng hai thập kỷ gần
đây đang trải qua nhiều thay đối trong xã hội Nga hay đang cĩ những bước phát triển mạnh trên tồn thế giới Xin được dẫn ra một số ví dụ:
«KpOM€ TOFO, IID€C€W€HH€ HD€CTYVIUICHHÍI B 6upMmyaibHoM TIDOCTPAHCTB€ OCJOKHI€TCđ IDOỐJI€MAMH B 38KOHOJAT€JIbCTB€ H€KOTOPbIX CTPAH» -
“Ngồi ra, sự chặn đứng những tội ác trong khơng gian đo cịn bị những lỗ hổng tro ng luật p háp c ủa một v ài n ước g ây khĩ khăn”
« TaK3K€ HAaD€KAaHH1 H4aỐ/IOJAT€JI€Ì Bbl3blIBAIOT Ø/1//HOđbi€ ANTeKH » -
“ Những hiệu thuốc /rực tuyến cũng gây nên những lời chê trách ”
[Tt tap chi Jenveu, 6.3.2002]; “OgqHoBpemeHHo — npezenmayua TOMbKO WTO
BbIIII€II€Ì' KHIrH “[ÍsTHKOHedHas 3Be3na” ” — “Cung hic 1a lé gidi thiéu quyển sách “Ngơi sao năm cánh” mới được xuất bản ”,
“.,.ODTAHM3OBAHbI TDH MpAMbIX yapmepa Ha ['paH-KaHapwio.” — “ ba
chuyến bay thuê bao thẳng đến Grand Canary đã được tổ chức” [Từ tạp chí Oronek, 22.5.2008]
Theo th ống kê của N.8 Valgina [H.C Banruna, 2001, c 110], trong số những từ ngoại lai được sử dụng nhiều nhất vào những năm
90 của thế kỉ trước cĩ những từ như: aymompewe — “sự tự luyện tập”, aapoØuka — “thể dục nhịp điệu”, 6apmep — “(sự) đổi chác”, 6écuk —
“ngơn ngữ lập trình đơn giản”, ø⁄ịeoịwck - “đĩa video”, 2epoun
“héréin", eunepundaayua — “(su) lam phát tăng rất nhanh”, ducmei
“màn hình”, Ịckema - “đĩa mềm”, wuwøc - “hình ảnh”, unayeypayua
“lễ nhậm chức”, øcmwme - “danh sách”, wakua2c - “(sự) trang điểm”,
Trang 4Mapuxyana — “cần sa”, mapkemune — “(su) tiép thi”, maduo3zu — “thành
vién mafia”, menedocmenm — “ban quan ly, ban quan déc”, peiimune —
“thứ bậc”, penpunm — “su tai ban (sách với rất ít hoặc không có sửa đổi)”, enowucop — “nhà tài trợ”, menedbaxc — “fax”, dai — “file”, xannenunz
~ “biến cổ”, „ewnume - “thể dục thể hình”, oyen — “người có kĩ năng trong nghé giai tri’, woy-6usnec - “(việc, sự) kinh doanh các trò giải
A)
tri’, xxcKuo3suenviu — “doc nhất, độc quyền, dành riêng” v.v
Tiếng Nga luôn là thứ tiếng “mở”, sẵn sàng du nhập các yếu tố từ vựng từ các ngôn ngữ khác và hiện tượng vay mượn mạnh mẽ hiện nay, theo nhận định của các nhà chuyên môn, là một quá trình tự nhiên, song trên thực tế đang diễn ra nhiều trường hợp vay mượn
thừa thãi, phi lý, không cần thiết (ví dụ như trường hợp sử dụng từ kowceucyc (từ tiếng Latinh) trong khi tiếng Nga có từ coznacue - với nghĩa tương tự “sự đồng ý, nhất trí, tán thành”, hay một số từ được
vay mượn từ tiếng Anh như: 42c (= oốpa: - “hình ảnh”),
KOIWIOHOGbI (= X101đ4I10Øywa2eueiù - “/thuộc về! vải, sợi bong; /bang/
vải, sợ bông”), mpaHcnapeHmuetừ (= np03pawnoiù - “trong suốt” v.v )
2 Sy “leo thang” 6 at của lớp từ văn phong thấp - từ thô tục, các yếu tố khẩu ngữ, tiếng lóng
Lớp từ này trước đây vốn vẫn nằm ở những vùng ngoại vi của hệ thống ngôn ngữ, của ngôn ngữ văn học, nay đã được chuyển vào trung tâm của nó và ngang nhiên xuất hiện hàng loạt trên các trang báo, tạp chí, trong các chương trình phát thanh, truyền hình, trong đó được sử dụng tích cực nhất vẫn là lớp từ lóng Các nhà nghiên cứu đều
