1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

skkn giáo dục biện pháp giữ gìn vệ sinh và rèn luyện sức khỏe cho học sinh qua bộ môn sinh học 8

22 2,2K 9

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 627,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ những lí do trên, tôi lựa chọn vấn đề “Giáo dục biện pháp giữ gìn vệsinh và rèn luyện sức khỏe cho học sinh qua bộ môn sinh học 8” làm đề tàinghiên cứu của mình với mong muốn trang bị

Trang 1

A MỞ ĐẦU:

1 Lí do chọn đề tài:

Học sinh THCS ở độ tuổi từ 11 đến 15, đây là thời kì các em bước vào tuổidậy thì Cơ thể có những biến đổi nhanh chống về vóc dáng, cơ quan sinhdục, các đặc điểm giới tính khác,… Các em rất cần được sự quan tâm củacha mẹ, thầy cô giáo dục các biện pháp giữ gìn vệ sinh và rèn luyện sứckhỏe để đảm bảo cho cơ thể phát triển khỏe mạnh có thể tham gia vào cáchoạt động giáo dục khác đạt hiệu quả

Tuy nhiên trong cuộc sống với nhiều bận bịu lo toan không phải cha mẹnào cũng có thể quan tâm chăm sóc tốt cho con mình và không phải đứa trẻnào cũng có thể mạnh dạn chia sẻ những khó khăn gặp phải trong cuộc sốngvới cha mẹ chúng nhất là những vấn đề gặp phải ở tuổi dậy thì Phần lớn trẻtrải qua tuổi dậy thì trong nhà trường chính vì thế vai trò của nhà trường rấtquan trọng trong việc giáo dục biện pháp giữ gìn vệ sinh và rèn luyện sứckhỏe cho trẻ

Trong chương trình giáo dục THCS, bộ môn sinh học 8 là môn học rấtquan trọng Mục đích chung của môn “Cơ thể người và vệ sinh” là cung cấpnhững hiểu biết khoa học về đặc điểm cấu tạo và mọi hoạt động sống củacon người Trên cơ sở đó, đề ra các biện pháp vệ sinh, rèn luyện thân thể,bảo vệ và tăng cường sức khỏe, nâng cao năng suất, hiệu quả trong học tập,góp phần thực hiện mục tiêu đào tạo những con người lao động linh hoạt,năng động, sáng tạo, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của đất nước Trong thực tiễn giảng dạy, việc giáo dục biện pháp giữ gìn vệ sinh và rènluyện sức khỏe được thực hiện bằng nhiều phương pháp khác nhau Tuynhiên, hiệu quả giáo dục chưa cao do nhiều nguyên nhân khác nhau Mộttrong những nguyên nhân đó là giáo viên chưa đánh giá đúng tầm quantrọng của các tiết “ vệ sinh” và sử dụng các phương pháp giảng dạy chưahợp lí

Từ những lí do trên, tôi lựa chọn vấn đề “Giáo dục biện pháp giữ gìn vệsinh và rèn luyện sức khỏe cho học sinh qua bộ môn sinh học 8” làm đề tàinghiên cứu của mình với mong muốn trang bị cho học sinh một số biện phápgiữ gìn vệ sinh và rèn luyện sức khỏe nhằm nâng cao hiệu quả của công tácnày

GIÁO DỤC BIỆN PHÁP GIỮ GÌN VỆ SINH VÀ RÈN LUYỆN SỨC

KHỎE CHO HỌC SINH QUA BỘ MÔN SINH HỌC 8

Trang 2

2 Đối tượng nghiên cứu:

- Một số biện pháp giáo dục giữ gìn vệ sinh và rèn luyện sức khỏe cho họcsinh qua môn sinh học 8

4 Phương pháp nghiên cứu:

a Nghiên cứu tài liệu:

- Những vấn đề chung về đổi mới giáo dục Trung học cơ sở môn Sinhhọc

- Một số vấn đề đổi mới phương pháp dạy học môn Sinh học Trung học

cơ sở

- Tài liệu bồi dưỡng giáo viên dạy sách giáo khoa lớp 8 môn Sinh học

- Sách giáo khoa, sách giáo viên Sinh học 8

- Sách cơ bản và nâng cao Sinh học 8

b Điều tra (dự giờ, thực nghiệm, đàm thoại, kiểm tra, đối chiếu )

