1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

môn kinh tế vĩ mô_ quản trị kinh doanh, tài chính, kế toán....

15 694 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 113 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lời mở đầu Kể từ khi thực hiện chính sách mở cửa, chuyển nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang hoạt động theo cơ chế thị trường, toàn bộ hệ thống tổ chức và hoạt động của ngân hàng Việt Nam đã được đổi mới sâu sắc và đã đạt được những kết quả bước đầu đáng khích lệ. Nhờ đổi mới toàn diện chính sách tiền tệ từ hoạch định đến chỉ đạo thực hiện, bằng việc sử dụng các giải pháp tình thế mạnh dạn lúc đầu, đến sử dụng có hiệu quả các công cụ của chính sách tiền tệ, lạm phát đã được đẩy lùi và kiềm chế ở mức thấp; yêu cầu ổn định tiền tệ bước đầu được thực hiện, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, phục vụ phát triển nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường, theo định hướng xã hội chủ nghĩa.Tuy nhiên trong việc vận hành các công cụ của chính sách tiền tệ chúng ta còn gặp nhiều trở ngại trước hết là sự am hiểu về một phương pháp điều hành mới còn nhiều hạn chế trong khi nền kinh tế chuyển đổi còn thiếu những điều kiện để điều hành chính sách tiền tệ theo nghĩa gốc của mỗi công cụ. Vì vậy, việc lựa chọn giải pháp nào để xây dựng và điều hành chính sách tiền tệ quốc gia có hiệu quả nhất vẫn còn là một ẩn số và chắc chắn có những bất cập là điều khó tránh khỏi. Trong đề tài Sử dụng chính sách tiền tệ nhằm kiểm soát lạm phát ở Việt Nam em xin trình bày hai phần chính: Phần I: THỰC TRẠNG SỬ DỤNG CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ NHẰM KIỂM SOÁT LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM Phần II: GIẢI PHÁP Lạm phát ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống kinh tế xã hội, cho nên ảnh hưởng đến mỗi cá nhân trong xã hội. Mặt khác việc nghiên cứu đề tài Sử dụng CSTT trong việc kiểm soát lạm phát giúp cho bản thân em nắm vững những kiến thức cơ bản của ngành quản trị kinh doanh, nhằm phục vụ tốt cho việc học tập. Do đó đề tài Sử dụng CSTT trong việc kiểm soát lạm phát có ý nghĩa thiết thực đối với bản thân. Bài viết của em vẫn còn nhiều thiếu sót. Mong thầy cô hướng dẫn thêm. MỤC LỤC Lời nói đầu 1 Mục lục 2 Danh mục chữ viết tắt 3 Tài liệu tham khảo 3 PHẦN I:THỰC TRẠNG CỦA VIỆC SỬ DỤNG CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ NHẰM KIỂM SOÁT LẠM PHÁT NHỮNG NĂM QUA Ở VIỆT NAM 4 I.Tổng quan nền kinh tế Việt Nam 4 II. Thực trạng chính sách tiền tệ nhằm kiểm soát lạm phát ở Việt Nam 6 1. Lãi suất 6 2. Hạn mức tín dụng 8 3. Tái chiết khấu 9 4. Dự trữ bắt buộc 9 5. Tỷ giá 10 6.Hoạt động thị trường mở 10 PHẦN II: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ NHẰM KIỂM SOÁT LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM 12 I. Mục tiêu phát triển kinh tế đến 2020 12 II. Giải pháp hoàn thiện chính sách tiền tệ trong việc kiểm soát lạm phát 12 1. Thực hiện điều chỉnh lãi suất linh hoạt 12 2. Kiểm soát tăng trưởng tín dụng 13 3.Tái chiết khấu. 13 4. Dự trữ bắt buộc 13 5. Điều hành chính sác tỷ giá linh hoạt 14 6. Hoạt động thị trường mở 14 KẾT LUẬN 15 DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT CPI Chỉ số giá tiêu dùng CSTT Chính sách tiền tệ DTBB Dự trữ bắt buộc GDP Tổng sản phẩm quốc gia NHNNVN Ngân hàng Nhà nước Việt Nam NHNN Ngân hàng Nhà nước NHTM Ngân hàng thương mại NHTW Ngân hàng trung ương NVTTM Nghiệp vụ thị trường mở TCTD Tổ chức tín dụng USD Đồng đô la Mỹ VND Việt Nam đồng LSCB Lãi suất cơ bản NVTTM Nghiệp vụ thị trường mở TÀI LIỆU THAM KHẢO www.4share.vn báo cáo chính sách kiểm soát lạm phát www.Tailieu.vn chính sách kiểm soát lạm phát ở Việt Nam www.KILOBOOKS.com Phần I THỰC TRẠNG CỦA VIỆC SỬ DỤNG CỤ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ NHẰM KIỂM SOÁT LẠM PHÁT NHỮNG NĂM QUA Ở VIỆT NAM I.Tổng quan tình hình kinh tế tại Việt Nam Chịu sự ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính thế giới giá xăng dầu và các nguyên liệu đầu vào, hàng hóa tiêu dùng nhập khẩu những tháng đầu năm tăng vọt đến những giữa năm lại có xu hướng giảm. Tốc độ GDP năm 2008 tăng 6,18% so với năm 2007, lạm phát bình quân tăng 22,97%. Theo đà suy giảm kinh tế những tháng cuối năm 2008, tốc độ tăng trưởng GDP quý I2009 chỉ đạt 3,14% là quý có tốc đọ tăng thấp nhất trong nhiều năm gần đây; nhưng quý II,III và IV của năm 2009, tốc độ tăng GDP đã nâng dần lên lên lần lượt là 4,46%; 6,04% và 6,9%. Tính chung cả năm 2009, GDP tăng 5,32%.Tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2009 tuy vẫn thấp hơn tốc đọ tăng 6,18% của năm 2008, nhưng đã vượt qua mục tiêu tăng 5% của kế hoạch. GDP quý I2010 ước tính tăng 5,38% so với cùng kỳ năm 2009. Tốc độ tăng GDP quý I tuy chưa bằng mục tiêu tăng 6,5% đề ra cho cả năm nhưng cao hơn nhiều so với quý I2009, chứng tỏ nền kinh tế nước ta đang tiếp tục phục hồi và tăng trưởng nhanh dần. CPI tháng 32010 tăng 9,46% so với cùng kỳ năm 2009 và tăng 4,12% so với tháng 122009. Gía tiêu dùng bình quân quý I2010 tăng 8,51% so với giá tiêu dùng bình quân quý I2009. CPI tháng 12012 đã tăng 1% so với tháng trước và tháng 22012 tăng 1,37% tức bằng mức cùng kỳ năm 2009, nhưng là mức thấp nhất trong vòng 10 năm qua... Mới đây, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 92012 tăng vọt 2,2% so với tháng 8 và tăng 5,13% tính từ đầu năm đến giờ. CPI tháng 9 tăng ở mức cao nhất kể từ tháng 62011. Trong tám tháng trước đó, CPI chỉ tăng bình quân mỗi tháng 0,2%. Nếu so với cùng kỳ năm trước, CPI tháng 9 tăng gần 6,5%. Tất cả thông số này đều cao hơn dự báo của hầu hết chuyên gia kinh tế trong và ngoài nước. Trong 11 nhóm hàng hóa tính trong rổ chỉ số CPI, có bốn nhóm giá cả tăng bất thường là thuốc và dịch vụ y tế tăng 17,02%; giáo dục tăng 10,5%; giao thông tăng 3,83%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 2,28%. Giá cả dịch vụ y tế tăng đột biến do điều chỉnh giá viện phí. Giá cả dịch vụ giáo dục tăng ào ạt do điều chỉnh học phí trong tháng tựu trường. Giá cả hàng hóa giao thông, chất đốt, vật liệu xây dựng tăng có nguyên nhân lớn điều chỉnh giá xăng dầu. Bảy nhóm hàng hóa còn lại giá cả chỉ tăng khoảng 0,07%. Chỉ số CPI tăng bất ngờ trong bối cảnh các doanh nghiệp độc quyền xăng, dầu, điện, than liên tục đòi tăng giá. Một số nhà hoạch định chính sách và chuyên gia kinh tế bắt đầu có tâm lý phơi phới nhận định CPI cả năm 2012 hoàn toàn có thể đạt được mục tiêu 7% để phát đi tín hiệu nới lỏng tiền tệ và tài khóa. Đứng trước việc số lượng doanh nghiệp phá sản ngày càng cao, tín hiệu nới lỏng tiền tệ xuất hiện với tần suất nhiều hơn từ các nhà hoạch định chính sách dù các thông điệp vẫn theo điệp khúc “linh hoạt”, “thận trọng” để đề phòng . Đối với người dân và doanh nghiệp, mùi lạm phát đâu đó và không biết khi nào xuất hiện khiến họ thắt chặt chi tiêu hơn, tiết kiệm nhiều hơn và phòng thủ nhiều hơn. Tâm lý e ngại rủi ro còn được khuếch đại thêm trong bối cảnh kinh tế toàn cầu vẫn còn khá u ám. Điều này làm dòng tiền bơm ra thị trường qua việc liên tục nới lỏng lãi suất dồn dập và đầu tư công bất chấp khuyến cáo của Quỹ Tiền tệ quốc tế, Ngân hàng Thế giới và các chuyên gia kinh tế chỉ khiến tiền chảy lòng vòng đâu đó mà không chảy nhiều vào sản xuất và tiêu dùng. Đây có thể là yếu tố ẩn vẫn chưa được nhận diện thấu đáo về chỉ số CPI tháng 9 vừa qua và từ nay đến cuối năm. Nếu như yếu tố ẩn này chưa được phân tích một cách khoa học và khách quan thì việc nới lỏng dần chính sách tiền tệ và tài khóa có thể dẫn đến hậu quả. Đó là lạm phát cao có khả năng rất lớn xuất hiện trở lại vào năm 2013.

