1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NGHIÊN CỨU TUYỂN CHỌN MỘT SỐ CHỦNG VI SINH VẬT PHÂN GIẢI XELLULOZA ĐỂ XỬ LÝ THÂN CÀNH CHÈ LÀM PHÂN BÓN HỮU CƠ TRONG SẢN XUẤT CHÈ AN TOÀN

29 426 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 4,35 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu một số đặc điểm sinh trưởng, phát triển của các chủng vi sinh vật phân giải xelluloza tuyển chọn...21 3.4 Đánh giá hiệu quả xử lý thân cành chè của vi sinh vật tuyển chọn...21

Trang 1

NGHIÊN CỨU TUYỂN CHỌN MỘT SỐ CHỦNG VI SINH VẬT PHÂN GIẢI XELLULOZA ĐỂ XỬ LÝ THÂN CÀNH CHÈ LÀM PHÂN BÓN HỮU CƠ TRONG SẢN XUẤT CHÈ AN TOÀN

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Ý nghĩa của đề tài 2

3.1 Ý nghĩa khoa học 2

3.2 Ý nghĩa thực tiễn 2

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1 CÁC NGHIÊN CỨU VỀ ĐỐN CHÈ TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM 3

1.1 Nghiên cứu kỹ thuật đốn chè trên thế giới 3

1.2 Nghiên cứu kỹ thuật đốn chè ở Việt Nam 4

2 CÁC NGHIÊN CỨU VỀ VẬT LIỆU CHE PHỦ TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM 6

2.1 Nghiên cứu về vật liệu che phủ trên thế giới 6

2.2 Nghiên cứu về vật liệu che phủ ở Việt Nam 7

3 NGHIÊN CỨU VỀ CÁC CHỦNG VI SINH VẬT CÓ KHẢ NĂNG PHÂN GIẢI XELLULOZA 11

3.1 Nhóm vi khuẩn 11

3.2 Nhóm xạ khuẩn 12

3.3 Nhóm nấm 12

CHƯƠNG II: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14

2.1 Địa điểm, thời gian nghiên cứu 14

2.2 Nội dung nghiên cứu 14

2.3 Vật liệu nghiên cứu 14

2.4 Phương pháp nghiên cứu 14

2.5 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 16

CHƯƠNG III: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 17

3.1 Phân lập các chủng vi sinh vật có khả năng phân giải xelluloza 17

3.2 Tuyển chọn các chủng vi sinh vật có khả năng phân giải xenlulo mạnh 19

3.3 Nghiên cứu một số đặc điểm sinh trưởng, phát triển của các chủng vi sinh vật phân giải xelluloza tuyển chọn 21

3.4 Đánh giá hiệu quả xử lý thân cành chè của vi sinh vật tuyển chọn 21

TÀI LIỆU THAM KHẢO 25

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Cây chè được phát hiện và sử dụng làm thứ nước uống đầu tiên ở TrungQuốc Đến nay chè đã trở thành thứ nước uống thông dụng và phổ biến trên toànthế giới Mọi người ưa thích nước chè không những vì hương thơm độc đáo của

nó, mà còn do nước chè rất có lợi cho sức khỏe Uống chè chống được lạnh,khắc phục được sự mệt mỏi của cơ bắp và hệ thần kinh trung ương, kích thích

vỏ đại não, làm tinh thần minh mẫn sảng khoái, hưng phấn trong những thờigian lao động căng thẳng cả về trí óc và chân tay

Chè có khả năng sinh trưởng mạnh, cho thu hoạch nhiều lứa trong năm.Tuy nhiên năng suất, chất lượng chè phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố giống, khíhậu, đất đai, kỹ thuật canh tác, công nghệ chế biến Trong đó, kỹ thuật đốn, háichè có tác động trực tiếp đến năng suất, chất lượng chè thành phẩm Đốn là biệnpháp nhằm mục đích hạn chế sinh trưởng đỉnh, kích thích sự sinh trưởng của cáccành bên, các mầm nách và mầm ngủ nhằm tạo ra bộ khung tán hợp lý, hạn chế

sự phát sinh và phát triển của sâu bệnh hại, nâng cao năng suất, chất lượng sảnphẩm và tăng hiệu suất lao động trong canh tác chè Nghiên cứu chu kỳ đốn thíchhợp cho nương chè kinh doanh không những nâng cao được năng suất, chất lượngchè, mà còn tăng cao hiệu quả sản xuất chè

Mặt khác, sản phẩm của cành lá chè đốn hàng năm có khối lượng xấp xỉbằng khối lượng búp và lá non đã thu hoạch Mà mỗi năm thu hoạch từ 5 – 10tấn/ha búp và lá non, tương đương sẽ có 5 – 10 tấn cành lá chè đốn trên 1 ha Vìthế, lượng dinh dưỡng trong đất mất đi khá nhiều Cho nên, giữ lại cành lá chèđốn có tác dụng rất lớn đối với việc cải tạo đất trồng chè vì nó là một trongnhững nguồn bổ sung khối lượng chất hữu cơ tại chỗ cho cây chè Đồng thời nócòn giữ ẩm đất, kiểm soát cỏ dại… từ đó tăng năng suất, chất lượng chè

Chè là cây thân gỗ, trong chè có chất tanin, nếu để tự nhiên phải mất cả nămmới có thể phân hủy được Vì vậy nghiên cứu xử lý thân cành chè bằng công nghệ

vi sinh trong một thời gian ngắn để làm phân bón cho cây chè là rất cần thiết

Xuất phát từ thực tiễn đó chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu tuyển chọn một số chủng vi sinh vật phân giải xelluloza để xử lý thân cành chè làm phân bón hữu cơ trong sản xuất chè an toàn”.