- Từ thực tế giảng dạy của bản thân và đồng nghiệp

- Nguyên nhân giáo dục các biện pháp vệ sinh và rèn luyện sức khỏe đạtkết quả chưa cao

- So sánh kết quả giáo dục với các phương pháp khác nhau, rút kinhnghiệm tìm ra phương pháp dẫn đến kết quả tốt nhất

B Nội dung :

1 Cơ sở lí luận:

Chỉ thị số 48-TTG/VG ngày 02 tháng 06 năm 1969 của Thủ tướng Chínhphủ về việc giữ gìn và nâng cao sức khỏe của học sinh nêu rõ: “Giữ gìn vànâng cao sức khỏe của học sinh là một vấn đề lớn, phải có phương hướng và

kế hoạch giải quyết toàn diện, và trong một thời gian lâu dài, trên cơ sở tìmhiểu đặc điểm lứa tuổi, đặc điểm sinh hoạt và phải căn cứ vào khả năng thực

tế của nền kinh tế nước ta.”

Quả thực đúng như vậy, giữ gìn và nâng cao sức khỏe của học sinh là mộtvấn đề lớn, xã hội chúng ta đang ngày càng phát triển thì nhiệm vụ giữ gìn

Trang 3

và nâng cao sức khỏe cho học sinh là một vấn đề hết sức quan trọng, đòi hỏi

sự chung tay của nhà trường gia đình và xã hội

Hơn ai hết, cán bộ giáo viên, những người làm công tác trong ngành giáodục, phải luôn phấn đấu tìm ra những giải pháp tốt nhất nâng cao chất lượnggiáo dục toàn diện cho học sinh

2 Cơ sở thực tiễn:

Hiện nay công tác giữ gìn vệ sinh và chăm sóc sức khỏe học sinh trongtrường học rất được quan tâm, đạt nhiều hiệu quả như: Nhà trường thườngxuyên liên hệ với cán bộ y tế xã, phường, tổ chức khám sức khỏe định kì chohọc sinh; tổ chức tuyên truyền về các chủ đề giữ gìn vệ sinh và rèn luyện sứckhỏe Trang bị nhà vệ sinh sạch sẽ, công tác thể dục thể thao rèn luyện sứckhỏe được chú trọng…

Tuy nhiên, so với yêu cầu về chất lượng giáo dục, việc giữ gìn vệ sinh vàrèn luyện sức khỏe của học sinh còn có nhiều tồn tại: tình trạng bệnh, tật họcđường đang báo động Đặc biệt là tật cận thị học đường ngày càng gia tăng Theo thống kê ở các thành phố lớn hiện nay tỉ lệ học sinh mắc tật cận thịchiếm tỉ lệ 25-30% Ngoài ra còn các bệnh, tật khác: cong vẹo cột sống,bệnh răng miệng, giun sán… Bên cạnh đó cùng với sự phát triển của xã hội,giới trẻ trong đó có không ít là học sinh, sinh viên có lối sống thực dụng, yêuđương sớm, sống thử và đặc biệt tình trạng nạo phá thai ảnh hưởng nghiêmtrọng đến sức khỏe cũng đã xảy ra ở học sinh THCS và học sinh THPT phổthông

Bệnh, tật học đường hoàn toàn có thể phòng tránh nếu được quan tâmgiáo dục các biện pháp giữ gìn vệ sinh và rèn luyện sức khỏe cho học sinh

Ở lứa tuổi này học sinh cần được định hướng một cách đúng đắn giúp các

em không bị chệch hướng, ảnh hưởng đến sự phát triển sau này

Học sinh lớp 8 ở độ tuổi 13-14, tuổi đang bước vào giai đoạn dậy thì, giaiđoạn chuyển từ tuổi thiếu niên sang thanh niên Cơ thể phát triển mạnh vềkích thước và thể lực, đồng thời có những chuyển biến mạnh về sinh lí.Chính những thay đổi đó ở các em là những vấn đề kích thích nhu cầu tìmhiểu về bản thân mình Đồng thời sự phát triển cơ bắp khiến các em ham