Trang 1

Lời nói đầu

Kể từ khi thực hiện chính sách mở cửa, chuyển nền kinh tế kế hoạch hố tập trung sang hoạt động theo cơ chế thị trường, tồn bộ hệ thống tổ chức và hoạt động của ngân hàng Việt Nam đã được đổi mới sâu sắc và đã đạt được những kết quả bước đầu đáng khích lệ Nhờ đổi mới tồn diện chính sách tiền tệ từ hoạch định đến chỉ đạo thực hiện, bằng việc sử dụng các giải pháp tình thế mạnh dạn lúc đầu, đến sử dụng cĩ hiệu quả các cơng cụ của chính sách tiền tệ, lạm phát đã được đẩy lùi và kiềm chế ở mức thấp; yêu cầu ổn định tiền tệ bước đầu được thực hiện, gĩp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, phục vụ phát triển nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường, theo định hướng xã hội chủ nghĩa.Tuy nhiên trong việc vận hành các cơng cụ của chính sách tiền tệ chúng ta cịn gặp nhiều trở ngại trước hết là sự am hiểu về một phương pháp điều hành mới cịn nhiều hạn chế trong khi nền kinh tế chuyển đổi cịn thiếu những điều kiện để điều hành chính sách tiền tệ theo nghĩa gốc của mỗi cơng cụ

Vì vậy, việc lựa chọn giải pháp nào để xây dựng và điều hành chính sách tiền tệ quốc gia cĩ hiệu quả nhất vẫn cịn là một ẩn số và chắc chắn cĩ những bất cập là điều khĩ tránh khỏi

Trong đề tài "Sử dụng chính sách tiền tệ nhằm kiểm sốt lạm phát ở Việt Nam" em xin trình bày hai phần chính:

Phần I: THỰC TRẠNG SỬ DỤNG CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ NHẰM KIỂM SỐT LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM

Phần II: GIẢI PHÁP

Lạm phát ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống kinh tế xã hội, cho nên ảnh hưởng đến mỗi cá nhân trong xã hội Mặt khác việc nghiên cứu đề tài

"Sử dụng CSTT trong việc kiểm sốt lạm phát" giúp cho bản thân em nắm vững những kiến thức cơ bản của ngành quản trị kinh doanh, nhằm phục

vụ tốt cho việc học tập Do đĩ đề tài "Sử dụng CSTT trong việc kiểm sốt lạm phát" cĩ ý nghĩa thiết thực đối với bản thân

Bài viết của em vẫn cịn nhiều thiếu sĩt Mong thầy cơ hướng dẫn thêm

Trang 2

MỤC LỤC

Lời nói đầu 1

Mục lục 2

Danh mục chữ viết tắt 3

Tài liệu tham khảo 3

PHẦN I:THỰC TRẠNG CỦA VIỆC SỬ DỤNG CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ NHẰM KIỂM SOÁT LẠM PHÁT NHỮNG NĂM QUA Ở VIỆT NAM 4

I.Tổng quan nền kinh tế Việt Nam 4

II Thực trạng chính sách tiền tệ nhằm kiểm soát lạm phát ở Việt Nam 6

1 Lãi suất 6

2 Hạn mức tín dụng 8

3 Tái chiết khấu 9

4 Dự trữ bắt buộc 9

5 Tỷ giá 10

6.Hoạt động thị trường mở 10

PHẦN II: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ NHẰM KIỂM SOÁT LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM .12

I Mục tiêu phát triển kinh tế đến 2020 12

II Giải pháp hoàn thiện chính sách tiền tệ trong việc kiểm soát lạm phát 12

1 Thực hiện điều chỉnh lãi suất linh hoạt 12

2 Kiểm soát tăng trưởng tín dụng 13

3.Tái chiết khấu 13

4 Dự trữ bắt buộc 13

5 Điều hành chính sác tỷ giá linh hoạt 14

6 Hoạt động thị trường mở 14

KẾT LUẬN 15

Trang 3

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

NHNNVN Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

NVTTM Nghiệp vụ thị trường mở

NVTTM Nghiệp vụ thị trường mở

TÀI LIỆU THAM KHẢO

www.4share.vn- báo cáo chính sách kiểm soát lạm phát www.Tailieu.vn- chính sách kiểm soát lạm phát ở Việt Nam

www.KILOBOOKS.com

Trang 4

Phần I

THỰC TRẠNG CỦA VIỆC SỬ DỤNG CỤ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ NHẰM KIỂM SOÁT LẠM PHÁT NHỮNG NĂM

QUA Ở VIỆT NAM

I.Tổng quan tình hình kinh tế tại Việt Nam

Chịu sự ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính thế giới giá xăng dầu và các nguyên liệu đầu vào, hàng hóa tiêu dùng nhập khẩu những tháng đầu năm tăng vọt đến những giữa năm lại có xu hướng giảm Tốc độ GDP năm 2008 tăng 6,18% so với năm 2007, lạm phát bình quân tăng 22,97% Theo đà suy giảm kinh tế những tháng cuối năm

