1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

skkn Một số biện pháp dạy học phát huy tính tích cực của HS lớp 1 môn toán

17 3,8K 14
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 139,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ vị trí và nhiệm vụ vô cùng quan trọng của môn toán vấn đề đặt ra cho người giáo viên là làm thế nào để giờ dạy - học toán có hiệu quả cao, học sinh được phát huy tính tích cực, chủ độ

Trang 1

I ĐẶT VẤN ĐỀ

1 Tên đề tài:

“Một số biện pháp dạy học phát huy tính tích cực chủ động của học sinh lớp 1 qua môn toán”.

2 Lý do chọn đề tài:

Đất nước ta đang trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, cần có những con người có tri thức và trí tuệ, có khả năng nắm bắt khoa học kĩ thuật

Để có những con người như thế chỉ có con đường giáo dục Bậc tiểu học là bậc học nền tảng nhằm hình thành cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn lâu dài về tri thức, trí tuệ thẩm mĩ, tạo tiền đề cho việc học tập tiếp theo và phát triển toàn diện

Mỗi môn học đều có vai trò quan trọng góp phần vào việc hình thành nhân cách học sinh Trong đó môn toán ở lớp 1 giữ vai trò hết sức quan trọng, bởi toán lớp 1 cung cấp cho các em những kiến thức đầu tiên, là cơ sở cho việc phát triển kỹ năng tính toán và tư duy, giúp học sinh nhanh chóng hoàn thiện mình Hiện nay, chương trình toán tiểu học cao đòi hỏi học sinh đạt được chuẩn về kiến thức, kỹ năng Ngoài ra học sinh còn được tăng cường kiến thức, kỹ năng vào buổi 2 Điều đó rất khó khăn, với yêu cầu là học sinh học tập một cách chủ động, tích cực trong lĩnh hội tri thức, tự phán đoán, giải quyết các bài tập Giáo viên chỉ là người hướng dẫn, không giảng giải nhiều Đối tượng học sinh không đồng đều, có học sinh mồ côi, học sinh có hoàn cảnh khó khăn, học sinh khuyết tật học hòa nhập, nhận thức chậm, gia đình ít quan tâm, thêm vào đó là học sinh lớp 1 bước đầu chuyển từ chơi sang học Đòi hỏi giáo viên không chỉ dạy mà còn phải dỗ Kết quả về kiến thức, kỹ năng cơ bản đạt yêu cầu trở lên

Toán học góp phần quan trọng trong việc đặt nền móng hình thành và phát triển nhân cách học sinh Đặc biệt, môn toán ở tiểu học bước đầu hình thành và phát triển năng lực trừu tượng hoá, khái quát hoá, kích thích trí tưởng tượng, góp phần rèn luyện phương pháp học tập và làm việc khoa học, linh hoạt sáng tạo của học sinh

Trang 2

Từ vị trí và nhiệm vụ vô cùng quan trọng của môn toán vấn đề đặt ra cho người giáo viên là làm thế nào để giờ dạy - học toán có hiệu quả cao, học sinh được phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo trong việc chiếm lĩnh kiến

thức toán học ở lớp 1 Chính vì vậy tôi đã chọn đề tài: “Một số biện pháp dạy học phát huy tính tích cực chủ động của học sinh lớp 1 qua môn toán”.

3 Mục đích nghiên cứu:

* Bản chất:

Dạy học môn Toán ở lớp 1 nhằm giúp học sinh: Bước đầu có một số

kiến thức cơ bản, đơn giản, thiết thực về phép đếm, về các số tự nhiên trong phạm vi 100, về độ dài và đo độ dài trong phạm vi 20, về tuần lễ và ngày trong tuần, về giờ đúng trên mặt đồng hồ; về một số hình học (Đoạn thẳng, điểm, hình vuông, hình tam giác, hình tròn); về bài toán có lời văn

