Bước sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý vĩ mô của nhà nước là một thách thức mới đối với nền kinh tế Việt Nam nói chung và hàng ngàn doanh nghiệp của nước ta nói riêng. Trên thức tế hầu hết các doanh nghiệp đều gặp muôn vàn khó khăn, đặc biệt là vốn trong kinh doanh.Vốn là điều kiện không thể thiếu khi tiến hành thành lập một doanh nghiệp và tiến hành hoạt động kinh doanh, ở bất kì doanh nghiệp nào, vốn được đầu tư vào quá trình sản xuất kinh doanh nhằm tăng thêm lợi nhuận. Vì vậy bất cứ một doanh nghiệp nà cũng cần có sự phân bổ nguồn vốn như thế nào để đạt hiệu quả tốt nhất.Trong các doanh nghiệp thương mại, vốn lưu động là loại vốn quan trọng nhất phục vụ trực tiếp cho quá trình kinh doanh lưu chuyển hàng hóa và thường chiếm tỷ trọng lớn tổng số vốn kinh doanh của doanh nghiệp. Vì vậy việc sử dụng vốn lưu động như thế nào là hiệu quả là một vấn đề đặt ra cho các doanh ngiệp.Để tìm hiểu rõ hơn một cơ cấu tài chính của công ty có ổn định hay không hay gặp rủi ro như thế nào, công cụ hữu hiệu để biết được chúng ta sẽ phân tích thông qua vốn lưu động và các nguồn hình thành vốn lưu động.
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU:
Bước sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý vĩ mô của nhà nước là mộtthách thức mới đối với nền kinh tế Việt Nam nói chung và hàng ngàn doanhnghiệp của nước ta nói riêng Trên thức tế hầu hết các doanh nghiệp đều gặpmuôn vàn khó khăn, đặc biệt là vốn trong kinh doanh
Vốn là điều kiện không thể thiếu khi tiến hành thành lập một doanh nghiệp
và tiến hành hoạt động kinh doanh, ở bất kì doanh nghiệp nào, vốn được đầu tưvào quá trình sản xuất kinh doanh nhằm tăng thêm lợi nhuận Vì vậy bất cứ mộtdoanh nghiệp nà cũng cần có sự phân bổ nguồn vốn như thế nào để đạt hiệu quảtốt nhất
Trong các doanh nghiệp thương mại, vốn lưu động là loại vốn quan trọngnhất phục vụ trực tiếp cho quá trình kinh doanh lưu chuyển hàng hóa và thườngchiếm tỷ trọng lớn tổng số vốn kinh doanh của doanh nghiệp Vì vậy việc sửdụng vốn lưu động như thế nào là hiệu quả là một vấn đề đặt ra cho các doanhngiệp
Để tìm hiểu rõ hơn một cơ cấu tài chính của công ty có ổn định hay khônghay gặp rủi ro như thế nào, công cụ hữu hiệu để biết được chúng ta sẽ phân tíchthông qua vốn lưu động và các nguồn hình thành vốn lưu động
Trang 2PHÂN TÍCH CƠ CẤU TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY THÔNG QUA VỐN LƯU ĐỘNG VÀ CÁC NGUỒN
Nếu tài sản ngắn hạn hiện tại ít hơn các khoản phải trả ngắn hạn, một thựcthể có một thiếu vốn lưu động, còn được gọi là thâm hụt vốn lưu động
Sơ đồ 4.1: Vốn lưu động
Tài sản ngắn hạn Các khoản phải trả ngắn
hạn Vốn lưu động
1.1.2 Đặc điểm
Vốn lưu động là biểu hiện bằng tiền của tài sản lưu động nên đặc điểm vậnđộng của vốn lưu động chịu sự chi phối bởi những đặc điểm của tài sản lưu
