Bài nghiên cứu này chúng tôi muốn đi sâu vào tìm hiểu về các di sản chữ viết đưa ra cái nhìn tổng quát cho người đọc về các loại di sản chữ iết của nước ta, nguồn gốc ra đời của các loại
Trang 2MỤC LỤC
A Lời Mở Đầu.
B Nội Dung.
I Nguồn gốc ra đời của di sản chữ viết.
1 Khái niệm di sản chữ viết.
3 Nhận xét thực trạng di sản chữ viết hiện nay.
III Biện pháp bảo tồn và phát huy di sản chữ viết.
đỏ Iroquois, đều là những hình thức kí hiệu để ghi lại ý tưởng người xưa muốn truyền đạt cho nhau, hoặc đơn giản là để ghi dấu lại cho nhớ Những hình thức đó đều là những dạng mở đầu
Trang 3do con người mò mẫm mà có được Những hình thức chữ viết bằng đồ vật như vừa nói ở trên là những gì sơ khai nhất của chữ viết Tiến lên một bước nữa là hình thức chữ viết bằng hình vẽ
mà ta còn có thể thấy trong các văn bản cổ trên đá của người cổ Ai cập từ hơn 4000 năm trước, hoặc là những vẽ trên đồ vật bằng đất nung của người Sumer cũng khoảng thời kì hơn 3000 năm trước
Chữ viết ra đời đã góp phần rất lớn vào việc phát triển ngôn ngữ con người, tạo ra một bước nhảy vọt quan trọng: ghi lại tiếng nói để lưu giữ hoặc truyền đạt trong không gian rộng hơn tầm hạn của tiếng nói Nhưng giữa tiếng nóivà chữ viết,không bao giờ có thể tách lìa hoặc thủ tiêu một yếu tố nào: không thể có chữ viết nếu không tồn tại một tiếng nói trước đó Tương quan giữa tiếng nói và chữ viết như vậy là tương quan trước-sau Và chữ viết chỉ có thể xem là những kí hiệu như bao nhiêu hệ thống kí hiệu khác do con người chế tác để biểu đạt như một thứ nội dung nào đó
Việt Nam chúng ta từ trước đến nay đã trải qua nhiều biến cố lịch sử kéo theo đó là thay đổi
về chữ viết qua từng giai đoạn Thế hệ cha ông đã để lại cho chúng ta ột kho tàng di sản chữ viết đồ sộ nhưng thế hệ chúng ta vẫn chưa hiểu và phát huy hết gái trị của các di sản chữ viết
đó Hiện nay khi đứng trước sự phát triển của khoa học công nghệ và nhu cầu phát triển của xã hội thì vấn đề bảo tồn và phát huy di sản chữ viết là một vấn đề nan giải đối với toàn xã hội Bài nghiên cứu này chúng tôi muốn đi sâu vào tìm hiểu về các di sản chữ viết đưa ra cái nhìn tổng quát cho người đọc về các loại di sản chữ iết của nước ta, nguồn gốc ra đời của các loại di sản, tình hình thực trạng hiện nay từ đó đề ra những biện pháp bảo tồn và phát huy chúng Bài nghiên cứu gồm 3 phần như sau:
I Nguồn gốc hình thành các di sản chữ viết
II Tình hình thực trạng các di sản chữ viết
III Biện pháp bảo tồn và phát huy các di sản chữ viết
Khi tiến hành nghiên cứu về di sản chúng tôi có tham khảo một số bài viết của các nhà nghiên cứu, sử dụng nguồn tin từ các sách, báo tạp chí, đặc biệt có sự hướng dẫn của Giảng Viên: Hồ Sơn Diệp đã giúp chúng tôi hoàn thành bài nghiên cứu
Bài làm của chúng tôi có gì sai sót mong được sự đóng góp ý kiến của các bạn
Xin chân thành cảm ơn!
B – Nội dung:
I – Nguồn gốc ra đời của các di sản chữ viết:
1.Khái niệm di sản chữ viết:
a Khái niệm di sản:
Di sản là sản phẩm của quá trình hoạt động tự nhiên, hay hoạt động xã hội của con người; được hình thành trong quá khứ, thuộc thời kì trước, giai đoạn
Trang 4trước, của thế hệ trước, của người đã khuất còn lại, sót lại, để lại, hiện diện ở hiện tại.