Hình thành và rèn luyện các kĩ năng thực hành đọc, viết, đếm, so sánh các số trong phạm vi 100; cộng trừ và không nhớ trong phạm vi 100; đo và ước lượng độ dài đoạn thẳng (với các số đo là số tự nhiên trong phạm vi 20 cm) Nhận biết hình vuông, hình tam giác, hình tròn, đoạn thẳng, điểm, vẽ điểm, đoạn thẳng).Giải một số dạng bài toán đơn về cộng trừ bước đầu biết biểu đạt bằng lời, bằng kí hiệu một số nội dung đơn giản của bài học và bài thực hành, tập so sánh, phân tích, tổng hợp, trừu tượng hoá, khái quát hoá trong phạm vi của những nội dung có nhiều quan hệ với đời sống thực tế của học sinh

Rèn kỹ năng chăm học, tự tin, cẩn thận ham hiểu biết và học sinh có

hứng thú học toán

Là một người giáo viên trực tiếp dạy lớp 1 và đặc biệt là dạy môn toán, Thực hiện chương trình đổi mới giáo dục toán học lớp 1 nói riêng ở tiểu học nói chung Tôi rất trăn trở và suy nghĩ nhiều để học sinh làm sao làm được các phép tính cộng, trừ mà việc giải toán có lời văn thì càng khó hơn đối với học sinh lớp 1 nên tôi đi sâu về nghiên cứu :“Một số biện pháp dạy học

Trang 3

phát huy tính tích cực chủ động của học sinh lớp 1 qua môn toán”.

.* Phạm vi, đối tượng, thời gian thực hiện đề tài:

- Thời gian:Tôi thực hiện đề tài này từ tháng 9- 2014 đến tháng 12-2014

- Đối tượng: Học sinh tiểu học

- Nội dung: “Một số biện pháp dạy học phát huy tính tích cực chủ

động của học sinh lớp 1 qua môn toán”.

* Khảo sát thực tế khi chưa thực hiện đề tài:

- Ngay từ đầu năm học tôi đã tiến hành tìm hiểu và khảo sát thực tế 30

em học sinh lớp 1A trong trường Tôi nhận thấy: Học sinh trường tôi hầu hết

bố mẹ làm nghề nông, chiếm tới 88% Một số ít bố mẹ buôn bán và đi làm ăn

xa, chiếm 12% Nên việc giúp đỡ, nhắc nhở kèm cặp cho các em trong học tập là rất hạn chế Nhất là việc học Toán chưa được gia đình và các em quan tâm tìm hiểu Hơn nữa với đặc điểm tâm lí lứa tuổi Tiểu học, các em còn nhỏ, nói trước quên sau, suy nghĩ còn non nớt, hay bắt trước và rất hiếu động Nhiều cha mẹ học sinh không biết hướng dẫn kiến thức Toán khi các em muốn hỏi han, trao đổi Kết quả khảo sát thực tế:

Lớp Sĩ số

Hoàn thành Chưa hoàn thành Thái độ

thích

Từ cơ sở khoa học và thực tế trên tôi thấy rằng, để nâng cao hiệu quả tiết Toán trong nhà trường cần phải tiến hành nhiều biện pháp Tôi đã mạnh dạn tiến hành một số biện pháp cụ thể với học sinh lớp 1 trường tôi

II NHỮNG BIỆN PHÁP ĐỔI MỚI ĐỂ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

Biện pháp 1: Tìm hiểu mục tiêu chương trình toán lớp 1:

Chương trình gồm 35 tuần (4 tiết / 1 tuần x 35 = 140 tiết)

Số học: học sinh biết đọc viết đếm các số đến 100, làm tính cộng, tính trừ không nhớ trong phạm vi 100

Trang 4

Đại lượng, đo đại lượng: học sinh biết đo độ dài trong phạm vi 20 Yếu tố hình học: Học sinh nắm được về điểm, đoạn thẳng, hình vuông, hình tam giác, hình tròn

Giải bài toán có lời văn: Biết giải bài toán đơn về cộng, trừ

Yêu cầu với mức độ tư duy còn thấp, quá trình nhận thức môn toán phải đi từ cụ thể, kỹ năng phân tích tổng hợp còn yếu hầu như chỉ dựa vào hình ảnh có sẵn trước mắt Vì thế chương trình toán lớp 1 chỉ tâp trung:

