Triều Nguyễn với lịch sử dân tộc đã có nhiều công và tội, trong đó nỗi lên mạnh mẽ nhất là vấn đề bảo vệ nền độc lập của dân tộc trước họa ngoại xâm.Triều Nguyễn với lịch sử dân tộc đã có nhiều công và tội, trong đó nỗi lên mạnh mẽ nhất là vấn đề bảo vệ nền độc lập của dân tộc trước họa ngoại xâm.
Trang 1B NỘI DUNG
Chương 1 Những nguy cơ đe dọa nền độc lập dân tộc dưới triều Nguyễn (1802 – 1884) I.1 Nguy cơ từ phía các nước láng giềng: Trung Quốc và Xiêm
Nguy cơ ngoại xâm luôn là nguy cơ thường trực đối với Việt Nam vì nhữngđiều kiện thuận lợi từ vị trí địa lý là vùng giao thoa của các nền văn hóa, vănminh; là nơi chiếm giữ một vai trò quan trọng trên con đường mậu dịch và hànghải quốc tế,… bên cạnh sự phong phú về tài nguyên và “dễ chịu” về khí hậu.Việt Nam tồn tại bên cạnh một đế quốc Trung Hoa khổng lồ với tham vọngbành trướng và đồng hóa mang tính cố hữu vô cùng to lớn Nguy cơ bị xâm lượcluôn thường trực với các chính quyền và nhân dân Việt Nam trong suốt tiến trìnhphát triển của lịch sử dân tộc Đất nước càng bị chia rẽ thì nguy cơ mất nước cànglớn thêm
Trong tiến trình xây dựng và phát triển đất nước của mình, nhân dân Việt Namphải liên tục chống đở các cuộc chiến tranh xâm lược của các triều đại phong kiếnphương Bắc Mà gần đây nhất (so với triều Nguyễn) là cuộc kháng chiến chốngquân xâm lược Mãn Thanh Cuối năm 1788, nhà Thanh bên Trung Hoa, đem 29vạn quân xâm lược nước ta theo sự cầu viện của vua Lê Chiêu Thống Như đã nói,nguy cơ xâm lược nước ta từ phía Trung Hoa luôn là nguy cơ thường trực và đãnhiều lần biến thành hiện thực Nhân dân ta sẵn sàng kháng chiến đè bẹp ý chíxâm lược của quân thù Lần này, đạo quân xâm lược cũng thất bại cay đắng trước
sự lãnh đạo kháng chiến của anh hùng Nguyễn Huệ
Ngoài đối thủ truyền thống luôn lăm le thôn tính ở biên giới phía Bắc, từ thế kỷXVI, Việt Nam còn đối mặt với một đối thủ mới ở phía Tây Nam Trong quá trìnhkhai phá và xác lập chủ quyền trên vùng đất Nam bộ, các chúa Nguyễn gặp phải
sự đối kháng của Xiêm, một nước láng giềng luôn tìm cách ràng buộc sự bảo hộđối với Chân Lạp
Đến giữa thế kỷ XIV, Xiêm bắt đầu mạnh lên với sự thành lập của vương triềuAyuthaya Ước vọng bành trướng của vương quốc này khá lớn, thường xuyên gây
Trang 2chiến tranh với Chân Lạp Sang thế kỷ XVI, và nhất là từ thế kỷ XVII, do sự canthiệp của Xiêm, triều đình Chân Lạp bị chia rẽ sâu sắc Sau khi các chúa Nguyễntích hợp phần đất “Thủy Chân Lạp” vào lãnh thổ của mình thì những mâu thuẫngiữa các chúa Nguyễn và Xiêm dần dần phát sinh, Chân Lạp thường là nơi diễn ranhững tranh chấp của cả hai bên Năm 1715, Nặc Thâm (vua thân Xiêm của ChânLạp) đem quân Xiêm về đánh Hà Tiên Mạc Cửu không chống nổi, phải bỏ chạy,nhưng sau đó quân Xiêm rút lui, Mạc Cửu trở lại Hà Tiên1 Đến đây, nguy cơ về
sự xâm lược của Xiêm hiện ra rất rõ Sau đó tại vùng Hà Tiên còn có những xungđột với phía Xiêm, cũng như trong việc xác lập vai trò bảo hộ đối với Chân Lạp,Đàng Trong của các chúa Nguyễn cũng gặp sự phản ứng mạnh mẽ của Xiêm,nhưng nhìn chung những biểu hiện bên ngoài trong mối quan hệ Xiêm – Nguyễnvẫn là tốt đẹp, hai bên có trao đổi thư từ qua lại Mặc dù vậy, mưu đồ bành trướngcủa người Thái ở vùng bán đảo Đông Dương là không hề thay đổi
Khi Tây Sơn làm chủ Gia Định, với danh nghĩa trợ giúp cho Nguyễn Ánhtrung hưng dòng họ mình, quân Xiêm có được một cơ hội bành trướng thế lựcsang đất Chân Lạp và vùng cực Nam nước ta Sau khi chiếm được một phần Gia
Định, quân Xiêm kêu căng “giết hại nhân dân và cướp bóc vàng bạc, của cải
không biết bao nhiêu mà kể” Bọn tướng giặc còn “dung túng quân Xiêm cướp bóc
và giết chóc nhân dân”2 Sự bành trướng và xâm lược của Xiêm không còn là mộtnguy cơ nữa mà là một sự thật Và đạo quân xâm lược này đã bị quân Tây Sơnđánh bại
Sau đó, vua Xiêm còn nhiều lần có nhã ý đem quân qua giúp Nguyễn Ánh khôiphục quyền lực của mình Dưới triều Nguyễn, quan hệ Việt – Xiêm diễn ra rấtphức tạp, có lúc xãy ra đụng độ quân sự giữa quân đội hai nước Sự tranh giànhảnh hưởng của Xiêm với triều Nguyễn ở Cao Miên, Ai Lao cho thấy nguy cơ đốivới nền độc lập dân tộc từ phía Xiêm không phải là nhỏ Bên cạnh đó, sự hiện diện
1 Phan Khoang (2001) Việt sử xứ Đàng Trong Nxb Văn Học Hà Nội, trang 407.
2 Vũ Thế Dinh Mạc thị gia phả Dẫn theo Phan Huy Lê, Bùi Đăng Dũng, Phan Đại Doãn, Phạm Thị Tâm, Trần Bá Chí (1976) Một số trận quyết chiến chiến lược trong lịch sử dân tộc Nxb Quân đội nhân dân Hà Nội, trang 318.
Trang 3của quân đội Xiêm ở Cao Miên, Ai Lao còn làm cho họ dễ dàng tiếp cận với biêngiới nước ta hơn.