Trang 4

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu và tuyển chọn được một số chủng vi sinh vật phân giảixelluloza để xử lý cành lá chè sau khi đốn sử dụng làm phân bón hữu cơ, tạo sảnphẩm chè an toàn

3 Ý nghĩa của đề tài

3.1 Ý nghĩa khoa học

Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp các dẫn liệu khoa học làm cơ

sở bước đầu trong việc nghiên cứu các chủng vi sinh vật phân giải cành lá chèđốn và các vật liệu hữu cơ khác

3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Đưa ra được một số chủng vi sinh vật phân giải cành lá chè sau đốn vàosản xuất, nâng cao năng suất, chất lượng chè, cải tạo và tăng độ phì cho đất

Trang 5

CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1 CÁC NGHIÊN CỨU VỀ ĐỐN CHÈ TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM 1.1 Nghiên cứu kỹ thuật đốn chè trên thế giới

Đốn là biện pháp quan trọng trong sản xuất chè Ở các giai đoạn của đờisống cây chè trong sản xuất có rất nhiều lần đốn, mỗi lần đốn cần áp dụng kỹthuật phù hợp Các loại đốn chủ yếu trong trồng chè gồm có đốn kiến thiết cơbản, đốn phớt, đốn lửng và đốn đau

Nghiên cứu kỹ thuật đốn chè ở Trung Quốc, tác giả Đào Thừa Trân(1951), Đỗ Ngọc Quỹ (1980) [21] cho biết đốn chè chủ yếu phụ thuộc vàogiống Các giống chè thân bụi, kỹ thuật đốn có đặc điểm riêng được khuyến cáonhư sau:

+ Đốn ở thời kỳ kiến thiết cơ bản gồm 3 lần:

Lần 1 bắt đầu khi có 75% tổng số cây có chiều cao trên 27 cm, đốn thânchính cách gốc 17 -20 cm, không đốn cành bên;

Lần 2: Đốn cách gốc 33 - 40 cm;

Lần 3: Đốn cách gốc 50 - 60 cm;

Sau lần đốn thứ 3, vào mùa xuân năm sau khi mầm phát triển cao thì đốnnhẹ 1 lần nữa cách mặt tán 7-10 cm, độ cao của cây chè định hình là 100 cm + Đốn ở thời kỳ sản xuất kinh doanh thường áp dụng các kỹ thuật đốn:

Đốn phớt thường cắt ở một khoảng cách cao hơn vết đốn cũ từ 2-5 cm; Đốn lửng thường cắt ở một khoảng cách dưới vết đốn cũ 10-15 cm;

cm thì tiến hành đốn thân chính và cành bên ở cùng độ cao 25 cm so với mặtđất, năm thứ 2 đốn nhẹ, năm thứ 3 tạo tán bằng ở độ cao 50 cm Tác giả cũng đềxuất chu kì đốn chè kinh doanh ở Ấn Độ nhằm khôi phục tán và tạo cho cây chè

Trang 6

sinh trưởng khoẻ nhờ tái sinh cành trẻ thay thế cành già, kích thích tạo búpmạnh Điều quan trọng là khi đốn tính toán để lại số lá chừa hợp lý cho các hoạtđộng sinh lý của cây diễn ra có hiệu quả nhất.

Việc áp dụng chu kỳ đốn chè cũng cần dựa vào tình hình sinh trưởng,điều kiện khí hậu cụ thể cho từng vùng sinh thái Đối với những vùng lạnh câysinh trưởng chậm đốn nhiều sẽ làm giảm năng suất, có khi phải hoãn đốn sau 1 –

2 năm Ở mỗi vùng, miền có điều kiện khí hậu thời tiết, điều kiện sinh thái, tậpquán canh tác khác nhau, người ta đưa ra các quy trình đốn khác nhau cho chè

Ảnh hưởng của độ cao vùng trồng cũng đã được nhiều tác giả quan tâmnghiên cứu Theo Eden, T (1958) đã nêu lên mối quan hệ giữa kỹ thuật đốn chèvới độ cao vùng trồng chè, tác giả cho rằng độ cao vùng trồng chè có tươngquan với tích lũy tinh bột vào rễ theo công thức: D = 11,17 + 0,20 E (D là hàmlượng tinh bột, E là độ cao) Như vậy, độ cao vùng trồng chè càng lớn thì khiđốn chè làm cho hàm lượng tích lũy tinh bột càng cao Đây là yếu tố nguồn đểtạo cho cây sinh trưởng khỏe, năng suất búp cao

