1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Biện chứng và những nghiên cứu trị liệu bệnh phì đại lành tính tuyến tiền liệt bằng đông dược

36 571 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 36
Dung lượng 334,3 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mở đầu Phì đại lành tính tuyến tiền liệt (PĐLT/TTL) là một u lành tính xuất hiện ở nam giới khi tuổi bắt đầu cao. Bệnh có xu hướng tăng lên song song với tuổi thọ và trở thành u lành tính hay gặp nhất ở nam giới. Bệnh thường gây ra nhiều biến chứng từ nhẹ đến nặng như bí tiểu cấp tính, nhiễm trùng đường tiểu, tiểu máu, sỏi bàng quang, suy thận...[31]. Theo Patric Walsh [36], tỷ lệ đàn ông bị PĐLT/TTL tăng mỗi năm sau tuổi 40, 50% ở tuổi 51 - 60 và 90% ở độ tuổi 90. ở Mỹ theo Coffey 1989, số người mắc bệnh PĐLT/TTL ở tuổi 40 là 25%, ở tuổi 70 là 80% . ở Việt Nam, điều tra của Trần đức Thọ và cộng sự cho thấy có 111 người có PĐLT/TTL trong tổng số 196 nam giới từ 50 tuổi trở lên, chiếm tỷ lệ 59,18%. Bệnh tăng dần theo tuổi, tuổi mắc bệnh cao nhất từ 75 - 79 [25]. Để điều trị PĐLT/TTL có thể dùng nhiều phương pháp khác nhau như ngoại khoa (phẫu thuật mổ bóc u, cắt u qua nội soi, liệu pháp Laser...), hoặc dùng phương pháp nội khoa bằng thuốc hoá dược để điều trị bảo tồn. tuy nhiên cả hai phương pháp này thường có những tác dụng phụ và những tai biến không mong muốn kèm theo [34], [35]. Hiện nay, người ta đang tích cực tìm kiếm các thuốc có nguồn gốc thảo dược để điều trị PĐLT/TTL nhằm hạn chế các tác dụng phụ và tai biến nói trên. Một số tài liệu trong và ngoài nước về YHCT đi đề cập đến việc sử dụng thuốc Đông dược trong điều trị bệnh lý này với những kết quả khả quan. Việc tìm hiểu các nghiên cứu đi và đang được tiến hành trong và ngoài nước cũng như các phương pháp trị liệu bằng Đông dược trong điều trị PĐLT/TTL nhằm giúp chúng ta hiểu rõ hơn về bệnh lý này. Đây là cơ sở góp phần làm rõ nét thêm cho đề tài chúng tôi đang thực hiện:“ Đánh giá tác dụng của bài thuốc Tiền liệt thanh giải viên trong điều trị Phì đại lành tính tuyến tiền liệt”.

Trang 1

bộ giáo dục và đào tạo bộ y tế

trường đạI học y hà nội

BằNG ĐÔNG DƯợC

Phục vụ cho đề tài NCS "Đánh giá tác dụng của bài thuốc Tiền liệt thanh giải viên trong điều trị Phì đại lành tính tuyến tiền liệt"

Trang 2

CáC chữ viết tắt

PĐLT/TTL : Phì đại lành tính tuyến tiền liệt

Trang 3

II Nguyên nhân - cơ chế bệnh sinh PĐLT/TTL theo YHCT 8 2.1 Nguyên nhân gây bệnh PĐLT/TTL theo YHCT 8 2.2 Cơ chế sinh bệnh PĐLT/TTL theo YHCT 8 III Triệu chứng bệnh PĐLT/TTL theo YHCT 10 3.1 Phế mất sự điều tiết 10 3.2 Thấp nhiệt hạ chú 10 3.3 Trung khí hạ hGm 10 3.4 Thận âm bất túc 10 3.5 Thận dương bất túc 10 3.6 Hạ tiêu tích huyết 10

IV Điều trị PĐLT/TTL bằng YHCT 11 4.1 Điều trị bằng thuốc Đông y 11 4.2 Phương pháp bôi dán trị bên ngoài 12 4.3 Điều trị bằng liệu pháp đơn nghiệm phương 13 4.4 Điều trị bằng phương pháp châm cứu 13