có chung một nhận định: trong tiếng Nga đang diễn ra thời kì tích cực hoá tiếng lóng Quả thực, từ lóng tràn ngập lời ăn tiếng nói người dân Nga, các PTTTĐC, các tác phẩm văn học Xin được dẫn ra đây một vài
vi du: «Kaxketca, 1 Harmyxo cea Ha ueny» — “C6 vé nhu tôi đã ngồi hẳn
lên kim (tức “bắt đầu tiêm ma tuý thường xuyên vào ven”) mất rồi” [Từ tạp chí 4øpopa, 1991, e8, 16]; «Ecnn ecTb neByIIKa, KOTODAã XOT€/A Ốbl pACCTATbCñ C JeBCTBEHHOCTBIO, HO ỐOHTCH H 3alememb, - % MOTY ñoMOvb.» [Từ báo A⁄ZK, 09.10.91] - “Nếu có cô gái nào muốn chia tay với
sự trinh trắng nhưng lại sợ bay xơ (tức "có thai /về cái thai ngoài ý muốn”), - tôi có thể B1IúP”; «KNH€HTbI y Hee XOpOIIM€ — CO/IIATbI
AaM€DHKAHCKOĂ Ốa3bl, I/IATST 36/1/HbLM1 [Từ tạp chí Ozowex, 1992, Ne7, 31]
Trang 5- “Khách hàng của cơ ta t6t — cac anh lính từ căn cứ quân sự của Mỹ,
họ trả bằng xơnh (tức tiền đơla Mỹ)”; «B KOHeWHOM CH€T€ MO3KHO KYTIHTb 2K3AM€H, H ]HIUIOM, H 32K€ COBCCM H€ 32KA2HUHBATb BY3, ©CJIH 1⁄WOHbI
IIOCbITIAIWCb Ha TeỐ1 30/IOTbIM 1O3K1eM» [Từ báo Ä⁄K, 11.08.92] - “Rốt cuộc
là cĩ thể mua cả kì thi, cả bằng, và thậm chí khơng cần kết thúc
trường đại học, nếu những guở chanh (tức “một triệu rúp”) như trận
mưa vàng đổ lên đầu bạn”; «JleT B ll-Ì7 n€BHOHKH H MâbHHLIKH HA1IHAIOT TOBODHTb «@2£H64)š , WTO Y HHX “3aHATbIe cepAua”» [Tu bao
FOnoweckan 2usema, 1994, Ne 9] - “Khoảng vào độ tuổi 11-17 các cơ bé
và các cậu bé bắt đầu nĩi với "các đầu lâu (tức 'cha mẹ)” rằng «trái tim chúng đã bận»” v.v [Các ví dụ trên được dẫn theo MokueHKO B.M., HuknTuna T.Ï., Boapuuó €c106đÐb pVyCCKOẴđO 2ICapeond (Đại từ điển
từ lĩng tiếng Nga), CII6.: «HopwHT», 2001]
Một trong những yếu tố được coi như một hiện tượng của cuối thế
kỷ XX - đĩ là sự xuất hiện của lớp tiếng lĩng chung, tức những từ lĩng
được sử dụng trong các PTTTĐC và trong lời nĩi của những tầng lớp
cĩ học trong xã hội Trong số những từ được sử dụng nhiều nhất và cĩ
thể gặp trên các trang của hầu hết các tờ báo hay tạp chí và nghe
thấy hàng ngày trên đài hay vơ tuyến phải kể đến những từ như
pa2Øopka - “vụ xơ xát, xử lý, thanh tốn” (nghĩa đen “sự tháo, tháo dỡ; phân loại”); øycòka — “cuộc đàn đúm, gặp gỡ, tụ họp, tụ tập” (nghĩa
đen “sự tráo” (các quân bài)”; xøy/oi - "thành đạt, đáng kính (thường
cĩ liên quan đến các tổ chức tội phạm): hết sảy; độc đáo, gây ấn tượng mạnh” (nghĩa đen “dựng đứng; khắc nghiệt, nghiêm khắc, khắt khe”: aux - “vơ tuyến” (nghĩa đen “cái hịm”); Øecnpeoe+ -“sự lộng hành; sự độc đốn, tình trạng khơng cĩ pháp chế, vi phạm pháp chế, tình trạng
vơ quyền hồn tồn” (nghĩa đen “sự khơng cĩ giới hạn” và một số từ khác nữa [E.A 3ewckas; H.C Banrnna, 2001, c 80]
ä Ngơn ngữ trên các PTTTĐC bộc lộ những sự lệch
lạc, đi chệch khỏi chuẩn mực ngơn ngữ
Các lỗi trong cách phát âm, đặt trọng âm, ngữ pháp, cách sử dụng từ, trong văn phong v.v là “người khách” thường xuyên trên các ấn phẩm báo chí, trong các chương trình phát thanh, truyền hình
