1. ĐẶT VẤN ĐỀ Tế bào thần kinh đệm là một trong hai thành phần quan trọng hợp thành hệ thần kinh trung ương, có khoảng từ 5 đến 10 tỉ tế bào trong hệ thần kinh trung ương. Có nhiều loại u thần kinh đệm, nhưng chúng được chia làm 3 nhóm chính: u tế bào hình sao (Astrocytoma), u tế bào thần kinh đệm ít nhánh (Oligodendroglioma) và u biểu mô ống nội tuỷ (Ependymoma)[3],[7]. U não tế bào sao(Astrocytoma) là một loại u thuộc tế bào thần kinh đệm, về mô bệnh học được chia làm nhi ều loại khác nhau từ lành tính đến ác tính cao, là loại u gặp hàng đầu của u não: u não có 2/3 là u tiên phát, trong đó hơn 1/2 là u thần kinh đệm, khoảng 3/4 u thần kinh đệm là u thần kinh đệm tế bào hình sao, và hơn 3/4 của các u thần kinh đệm hình sao là u tế bào hình sao giảm biệt hoá (anaplastic astrocytoma) và u nguyên bào thần kinh đệm đa hình (glioblastoma multiforme) [7]. Lâm sàng u thần kinh đệm hình sao cũng nằm trong bệnh cảnh u não nói chung, là tăng áp lực nội sọ và dấu hiệu định khu, không có triệu chứng đặc hiệu [2],[3]. Do đó ch ẩn đoán hình ảnh có vai trò hết sức quan trọng trong chẩn đoán, phân loại u, vị trí u, tính chất u, từ đó giúp bác sĩ chuyên khoa đưa ra các phương pháp chỉ định điều trị phù hợp, đặc biệt trong phẫu thuật loại bỏ u. Để cung cấp thông tin về hình ảnh học u não tế bào hình sao cho luận án “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, chẩn đoán hình ảnh và kết quả phẫu thuật u não tế bào hình sao (Astrocytoma) bán cầu đại não”, chúng tôi tiến hành nghiên cứu về phân loại cũng như đặc điểm hình ảnh u thần kinh đệm tế bào hình sao trên phim cắt lớp vi tính và cộng hưởng từ.
Trang 1Trường đại học y hμ nội
chuyên đề I
nghiên cứu hình ảnh học của u tế bμo
thần kinh đệm hình sao
(astrocytoma) đđề tμi
nghiên cứu đặc điểm lâm sμng, chẩn đoán
hình ảnh vμ kết quả phẫu thuật u não tế bμo hình sao
(astrocytoma) bán cầu đại não
chuyên ngμnh: Phẫu thuật đại cương
mã số: 3.01.21
Giáo viên hướng dẫn chuyên đề : PGS.Ts Nguyễn Duy Huề Giáo viên hướng dẫn khoa học : Gs Dương Chạm Uyên
Hμ Nội - 2008
Trang 2MỤC LỤC
1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
2 PHÂN LOẠI U NÃO THEO TỔ CHỨC Y TẾ THẾ GIỚI NĂM 2007 2
3 ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG CỦA U NÃO TẾ BÀO HÌNH SAO 6
3.1 Triệu chứng chung 6
3.2 Triệu chứng khu trú 8
4 TỔNG QUAN VỀ CÁC PHƯƠNG PHÁP CHẨN ĐOÁN HÌNH ẢNH 9
4.1 Chụp Xquang: 9
4.2 Các phương pháp chẩn đoán hình ảnh khác: 11
4.3 Phương pháp phổ biến và có giá trị chẩn đoán u não nhất trong giai đoạn hiện nay 13
5 ĐẶC ĐIỂM HÌNH ẢNH CỦA U TẾ BÀO THẦN KINH ĐỆM HÌNH SAO TRÊN PHIM CẮT LỚP VI TÍNH VÀ PHIM CỘNG HƯỞNG TỪ 16
5.1 U sao bào thể lông 16
5.2 U tế bào đệm hình sao sắc tố vàng đa hình thái 18
5.3 U tế bào đệm hình sao nền não thất thể tế bào khổng lồ 21