+ Học xong toán lớp 1 học sinh bước đầu có kiến thức cơ bản, đơn giản thiết thực về phép đếm, về số lượng, về số tự nhiên trong phạm vi 100,

về phép cộng và phép trừ không nhớ trong phạm vi 100, về độ dài, đo độ dài trong phạm vi 20, tuần lễ, ngày trong tuần, đọc giờ đúng trên mặt đồng hồ, về một số hình học (đoạn thẳng, điểm, hình vuông, tròn, hình tam giác) giải bài toán có lời văn

+ Hình thành và rèn luyện kĩ năng thực hành: đọc, viết, đếm, so sánh các

số trong phạm vi 100, cộng trừ không nhớ trong phạm vi 100, đo ước lượng

độ dài các đoạn thẳng (với các số tự nhiên trong phạm vi 20), nhận biết hình vuông, hình tròn, hình tam giác, điểm đoạn thẳng, giải các bài toán đơn về cộng, trừ Bước đầu biết diễn đạt bài toán bằng lời, bằng kí hiệu một số nội dung đơn giản của bài học và bài tập thực hành, tập dượt so sánh, phân tích tổng hợp trừu tượng hoá, khái quát hoá trong phạm vi của những nội dung có nhiều quan hệ với đời sống thực tế học sinh

Biện pháp 2: Tìm hiểu những đặc điểm tâm lý của trẻ vào lớp 1 Ngày nay, đa số các bậc cha mẹ quan tâm đến việc chuẩn bị những điều kiện cần thiết để con học tốt ở lớp 1 Việc giúp đỡ của cha mẹ cho con sẽ có hiệu quả hơn nếu các bậc phụ huynh biết rõ một số đặc điểm tâm lý chi phối hoạt động học tập của trẻ Khả năng kiểm soát, sự tập trung chú ý của trẻ còn yếu và thiếu tính bền vững, dễ bị phân tán bởi những âm thanh, sự kiện khác ngoài nội dung học tập Trẻ thường quan tâm chú ý đến những môn học, giờ học có đồ dùng trực quan sinh động, hấp dẫn có nhiều tranh ảnh, trò chơi hoặc có cô giáo xinh đẹp, dịu dàng,…… Thời gian chú ý có chủ định chỉ kéo

Trang 5

dài tối đa từ 25 đến 30 phút.

Tưởng tượng của học sinh lớp 1 đã phát triển phong phú hơn so với trẻ mầm non Tuy nhiên, tưởng tượng của các em vẫn còn đơn giản, chưa bền vững

Như vậy cần phát triển tư duy và trí tưởng tượng của các em bằng cách biến

các kiến thức “khô khan” thành những hình ảnh có cảm xúc, đặt ra câu hỏi

mang tính gợi mở, thu hút các em vào các hoạt động nhóm, hoạt động tập thể

để quá trình nhận thức phát triển Trong giai đoạn lớp 1,2, ghi nhớ máy móc phát triển khá tốt và chiếm ưu thế hơn so với ghi nhớ có ý nghĩa Nhiều HS chưa biết tổ chức việc ghi nhớ, đặc biệt các em chưa đủ ý chí để thực hiện đến cùng mục đích đã đề ra nếu gặp khó khăn

Đối với học sinh lớp 1A trường tôi đã được tiếp cận và làm quen với phương pháp dạy học tích cực của giáo viên ngay từ đầu năm học, thành lập

được các tổ tự quản, phân công nhiệm vụ cho từng tổ: tổ học tập, tổ tích cực,

tổ sáng tạo… Các tổ học tập nắm bắt khá tốt việc điều hành, hướng dẫn, xử lí

tình huống trong tổ, nhóm

Trong hoạt động nhóm, một số em mạnh dạn, tự tin, hướng dẫn bạn với nhiều hình thức đọc kết quả, viết kết quả phép tính nối tiếp nhau, kiểm tra đôn đốc những bạn còn chậm tránh tính ỷ lại nên giờ học toán của các em trong lớp 1A học khá sôi nổi, bước đầu có hiệu quả Các em được luân phiên

nhau báo cáo kết quả Chính vì vậy mà tôi thấy cần “phát huy tính tích cực chủ động của học sinh lớp 1 qua môn toán”.