V Những nghiên cứu về trị liệu bệnh PĐLT/TTL bằng Đông dược 14 5.1 Các nghiên cứu trong nước 14 5.2 Các nghiên cứu ở nước ngoài 18

Trang 4

KÕt luËn 28

Trang 5

TàI LIệU THAM KHảO

Tiếng việt

1 Nguyễn Thị Tú Anh, Trần Quán Anh, Nguyễn Nhược Kim (2003),

“Đánh giá tác dụng của bài thuốc thận khí hoàn gia giảm trong điều trị u PĐLT/TTL ”, Luận văn tốt nghiệp bác sĩ chuyên khoa cấp II,

Đại học Y Hà Nội

2 Nguyễn Văn Bằng, Nguyễn Hoàng, Vũ Đoan Trang (1997), “Bước

đầu nghiên cứu cây trinh nữ hoàng cung, một cây thuốc có khả năng chữa một số bệnh ung thư”, Tạp chí Dược học số 7/1997

3 Bộ môn y học cổ truyền - Đại học Y Hà Nội (2001), Nội kinh, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội , tr 163 -164

4 Bộ môn y học cổ truyền - Đại học Y Hà Nội (2001), Y học cổ truyền, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội , tr 36 -40-44-504

5 Bộ môn y học cổ truyền - Đại học Y Hà Nội (2001), Kim quỹ yếu lược, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội , tr 3 -343

6 Bộ môn y học cổ truyền - Đại học Y Hà Nội (2001), Chuyên đề Nội khoa Y học cổ truyền, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội , tr 173 -175

7 Bộ Y tế (1996), Kim quỹ yếu lược , Nhà xuất bản y học, Hà Nội , tr

Trang 6

14.Trần Xuân Dâng (2003), “ Nghiên cứu tình hình u tuyến tiền liệt và kết quả điều trị bằng thuốc y học cổ truyền tại một số địa phương Hà tĩnh ”, Luận văn Chuyên khoa cấp II, Đại học Y khoa Huế

15.Lê Huy Hảo, Đặng Tuấn Hưng (2003), Đông y trong trị bệnh nam giới, Nhà xuất bản Thanh hoá, tr 7 - 161

16.Nguyễn Xuân Hướng (1998), “Kết quả điều trị 158 bệnh nhân u xơ tiền liệt tuyến bằng thuốc dân tộc ” , Tạp chí Y học , tập 225, số 9 -10/1998, tr 100 –101

17.Nguyễn Xuân Hướng (2001), “Kết quả điều trị u xơ tiền liệt tuyến bằng nước sắc lá trinh nữ hoàng cung ” , Đề tài khoa học cấp bộ , tr

18 -20

18.Dương Văn Kết, Đỗ Trọng Khiết, Tô Thị Ngọc ( 1998), “Một số nhận xét thử nghiệm lâm sàng điều trị u PĐLT/TTL bằng Blastolysin- Hepaton-promolan ”, Tạp chí Y học, tập 225, số 9-10/1998., tr 68- 69

19.Bành Văn Khìu, Trần Lập Công (2001), “Nghiên cứu tác dụng thông tiểu tiện của bài thuốc ” Tỳ giải phân thanh gia giảm ” ở bệnh nhân u PĐLT/TTL ” , Tạp chí sinh lý học Tập 5, số 1/2001, 36 - 42

20.Trần Văn Kỳ (1997), “Chứng lâm”, Triệu chứng và điều trị học Đông

y, Nhà xuất bản Đồng tháp, tr 84- 87

21.Trần Văn Kỳ (2002), Đông Y ngoại khoa, Nhà xuất bản Y học chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh, tr 84- 87

22.Lê Lam (1999), “ Giới thiệu dơn thuốc kinh nghiệm chữa khó đái do

u xơ tiền liệt tuyến”, Tạp chí Y học cổ truyền Việt Nam, số 303/1999, tr 17 -18

23.Đỗ Tất Lợi (2000), Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội

24.Nguyễn Thiên Quyến (1994), Đông y Nội khoa và bệnh án, Nhà xuất bản mũi cà mau, tr 249-267