5.4 U tế bào sao lan toả 22
5.5 U tế bào thần kinh đệm hình sao giảm biệt hoá 24
5.6 U nguyên bào thần kinh đệm 27
6 KẾT LUẬN 29 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 31 ĐẶT VẤN ĐỀ
Tế bào thần kinh đệm là một trong hai thành phần quan trọng hợp thành
hệ thần kinh trung ương, có khoảng từ 5 đến 10 tỉ tế bào trong hệ thần kinh trung ương Có nhiều loại u thần kinh đệm, nhưng chúng được chia làm 3 nhóm chính: u tế bào hình sao (Astrocytoma), u tế bào thần kinh đệm ít nhánh (Oligodendroglioma) và u biểu mô ống nội tuỷ (Ependymoma)[3],[7]
U não tế bào sao(Astrocytoma) là một loại u thuộc tế bào thần kinh đệm, về mô bệnh học được chia làm nhiều loại khác nhau từ lành tính đến ác tính cao, là loại u gặp hàng đầu của u não: u não có 2/3 là u tiên phát, trong đó hơn 1/2 là u thần kinh đệm, khoảng 3/4 u thần kinh đệm là u thần kinh đệm tế bào hình sao, và hơn 3/4 của các u thần kinh đệm hình sao là u tế bào hình sao giảm biệt hoá (anaplastic astrocytoma) và u nguyên bào thần kinh đệm đa hình (glioblastoma multiforme) [7]
Lâm sàng u thần kinh đệm hình sao cũng nằm trong bệnh cảnh u não nói chung, là tăng áp lực nội sọ và dấu hiệu định khu, không có triệu chứng đặc hiệu [2],[3]
Do đó chẩn đoán hình ảnh có vai trò hết sức quan trọng trong chẩn đoán, phân loại u, vị trí u, tính chất u, từ đó giúp bác sĩ chuyên khoa đưa ra các phương pháp chỉ định điều trị phù hợp, đặc biệt trong phẫu thuật loại
bỏ u
Để cung cấp thông tin về hình ảnh học u não tế bào hình sao cho luận
án “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, chẩn đoán hình ảnh và kết quả phẫu thuật u não tế bào hình sao (Astrocytoma) bán cầu đại não”, chúng tôi tiến
hành nghiên cứu về phân loại cũng như đặc điểm hình ảnh u thần kinh đệm tế bào hình sao trên phim cắt lớp vi tính và cộng hưởng từ
Trang 42 PHÂN LOẠI U NÃO THEO TỔ CHỨC Y TẾ THẾ GIỚI NĂM 2007 [11],[12]
Các u tế bào sao (Astrocytoma)
- U tế bào sao có lông, độ I (Pilocytic astrocytoma)
U sao bào lông dạng nhầy, độ II( Pilomyxoid astrocytoma)
- U tế bào hình sao thể tế bào lớn dưới màng não thất, độ I (Subependymal gail cell astrocytoma)
- U tế bào đệm hình sao sắc tố vàng đa hình thái, độ II (Pleomorph
xanthoastrocytoma)
- U tế bào đệm hình sao lan toả (độ II), bao gồm:
U tế bào đệm hình sao dạng sợi (fibrilary astrocytoma)
U tế bào đệm hình sao dạng nguyên sinh chất (Protoplasmic astrocytoma)
U tế bào sao phồng (Gemistocytic astrocytoma)
- U tế bào hình sao kém biệt hóa (độ III), (Anaplastic astrocytoma)
- U nguyên bào thần kinh đệm (glioblastoma) (độ IV), bao gồm:
U nguyên bào thần kinh đệm thể tế bào khổng lồ Sarcom nguyên bào thần kinh đệm (gliosarcom)
-U thần kinh đệm não(Gliomatosis Cerebri)
Các u tế bào thần kinh đệm ít nhánh (oligodendrogioma)