Biện pháp 3: Tăng cường đánh giá, nhận xét theo Thông tư

30/2014/BGD ĐT về Quy định đánh giá học sinh tiểu học.

*Một số kĩ thuật chính sử dụng trong đánh giá thường xuyên

- Quan sát: Mục đích quan sát: để thu thập thông tin một cách có hệ

thống nhằm giúp giáo viên và học sinh cải thiện kết quả giáo dục, dạy học; có những thông tin đánh giá về học sinh đã thực sự hoàn thành nhiệm vụ đúng tiến độ hay chưa và biết được những ưu điểm cần phát huy, nhược điểm cần giúp đỡ khắc phục; các hoạt động của học sinh/nhóm học sinh trong tương

Trang 6

tác với bạn/nhóm bạn để tăng cường và cải thiện mối quan hệ hợp tác giữa các thành viên

Nội dung quan sát : Hành vi của học sinh: Quan sát về sắc thái, nét mặt, lời nói, hành động, cử chỉ, tương tác… để đưa ra những những nhận định về việc học sinh như: đã hiểu nhiệm vụ chưa? Có chú tâm vào việc thực hiện nhiệm vụ không? Hoàn thành hoặc chưa hoàn thành nhiệm vụ học tập?

Có chăm chú lắng nghe khi thảo luận không? Phản ứng khi nghe ý kiến nhận xét đánh giá của cô giáo, của các bạn, sự hợp tác với các bạn trong nhóm… Sản phẩm của học sinh: Mức độ hoàn thành theo yêu cầu của bài học theo chuẩn kiến thức kỹ năng

Thời điểm quan sát: Quan sát nhóm học sinh hoặc cá nhân học sinh có thể thực hiện trong mọi thời điểm ở những địa điểm khác nhau, trong mọi hoạt động của học sinh

Vị trí quan sát: Vị trí quan sát thích hợp, kiểm soát được toàn bộ, không ảnh hưởng đến học tập của học sinh

Ví dụ: Quan sát thấy nét mặt biểu lộ hoài nghi, ngơ ngác hoặc tư thế không

bình thường, người lắc lư bất ổn, có thể là dấu hiệu học sinh chưa thực sự hiểu bài, hoặc không làm được bài

Khi học sinh nhìn thẳng, dõi theo giáo viên, có cử chỉ muốn nói điều gì đó thì tùy từng tình huống có thể suy đoán là học sinh đã thực hiện xong nhiệm

vụ và muốn được chuyển hoạt động tiếp theo hoặc muốn hỏi giáo viên

Học sinh nào chưa sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ, chưa hợp tác với nhóm Học sinh đã thực hiện xong, thực hiện đúng nhiệm vụ hoặc những điều học sinh còn cảm thấy chưa rõ, chưa yên tâm…

Ví dụ: Để theo dõi một/nhóm học sinh thường bị chậm tiến độ khi thực

hiện một hoạt động Cách quan sát như sau:

- Khi giao bài toán cho cả lớp, giáo viên quan sát xem học sinh đã sẵn sàng

Trang 7

chuẩn bị cho việc thực hiện nhiệm vụ học tập (tài liệu, dụng cụ học tập, ) chưa?

- Đứng gần quan sát xem học sinh này đang tập trung vào việc học hay chưa? Có thể em đang làm việc riêng, hoặc còn chưa hiểu nhiệm vụ được giao

- Đến tận nhóm học sinh đang học để quan sát chung cả nhóm, xem học sinh nào đang gặp khó khăn hoặc cần sự giúp đỡ gì

Sử dụng kết quả và phản hồi sau khi quan sát:

Các thông tin quan sát là cơ sở để giáo viên đưa ra các quyết định tác động, động viên, giúp đỡ kịp thời học sinh trong học tập Sự can thiệp giúp đỡ có thể tiến hành ngay sau khi thu được thông tin quan sát, hoặc ghi lại trong Nhật kí đánh giá của giáo viên để đưa ra quyết định giúp đỡ, can thiệp sau