b Khái niệm di sản chữ viết
Di sản chữ viết là một di sản văn hóa phi vật thể Là hệ thống các ký hiệu để ghi lại ngôn ngữ theo dạng văn bản, là sự miêu tả ngôn ngữ thông qua việc sử dụng các kí hiệu hay các biểu tượng Có giá trị lịch sử, văn hóa, thể hiện bản sắc dân tộc không ngừng được lưu giữ từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng hình thức ghi chép Mỗi dân tộc đều có di sản chữ viết riêng
về các di sản chữ viết của nước ta từ trước đến nay là rất khó, vì thế phải quay lại lịch
sử, tìm hiểu về nguồn gốc ra đời, sự hình thành và phát triển của các di sản chữ viết Chúng ta có thể khái quát những loại di sản chữ viết của dân tộc ta từ trước đến nay gồm những loại như sau:
- Chữ tượng hình: Thể hiện qua các kí hiệu, đường nét biểu tượng.Hiện nay chúng
ta còn lưu giữ chữ viết này trên trống đồng Đông Sơn
- Chữ Hán – Nôm: hiện nay không còn sử dụng nhưng vẫn còn lưu giữ và nghiên cứu (các dạng thức tồn tại như văn bia, hoành phi câu đối, châu bản tộc bản, thư tịch lưu trữ )
- Chữquốc ngữ : đang sử dụng và là Quốc ngữ của dân tộc Việt Nam
- Chữ Pháp (nền giáo dục Pháp - Việt)
- Các chữ viết khác (phong trào tây học, đội ngũ trí thức tây học ra đời và sự xuất hiện nhiều tài liệu viết bằng các ngôn ngữ khác phản ánh đời dống kinh tế xã hội Việt Nam ).Ngoài ra, chúng ta còn có di sản chữ viết của các dân tộc thiểu số: Chữ viết của dân tộc Chăm, Thái…
3 Nguồn gốc hình thành các loại di sản chữ viết:
a Chữ tượng hình:
Chữ tượng hình là chữ viết đầu tiên của dân tộc ta Khi con người mới hình thành
do sự phát triển còn hạn chế thì sự ra đời của chữ viết là không cần thiết nhưng đến khi
Trang 5con người phát triển tới một mức độ cao hơn, do nhu cầu cuộc sống, đời sống sinh hoạt của con người có sự chuyển biến, sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội đòi hỏi phải có chữ viết để ghi chép lại tất cả Chữ tượng hình vì thế được ra đời nó như là công cụ để tượng trưng cho lời nói Chữ tượng hình ra đời giống như là công cụ để ghi chép lại đời sống sinh hoạt hằng ngày của cha ông.Vì sự phát triển còn hạn chế nên những chữ tượng hình này chỉ được ông cha sử dụng từ những nét nứt gãy, những kí hiệu đơn giản, là biểu tượng gần như sự vật hiện tượng.Đó không phải là hệ thống các
kí hiệu đầy đủ như chữ viết bây giờ mà chỉ mang ý nghĩa tượng trưng.Chính vì thế mà chữ tượng hình không được sử dụng phổ biến, cũng do đặc thù của nó là những nét vẽ đơn giản mang ý tượng trưng nên không được ghi chép cẩn thận mà chỉ vẽ lên các tảng
đá, vách núi hay các đồ dùng đụng cụ Do đó chữ viết này không được lưu giữ, hiện nay di sản chư viết này chỉ còn lại rất ít, ở các mặt của trống đồng Đông Sơn Khi các nhà nghiên cứu tìm hiểu về nguồn gốc hình thành và sự phát triển của chữ viết họ đã khái quát lên một điều là: Chữ tượng hình Việt Nam không rõ ràng Đó là sự không rõ ràng về nguồn gốc hình thành và sự không rõ ràng về sự tồn tại và phát triển của chữ tượng hình
Ngoài ra, cũng có nhiều ý kiến cho rằng nước ta không có chữ tượng hình mà các
kí hiệu ở trên mặt trống đồng là loại hình hội họa mang tính chất trang trí Các tác phẩm hội họa thuần túy thời đại Đông Sơn người ta chưa tìm thấy, căn cứ vào các hình chạm khắc trên các dụng cụ còn để lại, ta thấy chủ đề của các hình vẽ vẫn là những sinh hoạt của người Lạc - Việt như nghênh chiến và nhảy múa Mặt khác các họa sĩ còn vẽ những cầm thú như chim, thú, hươu, nai…Cha ông thời xưa đã sáng tạo ra nghệ thuật hội họa bằng những kí hiệu được khắc trên trống đồng trên vách đá Những hình
vẽ về con trâu, người phụ nữ hay các điệu múa đều là những hình ảnh biểu tượng cho nghệ thuật hội họa được ông cha thể hiện qua các vết khắc