Nhưng nhìn chung, với các nước láng giềng, triều Nguyễn đã thực hiện chínhsách ngoại giao mềm dẽo, khôn khéo nên nguy cơ bị xâm lược dần được hóa giải.Trong khi đó vào thời kỳ này, một nguy cơ ngoại xâm mới và nguy hiểm hơnnhiều là đến từ các nước phương Tây
I.2 Nguy cơ từ phía các nước phương Tây
Đến thế kỷ XIX, nguy cơ về sự xâm thực của chủ nghĩa tư bản phương Tây đãthể hiện rõ ràng hơn bao giờ hết Đây là một nguy cơ ngoại xâm mới trong lịch sửdân tộc cho đến lúc này Chủ nghĩa thực dân là sự bành trướng thế lực của cáccường quốc tư bản chủ nghĩa ở phương Tây ra các khu vực còn lại của thế giớithông qua chinh phục, thống trị và khai thác/khai hóa các thuộc địa1 Sự xuất hiệncủa chủ nghĩa thực dân trên thế giới là khá sớm, nó lần theo bước chân của cácnhà thám hiểm trong các cuộc phát kiến địa lý Vào năm 1510, chỉ 12 năm sau khiVasco da Gammar tìm ra con đường sang Ấn Độ thì đoàn chiến thuyền của BồĐào Nha đã đánh chiếm Goa2, lập ra một cứ điểm buôn bán đầu tiên của Bồ ĐàoNha ở Viễn Đông, năm sau họ lại chiếm Malacca, độc chiếm con đường buôn bántrên eo biển quan trọng này Tây Ban Nha cũng theo sát bước chân các nhà thámhiểm mà bành trướng thế lực với sự tấn công của Magellan vào các tộc người cưtrú ở Philippines để hòng khẳng định “chủ quyền” ở đây3 Kể từ đó, các quốc gia
tư bản khác như Hà Lan, Anh, Pháp dần mở rộng sự bành trướng của mình sangcác nước phương Đông, trong đó có Việt Nam
Lúc các nước phương Tây sang giao thương và truyền đạo, Việt Nam đang ởtrong tình trạng phân liệt, nhưng hai chính quyền Đàng Trong và Đàng Ngoài sẵnsàng thực hiện cuộc giao tiếp Sau một thời gian tiếp xúc thương mại và tôn giáo
1 Phạm Hồng Tung (2008) Văn hóa chính trị và lịch sử dưới góc nhìn văn hóa chính trị Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội, trang 179.
2 Goa là một thành phố nhỏ ven bờ biển Tây Ấn Độ, cách Bonbay khoảng 250 km.
3 Phạm Hồng Tung (2008) Văn hóa chính trị và lịch sử dưới góc nhìn văn hóa chính trị, sđd, trang 187.
Trang 4tương đối ôn hòa, năm 1702, công ty Đông Ấn Anh trắng trợn chiếm đảo CônLôn, nơi có vị trí chiến lược trên đường hàng hải quốc tế, nhưng chúa Nguyễn đãchiếm lại được Năm 1737, toàn quyền Pháp ở Pondichéry1 đã trình lên vua LouisXIV một dự án kế hoạch xâm nhập vào Đàng Ngoài Phái viên của công ty Đông
Ấn cũng có báo cáo đề nghị Pháp chiếm Cù lao Chàm ở vùng biển Hội An Vàogiữa thế kỷ XVIII, một thương nhân kiêm giáo sĩ Pierre Poivre cũng đã được triềuđình cử sang khảo sát ở Đàng Trong Những sự kiện đó cho thấy, nguy cơ từ sựxâm nhập của chủ nghĩa thực dân phương Tây vào Việt Nam đã xuất hiện từ thế
kỷ XVIII và, đến đầu thế kỷ XIX, nguy cơ này bộc lộ rõ hoàn toàn
Trong cuộc trung hưng của mình, Nguyễn Ánh đã dựa vào thế lực phương Tây,chủ yếu là người Pháp, trong đó người có “công” với Nguyễn Ánh hơn cả là giámmục Bá Đa Lộc (Pigneau de Béhain) Sau khi lên ngôi, vua Gia Long đã “trả ơn”bằng cách sử dụng những người Pháp góp vào thành công của ông trong bộ máyhành chính Những quan lại người Pháp này vẫn không quên “nước Mẹ” mà rắptâm tìm cơ hội phục vụ quyền lợi Nhưng tình trạng chiến tranh của Pháp trongthời gian này không cho phép họ có những hành động trực tiếp Mặc dù vậy, ngày25.11.1801, nguyên toàn quyền Pondichéry là Charpentier de Cossigny đã gửi báocáo về nước đề nghị chính phủ Pháp cử gấp sứ thần và tàu chiến sang Việt Nam để
ký với Gia Long một hiệp ước “Liên minh hữu nghị và thương mại”, nhưng sự bậnrộn ở trong nước nên ý tưởng đó không thực hiện được
Sự chú ý của Pháp đối với Việt Nam ngày một quan trọng Sau khi lên ngôi(1804), Napoléon Bonaparte cũng cho rằng, cần có một căn cứ ở Nam Trung Hoa
để tạo thuận lợi trong cuộc cạnh tranh với người Anh Những người Pháp càng đổdồn sự chú ý vào Việt Nam qua rất nhiều đề nghị liên tục được gửi lên triều đìnhyêu cầu nối lại quan hệ với Việt Nam trong khoảng thời gian từ 1815 đến 1817.Năm 1822, bị người Anh gạt ra khỏi Ấn Độ, Pháp lại càng quan tâm hơn đến ViệtNam Trước sự nhòm ngó và các hoạt động chuẩn bị của người Pháp, triều đìnhHuế ngày càng tức giận trước các hoạt động của giáo sĩ nên đã đề ra chính sách
1 Podichéry là lãnh thổ của Ấn Độ bị Pháp chiếm.
Trang 5cấm đạo Điều đó càng làm cho Pháp có thêm cái cớ để can thiệp Việt Nam Hàngloạt các tàu chiến đã được cử đến Việt Nam vào các năm 1843, 1845, 1847 Vàđến năm 1858, cuộc chiến đã thực sự nổ ra Sự xâm nhập của chủ nghĩa thực dânkhông còn là một nguy cơ nữa mà đã trở thành một hiện thực lịch sử cụ thể.
Trang 6Chương 2 Thái độ của nhà Nguyễn với
vấn đề độc lập dân tộc 2.1.Thái độ của triều/nhà Nguyễn với vấn đề độc lập dân tộc (1802 – 1858) 2.1.1.Vấn đề độc lập dân tộc trong việc khẳng định chủ quyền quốc gia
Vấn đề chủ quyền quốc gia có một ý nghĩa rất quan trọng đến sự tồn tại và pháttriển của một đất nước có chủ quyền và nền độc lập dân tộc Có chủ quyền thì mới
có cơ sở pháp lý ổn định chính quyền cũng như đời sống của nhân dân, có cơ sở
để phát huy nguồn lực của dân tộc
Trải qua các triều đại, cương thổ đất nước không ngừng được mở rộng hơn Docùng tồn tại và phát triển với nhiều chủ thể khác nhau trong khu vực, do đó việcxâm phạm lãnh thổ của nhau là điều dễ thường thấy thời cổ trung lịch sử Việc xáclập và bảo vệ chủ quyền luôn là nhiệm vụ song hành cùng tồn tại để khẳng địnhsức mạnh và uy quyền của một đất nước Một hành động rất quan trọng trong việcxác lập chủ quyền, đó là sự thừa nhận của các bên liên quan đến vùng lãnh thổ đóthuộc chủ quyền của ai thông qua các văn bản pháp lí mang tính quốc tế
