1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đổi mới giáo dục đại học Việt Nam và chiến lược hội nhập quốc tế

13 492 6
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 9,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đặc biệt, bước vào thế ky XXI, ky nguyên của nền kinh tế tri thức, của sự toàn cầu hoá, vấn đề làm sao để đổi mới và nâng cao được chất lượng của giáo dục đại học Việt Nam, từng bước hội

Trang 1

ĐỔI MỚI GIÁO DỤC ĐẠI HỌC VIỆT NAM

VÀ CHIẾN LƯỢC HỘI NHẬP QUỐC TẾ

GS TSKH BÀNH TIẾN LONG

ĐÀO HIEN CHI

Nhận thức được tầm quan trọng của giáo dục, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã xác định rõ : Giáo dục là quốc sách hàng đầu và đã tập trung mọi nguồn lực để

phát triển giáo dục Sau gần 18 năm đổi mới), giáo dục Việt Nam nói chung và đặc biệt là giáo dục đại học nói riêng đã đạt được những thành tựu quan trọng

nhưng tựu chung lại vẫn còn có những khó khăn, bất cập và lạc hậu so với nền giáo dục đại học của một số nước trong khu vực và trên thế giới Đặc biệt, bước vào thế ky XXI, ky nguyên của nền kinh tế tri thức, của sự toàn cầu hoá, vấn đề làm sao để đổi mới và nâng cao được chất lượng của giáo dục đại học Việt Nam, từng bước hội nhập với nền giáo dục đại học thế giới đang đặt ra rất nhiều bài toán cho các nhà hoạch định chính sách Bài viết này chủ yếu bàn luận về một số các vấn đề liên quan đến chính sách đổi mới nhằm nâng cao chất lượng của giáo dục

đại học Việt Nam hướng tới hội nhập quốc tế Đó là các vấn đề về tài chính cho

giáo dục, về chất lượng của đội ngũ giảng viên đại học, về đổi mới phương pháp

dạy và học trong các trường đại học, đổi mới quản lý giáo dục, về chương trình

giảng dạy và đặc biệt là vấn đề tăng cường hợp tác quốc tế trong giáo dục Tất cả các giải pháp được nêu ra trong bài hy vọng sẽ là những bài học hay những gợi ý cho các cơ sở giáo dục và các nhà hoạch định chính sách của Việt Nam trong việc

tiếp cận và tham gia vào nền giáo dục đại học quốc tế

I - TONG QUAN VE QUA TRINH DOI MOI

1 Sứ mạng của giáo dục trong bối cảnh kinh tế — xa hoi Viet Nam

Giáo dục tạo ra kiến thức, kỹ năng, giá trị và hình thành nhân cách Giáo dục là sự cần thiết cơ bản đối với kỷ cương xã hội, là nguồn lực chính thúc đẩy

(1) Kể từ năm 1986, khi Việt Nam thực hiện đổi mới nền kinh tế

Trang 2

DIỄN ĐÀN QUỐC TẾ VỀ GIÁO DỤC VIỆT NAM

sự tăng trưởng kinh tế bền vững Giáo dục cũng có nghĩa là văn hoá, là sự

quảng bá những thành tựu của nền văn minh nhân loại Giáo dục, đó chính là

sự đầu tư vô giá đem lại những lợi ích, những giá trị cho chúng ta và cho các thế hệ tương lai

Giáo dục đại học (GDĐH) nói riêng có vai trò dẫn đầu hệ thống giáo dục vi

GDĐH là nơi đào tạo nhân lực có tri thức và bồi dưỡng tài năng, đồng thời là nơi

nghiên cứu sáng tạo và ứng dụng những tri thức trình độ cao Chất lượng đào tạo

và nghiên cứu, ứng dụng của các trường đại học có tác động rất mạnh mẽ đến sự

phát triển của đất nước, đặc biệt là đối với Việt Nam, một nước đang trong quá

trình đổi mới và hội nhập quốc tế GDĐH còn chủ động nghiên cứu dự báo, đón

đầu sự phát triển của tương lai GDĐH là động lực để phát triển các cấp bậc học

và trình độ đào tạo khác Thực hiện đổi mới GDĐH là để nâng cao chất lượng

của việc đào tạo nguồn nhân lực tri thức cao và hội nhập với GDĐH của khu vực

và quốc tế Quá trình đổi mới GDĐH càng thành công thì hội nhập càng hiệu quả Hội nhập càng hiệu quả, thì đổi mới GDĐH càng được tăng cường