Đề minh hoạ cho những gì vừa nêu cĩ thé dẫn ra một số ví dụ sau:
Trang 6- Một số lỗi phút âm, trọng âm: "OỐuleHWe ựBYX TIDẠ3HẠHTOB
ụazeno "' (phải là ụa'2ewo) Ở Ộsu giao tiếp giữa hai vị tổng thống quan trọngỢ; Ộòeửu mop (phải là eốửumop) 3A1O/2KAT K 3TOMY BDMẠHH orpomuyto cymMy geHer" - Ộngười uay đến thời điểm đó đã nợ một
khoản tiền lớnỢ: "woụosse enHuie (phải là Hoeoecedénnvie) IDABWIA " Ở
Ộnhững quy tắc mới được đưa rơỢ; "Buepa s "BeuqepHel MockKBe"Ợ ỐbU
noMeLieH #expo '1oe " (phải là xẤekpoao 2) - ỘChiều hôm qua trên tờ
ỔMoskva buối chiều' đã đăng bời điếu tơng Ợ; " IpMTIACHIH CTApYEO
OnbITHYEO đx)2đử2X) (phải là aKyue pKy) Ở ` người ta đã mời một ba đỡ già có kinh nghiệmỢ; npoino ụocew (phải là ụocew, tức ỘwỢ phải đọc mềm, chứ không đọc cứng) nHei - đã tdm ngày trôi qua;
"Oốinos.ieHHbili 1 220 (phải là vy2ei, tức Ộ3Ợ phải đọc mềm, chứ không dọc cứng) oTKPDII 1BepH ;118 noceTwTe1eli" - ỘViện bao tàng được khôi
phục lại đã mở cửa cho các khách đến xemỢ: "HeozH1aHHhIli
unyunoenm (ohai la waidenm) BbI3BA71 BO3MYVUHIHHbIẠ KOMMẠHTADMN" Ở
ỘVu đụng độ bất ngờ đã gây ra những lời bình luận căm phanỢ;
Ợ TOCV.1ADCTBO 8y⁄e# (phai là Bpymeử [n3], tức *Ợ phai đọc cứng, chứ
chòng đọc mềm) - ` nhà nước BruneiỢ v.v [Các vắ dụ trên được dẫn
theo M.B 3appal
- Một số uắ dụ uề lỗi ngữ pháp: ỘBseneHue n1pYTOl BanIOTbI (KpOMẠ
pyOna) naryửHo 118 oớowx cTpaHỢ, đúng ra phải là: oốewx, dạng số nhiều, giống cái - ỘViệc đưa vào một loại tiền tệ khác (ngoài đồng
rúp) có hại cho cả hơi nướcỢ; ỘBonee ớ0ceMbCOH1 Tbicgd MeHCHOHEpoB
MOTYT 3KHTb TẠIIẠpb 1ocTolHoỢ, đúng ra phải là eocemucom Ở ỘTrén tam trăm nghìn người nghỉ hưu sẽ có thể sống đàng hoàngỢ v.v [Các vắ
dụ trên được dẫn theo B.M Hoswkosa] Trong số các lỗi ngữ pháp thì lỗi biến đối số từ, như các vắ dụ vừa nêu, là hay gặp nhất
- Một số lỗi trong uiệc kết hợp từ, sử dụng những từ không phù hợp uăn phong: Ộỳỳozap BO3HHK Hà OqẠHb đbrcoKoử đbicomeỢỞ ỘĐám cháy xuất hiện trên một độ cụo rất CỦoỢ; ỘỳỳOCẠTHTẠIM My3Ạ% CI/IOLIb 23.M62Q2IMHIIKU, MV3ẠWHJMKWM [IOCTApANMCb 1ã HWX Hã cnasyỢ - ỘNhững người thăm viện bảo tàng toàn là dân Bộ Nội uụ, dân bảo tùng đã cố
găng vì họ một cách xuất sắcỢ [Theo B.H HoBHkoBa]; ỘBce-TaKH YHHBHTẠ/IbHO: KâK 3TO Mbl BCẠ YXHTPSẠMCả IIDHBbIKHYTb 3KHTb B BO3Y CẠHA,
Ạ MHTẠPẠCOM HAạTIOHA43 mpouecc ropenua CẠpHBX CHHI@K B HẠIIOCPẠCTBẠHHOlÍ Ố1WH3OCTH OT COỐCTBẠHHOli sadnuye!Ợ Ở ỘDù sao vẫn
Trang 7đáng ngạc nhiên: làm sao mà tất cả chúng tôi đều quen sống được
trong một xe cỏ khô trong lúc quan sát một cách thích thú những que
diêm lưu huỳnh cháy ngay gần đ/¿ mình!” v.v [Theo M.B 3apna] Nhìn chung, danh sách những lỗi như trên có thể dài vô tận Và
cùng với sự tràn ngập của từ ngoại lai, eủa những yếu tố từ vựng từ những văn phong thấp, sự bất tuân thủ những quy tắc ngôn ngữ trên
tạo nên một tình trạng lộn xộn, vô quy tác, đôi khi khó hiểu và mang
nhiều nét khẩu ngữ, thô tục trên các PTTTĐC