Trang 4

thích được hoạt động, tính năng động cao Tuy nhiên mức độ phát triển của

hệ thần kinh chưa đạt đến hoàn thiện, do đó các em nhanh chống mệt mỏi,

dễ hưng phấn xong cũng dễ chuyển sang trạng thái ức chế Do đó việc vậndụng kiến thức sinh học vào việc giữ gìn vệ sinh và rèn luyện sức khỏe làmột điều rất cần thiết

Môn sinh học trong nhà trường THCS có nhiều đóng góp rõ rệt và hiệuquả trong giáo dục kĩ năng sống cho học sinh về các kĩ năng giữ gìn vệ sinh

cơ thể, phòng chống bệnh tật, sơ cấp cứu đặc biệt là giáo dục giới tính, giáodục sức khỏe sinh sản vị thành niên và tình dục an toàn

3 Nội dung vấn đề :

3.1 Vấn đề đặt ra:

Cấu trúc chương trình sinh học 8 thể hiện tính logic, khoa học cao Sau khinêu qua ý nghĩa, tầm quan trọng của từng hệ cơ quan trong hoạt động sốngchung của cơ thể, sẽ tiếp tục đi vào nghiên cứu cấu tạo và hoạt động sinh lícủa các cơ quan trong hệ cơ quan Cuối cùng, nêu lên các vấn đề vệ sinh dựatrên những hiểu biết về cấu tạo và chức năng của cơ quan trong hệ cơ quanhoặc ứng dụng vào đời sống, học tập và lao động Các biện pháp giữ gìn vệsinh sẽ không có cơ sở khoa học vững chắc nếu thiếu sự hiểu biết về giảiphẩu, sinh lí

Thông qua từng bài học của từng chương, giáo viên lồng ghép giáo dụcbiện pháp giữ gìn vệ sinh và rèn luyện sức khỏe đối với từng cơ quan, hệ cơquan của cơ thể Từ đó, giúp các em đề ra các biện pháp giữ gìn vệ sinh, bảo

vệ sức khỏe, phòng chống các loại bệnh tật học đường tương ứng

Tuy nhiên trong quá trình nghiên cứu đề tài tôi nhận thấy :

- Về phía giáo viên:

+ Chưa nghiên cứu sâu khi dạy các bài vệ sinh

+ Đa số giáo viên lựa chọn phương pháp vấn đáp thông thường khi dạycác bài vệ sinh Ví dụ như:

 Em hãy kể tên các bệnh về …….mà em biết ?

 Em hãy cho biết các tác nhân chủ yếu gây hại cho hệ ………

 Em hãy nêu các biện pháp phòng chống bệnh cho hệ …………

Trang 5

Với các câu hỏi như thế học sinh có thể trả lời theo sách giáo khoa, chưaphát huy được tính tích cực nên chưa khắc sâu kiến thức cho học sinh

+ Phần “Câu hỏi và bài tập củng cố”, hay phần “Hướng dẫn học sinh tựhọc” chưa giao bài tập rèn luyện vệ sinh

+ Giáo viên truyền thụ kiến thức một chiều, thiếu sự kiểm tra, động viên,uốn nắn thường xuyên, nên chưa giúp học tạo thành các thói quen, tập quán,lối sống tốt

- Cập nhật các kiến thức về bệnh, tật học đường Đặc biệt chú ý các bệnh,tật có thể xảy ra ở học sinh THCS để liên hệ giáo dục trong quá trình giảngdạy

- Giảng dạy bằng phương pháp trực quan kết hợp vấn đáp Chuẩn bị tưliệu, tranh ảnh, vận dụng công nghệ thông tin thiết kế các tiết học về vệ sinh

- Tăng cường phương pháp luyện tập, kiểm tra, đánh giá

3.2 Giải pháp chứng minh vấn đề được giải quyết:

a Cập nhật các kiến thức về bệnh, tật học đường có liên quan:

Trong quá trình giảng dạy các kiến thức về vệ sinh, giáo viên phải xácđịnh được tầm quan trọng của các bài vệ sinh Thông qua các bài học nàyhọc sinh được trang bị rất nhiều kiến thức về các biện pháp giữ gìn vệ sinh

và rèn luyện sức khỏe Vì thế trong phần thiết kế tiết dạy giáo viên phảinghiên cứu kĩ thông tin, cập nhất các kiến thức về bệnh, tật học đường cóliên quan từ tài liệu, sách báo, các trang web Qua đó giáo viên sưu tầmtranh ảnh, tư liệu phục vụ cho tiết học sinh động hơn

Trang 6

Bệnh, tật học đường là những bệnh, tật mà học sinh mắc phải có liên quanđến các yếu tố vệ sinh học đường Các nhà khoa học xếp cận thị, cong vẹocột sống, rối nhiễu tâm lí vào những bệnh tật này.