Ảnh hưởng của tuổi đốn chè đến khả năng tích lũy tinh bột cũng đã đượctác giả nghiên cứu và công bố Kết quả cho thấy hàm lượng tinh bột trong rễ chècao nhất ở công thức đốn lần đầu khi cây chè 3 tuổi và bị giảm xuống khi đốn ởtuổi 4, sản lượng chè đạt cao nhất ở công thức đốn chè lần đầu lúc 3 tuổi.Nghiên cứu của tác giả Sharma, V S và Murty R S R (1989) về ảnh hưởngsau khi đốn đến khả năng tích lũy tinh bột đã kết luận hàm lượnghidratcacbon (tinh bột) có trong rễ chè trước khi đốn tương quan dương với

sự phục hồi sinh trưởng cây chè sau khi đốn Như vậy, hàm lượng tinh bộttrong rễ cao thì cây chè sau đốn sinh trưởng phát triển mạnh, tuổi đốn chè sẽảnh hưởng đến điều này

Kiểu đốn khác nhau cũng ảnh hưởng đến sinh trưởng của bộ rễ Kết quảnghiên cứu cho thấy khi đốn đau có ảnh hưởng đến sự phân bố rễ trong các tầng

và lớp đất, đốn trẻ lại làm giảm hoạt động sinh trưởng của bộ rễ cây chè so vớiđốn phớt, trọng lượng rễ giảm 28%, rễ dẫn giảm 36 – 42%, rễ hút giảm 22 –24% Do vậy, xác định kiểu đốn thích hợp cho từng giai đoạn sinh trưởng câychè cần được nghiên cứu để phù hợp cho từng giống, từng tuổi chè

1.2 Nghiên cứu kỹ thuật đốn chè ở Việt Nam

Tác giả Nguyễn Ngọc Kính (1979), chỉ ra mục đích chủ yếu của đốn tạohình chè con là tạo cho cây chè có bộ khung tán rộng, nhiều cành có một hình

Trang 7

thù cân đối làm cho cây chè phát triển vững chắc về sau Tuỳ điều kiện cụ thểviệc xác định đốn chè con cho phù hợp

Năm 1961 – 1969, Trại thí nghiệm chè Phú Hộ đã tiến hành thí nghiệmđốn tạo hình chè kiến thiết cơ bản đối với giống chè Trung Du gieo hạt (1979)[21] đã cho kết luận về tuổi và độ cao đốn với giống chè này Kết quả nghiêncứu khuyến cáo tuổi đốn tạo hình ở tuổi 2 cho năng suất cao hơn so với bắt đầuđốn ở tuổi 1 Kỹ thuật đốn lần 1 ở độ cao 15 cm khi chè 2 tuổi, đốn thân chính,nuôi cành bên, giữ bộ lá Đốn lần 2 ở độ cao 35 cm khi chè 3 tuổi Đốn lần 3đốn ở độ cao 60 cm khi chè 4 tuổi Các lần đốn sau theo quy trình của chè sảnxuất

Từ kết quả nghiên cứu trên, Bộ nông nghiệp (1975) đã đưa ra quy trìnhcủa đốn chè cho giống Trung du trồng hạt là đốn lần 1 khi cây chè 2 tuổi đốncách mặt đất 12-15 cm, lần 2 khi cây chè 3 tuổi đốn cách mặt đất 30 - 35 cm, lần

3 khi cây chè 4 tuổi đốn cách mặt đất 40-45 cm

Năm 1980, Bộ Nông Nghiệp ban hành quy trình kỹ thuật có sửa đổi chochè trồng cành giâm Ở quy trình này mức đốn đã đưa lên cao hơn để phù hợpcho sự sinh trưởng phát triển mạnh của chè trồng cành Mức đốn tạo hình lần 1cao 25cm cao hơn so quy trình cũ 10 cm Đốn lần 2 tương tự cao 35 cm, lần 3cao 45 cm, thấp hơn so quy trình chè hạt 15 cm Sự khác nhau của quy trình nàychủ yếu do sự khác nhau bởi phương thức trồng cành hay trồng hạt Chè trồnghạt phân cành cao và cành sinh trưởng yếu do ưu thế sinh trưởng đỉnh của chèhạt Ngược lại chè trồng cành thường phân cành thấp và cành phát triển rấtmạnh nên mức đốn lần 3 thấp hơn so chè hạt

Các giống khác nhau kỹ thuật đốn khác nhau Năm 1981 - 1985, Trạinghiên cứu chè Phú Hộ tiến hành thí nghiệm đốn tạo hình đối với giống chèPH1 giai đoạn kiến thiết cơ bản Kết quả nghiên cứu 5 năm cho thấy: Đốn chèPH1 tuổi 2 với chiều cao đốn thân chính là 25 cm, chiều cao cành bên là 40 – 45

cm, cây chè có tán rộng hơn, đường kính thân, số cành cáp 1, cấp 2 và hệ sốdiện tích lá lớn hơn Sau 4 năm năng suất chè búp đạt 45 – 47 tạ/ha, cao hơn sovới quy trình đối chứng ( 34 – 36,5 tạ/ha) từ 17,9 – 23,2 %

Ngoài kết quả nghiên cứu đốn trên, tác giả Đỗ Ngọc Quỹ, Lê Tất Khương(2000) [22] đã đề nghị kỹ thuật đốn chè cành giai đoạn kiến thiết cơ bản ở tuổi 2

và chỉ đốn thân chính nuôi lại cành bên, giữ bộ lá tạo tán Cách đốn này so vớiquy trình đã tăng năng suất 32% Kỹ thuật đốn này được khuyến cáo đốn lần 1khi cây chè 2 tuổi đốn thân chính 25 cm cành bên 40 cm Đốn lần 2 khi chè 3

Trang 8

tuổi cách mặt đất 45 cm Đốn lần 3 (chè kinh doanh) khi cây chè 4 tuổi cách mặtđất 50 cm Kỹ thuật này cũng áp dụng tốt cho cả giống chè Trung Du.