- U tế bào thần kinh đệm ít nhánh (độ II)
- U tế bào thần kinh đệm ít nhánh giảm biệt hóa (độ III)
Các u thần kinh đệm hỗn hợp
- Oligoastrocytoma
- Oligoastrocytoma giảm biệt hóa
Các u tế bào đệm lợp ống nội tủy (Ependymoma)
- U tế bào đệm lợp ống nội tủy - Ependymoma (độ II), bao gồm:
U tế bào đệm lợp ống nội tủy
Trang 5U nhú tế bào đệm lợp ống nội tủy
U tế bào đệm lợp ống nội tủy mật độ thấp
U tế bào đệm lợp ống nội tủy thể rải rác (tanicytique)
- U tế bào đệm lợp ống nội tủy không biệt hóa (độ III)
- U nhú màng nhầy tế bào đệm lợp ống nội tủy
- U dưới biểu mô ống nội tủy
Các u đám rối màng mạch (plexus choroid)
- U nhú đám rối màng mạch
- Carcinom đám rối màng mạch
Các u tế bào thần kinh đệm không rõ nguồn gốc
- U nguyên bào đệm hình sao (astroblastoma)
- U tế bào thần kinh đệm của não
- U thần kinh đệm đám rối màng mạch não thất III
Các khối u neuron và u hỗn hợp neuron - thần kinh đệm
- U hạch thần kinh (gangliocytoma)
- U hạch thần kinh tiểu não không biệt hóa (bệnh Lhermitte - Duclos)
- Astrocytoma/ ganlioglioma thể hợp bào ở trẻ em
- U biểu mô neuron không biệt hóa phôi thai
- U tế bào đệm hạch thần kinh (ganlioglioma)
- U tế bào đệm hạch thần kinh không biệt hóa
- Neurocytoma thần kinh trung ương
- Liponeurocytoma tiểu não
- U tế bào đệm phó hạch thần kinh
Các khối u nguyên bào thần kinh (Neuroblastoma)
- U nguyên bào thần kinh khứu giác (nguyên bào cảm giác)
- U biểu mô thần kinh khứu giác
Trang 6Các khối u nhu mô tuyến tùng
- U biểu mô tuyến tùng (pineocytoma)
- U nguyên bào tuyến tùng (pineoblastoma)
- U tuyến tùng chuyển tiếp/ hỗn hợp
Các khối u bào thai
- U biểu mô ống thần kinh phôi thai
- U nguyên bào đệm lợp ống nội tủy
- U nguyên bào tủy (medullobastoma):
U nguyên bào tủy thể hợp bào (desmoplastiqua)
U nguyên bào tủy thể tế bào lớn
U tủy nguyên bào tủy dạng cơ (medullomyoblastoma)
U nguyên bào tủy dạng sắc tố
- U ngoại bì thần kinh nguyên phát trên lều (PNET)
U nguyên bào thần kinh
U hạch nguyên bào thần kinh
U quái không điển hình/ Rhabdod (dạng cơ)
Các khối u thần kinh ngoại vi
- U tế bào Schwann ( Schwannoma)
U thể tế bào (Cellular)
U đám rối thần kinh (Plexiform)
U hắc tố (Melanotic)
- U xơ thần kinh (Neurofibroma)
U đám rối thần kinh (Plexiform)
- U bao liên kết bó sợi thần kinh (Perineurioma)
- U bao thần kinh ngoại vi ác tính (Malignant perineurioma)
Trang 7Các khối u màng não( Meningioma)
- U màng não (Meningioma)
- U màng não không điển hình ( Atypical meningioma)
- U màng não ác tính (Anablastic/ malignant meningioma)
- U tương bào (plasmacytoma)
- U bạch cầu hạt (Granulocytic sarcoma)
Các khối u tế bào mần (Germ cell tumour)
- U tế bào mần (Germinoma)
- Ung thư biểu mô nguồn gốc phôi thai (Embryonal carcinoma)
- U túi noãn hoàng ( Yolk sac tumour)