2008, tốc độ tăng trưởng GDP quý I/2009 chỉ đạt 3,14% là quý có tốc đọ tăng thấp nhất trong nhiều năm gần đây; nhưng quý II,III và IV của năm

2009, tốc độ tăng GDP đã nâng dần lên lên lần lượt là 4,46%; 6,04% và 6,9% Tính chung cả năm 2009, GDP tăng 5,32%.Tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2009 tuy vẫn thấp hơn tốc đọ tăng 6,18% của năm 2008, nhưng đã vượt qua mục tiêu tăng 5% của kế hoạch

GDP quý I/2010 ước tính tăng 5,38% so với cùng kỳ năm 2009 Tốc

độ tăng GDP quý I tuy chưa bằng mục tiêu tăng 6,5% đề ra cho cả năm nhưng cao hơn nhiều so với quý I/2009, chứng tỏ nền kinh tế nước ta đang tiếp tục phục hồi và tăng trưởng nhanh dần CPI tháng 3/2010 tăng 9,46% so với cùng kỳ năm 2009 và tăng 4,12% so với tháng 12/2009 Gía tiêu dùng bình quân quý I/2010 tăng 8,51% so với giá tiêu dùng bình quân quý I/2009 CPI tháng 1-2012 đã tăng 1% so với tháng trước

và tháng 2-2012 tăng 1,37% - tức bằng mức cùng kỳ năm 2009, nhưng là mức thấp nhất trong vòng 10 năm qua Mới đây, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 9-2012 tăng vọt 2,2% so với tháng 8 và tăng 5,13% tính từ đầu năm đến giờ

CPI tháng 9 tăng ở mức cao nhất kể từ tháng 6-2011 Trong tám tháng trước đó, CPI chỉ tăng bình quân mỗi tháng 0,2% Nếu so với cùng

kỳ năm trước, CPI tháng 9 tăng gần 6,5% Tất cả thông số này đều cao hơn dự báo của hầu hết chuyên gia kinh tế trong và ngoài nước Trong 11 nhóm hàng hóa tính trong rổ chỉ số CPI, có bốn nhóm giá cả tăng bất thường là thuốc và dịch vụ y tế tăng 17,02%; giáo dục tăng 10,5%; giao thông tăng 3,83%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 2,28% Giá cả dịch vụ y tế tăng đột biến do điều chỉnh giá viện phí Giá

cả dịch vụ giáo dục tăng ào ạt do điều chỉnh học phí trong tháng tựu trường Giá cả hàng hóa giao thông, chất đốt, vật liệu xây dựng tăng có nguyên nhân lớn điều chỉnh giá xăng dầu Bảy nhóm hàng hóa còn lại giá

cả chỉ tăng khoảng 0,07%

Trang 5

Chỉ số CPI tăng bất ngờ trong bối cảnh các doanh nghiệp độc quyền xăng, dầu, điện, than liên tục đòi tăng giá Một số nhà hoạch định chính sách và chuyên gia kinh tế bắt đầu có tâm lý phơi phới nhận định CPI cả năm 2012 hoàn toàn có thể đạt được mục tiêu 7% để phát đi tín hiệu nới lỏng tiền tệ và tài khóa Đứng trước việc số lượng doanh nghiệp phá sản ngày càng cao, tín hiệu nới lỏng tiền tệ xuất hiện với tần suất nhiều hơn

từ các nhà hoạch định chính sách dù các thông điệp vẫn theo điệp khúc

“linh hoạt”, “thận trọng” để đề phòng

Đối với người dân và doanh nghiệp, mùi lạm phát đâu đó và không biết khi nào xuất hiện khiến họ thắt chặt chi tiêu hơn, tiết kiệm nhiều hơn

và phòng thủ nhiều hơn Tâm lý e ngại rủi ro còn được khuếch đại thêm trong bối cảnh kinh tế toàn cầu vẫn còn khá u ám Điều này làm dòng tiền bơm ra thị trường qua việc liên tục nới lỏng lãi suất dồn dập và đầu

tư công - bất chấp khuyến cáo của Quỹ Tiền tệ quốc tế, Ngân hàng Thế giới và các chuyên gia kinh tế - chỉ khiến tiền chảy lòng vòng đâu đó mà không chảy nhiều vào sản xuất và tiêu dùng Đây có thể là yếu tố ẩn vẫn chưa được nhận diện thấu đáo về chỉ số CPI tháng 9 vừa qua và từ nay đến cuối năm Nếu như yếu tố ẩn này chưa được phân tích một cách khoa học và khách quan thì việc nới lỏng dần chính sách tiền tệ và tài khóa có thể dẫn đến hậu quả Đó là lạm phát cao có khả năng rất lớn xuất hiện trở lại vào năm 2013