Lịch sử dân tộc Việt Nam là những trang sử về những cuộc đấu tranh hàohùng, cùng đó là những chiến công về việc mở mang lãnh thổ Ngay từ đầu, ôngcha ta đã quan tâm đến việc mở rộng và bảo vệ đất đai để lại cho con cháu saunày Thừa hưởng những thành quả của các triều đại đi trước, nhà Nguyễn đã làm
và đang làm tất cả để có thể mở rộng và bảo vệ cương thổ Trong đó, việc khẳngđịnh chủ quyền ở các hải đảo xa đất liền đóng một vai trò rất quan trọng trongchính sách đối nội và đối ngoại của nhà Nguyễn Duy trì sự khai thác của mình ởhai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, hằng năm triều đình thường ban các chiếudụ các địa phương gần biển chiêu mộ người để ra các đảo Theo tài liệu mới đượccông bố, tờ chiếu lệnh của Minh Mệnh ra vào ngày 15 – 4 – 1835 về phái một độithuyền gồm 3 chiếc với 24 lính thủy ra canh giữ đảo Hoàng Sa
Ngay từ khi các chúa Nguyễn đã có ý thức trong việc xác lập chủ quyền trênbiển đảo, năm 1631 đội Hoàng Sa là đơn vị chính thức do chính quyền chúa
Trang 7Nguyễn lập ra làm nhiệm vụ khai thác các quyền lợi trên quần đảo Hoàng Sa vàTrườnng Sa, đội này tiếp tục luôn được duy trì Trước thế kỉ XVII, khi hai quầnđảo này nằm trong vùng biển của vương quốc Chăm Pa Khi vào trấn thủ ThuậnQuảng các chúa Nguyễn đã thiết lập quyền kiểm soát, khai thác các quyền lợi trênhai quần đảo này Nhà Nguyễn vẫn tiếp tục duy trị các đội Hoàng Sa, Bắc Hải vàhàng năm ra khai thác, quản lý các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa Mỗi năm 8tháng để khai thác các nguồn lợi: đánh cá, thâu lượm những tài nguyên của đảo vànhững hoá vật do lấy được từ những tàu đắm Đến khi gió nồm bắt đầu thổi, tức làmùa bão biển tới, họ mới trở về đất liền bốn tháng và đến tháng Giêng lại trở ra.Năm 1686: (năm Chính Hoà thứ 7), Đỗ Bá Công biên soạn Thiên Nam Tứ chí
Lộ Đồ Thư trong Hồng Đức Bản Đồ hay Toản Tập An Nam Lộ trong sách Thiên
Hạ Bản Đồ Tấm bản đồ trong Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ được vẽ theo bút pháp
đương thời với lời chú rất rõ ràng: “Giữa biển có một dải cát dài gọi là Bãi Cát
Vàng (Hoàng Sa) dài tới 400 dặm… Họ Nguyễn mỗi năm vào cuối mùa Đông đưa
18 chiếc thuyền đến đấy lấy hàng hoá, được phần nhiều là vàng bạc, tiền tệ, súng đạn…”, còn bản đồ vẽ trong Toản Tập An Nam Lộ thì ghi chú rất rõ địa danh Bãi
Cát Vàng trên biển khơi phía trước của những địa danh trên đất liền như các cửabiển Đại Chiêm, Sa Kỳ, Mỹ Á, phủ Quảng Nghĩa và các huyện Bình Sơn, Chương
Nghĩa, Mộ Hoa
Các hoàng đế triều Nguyễn cũng rất quan tâm đến việc củng cố chủ quyền ViệtNam trên hai quần đảo này Các hoàng đế Gia Long, Minh Mạng liên tiếp pháithủy quân ra Hoàng Sa - Trường Sa khảo sát, đo đạc, vẽ bản đồ, lập miếu, dựngbia Theo Đại Nam Thực Lục Chính Biên, trong 3 năm: 1833, 1835, 1836 vuaMinh Mạng liên tiếp có chỉ thị về Hoàng Sa
Không chỉ chăm lo khai thác hai quần đảo, nhà vua Việt Nam còn lo bảo đảm
an toàn cho tàu thuyền Việt Nam và các nước qua lại vùng biển xung quanh hai
quần đảo Năm 1833 vua Minh Mạng đã chỉ thị cho Bộ Công rằng: “Trong hải
phận Quảng Nghĩa, có một dải Hoàng Sa, xa trông trời nước một mầu; không phân biệt được nông hay sâu Gần đây thuyền buôn thường bị nạn Nay nên dự bị
Trang 8thuyền mành, đến sang năm phái người tới đó trồng nhiều cây cối Ngày sau cây cối xanh tốt, người dễ nhận biết, có thể tránh được nạn mắc cạn”,(Đại nam thực
lục chính biên kỷ thứ hai, quyển 104)
Khi các chúa Nguyễn kết thúc công cuộc Nam tiến, miền đất Nam bộ vẫn đangcòn hoang vu và ít dân Đến thời nhà Nguyễn khi tình hình kinh tế, xã hội pháttriển mạnh mẽ và để quản lý chặt chẽ lãnh thổ, triều Nguyễn đã lập địa bạ trêntoàn lục tỉnh Nam kỳ (1836) thiết lập củng cố tổ chức hành chính hoàn chỉnh bộmáy quản lý xã hội từ thôn xã đến tổng, huyện, phủ, tỉnh Qua đó, để giúp đỡ nhândân làm nông nhà Nguyễn đã rất chú trọng đến công tác thủy lợi Năm 1817, chođào Kênh Vĩnh Tế và tiếp theo đó là các kênh Thoại Hà,…được đào
Về mặt quân sự vào nửa đầu thế kỷ XIX, khi quan hệ khu vực có nhiều biếnđộng, nhà Nguyễn đã thi hành chính sách cương quyết bảo vệ biên giới Tây –Nam, cho xây dựng hệ thống thành và bảo trấn giữ dọc theo biên giới để bảo vệlãnh thổ Lực lượng quân đội được củng cố và tăng cường từ trung ương đến địaphương
Ở phía Bắc, nhà Nguyễn cũng đã có những biện pháp khẳng định và bảo vệchủ quyền nước ta Trong những năm đầu của triều đại mình, vua Gia Long rấtchú ý đến vùng biên gới phía Bắc, giáp với Trung Hoa, vì đây là vùng đất mở đểbọn chống đối chính quyền hoặc trộm cướp của nhà Thanh tràn sang trú ẩn Sangthời Minh Mạng, các mối quan hệ bang giao của hai nước vẫn phát triển tốt đẹp.Tình hình biên gới khá ổn định Mãi đến năm 1830, một đội quân hơn 600 ngườicủa Trung Hoa sang vùng đòi vùng Phong Thu ( Hưng Hóa) cho họ Vua MinhMạng đã nhanh chóng sử dụng con đường ngoại giao mềm dẻo, đồng thời cho lựclượng quân sự tới Hưng Hóa để trấn giữ Sau nhiều lần khảng định và vận dụng lý
lẽ triều Thanh đã chủ động đề nghị với minh mạng thỏa thuận bằng phương pháphòa bình Những năm sau đó những cuộc phá nhiễu và sự xâm phạm trái phép ởvùng biên giới đất liền hoặc hải phận Việt Nam, vua Minh Mạng đều theo cáchcảu vua gia long: dẫn đi bọn phạm pháp ấy về nước Trung Hoa để họ tự giảiquyết Quan hệ Việt Nam với Trung Hoa nửa đầu thế kỷ XIX khá tốt đẹp
