thực trạng rừng phòng hộ ở nước ta hiện nay và tình trạng xói mòn đất do nước được diễn ra thường xuyên ở các khu vực rừng phòng hộ đầu nguồn ở Việt Nam, và đưa ra một số giải pháp hạn chế hiện tượng xói mòn đất.
Trang 1Thực trạng và giải pháp kỹ thuật trồng rừng phòng hộ chống xòi mòn do
nước.
NỘI DUNG
I ĐẶT VẤN ĐỀ
II MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
III NGUYÊN NHÂN, HẬU QUẢ CỦA XÓI MÒN ĐẤT DO NƯỚC
IV THỰC TRẠNG RỪNG PHÒNG HỘ VÀ XÓI MÒN ĐẤT DO NƯỚC
V GIẢI PHÁP KỸ THUẬT TRỒNG RỪNG PHÒNG HỘ CHỐNG XÓI MÒN DO
NƯỚC
VI KẾT LUẬN
VII TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 3I ĐẶT VẤN ĐỀ
Xói mòn đất là hiện tượng đất bị bào mòn lớp đất bề mặt, làm mất chất dinh dưỡng trong đất, đó là một trong những nguyên nhân chính gây ra một số hiện tượng tiêu cực chư sa mạc hóa, đất trơ sỏi đá,… đất nghèo không có khả năng canh tác
Có 3 loại xói mòn đất: xói mòn do gió, xói mòn do trọng lực và xói mòn do nước trong đó xói mòn do nước là phổ biến hơn cả
Nguyên nhân gây ra hiện tượng xói mòn đất do nước có nhiều như: địa hình dốc, rừng bị phá làm mất lớp thảm bảo vệ trên bề mặt, do canh tác không hợp lý của con người,…
Xói mòn đất không chỉ là hiện tượng phổ biến ở nước ta mà còn ở nhiều nước trên thế giới, đã có nhiều công trình nghiên cứu về xói mòn đất để tìm ra những giải pháp để hạn chế, khắc phục hiện tượng xói mòn đất
Trồng rừng phòng hộ là một trong những biện pháp tiêu biểu được hầu hết những
đề tài nghiên cứu về xói mòn đất đề cập đến Rừng không chỉ có tác dụng về kinh
tế, sinh thái mà còn có tác dụng trpng bảo vệ môi truwowgf, hạn chế sạt lở, xói mòn đất
Kết quả nghiên cứu của Võ Đại Hải (1996) chỉ ra rằng Rừng tự nhiên 3 tầng, độ tàn che 0,7-0,8 ứng với độ dốc 100 thì lượng đất xói mòn là 0,84 tấn/ha (100%); cũng trạng thái Rừng tự nhiên 3 tầng, độ tàn che 0,7-0,8 ứng với độ dốc 150 thì lượng đất xói mòn tăng lên 1,28 tấn/ha (152,4%) Như vậy độ dốc có ảnh hưởng lớn đến lượng mất đất do xói mòn gây ra Điều này đặc biệt quan trọng đối với những khu vực phòng hộ đầu nguồn rất xung yếu Độ dốc càng lớn thì yêu cầu đối với cấu trúc thảm thực vật rừng phòng hộ càng cao
Việt nam là đất nước có diện tích đồi núi, đất dốc rất lớn cho nên việc tiến hành
tìm hiểu “Thực trạng và giải pháp kỹ thuật trồng rừng phòng hộ chống xòi mòn
do nước” là vô cùng cần thiết hiện nay.