Vậy đâu là những nguyên nhân đã đưa đến những thay đổi,
những quá trình mạnh mẽ đang diễn ra trên các PTTTĐC nói riêng
và trong văn hoá lời nói người Nga nói chung? Ở đây, theo chúng tôi,
có một số nguyên nhân chính cần phải được nhấn mạnh, đó là:
1 Những đổi thay to lớn trong cuộc sống nước Nga những thập
kỷ gần đây, mà trước tiên là công cuộc cải tổ diễn ra vào những năm cuối thập kỉ 80 của thế kỷ trước Đây có thể nói là điểm mở đầu cho
quá trình chuyển mình của các PTTTĐC Tự do ngôn luận được chấp nhận Các rào cản của kiểm duyệt bắt đầu được đỡ bỏ Ngôn ngữ trên
các PTTTĐC được tiếp thêm luồng sinh khí mới Sau đảo chính năm
1991, khi Liên Xô tan rã và nước Nga bước vào một thời kỳ mới với
một nền kinh tế theo chiều hướng mới, mở cửa thì sự tự do trong báo chí, phát thanh, truyền hình lại còn lớn hơn Mặt tốt của sự tự do này như chúng tôi đã nêu là bộ mặt sống động, thiết thực v.v hơn của
các phương tiện truyền thông đại chúng, song nó cũng là nguyên
nhân của không ít hiện tượng tiêu cực Bởi lẽ giờ đây ngòi bút, lời nói
của các nhà báo, các bình luận viên, người dẫn chương trình v.v không còn có chịu bất cứ sự kiểm duyệt bên ngoài nào, có chăng chỉ là
sự kiểm duyệt bên trong của bản thân họ, mà nhiều khi ngay cả nó
cũng không có, và sự thoải mái trong ngôn ngữ của họ lắm lúc vượt
qua mọi giới hạn và trở thành bừa bãi, điều đã được không ít nhà
nghiên cứu chỉ ra V.G Costomarov coi tình trạng bi đát của tiếng
Nga những thập kỉ gần đây là kết quả của nhiều yếu tố trong đó phải
kể đến sự coi thường chuẩn mực được nhấn mạnh của các nhà báo,
thái độ bình thản của họ đối với sự thiếu tự tin của mình trong ngôn
ngữ [B.I' Kocrowapos, 1999 (1), c 11]
Cũng cần nói thêm rằng những biến cố trong cuộc sống kinh tế -
xã hội của Nga, sự phát triển của khoa học, kĩ thuật, sự mở rộng việc
Trang 8giao tiếp trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, chuyên môn và cá nhân giữa người dân Nga và các nước phương Tây đã thúc đẩy quá trình tích cực hoá ảnh hưởng lẫn nhau giữa tiếng Nga và ngôn ngữ các nước
phương Tây, dẫn đến việc xuất hiện nhiều sự vật, hiện tượng, khái
niệm mới cần phải có tên gọi cho mình Quá trình vay mượn và tích cực hoá các lớp từ thô tục, khẩu ngữ, tiếng lóng đang diễn ra mạnh
mẽ là những quá trình ngôn ngữ tự nhiên cần thiết để đáp ứng nhu cầu gọi tên này
2 Trình độ trong lĩnh vực ngôn ngữ của lớp nhân sự trên các PTTTĐC nhìn chung so với trước có kém đi Điều này, theo ý kiến của la.A Lomko [#1.A Jlowko], gắn liền với những thay đối lớn về nhân sự
trong các cơ quan PTTTĐC do những nguyên nhân chính trị và sự gia
tăng quá nhanh chóng các cơ quan PTTTĐC ở cả lĩnh vực báo chi, phát thanh lẫn truyền hình trong những năm gần đây Các trường đại
học đào tạo các chuyên gia cho các PTTTĐC dù đã nhiều hơn nhờ sự
;tất hiện của các trường tư thục song vẫn không có khả năng cung
cấp đây đủ số lượng người cần thiết và đảm bảo cho họ một nền tảng