Trang 9Nhà nguyễn cũng có những biện pháp bảo vệ vùng biển đảo ngoài Bắc NhàNguyễn đã cho các đội quân lính đến trấn giữ bảo vệ Tỉnh Quảng Yên (QuảngNinh ngày nay), vùng ven biển có địa hình cực kỳ phức tạp, hiểm trở với hàngtrăm đảo lớn nhỏ Theo thống kê, ở đây có 24 cửa biển, kể cả đường đi giữa cácđảo và cửa sông ven bờ đã được tổ chức 7 đồn lớn trấn giữ Ngoài ra, thổ mục cáclàng trên đảo và ven biển còn tổ chức dân binh canh gác, một số cửa có sở tuần tykiểm soát tàu thuyền, thu thuế Tỉnh Hải Dương có 7 cửa biển từ cửa Ngải Namđến cửa Nam Triệu có 4 cửa đặt đồn trấn thủ, còn lại giao cho chánh tổng cắt cửdân binh canh giữ Tỉnh Nam Định có 7 cửa biển được đặt trấn thủ và quân thủy
bộ trên 5 cửa biển Hai cửa Lân và Lạn giao cho dân binh sở tại canh giữ TỉnhNinh Bình có 2 cửa: Cửa Liêu và Cửa Đáy chỉ do dân binh canh giữ
Đến giữa thế kỷ XIX, toàn bộ biển đảo nước ta được đặt tên và dưới sự quản lýcủa 75 huyện, 2 châu thuộc 32 phủ của 18 tỉnh, 3 đạo và 1 phủ (Thừa Thiên) Tạivùng biển miền Trung từ Thanh Hóa đến Bình Thuận các hải đảo đều giao cho cácđịa phương ven biển quản lý Đời Gia Long nhà Nguyễn giao quần đảo Hoàng Sacho huyện Bình Sơn (Quảng Ngãi) quản lý Tại vùng biển phía Nam năm MinhMệnh thứ 20 (1839), Côn Lôn do tỉnh Vĩnh Long cai quản Tỉnh Hà Tiên cai quảncác đảo ở vùng biển Tây Nam như đảo Hòn Khoai, đảo Phú Quốc, đảo Thổ Châu(hòn Châu Dầu hay Thổ Chu)
Ngoài việc khẳng định chủ quyền, tổ chức lực lượng và biện pháp quản lý, bảo
vệ vùng biển đảo, nhà Nguyễn còn chú trọng xây dựng những quy định luật pháp,
tổ chức nhân dân khai thác tài nguyên thường xuyên hiệu quả, thực hiện chínhsách ngoại giao và xử lý người nước ngoài vi phạm chủ quyền biển, đảo mềm dẻo,linh hoạt, kiên quyết Điều đó đã chứng tỏ nhà Nguyễn đã có nhiều thành côngtrong công cuộc bảo vệ biển đảo và các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa của đấtnước ta
Như vậy, đến năm 1858, việc xác lập chủ quyền của nhà Nguyễn cơ bản đãhoàn chỉnh và đạt được những hiệu quả đáng kể ngày càng củng cố cho nền độclập dân tộc
Trang 102.1.2.Vấn đề độc lập dân tộc trong hoạt động ngoại giao
Vào đầu thế kỉ XIX, Việt Nam không có nhiều mối quan hệ rộng rãi vớiphương Tây Dưới triều Gia Long, để đề phòng sự bành trướng của “Tây Dương”,Việt Nam hạn chế tối đa những cuộc tiếp xúc ngoại giao với Pháp nhưng do nhữngràng buộc cá nhân mà vua Việt Nam, đặc biệt là Gia Long phải có những chínhsách ngoại giao mềm dẻo, Gia Long vô cùng thận trọng trong giao tiếp Ông linhhoạt, mềm mỏng trong mọi tiếp xúc, nhưng nguyên tắc cương quyết, cứng rắn từchối mọi yêu cầu phi lý của Pháp Đường lối trị nước của ông hoàn toàn độc lập,không hề bị chi phối và ảnh hưởng bởi người phương Tây tại triều Để bảo vệ nềnđộc lập ông đối đãi ôn hòa, tử tế và kiềm chế với ngưới Pháp từ nhà buôn, giáo sĩhay người đại diện cho vua Pháp đến Việt Nam Triều Gia Long giao thiệp bìnhthường với Pháp nhưng tránh những kí kết chính thức với các nước mà theo ông từnhững kí kết đó có thể gây hại cho an ninh quốc gia
Đến thời vua Minh Mạng bước đầu ông cũng vẫn đi theo đường lối đối ngoạivới Pháp mà Gia Long đã hoạch định để bảo vệ nền độc lập, sau khi lên ngôi ôngvẫn đối xử nhã nhặn, hòa hoãn với người Pháp Sau sự kiện Lê Văn Khôi khởibinh dấy loạn và chiếm cả 6 tỉnh miền Nam vào năm 1833 Triều Nguyễn phải tậptrung sức lực dẹp suốt 2 năm trời mới yên Vụ biến Lê Văn Khôi đã đặt vấn đềngoại xâm một cách cụ thể cho triều Nguyễn suy ngẫm Chúng ta biết Lê VănKhôi đã cầu cứu Xiêm La và trong cuộc nổi loạn đó có sự tham gia của một sốgiáo sĩ người Pháp Có nhiều nguyên nhân để Minh Mạng tăng cường đường lốiđối ngoại biệt lập với Pháp nhưng nguyên nhân chủ yếu vẫn là độc lập, an ninhquốc gia có nguy cơ bị xâm phạm
Nhưng năm 1839, những loạt đại bác của thực dân Anh đã mở đầu cho việccan thiệp quân sự vào Trung Hoa Với sự kiện này “Minh Mạng đã được đánhthức”, nhà vua ý thức được nguy cơ trước mắt đang đe dọa độc lập tự chủ của đấtnước, lý do sâu xa khiến ông quyết định điều chỉnh đường ngoại giao cổ truyền tựthủ, thụ động sang đường lối ngoại giao cởi mở “hợp tác” với phương Tây trong
Trang 11những năm tháng cuối đời mình Vì lý do an ninh nên dù không ngăn cấm hoạtđộng buôn bán với phương Tây nhưng triều đình Huế chỉ cho mở cửa Đà Nẵng đểthuyền buôn phương Tây đến buôn bán Như vậy, Minh Mạng đối với các nướcphương Tây không hoàn toàn bế quan tỏa cảng mà có mở cửa nhưng rất hạn chế,cho mở một cửa để dễ kiểm soát Giai đoạn 1838 – 1840 được coi là thời kì hợptác của vua Minh Mạng.
Chính sách đối ngoại với phương Tây đặc biệt là với Pháp thời Thiệu Trịkhông có gì thay đổi so với thời Minh Mạng Năm 1844, trong cuộc thương thuyếttại Đà Nẵng, Pháp thấy thuyền buồm của Việt Nam tới gần, chúng liền tấn công
mà không một lời báo trước Do sự khiêu khích này của Pháp mà quan hệ ViệtNam với Pháp trở nên căng thẳng Vua Thiệu trị đã bàn với triều thần việc chiếntranh Trước đó, Thiệu Trị đã thực hiện chính sách hòa dịu với Pháp, điều đó gâynên một sự lạc quan trong nước, các giáo sĩ và giám mục cũng tin là “sắp đến ngàyhòa bình rồi” Nhưng Pháp đã phá hoại không khí hòa bình đó, gây nỗi bất bìnhtrong triều thần nhà Nguyễn Trước sự gây hấn của Pháp Thiệu Trị giận giữ và bandụ “cấm đạo” trở lại Ngày 15-4-1847, hạm đội Pháp đã nổ súng tấn công vàoquân đội nhà Nguyễn Sau sự khiêu khích trắng trợn này, vua Thiệu Trị rất tứcgiận, thay đổi thái độ trong quan hệ với Pháp, không cho thuyền của Pháp bỏ neoở các cửa biển Trong lúc tình hình đang căng thẳng thì Thiệu Trị qua đời Và TựĐức lên ngôi Chính sách không quan hệ với phương Tây vẫn được Tự Đức tiếptục thực hiện Khi Pháp đang phát động chiến tranh xâm lược nước ta thì vua TựĐức lại có những hành động chống đạo, cấm đạo và để mở màn cho cuộc xâmlược nước ta ngày 31-8-1858 quân Pháp nổ súng tấn công bán đảo Sơn Trà, và từđây chấm dứt thời kì ngoại giao hòa bình giữa Việt Nam và Pháp