Trang 4II MỤC TIÊU, NỘI DUNG TÌM HIỂU
II.1 Mục tiêu
- Tìm hiểu được thực trạng xói mòn đất do nước ở nước ta
- Đưa ra được giải pháp kỹ thuật trồng rừng phòng hộ chống xói mòn
do nước
II.2 nội dung
a tìm hiểu về xói mòn đất do nước
b thực trạng về xói mòn đất và rừng phòng hộ ở nước ta
- tìm hiểu thực trạng xói mòn đất do nước
- thực trạng của rừng phòng hộ nước ta
c giải pháp kỹ thuật trồng rừng phòng hộ chống xói mòn do nước
Trang 5III NGUYÊN NHÂN, HẬU QUẢ CỦA XÓI MÒN ĐẤT DO NƯỚC
III.1 Nguyên nhân của xói mòn đất do nước
- Biến đổi khí hậu làm băng tan gây ra các dòng chảy bào mòn lớp đất trên bề mặt đất
- địa hình dốc, nhiều đồi núi Đây là nguyên nhân quan trọng gây ra hiện tượng xói mòn đất ở nước ta hiện nay
- Do hoạt động sản xuất của con người phá rừng làm nương rẫy làm mất lớp thảm thực vật che phủ trên bề mặt đất Làm cho mất đi lớp chắn hạn chế tốc độ dòng chảy của nước trên đất làm cho quá trình xói mòn đất diễn ra càng nhanh chóng, thuận lợi
- Tùy từng loại đất mà ảnh hưởng của quá trình xói mòn đất do nước
là không giống nhau
- Do sự canh tác bất hợp lý của con người lên đất làm cho đất bị thoái hóa, giảm sự kết dính giữa các phân tử đất nên chũng dễ dàng bị rửa trôi hơn
Trang 6- Tùy từng thảm thực bì trên bề mặt đất ảnh hưởng đến tốc độ xói mòn đất do nước như sau:
Trang 7- lượng mưa ít hay nhiều quyết định hình thành dòng chảy lớn hay nhỏ cũng tác động đến quá trình xói mòn đất
III.2 Hậu quả của xói mòn đất do nước
- Làm đất mất lớp mùn trên bề mặt, gây suy giảm dinh dưỡng trong đất dẫn đến tình trạng thoái hóa đất làm suy giảm khả năng canh tác của đất
- Là một trong những nguyên nhân dẫn đến hiện tượng hoang mạc hóa ở một số vùng đồi núi trọc ở nước ta
- nếu xói mòn đất ở khu vực đất trống không có thảm thực vật che phủ thì lớp đất bề mặt bị bào mòn qua thời gian sẽ lộ những lớp đá
ở bên dưới còn gọi là đá lộ đầu Hiện tượng này làm đất không có khả năng canh tác gây lãng phí đất đai
- Các phần tử đất bị bào mòn sẽ trôi theo dòng chảy xuống dưới những chô trũng như ao, hồ, sông,… dẫn đến hiện tượng bồi tụ, lấp đầy lòng sông sẽ gây nên bão lụt vào mùa mưa cho các vùng ha lưu của sông
Trang 8IV THỰC TRẠNG XÓI MÒN ĐẤT VÀ RỪNG PHÒNG HỘ Ở NƯỚC TA
IV.1 Xói mòn đất do nước
Xói mòn đất do nước thường xảy ra ở các vùng đất dốc, độ dốc của đất càng cao thì xói mòn đất diễn ra càng mạnh
- Quá trình xói mòn đất do nước:
Nước mưa rơi xuống đất có động năng tạo ra lực tách các phần tử đất ra, phá vỡ sự kết dính của các hạt đất
Nơi đất dốc thì các hạt đất bị bắn ra do nước mưa tạo nên sẽ bắn về phía dưới dốc nhiều và xa hơn so với phía trên dốc
Do đó qua nhiều lần tan vỡ, phá kết dính bắn lên và di động xuống phía chân dốc lượng các hạt đất ở phía trên dốc ngày càng ít đi
Khi lượng mưa lớn sẽ xuất hiện các dòng chảy bề mặt, nguyên lý của nước là chảy