ngôi ngữ chất lượng cao Bên cạnh đó còn phải kể đến một lượng tương đối lớn những người công tác trong các PTTTĐC nhưng lại
không có chuyên môn báo chí, còn trên các cơ quan phát thanh, truyền hình, các phát thanh viên chuyên nghiệp được thay thế bằng
các bình luận viên, biên tập viên, những người dẫn chương trình Tất
cả những yếu tố trên đã tạo nên một đội ngũ nhân viên, nhất là nhân
viên mới, trên các PTTTĐC nhìn chung kém cỏi hơn trước trong lĩnh vực ngôn ngữ Chính họ đã góp phần không nhỏ vào việc du nhập vô
tội vạ những từ ngoại lai vào tiếng Nga và tích cực hoá những lớp từ
văn phong thấp, cũng như việc gia tăng đáng kể các lỗi trong các ấn phẩm báo chí, các chương trình phát thanh, truyền hình
Nhưng sự kém cỏi này không chỉ có ở những người trực tiếp làm việc trên các PTTTĐC, đó là sự kém cỏi của cả phần lớn những người
dân Nga Và, ngược đời thay, nhưng chính cơ hội được tự do bày tỏ ý kiến của mình trên báo chí, đài và vô tuyến đã cho phép nhìn thấy rõ
sự nghèo nàn trong ngôn ngữ của nhiều người dân, sự dốt nát, tình trạng không biết viết, biết nói cho đúng bằng tiếng mẹ đẻ của họ v.v [B.H Benoycos] Một xu hướng dễ dàng nhận thấy trong xã hội
Nga hiện nay là người ta nói thay cho đọc theo giấy khi phát biểu như
Trang 9trước kia, hơn thế, phạm vi phát biểu công cộng được mở rộng (người
dân có thể nói trên đài, vô tuyến, các cuộc mít tỉnh, họp hành) và thành phần những người phát biểu cũng đa dạng hơn Người dân nói
một cách thoải mái, không sợ sệt và ngay lập tức sự có văn hoá và vô
văn hoá, có học và vô học được bộc lộ tức thì với vô vàn các lỗi đủ loại
[E.A 3ewckas] Vấn đề là ở chỗ nếu những lời nói xa rời chuẩn mực ngôn ngữ này rơi lên mặt báo, lọt vào các chương trình truyền thanh, truyền hình, những nơi vẫn được coi là khuôn mẫu trong việc sử dụng
ngôn ngữ, thì sẽ tạo cho người dân cảm giác là những lỗi trong những lời nói này có thể chấp nhận được
Một yếu tố có thể bào chữa phần nào cho việc mắc lỗi quá thường xuyên của các phóng viên, nhà báo, bình luận viên, người hướng dẫn
chương trình, cũng như của những người dân đó là đặc trưng của quá
trình sản sinh lời nói bột phát, không được chuẩn bị trước, vốn là nét
điển hình đối với các PTTTĐC (trong các cuộc phỏng vấn, lời bình luận trực tiếp v.v ) Lời nói như vậy luôn chứa đựng nhiều yếu tố bất
ngờ Hơn thế, quá trình sản sinh lời nói bột phát, theo ý kiến của
Viện sĩ thông tấn Viện hàn lâm khoa học Nga Iu.N Caraulov, còn
chịu ảnh hưởng của các quy luật mang tính ngôn ngữ, tâm lý và xã
hội Cụ thể là: 1) quy luật tương tự (ví dụ như trường hợp sử dụng cấu trúc o mo, wmo — “(về việc), rằng” (chuyên được dùng với các động từ chỉ suy nghĩ, lời nói: paccKa3ame ö mo, wmo — “kể (về việc), rằng”; Òywa1 o mom, wmo — “nghĩ (về việc), rằng”) đối với tất cả các động từ có nghĩa truyền đạt thông tin (yø⁄Òe1#w 0 mom, umo — “nhin
thấy (về việc), rằng” /phai là: yøuòe1w (mo), ¥mo/; ydedulucb oO mow,
wmo - “tìn tưởng, thấy rõ (về việc), rằng” /phải là: yốeÒw1MCb 6 mom,