Để phù hợp cho nhiều giống chè mới đưa ra sản xuất như các giống chèlai LDP1, LDP2 Năm 2001, Bộ Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn trên cơ sởcác kết quả nghiên cứu đã ban hành quy trình đốn mới [22] Theo quy trình nàythì đốn tạo hình lần 1 khi cây chè 2 tuổi, đốn thân chính cách mặt đất 12- 15 cm,đốn cành cách mặt đất 30-35 cm Lần 2 khi cây chè 3 tuổi đốn cành chính cáchmặt đất 30 - 35 cm, đốn cành tán cách mặt đất 40 - 45 cm

Đối với các giống chè nhập nội năm 2000, tác giả Nguyễn Thị Bình(2008) [3] nghiên cứu kỹ thuật đốn trên 2 giống chè Phúc Vân Tiên và Keo AmTích cho thấy đối với giống chè Trung Quốc trồng ở Phú Hộ - Phú Thọ cho thấyđối với giống chè Trung quốc kỹ thuật đốn thích hợp: đốn lần 1 thân chính từ 25

- 30 cm, cành bên 35 cm, lần 2 đốn 40 - 45cm, lần 3 đốn 45 -50 cm cho thấynăng suất tăng 27,53% so với quy trình

Đối với chè tuổi lớn, tác giả Đỗ Văn Ngọc (1991) nghiên cứu đốn trêngiống Trung du kết luận đốn phớt xanh và sửa bằng làm tăng số lá, mật độ búp,năng suất tăng cao từ 28,6 – 38,8% so đối chứng

2 CÁC NGHIÊN CỨU VỀ VẬT LIỆU CHE PHỦ TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM

2.1 Nghiên cứu về vật liệu che phủ trên thế giới

Cây trồng hút chất dinh dưỡng từ đất để sinh trưởng và phát triển Ngoàicác bộ phận thu hoạch ra, trong các sản phẩm phụ cũng chứa đựng các chất dinhdưỡng mà cây trồng lấy từ đất Sau mỗi vụ thu hoạch, cây trồng lại để lại cho đấtmột lượng lớn các phụ phẩm hữu cơ Thông qua các quá trình chuyển hoá vậtchất trong đất mà các sản phẩm này trở thành nguồn dinh dưỡng đáng kể chocây trồng vụ sau

Theo kết quả nghiên cứu của C.O.Othieno (1980] : Độ ẩm đất và hàm

lượng nước của cây chè vô tính bị tác động khác nhau khi che phủ bằng 5 loạivật liệu tủ: mảnh nhựa đen, mảnh đá vụn, cỏ Eragrostic Curvula, cỏ Napier và

cỏ Guatemala Trong điều kiện khô hạn kéo dài, độ ẩm đất nhìn chung đạt caonhất ở diện tích che tủ bằng cỏ Napier và mảnh nhựa đen Tất cả các công thứcnói chung đều tốt hơn so với công thức không được che phủ khi đánh giá độ ẩmđất ở độ sâu 90cm Vào thời điểm bắt đầu mưa sau một mùa khô hạn kéo dài bấtthường, tính thấm nước của đất nhanh hơn khi che tủ bằng các loại cỏ Sau 4

Trang 9

năm liên tục áp dụng biện pháp che tủ bằng cỏ cho thấy hầu hết đều có tác dụng

về khả năng giữ nước

Cũng theo kết quả nghiên cứu của C.O.Othieno và P.M.AHN (1979):

Trong điều kiện che phủ, 2 năm đầu quan sát thấy có sự khác nhau về nhiệt độđất giữa các công thức che tủ trên chè trồng bằng bầu nhân giống vô tính.Nhưng sự khác biệt này không còn nữa khi tán cây chè phát triển đạt độ che phủ

> 40% bề mặt mặt đất Đường kính thân, năng suất và tổng lượng chất khô cómối tương quan rõ ràng đến nhiệt độ đất

Theo M.K.Daraselia (1989) thì những nghiên cứu của tủ rác và tưới nướccho chè ở Liên Xô lần đầu tiên được tiến hành ở Viện nghiên cứu chè và câytrồng á nhiệt đới ở Gludia vào những năm 1934 – 1936 sau đó vào những năm

1936 – 1937 đều cho thấy hiệu quả của tủ rác và tưới nước đối với năng suất vàchất lượng chè, (Lê Tất Khương, 1997) [14]

Các tác giả CFKozopkin (1950) G.V.Lêbêdep (1954,1957)N.X.Petinopbằng nghiên cứu của mình đã cho thấy: Vùng cận nhiệt đới chỉ có thế trồng chèkhi tưới nước đều đặn, các tác giả cho rằng: Tưới nước hcfo chè làm tăng thờigian thu hoạch búp, làm tăng chất lượng chè nguyên liệu [14]