25.Trần Đức Thọ, Đỗ Văn Thức ( 1990), “Đặc điểm bệnh u xơ tiền liệt tuyến qua điều tra của viện bảo vệ sức khỏe người cao tuổi ở xW Chu Phan", Nội khoa, 5/1990, tr18-19

26.Lê Anh Thư (2004), “Đánh giá tác dụng của viên nang trinh nữ hoàng cung trong điều trị PĐLT/TTL ” , Luận văn thạc sĩ y học, Đại học Y Hà Nội

27.Tuệ Tĩnh ( 1993), Nam dược thần hiệu, Nhà xuất bản y học, tr

211-214

28.Lê Hữu Trác (1997), Hải thượng y tông tâm lĩnh,Tập IV, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, tr 134 - 138

Trang 7

29.Lê Hữu Trác (1997), Hải th−ợng y tông tâm lĩnh,Tập II, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, tr 33 - 35

30.Nguyễn Thị Ngọc Trâm ( 2003), “ Nghiên cứu tác dụng sinh học và bào chế viên nang cứng từ cao khô Alcaloid toàn phần của lá cây trinh nữ hoàng cung trong điều trị u xơ tiền liệt tuyến”, Báo cáo tổng kết đề tài khoa học cấp Bộ

31.Nguyễn Bửu Triều, Lê Ngọc Từ (2003), “ U phì đại lành tính tuyến tiền liệt”, Bệnh học ngoại khoa, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, tr 490 -

Campbell ’s Urology, Vol 2, section 6, chapter 39

36 Walsh Patrick C (1992), “Benign prostatic hyperplasia”,

Campbell ’s Urology, Volume 2, pp 1003 -1024

TIếNG TRUNG

37 曹玉森。李曰慶(1999年,第二期)

"前列腺炎栓治療非特异性慢性前列腺炎(濕熱夾瘀證)104例臨床與寔驗研究"

中醫雜誌(98-99 頁)

38 陳銘.等 (2000年,第三期)

"通列舒膠囊治療慢性前列腺炎濕熱兼瘀帶型86例療效觀察" 新中醫-中國自然科學核心期刊17頁

Trang 9

Theo Patric Walsh [36], tỷ lệ đàn ông bị PĐLT/TTL tăng mỗi năm sau tuổi 40, 50% ở tuổi 51 - 60 và 90% ở độ tuổi 90 ở Mỹ theo Coffey 1989, số người mắc bệnh PĐLT/TTL ở tuổi 40 là 25%, ở tuổi 70 là 80% ở Việt Nam,

điều tra của Trần đức Thọ và cộng sự cho thấy có 111 người có PĐLT/TTL trong tổng số 196 nam giới từ 50 tuổi trở lên, chiếm tỷ lệ 59,18% Bệnh tăng dần theo tuổi, tuổi mắc bệnh cao nhất từ 75 - 79 [25]

Để điều trị PĐLT/TTL có thể dùng nhiều phương pháp khác nhau như ngoại khoa (phẫu thuật mổ bóc u, cắt u qua nội soi, liệu pháp Laser ), hoặc dùng phương pháp nội khoa bằng thuốc hoá dược để điều trị bảo tồn tuy nhiên cả hai phương pháp này thường có những tác dụng phụ và những tai biến không mong muốn kèm theo [34], [35]

Hiện nay, người ta đang tích cực tìm kiếm các thuốc có nguồn gốc thảo dược để điều trị PĐLT/TTL nhằm hạn chế các tác dụng phụ và tai biến nói trên Một số tài liệu trong và ngoài nước về YHCT đi đề cập đến việc sử dụng thuốc

Đông dược trong điều trị bệnh lý này với những kết quả khả quan

Việc tìm hiểu các nghiên cứu đi và đang được tiến hành trong và ngoài nước cũng như các phương pháp trị liệu bằng Đông dược trong điều trị PĐLT/TTL nhằm giúp chúng ta hiểu rõ hơn về bệnh lý này Đây là cơ sở góp

phần làm rõ nét thêm cho đề tài chúng tôi đang thực hiện:“ Đánh giá tác dụng của bài thuốc Tiền liệt thanh giải viên trong điều trị Phì đại lành tính tuyến tiền liệt ”