Còn riêng về ngoại giao với Anh thì Chaigneau và Vannier đã nói với vua GiaLong rằng “người Anh vẫn thường bắt đầu những biện pháp tương tự ở nhữngnước khác, để từ đó họ tiến dần đến việc làm chủ nước ngưới ta và quay ra áp chếngay chính những ông vua đã từng đón tiếp họ nồng nhiệt” Để đề phòng trước
Trang 12nạn bị xâm lược nên Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức ít có quan hệvới nước Anh
Rốt cuộc lại, vấn đề độc lập dân tộc trong hoạt động đối ngoại của triềuNguyễn gặp phải hạn chế là đã không tìm ra phương sách đúng để đối phó với
“hoạ Tây dương”, mà phương Tây không phải là điều hoàn toàn mới mẻ đối vớicác vua Nguyễn Gia Long là người tiếp xúc nhiều với phương Tây và đặc biệt làPháp, vì hiểu họ nên ông sợ bị xâm lược Cũng chính vì thế tư tưởng ngoại giao
“không phương Tây” được thực hiện rất nhất quán từ Gia Long đến Tự Đức Vịvua khai sáng ra triều Nguyễn đã từ chối mối quan hệ chính thức với các nướcphương Tây vì lo ngại ảnh hưởng và sự xâm lăng của các nước phương Tây MinhMạng, Thiệu Trị, Tự Đức đã tiếp tục đường lối ngoại giao đó Có thể nói, từ việcNguyễn Ánh có thái độ “trả ơn” cho người Pháp, đến thái độ lúng túng trong ngoạigiao dẫn đến sai lầm trong hành động, sự sai lầm đó dẫn đến hậu quả to lớn chođất nước, Việt Nam từ một nước độc lập, có chủ quyền trở thành thuộc địa củaPháp trong nửa sau thế kỉ XIX
Đối với nhà Thanh, các vua Nguyễn trước sau vẫn giữ thái độ “thần phục”, vốn
là đường lối đối ngoại truyền thống với Trung Quốc, của các triều đại phong kiếntrước: nhận sắc phong, thực hiện nghĩa vụ triều cống…
Chúng ta đã thấy các vua nhà Nguyễn chấp nhận triều cống cho nhà Thanh vìcác lí do chính trị, kinh tế, văn hóa, v.v…Dù là lí do gì thì trong trường hợp này,những người đứng đầu nhà nước phải xưng là hạ thần đối với vua nhà Thanh Tuynhiên, đó chỉ là hình thức bên ngoài, còn thực chất họ nghĩ rằng mình bình đẳngvới nhà Thanh Tất cả các vị vua và quan lại trước đây đều nghĩ rằng mình bìnhđẳng với Trung Quốc và không hạ mình trong quan hệ với nhà Thanh, thuật ngữ
“bang giao” trong quan hệ với Trung Quốc được sử dụng từ thế kỷ XVIII và ngàycàng phổ biến trong thế kỷ XIX dưới triều Nguyễn, chữ “như” trong từ sứ giả đi
sứ nước Thanh gọi là “như Thanh sứ” Bang giao chỉ có nghĩa là quan hệ ngoạigiao thuần túy giữa nước này và nước khác, không tồn tại quan niệm trên dưới.Không chỉ đối với quan hệ của mình với nhà Thanh, nhà Nguyễn cũng nhìn quan
Trang 13hệ giữa các triều đại Việt Nam trước đây với Trung Quốc là “bang giao” Điều này
có thể thấy trong Bang giao lục do Lê Thống biên soạn năm 1819
Cũng giống như những triều đại phong kiến trước, nhà Mãn Thanh chưa baogiờ từ bỏ tham vọng bành trướng lãnh thổ xuống phương Nam và luôn sẵn sàngthực hiện tham vọng này ngay khi có cơ hội Vì nước ta luôn coi Trung Quốc làmột nước lớn và có những chính sách ngoại giao khôn khéo nên không xảy ranhững cuộc va chạm nào đáng kể trong quan hệ giữa hai nước
Việt Nam và Xiêm La bị chi phối bởi nỗ lực tranh giành ảnh hưởng ở hai nướcChân Lạp và Ai Lao Sau các cuộc xung đột giữa hai nước trên lãnh thổ Lào diễn
ra vào cuối thập niên 1820 và giữa thập niên 1830, Đại Nam đã xác lập được ưuthế đối với Lào, vì đã có sự ảnh hưởng với Lào nên biên giới Tây được tạm ổnđịnh
Quan hệ giữa Việt Nam và Xiêm La quanh vấn đề Chân Lạp diễn ra phức tạphơn Năm 1833, giữa hai nước đã diễn ra chiến tranh trên lãnh thổ Miên và đấtChâu Đốc, Hà Tiên Sau khi dồn đuổi quân Xiêm La về nước, từ năm 1834, MinhMạng đã sáp nhập lãnh thổ Miên vào Việt Nam, đổi tên thành Trấn Tây Thành và
cử người sang cai trị Năm 1840, dân Miên đã nổi dậy chống ách cai trị của triềuNguyễn Chính quyền Xiêm La nhân cơ hội đưa quân xâm nhập lãnh thổ Miên.Giữa Việt Nam và Xiêm La nhân cơ hội đưa quân xâm nhập lãnh thổ Miên và xãy
ra xung đột vũ trang, mà kết quả là cả Xiêm La và Việt Nam đều lần lượt rút quân:
1845 và 1847 Việc xâm nhập lãnh thổ Miên hay gây ảnh hưởng với Lào cũngnhằm mục đích “phòng thủ xa” với Xiêm La
2.1.3.Ý thức xây dựng và phát triển đất nước để bảo vệ chủ quyền quốc gia
Về chính trị
Năm 1802 triều Nguyễn thành lập đã xây dựng một thiết chế quản lý đất nướcthống nhất từ Bắc chí Nam Năm 1808, Gia Long lập Gia Định thành đặt NguyễnVăn Nhân làm tổng trấn và Trương Bửu Tấn làm phó tống trấn
Trang 14Gia Định thành tuy không phức tạp như Bắc thành nhưng vị trí quan trọng củavùng đất mới khai phá và là nơi giao tiếp với Chân Lạp và Xiêm La, nên năm
1813, Gia Định cử Lê Văn Duyệt phụ trách tổng trấn có Hiệp tổng trấn và Thamhiệp tổng trấn với tào giúp việc
Triều Nguyễn tổ chức các cơ quan vận tải, thông tin liên lạc nối liền Nam Bắcnhư ty Tào chính, ty Bưu chính ty, ty thong chính sứ… để làm nền tảng cố kếtcộng đồng thống nhất đất nước Nhà nước tổ chức lập địa bạ cho gần 190000 thônlàng khắp cả nước kể cả vùng biên giới và hải đảo để quản lý ruộng đất, xác lậpchủ quyền khắp cả nước
Để quản lý chặt chẽ lãnh thổ, triều Nguyễn đã lập địa bạ trên toàn Lục tỉnhNam Kỳ (1836), thiết lập củng cố tổ chức hành chính, hoàn chỉnh bộ máy quản lýxã hội từ thôn (xã) đến tổng, huyện, phủ, tỉnh
Về quân sự.
Vào nửa đầu thế kỷ XIX, khi quan hệ khu vực có nhiều biến động, nhàNguyễn đã thi hành các chính sách cương quyết để bảo vệ biên giới Tây – Nam,cho xây dựng hệ thống thành và bảo trấn giữ dọc theo biên giới để bảo vệ lãnh thổ.Lực lượng quân đội được củng cố và tăng cường từ trung ương đến địa phương,trách nhiệm và bảo vệ chủ quyền của lực lượng quân đội được quy định chặt chẽtrong bộ luật Gia Long hình thành năm Gia Long thứ 11 (nhâm thân 1812)
Về kinh tế.