từ chỗ cao xuống chỗ thấp Do vậy những hạt đất trên bề mặt sẽ bị bào mòn, động năng của dòng chảy sẽ mang theo những phần tử đất từ chỗ cao bồi tụ xuống chỗ thấp hơn
Dòng chảy của nước có thể tạo ra các rãnh xói, khe xói hoặc bị bóc theo từng lớp nhguwowif ta chia kiểu xói mòn đất do nước gây ra thành các dạng như sau: ) Xói mòn thẳng: là sự xói lở đất, đá mẹ theo những dòng chảy tập trung ăn sâu tạo thánh các rãnh sói và mương xói
.) Xói mòn phẳng : là sự rửa trôi đất một cách tương đối đồng đều trên bề mặt do nước chảy dàn đều, đất bị cuống đi theo từng lớp, phiến
.) Xói mòn theo khe rãnh: là hiện tượng trên bề mặt đất hình thành các rãnh, các khe nơi mà dòng chảy được tập trung Thường thì khi mưa lâu dòng chảy sẽ tập trung thành các dòng nhỏ, các dòng nhỏ gặp nhau sẽ tạo ra những dòng chảy lớn hơn ăn sâu vào bề mặt đất
Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Quang Mỹ và Võ Đại Hải (1996) về ảnh hưởng của độ dốc đến xói mòn trên đất đỏ bazan có trồng chè 1 tuổi nhận thấy rằng:
Độ dốc 33̊ đất bị mất đi 96 tấn/ha/năm,
Độ dốc 83̊ đất bị mất đi 211 tấn/ha/năm,
Trang 9Độ dốc 153̊ đất bị mất đi 305 tấn/ha/năm
Từ kết quả nghiên cứu cho thấy độ dốc địa hình ảnh hưởng trực tiếp đến hiện
tượng xói mòn đất do nước
IV.2 Hiện trạng rừng phòng hộ ở nước ta
Theo dự án Tổng điều tra, kiểm kê rừng toàn quốc giai đoạn 2010- 2015 diện tích rừng của nước ta như sau:
Khối lượng kiểm kê rừng phân theo 3 loại rừng giai đoạn 2010-2015
Đơn vị: ha
Số
tt Hạng mục Tổng diện tíchđất LN đặc dụngRừng phòng hộ Rừng sản xuấtRừng
Tổng cộng 16.246.418 2.198.744 5.512.318 8.535.356
1 Đất có rừng 13.000.205 2.061.675 4.739.236 6.199.294
1.1 Rừng tự nhiên 10.323.078 1.984.587 4.168.117 4.170.374
2 Đất chưa có rừng 3.246.213 137.069 773.082 2.336.062
Tổng diện tích rừng nằm ngoài đất qui hoạch cho lâm nghiệp là: 118.569 ha, trong đó rừng tự nhiên: 25.514 ha, rừng trồng là 93.054 ha
Theo kết quả như bảng trên chúng ta nhận ra rằng diện tích rừng phòng hộ chiếm một vị trí rất quan trọng trong tổng diện tích rừng ở nước ta
Trong đó rừng phòng hộ của rừng tự nhiên cs diện tích lớn hơn nhiều lần so với rừng phòng hộ được trồng như vậy rừng tự nhiên có chức năng phòng hộ lớn hơn rừng trồng tuy nhiên với sự suy giảm về diện tích rừng phòng hộ tự nhiên thì việc trồng rừng phòng hộ là vô cùng cần thiết hiện nay
Còn theo Công bố số liệu diện tích rừng và cây lâu năm có tán che phủ và có tác dụng phòng hộ như cây rừng tính đến ngày 31/12/2012 trong toàn quốc của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn như sau:
Về tổng diện tích
TT Loại rừng Tổng cộng Thuộc quy hoạch 3 loại rừng
Ngoài quy hoạch đất lâm nghiệp Đặc dụng Phòng hộ Sản xuất
Trang 101 Tổng diện tíchrừng 13.862.043 2.021.995 4.675.404 6.964.415 200.230 1.1 Rừng tự nhiên 10.423.844 1.940.309 4.023.040 4.415.855 44.641 1.2 Rừng trồng 3.438.200 81.686 652.364 2.548.561 155.589