Trang 10

I KHáI NIệM CHUNG Về BệNH phì đại lành tính tuyến tiền liệt THEO Y HọC Cổ TRUYềN

Trong Y học cổ truyền (YHCT) không có tên gọi bệnh lý phì đại lành tính tuyến tiền liệt (PĐLT/TTL) Các y văn xưa và nay đều gọi “Chứng lâm” là chỉ chung bệnh lý đường tiết niệu PĐLT/TTL được quy nạp thuộc phạm vi “Lâm chứng” , “Long bế”, “Di niệu” của y học cổ truyền Quá trình diễn biến bệnh khác nhau như tiểu tiện không thông suốt và phát triển bệnh từ từ gọi là “long”, trở ngại cấp tính gọi là “bế” Trường hợp nước tiểu tự chảy ra gọi là “di niệu”[4], [6]

1.1 Lâm chứng

1.1.1 Đại cương

Lâm chứng là bệnh có đi tiểu nhiều lần, mỗi lân đi tiểu có cảm giác đau, nước tiểu ít, khó ra, bụng dưới đau lan đến thắt lưng, nặng thì tiểu không được Kim quỹ yếu lược viết: bệnh lâm đi đái nước tiểu ra nhỏ giọt, bụng dưới căng

đau, đau lan đến rốn [7] Hải Thượng Lin Ông Lê Hữu Trác đi đề cập có năm chứng lâm là Nhiệt lâm, Lao lâm, Khí lâm, Huyết lâm và Thạch lâm [28] Trong mối liên hệ giữa YHHĐ và YHCT thì: khoa học cho rằng các chứng bệnh đường tiết niệu như nhiễm trùng đường tiết niệu, sỏi tiết niệu, đái ra dưỡng chấp của Y học hiện đại (YHHĐ) tương ứng với chứng lâm của YHCT [9], [20]

1.1.2 Phân loại:

Sách “Trung tàng kinh” chia làm 8 chứng lâm: linh, nhiệt, khí lâm, lao, cao, sa , hư, thực Sách “Chư bệnh nguyên hậu luận” chia 7 chứng: thạch, lao, huyết, khí, cao, hàn, nhiệt Sách “Ngoại đài bí yếu” chia 5 chứng: khí, huyết, cao, thạch, lao Nhưng xét trên thực tế lâm sàng thường chia thành 6 chứng đó là: khí lâm, huyết lâm, nhiệt, cao lâm, thạch lâm, lao lâm[6], [27]

Trang 11

Các chứng lâm đều có các triệu chứng: tiểu tiện đi luôn, ngắn ít, nhỏ giọt, tiểu đau, tiểu không hết, đau từ bụng lan đến thắt lưng Tuy nhiên mỗi

chứng lâm còn có các đặc điểm riêng:

- Nhiệt lâm (lậu nhiệt): tiểu tiện không ra được, có khi ra máu, đi tiểu

đau, nước tiểu nóng đỏ, đau vùng dưới rốn

- Lao lâm: người nhọc mệt hư tổn, đi tiểu nhỏ giọt, nước tiểu đi không hết, bụng dưới đau

- Khí lâm (lậu khí): khi đi tiểu bụng dưới đầy tức, đi tiểu thường nhỏ giọt

- Huyết lâm: đi tiểu ra máu kèm theo đau buốt

- Thạch lâm (lậu ké): đau vùng niệu quản, đi tiểu không được, đau lan

đến bụng dưới, đi tiểu ra sỏi (sỏi tiết niệu)

- Cao lâm: nước tiểu có cặn đục như nước vo gạo [6], [29]

1.1.3 Nguyên nhân:

Về nguyên nhân, Nội kinh cho là do Tỳ thấp uất nhiệt gây nên Kim quỹ yếu lược viết: “ Các bệnh lâm đều bởi nhiệt ở hạ tiêu” Chư bệnh nguyên hậu luận lại viết:” Các bệnh lâm đều do thận hư, bàng quang nhiệt gây nên” Các y gia đời sau cho là do nhiệt ở tâm đi xuống tiểu trường, khí hoá không đến được bàng quang, thận hư không thể chế ước được chỉ dịch (nước, mỡ) Tuệ Tĩnh cho

là do “ ham ăn đồ cao lương vị hậu, rượu nồng thịt nướng quá nhiều hoặc do lo nghĩ , sắc dục quá độ đến nỗi thuỷ hoả mất điều hoà, tâm thận không còn giao với nhau Vì vậy trong điều trị đi có các phép khác nhau như thông lợi cố sáp, thanh nhiệt, hoá kết thăng dương, hoạt lợi [9], [27]