Nguyên nhân làm cho số lượng học sinh mắc bệnh, tật học đường gia tăng

là do chế độ học tập căng thẳng, quá tải, yếu tố vệ sinh trong học tập chưathật sự được cải thiện, hoạt động chăm sóc sức khoẻ và dự phòng bệnh tậttrong nhà trường vẫn còn nhiều hạn chế

Do áp lực của chương trình trong các nhà trường và kỳ vọng của gia đình,học sinh phải dành phần lớn thời gian trong ngày cho học tập: Học chínhkhoá, ngoại khoá ở trường, học thêm ở các địa điểm tổ chức dạy thêm, học

và làm bài tập ở nhà

Thời gian học tập kéo dài kết hợp với những hoạt động vui chơi giải trí ítvận động như xem tivi, chơi trò chơi điện tử, đọc truyện, sách khiến chohọc sinh không còn nhiều thời gian cho nghỉ ngơi, hoạt động rèn luyện thểlực, hoạt động giao tiếp, thư giãn tinh thần Điều đó đã gây căng thẳng cho

hệ thống thị giác, cho hệ cơ xương, hệ thần kinh của trẻ Song song với gánhnặng học tập, điều kiện học tập của học sinh ở trường, ở nhà còn có nhiềubất cập Chiếu sáng không đảm bảo, bàn ghế không phù hợp càng làm tăngthêm gánh nặng đối với cơ thể non yếu của các em

* Khi dạy chương II Vận động: chúng ta phải tìm hiểu kiến thức vệ sinh

về bệnh cong vẹo cột sống và phải trang bị cho học sinh các biện phápphòng chống các bệnh về cong vẹo cột sống và rèn luyện sức khỏe để hệ cơxương phát triển khỏe mạnh

- Nguyên nhân: thường là do tư thế ngồi học không đúng, ngồi lệch

nghiêng một bên hoặc do xách cặp quá nặng lúc đi học Một nguyên nhân nữa là do bàn ghế học không đúng kích thước, độ chênh lệch giữa bàn ghế quá nhiều khiến trẻ phải cúi khom người khi ngồi một thời gian dài, dẫn đến

gù, vẹo cột sống

- Hậu quả: Trẻ bị vẹo cột sống sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển cơ thể, chậmphát triển về chiều cao, về lâu dài có thể gây biến dạng khung ngực, khung chậu, ảnh hưởng đến tim - phổi

lý trị liệu kết hợp thể dục liệu pháp (bơi lội, đu xà) và tùy theo mức độ nặng nhẹ của độ cong vẹo cột sống mà có thể dùng áo nẹp cột sống để hỗ trợ hay phải can thiệp phẫu thuật chỉnh hình

- Biện pháp phòng ngừa: Giáo viên hướng dẫn ngồi học ngay ngắn, đúng

tư thế (ngồi thẳng lưng, 2 bàn chân đặt xuống sàn, hai khuỷu tay đặt thoải

Trang 7

mái trên mặt bàn, không rụt cổ, không để vở chéo 25 độ khi viết) Không cho trẻ mang cặp quá nặng

Ảnh chụp X- quang nạn nhân bị cong vẹo cột sống Không còn lo bị cong vẹo cột sống

Kiến thức về bệnh học đường chúng ta có thể tìm kiếm trên các trang web

“Bệnh, tật học đường”, “ Y học - sức khỏe”…

* Đối với bài “Vệ sinh mắt”: chúng ta phải tìm hiểu các kiến thức về tật

cận thị học đường nhằm trang bị cho học sinh các kiến thức về phòng chốngtật cận thị