* Phỏng vấn nhanh

Giúp giáo viên khẳng định những nhận xét ban đầu qua quan sát về mức độ đạt được theo tiến độ bài học của học sinh Nếu học sinh thực hiện nhiệm vụ chậm hơn tiến độ chung thì cần có ngay biện pháp can thiệp như hỗ trợ trực tiếp, nhờ nhóm bạn hỗ trợ để học sinh có thể đẩy nhanh tốc độ học Nội dung câu hỏi phỏng vấn không chỉ hỏi về kiến thức mà còn hỏi về hướng xử lí một tình huống cụ thể, về thái độ của học sinh khi làm bài tập tính nhẩm (phép cộng trong phạm vi 9)

Tham khảo kết quả tự đánh giá và đánh giá của nhóm học sinh

Dựa vào những nhận xét, đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ của chính học sinh hoặc nhóm bạn học để xác định mức độ hoàn thành nhiệm vụ của học sinh Tùy từng trường hợp mà giáo viên có thể đánh giá để đưa ra giải pháp thích hợp

Ví dụ: Khi học sinh đọc thuộc các phép cộng trong phạm vi 9, giáo viên

có thể đề nghị nhóm bạn cùng học hoặc bạn của nhóm khác có nhận xét xem bạn đã đọc đúng chưa Học sinh có thể đưa ra ý kiến bảo vệ quan điểm và

Trang 8

cuối cùng giáo viên gợi ý để học sinh tự thống nhất những quan điểm chung

về vấn đề đó hoặc để các em được bảo lưu các ý kiến khác nhau và coi đó là những nhiệm vụ cần tiếp tục tìm hiểu, giải quyết sau

* Tham khảo ý kiến đánh giá của phụ huynh

Ý kiến của phụ huynh luôn là nguồn thông tin để giáo viên tham khảo trong đánh giá thường xuyên kết quả giáo dục của học sinh Một số đặc điểm riêng của học sinh được phụ huynh cung cấp sẽ giúp cho giáo viên đánh giá đầy đủ, chính xác và phối hợp tốt hơn với gia đình trong giáo dục học sinh

Ví dụ: Dựa vào thông tin phụ huynh cung cấp về vận động tay của học sinh thỉnh thoảng bị run nhẹ, giáo viên sẽ đánh giá việc hoàn thành nhiệm vụ viết phép tính, chữ số chưa đẹp, chưa rõ ràng của học sinh (dù chưa được chuẩn xác) và không đề nghị học sinh sửa lại vẫn cho chuyển hoạt động tiếp theo

Biện pháp 4: Sử dụng hợp lý, có hiệu quả đồ dùng dạy học, đặc biệt là đồ dùng trực quan.

Giáo viên thường sử dụng các dụng cụ học tập trực quan, nhiều màu sắc hấp dẫn, sinh động để thu hút sự chú ý của học sinh bởi thời gian chú ý có chủ định chỉ kéo dài 15- 20 phút Như vậy, cách sử dụng trực quan như trên rất có lợi cho việc HS tập trung chú ý kéo dài và cao độ

Học sinh được học tập qua ứng dụng công nghệ thông tin bằng hình ảnh được trình chiếu một cách sinh động tạo sự hứng thú cho các em tập trung hơn Tuy nhiên giáo viên không nên lạm dụng

Giáo viên cần phải thu hút trẻ bằng các hoạt động mới, mang màu sắc, tích chất đặc biệt, khác lạ so với bình thường, khi đó sẽ kích thích trẻ cảm nhận, tri giác tích cực và chính xác và đặc biệt phải hình thành ở các em tâm

lý hứng thú và vui vẻ khi ghi nhớ kiến thức

Đặc biệt là đồ dùng trực quan đã đem lại hứng thú cho học sinh Đòi hỏi các em phải tư duy, sử lý nhanh các tình huống, tự tìm tòi khám phá kiến thức qua trực quan Kết quả học sinh ghi nhớ được kiến thức sâu, các em

Trang 9

chóng thuộc bài Lớp học thoải mái, vui vẻ, giờ học đạt hiệu quả cao Học sinh ham thích học toán

Biện pháp 5: Tích cực, kiên trì và chủ động, sáng tạo đổi mới

phương pháp dạy học.

