1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐÁNH GIÁ SỰ HÌNH THÀNH TÍN HIỆU VÀ CÁCH XỬ TRÍ CÁC TRƯỜNG HỢP PHẢN VỆ TRONG BÁO CÁO ADR VIỆT NAM

38 573 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 38
Dung lượng 274,54 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

phản vệ ghi nhận từ hệ thống báo cáo tự nguyện của Việt Nam.Trong thực hành lâm sàng, để giảm thiểu tối đa hậu quả của các trường hợp phản vệ, bên cạnh việc phát hiện sớm thì việc dự phòng, xử trí kịp thời cũng hết sức cần thiết. Trên thế giới cũng như tại Việt Nam, các hội chuyên môn đã đưa ra những hướng dẫn rất rõ ràng về cách dự phòng và xử trí các trường hợp phản vệ. Tuy nhiên, theo một nghiên cứu trên báo cáo tự nguyện của Pháp cho thấy tỷ lệ xử trí không theo hướng dẫn khá cao (chỉ có 57% bệnh nhân được dùng adrenalin chỉ định đầu tay trong tất cả các trường hợp phản vệ) 20. Xuất phát từ thực tế trên, với mục đích hướng đến việc thực hành dự phòng, phát hiện và xử trí phản vệ tốt, chúng tôi thực hiện đề tài “Đánh giá sự hình thành tín hiệu và cách xử trí các trường hợp phản vệ từ dữ liệu báo cáo ADR tự nguyện tại Việt Nam” với ba mục tiêu:1.Khảo sát đặc điểm báo cáo phản ứng có hại của thuốc liên quan đến các trường hợp phản vệ ghi nhận từ hệ thống báo cáo tự nguyện của Việt Nam trong giai đoạn 2006 2014.2.Đánh giá sự hình thành tín hiệu của các trường hợp phản vệ với một số thuốc cụ thể dựa trên cơ sở dữ liệu báo cáo ADR tự nguyện.3.Đánh giá sự phù hợp giữa cách xử trí các trường hợp phản vệ ghi nhận từ bệnh án tương ứng với báo cáo ADR tại một số bệnh viện so với các hướng dẫn hiện hành.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI

LÊ THỊ THÙY LINH

ĐÁNH GIÁ SỰ HÌNH THÀNH TÍN HIỆU VÀ CÁCH XỬ TRÍ CÁC TRƯỜNG HỢP PHẢN VỆ

TỪ DỮ LIỆU BÁO CÁO ADR TỰ NGUYỆN

TẠI VIỆT NAM

ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ DƯỢC HỌC

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI

LÊ THỊ THÙY LINH

ĐÁNH GIÁ SỰ HÌNH THÀNH TÍN HIỆU VÀ CÁCH XỬ TRÍ CÁC TRƯỜNG HỢP PHẢN VỆ

TỪ DỮ LIỆU BÁO CÁO ADR TỰ NGUYỆN

TẠI VIỆT NAM

ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ DƯỢC HỌC

CHUYÊN NGÀNH DƯỢC LÝ – DƯỢC LÂM SÀNG

MÃ SỐ: 60 72 04 05

Nơi thực hiện đề tài: Trung tâm DI & ADR Quốc gia Thời gian thực hiện: từ 10/2014 đến 09/2015

Trang 3

MỤC LỤC

ĐẶT VẤN ĐỀ

PHẦN I : TỔNG QUA

1.1 Tổng quan về các trường hợp phản vệ 3

1.1.1 Định nghĩa và tiêu chuẩn chẩn đoán các trường hợp phản vệ 3

1.1.2 Dự phòng và xử trí các trường hợp phản vệ 5

1.1.2.1 Dự phòng phản vệ……….………5

1.1.2.2 Sử dụng hợp lý adrenalin……… 5

1.1.2.3 Các biện pháp khác……… 6

1.2 Hệ thống báo cáo tự nguyện 7

1.2.1 Hệ thống báo cáo tự nguyện về phản ứng có hại của thuốc 7

1.2.2 Ưu điểm và hạn chế của báo cáo tự nguyện 8

1.3 Một số nghiên cứu về các trường hợp phản vệ trên cơ sở dữ liệu báo cáo tự nguyện 9

PHẦN II: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu 11

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 11

2.1.2 Tiêu chuẩn xác định báo cáo ADR liên quan đến các trường hợp phản vệ 11

2.2 Phương pháp nghiên cứu 12

2.2.1 Khảo sát đặc điểm báo cáo ADR liên quan đến các trường hợp phản vệ…… ………12

2.2.2 Đánh giá sự hình thành tín hiệu của các trường hợp phản vệ với một số thuốc cụ thể dựa trên cơ sở dữ liệu 13

2.2.3 Mô tả cách xử trí trên bệnh án và đánh giá sự phù hợp so với các hướng dẫn hiện hành 14

Trang 4

PHẦN III NỘI DUNG VÀ DỰ KIẾN KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC

3.1 Nội dung thực hiện để giải quyết mục tiêu 1 18

3.1.1 Thu thập báo cáo ADR vào nghiên cứu 18

3.1.2 Thu thập và xử lý thông tin từ báo cáo ADR đã lựa chọn 18

3.2 Nội dung thực hiện để giải quyết mục tiêu 2 18

3.3 Nội dung thực hiện để giải quyết mục tiêu 3 19

PHẦN IV KẾ HOẠCH VÀ KIẾN NGHỊ 4.1 Kế hoạch triển khai 18

4.2 Kinh phí 18

4.3 Người hướng dẫn 18

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 5

DANH MỤC KÍ HIỆU VÀ CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ADR Adverse drug reactions – Phản ứng có hại của thuốc