Như vậy, khi tìm hiểu về chữ tượng hình chúng ta không thể nói chắc chắn là chữ tượng hình tồn tại hay không, khi căn cứ vào đặc điểm và giá trị mà các kí hiệu biểu tượng để lại chúng ta có những đánh giá khác nhau Chính vì vậy mà đã hình thành nhiều quan điểm khác nhau: Người cho rằng đó là chữ tượng hình, Người cho rằng đó
là loại hình nghệ thuật hội họa Đó đều là những ý kiến đúng vì khi căn cứ vào giá trị
mà các di sản để lại nó vừa biểu tượng ngôn ngữ chữ viết ghi chép lại lịch sử của cha ông, đồng thời nó lại thể hiện nét nghệ thuật thời trước thông qua các hình vẽ chim ung muôn thú, hình ảnh của hội họa
b Chữ Hán-Nôm:
Chữ Hán vào Việt Nam theo con đường giao lưu văn hóa bắt đầu từ thiên niên kỷ thứ
nhất trước công nguyên Hiện nay, ở Việt Nam còn lưu giữ được số hiện vật như đỉnh
Trang 6cổ có khắc chữ tượng hình (chữ Hán cổ).Điều này là một phần chứng minh được rằng chữ Hán cổ xuất hiện ở Việt Nam khá sớm và thực sự trở thành phương tiện ghi chép
và truyền thông trong người Việt kể từ những thế kỷ đầu Công nguyên trở đi.Đến thế
ký VII - XI chữ Hán và tiếng Hán được sử dụng ngày càng rộng rãi ở Việt Nam.Thời
kỳ này tiếng Hán được sử dụng như một phương tiện giao tiếp, giao lưu kinh tế thương mại với Trung Quốc
Trích: Khoavanhoc-ngonngu.edu.vn
Do Việt Nam bị ách đô hộ của phong kiến phương Bắc trong khoảng thời gian hơn một ngàn năm, vì vậy hầu hết các bài văn khắc trên tấm bia đều bằng chữ Hán Qua đó, chúng ta có thể thấy rằng chữ Hán có ảnh hưởng to lớn như thế nào đối với nền văn hóa của nước Việt Nam xưa Từ sau thế kỷ thứ X, tuy Việt Nam giành được độc lập tự chủ, thoát khỏi ách thống trị của phong kiến phương Bắc, nhưng chữ Hán và tiếng Hán vẫn tiếp tục là một phương tiện quan trọng để phát triển văn hóa dân tộc
Chữ Nôm:
Dù chữ Hán có sức sống mạnh mẽ đến đâu chăng nữa, một văn tự ngoại lai không thể nào đáp ứng, thậm chí bất lực trước đòi hỏi, yêu cầu của việc trực tiếp ghi chép hoặc diễn đạt lời ăn tiếng nói cùng tâm tư, suy nghĩ và tình cảm của bản thân người Việt Chính vì vậy chữ Nôm đã ra đời để bù đắp vào chỗ mà chữ Hán không đáp ứng nổi.Chữ Nôm là một loại văn tự xây dựng trên cơ sở đường nét, thành tố và phương thức cấu tạo của chữ Hán để ghi chép từ Việt và tiếng Việt
Trang 7Trích: quangyendn.blogspot.com
Quá trình hình thành chữ Nôm có thể chia thành hai giai đoạn:
- Giai đoạn đầu, tạm gọi là giai đoạn "đồng hóa chữ Hán", tức là dùng chữ Hán để phiên âm các từ Việt thường là tên người, tên vật, tên đất, cây cỏ chim muông, đồ vật xuất hiện lẻ tẻ trong văn bản Hán Những từ chữ Nôm này xuất hiện vào thế kỷ đầu sau Công nguyên (đặc biệt rõ nét nhất vào thế kỷ thứ VI)
- Giai đoạn sau: Ở giai đoạn này, bên cạnh việc tiếp tục dùng chữ Hán để phiên âm từ tiếng Việt, đã xuất hiện những chữ Nôm tự tạo theo một số nguyên tắc nhất định Loại chữ Nôm tự tạo này, sau phát triển theo hướng ghi âm, nhằm ghi chép ngày một sát hơn, đúng hơn với tiếng Việt Từ thời Lý thế kỷ thứ XI đến đời Trần thế kỷ XIV thì hệ thống chữ Nôm mới thực sự hoàn chỉnh.Theo sử sách đến nay còn ghi lại được một số tác phẩm đã được viết bằng chữ Nôm như đời Trần có cuốn "Thiền Tông Bản
Hạnh".Đến thế kỷ XVIII - XIX chữ Nôm đã phát triển tới mức cao, át cả địa vị chữ Hán
Như vậy, với những đặc điểm cơ bản chữ Nôm là dùng các kí hiệu kế thừa sự phát triển của chữ Hán, chúng ta nhận thấy rõ ràng đó là một thứ chữ của người Việt dùng
để biểu thị chuỗi lời nói của tiếng Việt trong giai đoạn trước đây Để làm được điều
đó, như rất nhiều công trình nghiên cứu về chữ Nôm đã xác nhận, nó cần phải có một điều kiện tiên quyết là cách đọc chữ Hán của người Việt mà chúng ta quen gọi là cách đọc Hán Việt (hay âm Hán Việt).Đặc điểm ngôn ngữ ấy đến lượt nó sẽ quy định thời điểm xuất hiện của chữ Nôm trong lịch sử tiếng Việt.Chính vì chữ Nôm có sự kế thừa
Trang 8và giữa chúng có mói liên hệ với nhau cho nên các nhà nghiên cứu quy chúng vào cùng một nhóm di sản chữ viết là Hán- Nôm.