Trên cơ sở phân biệt các chứng lâm khác nhau còn phân biệt hư thực Nói chung lúc đầu bệnh mới phát gấp là thực, vì bàng quang thấp nhiệt, khí trệ không thông lợi là chính; bệnh lâu ngày phần nhiều là hư, bệnh ở tỳ, thận Lấy tỳ hư, thận hư, khí âm đều hư là chính Cùng một bệnh lâm, vì chịu ảnh hưởng các

Trang 12

nhân tố khác nhau cho nên bệnh lý cũng không đơn thuần như nhau Như cùng một chứng khí lâm đi có chứng thực lại có chứng hư: chứng thực vì khí trệ không thông lợi, chứng hư vì khí hư hạ him Chứng huyết lâm vì thấp nhiệt dồn xuống, làm hại lạc mạch thuộc thực; vì âm hư hoả vượng, hư hoả đốt lạc mạch thuộc hư Chứng nhiệt lâm đi qua điều trị, có khi thấp nhiệt chưa hết lại xuất hiện triệu chứng thận âm bất túc hoặc khí âm đều tổn thương, đó là hư thực lẫn lộn; thực thì thanh lợi, hư thì bổ ích đó là nguyên tắc cơ bản chữa bệnh lâm Chứng thực thì bàng quang thấp nhiệt là chính, khi chữa bệnh nên thanh nhiệt lợi thấp, vì nhiệt hại huyết lạc nên lương huyết chỉ huyết, vì cát sỏi tụ lại nên thông lâm bài sỏi Nếu khí trệ không thông lợi nên lợi khí sơ đạo Chứng hư nếu tỳ hư

là chính, nên bổ hư ích thận [6]

Từ Linh Thai có nói: “ Phép chữa bệnh lâm có thông có tắc cần nên phân biệt; có ứ huyết đọng tắc bí niệu quản nên thông trước; không có ứ tích mà hư thoát ra nên bổ mạnh”

Chữa bệnh lâm ngày xưa có thuyết kiêng phát hin và phép bổ Sách Kim quỹ yếu lược viết: “ Người bị bệnh lâm không được phát hin” Chu Đan Khê nói:

“ Không nên dùng thuốc bổ khí, khí được bổ càng trướng, huyết được bổ càng sáp lại, nhiệt được bổ càng thịnh lên” Trong thực tế lâm sàng không phải tất cả

đều như vậy [5]

Bệnh lâm chứng thường có chứng phát sốt, sợ rét, đó không phải hoàn toàn do ngoại tà xâm phạm phần biểu mà là thấp nhiệt chưng bốc, tà khí với chính khí giao nhau mà sinh ra, vì vậy phát hin giải biểu là không đúng Chứng lâm phần nhiều thuộc bàng quang có nhiệt, âm dịch thường đi không đủ mà thuốc tân tán phát biểu dùng không đúng chẳng những không thoái được nhiệt,

mà trái lại còn hao dinh âm Tuy nhiên chứng lâm mà do ngoại cảm phát bệnh hoặc mới bị cảm ngoại tà, xuất hiện phát sốt, sợ rét, ngạt mũi, chảy nước mũi,

ho, đau họng thì vẫn có thể sử dụng thuốc tân lương giải biểu Chứng lâm mà kiêng uống thuốc bổ , là nói về chứng thực nhiệt; còn chứng tỳ hư, trung khí hạ him; thận hư , hạ nguyên bất cố thì nên kiện tỳ ích khí , bổ thận cố sáp [6]

Trang 13

1.2 Long bế

1.2.1 Đại cương

“Long bế” hay còn gọi là “lung bế” là chỉ về chứng bệnh mà tiểu tiện lượng ít, nhỏ giọt, thậm chí tiểu tiện bế tắc không thông

Trong đó tiểu không thông, nhỏ giọt, nước tiểu ít, bệnh diễn biến từ từ gọi là

“lung”; buồn đi tiểu mà không đi được, nhỏ giọt, không thông, thể bệnh cấp, đột ngột gọi là “bế” Tuy nhiên mặc dù có mức độ khác nhau song nếu tiểu khó ra