Trải qua gần 18 năm (kể từ năm 1986), khi Đảng Cộng sản Việt Nam

tuyên bố bất đầu chương trình đổi mới toàn diện trên mọi lĩnh vực, hệ thống

giáo dục nói chung và GDĐH nói riêng ở Việt Nam đã phát triển nhanh và đạt

được những thành tích đầy ấn tượng

2 Những thành tích đã đạt được

Những giải pháp đổi mới GDĐH đến nay đều cố gắng thực hiện quan điểm

được nêu trong nhiều Nghị quyết của Đảng và Nhà nước Việt Nam là sát với

thực tiễn Việt Nam và phù hợp với xu thế thế giới Quy hoạch về mạng lưới các

trường đại học đã được Chính phủ phê duyệt và đang trong quá trình hoàn

thiện, tiếp tục bổ sung Điều lệ trường đại học đã được ban hành ngày 30-7-2003 là cơ sở pháp lý để đổi mới GDĐH theo hướng hội nhập quốc tế

Năm học 2003, số sinh viên tại các trường đại học và cao đẳng tăng lên tới

1.020.667 người (Bảng 1) Đội ngũ giảng viên tăng lên đến hơn 38.000 người trong đó có khoảng 1700 giáo sư và phó giáo sư, hơn 5.000 tiến sỹ và gần

11000 thạc sỹ Thực hiện chủ trương công bằng trong giáo dục, cùng với việc

tăng quy mô, mạng lưới trường lớp và các loại hình đào tạo liên tục được củng

cố, mở rộng, kể cả vùng sâu, vùng xa nhằm góp phần đáp ứng tốt hơn nhu

cầu học tập của con em nhân dân Với mục tiêu xã hội hoá giáo dục, nhờ đa dạng hoá loại hình sở hữu trường, tính đến tháng 4 năm 2004, số lượng cơ sở

Trang 3

đào tạo đại học, cao đẳng tăng lên đến 261 cơ sở, trong đó có 27 trường dân lập

và bán công Xu thế đào tạo đa ngành ngày một khẳng định (ĐH Vinh, ĐH Quy Nhơn, ĐH Hải Phòng) ; xuất hiện các trường đại học địa phương (ĐH Hồng Đức, ĐH Tay Bắc, ĐH An Giang) và các trường cao đăng cộng đồng Việc thành lập các trường đại học này đem lại nhiều cơ hội tiếp cận với GDĐH cho đông đảo nhân dân

Xây dựng được cơ cấu hệ thống GDĐH mới với 4 trình độ đào tạo chính :

cử nhân cao đẳng, cử nhân (kỹ sư), thạc sỹ và tiến sỹ GDĐH đã từng bước phát

triển, đào tạo được một đội ngũ đông đảo các cán bộ khoa học — kỹ thuật đã và

đang công tác và có những cống hiến quan trọng trong hầu hết các lĩnh vực kinh tế, xã hội

Bang | SO sinh viên đăng ký vào các trường đại học

Năm học Tổng số sinh viên

1986 —- 1987 127.312

1997 — 1998 715.231

2001 - 2002 974.119

2002 - 2003 1.020.667

Nguồn : Trung tam Thong tin va Quản lý - Bộ Giáo dục và Đào tạo

Nội dung chương trình giảng dạy đại học được cải tiến, từng bước thiết kế

lại theo hướng đào tạo theo diện rộng, tăng cường GDĐH đại cương, làm rõ giáo dục chuyên ngành, chuyển dần từ học chế niên chế sang đào tạo theo hệ thống tín chỉ, học phần; áp dụng công nghệ dạy học mới, giảm khối lượng học tập trên lớp và phát huy tính chủ động của sinh viên ; từng buớc cải cách hệ thống tuyển sinh đại học, cao đẳng với ứng dụng công nghệ thông tin để giám

sát các số liệu thống kê, tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước cải tiến công tác tuyển sinh đại học, thực hiện phương thức "3 chung" (chung đề, chung đợt, sử dụng chung kết quả thi), giảm chi phi ton kém cho nhân dân và các cấp quan

lý ; thiết kế ban hành chương trình khung đào tạo chuẩn và từng bước xây dựng

hệ thống đảm bảo và kiểm định chất lượng đào tạo đại học đối với tất cả các loại hình trường nhằm tiến tới hội nhập với cộng đồng GDĐH trong khu vực và trên thế giới