Cùng với biện pháp về chính trị, quân sự, nhà Nguyễn đã có những chính sáchkhuyến khích phát triển kinh tế và xã hội công cuộc dinh điền, xây dựng đồn điềnvừa tạo cơ sở kinh tế xã hội cho quốc gia, vừa củng cố quốc phòng Việc đào kênhđắp đường phát triển giao thong thủy bộ như đào kênh Thoại Hà (1817), kênhVĩnh Tế (1819-1824), kênh Vĩnh An (1843-1844), vừa tạo nên những hào lũynhân tạo kết hợp với những hào lũy tự nhiên để bảo vệ lãnh thổ Nam Bộ
Hệ thống các chính sách tương đối toàn diện của nhà Nguyễn đã tạo nên sứcmạnh và nguồn lực tổng hợp hỗ trợ cho công cuộc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ Nam
Trang 15Bộ, tạo nên sức mạnh quân sự đánh bại các đội quân xâm lược vào các năm 1833,
1841, 1847…
Nhà Nguyễn đã chú trọng tới việc khẩn hoang, coi đó là những biện pháp tíchcực nhất đưa dân vào công việc sản xuất, giải quyết được nạn dân lưu tán, đồngthời lại có thể tăng thêm diện tích trồng trọt và tăng thêm thu hoạch cho nhà nước.Nhà nguyễn óc những chính sách rất phong phú nhằm đàn áp phong trào nôngdân, giữ trật tự Đối nội, chúng ra sức đàn áp, khủng bố phong trào của quầnchúng, huy động những lực lượng quân sự to lớn vào việc dập tất các cuộc khởinghĩa của nông dân trong biển máu Các cuộc hành quân liên miên làm cho lựclượng quân sự triều đình suy yếu dần, tạo cơ hội cho thực dân pháp Nhà Nguyễnlập ra bộ luật Gia Long, dùng cả văn học để tuyên truyền cho chế độ thống trị đẫmmáu của chúng: Minh mạng ra mười điều Huấn dụ, Tự Đức diễn âm Thập điềudiễn ca…Đối ngoại, ra sức đẩy mạnh thủ đoạn xâm lược với các nước láng giềngnhư Cao Miên, lào làm cho quân lực bị tổn thất, tài chính quốc gia và tài lực nhândân bị khánh kiệt Đối vối các nước tư bản phương Tây, nhà Nguyễn thi hànhchính sách bế quan tỏa cảng, cấm đạo, giết đạo Nhà Nguyễn không thấy đượcrằng, muốn bảo vệ độc lập dân tộc, muốn giữ gìn đất nước trong điều kiện quốcgia lúc bấy giờ, thì phải có những biện pháp phù hợp: mở cửa giao thương để tìmhiểu canh tân đất nước; bồi dưỡng sức nước sức dân để đối phó giặc ngoại xâm…Ngoài ra, tiêu biểu cho ý chí bảo vệ chính quyền, thế kỉ XIX, các vua nhàNguyễn cho xây dựng hệ thống các trường lũy và đồn bào trấn thủ dọ theo biêngiới để bảo vệ lãnh thổ Trong suốt nửa đầu thế kỉ XIX, để xây dựng nước ĐạiNam hùng cường, các vua nhà Nguyễn đã bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia.Các chính sách của triều Nguyễn đối với các dân tộc thiểu số, nhất là các dântộc ở các vùng biên giới để giữ ổn định ở những vùng biên viễn của quốc gia.Dưới thời Gia Long, vùng dân tộc thiểu số đã được tổ chức thành các tổngnguồn (tương đương cấp huyện), dưới có các đấu mục (tương đương xã trưởng),dưới đấu mục là các sách trưởng (tương đương thôn trưởng) Các chức danh nàyđều do người thiểu số nắm giữ Tráng niên người thiểu số được ghi vào danh bộ
Trang 16Chính sách dân tộc thời Vua Nguyễn bao gồm 2 mặt chủ yếu.
a Chính sách vỗ về, mềm mỏng, không có sự bóc lột nhân tài vật lực một cáchnặng nề, nhằm thu phục nhân tâm, tranh thủ lôi kéo các tù trưởng, già làng, chocác tù trưởng giữ các chức vụ cũ, ban chức tước mới, ban cho quà tặng, áo mũ,tiền bạc Chính sách đó gọi là chính sách nhu viễn
Để thực hiện chính sách này, năm Minh Mạng thứ 13 (1832) Nhà Vua ra lệnhcho các bộ, viện lựa chọn những con em dưới 16 tuổi, cho học tập ngôn ngữ,phong tục, tập quán các dân tộc thiểu số Tây Nguyên, học xong sẽ lựa chọn để sửdụng làm nhiệm vụ thông sứ, hướng dẫn sứ bộ phiên dịch các văn bản từ tiếng dântộc thiểu số Họ được triều đình xếp vào hàng bát phẩm, cửu phẩm Để thu phụcnhân tâm, Gia Long đã ra lệnh miễn thuế cho dân thiểu số 1 năm, sau đó giảmxuống từ 1470 quan thời các chúa, xuống 1350 quan/năm
Chính sách Nhu viễn, trong Khâm định Đại Nam Hội điển sự lệ nói rất rõ vềthái độ của Nhà Nguyễn đối với các Vua Lửa (Hoả xá), và Vua Nước (Thuỷ xá) ởTây Nguyên, xem lãnh địa các thổ tù lớn này là các quốc gia, và đối xử như thuộcquốc lấy ân đức để giáo hoá
Tuy Nhà Nguyễn chưa đi đến một chính sách phát triển kinh tế - xã hội đồng
bộ và lâu dài đối với các dân tộc thiểu số, nhưng cũng đã có sự quan tâm bướcđầu
Thời Gia Long, Nguyễn Công Trứ và Nguyễn Khắc Tuân được giao phó thựchiện một số chủ trương đối với miền núi như:
- Tổ chức các khu dinh điền và đồn điền, di dân các tỉnh miền xuôi lên khaihoang
- Hướng dẫn đồng bào thiểu số sử dụng trâu bò để cày bừa
- Khuyến khích trao đổi hàng hoá giữa người Kinh và người miền núi
Các chính sách trên được duy trì đến năm 1863 và trấn Nam được đổi thànhSơn Phòng trấn gồm miền núi Trung Trung Bộ
Trong Phủ man tạp lục, còn ghi một số chủ trương như sau:
- Hiểu rõ phong tục tập quán, ngôn ngữ các dân tộc
Trang 17- Cố gắng thực hiện công bằng và giữ lời hứa với dân.