PEF Peak expiratory flow – Lưu lượng đỉnh thở ra

WAO World Allergy Organization - Tổ chức dị ứng thế giới

UMC Uppsala Monitoring Centre - Trung tâm theo dõi Uppsala

NSAID Non-steroidal anti-inflammatory drug - Thuốc chống viêm phi steroidROR Reporting odds ratio - Tỷ suất chênh báo cáo

CI95% Khoảng tin cậy 95%

SpO2 Độ bão hòa oxi trong máu

WHO World Health Organization-Tổ chức Y tế Thế Giới

Trang 6

DANH MỤC BẢNG VÀ HÌNH 1.Danh mục các bảng

Bảng 1: Tiêu chuẩn chẩn đoán các trường hợp phản vệ 04

Bảng 3 Tiêu chí đánh giá cách xử trí phù hợp hướng dẫn 15-16

Bảng 5: Biểu hiện của các trường hợp phản vệ trên các hệ cơ quan Phụ lục 1

2.Danh mục các hình

Hình 1: Quy trình lựa chọn báo cáo ADR liên quan đến các trường

hợp phản vệ

12

Trang 7

ĐẶT VẤN ĐỀ

Phản vệ là một phản ứng dị ứng toàn thân, cấp tính xảy ra sau khi tiếp xúc với dịnguyên Đây được coi là một trong những trường hợp nguy hiểm nhất trên lâm sàng dothời gian khởi phát nhanh, có thể gây tử vong và không thể dự đoán được Trên thếgiới, tỷ lệ các trường hợp phản vệ được báo cáo hàng năm vào khoảng 3,2-49,8/100.000 dân Hiện nay, cùng việc sử dụng rộng rãi các thuốc trong điều trị, tỷ lệphản vệ do thuốc ngày càng tăng và gây ra nhiều hậu quả đáng tiếc

Tại nhiều quốc gia, các nghiên cứu về các trường hợp phản vệ dựa trên dữ liệu báocáo ADR tự nguyện đã được thực hiện Đây là nguồn dữ liệu quan trọng để đánh giáviệc hình thành tín hiệu và đưa ra những cảnh báo kịp thời liên quan đến an toàn trong

sử dụng thuốc Tại Việt Nam, theo tổng kết của Trung tâm DI & ADR Quốc gia, trongnăm 2010 đã có 209 báo cáo về các trường hợp phản vệ (chiếm tỷ lệ 5,49% trong tổng

số báo cáo được gửi về) [2] Tỷ lệ này tuy không lớn, nhưng đối với phản ứng nghiêmtrọng, đe dọa tính mạng như phản vệ thì rất đáng chú ý Tuy nhiên, cho đến nay chưa

có nghiên cứu nào đánh giá chi tiết về báo cáo ADR liên quan đến các trường hợpphản vệ ghi nhận từ hệ thống báo cáo tự nguyện của Việt Nam

Trong thực hành lâm sàng, để giảm thiểu tối đa hậu quả của các trường hợp phản

vệ, bên cạnh việc phát hiện sớm thì việc dự phòng, xử trí kịp thời cũng hết sức cầnthiết Trên thế giới cũng như tại Việt Nam, các hội chuyên môn đã đưa ra nhữnghướng dẫn rất rõ ràng về cách dự phòng và xử trí các trường hợp phản vệ Tuy nhiên,theo một nghiên cứu trên báo cáo tự nguyện của Pháp cho thấy tỷ lệ xử trí không theohướng dẫn khá cao (chỉ có 57% bệnh nhân được dùng adrenalin - chỉ định đầu taytrong tất cả các trường hợp phản vệ) [20] Xuất phát từ thực tế trên, với mục đíchhướng đến việc thực hành dự phòng, phát hiện và xử trí phản vệ tốt, chúng tôi thựchiện đề tài “Đánh giá sự hình thành tín hiệu và cách xử trí các trường hợp phản vệ từ

dữ liệu báo cáo ADR tự nguyện tại Việt Nam” với ba mục tiêu:

1 Khảo sát đặc điểm báo cáo phản ứng có hại của thuốc liên quan đến các trườnghợp phản vệ ghi nhận từ hệ thống báo cáo tự nguyện của Việt Nam trong giaiđoạn 2006 - 2014

Trang 8

2 Đánh giá sự hình thành tín hiệu của các trường hợp phản vệ với một số thuốc cụthể dựa trên cơ sở dữ liệu báo cáo ADR tự nguyện.

3 Đánh giá sự phù hợp giữa cách xử trí các trường hợp phản vệ ghi nhận từ bệnh

án tương ứng với báo cáo ADR tại một số bệnh viện so với các hướng dẫn hiệnhành

Trang 9

PHẦN I TỔNG QUAN

1.1 Tổng quan về các trường hợp phản vệ

1.1.1 Định nghĩa và tiêu chuẩn chẩn đoán các trường hợp phản vệ

Theo định nghĩa của Hội hồi sức Anh, phản vệ là một là phản ứng dị ứng nghiêmtrọng, khởi phát nhanh và có thể gây tử vong [28] Đây là một phản ứng toàn thân, tứcthì qua IgE làm giải phóng các chất trung gian miễn dịch của tế bào mast và basophil[13], [20] Biểu hiện lâm sàng của phản vệ có thể xuất hiện trên bất kỳ hệ cơ quan nào,nhưng chủ yếu gặp trên da, hệ hô hấp, hệ tiêu hóa và hệ tim mạch Các dấu hiệu vàtriệu chứng rất đa dạng bao gồm: mày đay, phù mạch, khó thở, thở khò khè, phù nềđường hô hấp trên, chóng mặt, hạ huyết áp và sốc, buồn nôn, nôn, đau bụng quặn, đỏ

da, nhức đầu và đau ngực [33]