Trang 4

DIỄN ĐÀN QUỐC TẾ VỀ GIÁO DỤC VIỆT NAM

Mở rộng những hình thức tổ chức nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, bước đầu mang lại một số hiệu quả tốt: đã bắt đầu có những nghiên cứu

về kinh tế tri thức, xây dựng xã hội học tập ở Việt Nam

Cơ sở vật chất - kỹ thuật có nhiều tiến bộ Tích cực thực hiện xã hội hoá giáo dục, đa dạng hoá các nguồn vốn đầu tư, huy động nhiều nguồn lực để tăng cường cơ sở vật chất - kỹ thuật, tạo điều kiện nâng cao chất lượng dạy và học

Từ các nguồn vốn trong và ngoài nước, nhiều đại học lớn, đại học trọng điểm

đã xây dựng được thư viện, giảng đường hiện đại, phòng thí nghiệm, ký túc xá sinh viên, nhà thi đấu thể thao như các trường : ĐH Bách Khoa Hà Nội,

ĐH Bách Khoa TP Hồ Chí Minh, ĐH Đà Nắng, ĐH Xây dựng Hà Nội

Về tài chính, ngân sách nhà nước hằng năm dành cho giáo dục đã tăng lên

gấp đôi từ năm 1998 đến năm 2003 Đây là sự nỗ lực cố gắng của Chính phủ nhằm chia sẻ bớt gánh nặng về các chi phí dành cho giáo dục, đáp ứng nhu cầu

ngày càng tăng trong nhân dân

Bảng 2 Chỉ phí của Chính phủ dành cho giáo dục

Chi phí (tính bằng tỷ đồng)

1998 | 1999 | 2000 | 2001 | 2002 | 2003 GDP 3610 | 399.9 | 444,1 | 4846 | 5391 | 611,1 Tăng trưởng GDP 58% | 48% | 68% | 68% | 7,0% | 7,3%

Chỉ phí dành cho| 11,0 1440 | 164 | 197 | 2249 27,2 giáo dục và đào tạo | (13,7%) | (14,1%) | (15%) | (15,2%) | (15,6%) | (16,2%)

Nguồn : Báo cáo khảo sát của Ngân hàng hợp tác quốc tế Nhật Bản (JBIC) 2004

Bảng 3 Sự phân bổ ngân sách nhà nước trong giáo dục (%)

của các bậc học

1995 | 1996 | 1997 | 1998 | 1999 | 2000

Tổng ngân sách nhà nước 100 100 100 100 100 100

Giáo dục cơ sở từ mầm non đến

Dai hoc, cao dang, day nghé 27,7 | 28,1 | 27,4 | 26,7 | 26,3

Nguồn : Báo cáo khảo sát của Ngân hàng hợp tác quốc tế Nhật Bản (JBIC) 2004

Trang 5

Đặc biệt từ năm 2000, Chính phủ Việt Nam đã phê duyệt đề án kéo dài

trong 5 năm để gửi người đi đào tạo ở nước ngoài bằng nguồn vốn của Ngân

sách nhà nước (đề án 322) Theo đề án này, hàng năm có khoảng gần 500 cán

bộ được gửi đi đào tạo sau đại học tại các nước trên thế giới

Hợp tác quốc tế được coi như một chiến lược trong tiến trình cải cách Trong quá trình đổi mới GDĐH, Việt Nam đã hợp tác và khai thác một cách toàn diện sự ủng hộ của các tổ chức quốc tế đa phương như Ngân hàng thế giới

(WB) (103 triệu USD) để củng cố và tăng cường năng lực quản lý của hệ thống

GDDH Viét Nam, Ngan hang Chau A (ADB) (40 triệu USD) để bồi dưỡng đội

ngũ giáo viên

Một mặt, Việt Nam chủ động khôi phục sự hợp tác truyền thống với cộng

đồng GDĐH Trung Quốc, Liên bang Nga, các nước cộng hoà thuộc Liên Xô cũ

trước đây ; mặt khác, Chính phủ đã khuyến khích, tạo điều kiện cho các trường đại học, cao đẳng hợp tác với các đại học của các nước như : Australia, Cộng hoà liên bang Đức, Hà Lan, Pháp, Anh, Canađa, Mỹ, Nhật Bản Nhiều chương trình

hợp tác song phương đã được ký kết và thực hiện có hiệu quả như : Dự án hiện

đại hoá Trường ĐH Sư phạm kỹ thuật Thủ Đức với hơn 7 triệu USD của Chính phủ Đức; Dự án thí điểm 6 trường đại học cộng đồng với 4 triệu USD viện trợ của Chính phủ Hà Lan ; Dự án 23 triệu USD của Nhật Bản viện trợ cho Khoa