Các tác phẩm như Hịch Tây Sơn, Khoa thi hương dưới thời Quang Trung (1789)
đã có bài thi làm bằng chữ Nôm.Truyện Kiều của Nguyễn Du cũng được viết bằng chữ Nôm là những ví dụ
c Chữ quốc ngữ:
Danh từ quốc ngữ, dịch từng chữ ra tiếng Việt là "nước, tiếng", nếu hiểu chính xác
là "tiếng nước (nhà)" và như vậy quốc ngữ phải hiểu là "tiếng, ngôn ngữ" Thế nhưng danh từ này lại thường dùng để chỉ chữ viết tiếng Việt theo kiểu chữ cái La-Tinh Quốc ngữ hay đúng hơn là chữ quốc ngữ là công trình của những giáo sĩ người Bồ, Ý, Pháp
đã thành công trong việc chế ứng hệ chữ cái La-Tinh vào việc phiên viết tiếng Việt.Ngay từ khi khởi đầu các hoạt động truyền đạo của họ ở thế kỷ 17, các giáo sĩ đạo
Ky Tô phải giải quyết một vấn đề cực kỳ khó khăn là làm sao cho dân bản sứ hiểu họ nói gì Trước sự tồn tại song song của hai ngôn ngữ ở Việt Nam lúc bấy giờ, một ngôn ngữ của của tầng lớp trí thức, tức là tiếng Hán-Việt, được triều đình Việt Nam sử dụng
và các nhà nho xem trọng và ngôn ngữ thứ hai là tiếng Việt, ngôn ngữ của toàn dân, thì các giáo sĩ đã chọn lựa tiếng Việt, vì mục đích của họ là truyền đạo cho đám quần chúng Hơn nữa nếu dùng một ngôn ngữ mà tất cả giới bình dân đều thông hiểu thì giới trí thức cũng hiểu không khó khăn gì, nhưng ngược lại thì không đúng Chữ viết
để viết tiếng Việt thời đó là chữ nôm, một văn tự rất khó lại nhiều chữ, nên các giáo sĩ bèn tìm cách đặt ra một hệ thống ghi chép đơn giản và quen thuộc với họ để ghi tiếng Việt Việc chế tác chữ Quốc Ngữ là một công việc tập thể của nhiều linh mục dòng tên người châu Âu, trong đó nổi bật lên vai trò của Francesco de Pina, Gaspar D?TAmaral, Antônir Barbosa và Alexandre de Rhodes Trong công việc này có sự hợp tác tích cực
và hiệu quả của nhiều người Việt Nam, trước hết là các thầy giảng Việt Nam (giúp việc cho các linh mục người Âu) Alexandre de Rhodes đã có công lớn trong việc góp phần sửa sang và hoàn chỉnh bộ chữ Quốc Ngữ Đặc biệt là ông đã dùng bộ chữ ấy để biên soạn và tổ chức in ấn lần đầu tiên cuốn từ điển Việt - Bồ - La (trong đó có phần về ngữ pháp tiếng Việt) và cuốn Phép giảng tám ngày Xét về góc độ ngôn ngữ thì cuốn diễn giảng vắn tắt về tiếng An Nam hay tiếng đàng ngoài (in chung trong từ điển) có thể được xem như công trình đầu tiên khảo cứu về ngữ pháp Còn cuốn Phép giảng tám ngày có thể được coi như tác phẩm văn xuôi đầu tiên viết bằng chữ Quốc Ngữ, sử dụng lời văn tiếng nói bình dân hàng ngày của người Việt Nam thế kỷ XVII Tuy chữ Quốc Ngữ của Alexandre de Rhodes năm 1651 trong cuốn từ điển Việt - Bồ - La đã khá hoàn chỉnh nhưng cũng phải chờ đến từ điển Việt - Bồ - La (1772), tức là 121 năm
Trang 9sau, với những cải cách quan trọng của Pigneau de Behaine thì chữ Quốc Ngữ mới có diện mạo giống như hệ thống chữ Việt mà chúng ta đang dùng hiện nay (1)
d Chữ Pháp- nền giáo dục Việt – Pháp:
Mặc dù các giáo sĩ Ky Tô truyền đạo và sáng tạo ra chữ quốc ngữ khá sớm tuy vậy mãi đến năm 1932 bộ máy quan lại của triều đình mới bỏ việc dùng chữ Hán-Nôm và thay thế bằng chữ Pháp hay chữ quốc ngữ
Trích: Châu bản thời vua Bảo Đại khắc ghi chủ quyền Hoàng Sa của Việt Nam (19/07/2011)
(1) Theo Nguyễn Thiện Giáp (chủ biên) Lược sử Việt ngữ học (tập 1) Nxb Giáo dục, H., 2005,