Để xác định các trường hợp phản vệ thì không có tiêu chuẩn vàng mà đều dựa vàocác triệu chứng trên lâm sàng và đã có nhiều bộ tiêu chí được đưa ra như của của Viện

dị ứng và bệnh truyền nhiễm Hoa Kỳ [25], của Hội hồi sức Anh [28] và củaRuggeberg JU và cộng sự [22] Trong đó, tiêu chuẩn xác định của Viện dị ứng và bệnhtruyền nhiễm Hoa Kỳ là bộ tiêu chí được áp dụng trong hầu hết các nghiên cứu cũngnhư hướng dẫn của các hội chuyên môn về phản vệ Mặt khác, trong một nghiên cứu

so sánh giữa bộ tiêu chí này với bộ tiêu chí của Ruggeberg JU và cộng sự áp dụngtrong việc chẩn đoán các trường hợp phản vệ đã cho kết quả tương đồng [10] Tiêuchuẩn này được xây dựng dựa trên mục tiêu giúp cho việc chẩn đoán đơn giản, nhanhchóng và bộ tiêu chí cụ thể sẽ được trình bày trong bảng 1 dưới đây

Các tiêu chuẩn này tuy không bao quát được 100% nhưng người ta tin rằng nó sẽgiúp chẩn đoán được ít nhất 95% các trường hợp phản vệ Bởi vì phần lớn các trườnghợp phản vệ đều có triệu chứng trên da và đã được ghi nhận trong hơn 80% trườnghợp khi đánh giá Do đó, có trên 80% trường hợp phản vệ phải được xác định bởi tiêuchí 1, ngay cả khi không biết nguyên nhân và tình trạng dị ứng của bệnh nhân Tuynhiên, triệu chứng trên da vẫn có thể không xuất hiện trong 20% các trường hợp phản

vệ, đặc biệt trong trường hợp trẻ em dị ứng với thức ăn hoặc nọc độc của côn trùng [6,

Trang 10

24] Do đó, ở những bệnh nhân đã có tiền sử dị ứng hoặc có khả năng phơi nhiễm với

dị nguyên, tiêu chí 2 sẽ là cơ sở để chẩn đoán phản vệ Triệu chứng trên tiêu hóa đượccoi như một đích phản ứng bởi nó liên quan đến mức độ nghiêm trọng của phản vệ [7].Còn tiêu chí cuối cùng (hạ huyết áp quá mức sau khi tiếp xúc với một nguyên nhângây dị ứng đã được biết đến) ít gặp hơn [18]

Bảng 1: Tiêu chuẩn chẩn đoán các trường hợp phản vệ

Bệnh nhân sẽ được chẩn đoán là phản vệ khi thỏa mãn một trong ba tiêu chí sau:

Tiêu chí 1 Khởi phát cấp tính, có tổn thương của da/niêm mạc, hoặc cả hai (ví dụ, ban mày đay, ngứa hoặc ban đỏ giãn mạch, sưng môi-lưỡi-lưỡi gà)

VÀ ÍT NHẤT MỘT TRONG CÁC TRIỆU CHỨNG SAU

a Tổn thương đường hô hấp (ví dụ khó thở, thở khò khè, co thắt phế quản, thở rít,giảm PEF, giảm oxy máu)

b Giảm huyết áp, hoặc có triệu chứng liên quan với (ví dụ ngất, tiểu không tự chủ)

Tiêu chí 2 Hai hoặc nhiều triệu chứng sau đây xảy ra nhanh chóng sau khi tiếp xúc với một dị nguyên có khả năng gây dị ứng:

a Tổn thương trên da/niêm mạc (ví dụ ban mày đay, ngứa hoặc ban đỏ giãn mạch,sưng môi-lưỡi-lưỡi gà)

b Tổn thương đường hô hấp (ví dụ khó thở, thở khò khè, co thắt phế quản, thở rít,giảm PEF, giảm oxy máu)

c Giảm huyết áp hoặc các triệu chứng liên quan (ví dụ ngất, tiểu không tự chủ)

d Triệu chứng tiêu hóa kéo dài (ví dụ như đau quặn bụng, nôn)

Tiêu chí 3 Giảm huyết áp xảy ra nhanh chóng sau khi tiếp xúc với chất gây dị ứng

Trang 11

1.1.2 Dự phòng và xử trí các trường hợp phản vệ

Với mục tiêu giảm thiểu các tai biến, tử vong do các trường hợp phản vệ gây ra,các hội chuyên môn đã đưa ra những hướng dẫn rất đầy đủ về cách dự phòng và xử trícác trường hợp phản vệ Tại Việt Nam, ngày 4/5/1999, Bộ Y tế cũng ban hành thông

tư 08/1999/TT-BYT để hướng dẫn các thầy thuốc tại các cơ sở khám chữa bệnh trong

cả nước về cách dự phòng và xử trí [1]