M.K.Daraselia (1989) tủ chè, tưới nước làm thay đổi điều kiện quang hợp,thay đổi hoạt tính các men trong rễ chè, kể cả polifenol-oxydaza là mên cáo mặttrong việc tạo tanin của chè (Lê Tất Khương, 1997) [14]

Viện lân và Kali của canada (1995) xác nhận 80 % tổng số kali cây lấy đinằm trong xác bã cây Nếu các xác bã thực vật này được hoàn lại cho đất đãcanh tác thì chúng sẽ cung cấp một lượng kali đáng kể cho các cây trồng vụ sau

2.2 Nghiên cứu về vật liệu che phủ ở Việt Nam

Cây chè chủ yếu được trồng trên đất dốc ở nước ta, biện pháp nâng cao

độ phì của nương chè là một trong những nội dung trong thâm canh tăng năngsuất cây chè Lý tính đất trồng chè có vai trò đặc biệt quan trọng khi canh tácchè trên đất dốc, quá trình đi lại chăm sóc và việc cạn kiệt chất hữu cơ làm chođất chặt cứng, bởi vậy biện pháp cải tạo lý tính đất, làm tăng khả năng giữnước của đất chè là quan trọng hơn hóa tính và những chỉ tiêu hóa tính đượcquy định bởi lý tính đất Quá trình khai hoang trồng mới đã phá vỡ hầu hếtthực bì trên bề mặt đất hoang hóa Phân tích đất tại điểm cố định sau khi trồngchè cho thấy: Hàm lượng mùn của đất hoang là 2,83%, sau 7 năm trồng chècòn 2,09% (giảm 0,74%), sau 11 năm trồng chè hàm lượng mùn giảm còn0,73% (Nguyễn Văn Tạo [27])

Trang 10

Phần lớn cây chè ở nước ta được trồng trên đất đỏ vàng, tập chung ở cáckhu vực mưa nhiều và mưa tập chung, có mùa khô hạn kéo dài 5 – 6 tháng; địahình dốc nên lượng mưa chảy trên bề mặt nhiều hơn so với lượng mưa thấmxuống đất; mùa khô có lượng nước bay hơi bao giờ cũng lớn hơn mùa mưa nêncây trồng nói chung và cây chè nói riêng thường xuyên ở trong tình trạng thiếunước trầm trọng Vấn đề đặt ra là cần phải tìm biện pháp để giữ lại lượng nướcmưa trong đất, hạn chế lượng nước bốc hơi Một trong những biện pháp phải kểđến là tủ gốc giữ ẩm cho cây (Lương Đức Loan, Nguyễn Tử Siêm – 1979 [15]).

Hà Đình Tuấn, Lê Quốc Doanh (2005) [28], khi nghiên cứu các biện phápche tủ đất phục vụ phát triển nông nghiệp bền vững với vật liệu che phủ là tàn

dư thực vật như rơm rạ, thân lá ngô, thân lá đậu đỗ, cỏ Stylo, lạc dại, đậu nhonhe, các loại cây họ đậu hoang dại cho rằng: các kỹ thuật nâng cao độ che tủđất và canh tác theo kiểu làm đất tối thiểu trên đất dốc có thể hạn chế được xóimòn rửa trôi và cỏ dại; cải tạo độ phì và các đặc tính của đất đồng thời làm tăngnăng suất cây trồng; tiết kiệm chi phí lao động

Tủ gốc cho chè 20 tấn/ ha bằng cây tế (guột) và cỏ TD58 (cỏ Ghi nê), vớichu kỳ 3 – 4 năm, làm tăng năng suất chè 20,54% (không tưới), 37,87% (cótưới) Tủ gốc làm tăng ẩm độ đất, tăng hàm lượng chất hữu cơ, giảm cỏ dại vàtăng hiệu quả sản xuất (Nguyễn Văn Toàn) [25]

Đỗ Ngọc Qũy Trại thí nghiệm chè Phú Hộ và Nguyễn Hanh ThôngPḥòng Nông hóa Thổ nhưỡng Viện Trồng Trọt Bộ Nông nghiệp (1960-1961),Nghiên cứu chế độ ẩm và nhiệt độ đất chè, tưới chè Trung du 2-3 tuổỉ tại gọ¡Rọc, trên đất feralit phiến thạch vàng đỏ Vẽ được đồ thị diễn biến nhiệt độ và

độ ẩm đất chè 0-300cm; năng suất chè có tưới so với đối chứng không tưới là138% [21]

Nguyễn Phong Thái, Ngô Minh Tú, Trại thí nghiệm chè Phú hộ 1970), tưới chè Trung Du gieo hạt trên đất feralit phiến thạch vàng đỏ tại gọ¡Lim, Phú Hộ cho chè non 1, 6, 9 tuổi; Thời vụ tưới quanh năm, vụ xuân, vụđông; Và tưới định kỳ 5, 10, 15 ngày Kết quả đạt năng suất 105, 113,7, 115,5%

(1969-so với đối chứng không tưới: Thời vụ tưới tốt nhất là vụ Đông 115% (1969-so với đốichứng; Tưới đinh kỳ hiệu quả cao nhất là khoảng cách 15 ngày giữa 2 lần tưới

Theo Nguyễn Hữu Phiệt (1966-1967): Độ ẩm chè tầng 0- 30cm có tủtăng hơn so đối chứng là 4,57-5,56 % ở đất Diệp Thạch và 6,50 % ở đất phù sacổ; Nhiệt độ đất chè có tủ tầng đất mặt 10 cm và tầng đất 30cm thấp và ổn định

Trang 11

Hàm lượng mùn và đạm dễ tiêu đất chè có tủ sau 5 tháng đều tăng hơn so đốichứng; Chè con có tủ có tốc độ sinh trưởng gấp 2 lần so đối chứng.