Nông nghiệp Trường ĐH Cần Thơ, các dự án đào tạo giáo viên tiếng Anh của

Chính phủ Anh, đào tạo kỹ sư chất lượng cao của Pháp, Thuy Điển, Canađa, Hàn

Quốc và các chương trình đào tạo của EU, ACCT, AUPELF - UREE

Trong khu vực, Việt Nam liên kết chặt chẽ với hệ thống đại học của

khối ASEAN qua tổ chức SEAMEO RIHED để thúc đẩy sự hợp tác trong lĩnh vực GDĐH

Đến nay, GDĐH Việt Nam đã mở rộng quan hệ quốc tế với gần 70 nước,

19 tổ chức quốc tế và 70 tổ chức phi chính phủ

Có thể nói rằng, sau gần 18 năm đổi mới, GDĐH đã cùng với hệ thống giáo dục quốc dân đã có những đóng góp tích cực vào những lĩnh vực sau :

1 Nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn kỹ thuật của phần lớn dân số

thuộc nhóm tuổi 18 - 34 (lực lượng lao động trẻ) với số năm đi học bình quan

là 9,5 năm, đứng thứ hai trong khối ASEAN Đội ngũ trí thức có trình độ đại học, cao đẳng đã tăng lên 1,3 triệu vào năm 2000

Trang 6

DIỄN ĐÀN QUỐC TẾ VỀ GIÁO DỤC VIỆT NAM

2 Góp phần thúc đẩy tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu phân

công lao động ; đào tạo nhân lực góp phần tăng truởng GDP trong giai đoạn

1996 — 2000 tang từ 0,73% đến 1,39 %

3 Nang cao chất lượng con người : Theo báo cáo của UNDP 2001, chi số phát triển con người (HDI) của Việt Nam tăng từ 0,58 (1985) lên 0,671 (1998)

và đạt 0,682 (1999) xếp thứ 101/162 nước và đứng thứ sáu trong khối ASEAN Tuy nhiên, bước vào thế kỷ XXI, khi xu hướng toàn cầu hoá và hội nhập

kinh tế quốc tế là một xu thế khách quan, đổi mới GDĐH cần phải được tăng cường hơn nữa để quá trình rút ngắn khoảng cách phát triển giữa các nước

nhanh hơn Nhưng đổi mới như thế nào, các phương thức đổi mới được lựa

chọn ra sao phải được tiến hành một cách hợp lý và phù hợp với những điều

kiện chính trị, xã hội, kinh tế đặc thù của từng nước

Nếu so sánh với các nước trong khu vực và nhiều nước khác trên thế giới,

Việt Nam còn nhiều khó khăn Trình độ phát triển kinh tế chưa đủ mạnh, đầu

tư ngân sách cho giáo dục còn rất hạn chế và mới chỉ đạt trên 15%/năm Vì

vậy, mặc dù đã đạt được những thành tựu đáng kể như trên, nhưng để hội nhập

với nền GDĐH quốc tế, Việt Nam vẫn cần phải tích cực nhiều hơn nữa

II - NHỮNG TỒN TẠI VÀ THÁCH THỨC

1 Về cơ chế quản lý và quản trị đại học

Việt Nam còn lúng túng, thiếu kinh nghiệm trong việc xây dựng hệ thống

văn bản pháp lý đủ mạnh để tạo ra một cơ chế vận hành, quản lý GDĐH một cách có hiệu quả với xu thế tăng cường tự chủ và tự chịu trách nhiệm ở cấp

trường, tăng cường vai trò giám sát của quản lý nhà nước trong nền kinh tế thị

trường theo định hướng XHCN

Theo Luật Giáo dục, tất cả các cơ sở GDĐH công lập, ngoài công lập đều chịu sự quản lý nhà nước của Bộ GD&ĐT về tuyển sinh, cấu trúc chương trình đào tạo, quy chế thi và kiểm tra, cấp phát văn bằng Hai Đại học Quốc gia được