1.1.2.1 Dự phòng phản vệ

Theo thông tư 08, Bộ Y tế yêu cầu các cơ sở khám chữa bệnh phải thực hiện đầy

đủ các biện pháp dự phòng phản vệ cho bệnh nhân bằng cách khai thác kỹ tiền sử dịứng, ghi vào sổ khám bệnh, cấp phiếu cho bệnh nhân (nếu phát hiện ra tiền sử dị ứnghoặc từng bị phản vệ) và không được dùng các thuốc đã gây dị ứng và phản vệ chobệnh nhân (trường hợp đặc biệt cần dùng các thuốc này thì phải hội chẩn để thống nhấtchỉ định và được sự đồng ý của người bệnh, gia đình người bệnh bằng văn bản, có biệnpháp tích cực để phòng ngừa) Bên cạnh đó, riêng với penicillin và streptomycin trướckhi tiêm phải làm test thử phản ứng cho bệnh nhân [1]

1.1.2.2 Sử dụng hợp lý adrenalin

Adrenalin là thuốc quan trọng nhất và không có chống chỉ định tuyệt đối trong cấpcứu các trường hợp phản vệ và cần phải được sử dụng ngay khi phát hiện ra ADR.Cách sử dụng adrenalin theo hướng dẫn của Bộ Y tế giống với Hướng dẫn của Khoa

Dị ứng thuộc Mayo Clinic ( chỉ trừ thông tin về đường dùng: hướng dẫn này khuyếncáo cả đường tiêm bắp ở liều đầu tiên, trong khi hướng dẫn của Bộ y tế chỉ có đườngtiêm dưới da) [9] nhưng lại có nhiều điểm khác biệt so với các hướng dẫn trên thế giới(hướng dẫn của WAO [27], của Châu Âu [17], Hội hồi sức Anh [28]), cụ thể như sau:

 Đối với adrenalin liều đầu tiên (sử dụng ngay khi phát hiện ra phản vệ):

- Về đường dùng: Trong khi hướng dẫn của Bộ Y tế yêu cầu sử dụng đườngtiêm dưới da thì trong các hướng dẫn khác lại khuyến cáo sử dụng đườngtiêm bắp đùi, đường tiêm dưới da và đường hít không được khuyến cáo Vàtheo kết quả trên một số nghiên cứu lâm sàng thì đường tiêm bắp hấp thu

Trang 12

tốt hơn và có nồng độ thuốc trong máu cao hơn so với đường tiêm dưới da[25].

- Về liều dùng: Liều dùng trong tất cả các hướng dẫn đều là 0,01 mg/kg cho

cả trẻ em lẫn người lớn và giống nhau ở liều tối đa dành cho trẻ em(0,3mg) Tuy nhiên, liều của người lớn trong hướng dẫn của Bộ Y tế là 0,5– 1mg khác với các hướng dẫn còn lại (tối đa 0,5 mg) Bên cạnh đó, cáchướng dẫn này cũng đưa ra cách phân loại trẻ em và người lớn theo tuổi(hướng dẫn của WAO và của Châu Âu) hoặc theo cân nặng (hướng dẫn củahội Hồi sức Anh) Phần phân loại này không có trong hướng dẫn của Bộ Y

tế

 Đối với liều nhắc lại: Bộ Y tế yêu cầu dùng adrenalin liều lặp lại sau mỗi10-15 phút sau cho đến khi huyết áp ổn định Còn theo khuyến cáo củachâu Âu và của Anh thì adrenalin nên được tiêm nhắc lại sau ít nhất 5 phút.Tương tự hai hướng dẫn trên, khoảng thời gian tiêm nhắc lại adrenalin theoWAO và của các chuyên gia từ hội thảo là 5-15 phút Các chuyên gia cũngcho rằng có thể tiêm sớm hơn nếu thấy cần thiết trên lâm sàng [17, 27]

 Đối với đường truyền tĩnh mạch để duy trì huyết áp: Các hướng dẫn trênthế giới khuyến cáo thời điểm nên sử dụng đường truyền tĩnh mạch là sau 1đến 2 liều nhắc lại nếu huyết áp không ổn định Tuy nhiên trong hướng dẫncủa Bộ Y tế, thông tin về thời điểm thiết lập đường truyền tĩnh mạch khôngđược yêu cầu cụ thể

- Tránh tiếp xúc với dị nguyên

- Các biện pháp đảm bảo oxy cho bệnh nhân (thở oxy, bóp bóng Ambu,đặt nội khí quản, không khí nhân tạo) hoặc sử dụng aminophyline hoặcterbutalin trong suy hô hấp,

Trang 13

- Sử dụng thuốc kháng beta-2 đường hít tác dụng ngắn (salbutamol)

- Sử dụng thuốc kháng histamin H1 (diphenhydramine)

- Sử dụng corticoid đường toàn thân (methylpredníolone1 hoặchydrocortisone hemisuccinate)

- Truyền dịch [1]

Trong các hướng dẫn xử trí các trường hợp phản vệ khác, tùy theo tình trạng lâmsàng, bệnh nhân cũng sẽ được khuyến cáo sử dụng các biện pháp tương tự (đảm bảooxy, truyền dịch, sử dụng thuốc kháng beta-2 đường hít tác dụng ngắn, kháng histamin

H1, kháng histamin H2, corticoid đường toàn thân, vasopressor và truyền dịch) nhưnhững chỉ định hàng hai và hàng ba [27]