Nguyễn Thị Dần - Viện Nông hóa Thổ nhưỡng, Võ Thị Tố Nga - Trại thínghiệm chè Phú Hộ (1974 - 1977) Biện pháp chống hạn cho chè vụ đông (tháng11- tháng 4) bằng tủ ni lông toàn bộ hàng sông, để cỏ mọc tự nhiên, trồng cỏStilo giữa hàng sông, giống chè Trung Du gieo hạt 14 tuổi trên đất Feralit phiếnthạch vàng đỏ Gọ¡ Trại cũ Kết quả cho thấy có tủ, độ ẩm đất chè vụ đông xuân

và sản lượng chè có tủ đều tăng, trồng mục túc và để cỏ tự nhiên, sản lượng đềugiảm so với đối chứng, (Đỗ Ngọc Quỹ - 2003) [22]

Kết quả nghiên cứu của PGS.TS Lê Tất Khương (1997) cho thấy: Cáccông thức được tủ và giứ ẩm, tưới nước hoặc kết hợp giữa tủ và tưới nước đãtăng tỉ lệ búp có tôm từ 3,7 -18,7% và tăng tỷ lệ chè loại A, B lên từ 5,0 - 17,3%,tăng hàm lượng tanin từ 0,7 - 2,1% và làm tăng hàm lượng chất hòa tan từ 1,0 -1,5%, (Đỗ Ngọc Quỹ - Lê Tất Khương, 2000) [22]

Bộ môn Canh tác (Viện Nghiên cứu chè) 1999 – Điều tra khảo nghiệmtưới nước chè kinh doanh ở vùng đồi núi Miền Bắc Việt Nam cho nhận xét

Tưới phun mưa là tốt nhất; có hai phương pháp tưới phun ṿòi rồng và tướiphun mưa bán di động, với mức đầu tư 15-30 triệu đồng/ha

Nguyễn Thị Ngọc Bình, Hà Đình Tuấn, Lê Quốc Doanh (2006) [4] khinghiên cứu sử dụng vật liệu hữu cơ che phủ cho một số loại hình chè Trung Quốcnhập nội đã đưa ra những kết quả cho thấy lợi ích của việc tủ gốc:

- Chiều cao cây trung bình và mức tăng trưởng chiều cao cây ở các côngthức che phủ đều lớn hơn khác biệt so với đối chứng Mức tăng trưởng 3 nămcủa các công thức che phủ đạt từ 36,0 – 38,4cm trong khi đó ở công thức đốichứng chỉ đạt 28,3cm Đạt mức cao nhất là công thức 3 (che phủ tế) và côngthức 4 (che phủ cỏ Ghi-nê), công thức 1 (che phủ rơm) và công thức 5 (che phủ

cỏ dại tổng hợp) có mức tăng tương đương nhau

- Tổng sản lượng búp cả năm thu được ở các công thức che phủ đạt caohơn hẳn so với công thức đối chứng Cụ thể: Công thức tủ rơm rạ tăng sản lượnggần 30%, công thức tủ cỏ dại tổng hợp tăng 40,7%, công thức tủ tế tăng 59% vàtăng cao nhất là công thức tủ cỏ Ghi-nê tăng 72,5%, trong khi công thức đốichứng tổng sản lượng chỉ đạt xấp xỉ 1,1 tấn/ha - Số liệu năm 2006 Kết quả năngsuất và sản lượng ở các năm tiếp theo cũng diễn ra tương tự luôn đạt trị số cao ởcác công thức che phủ Năng suất búp ở các công thức che phủ so với công thứcđối chứng tăng từ 22,7% - 58,8% Năng suất đạt cao nhất là công thức tủ tế và

Trang 12

công thức tủ cỏ ghi nê - Số liệu năm 2007 Ở năm thứ 3 (2008) mức chênh lệchnăng suất và sản lượng giữa các công thức che phủ và công thức đối chứng giảmhơn so với các năm trước do lúc này cây chè ở công thức đối chứng phần nào đãkhép tán do vậy yếu tố đất trồng được đảm bảo giúp cây chè sinh trưởng pháttriển tốt hơn trước Tuy nhiên sản lượng ở công thức che phủ vẫn cao hơn, tăng

từ 21,9 – 29,8% so với công thức đối chứng

Theo Nguyễn Thị Cẩm Mỹ: Che phủ đất bằng xác thực vật cho chè tronggiai đoạn kiến thiết cơ bản có tác dụng tích cực đối với sinh trưởng phát triểncủa chè (tăng chiều cao cây, tăng chiều rộng tán, tăng chỉ số diện tích lá, giảm

cỏ dại), đồng thời khắc phục được các yếu tố hạn chế của đất dốc (đất bị chua,khô hạn …) và tăng năng suất chè từ 14,5 % đến 33,6% [5]