Lạm phát ở VN có quán tính rất dai dẳng Chống lạm phát ở VN rất khó và quá tốn kém Để đưa lạm phát từ mức hai con số liên tục những năm trước đây về mức lạm phát một con số năm 2012 đòi hỏi một cái giá phải trả quá lớn là sản xuất đình đốn, doanh nghiệp phá sản hàng loạt Các nhóm lợi ích cũng nhanh nhạy đánh hơi cơ hội từ việc Chính phủ áp dụng một số biện pháp hành chính kiểm soát lạm phát trong lĩnh vực tài chính tiền tệ để tiến hành trục lợi Cái giá phải trả của chống lạm phát ở nước ta còn lây lan sang cả lĩnh vực rất nhạy cảm là ngân hàng

Nói như thế để thấy sự hi sinh của cả nền kinh tế là quá lớn nhằm có thể đưa lạm phát trở về một con số Tuy nhiên, để lạm phát nhảy vọt từ một con số lên hai con số thì lại rất nhanh và rất dễ dàng Đây là điều chúng ta gọi là quán tính dai dẳng của lạm phát: chống lạm phát rất khó nhưng để lạm phát quay đầu trở lại với hai con số lại rất nhanh và rất dễ Điều này đòi hỏi Chính phủ cũng phải kiên trì và quyết liệt chống lạm phát tới cùng và luôn quán triệt trong mọi tình huống một tầm nhìn dài hạn trong công cuộc chống lạm phát Chính phủ phải luôn đặt câu hỏi bài toán lợi ích và chi phí Chúng ta sẽ nhận được bao nhiêu bằng việc liên tục nới lỏng lãi suất, bằng việc nới lỏng đầu tư công, bằng việc liên tục các doanh nghiệp độc quyền đòi tăng giá? Và chúng ta phải trả cái giá

Trang 6

bao nhiêu cho cuộc chiến trường kỳ chống lạm phát, nhiều đến mức đôi khi không thể đo lường hết vì có cả yếu tố niềm tin?

Về mặt lý thuyết, cách nay vài tháng, ai cũng có thể mường tượng lạm phát cả năm 2012 chỉ 7-8% và cũng từ đó Ngân hàng Nhà nước bắt đầu có dấu hiệu chủ quan bằng việc dồn dập hạ lãi suất và nới lỏng tiền

tệ Ai cũng có thể dễ dàng nói được câu, rằng “nới lỏng” nhưng phải

“thận trọng” và “chặt chẽ” Nhưng điều quan trọng nhất mà ít ai để ý là việc một ngân hàng trung ương tham gia vào chính sách nới lỏng tiền tệ thì dễ nhưng thoát ra rất khó

Trong môi trường quán tính dai dẳng cao của lạm phát ở VN, việc thoát ra khỏi chính sách nới lỏng tiền tệ càng khó khăn gấp bội phần vì phải thắt chặt tiền tệ mạnh mới đủ liều Các doanh nghiệp mà chủ yếu từ khu vực doanh nghiệp nhà nước và các tập đoàn kinh tế, các ông chủ bất động sản và chứng khoán từ lâu có căn bệnh nghiện dòng tiền rẻ từ lãi suất thấp Nếu bất thình lình thắt chặt mạnh tiền tệ để chống lạm phát, đổ