Các hướng dẫn dự phòng và xử trí các trường hợp phản vệ, tuy có một số điểmkhác nhau, nhưng nhìn chung đều giống nhau ở cách dự phòng (dựa trên việc khai tháctiền sử dị ứng và thử phản ứng trên da) và sử dụng adrenalin như một thuốc cơ bảntrong xử trí

1.2 Hệ thống báo cáo tự nguyện

1.2.1 Hệ thống báo cáo tự nguyện về phản ứng có hại của thuốc

Hệ thống báo cáo tự nguyện về ADR được định nghĩa là “Hệ thống báo cáo tựnguyện là hệ thống thu thập các báo cáo về phản ứng có hại của thuốc, được các cán

bộ y tế cũng như các công ty sản xuất kinh doanh dược phẩm báo cáo một cách tựnguyện về cơ quan có thẩm quyền quản lý về các phản ứng có hại của thuốc’’ [32].Mục đích chính của hệ thống là phát hiện kịp thời các tín hiệu về an toàn thuốc,đưa ra giả thuyết và cung cấp những thông tin quan trọng về các đối tượng nguy cơ,yếu tố nguy cơ Sau đó, những tín hiệu sẽ được đánh giá và phân tích sâu hơn để đưa

ra các can thiệp quản lý kịp thời Báo cáo tự nguyện về các ADR nghi ngờ của thuốcđặc biệt có ích khi phát hiện những phản ứng hiếm gặp và xảy ra muộn, bởi vì hệthống có khả năng theo dõi trong suốt vòng đời của thuốc [19], [32]

Hầu hết các quốc gia đều có trung tâm hoặc đơn vị cảnh giác dược để theo dõiphản ứng có hại của thuốc Các trung tâm có nhiệm vụ chủ yếu là thu thập báo cáoADR tự nguyện, sau đó tiến hành thẩm định phản hồi đến người báo cáo và cơ quanquản lý của quốc gia mình Những báo cáo này sau đó được gửi về Trung tâm theo dõi

Trang 14

ADR tại Uppsala, Thụy Điển (Trung tâm WHO–UMC) Tại đây, thông tin về báo cáoADR từ nhiều quốc gia sẽ được tổng hợp vào hệ thống, được theo dõi và đánh giá sâuhơn bằng các kỹ thuật dò tìm dữ liệu Các tín hiệu, cảnh báo về ADR nghiêm trọngcủa trung tâm này sẽ được phản hồi về cho các trung tâm cảnh giác dược quốc gia[15], [32].

Tại Việt Nam, hệ thống báo cáo ADR tự nguyện đã được triển khai từ năm 1994với sự ra đời của 2 trung tâm theo dõi ADR phía Bắc và phía Nam Năm 2009, Trungtâm DI & ADR Quốc gia được Bộ Y tế thành lập với mong muốn hoạt động của hệthống báo cáo ADR tự nguyện sẽ ngày càng có hiệu quả [34]

1.2.2 Ưu điểm và hạn chế của báo cáo tự nguyện

Hệ thống báo cáo tự nguyện đã hình thành tại nhiều quốc gia và trở thành phươngpháp phổ biến nhất bởi những ưu điểm nổi bật sau:

- Cơ cấu đơn giản, chi phí thực hiện thấp hơn so với các phương pháp theo dõi

ADR khác

- Phạm vi áp dụng rộng rãi với tất cả các thuốc, tất cả các thời điểm, với số lượng

lớn dân số, không phân biệt các đối tượng, áp dụng được cho cả bệnh nhân nộitrú và ngoại trú

- Khả năng nắm bắt nhanh các biểu hiện lâm sàng chưa được ghi nhận, đặc biệt

là các ADR hiếm gặp và nghiêm trọng, do đó, hỗ trợ tốt cho hệ thống cảnh báosớm

- Ít có khả năng bị ảnh hưởng bởi thói quen kê đơn của cán bộ y tế [19],[32].

Tuy nhiên bên cạnh đó, báo cáo tự nguyện vẫn tồn tại những hạn chế nhất định:

- Thông tin trong báo cáo không đầy đủ, thiếu dữ liệu chính và ghi chép hạn chế.

- Nhận thức chưa đúng về báo cáo ADR như không báo cáo ADR đã biết, những

ADR nghiêm trọng đã được ghi nhận, không chắc liệu thuốc có phải là nguyênnhân gây ADR không

- Khó phát hiện những ADR xuất hiện muộn, với những ADR hiếm gặp có tỷ lệ

mắc nền của biến cố cao [4], [19], [32]

Trang 15

Mặc dù tồn tại những hạn chế nhất định nhưng với những ưu điểm nổi trội, báo cáo

tự nguyện được coi là nguồn thông tin quan trọng nhất trong hệ thống giám sát phảnứng có hại của thuốc ở các quốc gia

1.3 Một số nghiên cứu về các trường hợp phản vệ trên cơ sở dữ liệu báo

cáo tự nguyện

Trên thế giới, tỷ lệ các trường hợp phản vệ được báo cáo hàng năm vào khoảng3,2-49,8/100.000 dân, tỷ lệ này dường như ngày càng tăng trong những năm gần đây[8, 11, 14, 26, 29][10, 12, 18, 21] Trong số nguyên nhân gây phản vệ, thuốc là nhữngnguyên nhân chính được ghi nhận trong hầu hết các nghiên cứu [30] Một nghiên cứutrên cơ sở dữ liệu của Bồ Đào Nha cũng đưa ra tỷ lệ các trường hợp phản vệ do thuốcđược báo cáo tại nước này trong vòng 10 năm là 0,79 trường hợp trên 100.000 dân.[21] Tuy nhiên, cần phải chú ý rằng chỉ có 5-10% các trường hợp ADR trên thực tếđược báo cáo cho hệ thống cảnh giác dược [3], [12, 29], thậm chí với cả những ADRnghiêm trọng Kết quả cũng cho thấy xu hướng tăng đối với báo cáo liên quan đếntrường hợp sốc phản vệ ở cả người lớn và trẻ em trong thời gian nghiên cứu Tuynhiên, xu hướng này có lẽ là do sự gia tăng tổng thể trong báo cáo ADR và tỷ lệ giữabáo cáo liên quan đến sốc phản vệ trên tổng số các báo cáo ADR không thay đổi đáng