a Rừng trồng đãkhép tán 3.039.756 72.219 576.764 2.253.215 137.558
b Rừng trồngchưa khép tán 398.444 9.467 75.600 295.346 18.031
2
Diện tích rừng
để tính độ che
phủ 13.463.600 2.012.528 4.599.803 6.669.070 182.199
Theo kết quả của viện điều tra quy hoạch rừng và định hướng xây dựng rừng phòng hộ đến năm 2010 thì diện tích rừng phòng hộ giai đoạn 2001 – 2010 như dưới bảng sau:
Quy hoạch diện tích lâm phận phòng hộ
cả nước giai đoạn 2001-2010
Hạng mục
Diện tích lâm phận phòng hộ
DT tự nhiên
% so với
DT đất LN
Tổng diện tích tự nhiên cả nước 32.894.39
Diện tích đất quy hoạch cho lâm nghiệp 16.000.00
Tổng diện tích lâm phận phòng hộ 6.000.000 18,2% 37,5%
Phòng hộ đầu nguồn rất xung yếu 3.754.000 11,4% 23,5%
Diện tích đất nông nghiệp, đất khác 16.894.39 51,4%
Trang 11(Nguồn: Cẩm nang ngành lâm nghiệp Bộ NN&PTNT, 2006)
- Rừng phòng hộ ở nước ta đang bị suy giảm về cả diện tích cũng như chất lượng hiện tượng phá rừng, rút lõi rừng đang xảy ra khá phổ biến ở nước ta hiện nay, thậm trí cả rừng phòng hộ đầu nguồn gần công trình quan trọng cũng bị tàn phá như khu rừng phòng hộ đầu nguồn của hồ chưa nước Nước Trong (Quảng Ngãi), rừng phòng hộ đầu nguồn hồ Vực Mấu (Nghệ An), và một số rừng phòng hộ ở một số tỉnh như Bắc Kanj, Đồng Nai,… cũng bị tàn phá
Song song với hiện tượng phá rừng thì việc trồng rừng phòng hộ cũng được tiến hành, trồng lại, trồng mới nhiều khu rừng phòng hộ như ở Quảng Ngãi đã triển khai trồng mới 1.400 ha rừng phòng hộ đầu nguồn tại 4 huyện Tây Trà , Sơn Hà, Sơn Tây và Ba Tơ, Đà Nẵng đà đầu tư trồng mới 627 ha rừng phòng hộ đầu nguồn
ở huyện Hòa Vang và nhiều địa phương tiến hành tốt công tác trồng và bảo vệ tốt rừng phòng hộ đầu nguồn như trồng và phát triển rừng phòng hộ đầu nguồn ở Trạm Tấu (Yên Bái)
- Xói mòn đất là hiện tượng rất phổ biến ở nước ta hiện nay,hầu hết các khu vực đều
có hiện tượng này đặc biệt là những khu vực có địa hình đồi núi cao, nhiều dốc
Cụ thể như ở khu vực Bắc Trung Bộ là một trong những khu vực chịu ảnh hưởng lớn nhất của hiện tượng xói mòn, rửa trôi đất Do có những khó khăn về địa hình như diện tích đồi núi của Bắc Trung bộ lớn (70,4%), diện tích núi đá 5,1%, diện tích đồng bằng thung lũng khoảng 19% Trong đó đất đồi núi dốc trên 253̊ chiểm 48,96%, đất có độ dốc dưới 153̊ chỉ chiếm khoảng 12,58% Do có địa hình có nhiều khó khăn nên khả năng đất bị xói mòn rửa trôi là rất lớn ở khu vực Bắc Trung bộ
- Xói mòn đất rừng phòng hộ bị chặt, đốt, tàn phá
Đây là hiện tượng vẫn còn khá phổ biến ở nước ta Nhiều khu rừng bị chặt phá lấy
gỗ, đốt rừng để lấy đất làm đất canh tác
Trang 12Rừng đầu nguồn của xã Tào Sơn (huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An) bị tàn
phá(nguồn dantri.com)