vỡ sẽ rất lớn

II Thực trạng điều hành chính sách tiền tệ nhằm kiểm soát lạm phát ở Việt Nam

1.Công cụ lãi suất

Ngày 26/2/2010 NHNNVN đã ban hành Thông tư số

07/2010/TTNHNN qui định việc cho vay bằng VND theo lãi suất thỏa thuận của các TCTD đối với khách hàng Việc ban hành Thông tư 07 giúp lãi suất dẫn được trả về cho thị trường, qua đó khơi thông được nguồn vốn tín dụng trung – dài hạn, mang lại nhiều lợi ích cho các TCTD( doanh thu, cơ hội kinh doanh, v.v ) và cho nền kinh tế Đây là dấu hiệu của việc nới lỏng CSTT của NHNNVN trong những tháng đầu năm 2010 Việc tiếp cận vốn của các doanh nghiệp lại phụ thuộc chủ yếu vào bản thân các doanh nghiệp, thúc đẩy các doanh nghiệp sử dụng vốn vay có hiệu quả và bỏ ra chi phí hợp lí cho các khoản vay của mình Bước vào năm 2008, thị trường tài chính phát triển quá nóng do những ảnh hưởng tiêu cực từ các diễn biến phức tạp và hậu quả nặng nề của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu Lãi suất huy động VND liên tục tăng tại các TCTD, nhu cầu về vốn tăng nhanh khiến các TCTD đua nhau tăng lãi suất huy động tiền gửi trước tình hình đó, NHNNVN đã ra công điện số 02/CĐ-NHNN về việc yêu cầu các NHTM không được tăng lãi suất quá 12%/năm Ngày 11/6/2008, NHNNVN điều chỉnh lãi suất từ 12% lên 14%/năm, nhiều NHTM đã điều chỉnh lãi suất ở mức cao 17,5- 18,5%/ năm Càng về cuối năm lãi suất huy động tiền gửi càng mạnh, cho đến tháng 11/2008, mức lãi suất huy động tiền gửi vào mức thấp

Trang 7

nhất, giảm khoảng 9-9,5% so với thời điểm cao nhất của năm (17,5-18,5%/năm)

Năm 2009 với gánh nặng từ cuộc khủng hoảng bên ngoài, gánh nặng từ trách nhiệm mà Chính phủ đặt lên vai với vai trò làm kênh dẫn xuất các chính sách tài khóa, tiền tệ phục vụ tăng tưởng kinh tế, ưu tiên hàng đầu của Nhà nước trong bối cảnh suy thoái chung toàn cầu,

NHNNVN đã có những bước đi thận trọng nhưng khá linh hoạt mặc dù lãi suất cơ bản năm 2009 không biến động nhiều như năm 2008 nhưng lại được giữ khá lâu ở mức 7% khiến cho hoạt động ngân hàng có nhiều lúc trở nên khó khăn khi lãi suất cho vay bị khống chế ở mức trần 10,5% còn lãi suất huy động thì đã lên tới 9,99% nhưng hệ thống ngân hàng vẫn

cố gắng phát huy tốt nhất vai trò của mình là kênh truyền dẫn vốn cho nền kinh tế, đặc biệt là dòng vốn hỗ trợ lãi suất của Chính phủ Đó thực

sự là một nỗ lực không thể phủ nhận của hệ thống NHVN

Để khắc phục những hạn chế, yếu kém về kinh tế vĩ mô, tháng 2/2011 Chính phủ Việt Nam đã có Nghị quyết 11 tập trung “ưu tiên kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội” với 6 gói các biện pháp chính sách, bao gồm: “Thắt chặt chính sách tiền tệ; thắt chặt chính sách tài chính; kìm hãm thâm hụt thương mại; tăng giá điện đồng thời với việc hỗ trợ người nghèo và sử dụng một cơ chế mang tính thị trường hơn đối với việc định giá xăng dầu; tăng cường an sinh xã hội; nâng cao hiệu quả việc phổ biến thông tin chính sách” Triển khai Nghị quyết 11, NHNNVN đã điều chỉnh mục tiêu trần tăng trưởng tín dụng từ 23% xuống còn 20% trong năm, và tăng trưởng nguồn cung tiền (M2) trong năm 2011 từ 21-24% xuống còn 15-16% Cả hai mục tiêu này đều được điều chỉnh thấp hơn khá nhiều so với năm 2010 (năm 2010 tín dụng tăng ở mức 32,4% và M2 tăng 33,3%)

Như vậy, có thể kết luận rằng xu hướng chung trong việc điều chỉnh công cụ lãi suất nhằm chống lại sự gia tăng của CPI qua các năm là sự tăng lên của lãi suất Để giữ cho nền kinh tế không bị thừa cung tiền tệ, NNTW đã liên tục điều chỉnh lãi suất nhằm thu hút nguồn vốn trên nền kinh tế, từ đó giảm cung về tiền tệ, góp phần giảm bớt sức ép tăng giá

2.Hạn mức tín dụng

Bằng công cụ hạn mức tín dụng, NHNNVN quy định cho các NHTM một mức tăng trưởng tín dụng tối đa trong một thời gian nhất định Đây là một biện pháp mạnh, mang tính hành chính, có hiệu lực đáng kể Tuy nhiên, trong nền kinh tế thị trường, cung cầu tín dụng luôn biến động không ngừng Cho nên công cụ này ít được NHNNVN áp dụng

Trang 8

Trong năm 2008, đứng trước nạn lạm phát cao, để kiềm chế lạm phát và ổn định thị trường tiền tệ, NHNNVN đã khống chế tăng trưởng cung tín dụng của các NHTM ở hạn mức không vượt quá 30% Kết quả

là do dư nợ chi ay của toàn hệ thống ngân hàng tăng 25,43%, trong đó tăng trưởng tín dụng bằng VND đạt 27,56% và tăng trưởng tín dụng đạt bằng ngoại tệ đạt 17,61%