- Ung thư nguyên bào nuôi (Choriocarcinoma)
- U quái (Teratoma)
- U tế bào mần hỗn hợp
Các khối u vùng hố yên
- U sọ hầu (Craniopharynglioma)
- U tế bào hạt ( Granular cell)
- U tuyến yên (Pituicytoma)
- Spindle cell oncocytoma of the adenohypophysis
Các khối u di căn
Trang 83 ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG CỦA U NÃO TẾ BÀO HÌNH SAO
U não tế bào hình sao (Astrocytoma) là một loại u não tiên phát, u tế bào thần kinh đệm, có thể gặp ở mọi vị trí của não bộ, do đó triệu chứng lâm sàng nằm trong bệnh cảnh chung của u não:
3.1 Triệu chứng chung
3.1.1 Đau đầu
Đau đầu là triệu chứng hay gặp, 80-90% các bệnh nhân có biểu hiện đau đầu Tuỳ theo vị trí, kích thước của u mà cường độ đau đầu có khác nhau Đau đầu trong u não hay xuất hiện và tăng lên vào buổi sáng, bệnh nhân có thể thiu thiu ngủ do bớt đau đầu nhưng thức dậy vào giữa đêm về sáng do đau đầu xuất hiện tăng lên Đau đầu có thể cục bộ ở giai đoạn sớm, hoặc đau đầu toàn thể do tăng áp lực nội sọ
Đau đầu trong u não, có ý nghĩa chẩn đoán vì nó là một triệu chứng có rất sớm và thường xuyên của người bệnh Đau đầu có thể kéo dài vài tháng, một năm, có thể là triệu chứng duy nhất của u phát triển
3.1.2 Nôn
Nôn gặp 65-68% các trường hợp u não, nôn thường là dấu hiệu của tăng
áp lực nội sọ Nôn trong u não có đặc điểm là nôn vọt, nôn không liên quan với bữa ăn, không có biểu hiện cơn đau bụng trước nôn Nôn hay xuất hiện vào buổi sáng, vào lúc đói và nôn khi thay đổi tư thế mạnh, đột ngột
Trong u não nôn thường xuất hiện khi bệnh nhân đau đầu tăng, liên quan với tăng áp lực nội sọ Nếu u ở thân não, đáy não thất IV và tiểu não thì nôn không liên quan với đau đầu vì u không những chỉ gây tăng áp lực nội sọ mà còn kích thích trực tiếp vào trung khu nôn Nôn hay gặp trong u hố sau, đặc biệt là u đáy não thất IV, còn u trên lều thì nôn ít gặp hơn
Trang 93.1.3 Chóng mặt
Gặp ở 50% các bệnh nhân u não biểu hiện chóng mặt: bệnh nhân có cảm giác như là các đồ vật quay xung quanh mình hoặc bệnh nhân quay xung quanh các đồ vật
Chóng mặt có thể đồng thời với nôn và buồn nôn, và cũng xuất hiện từng cơn Chóng mặt có hệ thống được xem như là triệu chứng đầu tiên của u não
ở não thất IV, góc cầu tiểu não, thuỳ giun tiểu não
3.1.4 Thay đổi ở đáy mắt
Là triệu chứng khách quan của u não, biểu hiện chủ yếu là ứ phù hoặc teo gai thị Biểu hiện hay gặp là ứ phù gai thị Phù gai thị nguyên nhân là do tăng áp lực nội sọ đè ép vào các bó dây thần kinh thị giác, đè ép vào tĩnh mạch trung tâm của dây thần kinh thị giác làm cản trở dòng máu tĩnh mạch từ võng mạc trở về, kết quả ứ máu tĩnh mạch dẫn đến phù gai thị Phù gai thị kéo dài dẫn tới teo gai thị
3.1.5 Động kinh
Các cơn động kinh trong u não có thể thấy 3 thể sau:
- Động kinh toàn thể: được xếp vào triệu chứng chung của u não, còn cơn động kinh cục bộ và thân não được xếp vào triệu chứng khu trú Cơn động kinh toàn thể có thể xảy ra ở bất kỳ vị trí nào của u não, nhưng ít xảy ra với u ở tiểu não và thân não
- Cơn động kinh cục bộ: hay gặp trong các trường hợp u ở rãnh trung tâm, ít thấy ở thuỳ trán, thái dương Trong một số trường hợp thấy u
ở nền não như não thất III, u hố sau mà trước hết là u góc cầu
- Cơn co giật thân não: biểu hiện bằng những cơn co cứng mất não U tiểu não gây nên cơn thân não là do hậu quả đè ép vào thân não
Trang 103.2 Triệu chứng khu trú
3.2.1 U não thuỳ trán
Triệu chứng rối loạn tâm thần tương đối hay gặp trong u não thuỳ trán với triệu chứng: trạng thái vô cảm, tâm thần lờ đờ, giảm trí nhớ và sức chú ý Thường hay xuất hiện trạng thái khoái cảm bệnh lý, đùa tếu, châm chọc, cười không duyên cớ
Do đè ép vào dây khứ giác làm mất ngửi, mờ hoặc mù mắt khi u chèn ép vào dây thị giác
3.2.2 U thuỳ thái dương
Do u đè ép vào hồi móc sẽ gây nên ảo thính, ảo khứu và ảo vị Những cơn chóng mặt tiền đình- vỏ não là triệu chứng khá đặc trưng đối với tổn thương thuỳ thái dương Rối loạn hoặc mất ngôn ngữ do tổn thương trung khu ngôn ngữ ở thuỳ thái dương của bán cầu ưu thế
Nếu u ở đáy sọ, chèn ép dây thần kinh vận nhãn chung gây sụp mi, giãn đồng tử, kết hợp với liệt nửa người bên đối diện do chèn ép cuống não
Trang 114 TỔNG QUAN VỀ CÁC PHƯƠNG PHÁP CHẨN ĐOÁN HÌNH ẢNH
U não là nhóm bệnh nhân được nghiên cứu từ lâu Lịch sử nghiên cứu u não gắn liền với sự ra đời và những tiến bộ của các phương pháp thăm dò Trước đây việc chẩn đoán u não thường chỉ dựa vào lâm sàng, với hai hội chứng chính là tăng áp lực nội sọ và dấu hiệu thần kinh khu trú Do vậy việc chẩn đoán thường muộn do phải đợi các triệu chứng lâm sàng điển hình
Ngày nay, nhờ những tiến bộ của các phương pháp thăm dò, u não ngày càng được chẩn đoán sớm hơn, chẩn đoán đúng các loại u khác nhau trong sọ
Có thể nêu ở đây các phương pháp đước áp dụng trong chẩn đoán u não từ trước tới nay:
4.1 Chụp Xquang
Tia X được nhà bác học người Đức Roentgen phát hiện ra vào năm
1895, với phát minh này ông nhận được giải thưởng Nobel vào năm 1901[1],
và cũng từ đó chúng ta đã có được những bước tiến dài trong lĩnh vực này
4.1.1 Xquang sọ quy ước ( Radiologie conventionnelle)
Chụp Xquang sọ quy ước, có ưu điểm là giẻ tiền và phổ biến nhất hiện nay, áp dụng được cho các tuyến Y tế cơ sở Tuy nhiên nó chỉ cho những hình ảnh gián tiếp như các thay đổi về cấu trúc của xương sọ như sau:
Hình ảnh tăng áp lực nội sọ : Các đường khớp bị tách xa nhau (hay gặp
ở trẻ em) Trường hợp tăng áp lực nội sọ kéo dài, có thể thấy ″dấu ấn ngón tay″của các hồi não ở mặt trong vòm sọ, thường phải tăng áp lực nội sọ từ trên 6 tháng thì mới có hình ảnh trên Hình ảnh biến đổi ở hố yên như lưng và nền hố yên bị mỏng và mất chất vôi do tăng áp lực nội sọ lâu ngày