kể (dao động trong khoảng 5-7% theo từng năm) [21] Tại Pháp, kết quả từ cơ sở dữliệu cho thấy trong vòng 9 năm (2002-2010) đã có 333 trường hợp phản vệ được báocáo tới hệ thống cảnh giác dược Trong đó tỷ lệ sốc phản vệ là 76,6%, các phản ứngtoàn thân nghiêm trọng là 10,5%, trường hợp phù thanh quản cấp tính là 9%, co thắtphế quản nghiêm trọng chiếm 2,1%, và đặc biệt có 6 trường hợp tử vong (1,8%) đãđược được ghi nhận [20] Còn tại Hà Lan, theo kết quả một nghiên cứu trong vòng 2năm (1974-1994) đã ghi nhận được 992 báo cáo liên quan đến các trường hợp phản vệ[31] Hai nghiên cứu này, tuy không đưa ra một tỷ lệ về báo cáo ADR liên quan đếncác trường hợp phản vệ, nhưng những con số không hề nhỏ như trên rất đáng quantâm

Phản ứng phản vệ là phản ứng không dự đoán được và có thể xảy ra khi sử dụngbất kỳ loại thuốc nào Trong nghiên cứu tại Pháp, đã có 48 thuốc được quy kết lànguyên nhân gây ra các trường hợp phản vệ được báo cáo Trong đó kháng sinh

Trang 16

(49,6%), đặc biệt là kháng sinh β-lactam được báo cáo nhiều nhất, thuốc giãn cơ với23% cũng là nguyên nhân phổ biến Kết quả từ nghiên cứu cũng cho thấy xu hướngtăng số lượng các trường hợp phản vệ liên quan đến các dẫn xuất gadolinium [20] Tại

Hà Lan các thuốc được báo cáo trong tổng số 992 báo cáo phản vệ cũng rất đa dạng vàbao gồm: glafenine (326 báo cáo), các chế phẩm phối hợp với (propy) phenazoneorpropyphenazone/phenacetine (39), diclofenac (30), dextran (20), ibuprofen (14),floctafenine (12), sulfamethoxazol kết hợp với trimethoprim (12), và trimethoprim(11) [31] Trong các báo cáo ADR, phản vệ do kháng sinh, các thuốc NSAID và thuốcgây mê là những nhóm nguyên nhân có tỷ lệ cao và được quan tâm nhất [5, 16, 23]

Dự phòng là biện pháp quan trọng nhằm giảm thiểu những hậu quả đáng tiếc củaphản vệ Nhưng theo kết quả từ nghiên cứu tại Pháp, thì việc làm test thử phản ứngtrên da chỉ được thực hiện với 72,9% bệnh nhân, 2,4 % bệnh nhân được làm xétnghiệm và thử phản ứng đường uống (với thuốc tránh thai) được áp dụng cho 3,9%bệnh nhân Bên cạnh dự phòng, khi xảy ra phản vệ, việc xử lý nhanh chóng hợp lý làviệc quan trọng nhất giúp bệnh nhân thoát khỏi tình trạng nguy hiểm, đe dọa tínhmạng Trong đó, adrenalin là thuốc quan trọng hàng đầu trong việc xử trí phản vệ, cótác dụng trên nhiều hệ cơ quan Tuy nhiên, cũng theo kết quả từ nghiên cứu trên thì chỉ

có 57,9% trường hợp phản vệ được sử dụng adrenalin [20] Một kết quả khác trênnghiên cứu tại Hà Lan cho thấy trên tổng số 850 báo cáo các trường hợp phản vệ chỉ

có 89 báo cáo (10%) có sử dụng adrenalin Đáng chú ý là trong nghiên cứu có tới 66báo cáo (8%) không được điều trị và 500 báo cáo chiếm 50% không được mô tả phần

xử trí trong báo cáo [31] Những kết quả trên cho thấy mặc dù cách xử trí và dự phòng

đã được mô tả đầy đủ và rõ ràng trong nhiều hướng dẫn, tuy nhiên trên thực tế, việckhông tuân thủ hướng dẫn vẫn còn nhiều tồn tại gây ra nhiều hậu quả đáng tiếc chobệnh nhân Thông tin trong báo cáo ADR có thể giúp đưa ra cái nhìn chung, tuy nhiênkhông thể đánh giá sâu do thông tin nghèo nàn

Tại Việt Nam, theo tổng kết báo cáo ADR của Trung tâm DI & ADR Quốc gia,trong giai đoạn 2010 đã có 209 báo cáo về các trường hợp phản vệ (chiếm tỷ lệ 5,49%trong tổng số báo cáo) được gửi về [2] Tuy nhiên chưa có nghiên cứu nào đánh giá chi

Trang 17

tiết về các báo cáo ADR liên quan đến các trường hợp phản vệ ghi nhận từ hệ thốngbáo cáo tự nguyện của Việt Nam.