Năm 2009, NHNNVN đã đặt ra mục tiêu tăng trưởng mức tín dụng đạt 30% Đến cuối tháng 5 năm 2009, tăng trưởng tín dụng chính thức của chúng ta là tăng 14,01% so với cuối năm 2008 Tính đến 6 tháng đầu năm 2009, tăng trưởng tín dụng đã đạt 17,01% so với cuối năm 2008 Theo văn bản số 193/TB-VCCP của Văn phòng Chính phủ ngày

06/07/2009, trong buổi làm việc với NHNNVN về việc điều hành CSTT

và hoạt động ngân hàng 6 tháng đầu năm và giải pháp thực hiện CSTT 6 tháng cuối năm vào ngày 26/6/2009, Thủ tướng đã yêu cầu giảm mục tiêu tăng trưởng tín dụng từ 30% xuống khoảng27%, điều hành tổng phương diện thanh toán tăng khoảng 25% nhằm phục vụ mục tiêu tăng trưởng kinh tế 5% khống chế lạm phát ở mức một con số trong năm 2009

Tại hội nghị triển khai nhiệm vụ 2010 nhành ngân hàng tổ chức ngày 23/12/2009 tại Hà Nội cho biết tăng trưởng tín dụng năm 2010 của

hệ thống ngân hàng đặt kế hoạch 25% Điểm đáng chú ý là thông tin công bố cho thấy tăng trưởng tín dụng trong tháng 2 đã bắt đầu tăng trở lại , đạt 1,14% trong khi tháng 1 chỉ tăng 0,26%, tháng 12/2009 chỉ tăng 0,72% Trong hai tháng đầu năm 2010, tăng trưởng tín dụng tính chung ước tăng 1,4%; hai tháng cùng kỳ năm 2009 cũng chỉ tăng 1,82% ; cá biệt trong năm 2006 là mức giảm 1,45% Trong năm 2009, tăng trưởng tín dụng bắt đầu tăng mạnh từ tháng 3 và duy trì ở mức cao trong quý II Tóm lại, nhìn chung từ năm 2004 đến nay NHTW thường áp dụng các chính sách điều chỉnh hạn mức tín dụng theo hướng thắt chặt, tức là

hạ thấp mức cung tín dụng, khống chế dư nợ cho vay đầu tư, từ đó giúp tăng dư nợ cho vay của toàn hệ thống ngân hàng, góp phần giảm mức cung ứng tiền tệ trong nền kinh tế

3 Chiết khấu

Trong những tháng đầu năm 2008, các TCTD có khó khăn tạm thời

về khả dụng, NHNNVN đã thực hiện tái cấp vốn cho các NHTM có quy

mô nhỏ Việc NHNNVN hỗ trợ vốn cho các NHTM đã có tác động tích cực trong việc ổn định thị trường tiền tệ Từ quý IV năm 2008, khi tình hình thị trường tiền tệ từng bước đi vào ổn định, nguồn vốn của các

Trang 9

TCTD đã được đảm bảo nên nhu cầu vay tái cấp vốn của các NHTM đã giảm

Trong năm 2009, NHNNVN ra quyết định số 173/QĐ-NHNN thay thế cho quyết định về mức lãi suất tái cấp vốn là 8%/năm và lãi suất chiết khấu 6%/năm Ngày 10/4/2009, NHNNVN ra Quyết định số 837/QĐ-NHNN thay thế cho quyết định số 173/QĐ-837/QĐ-NHNN Cụ thể như sau: lãi suất tái cấp vốn giảm từ 8%/năm xuống còn 7%/năm, lãi suất chiết khấu giảm từ 6%/năm xuống còn 5%/năm Một lần nữa, NHNNVN nâng lãi suất tái cấp vốn tăng từ 75% lên 8%/năm, lãi suất chiết khấu tăng từ 5% lên 6%/năm áp dụng từ 1/12/2009

Nhìn chung qua các năm lãi suất chiết khấu cũng được điều chỉnh theo xu hướng tăng dần Trong điều kiện nền kinh tế đang có những dấu hiệu lạm phát gia tăng thì việc áp dụng tăng lãi suất chiết khấu sẽ làm giảm khả năng cho vay của các NHTM, giảm dư lượng vốn cho vay, từ

đó làm giảm dư nợ cho vay tín dụng của các NHTM

4.Dự trữ bắt buộc

Trước diễn biến phức tạp của CPI trong năm 2007 và đầu tháng 1/2008, NHNNVN đã ban hành các giải pháp nhằm kiểm soát chặt chẽ tốc

độ tăng trưởng tín dụng và tổng phương diện thanh toán của các TCTD Bước đi đầu tiên trong gói các giải pháp thắt chặt tiền tệ là ngày