đều gọi là bí tiểu (long bế)

Sách Nội kinh cho rằng: “bệnh này là bệnh ở bàng quang, do khí hoá của bàng quang và tam tiêu không thông lợi mà sinh ra” Căn cứ vào sự hướng dẫn

đó mà người đời sau đi có nhiều phát huy về biện chứng và chữa bệnh [4]

Sách Chư bệnh nguyên hậu luận nói: “ Tiểu tiện không thông và tiểu tiện khó đi là vì thận với bàng quang có nhiệt, nhiệt khí thịnh làm cho tiểu tiện không thông và tiểu tiện khó đi”

Chu Đan Khê nói: “tiểu tiện không thông có nhiều nguyên nhân khác nhau: khí hư, huyết hư, đàm, phong bế, thực nhiệt; khí hư thì dùng Sâm, Kỳ, Thăng ma, trước uống thuốc rồi sau cho nôn hoặc trong khi uống thuốc cho nôn; huyết hư thì sử dụng Tứ vật thang uống thuốc rồi cho nôn hoặc Khung quy thang kết hợp cho nôn; đờm nhiều sử dụng Nhị trần thang uống thuốc trước rồi sau cho nôn mửa, nếu đàm khí bế tắc thì dùng Nhị trần thang gia Mộc hương, Hương phụ rồi móc họng cho nôn” Như vậy Chu Đan Khê đi dùng phép thổ ví như nước nhỏ trong bình, khiếu trên bít lại, khiếu dưới không thông được, khi mở khiếu trên ra thì khiếu dưới thông [6]

Trương Cảnh Nhạc quy nạp thành bốn phương diện: vì hoả tà kết tụ ở tiểu trường, bàng quang; đó là vì suối nước khô cạn mà khí môn nhiệt bế lại không thông; có khi vì nhiệt ở can thận hoặc vì bại tinh hoặc vì huyết hao trở tắc lại mà

đường nước không thông; có khi vì chân dương kiệt ở dưới, nguyên khí mất gốc, khí hư không hoá mà đọng lại; có khi vì can mạnh khí nghịch trở ngại đến bàng quang, khí nghịch mà đóng lại hoặc hoả ở bàng quang mà nhiệt bế không thông

Trang 14

thì có thể lợi đi; can thận có thực hỏa thì phải trừ hỏa là thủy tự thông; can mạnh khí nghịch ủng bế không thông thì phá khí, hành khí [6]

Trong YHHĐ chứng này thường do các bệnh gây ứ đọng nước tiểu hoặc vô niệu gây nên

Trên lâm sàng cần phân biệt chứng bí tiểu với chứng lâm:

- Chứng lâm có biểu hiện : đi tiểu luôn, tiểu ít, nhỏ giọt, đau buốt, lượng bài tiết ra bình thường

- Chứng long bế (bí tiểu) thì tiểu không đau buốt, lượng bài tiết ít hơn bình thường, nặng thì không đi tiểu được

Sách Y học tâm ngộ viết: “ chứng lâm với chứng lung bế có khác nhau; chứng lâm thì đi tiểu luôn, đau trong âm hành, chứng lung bế thì tiểu ra từng giọt, không thông” [6]

1.3 Di niệu

1.3.1 Đại cương

Di niệu là chứng tiểu tiện không tự khống chế được, nước tiểu tự bài tiết ra không chịu sự khống chế của ý thức con người Di niệu có chứng tự són ra trong lúc ngủ, có chứng đi tiểu luôn không nín được Chứng tự són hay gặp ở trẻ con, thường đái ra trong lúc ngủ mê, tỉnh dậy rồi mới biết cũng gọi là di niệu Chứng

đi tiểu luôn không nín được phần nhiều gặp ở người cao tuổi, không kể ban đêm hoặc ban ngày đều có thể có hiện tượng đi tiểu luôn, không nín được, cũng gọi

Trang 15

là tiểu tiện không cầm Bệnh có quan hệ trực tiếp với thận và bàng quang Thận chủ nhị tiện, bàng quang chủ việc chế ước Nếu thận khí hư hoặc bàng quang không chế ước dược thì sẽ gây nên bệnh [6], [9]