- Cương quyết nhưng thận trọng, khoan dung và thương dân
b Chính sách cương, đàn áp các mầm mống ly khai và các cuộc nổi dậy củacác dân tộc thiểu số để giữ vững sự thống nhất quốc gia - dân tộc
Ở Đàng Trong từ cuối thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XVIII, có một số cuộc khởinghĩa của một số dân tộc thiểu số như cuộc nổi dậy của người thiểu số QuảngNam (1697), cuộc khởi nghĩa của người Chăm ở Trấn Biên, Gia Định (1746), năm
1770 cuộc khởi nghĩa của người thiểu số ở Quảng Ngãi Đại nam thực lục chínhbiên ghi năm 1819, tả quân Lê Văn Duyệt được Gia Long phái đến vùng thượng
du các tỉnh Trung Trung Bộ để dẹp loạn, rồi phụ trách việc xây đắp luỹ sơn phòng
từ Trà Bồng đến An Lão dài 90km Trong chính sách của Nhà Nguyễn đối với cácdân tộc thiểu số miền Nam, nổi bật ngoài việc đối với các dân tộc Tây Nguyên,còn thái độ đối với người Chăm,người Khơme và người Hoa nữa
Đối với người Chăm: Cho đến thời Nguyễn, người Chăm đã lùi dần về vùngcực nam Trung Bộ, một số khác đã chuyển tới cư trú ở Châu Đốc, gần biên giớiViệt Nam - Campuchia Thời Gia Long, các dòng họ Vua Chăm vẫn được duy trì
về mặt hình thức Thời Minh Mạng vẫn giữ chính sách đó cho đến 1833, còn chophép dựng miếu thờ Vua Chăm ở kinh đô và thành Bình Thuận, mỗi năm cúng tế
2 kỳ Ở một số nơi nhà vua tăng cường mật độ cư dân Việt, nhằm đẩy nhanh sựthống nhất quốc gia - dân tộc Ở Châu Đốc, theo đề nghị của Trương Minh Giảng,cho chiêu tập người Chăm khai khẩn đất hoang, lập đồn điền, ở biên giới, bảo vệbiên cương
Đối với người Khơme: Đây là dân tộc đã góp phần quan trọng trong công cuộckhai phá đồng bằng sông Cửu Long, lại có quan hệ mật thiết với người Khơme ởCămpuchia, có vai trò rất quan trọng trong việc bảo vệ biên giới phía Tây Namnước ta
Đối với dân tộc Khơme, Gia Long đã áp dụng một số chính sách mang tính “tựtrị”, cho phép người Khơme cai quản vùng Khơme, phong chức tước cho họ, duytrì các phong tục tập quán của dân tộc Sang thời Minh Mạng, nhà vua cử các quan
Trang 18lại người Việt đến cai trị ở các địa phương, đặt các họ cho người Khơme để ghivào sổ sách nhằm quản lý nhân đinh và điền thổ ở vùng biên giới phía Tây, MinhMạng cử những quan lại có năng lực như Trương Minh Giảng, Thoại Ngọc Hầuđến cai quản Nhà vua cũng chủ trương tập hợp người Khơme khai khẩn các vùngđất hoang hoá ở Tây Nam lập nên phum sóc, và chiêu dụ người Khơme bên kiabiên giới sang làm ăn Vua cũng thực hiện chính sách cho các binh lính đồn trúngười Khơme thay phiên nhau về nhà làm ruộng một năm 2 tháng.
Đối với người Hoa: Khác với chúa Trịnh ở miền Bắc, các chúa Nguyễn ở miềnNam đã thực hiện một chính sách khôn khéo, nhân hậu, khoan hoà để thu phục họ.Các chúa Nguyễn đã mạnh dạn giao quyền cai quản từng vùng đất cho các đoànngười Hoa di cư sang của Dương Ngạn Địch, Trần Thượng Xuyên, Mạc Cửu, tạonên những vùng đất mới trù phú như ở Đông Phố (Gia Định), Mang Khảm (HàTiên), Hội An Trong bước đầu lập nghiệp, của các chúa Nguyễn, người Hoa còn
có công trong việc đúc tiền, góp phần phát triển nền tài chính Đàng Trong Chínhsách nhu viễn của Gia Long rất mềm dẻo, linh hoạt, đối với người Hoa, kẻ sĩ thìtôn hiền, nhà nông thì cho chan hoà rộng rãi giữa dân bản địa và dân nhập cư, giớicông thì thực hiện chính sách thu hút thợ trăm nghề Người Hoa khi đã nhập cư,theo từng loại hộ mà quy định mức thuế phải nộp Chia ra làm 3 loại hộ: thực hộ,
khách hộ và hộ biệt nạp Theo Đại Nam thực lục, thực hộ cư trú ổn định thì nộp
thuế bằng bạc Khách hộ chưa cư trú ổn định và lưu dân, chưa phải nộp thuế Thuế
hộ biệt nạp cho người doanh nghiệp, ngoài nộp bạc, còn thêm thuế hiện vật cácsản phẩm khai thác được
Thuế điền thổ cho các hộ có đất đai, phải nộp thuế bằng thóc lúa hoa màu Nhànước cũng có chính sách cụ thể về thuế khoá ở Hội An, những hàng hoá do ngườiHoa nhập khẩu như thuốc Bắc và sách chữ thì được giảm một nửa thuế NgườiHoa đến Việt Nam trong 3 năm đầu chỉ đóng thuế một nửa và người già cả trên 60tuổi thì được miễn thuế
Dưới thời Gia Long, triều đình cho phép người Hoa thành lập những Minhhương xã, theo chế độ Bang hội Những người đứng đầu được tuyển lựa qua các
Trang 19kỳ thi và được nhà vua phê chuẩn Sửa đổi luật Gia Long, Minh Mạng quy địnhngười Hoa lấy vợ Việt sinh con ra được phép giữ tên gọi là Minh Hư Chính sáchdân tộc của Chúa Nguyễn và Vua Nguyễn như đã nói ở trên, gồm có 2 mặt: nhu vàcương, như hai mặt của một đồng tiền - Mục tiêu của chính sách đó là để mở rộnglãnh thổ, tăng cường sức mạnh quốc gia, bảo vệ vững chắc vùng biên cương, gìngiữ sự thống nhất của quốc gia đa dân tộc, cương quyết đập tan mọi mầm mống vàhành động ly khai, làm suy yếu sức mạnh đoàn kết dân tộc Chính sách đó tuychưa chú ý đúng mức việc đề ra và thực hiện các dự án phát triển kinh tế - xã hộivùng dân tộc, nhưng chứa đựng nhiều yếu tố tiến bộ Xét đến cùng Nhà nướcphong kiến có bóc lột nhân tài vật lực của các dân tộc thiểu số, đây là nguyên nhândẫn đến các cuộc nổi dậy ở một số dân tộc thiểu số Tuy nhiên ta phải thấy rằng sựbóc lột đó không phải quá nặng nề.