ban hành quy chế riêng và được tự chủ hơn trong tổ chức các hoạt động của mình Các đại học chuyên ngành trực thuộc sự quản lý và giám sát của Bộ, ngành; các trường đại học địa phương, cao đẳng sư phạm, cao đẳng cộng đồng

trực thuộc sự quản lý của chính quyền tỉnh / thành phố Hiện tại, mối quan hệ

Trang 7

giữa trường với Bộ, với các cấp quản lý nhà nước vẫn còn chồng chéo, chưa rõ ràng; chưa xác định rõ cơ chế tự quản lý trong các trường đa cấp, đa ngành Với Nghị định 10/CP, Chính phủ khuyến khích các trường chuyển dần sang tự chủ tài chính, chủ động đa dạng hoá các nguồn thu Từ năm 1998, tất

cả các trường đại học, cao đẳng công lập được thu và sử dụng học phí, lệ phí Nguồn thu học phí chiếm 40% tổng nguồn thu Ngoài ra, còn có nguồn thu từ nghiên cứu khoa học, lao động sản xuất, và các dịch vụ xã hội khác, riêng

nguồn thu từ nghiên cứu khoa học chỉ chiếm 1% trong tổng nguồn thu Đây là điểm yếu nhất của các trường đại học và cao đẳng Việt Nam so với cộng đồng GDĐH trong khu vực và trên thế giới

2 Mâu thuẫn giữa tăng quy mô và đảm bảo chất lượng

Để cung cấp nguồn nhân lực cao cho đất nước thì rất cần phải tăng quy mô

đào tạo đại học và cao đẳng Tuy nhiên, việc tăng quy mô một cách không đồng bộ cùng với việc tăng điều kiện đảm bảo chất lượng và hệ thống giáo dục chưa hoàn chỉnh trong thời gian qua đã dẫn đến :

1 Tỷ lệ cần thiết giữa GDĐH với trung học chuyên nghiệp, dạy nghề và các hình thức đào tạo khác bị mất cân đối Trong giai đoạn 1990 — 1999, quy

mô sinh viên đại học tăng 6,4 lần nhưng quy mô học sinh học tại các trường trung học chuyên nghiệp chỉ tăng có 1,4 lần

2 Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học thiếu, lạc hậu

3 Đội ngũ giảng viên không tăng đồng bộ với mức tăng quy mô sinh viên:

Tỷ lệ sinh viên/giáo viên là 30/1 của năm 2000, thậm chí có nhóm trường với

tỷ lệ 71/1 (Kỹ thuật - Luật), 51/1 (Khoa học xã hội), trong khi đó tỷ lệ chuẩn thế giới là 8/1

4 Chi phí đơn vị (chi thường xuyên/1 sinh viên quy chuẩn) thực tế ngày

càng giảm và chỉ bằng 30% định mức ngân sách Nguồn tài chính dành cho

giáo dục còn hạn hẹp

3 Quan hệ giữa quy mô đào tạo với phát triển kinh tế

Giáo dục đại học chưa hướng đạo phân luồng cho các bậc học và trình độ đào tạo khác, vì vậy, quy mô học sinh tập trung học trung học phổ thông quá

lớn làm cho áp lực thi tuyển đại học ngày càng tăng Do sự không phù hợp giữa

Trang 8

DIỄN ĐÀN QUỐC TẾ VỀ GIÁO DỤC VIỆT NAM

đào tạo với nhu cầu thực tế, không ít sinh viên đã không kiếm được việc làm

Xu hướng này còn có thể gia tăng Điều này đòi hỏi các trường đại học của Việt Nam phải tập trung đổi mới nội dung và phương pháp giảng dạy, giúp người học biết cách tự học, tạo ra việc làm và có khả năng thích nghi nhanh với

sự biến động của thị trường lao động

4 Công bàng xã hội trong tiếp cận giáo dục đại học

Sự cách biệt trong tiếp cận GDĐH giữa các nhóm dân cư chia theo mức thu nhập (giàu - nghèo) ngày càng lớn Tình trạng “bao cấp ngược” trong GDDH van con kha lớn và người giàu vẫn được hưởng lợi nhiều nhất trong tiếp cận GDĐH Hệ thống tín dụng cho sinh viên vay học tập vẫn chưa đạt hiệu quả mong muốn Chính sách học phí chưa mạch lạc, còn lẫn lộn giữa trách nhiệm

người đi học với chế độ phúc lợi xã hội làm hạn chế tính công bằng và gây lúng túng cho các cơ sở GDĐH Cần tích cực tìm kiếm các giải pháp, chính sách

trong việc huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực tài chính để giải quyết tính công bằng trong trợ cấp ngân sách cho GDĐH