1.3.2 Nguyên nhân

Nguyên nhân chứng di niệu người xưa đều cho là vì hư Hư là chỉ về công năng có quan hệ với việc bài tiết nước tiểu bị giảm sút Tố vấn tuyên minh ngũ khí viết: “ Bàng quang không chế ước được thì thành chứng di niệu” ý muốn nói tiểu tiện không nhịn được là vì bàng quang không ước thúc được Mà bàng quang không ước thúc được là do công năng của phế, tỳ, thận bị suy giảm Thận chủ nhị tiện và có quan hệ biểu lý với bàng quang, thận hư sẽ không chế được thuỷ dịch, sinh ra tiểu tiện không nhịn được, đúng như sách Kim quỹ yếu lược đi viết trong chương Mạch chứng và cách chữa bệnh phong hàn tích tụ ở ngũ tạng, Kinh văn 166: “ Hạ tiêu kiệt thì ỉa đái không tự chủ được mà phế tỳ khí hư không chu nhiếp được cũng có thể ảnh hưởng đến sự bế tàng của bàng quang” [5], [6]

Vưu Tại Kinh nói: “ Tỳ phế khí hư, không ước thúc được thuỷ đạo mà sinh bệnh đái không nhịn được” Sách Kim quỹ cho là trên hư thì không chế được dưới, đó là nói rõ phế tỳ hoặc thận bị suy nhược đều có thể làm cho bàng quang

mất tác dụng đốc thúc mà sinh ra đái dầm hoặc đái không nhịn được [5], [6]

1 4 Quan hệ giữa PĐLT/TTL với lâm chứng, long bế và di niệu

Qua nghiên cứu các khái niệm về “lâm chứng”, “long bế” và “di niệu” của YHCT , rõ ràng bệnh lý PĐLT/TTL liên quan đến cả 3 khái niệm trên Tuy nhiên trên thực tế, khi bệnh còn chỉ định nội khoa thì liên quan đến “lâm chứng” nhiều hơn là “long bế” và “di niệu”

Trang 16

II NGUYÊN NHÂN - CƠ CHế SINH BệNH PĐLT/TTL THEO YHCT

Tuyến tiền liệt là một tuyến sinh sản lệ thuộc lớn nhất trong cơ quan sinh dục Nó là một thể tuyến phát triển ở ngoài niệu đạo của nam giới Sự phát triển

và trưởng thành của TTL có liên quan mật thiết với tinh hoàn Khi còn nhỏ, TTL rất bé, đến 16 tuổi tuyến này mới phát triển nhanh chóng cùng với sự phát triển của tinh hoàn Đến 24 tuổi TTL phát triển tới đỉnh cao và giữ ở trạng thái cân bằng đó cho đến khi cơ thể bị lio hoá thì bị khô, thu hẹp lại Nhưng với một số người TTL lại phát triển phì đại [15]

2.1 Nguyên nhân gây bệnh PĐLT/TTL theo YHCT : do các nguyên nhân sau:

2.2 Cơ chế sinh bệnh PĐLT/TTL theo YHCT

Trong hoạt động sinh lý, người khoẻ mạnh mà tiểu tiện thông lợi nhờ vào khí hoá của tam tiêu được bình thường Mà khí hoá của tam tiêu lại nhờ vào ba tạng phế, tỳ, thận mà duy trì Cho nên bệnh này ngoài quan hệ trực tiếp với thận ra, thường còn quan hệ với phế, tỳ, tam tiêu Phế chủ túc giáng, thông điều thuỷ

Trang 17

đạo; nhờ có công năng túc giáng của phế khí làm cho thuỷ dịch ở thượng tiêu thường xuyên chảy xuống bàng quang, từ đó mà giữ được sự thông lợi của tiểu tiện Nếu phế khí không túc giáng được, không thông lợi được dòng nước chảy xuống bàng quang thì sinh ra bí đái Tỳ chủ việc vận hoá, đồng thời với việc vận hoá tinh vi đồ ăn thức uống, tỳ còn đem thứ thuỷ dịch cần thiết cho thận để vận chuyển đến khắp mọi nơi trong toàn thân, đó là tác dụng chuyển hoá của tỳ Nếu