- Che phủ đất dốc bằng xác hữu cơ cho chè trong giai đoạn kiến thiết cơbản có tác dụng rõ rệt đến hạn chế xói mòn rửa trôi (giảm 42,1 % đến 75,66%lượng đất bị xói mòn so với đối chứng) Lương dinh dưỡng bị mất đi giảm chỉbằng 42,1 – 88,9% so với đối chứng Cải thiện độ phì đất (tăng độ pH trung bình

từ 0,12 – 0,37 đơn vị; (bằng -70,14 - 62,49 %) so với đối chứng, xuống dướimức gây hại cho cây trồng; tăng lượng chất hữu cơ từ 15 – 32,5%; tăng dungtích hấp thu 24,61 – 32,08 % và các chất dinh dưỡng khác như: K2O dễ tiêu tăng

từ 11,58 – 63,16 %, P2O5 dễ tiêu tăng từ 5,47 – 63,21 % cho đất sau một giaiđoạn che phủ

Bảy thành phần hóa học của lá chè xanh thuộc hai giống chè Nhật, baogồm L- theanine, caffeine, EGC, EC, EGCG, GCG và ECG đã được địnhtính và định lượng đồng thời bằng phương pháp HPLC sau khi được trích lybằng nước sôi theo một quy trình tiêu chuẩn Thành phần các cấu tử nàyđược tập hợp lại cho các lá chè được che phủ với các mức độ khác nhau.Điều đáng chú ý ở các kết quả thu được là tỷ lệ L-theanine/catechin, đượcxem là một thông số chất lượng chè, đã tăng lên khi tăng độ che phủ cùngvới sự tăng mức L- theanine và giảm hàm lượng các catechin chủ yếu Điềunày cho thấy ảnh hưởng tích cực của che phủ đến chất lượng lá chè về mặtcân bằng các thành phần hóa học (Nguyễn Đặng Dung, Lê Như Bích [9])

Sản phẩm của cành lá chè đốn hàng năm có khối lượng xấp xỉ bằng khốilượng búp và lá non đã thu hoạch Mà mỗi năm thu hoạch từ 5 – 10 tấn/ha búp

và lá non, tương đương sẽ có 5 – 10 tấn cành lá chè đốn trên 1 ha Vì thế, lượngdinh dưỡng trong đất mất đi khá nhiều Cho nên, giữ lại cành lá chè đốn có tácdụng rất lớn đối với việc cải tạo đất trồng chè vì nó là một trong những nguồn

Trang 13

bổ sung khối lượng chất hữu cơ tại chỗ cho cây chè Đồng thời nó còn giữ ẩmđất, kiểm soát cỏ dại… từ đó tăng năng suất, chất lượng chè.

Theo Tiến sỹ Nguyễn Văn Toàn: Chất hữu cơ trong đất chè được duy trìtrước tiên từ cành lá chè đốn giữ lại hàng năm, tiếp sau là được làm giàu hơnbằng nguồn bổ sung qua việc tủ gốc cho chè từ thân lá thực vật không bị nhiễmbẩn, lá rụng, cành tỉa của các loại cây che bóng, cây trồng xen thời kỳ chè kiếnthiết cơ bản, tốt nhất là các loại cây có hàm lượng dinh dưỡng cao Giữ lại cành

lá chè đốn (nương chè năng suất 10 tấn/ha có thể cho lượng cành lá đốn vài tấn/ha), tránh việc dùng cành lá chè đốn làm củi đốt Trồng cây che bóng để bỏsung nguồn lá rụng và cắt tỉa hàng năm của cây che bóng (tràm lá nhọn, muồngCassia (muồng đen)…) Tủ gốc bằng tế guột, rơm rạ, trồng cỏ Ghi nê…lượng

tủ 20 tấn/ha, 3-5 năm tủ 1 lần Thời kỳ cây chè mới trồng cần đặc biệt lưu ýtrồng xen cây họ đậu (lạc, đỗ…), cây có khả năng cải tạo đất cho lượng chấtxanh lớn (cốt khí, tràm lá nhọn…), cây cốt khí trồng xen có thể cho 30-40tấn/ha nếu được đầu tư chăm sóc tốt

3 NGHIÊN CỨU VỀ CÁC CHỦNG VI SINH VẬT CÓ KHẢ NĂNG PHÂN GIẢI XELLULOZA

3.1 Nhóm vi khuẩn

Nhóm vi khuẩn là nhóm vi sinh vật được nghiên cứu nhiều nhất từkhoảng thế kỷ 19 đến nay Các nhà khoa học đã phân lập được một số chủng visinh vật có khả năng phân giải xenlulo từ phân và dạ cỏ của động vật nhai lại.Đầu thế kỷ 20, người ta phân lập được các nhóm vi khuẩn hiếu khí phân giảixenlulo Trong môi trường có độ ẩm cao thường làm tăng khả năng phân giảixenlulo và hemixenlulo của các nhóm vi khuẩn, nhưng chủ yếu là các nhóm vikhuẩn hiếu khí

Một số nhóm vi khuẩn có khả năng phân giải Xenlulo:

Trong thực tế, người ta thấy chi Pseudomonas và Bacillus thuộc nhóm

hiếu khí là các chi có tần suất phân lập được cao nhất Ngoài ra còn có các chi kị

Trang 14

khí phân lập được trong dạ cỏ của động vật nhai lại như Rumicocus falvefecien,

R albus.