Nhìn thấy quá khứ Việt Nam nặng nề Hán học, chủ tâm của người Pháp là muốn cắt đứt liên lạc văn hóa giữa người Việt với người Tàu Để đạt được mục đích hướngtinh thần Việt về với Pháp, chữ Hán cũng như chữ Nôm cần phải triệt bỏ và thay bằng chữ Pháp, còn văn tự người bản xứ nếu cần đã có chữ quốc ngữ cùng một mẫu chữ La tinh
Trang 10Trong thời kì phôi thai, Pháp thiết lập vài trường để làm nòng cốt cho hệ thống giáo dục phổ thông là các trường trung học phổ thông Le Myre de Viles ở Mỹ Tho (1989), trường Quốc học Huế (1986), trường trung học bảo hộ , tức trường Bưởi Hà Nội (1908) Ba trường này khi mới mở chỉ có bậc tiểu học mấy chục năm sau mới giảng dạy đến bậc cao hơn.Riêng chỉ có 2 trường Quốc học Huế và trường Bưởi sau này có đến bậc tú tài.Từ 1901-1930 là thời kì hình thành hệ thống giáo dục có tính chất
hệ thống.Từ 1930-1945 là thời kì hình thành hệ thống giáo dục cho người bản xứ ở Việt Nam đã được hoàn chỉnh
Khi đô hộ Việt Nam nhu cầu cấp bách của người Pháp là phải hủy diệt nền Nho học và thay thế bằng một hệ thống giáo dục phục vụ cho bộ máy cai trị của chúng
Do đó, chiếm được Nam Kì xong là người Pháp lập tức khai tử nền giáo dục Nho học Năm 1864 là kì thi Hương cuối cùng ở Nam Kì (tổ chức ở 3 tỉnh miền tây trước khi Pháp chiếm).Từ 1878 chữ Hán trong giấy tờ công văn các cơ quan hành chính được thay thế bằng chữ Pháp chữ quốc ngữ.Ở Bắc Kì và Trung Kì, dưới quy chế bảo hộ, sự thay đổi về giáo dục chậm hơn Tuy vậy đến năm 1932, bộ máy quan lại triều đình mới
bỏ việc dùng chữ Hán-Nôm và thay thế bằng chữ Pháp hay chữ quốc ngữ Như thế thời Pháp thuộc do chính sách cai trị của chúng đã tác động tới nền giáo dục của ta, các giấy tờ công văn chỉ thị đều được sử dụng bằng chữ Pháp, chính sách xóa bỏ chữ Hán-Nôm và thay thế bằng chữ Pháp đã làm cho di sản chữ viết nước ta thêm phong phú, các tác động đó đã giúp cho ngành giáo dục của nước ta phát triển Với tinh thần yêu nước và ý chí kiên cường thì dân tộc ta không bị chữ viết của Pháp làm phai mờ bản sắc văn hóa chữ viết dân tộc cũng chính vì thế mà chữ quốc ngữ được dùng cho tới ngày nay
e Các di sản chữ viết khác:
- Cũng trong thời kì Pháp thuộc, do chính sách đô hộ của thực dân Pháp muốn biến nước ta thành thuộc địa của chúng, chính quyền tay sai được sử dụng triệt để phục vụ cho bộ máy cai trị của thưc dân Pháp Chúng ưu đãi cho người Việt gia nhập làng Tây: là người Việt Nam nhưng quốc tịch Pháp Nhiều người vì miếng cơm manh
áo mà phục vụ cho Pháp, tham gia vào bộ máy cai trị của chúng, gia nhập làng Tây, trở thành người Việt có quốc tịch nước ngoài, được chúng gửi qua Pháp và các nước khác học tập để phục vụ cho nhu cầu cai trị của chúng Những người giàu có thì đi qua Tây học tập Chính vì thế mà phong trào Tây học ra đời.Cùng với sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội và quy luật tất yếu lịch sử đã tạo nên sự giao lưu nền văn hóa Đông Tây, phong trào mặc đồ Tây, ăn đồ Tây, đi dép Tây, đội ngũ tri thức Tây học hình thành Đặc biệt xuất hiện nhiều tài liệu có ghi chép nhiều chữ viết khác nhau.Những bài viết, bài nghiên cứu về Việt Nam được viết bằng chữ Tây Chính sách cai trị của
Trang 11thực dân Pháp và phong trào Tây học đã làm cho di sản văn hóa chữ viết ngày càng đa dạng, mở rộng thêm ngôn ngữ, tiếp cận với nền văn hóa của các nước trên thế giới