16/1/2008, NHNNVN ban hành quyết định số 187/2008/QĐ-NHNN điều chỉnh DTBB đối với ngân hàng tăng thêm 1% ở các loại tiền gửi được hành Nếu so sánh với tỷ lệ DTBB tại quyết định 1141/2007 thì mức tăng 1% là không lớn Tuy nhiên, nếu xem xét số tiền mà các TCTD phải hút tiền từ lưu thông về thì không nhỏ, đặc biệt trong bối cảnh thị trường tiền

tệ và chứng khoán đang trong thời điểm cực kỳ nhạy cảm

Đến đầu năm 2009, NHNNVN ra quyết định số 379/QĐ-NHNN ra ngày 24/2/2009 về việc thay đổi DTBB đối với tiền đồng Viêt Nam của các TCTD Trong đó các NHTM Nhà nước, NHTM có 100% vốn nước ngoài, công ty tài chính là 3% trên tổng số dư tiền gửi phải DTBB Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam, NHTM cổ phần nông thôn, Qũy tín dụng nhân dân Trung ương là 1% trên tổng số dư tiền gửi phải DTBB Mục đích của việc điều hành các CSTT nêu trên là nhằm

ổn định thị trường tiền tệ, lãi suất, tỷ giá và hỗ trợ vốn khả dụng cho các TCTD có điều kiện mở rộng huy động vốn và tín dụng có hiệu quả đối với nền kinh tế, kể cả việc cho vay đối với nền kinh tế, kể cả việc vau đối với các dự án đầu tư theo chương trình kích cầu của Chính phủ

Trong tình hình chỉ số lạm phát liên tục tăng, NHNNVN đã điều hành công cụ DTBB một cách thận trọng nhằm ổn định thị trường tiền tệ,

Trang 10

lãi suất, tỷ giá Điều đó góp phần kiềm chế lạm phát khá hiệu quả trong thời gian qua

5 Tỷ giá

Trong năm 2008, NHNNVN đã 3 lần nới lỏng biên độ tỷ giá giao dịch giữa đồng Việt Nam và đôla Mỹ, đưa biên độ tỷ giá từ ± 0,75% lên

±1%, ±2% và ±3% so với thị trường liên ngân hàng

Kế thừa những thành tựu đã đạt được trong những năm 2009, ngày 10/02/2010, NHNNVN đã quyết định điều chỉnh tỷ giá bình quân liên quan ngân hàng, tăng 3,36% từ 17,961 lên 18,544 VND/1USD, theo thông tư cố 03/2010/TTNHNN Mức lãi suất tiền gửi tối đa bằng USD của

tổ chức kinh tế tại TCTD cũng được NHNNVN điều chỉnh xuống còn 1%/ năm Bên cạnh đó, NHNNVN ra quyết định số 74/QĐ-NHNN điều chỉnh giảm mạnh DTBB bằng ngoại tệ từ 7% xuống 4% kể từ kỳ DTBB tháng 2/2010 Sau khi quyết định trên được NHNNVN ban hành, diễn biến tỷ giá đã có nhiều tín hiệu đáng mừng khi tỷ giá thị trường chính thức duy trì

xu hướng ổn định và tỷ giá tự do đang tiến gần sát với tỷ giá chính thức, thậm chí đã có những thời điểm trong tháng 4/2010, tỷ giá trên thị trường

tự do đã thấp hơn cả giá của NHNNVN

6 Hoạt động thị trường mở

Năm 2008, NVTTM đảo chiều so với năm 2007 với tổng số phiên giao dịch là 402, tăng 147 phiên so với năm 2007; doanh số giao dịch đạt 1.036.066 tỷ đồng, tăng 148% so với năm 2007, trong đó doanh số mua chiếm 91,42% và gấp 15 lần so với năm 2007,doanh số bán giảm 4,6% Đặc biệt, mức lãi suất đặt thầu trong một số phiên mua kỳ hạn trong quý I/

2008 ở mức rất cao, có lúc lên tới 40%/năm vì vậy NHNNVN đã áp dụng phương thức đấu thầu khối lượng, lãi suất thống nhất cho tất cả ác kỳ hạn giao dịch để ổn định lãi suất thị trường Diễn biến này phản ánh những biến động bất thường của thị trường tiền tệ năm 2008 và khó khăn về thanh khoản của các TCTD Kết quả giao dịch cụ thể của từng quý thể hiện như sau:

Diễn biến giao dịch năm 2008 theo từng quý

10

Giao

dịch

Qúy I Qúy II Qúy III Qúy IV

S (%) KL(TỶ) (%)S KL(TỶ)

S (

% )

KL(TỶ) (%)S KL(TỶ) Mua

kỳ hạn

2,18 190.214 1,88 445.000 5 283.100 3,6 28,3

bán

hẳn 8,5 1.867 7,75 1.578 4,5 74,896 Bán

có 4,91 12.022

Ngày đăng: 11/03/2015, 09:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w