5 Năng lực và trình độ quản lý giáo dục đại học ở cấp trường và cấp vĩ mô

Có quá nhiều bất cập, chưa đáp ứng được những đòi hỏi và những thay đổi

trong quá trình chuyển đổi cơ cấu nền kinh tế, chưa xây dựng được một cơ chế

vận hành GDĐH hợp lý, khai thác tối đa khả năng xã hội hoá, nâng cao tính

chủ động của nhà trường trong tạo nguồn thu và đảm bảo giám sát của quản lý

và điều tiết ví mô của Bộ và các cơ quan Chính phủ

6 Hệ thống giáo dục đại học

Cơ cấu ngành nghề đào tạo phát triển theo nhu cầu xã hội một cách tự phát,

chưa gắn chặt với cơ cấu đầu tư, do đó chưa phù hợp với nhu cầu phát triển

kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế

Phần lớn chương trình và nội dung tuy có thay đổi nhưng vẫn chậm, không

cập nhật kịp thời với sự phát triển nhanh chóng của khoa học và công nghệ Phương pháp dạy học và phương pháp kiểm tra đánh giá kết quả học tập

chậm đổi mới

Công tác tuyển sinh còn nhiều bất cập, chất lượng đào tạo còn thấp và rất

chênh lệch giữa các trường và giữa các phương thức đào tạo Chưa có cơ chế và

tổ chức kiểm định chất lượng đào tạo

Trang 9

7 Đội ngũ giảng viên

Kém cập nhật kịp thời kiến thức mới về chuyên môn, về khoa học công

nghệ ; lực lượng giáo viên có trình độ cao bị hãng hụt, đời sống quá khó khăn nên chỉ tập trung vào nhiệm vụ chính là dạy học, ít nghiên cứu, ít học ngoại

ngữ và chuyên môn Việc quản lý sử dụng đội ngũ giáo viên còn thiếu tính quy hoạch và nhất quán, dẫn đến tình trạng cháp vá và thiếu đồng bộ

II - CÁC GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI GIÁO DỤC ĐẠI HỌC ĐỀ HỘI NHẬP

QUỐC TẾ

Các nhóm giải pháp lớn để đổi mới GDĐH Việt Nam trong chiến lược hội

nhập quốc tế bao gồm :

1 Đổi mới mục tiêu, nội dung chương trình giáo dục Theo đó “Thay đổi

phương pháp giáo dục truyền thống từ chỗ truyền đạt tri thức thụ động thầy giảng, trò ghi sang hướng dẫn người học chủ động tư duy hoá trong quá trình

tiếp cận tri thức; dạy cho người học phương pháp tự học, tự thu nhận thông tin

một cách có hệ thống và khả năng phân tích tổng hợp; phát triển được năng lực của mỗi cá nhân”), Các trường đại học của Việt Nam cần phải được khuyến

khích việc đổi mới mạnh mẽ chương trình theo hướng đa dạng hoá, chuẩn hoá,

hiện đại hoá để mau chóng tiếp thu có chọn lọc những chương trình đào tạo của các nước phát triển về khoa học tự nhiên, kỹ thuật và công nghệ phù hợp với yêu cầu phát triển của đất nước, phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của từng ngành, từng lĩnh vực, từng vùng, từng địa phương Tiếp tục đẩy

mạnh xây dựng chương trình khung, hoàn chỉnh cải cách hệ thống và học chế

tín chỉ, đổi mới phương pháp dạy và học, phương pháp đánh giá kết quả học

tập, đổi mới thi tuyển sinh, xây dựng hệ thống đảm bảo kiểm định chất lượng

2 Phát triển, nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên, quy hoạch lại cơ cấu

đội ngũ giảng viên để đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ; có cơ chế, chính

sách, chế độ đãi ngộ và phương thức quản lý phù hợp.| Hiện tại, Việt Nam đang phấn đấu làm sao để một mặt bổ sung và nâng cao trình độ của đội ngũ giảng

viên, mặt khác giảm tỷ lệ sinh viên/giảng viên trung bình đang ở mức quá cao

30 sinh viên/giáo viên xuống con 10 — l5 sinh viên/giáo viên Lựa chọn các

sinh viên giỏi bổ sung nguồn giáo viên cho các trường đại học, cao đảng, tạo

(1) Chiến lược phát triển giáo dục 2001 - 2010 Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, tr.30