tỳ không chuyển hoá được, không thăng thanh giáng trọc được, cũng có thể sinh chứng bí đái Thận chủ về thuỷ dịch, chủ về nhị tiện, có tương quan biểu lý với bàng quang Thận chủ về thuỷ dịch là chỉ vào tác dụng hết sức quan trọng của thận đối với việc điều tiết giữ sự thăng bằng về thuỷ dịch trong cơ thể Sự phân

bố và bài tiết thủy dịch trong thân thể chủ yếu nhờ tác dụng khí hoá của thận Khí hoá của thận được bình thường thì công năng mở ra, đóng vào có chừng mực [6]

Mặc khác thuỷ dịch thông qua sự thu nạp của vị, sự chuyển hoá của tỳ, sự túc giáng của phế mà thấm xuống đến thận làm cho thứ thanh đi lên phế, phân

bố khắp toàn thân, thứ trọc thấm xuống bàng quang mà bài tiết ra ngoài, từ đó

mà duy trì sự vận hoá thuỷ dịch bình thường của cơ thể Nếu công năng khí hoá của thận bị thất thường, thì sự mở đóng tiền âm, hậu âm không thuận lợi mà gây

Vì có hoả để mà vào, sau đó có hoả để mà ra cho nên thứ vào thứ ra đều

do khí hoá, đó là ý nghĩa khí hoá của kinh bàng quang Nay hễ bệnh khí hư mà

đóng lại thì đó tức là chân dương kiệt ở dưới, bề của nguyên khí không có gốc, thuỷ hoả không giao nhau, âm dương ngăn cách, cho nên khí không hoá thuỷ, thuỷ bị đọng lại không vận hành Khí không hoá thuỷ làm cho bàng quang có khi khô kiệt Khí đi không hoá được mà muốn ép cho thông lợi thì làm sao được Trong âm đi không có dương mà lại dùng thuốc khổ hàn thì có nguy hại không

Trang 18

Vì thế ông nêu cách chữa khí hư mà bế thì cần phải làm cho được hoá, mà cần biện rõ hàn nhiệt của tạng phủ [6]

III TRIệU CHứNG BệNH PĐLT/TTL THEO YHCT

Bệnh PĐLT/TTL trong thời kỳ đầu của bệnh triệu chứng không rõ ràng nên khó có thể phát hiện bệnh Chỉ khi có rối loạn tiểu tiện thì mới phát hiện

được trên lâm sàng Theo YHCT có các thể lâm sàng sau:

3.1 Phế mất sự điều tiết

Ngoài triệu chứng khó tiểu tiện, tiểu tiện ít còn kèm theo các dấu hiệu như miệng, họng khô, ho hen, thở khó khăn

3.2 Thấp nhiệt hạ chú

Triệu chứng thường gặp là đi tiểu nhiều lần mặc dù rất khó khăn, nước tiểu có màu vàng và cảm thấy nóng Người bệnh đau bụng dưới, lưỡi hồng nhạt, mạch sác

3.3 Trung khí hạ hãm

Tiểu tiện không kiểm soát được, thường hay đái dầm về đêm, tinh thần mệt mỏi, sắc mặt kém tươi, lưỡi nhạt, mạch nhược vô lực

3.4 Thận âm bất túc

Tiểu tiện nhiều, cơ thể mệt mỏi, kèm theo choáng đầu hoa mắt, lưng gối

đau mỏi Người bệnh thường rơi vào trạng thái mất ngủ, khi ngủ hay mơ, lưỡi đỏ, họng khô, nước tiểu vàng nóng, mạch sác

3.5 Thận dương bất túc

Người bệnh không thể kiểm soát được việc đi tiểu tiện Nếu không sẽ bị bí

đái, tinh thần ủ rủ, lưng đau gối mỏi, sắc mặt trắng, sợ rét, lưỡi nhạt có tưa, mạch

trầm tế hoặc trì nhược

3.6 Hạ tiêu tích huyết

Tiểu tiện khó, âm môn, bụng dưới sưng đau Người bệnh có tiểu huyết hoặc huyết tinh, lưỡi bình thường hoặc có màu tía, mạch trầm huyền hoặc tế sác [15]

Ngày đăng: 11/03/2015, 10:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w