- Ngoài chữ quốc ngữ hiện nay chúng ta đang dùng thì còn có chữ viết của các dân tộc thiểu số Đây là một di sản văn hóa chữ viết quý giá của dân tộc ta Chữ viết của dân tộc thiểu số được những người thuộc dân tộc ít người tự sáng tạo ra tiếng nói chữ viết riêng cho mình không cần phải vay mượn Được ông cha xây dựng nên hệ thống chữ viết riêng và để lại qua bao thế hệ và được lưu giữ cho tới bây giờ Ví dụ điển hình
là chữ viết của dân tộc Chăm
Trích: Tự học tiếng Chăm
Đây là nét đẹp trong văn hóa của dân tộc ta cần được lưu giữ và phát huy di sản này để nó không bị mài mòn, phai nhạt theo thời gian
4 Hình thức biểu hiện chữ viết:
Về hình thức biểu hiện của chữ viết, cho đến nay, có thể quy lại 4 loại như sau:
- Thư tịch (sách vở) là nguồn di sản văn hóa chữ viết đồ sộ, cơ bản nhất với các sách bằng chữ Hán Nôm, chữ quốc ngữ, chữ dân tộc
- Văn khắc, bao gồm các loại bia minh câu đối, hoành phi, đại tự… có hàng chục ngàn thác bản Đây cũng là một tài nguyên vô cùng quý giá của văn hóa dân tộc
- Hồ sơ lưu trữ Hiện chúng ta chỉ còn giữ được từ các châu bản triều Nguyễn cho tới nay Với tất cả hệ thống lưu trữ trong cả nước, bao gồm lưu trữ nhà nước, lưu trữ Đảng
và các đoàn thể chính trị, lưu trữ ngành và địa phương, chúng ta có hàng triệu triệu
Trang 12trang hồ sơ cả in và viết tay Đây thực là nguồn di sản văn hóa chữ viết cần được tổ chức, bảo quản và khai thác tốt nhất
- Báo chí và các ấn phẩm định kỳ khác Theo công trình Thư tịch báo chí Việt Nam thì
có khoảng trên 3000 tên báo và tạp chí từ khi nước ta có tờ báo đầu tiên đến nay với hàng nhiều triệu trang in (1)
* Nhận xét ý nghĩa của di sản chữ viết: Di sản chữ viết của nước ta để lại một kho tàng chữ viết với nhiều loại chữ khác nhau, ghi chép lại toàn bộ quá trình lịch sử
mà dân tộc ta đã trải qua, là cơ sở cho để thế hệ sau tiến gần hơn với thế hệ cha ông Chữ viết giúp cho chúng ta biết quá trình hình thành nguồn gốc tộc người và sự phát triển của con người qua các thời đại Mỗi lần chúng ta kết thúc một loại di sản chữ viết bước vào một di sản chữ viết mới là đánh dấu một bước tiến trong sự phát triển của nhân loại, là sản phẩm, là một trong những tiêu chí đánh dấu con người bước vào thời đại văn minh Đặc biệt di sản chữ viết thể hiện được bản sắc văn hóa dân tộc của nước
ta qua từng thời kì và nét đậm đà bản sắc dân tộc Việt
II- Thực trạng di sản chữ viết:
1.Tình hình chung:
Như đã biết đất nước chúng ta đã phải trải qua nhiều lần thay đổi chữ viết thì cũng chính những lần thay đổi đó đã làm cho chữ viết Tiếng Việt ngày càng phong phú đa dạng để lại một kho tàng di sản chữ viết đồ sộ với nhiều kiểu chữ khác nhau Tất cả di sản văn hóa chữ viết đó hiện đang được lưu trữ trong các cơ quan thư viện, lưu trữ trên toàn cõi Việt Nam bao gồm:
- Hệ thống Thư viện công cộng, bao gồm Thư viện Quốc gia Việt Nam, 64 thư viện tỉnh, thành phố, trên 600 thư viện huyện thị và các tủ sách cơ sở; Hệ thống thư viện đa ngành, chuyên ngành với tổng số khoảng 26.000 thư viện, lưu trữ trên 100.000.000 bản sách gồm nhiều chữ viết khác nhau
- Hệ thống tài liệu thuộc diện lưu trữ của cơ quan Đảng, chính quyền từ trung ương đến địa phương