Hình ảnh đóng vôi trong u não : U sọ hầu có thể thấy hình ảnh ngấm
vôi toàn bộ U màng não có thể thấy đóng vôi lấm tấm hoặc đóng vôi đậm đều U thần kinh đệm ít nhánh (Oligodendroglioma) hay đóng vôi hơn và có
hình đóng vôi dài và cong Loại u tế bào đệm hình sao (Astrocytoma) có thể
đóng vôi thành nốt nhưng thưa hơn trong u màng não
Trang 12Hình ảnh dày xương : Hình ảnh dày xương tại chỗ ở bản trong sọ nơi u
bám vào màng cứng, hay gặp trong u màng não Hình ảnh dày xương lan vào hốc mắt trong trường hợp u nền sọ trước, ở cánh xương bướm
Hình ảnh tiêu xương, thưa xương : Các u góc cầu tiểu não làm mỏng
bản nền và các mỏm góc yên sau U dây thần kinh số VIII làm lỗ tai trong rộng ra và thay đổi bờ trên xương đá ở tư thế chụp Stenvers Mỏm yên vẹt, hố yên giãn rộng trong u tuyến yên hay u vung tuyến yên Hình huỷ xương trong một số u ác tính, u di căn
4.1.2 Chụp mạch não (Angiographie)
Năm 1927 Egas Moniz là người đầu tiên chụp cản quang động mạch cảnh Năm 1936 Loman và Myerson cải tiến phương pháp chụp hở (bộc lộ động mạch) thành phương pháp kín (chọc kim trực tiếp động mạch qua da) [1]
Năm 1951 Radner đã tiến hành chụp mạch não bằng phương pháp Seldinger (chụp gián tiếp qua catheter luồn từ động mạch đùi)
Đây là phương pháp chẩn đoán u não tốt nhất khi chưa có cắt lớp vi tính Với những u có nhiều mạch nuôi như u màng não sẽ thấy nhiều mạch tăng sinh tại một vùng, nguồn mạch nuôi từ động mạch màng não giữa hay động mạch cảnh trong với u màng não (Meningioma) và các dị dạng mạch máu Với u có ít mạch nuôi cho chẩn đoán gián tiếp khi u đẩy lệch đường đi của các động mạch não Tuy nó chính xác và đặc hiệu hơn trong các tổn thương mạch, nhưng trong một số trường hợp như u não thất, u nhỏ, u không làm dịch chuyển đường giữa thì nó không cho phép xác định
Theo các tài liệu của OMS phương pháp này có độ nhạy khoảng 60%
và độ đặc hiệu30% đối với các u nội sọ [18]
Hiện nay chụp mạch não giúp đánh giá nguồn cấp máu cho u, đường đi của mạch trong u, nó đặc biệt có giá trị trong phẫu thuật hoặc xạ trị tránh làm
Trang 13tổn thương các động mạch chính trong não Chụp mạch định hướng cho nút mạch nuôi dưỡng u, hạn chế chảy máu trong phẫu thật loại bỏ u
Chụp mạch số hoá xoá nền (Digital Subtraction Angiography), đây là phương pháp chẩn đoán hình ảnh kết hợp giữa việc chụp X-quang và xử lý số
xử dụng thuật toán để xóa nền trên 2 ảnh thu nhận được trước và sau khi tiêm chất cản quang vào cơ thể người bệnh, nhằm mục đích nghiên cứu mạch máu trong cơ thể Chụp mạch số hoá xoá nền ứng dụng trong chụp mạch máu não, đánh giá sự cấp máu cho khối u…
4.1.3 Chụp não thất, chụp não bơm hơi, chụp não thất cản quang