3.2 Nhóm xạ khuẩn

Xạ khuẩn là một nhóm vi khuẩn đặc biệt, Gram dương, hiếu khí, tế bàođặc trưng bởi sự phân nhánh, hệ sợi chia thành khuẩn ty cơ chất và khuẩn ty khísinh, bào tử bắn, thường có mặt quanh năm trong các loại đất

Một số nhóm xạ khuẩn phân giải xenlulo:

Một số nhóm nấm có khả năng phân giải xenlulo:

- Trichoderma viride

- Penicillium pinophinum

- T Reesei

- Fusarium solani

Thông thường trong các nhóm vi sinh vật chuyển hóa Xenlulo và Ligno

Xenlulo là các lòai Aspegillus Niger, Trichoderma reesei, Aspegillus sp.,

Penicillium sp., Paeceilomyces sp., Trichurus spiralis, Chetomium sp.,

- Nhóm nấm đối kháng Trichoderma hiện nay đang được ứng dụng rất rộng

rãi trong công nghệ sản xuất phân hữu cơ sinh học hiện nay ở Việt Nam Phân

hữu cơ sinh học có phối trộn thêm nấm đối kháng Trichoderma là lọai phân có

tác dụng rất tốt trong việc phòng trừ các bệnh vàng lá chết nhanh, còn gọi là

bệnh thối rễ do nấm Phytophthora palmirova gây ra Hay bệnh vàng héo rũ hay còn gọi là bệnh héo chậm do một số nấm bệnh gây ra: Furasium solari, Pythium

sp, Sclerotium rolfosii….

- Viện Công nghệ Sinh học (Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam) đãnghiên cứu và sản xuất thành công chế phẩm sinh học giữ ẩm cho đất có tên làLipomycin-M Thành phần chính là của Lipomycin-M là chủng nấm men

Ngày đăng: 11/03/2015, 20:42

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1: Các chủng vi sinh vật phân lập - NGHIÊN CỨU TUYỂN CHỌN MỘT SỐ CHỦNG VI SINH VẬT  PHÂN GIẢI XELLULOZA ĐỂ XỬ LÝ THÂN CÀNH CHÈ LÀM  PHÂN BÓN HỮU CƠ TRONG SẢN XUẤT CHÈ AN TOÀN
Bảng 3.1 Các chủng vi sinh vật phân lập (Trang 20)
Hình 1: Vòng phân giải xenlulo của các chủng VSV ( theo phương pháp CMC-aza) - NGHIÊN CỨU TUYỂN CHỌN MỘT SỐ CHỦNG VI SINH VẬT  PHÂN GIẢI XELLULOZA ĐỂ XỬ LÝ THÂN CÀNH CHÈ LÀM  PHÂN BÓN HỮU CƠ TRONG SẢN XUẤT CHÈ AN TOÀN
Hình 1 Vòng phân giải xenlulo của các chủng VSV ( theo phương pháp CMC-aza) (Trang 21)
Bảng 3.2: Hoạt tính phân giải xelluloza của các chủng vi sinh vật phân lập - NGHIÊN CỨU TUYỂN CHỌN MỘT SỐ CHỦNG VI SINH VẬT  PHÂN GIẢI XELLULOZA ĐỂ XỬ LÝ THÂN CÀNH CHÈ LÀM  PHÂN BÓN HỮU CƠ TRONG SẢN XUẤT CHÈ AN TOÀN
Bảng 3.2 Hoạt tính phân giải xelluloza của các chủng vi sinh vật phân lập (Trang 21)
Bảng 3.3: Tỷ lệ giảm khối lượng thân cành chè - NGHIÊN CỨU TUYỂN CHỌN MỘT SỐ CHỦNG VI SINH VẬT  PHÂN GIẢI XELLULOZA ĐỂ XỬ LÝ THÂN CÀNH CHÈ LÀM  PHÂN BÓN HỮU CƠ TRONG SẢN XUẤT CHÈ AN TOÀN
Bảng 3.3 Tỷ lệ giảm khối lượng thân cành chè (Trang 22)
Hình 2: Đồ thị biểu diễn biến động nhiệt độ trong quá trình xử lý thân lá chè - NGHIÊN CỨU TUYỂN CHỌN MỘT SỐ CHỦNG VI SINH VẬT  PHÂN GIẢI XELLULOZA ĐỂ XỬ LÝ THÂN CÀNH CHÈ LÀM  PHÂN BÓN HỮU CƠ TRONG SẢN XUẤT CHÈ AN TOÀN
Hình 2 Đồ thị biểu diễn biến động nhiệt độ trong quá trình xử lý thân lá chè (Trang 24)
Hình 3: Đánh giá cảm quan độ hoai mục giữa  công thức ủ bổ sung vi sinh vật và đối chứng - NGHIÊN CỨU TUYỂN CHỌN MỘT SỐ CHỦNG VI SINH VẬT  PHÂN GIẢI XELLULOZA ĐỂ XỬ LÝ THÂN CÀNH CHÈ LÀM  PHÂN BÓN HỮU CƠ TRONG SẢN XUẤT CHÈ AN TOÀN
Hình 3 Đánh giá cảm quan độ hoai mục giữa công thức ủ bổ sung vi sinh vật và đối chứng (Trang 26)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w