Điều đáng quan tâm là chúng ta đã hình thành bộ sưu tập chữ viết Việt Nam ước tính gồm: Sách Hán Nôm: 20.000 đơn vị; Văn bia Hán Nôm: 23.000 đơn vị; Hương ước, thần tích: 5170 đơn vị; Sách Thái cổ: 2835 đơn vị; Sách lá buông chữ Pali: trên 6000 trang;
(1) Theo Tạp chí Văn hoá Nghệ thuật: Di sản văn hóa chữ viết
Sách Đông Dương (xuất bản) trước 1954: 17.000 đơn vị; Sách Quốc ngữ: trên 220.000 đơn vị; Luận án tiến sĩ: trên 21.000 đơn vị; Báo cáo kết quả nghiên cứu: 5.000 đơn vị; Tài liệu lưu trữ nhiều triệu trang; Báo, tạp chí: trên 3000 ngàn tên với hàng triệu ngàn đơn vị bảo quản và hàng nhiều triệu trang in (1)
2 Thực trạng từng loại di sản chữ viết:
a Thực trạng di sản chữ tượng hình:
Trang 13Chữ tượng hình ngày nay không còn được sử dụng như loại chữ viết của dân tộc, nó hầu như đã dần phai nhạt cùng với thời gian.Ngày nay số người biết đến chữ tượng hình là rất ít.Hiện nay những dấu tích của chữ tượng hình được lưu lại trên các mặt trống đồng Thời gian gần đây có một số nhà nghiên cứu đang tìm hiểu về chữ tượng hình của cha ông và phát hiện có nhiều vết tích từ những đồ gốm, đồ đồng Đông Sơn, đến những văn tự “thắt gút” của người Chăm Hrê ở Nghĩa Bình, những hình đồ họa, chữ khắc trên đá ở Sapa Các chữ viết tượng hình này cũng như trống đồng hay các đồ gốm đồ đồng Đông Sơn đang được lưu giữ tại các viện bảo tàng trong cả nước.Ngoài ra hiện nay những vết tích
về chữ tượng hình chưa được tìm hiểu hết, hiện còn lưu giữ trên những vách đá thuộc các vùng miền mà các nhà nghiên cứu đang ra sức tìm kiếm
b Thực trạng di sản chữ viết Hán-Nôm:
Di sản chữ viết Hán-Nôm ngày nay không còn được sử dụng làm phương tiện ghi chép hằng ngày, không còn được nhiều người quan tâm tới như trước nữa
Di sản chữ viết Hán-Nôm đã để lại một khối lượng đồ sộ với nhiều thể loại và tất
cả được hiện nay được lưu giữ tại:
Hệ thống Thư viện công cộng, bao gồm Thư viện Quốc gia Việt Nam, thư viện tỉnh, thành phố, thư viện huyện thị và các tủ sách cơ sở; Hệ thống thư viện đa ngành.Trung tâm lưu trữ quốc gia, các bảo tàng trong cả nước
+ Các tác phẩm được viết bằng chữ Hán: Nguyễn Du để lại ba tập thơ chữ Hán: Thanh Hiên tiền hậu tập, Nam trung tạp ngâm, Bắc hành tạp lục.đặc biệt để viết văn xuôi (Hoàng Lê Nhất thống trí, Truyền kỳ Mạn lục, Lĩnh nam Trích quái )
+ Văn học chữ Nôm:
Từ chữ Nôm nền văn học Việt Nam sinh ra 3 thể loại độc đáo của riêng Việt Nam: Truyện thơ Nôm(lục bát), ngâm khúc (song thất lục bát) và hát nói(trong ca trù) Các tác phẩm chữ Nôm của Việt Nam như Quốc âm thi tập (Nguyễn Trãi), Bạch Vân am thi tập (Nguyễn Bỉnh Khiêm), Truyện Kiều (Nguyễn Du) Chinh phụ ngâm (Đoàn Thị Điểm), Cung oán ngâm khúc (Nguyễn Gia Thiều), Lục Vân Tiên (Nguyễn Đình Chiểu)… đã đi vào lịch sử văn học nước nhà Những tên tuổi lẫy lừng như Hồ Xuân Hương – bà chúa thơ Nôm, Bà Huyện Thanh Quan, Nguyễn Khuyến, Tú Xương…cùng với những tác phẩm truyện Nôm Tày, các khúc hát giao duyên và hát đám cưới của đồng bào các dân tộc ở miền núi phía Bắc đã tô điểm cho vườn hoa văn học Việt Nam nhiều màu sắc…
Tư liệu chữ Nôm về sinh hoạt làng xã:
Tài liệu giáo dục đạo đức truyền thống trong gia đình – xã hội:
(1) Trích nguồn: Trung tâm lưu trữ quốc gia
Tài liệu tôn giáo bằng chữ Nôm:
Tài liệu Nôm về luật và các nghị định:
Tài liệu Nôm về y học :