Theo thống kê, tỷ lệ cận thị trong học sinh ở những thành phố lớn khoảng

25 - 30% Cận thị xuất hiện nhiều nhất so với các tật khúc xạ khác (viễn thị,loạn thị) Cho đến nay, chưa có số liệu thống kê tình hình bệnh tật của họcsinh trên phạm vi toàn quốc.Nhưng qua kết quả nghiên cứu của các đề tài

Trang 8

khoa học tiến hành ở các địa phương, tỷ lệ mắc tật cận thị ở học sinh ViệtNam tăng lên ở mức báo động

- Nguyên nhân: Môi trường có ảnh hưởng đến tật khúc xạ mắc phải như

sau:

+ Ở trường, học sinh học nhiều trong môi trường thiếu ánh sáng, đọc sáchvới cự ly gần trong thời gian dài, bàn ghế học sinh không phù hợp với chiềucao học sinh Bảng sơn màu không tương phản với màu phấn viết, hoặc bịchói sáng

+ Ở nhà, các em thường đọc sách hoặc truyện trong tư thế nằm ngửa, đọc

ở những nơi không đủ ánh sáng, đọc những sách truyện có cỡ chữ nhỏ, giấy

mờ hoặc giấy quá bóng Xem ti vi, chơi vi tính nhiều giờ liên tục hoặc với

cự ly gần

- Biện pháp phòng tránh: khi học hoặc làm việc cần phải trong môi trường

có ánh sáng đầy đủ và phân bố đều, tư thế tự nhiên thoải mái, bàn học phảihơi dốc sao cho mặt sách hay vở tạo với trục thị giác một góc vuông, khoảngcách giữa mắt với bàn khoảng 30 cm, giấy không được quá bóng láng Trẻtiếp xúc với máy vi tính thì nên giữ khoảng cách giữa mắt và máy khoảng 50đến 70 cm và nên đặt máy dưới tầm mắt khoảng 10 đến 20 cm

* Khi dạy chương XI Sinh sản: Chúng ta phải trang bị cho học sinh

những kiến thức cơ bản về sức khỏe sinh sản tuổi vị thành niên, đây lànhững vấn đề hết sức nóng bỏng hiện nay Tình trạng nạo phá thai ở lứa tuốihọc đường gây ra những hậu quả hết sức nghiêm trọng cho sức khỏe vàtương lai của các em

Thông qua bài “Cơ sở khoa học của các biện pháp tránh thai” bên cạnhviệc trang bị kiến thức, giáo viên hết sức quan tâm đến việc giúp học sinhvận dụng các kiến thức đã học vào đới sống hình thành các kĩ năng sống chobản thân như:

 Kĩ năng ra quyết định: Tự xác định cho mình một biện pháp tránhthai

 Kĩ năng từ chối: từ chối những lời rủ rê quan hệ tình dục sớm dẫn đếnmang thai ngoài ý muốn

Trang 9

 Kĩ năng ứng phó với các tình huống ép buộc, dụ dỗ, lừa gạt quan hệtình dục.

Về mặt sinh học, hệ sinh dục của các em đang trên đà phát triển mạnh vàbắt đầu có khả năng sinh sản, những ham muốn về tình dục nảy sinh là điềubình thường Nhiều em bắt đầu khám phá khả năng tình dục của mình bằngnhiều cách

- Nguyên nhân: Hiện nay do tác động của nhiều yếu tố, trong đó có vănhóa và dinh dưỡng, tuổi phát dục của con người ngày càng thấp Nhiều embước vào đời sống tình dục khi còn rất trẻ Lí do các em đưa ra để biện minhcho hành vi quan hệ tình dục khi còn rất trẻ của mình là: tò mò muốn khámphá, thử nghiệm những điều mới lạ, do áp lực từ phía bạn trai/gái, bạn bè lôikéo, ảnh hưởng của sách báo, phim ảnh,

- Những hệ quả của việc quan hệ tình dục ở tuổi vị thành niên:

 Nguy cơ mang thai ngoài ý muốn

 Lây nhiễm các bệnh qua đường tình dục, mặc cảm vì mất trinh tiết…

là những gì vị thành niên, nhất là các bạn gái có thể gặp phải

 Khi đã mang thai ngoài ý muốn, các em gái sẽ phải đứng trước hai sựlựa chọn, hoặc là phải cưới ngay, hoặc là phải phá thai Nếu giữ thailại và cưới, các “ bà mẹ trẻ” có thể gặp nguy cơ: nhiễm độ thai nghén,tổn thương tử cung, âm hộ do sinh con khi cơ thể mẹ phát triển chưatoàn diện; suy nhược toàn thân sau khi sinh, nguy cơ tử vong ở các mẹ

và con, và nhất là những tổn thương về mặt tinh thần thì khó mà khắcphục được

 Nếu các em phải phá thai, những nguy cơ không kém phần nguy hiểm

có thể xẩy đến là chảy máu, nhiễm trùng, thủng tử cung, rong huyết,

vô sinh biến cố bất thường trong lần sinh sau này… Ngoài ra, có

Trang 10

những tổn thương về mặt tinh thần gây ra bởi dư luận xã hội, sự dằnvặt của gia đình có thể khiến bạn trẻ cảm thấy mặc cảm, mất tự tinvào bản thân và khó hòa nhập trở lại cộng đồng.

b Sử dụng phương pháp trực quan kết hợp vấn đáp khi giảng dạy các kiến thức về vệ sinh:

Sự thành công của việc dạy học phụ thuộc rất nhiều phương pháp dạy họcđược giáo viên lựa chọn sao cho phù hợp với từng đối tượng học sinh

Cùng một nội dung nhưng tùy thuộc vào phương pháp sử dụng trong dạyhọc kết quả sẽ khác nhau về mức độ lĩnh hội các tri thức, về sự phát triển trítuệ cùng các kỹ năng tư duy, về giáo dục đạo đức, về sự chuyển biến thái độhành vi

Phương pháp đặc thù của bộ môn sinh học là phương pháp trực quan vàthực hành Đối với việc vận dụng kiến thức sinh học vào việc giữ vệ sinh vàrèn luyện sức khỏe phương pháp này sẽ giúp học sinh phát huy được tính tựgiác, tính tích cực, tự lực, chủ động, sáng tạo, học sinh tự giành kiến thứcdưới sự tổ chức và chỉ đạo của giáo viên Bên cạnh đó trong quá trình sửdụng phương pháp trực quan nếu giáo viên kết hợp linh hoạt với phươngpháp vấn đáp sẽ tăng hiệu quả lĩnh hội kiến thức lên rất nhiều lần Kiến thứcthu nhận sẽ trở thành tài sản riêng của các em Vì các em được tri giác sâuhơn nên giúp các em hiểu bài hơn, nắm vững kiến thức hơn từ đó vận dụngvào cuộc sống dễ dàng hơn

Đặc biệt hơn, trong khi vận dụng phương pháp trực quan kết hợp với vấnđáp trong phần dạy kiến thức về vệ sinh sẽ giúp chúng ta giải quyết việc sửdụng phương pháp vấn đáp đơn thuần bằng việc lặp lại nhiều lần các câu hỏi

Trang 11

quen thuộc gây nhàm chán Từ đó khắc sâu kiến thức cho học sinh, cũngnhư rèn được kĩ năng ra quyết định vận dụng các biện pháp vệ sinh vào cuộcsống giúp học sinh hình thành các thói quen, tập quán nếp sống tốt, có lợicho bản thân.

Để có thể cung cấp tranh ảnh, tư liệu cho học sinh quan sát, chúng ta phảisưu tầm hoặc chụp hình, quay phim tạo tranh ảnh, tư liệu về các chủ đề cóliên quan đến nội dung các bài, các chương đang giảng dạy

* Ví dụ khi dạy về bài “ Vệ sinh mắt”:

- Giáo viên chi u tranh nh ho c treo tranh nh v tình tr ng c n th h c đ ng ảnh hoặc treo tranh ảnh về tình trạng cận thị học đường ặc treo tranh ảnh về tình trạng cận thị học đường ảnh hoặc treo tranh ảnh về tình trạng cận thị học đường ề tình trạng cận thị học đường ạng cận thị học đường ận thị học đường ị học đường ọc đường ường

Ngày đăng: 11/03/2015, 08:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w