Khi không có lớp thảm thực vật che phủ bề mặt thì xói mòn, rửa trôi diễn ra rất nhanh chóng, làm đất mất dinh dưỡng, nghèo nàn thậm trí thời gian lâu dài ở diện tích rộng sẽ xuất hiện hiện tượng hoang mạc hóa
V GIẢI PHÁP KỸ THUẬT TRỒNG RỪNG PHÒNG HỘ CHỐNG XÓI MÒN ĐẤT
DO NƯỚC
V.1 Phương hướng và mục đích, yêu cầu của việc chống xói mòn đất do nước
Công tác chống xói mòn đất do nước muốn đạt kết quả tốt cần đạt được những yêu cầu cụ thể sau:
- Ngăn cản lực công phá của giọt mưa tác động trực tiếp lên mặt đất
- hạn chế và tiêu diệt dòng chảy bề mặt, tăng cường lượng nước thấm theo chiều sâu
Trang 13- giảm động năng của nước (của cả nước mưa từ trên xuống và cả động năng dòng chảy của nước trên bề mặt)
- cải tạo đất để tăng cao sức đề kháng của đất đối với hiện tượng xói mòn, rửa trôi
- Có chế độ trồng rừng, canh tác hợp lý trên đất dốc
V.2 Nguyên tắc bố trí đai rừng phòng hộ chống xói mòn đất do nước
- diện tích rừng trồng đủ lớn để có khả năng nuôi dưỡng nguồn nước, cải tạo thiên nhiên và tiểu khí hậu
- phải có bề rộng thích hợp để ngăn cản dòng chảy nhất là ở khu vực có địa hình dốc để phát huy tác dụng giữ đất tối đa
- hướng của đai phải bố trí theo đường đồng mức
- mật độ trồng rừng phải đủ dày để rừng nhanh khép tán, thực hiện chức năng phòng hộ
V.3 giải pháp kỹ thuật trồng rừng phòng hộ chống xói mòn do nước
- Xử lý thực bì: Không phát dọn toàn diện mà thường chỉ xử lý cục bộ ở những khu vực đào hố trồng cây hay xử lý theo rạch Thực bì phát dọn không đốt mà tập trung thành đống nhỏ xếp ngang theo đường đồng mức Cây bụi, cây tái sinh có trên đất rừng cần phải giữ lại để nuôi dưỡng, tạo rừng hỗn loài, đa tầng
Làm đất chỉ tiến hành cục bộ bằng phương pháp đào hố Những nơi áp dụng cơ giới cần chú ý làm đất theo đường đồng mức
Tiêu chuẩn cây con đem trồng, đặc biệt là cây bản địa phải lớn hơn so với trồng rừng bình thường để nhanh chóng tạo lập hoàn cảnh rừng và phát huy chức năng phòng hộ
- Phương thức trồng rừng: hỗn giao theo hàng, theo đám, theo băng (thuần loài trên diện hẹp), có thể hỗn giao giữa cây phòng hộ chính với cây phù trợ hoặc giữa các cây phòng hộ với nhau ở những nơi đất đã bị thoái hoá lâu ngày, tầng đất mỏng
có thể áp dụng trồng rừng theo 2 bước:
Bước 1: Gieo cây cải tạo và che phủ đất như Cốt khí, Đậu triều, Muồng hoa pháo,
…Thời gian kéo dài khoảng 1-3 năm tuỳ tình hình cụ thể; thực hiện bước này để đảm bảo đất trống có một lượng thảm thực vật che phủ nhất định, có thể lựa chọn những loài cây che phủ đất có tác dụng tạo ra những chất có lợi, làm giàu cho đất giúp cho khi trồng cây rừng nên thì chúng sẽ sinh trưởng nhanh hơn
Bước 2: Trồng rừng như đã mô tả ở trên như trồng rừng thành hàng theo đường
đồng mức, trồng rừng hỗn loài theo băng, trồng cây phòng hộ chính với cây phù trợ,…
Mật độ trồng rừng: thường dày hơn so với trồng rừng kinh tế để rừng nhanh khép tán và phát huy chức năng phòng hộ