- Chuẩn bị bài trước khi lên lớp rất quan trọng nên việc xây dựng mục tiêu bài học cũng như sắp xếp, tổ chức các hoạt động dạy - học cần được coi trọng

- Trong giảng dạy có nhiều học sinh nhận thức chậm Giáo viên phải kiên trì, không nên khắt khe mà nên tạo điều kiện cho các em được tham gia vào các

hoạt động học tập, được chia sẻ để tự tin hơn …

Giáo viên tích cực đổi mới phương pháp dạy học và đánh giá học sinh

thường xuyên trao đổi với giáo viên trong tổ, tổ chức các chuyên đề, sinh hoạt chuyên môn mới, chia sẻ, giải quyết kịp thời các khó khăn

Tăng cường khảo sát chất lượng học sinh ngay tại các giờ học, buổi học, tuần học

Chấm bài thường xuyên, động viên học sinh bằng nhiều hình thức như tuyên dương

Giáo viên áp dụng phương pháp thường xuyên, phương pháp chứng minh tạo thói quen cho học sinh

Ví dụ: Khi dạy về phép cộng trong phạm vi 9.

Bước 1: Các em quan sát giáo viên làm mẫu: 9 que tính thêm 1 que

tính bằng 10 que tính 9 + 1 = 10

Bước 2: Học sinh làm việc cá nhân, các em dùng que tính để lập các

phép tính cộng tiếp theo vào bảng con hoặc bảng phụ 1 + 9 = 10; 8 + 2 = 10; 7 + 3 = 10

Bước 3: Học sinh trao đổi nhóm 2 Đối chiếu các phép cộng đã lập Bước 4: Học sinh đọc các phép cộng trong nhóm 6.

Trang 10

Bước 5: Báo cáo trước lớp, dưới sự điều hành của Chủ tịch hội đồng tự

quản

Hoạt động nhóm còn phát huy tính tự quản của cán bộ lớp, nhóm trưởng, nhằm kiểm tra việc học tập của các bạn trong nhóm mình một cách tốt nhất, có tác dụng sửa chữa uốn nắn kịp thời những thiếu hụt, sai sót về kiến thức cho học sinh học yếu Giúp các em mạnh dạn hơn trong giao tiếp với các bạn và thầy, cô giáo Có thể nói phương pháp này hình thành tinh thần tự giác trách nhiệm đối với tập thể cho từng thành viên của nhóm như vậy để tránh tình trạng lười biếng, sao nhãng nhiệm vụ được giao, tránh sự ghen tị

Nhưng chỉ có tổ chức hoạt động theo nhóm và quan sát trực quan còn

là chưa đủ nếu trong giờ toán không có luyện tập thực hànhtrong giờ toán

thời gian học sinh luyện tập chiếm tới 2/3 tiết học, càng được luyện tập nhiều thì học sinh càng khắc sâu được kiến thức Có khi có những nội dung

lí thuyết phải qua làm bài tập thì học sinh mới hiểu được

Ví dụ : Sử dụng phương pháp luyện tập thực hành trong bài phép cộng

trong phạm vi 9.

Một tiết dạy có 35 phút, giáo viên dành khoảng 10-12 phút để xây dựng công thức cộng trong phạm vi 9 (hay bảng cộng trong phạm vi 9)

Sau khi xây dựng xong các phép tính:

8+1=9 3+6=9

1+8=9 6+3=9

Giáo viên cho học sinh thực hành luyện tập 15 - 20 phút bằng cách đọc

cá nhân, tập thể, đọc thuộc bằng mọi hình thức… Sau khi luyện tập xong giáo viên lại cho học sinh học thuộc lại bảng cộng trong phạm vi 9 bằng cách đọc nối tiếp giữa hai tổ, hoặc em A nêu phép tính em B trả lời và ngược lại

* Lưu ý : Trong tiết học giáo viên thực hiện linh hoạt các phương pháp như:

+ Phương pháp trực quan

+ Phương pháp hỏi đáp

+ Phương pháp giảng giải ( giải nghĩa từ )

Ngày đăng: 11/03/2015, 08:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w