Trang 10

DIỄN ĐÀN QUỐC TẾ VỀ GIÁO DỤC VIỆT NAM

điều kiện cho sinh viên được liên tục đào tạo trong và ngoài nước để tiếp cận với tri thức và các thành tựu khoa học — công nghệ mới của thế giới, tăng cường

và tạo điều kiện thuận lợi cho các cán bộ khoa học có trình độ cao, có kinh nghiệm thực tiễn đang làm việc tại các viện nghiên cứu, các cơ quan quản lý,

các doanh nghiệp và các nhà khoa học Việt Nam ở nước ngoài tham gia giảng

dạy ở các trường đại học và cao đẳng Bên cạnh đó, Nhà nước sẽ cải tiến chế độ tiền lương và các chế độ đãi ngộ với các thầy cô giáo

3 Đổi mới quản lý giáo dục, tăng cường mạnh mẽ phân cấp, quản lý để trường ĐH tự quản và tự chịu trách nhiệm Như trên đã nói, Bộ Giáo dục và Đào tạo (MOET) chịu trách nhiệm chung nhưng có một số các cơ sở giáo dục

đại học lại trực thuộc các bộ, ngành hoặc các tỉnh hay thành phố khác Các bộ, ngành này và các chính quyền địa phương có quyền về việc bố trí nhân sự và

tài chính của các cơ sở giáo dục đại học trực thuộc trong khi MOET chịu trách

nhiệm về chương trình giáo dục Chính vì vậy, quyền tự chủ của các trường đại

học chưa cao Để tiến tới hội nhập với giáo dục đại học quốc tế, trong Chiến lược phát triển giáo dục 2000 - 2010, Chính phủ Việt Nam đã chỉ đạo “hoàn thiện quy chế quản lý hoạt động của các loại hình trường Giao quyền chủ động cao cho các trường đại học, cao đẳng để tạo điều kiện cho các trường chủ động sáng tạo trong việc thực hiện có hiệu quả các mục tiêu giáo dục, đồng thời cũng phải chịu trách nhiệm lớn hơn đối với xã hội và nhân dân” Hơn thế nữa, khi xã hội hoá giáo dục phát triển mạnh, nhiều hình thức, loại trường tiếp tục được mở rộng, cần phải tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra để đảm bảo chất lượng giáo dục ở các loại hình trường mới này có thể đáp ứng nhu cầu của đông đảo quần chúng nhân dân Việc giao quyền tự chủ cho các trường đại học -

và tăng cường cơ chế giám sát đảm bảo chất lượng của các trường đại học sẽ khiến các trường đại học công lập và ngoài công lập phải tự chịu trách nhiệm

về ngân sách của mình, về biên chế giáo viên và chất lượng đào tạo cũng như tất cả mọi vấn đề liên quan khác Đổi lại sự tự chủ này, các trường đại học phải nộp các bản kế hoạch hoạt động chỉ tiết và báo cáo tài chính lên các bộ, ngành chủ quản Thêm vào đó, cần phải bồi dưỡng trình độ và năng lực quản lý cho

cán bộ quản lý GDĐH ở các cấp; triển khai thực hiện hệ thống đánh giá, kiểm định và đảm bảo chất lượng chung cho các trường đại học của Việt Nam

4 Tăng cường nguồn tài chính, cơ sở vật chất cho giáo dục, triển khai Nghị

định 10/CP của Chính phủ về tự chủ tài chính trong các trường đại học; tiếp tục hoàn chỉnh cơ cấu hệ thống GDĐH, phát triển mạng lưới cơ sở trường lớp với

Ngày đăng: 11/03/2015, 08:01

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng  2.  Chỉ  phí  của  Chính  phủ  dành  cho  giáo  dục - Đổi mới giáo dục đại học Việt Nam và chiến lược hội nhập quốc tế
ng 2. Chỉ phí của Chính phủ dành cho giáo dục (Trang 4)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w