Chụp não bơm hơi do Dandy làm lần đầu (1918) trong chẩn đoán u não
nó có nguy hiểm do rút nhiều dịch não tủy nên dễ gây tụt kẹt não
Chụp não thất bơm hơi (Dandy- 1918), chụp não thất bơm thuốc cản quang (Sicard-1923) với lipiodol để chẩn đoán u não trong các trường hợp u não thất, các u sâu trong trục mà chụp mạch không phát hiện được Trên não thất đồ có thể thấy hình ảnh của u, sự tắc nghẽn đường lưu thông dịch não tủy hay sự dị lệch hệ thống não thất
4.2 Các phương pháp chẩn đoán hình ảnh khác:
4.2.1 Xạ hình não ( Scintigraphie)
Từ những năm 40 của thế kỷ này, chất phóng xạ đã được sử dụng để nghiên cứu trong y học Năm 1948 Moore là người đầu tiên dùng để pháp hiện u não Phương pháp này được áp dụng vào Việt nam từ 1983 Trong u não có thể thấy vùng tập trung phóng xạ bất thường ở chỗ có tăng sinh mạch máu như u màng não (Méningioma), u nguyên bào thần kinh đệm (Glioblastoma)
Theo Đinh Văn Bền, xạ hình não có thể phát hiện tới 86% các trường hợp u não, đặc biệt là u di căn
Trang 144.2.2 Siêu âm não
Thường được dùng để khám qua thóp ở trẻ em dưới 2 tuổi Phương pháp này thường ít có giá trị trong các loại u nằm phía sau (u thùy chẩm) hay u nằm phía trước nhiều (u thùy trán)
Điện não đồ có giá trị chẩn đoán vị trí trong các trường hợp u vỏ não, đó cũng là xét nghiệm cần thiết trong các trường hợp động kinh cục bộ Tuy nhiên, với u hố sau, các trường hợp tăng áp lực nội sọ nặng thì giá trị của điện não đồ có giới hạn hơn
4.2.4 Xạ hình cắt lớp đơn Photon (Single Photon Emission Computed Tomography)
Xạ hình cắt lớp đơn Photon (SPECT) là một thiết bị ứng dụng kỹ thuật
y học hạt nhân để chẩn đoán hình ảnh chức năng của các cơ quan trong cơ thể Hình ảnh mà SPECT thu được không phải là hình thể giải phẫu mà là hình ảnh phản ánh chức năng của cơ quan Thông qua hình ảnh SPECT người bác sĩ có thể đánh giá được lượng máu đi đến các mô và cơ quan từ đó thu được thông tin về những sự bất thường của vùng cơ quan đó
Chẩn đoán các bệnh trong não: với hình ảnh SPECT chụp não, bác sĩ
dễ dàng chẩn đoán trạng thái và các tổn thương xảy ra trong não, phát hiện các u não giai đoạn sớm
Trang 154.3 Phương pháp phổ biến và có giá trị chẩn đoán u não nhất trong giai đoạn hiện nay:
4.3.1 Chụp cắt lớp vi tính (CTScanner)[1],[6]
Ngày 1/10/1971 Hunsfield cùng với Ambrose (Anh) cho ra đời chiếc máy chụp cắt lớp vi tính sọ não đầu tiên Thời gian chụp và tính toán cho 1 quang ảnh lúc đó cần 2 ngày
Tháng 4/1972 những tài liệu đầu tiên về ứng dụng chụp cắt lớp vi tính (CTScanner) trong chẩn đoán các bệnh lý sọ não đã được Ambrose báo cáo tại hội nghị của Viện điện quang Anh Hội nghị này đã đánh giá cắt lớp vi tính là sự kiện lớn nhất trong ngành điện quang kể từ sau 1895, thời điểm Roentgen phát minh ra tia X