Các tài liệu chữ Nôm trong các lĩnh vực văn học, tài liệu học tập…
Tất cả các tài liệu, văn bản viết bằng chữ Hán-Nôm
Trang 14 Ngoài ra, hiện nay trong nhân dân, trong các nhà thờ dòng họ, gia đình vẫn còn rất nhiều sách viết bằng chữ Hán-Nôm :
Ví dụ 1: Tư liệu Hán Nôm tại xã Danh Thắng, huyện Hiệp Hòa tỉnh Hà Bắc vẫn còn
được lưu giữ: có đình chùa mới được củng cố lại Câu đối hoành phi đa phần đều được sưu tầm theo ký ức của các cụ cao tuổi Lăng miếu nhiều nhưng nay đã mai một không còn được mấy, kể cả các tư liệu bằng văn tự Hán Nôm cũng cùng chung số phận Các xã như Bắc Lý, Xuân Cẩm, Đông Lỗ, Thường Thắng tư liệu Hán Nôm nói riêng bị mai một hầu hết Thậm chí có những nơi chỉ còn lại ít mảnh bia đá vụn vặt mà thôi
Ví dụ 2 : Cuốn Nguyễn tộc gia phả ( gia phả họ Nguyễn ) do ông Nguyễn Văn Vĩnh, hậu duệ dòng họ cho xem Sách gồm 37 tờ - khổ 14 x 11 cm, toàn chữ Hán và Nôm Được chép năm Duy tân 9 ( 1915 )ghi lại 10 đời từ cụ Phúc Tiến công đến cụ Trức Nhân công gốc ở làng Cát Xuyên huyện Hậu Lộc phủ Thiệu Hóa tỉnh Thanh Hóa rời đến đây lập nghiệp.Hiện nay con cháu đông đúc và tiến bộ mọi mặt Được biết ở địa phương cũng còn có một số gia đình còn giữ được sách vở tư liệu Hán Nôm, nhưng với nhiều lý do họ chưa tiện giới thiệu
Số người hiện nay biết đọc biết viết chữ Hán-Nôm là rất ít, đó là những người già
ở thế hệ trước, những nhà nghiên cứu tìm hiểu về chữ Hán-Nôm
Tình trạng học tập chữ Hán-Nôm hiện nay đáng lo ngại Ở bậc đại học, các ngành khoa học xã hội và nhân văn ngại đưa Hán-Nôm vào chương trình học, có ngành đưa vào học thì không có giáo trình chuẩn Chữ Nôm ngày nay chưa được đánh giá đúng với giá trị của nó, số người trẻ say mê học Hán-Nôm hiện nay rất ít Ngoài Viện nghiên cứu Hán-Nôm, những người học ngành Hán_Nôm đi những nơi khác ít được quan tâm, mặc dù ở các sở văn hóa đều có cơ quan bảo tàng, trung quản lí di tích Học Hán-Nôm đã khó, học xong đi xin việc làm lại khó hơn Giáo sư Ngô Thanh Nhàn, Phó Chủ Tịch Hội Bảo tồn di sản chữ Nôm Hoa Kì cho biết: “Hiện trên thế giới chỉ còn 100 người đọc và viết chữ nôm trong khi trên 90% thư tịch Nôm chưa từng dịch sang chữ quốc ngữ
c Thực trạng di sản chữ quốc ngữ :
Chữ quốc ngữ đã được đưa vào phổ cập trong giáo dục và được sử dụng rộng rãi trong toàn dân Vì thế di sản chữ viết bằng chữ quốc ngữ có khắp mọi nơi trong tất cả các lĩnh vực như kinh tế, văn hóa,xã hội, y tế, pháp luật, khoa học, kĩ thuât, nghệ thuât…đều viết bằng chữ quốc ngữ Tài liệu lưu trữ của chữ quốc ngữ với khối lượng
đồ sộ tại Cục lưu trữ quốc gia, các viện bảo tàng, viện nghiên cứu, các thư viện, trong trường học và ở mọi gia đình Có thể nói phạm vi của chữ Quốc ngữ phổ cập tại mọi nơi trên cả nước, trong tất cả các ngành và mọi lĩnh vực
Chữ quốc ngữ là phương tiện giao tiếp và lưu trữ cần thiết ở mọi thời đại.Trước đây, người dân phải chịu vất vả để biết và dùng được chữ.Những năm tháng chiến tranh, ai
ai cũng khao khát được học chữ quốc ngữ dù sống giữa tiếng súng, tiếng bom Thật đáng trách, khi chúng ta đang sống trong xã hội hòa bình và văn minh mà thực trạng dùng chữ quốc ngữ ngày càng trở nên báo động
Với sự bùng nổ của công nghệ thông tin, bạn trẻ ngày nay có sự tiếp xúc, cọ xát hơn với nhiều thành tựu khoa học mới Kiến thức được khám phá và tiếp thu một cách có