wo/ v.v ); 2) quy luật tiết kiệm sức lực (ví dụ người Nga phát âm từ Kớapman- “quý, khu phố” với trọng âm ở âm tiết đầu dễ hơn /mặc dù
sai/ so với khi trọng âm ở âm tiết thứ 2; cũng do quy luật này mà tồn
tại những trường hợp sử dụng các từ ngoại lai bất hợp lý, bởi đối với những người biết ngoại ngữ làm như vậy sẽ đơn giản hơn so với việc tìm từ tương đương trong tiếng Nga)
Những yếu tố vừa nêu, theo chúng tôi, là những tác nhân chủ yếu ảnh hưởng mạnh đến các PTTTĐC, gây nên những thay đổi trong ngôn ngữ của chúng
Hiện thực không mấy lạc quan của ngôn ngữ trên các PTTTĐC nói riêng và trong văn hoá lời nói người dân Nga nói chung khiến các
Trang 10nhà ngôn ngữ học và nhiều người dân Nga e ngại, khiến không ít
người trong số họ nghĩ đến chuyện tiếng Nga đang bị phá hỏng Song
ý kiến của hầu hết các nhà ngôn ngữ uy tin (V.G Costomarov, Iu.N
Caraulov, E.A Zemskaia v.v ) là: không phải tiếng Nga (như một
ngôn ngữ, một hệ thống), mà là người dân Nga, những người sử dụng ngôn ngữ này, đang ở vào tình trạng bi đát Tuy nhiên ở đây cũng có
những cái nhìn b1 quan và kém bi quan hơn
Giáo sư, tiến sỹ ngôn ngữ học E.A Zemskaia mặc dù cũng đồng ý
rằng trình độ văn hoá lời nói của người dân cần được nâng cao hơn, nhưng khác với Iu.N Caraulov, bà cho rằng ngôn ngữ là một hệ thống
có khả nàng tự đào thải, và cùng với thời gian những cái gì thừa thãi
trong ngôn ngữ sẽ tự chúng ra đi Bà khẳng định rằng tiếng Nga không trở nên tổi tệ hơn, nó không chết mà cũng không bị hư hong di
Trên thực tế, nó đã hồi sinh lại sau một thời gian bị “sấy khô” Và sự
hu hỏng gây phản ứng gay gắt ở những người bi quan, theo ý kiến của
bà, động chạm không phải đến hệ thống ngôn ngữ, mà đến khả năng
ngôn ngữ, kĩ năng ăn nói của người dân Thực tế là người dân không
nói tdi hon, chang qua giờ đây chúng ta được nghe thấy những người
trước kia chỉ đọc và 1m lặng nói mà thôi Và kết quả là văn hoá lời nói
đã xuống đốc từ lâu bộc lộ ra
Song theo V.G Costomarov, điều đáng lo ngại là ở chỗ sở thích
ngôn ngữ của xã hội Nga đã thay đối, đó là điều không thể chối cãi
hay thay đổi, song bất cứ thái cực một chiều nào của mốt cũng có thể làm què quặt sở thích dân tộc, làm thay đổi sự linh cảm ngôn ngữ,
đầu độc môi trường thẩm mỹ đến mức có thể làm ngôn ngữ bị hạ thấp xuống thành những lời hùng biện trống rỗng, không có nội dung hay sự nghèo nàn đáng sợ [B.I Koctomapos, 1999 (1), c 307] Lời cảnh báo trên không phải không có lý Dù ngôn ngữ có khả năng
tự đào thải đi nữa thì có lẽ khả năng này của nó cũng chỉ có hạn, và
để thay đổi được tình hình thì phải chăng cách hữu hiệu nhất là phải tác động lên người sử dụng ngôn ngữ, nâng cao nhận thức, sở thích ngôn ngữ của họ
Khi bàn về việc khắc phục tình trạng xuống dốc của văn hoá lời nói trên các PTTTĐC nói riêng, cũng như của người dân nói chung, phần lớn các nhà ngôn ngữ đều đồng tình với ý kiến cho rằng sự cấm đoán không phải là biện pháp hữu hiệu để giải quyết tình trạng này