Chính vì thế, năm 1979, giải thưởng NOBEL về y học đã được trao cho Cormack (Mỹ) và Hounsfiel (Anh) vì những đóng góp của hai ông cho sự thành công của phương pháp chụp cắt lớp vi tính Sự kiện này cũng nói lên cống hiến của vật lý học cho y học, đồng thời cũng thể hiện giá trị của phương pháp chụp cắt lớp vi tính trong chẩn đoán, điều trị và nghiên cứu khoa học y dược
Ưu nhược điểm của chụp cắt lớp:
Ưu điểm: chụp cắt lớp vi tính là một tiến bộ vượt bậc trong chẩn đoán
hình ảnh, từ khi ra đời nó đã làm thay đổi lớn trong chẩn đoán cũng như điều trị của ngành phẫu thuật thần kinh, đặc biệt trong chấn thương sọ não chụp cắt lớp đã trở thành tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán tổn thương Chụp cắt lớp có ưu điểm hơn cộng hưởng từ trong các chẩn đoán tổn thương của xương: xương
sọ, xương cột sống, các xương khác trong cơ thể Trong chẩn đoán u não, theo các tác giả Kendall và Castandel [19] độ nhạy của chụp cắt lớp vi tính với chẩn đoán u não nói chung là trên 95%, theo Kazner và Swende chụp cắt lớp
vi tính chẩn đoán chính xác tính chất của khối u là 80% [16]
Trang 16Nhược điểm: do vẫn sử dụng tia X, người bệnh sẽ chịu một lượng tia
nhất định sau mỗi lần chụp Với những u không bắt thuốc cản quang, hình ảnh
u rất khó xác định Không tạo được ảnh dưới dạng không gian 3 chiều, cho hình ảnh các mô mềm không được rõ nét như trên cộng hưởng từ Theo các tác giả Gouliamos và Beges cộng hưởng từ cho hình ảnh, tính chất của u não
rõ ràng hơn chụp cắt lớp vi tính [14]
4.3.2 Chụp cộng hưởng từ (Magnetic Resonance Imaging)
Felix Block và Edward Purcell đã phát hiện ra hiện tượng cộng hưởng
từ hạt nhân vào năm 1946 và từ những năm 1950 đến năm 1970 cộng hưởng
từ đã được ứng dụng và phát triển rộng rãi Thành quả đó được chứng nhận bằng giải Nobel Vật lý vào năm 1952 cho hai nhà vật lý Felix Block và Edward Purcell Và đó là cơ sở quan trọng cho sự phát triển của chụp cộng hưởng từ [5]
Năm 1980 chiếc máy cộng hưởng từ đầu tiên được đưa vào áp dụng Đến năm 1987 kỹ thuật Cardiac MRI được đưa vào sử dụng cho việc chẩn đoán các bệnh về tim mạch Năm 1993 thì MRI dùng để chẩn đoán các chức năng và hoạt động của não bộ Kỹ thuật tạo ảnh cộng hưởng từ (MRI) hiện đã trở thành một phương pháp phổ thông trong y học chẩn đoán hình ảnh Các thiết bị MRI đầu tiên ứng dụng y học xuất hiện vào đầu những năm 1980 Vào năm 2002, có gần 22.000 máy MRI được sử dụng trên toàn thế giới Cộng hưởng từ thường tốt hơn các kỹ thuật hình ảnh khác và đã được cải thiện đáng
kể về độ chính xác trong chẩn đoán nhiều căn bệnh Nó thay thế một số phương pháp kiểm tra theo kiểu đưa thiết bị vào cơ thể, do đó giảm đau đớn, rủi ro cũng như sự bất tiện cho bệnh nhân Chẳng hạn sử dụng phương pháp nội soi kiểm tra tuyến tuỵ có thể gây một số biến chứng