Trang 18

PHẦN II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tương nghiên cứu của mục tiêu 1 và mục tiêu 2 là tất các báo cáo tự nguyện vềphản ứng có hại của thuốc (báo cáo ADR) liên quan đến các trường hợp phản vệ trênphạm vi cả nước giai đoạn 2006 – 2014 Báo cáo tự nguyện do cán bộ y tế gửi về, gồmcác thông tin về: bệnh nhân, thuốc nghi ngờ, thuốc dùng đồng thời, bệnh sử, cách xửtrí và người báo cáo

Đối với mục tiêu 3, đối tượng nghiên cứu là tất cả các bệnh án tương ứng với cácbáo cáo ADR có ngày xảy ra phản ứng từ 1/1/2013 đến 31/5/2014 tại 16 bệnh việntham gia hoạt động E21.5 của Dự án “Hỗ trợ hệ thống y tế” - Hợp phần 2.1 “Tăngcường các hoạt động Cảnh giác Dược” – Trường Đại học Dược Hà Nội do Quỹ toàncầu tài trợ (danh sách 16 bệnh viện tại Phụ lục 2) và được gửi về Trung tâm DI&ADRQuốc gia trước ngày 5/7/2014

2.1.2 Tiêu chuẩn xác định báo cáo ADR liên quan đến các trường hợp phản vệ

Báo cáo ADR liên quan đến các trường hợp phản vệ được lựa chọn từ toàn bộ báocáo ADR của Việt Nam giai đoạn 2006 – 2014 được lưu trữ tại trung tâm DI & ADRQuốc gia xác định dựa theo tiêu chuẩn trình bày trong bảng 1 Dựa trên tiêu chuẩn này,các báo cáo sẽ được lấy theo quy trình được trình bày trong hình 1 dưới đây Trong đó,các biểu hiện trên từng hệ cơ quan sẽ được đối chiếu theo bảng 4 (Phụ lục 1)

Trang 19

Báo cáo ADR có đủ 4 thông tin vềtuổi, giới, thuốc nghi ngờ gây ADR

và mô tả biểu hiện ADR

Báo cáo ADR có biểu hiện tụt huyết ápnghiêm trọng hoặc có biểu hiện trên 2trong 4 hệ cơ quan (da/niêm mạc, timmạch, hô hấp, tiêu hóa)*