Khi đánh giá chính sách dân tộc của Nhà Nguyễn, ta không thể nhận thấy sựbiểu hiện của tư tưởng sô vanh nước lớn, tư tưởng đại dân tộc, xem mình là vănminh, xem các dân tộc thiểu số, như trong Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ đãghi rõ là năm 1834, năm Minh Mạng thứ 15, nhà Vua xuống dụ: “Trẫm nghĩ nước
đó ở một góc xa xôi, thắt nút dây mà cai trị, phong tục còn theo lối thượng cổ Chonên thánh nhân đã lấy văn minh mà giáo hoá man rợ, phải lấy nghĩa tình dẫn dắt
họ, khiến họ ngày càng theo phong tục văn minh”
Chính sách đồng hoá của phong kiến Nhà Nguyễn đối với các dân tộc thiểu sốthể hiện ở chỗ vua Minh Mạng ban các họ cho người Chăm, quy định y phục, sinhhoạt cho họ theo lối sống người Việt Vua Minh Mạng cũng đặt các họ cho ngườiKhơme để ghi sổ sách nhằm quản lý nhân đinh, điền thổ Triều đình có chủ trươngtăng cường mật độ cư dân người Việt ở các khu vực dân tộc thiểu số đẩy mạnh sựhoà hợp và thống nhất dân tộc Với người Hoa, triều đình cho thành lập các banghội, với các cộng đồng theo nguồn gốc địa phương có quan hệ thân tộc từ TrungQuốc sang Minh Mạng quy định người Hoa lấy vợ Việt sinh con ra được phép giữtên gọi là Minh Hương Người Minh Hương được phép thi cử làm quan như ngườiViệt Đối với những người Hoa gặp hoạn nạn, khó khăn trong đời sống thì sự trợ
Trang 20giúp của triều Nguyễn đối với họ cũng giống như đối với người Việt Rõ ràngchính sách đó là để đẩy mạnh quá trình hoà hợp dân tộc Tư tưởng đại dân tộc dẫnđến chính sách đồng hoá các dân tộc, chính sách đồng hoá ở đây được thực hiệnchủ yếu bằng các biện pháp hoà bình Đây là sự đồng hoá về văn hoá (Ethnocide),
về thực chất chính sách này cũng sẽ dẫn đến sự diệt chủng bằng thể xác(Génocide), nghĩa là khi văn hoá dân tộc mất đi, thì bản thân dân tộc cũng sẽ bịloại ra khỏi tiến trình lịch sử
Về mặt tư tưởng
Do nhu cầu xây dựng chính quyền trung ương tập quyền, thống nhất trên cảnước sau thời gian dài bị chia cắt, các vua triều Nguyễn cố gắng, bằng mọi cáchphục hồi Nho giáo đang ở trong tình trạng khủng hoảng và mục nát Gia Long
là người đặt những nền tảng vững chắc cho triều đại mới, triều đại nhà Nguyễn
cả về hệ thống hành chính lẫn hệ tư tưởng, ông luôn muốn đưa Nho giáo lên địa vị
«độc tôn » Vì theo tư duy của ông, sự phát triển mạnh mẽ về kỹ thuật và các hoạtđộng truyền giáo của người phương Tây sẽ đe dọa đến nền an ninh quốc gia Vàđây cũng là suy nghĩ chung của sĩ phu dưới triều Nguyễn Nhưng hệ tư tưởng Nhogiáo với sự nâng đỡ của triều đình và giới sĩ phu trong giai đoạn trên thế giới đangdiễn ra cuộc tiếp xúc Đông – Tây mạnh mẽ, thì đã tỏ ra lỗi thời và lạc hậu
Để “bảo vệ đạo”, bảo vệ trật tự phong kiến trên khuôn khổ chật hẹp của Nhogiáo trong lúc các giáo sĩ truyền đạo ở Việt Nam đang ra sức truyền đạo, ngoàiviệc ban hành các chiếu “cấm đạo”1 vua Minh Mạng còn cho ban hành “Thập điều
huấn dụ” (mười điều dạy bảo) vào ngày 15.7.1883, trong đó vua nhấn mạnh: “Đạo
làm người không gì cốt yếu bằng luân lý được trong sáng (…) sách Trung Kinh có nói rằng: “người quân tử giữ đạo, là để giữ phúc lâu dài” (…) Tâm là gốc của con người Tâm mà ngay thẳng, thì muôn điều lành do đấy sinh ra; tâm mà bất chính, thì trăm điều ác đều theo đó mà gây nên (…) Phong tục có quan hệ với người ta không phải là nhỏ Thói tốt, tục hay thì có thể bỏ được hình luật và thôi được việc binh, trong bốn biển sẽ có âm thanh thái bình Ta mong các ngươi, sĩ, thứ, quân
1 Vua Minh Mạng cho ban hành các chiếu “cấm đạo” vào các năm như: 6/1/1833, 25/1/1836, 18/1/1839.
Trang 21nhân, cùng trông nhau làm điều thiện, dắt nhau đi đường chính đạo”1 “Thập điều
huấn dụ” của vua Minh Mạng có tính chất như một “cương lĩnh về tư tưởng” củavương triều Nguyễn đặt trên nền tảng của Nho gia, chính điều đó đã được giới sĩphu hưởng ứng
Với sự hạn hẹp của hệ tư tưởng Nho giáo trong một thế giới mở rộng hơn rấtnhiều, những nhà nho vẫn cứ khư khư cho rằng chỉ cần tinh thông Nho học
là có thể giải thích được mọi hiện tượng trên thế giới Tuyệt nhiên cả giới sĩ phu
và triều đình không thể nhìn nhận sự truyền bá Thiên Chúa giáo như một điều kiệngiao lưu văn hóa, tư tưởng Đông – Tây, làm phong phú thêm cho nền văn hóanước nhà mà e ngại sự lan rộng ra của Thiên Chúa giáo ảnh hưởng tới chuẩn mựccủa Nho giáo, tới thuần phong mỹ tục truyền thống của dân chúng Trong khi đógiới sĩ phu cũng không nhận thức được rằng, chính họ với việc bảo vệ “lậptrường” chống “tà đạo”, bảo vệ “chính đạo” lại là những người dễ mất “gốc” vàtruyền thống dân tộc trước hết
Bảo vệ nền độc lập dân tộc trên lĩnh vực văn hóa – tư tưởng, theo ý thức củavua quan và sĩ phu triều Nguyễn chính bảo vệ Nho giáo, bảo vệ các giá trị văn hóatruyền thống vốn có của dân tộc khỏi sự đe dọa của những yếu tố văn hóa ngoạilai, của tư tưởng phương Tây theo Thiên chúa giáo
- Về châu bản: có các văn thư hành chính được nhà vua phê duyệt bằng mựcson, phản ánh việc quản lí đất nước của triều Nguyễn
1 Quốc sử quán triều Nguyễn (2002) Đại Nam thực lục, chính biên, tập 4 Sđd, trang 232 – 234.
Trang 22- Các địa bạ: bao gồm sổ điền thổ, dân đinh của từng làng trong cả nước Vàođầu thời Nguyễn, nước ta có khoảng 18.000 làng và các làng có địa bạ.2 Các tácphẩm nổi tiếng: Nhất thống dư địa chí, Đại Nam nhất thống toàn đồ, Đại Nam nhấtthống chí…
- Quốc sử quán triều Nguyễn, với những tác phẩm được biên soạn công phu,như “ Khâm Định Việt sử thông giám cương mục” (52 quyển), “Đại Nam thựclục” (tiền biên và chính biên) (453 quyển)…Có thể nói, triều Nguyễn đã đưa sửhọc tiến lên đỉnh cao nhất của lịch sử sử học nước nhà thời trung đại
Bên cạnh việc coi chữ Hán là “chữ của thánh hiền”, nhà Nguyễn cũng khuyếnkhích việc dùng chữ Nôm trong sáng tác văn học Như chúng ta đã biết, chữ Nômchính là sự sáng tạo của dân tộc Việt, muốn thoát dần ảnh hưởng của văn hóaTrung Hoa, khẳng định độc lập dân tộc của quốc gia Dòng văn học chữ Nôm đãphát triển cao với Truyện Kiều của Nguyễn Du, Lục Vân Tiên của Nguyễn ĐìnhChiểu…
Để ổn định xã hội và bảo vệ nền độc lập dân tộc, nhà Nguyễn cũng rất chú ýđến việc xây dựng luật pháp Bộ Hoàng Việt Luật Lệ (hay còn gọi là Luật GiaLong) đã góp phần tổ chức xã hội có kỷ cương hơn sau nhiều năm biến động, củng
cố nhà nước chuyên chế tập quyền về mọi mặt.2
Thiết nghĩ, việc chú ý đến địa lý - lịch sử - văn học- luật pháp của dân tộccũng là một trong những minh chứng sống động cho sự ý thức về bảo vệ độc lậpdân tộc của vương triều Nguyễn
2.1.4 Ý thức bảo vệ nền độc lập dân tộc trên lĩnh vực văn hóa
Do nhu cầu xây dựng chính quyền trung ương tập quyền, thống nhất trên cảnước sau thời gian dài bị chia cắt, các vua triều Nguyễn cố gắng, bằng mọi cáchphục hồi Nho giáo đang ở trong tình trạng khủng hoảng Gia Long là người đặtnhững nền tảng vững chắc cho triều đại mới, triều đại nhà Nguyễn cả về hệ thốnghành chính lẫn hệ tư tưởng, ông luôn muốn đưa Nho giáo lên địa vị “độc tôn”
2 PGS TS Đinh ngọc Bảo, Đôi nét về sửu liệu nghiên cứu thời Nguyễn, Lịch sử nhà Nguyễn một cách tiếp cận mới,Nxb Đại học Sư Phạm, 2005, tr 80.
2 Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Văn hóa Việt Nam thời Nguyễn”, Huế, 2000, tr 128 – 133.