Kỹ thuật trồng: Khi trồng cần chú ý tạo mặt bằng cục bộ ở hố trồng cây, phần phía dưới dốc nên đắp gờ cao hơn phía trên dốc một chút để giữ nước cho cây Đa số rừng phòng hộ trồng ở những nơi có điệu kiện địa hình có nhiều hạn chế nên ta thực hiện thao tác này để tăng khả năng giữ nước cho gốc cây, đặc biệt là ở các
Trang 14khu vực có địa hình dốc thì nước sẽ nhanh chóng chảy xuống dưới những khu vực
có địa hình thấp hơn, đất khoong có khả năng giữ nước lâu dài cho cây
Với những khu vực đất dốc cần tiến hành một số biện pháp nhằm hạn chế sự xói mòn của lớp đất bề mặt do dòng chảy của nước khi có mưa như xếp đá thành
kè theo đường đồng mức nhằn giữ lại đất do nước mưa rửa trôi ở phía trên, trồng một số loài cây phụ trợ dưới tán rừng để giảm dòng chảy do nước
- Chăm sóc và nuôi dưỡng rừng trồng phòng hộ
Những năm đầu chỉ làm cỏ và xới đất cục bộ quanh gốc cây, không phát luỗng cây bụi kể cả những cây không có giá trị kinh tế
Làm vệ sinh rừng bằng cách loại bỏ những cây sâu bệnh, dây leo
Không áp dụng các biện pháp tỉa cành
Khi rừng trồng đã lớn, các loài cây tái sinh dần dần xuất hiện, cần chú ý tạo điều kiện để những cây này phát triển, dẫn dắt rừng theo hướng hỗn loài, nhiều tầng, độ che phủ cao để tạo sự bền vững cho rừng
- Khoanh nuôi xúc tiến tái sinh rừng phòng hộ có trồng bổ sung
Đối với những vùng núi xa xôi, điều kiện trồng rừng khó khăn thì phương thức này tỏ
ra rất có hiệu quả Có thể áp dụng các điều khoản thích hợp trong Quy phạm phục hồi rừng
bằng khoanh nuôi xúc tiến tái sinh kết hợp trồng bổ sung QPN 21-98
Có 2 mức độ tác động thấp và cao gắn với các biện pháp kỹ thuật cụ thể sau đây
Mức độ tác động thấp: Quản lý bảo vệ là chính, bao gồm các nội dung:
Cấm chăn thả đại gia súc
Đối với các loại rừng dễ cháy cần có biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng Bảo vệ chống chặt phá cây mẹ gieo giống, cây tái sinh
Được phép trồng bổ sung cây công nghiệp lâu năm, cây lấy quả, cây đặc sản có độ tán che phủ như cây rừng do dân tự bỏ vốn đầu tư hoặc vay vốn để đầu tư trồng bổ sung
Mức độ tác động cao: Những nơi có điều kiện cho phép, ngoài các biện pháp tác
động thấp trên đây có thể áp dụng thêm các kỹ thuật sau đây tuỳ điều kiện cụ thể: Phát dọn dây leo tạo điều kiện cho cây tái sinh phát triển
Cuốc xới đất theo rạch hoặc theo đám để giữ hạt và tạo điều kiện cho hạt nảy mầm
Tra dặm hạt hoặc trồng bổ sung các loài cây mục đích phòng hộ (cây gỗ, cây đặc sản) ở các khoảng trống lớn hoặc xen kẽ trong tán rừng
Sửa lại gốc chồi và tỉa chồi: Tuỳ loài cây để lại gốc chồi có độ cao thích hợp, mặt cắt phải nhẵn, có độ nghiêng để thoát nước, không bị toác, bong vỏ
Phát dọn, vun xới xung quanh cây mục đích phòng hộ và cây trồng bổ sung, mỗi năm 1-2 lần trong 2-3 năm đầu
Chặt bỏ cây cong queo, sâu bệnh