Báo cáo ADR được cán bộ y tế mô

không

loại khỏinghiên cứu

> 1 ngày

Không có thôngtin về thời gianxuất hiện ADRtính từ lần dùngthuốc cuối cùng

case

Thêm vấn đề loại báo cáo phản vệ mà không rõ thời gian: loại khỏi nghiên cứu

Ngày đăng: 11/03/2015, 20:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Trung tâm DI & ADR Quốc gia (2010), "Tổng kết công tác báo cáo ADR năm 2010", pp.II. Tài liệu tham khảo tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng kết công tác báo cáo ADR năm2010
Tác giả: Trung tâm DI & ADR Quốc gia
Năm: 2010
3. Backstrom M., Mjorndal T., Dahlqvist R. (2004), "Under-reporting of serious adverse drug reactions in Sweden", Pharmacoepidemiol Drug Saf, 13(7), pp.483-7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Under-reporting of seriousadverse drug reactions in Sweden
Tác giả: Backstrom M., Mjorndal T., Dahlqvist R
Năm: 2004
4. Berry L.L. (1988), "Sensitivity and specificity of three methods of detection adverse drugs reactions", American - Journal of Hospital Pharmacy, 45, pp.1534-1539 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sensitivity and specificity of three methods of detectionadverse drugs reactions
Tác giả: Berry L.L
Năm: 1988
5. Bhananker SM. et al (2005), "The risk of anaphylactic reactions to rocuronium in the United States is comparable to that of vecuronium: an analysis of food and drug administration reporting of adverse events.", Anesth Analg, 101(3), pp.819-22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The risk of anaphylactic reactions to rocuroniumin the United States is comparable to that of vecuronium: an analysis of food anddrug administration reporting of adverse events
Tác giả: Bhananker SM. et al
Năm: 2005
6. Braganza S. C. et al (2006), "Paediatric emergency department anaphylaxis:different patterns from adults", Arch Dis Child, 91(2), pp. 159-63 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Paediatric emergency department anaphylaxis:different patterns from adults
Tác giả: Braganza S. C. et al
Năm: 2006
7. Brown S. G. (2004), "Clinical features and severity grading of anaphylaxis", J Allergy Clin Immunol, 114(2), pp. 371-6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Clinical features and severity grading of anaphylaxis
Tác giả: Brown S. G
Năm: 2004
8. Decker W. W. et al (2008), "The etiology and incidence of anaphylaxis in Rochester, Minnesota: a report from the Rochester Epidemiology Project", J Allergy Clin Immunol, 122(6), pp. 1161-5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The etiology and incidence of anaphylaxis inRochester, Minnesota: a report from the Rochester Epidemiology Project
Tác giả: Decker W. W. et al
Năm: 2008
9. Drain K. L., Volcheck G. W. (2001), "Preventing and managing drug-induced anaphylaxis", Drug Saf, 24(11), pp. 843-53 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Preventing and managing drug-inducedanaphylaxis
Tác giả: Drain K. L., Volcheck G. W
Năm: 2001
10. Erlewyn-Lajeunesse M. et al (2010), "Diagnostic utility of two case definitions for anaphylaxis: a comparison using a retrospective case notes analysis in the UK", Drug Saf, 33(1), pp. 57-64 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diagnostic utility of two case definitions for anaphylaxis: a comparison using a retrospective case notes analysis in the UK
Tác giả: Erlewyn-Lajeunesse M., et al
Nhà XB: Drug Saf
Năm: 2010
11. Gupta R., Sheikh A., Strachan D. P., Anderson H. R. (2007), "Time trends in allergic disorders in the UK", Thorax, 62(1), pp. 91-6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Time trends inallergic disorders in the UK
Tác giả: Gupta R., Sheikh A., Strachan D. P., Anderson H. R
Năm: 2007
12. Herdeiro M. T., Figueiras A., Polonia J., Gestal-Otero J. J. (2006), "Influence of pharmacists' attitudes on adverse drug reaction reporting : a case-control study in Portugal", Drug Saf, 29(4), pp. 331-40 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Influence ofpharmacists' attitudes on adverse drug reaction reporting : a case-control study inPortugal
Tác giả: Herdeiro M. T., Figueiras A., Polonia J., Gestal-Otero J. J
Năm: 2006
13. Leone R. et al (2005), "Drug-induced anaphylaxis : case/non-case study based on an italian pharmacovigilance database", Drug Saf, 28(6), pp. 547-56 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Drug-induced anaphylaxis : case/non-case study based on an italian pharmacovigilance database
Tác giả: Leone R., et al
Nhà XB: Drug Saf
Năm: 2005
14. Liew W. K., Williamson E., Tang M. L. (2009), "Anaphylaxis fatalities and admissions in Australia", J Allergy Clin Immunol, 123(2), pp. 434-42 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Anaphylaxis fatalities and admissions in Australia
Tác giả: Liew W. K., Williamson E., Tang M. L
Nhà XB: J Allergy Clin Immunol
Năm: 2009
15. Mann Ron, Andrews Elizabeth (2007), "Pharmacovigilance, 2nd edition", Wiley, pp. 3-11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pharmacovigilance, 2nd edition
Tác giả: Mann Ron, Andrews Elizabeth
Năm: 2007
16. Mertes P. M., Alla F., Trechot P., Auroy Y., Jougla E. (2011), "Anaphylaxis during anesthesia in France: an 8-year national survey", J Allergy Clin Immunol, 128(2), pp. 366-73 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Anaphylaxisduring anesthesia in France: an 8-year national survey
Tác giả: Mertes P. M., Alla F., Trechot P., Auroy Y., Jougla E
Năm: 2011
17. Muraro A. et al. (2014), "Anaphylaxis: guidelines from the European Academy of Allergy and Clinical Immunology", Allergy, 69(8), pp. 1026-45 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Anaphylaxis: guidelines from the European Academyof Allergy and Clinical Immunology
Tác giả: Muraro A. et al
Năm: 2014
18. Pumphrey R. S., Stanworth S. J. (1996), "The clinical spectrum of anaphylaxis in north-west England", Clin Exp Allergy, 26(12), pp. 1364-70 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The clinical spectrum of anaphylaxisin north-west England
Tác giả: Pumphrey R. S., Stanworth S. J
Năm: 1996
19. Rawlins M. D. (1986), "Spontaneous reporting of adverse drug reactions", Journal of Medicine, 59(230), pp. 531-534 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Spontaneous reporting of adverse drug reactions
Tác giả: Rawlins M. D
Năm: 1986
20. Renaudin J. M. et al (2013), "Severe drug-induced anaphylaxis: analysis of 333 cases recorded by the Allergy Vigilance Network from 2002 to 2010", Allergy, 68(7), pp. 929-37 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Severe drug-induced anaphylaxis: analysis of 333cases recorded by the Allergy Vigilance Network from 2002 to 2010
Tác giả: Renaudin J. M. et al
Năm: 2013
21. Ribeiro-Vaz I. et al (2013), "Drug-induced anaphylaxis: a decade review of reporting to the Portuguese Pharmacovigilance Authority", Eur J Clin Pharmacol, 69(3), pp. 673-81 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Drug-induced anaphylaxis: a decade review ofreporting to the Portuguese Pharmacovigilance Authority
Tác giả: Ribeiro-Vaz I. et al
Năm: 2013

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2: Cách tính ROR - ĐÁNH GIÁ SỰ HÌNH THÀNH TÍN HIỆU VÀ CÁCH XỬ TRÍ CÁC TRƯỜNG HỢP PHẢN VỆ TRONG BÁO CÁO ADR VIỆT NAM
Bảng 2 Cách tính ROR (Trang 21)
Bảng 3: Tiêu chí đánh giá cách xử trí phù hợp hướng dẫn - ĐÁNH GIÁ SỰ HÌNH THÀNH TÍN HIỆU VÀ CÁCH XỬ TRÍ CÁC TRƯỜNG HỢP PHẢN VỆ TRONG BÁO CÁO ADR VIỆT NAM
Bảng 3 Tiêu chí đánh giá cách xử trí phù hợp hướng dẫn (Trang 23)
Bảng 4. Kế hoạch thực hiện đề tài - ĐÁNH GIÁ SỰ HÌNH THÀNH TÍN HIỆU VÀ CÁCH XỬ TRÍ CÁC TRƯỜNG HỢP PHẢN VỆ TRONG BÁO CÁO ADR VIỆT NAM
Bảng 4. Kế hoạch thực hiện đề tài (Trang 29)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w