Trang 3động Trong quá trình sản xuất kinh doanh vốn lưu động không ngừng vận độngqua các giai đoạn của chu kỳ kinh doanh: dự trữ sản xuất, sản xuất và lưu thông.Qúa trình này được diễn ra liên tục và thường xuyên lặp lại theo chu kỳ và đượcgọi là quá trình tuần hoàn, chu chuyển của vốn lưu động Qua mỗi giai đoạn củachu kỳ kinh doanh, vốn lưu động lại thay đổi hình thái biểu hiện Đối với DNsản xuất, VLĐ từ hình thái vốn tiền tệ ban đầu chuyển sang hình thái vốn vật tưhàng hóa dự trữ và vốn sản xuất, rồi cuối cùng lại trở về hình thái vốn tiền tệ.Đối với DN thương mại, sự vận động của VLĐ nhanh hơn từ hình thái vốn bằngtiền chuyển hóa sang hình thái hàng hóa và cuối cùng chuyển về hình thái tiền
tệ Quá trình hoạt động kinh doanh của DN diễn ra liên tục không ngừng, nên sựtuần hoàn của VLĐ cũng diễn ra liên tục, lặp đi lặp lại có tính chất chu kỳ tạothành sự chu chuyển của VLĐ Tương ứng với một chu kỳ kinh doanh thì vốnlưu động cũng hoàn thành một vòng chu chuyển
Đối với doanh nghiệp sản xuất:
Vốn bằng tiền
Trang 4Trong quá trình tham gia vào hoạt động kinh doanh, do bị chi phối bởi cácđặc điểm của tài sản lưu động nên vốn lưu động của doanh nghiệp có những đặcđiểm sau:
- Vốn lưu động trong quá trình chu chuyển luôn thay đổi hình thái biểuhiện
- Vốn lưu động chuyển toàn bộ giá trị ngay trong một lần và được hoàn lạitoàn bộ sau mỗi chu kì kinh doanh
- Vốn lưu động hoàn thành một vòng tuần hoàn sau một chu kì kinh doanh
1.1.3 Phân loại vốn lưu động
Để quản lý vốn lưu động được tốt cần phải phân loại vốn lưu động Dựatheo tiêu chí khác nhau, có thể chia vốn lưu động thành các loại khácnhau.Thông thường có một số cách phân loại chủ yếu sau đây:
- Dựa theo hình thái biểu hiện và khả năng hoán tệ của vốn có thể chia vốnlưu động thành: Vốn bằng tiền và vốn về hàng tồn kho
Vốn bằng tiền và các khoản phải thu
Vốn bằng tiền gồm: tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng và tiền đangchuyển
Các khoản phải thu : chủ yếu là các khoản phải thu từ khách hàng thể hiện
ở số tiền mà các khách hàng nợ doanh nghiệp phát sinh trong quá trình bánhàng, cung ứng dịch vụ dưới hình thức bán trả sau Ngoài ra với một số trườnghợp mua sắm vật tư khan hiếm, doanh nghiệp còn phải ứng trước tiền muahàng cho người cung ứng, từ đó hình thành khoản tạm ứng
Vốn về hàng tồn kho
Trong doanh nghiệp sản xuất vốn vật tư hàng hóa gồm: Vốn về vật tư dựtrữ, vốn sản phẩm dở dang, vốn thành phẩm.Các loại này được gọi chung là vốn
về hàng tồn kho
Trang 5=>> Việc phân loại vốn lưu động theo cách này tạo điều kiện thuậnlợi cho việc xem xét đánh giá mức tồn kho dự trữ và khả năng thanh toán củadoanh nghiệp.Mặt khác, thông qua cách phân loại này có thể tìm được các biệnpháp phát huy chức năng thành phần vốn và biết được kết cấu vốn lưu độngtheo hình thái biểu hiện để định hướng điều chỉnh hợp lí có hiệu quả
- Dựa theo vai trò của vốn lưu động đối với quá trình sản xuất kinh doanh.Dựa trên căn cứ trên, vốn lưu động của doanh nghiệp có thể chia thành cácloại chủ yếu sau:
+ Vốn lưu động trong khâu dự trữ sản xuất gồm các khoản:
- Vốn trong thanh toán: gồm những khoản phải thu và các khoản tiền tạm
ứng trước phát sinh trong quá trình mua vật tư hàng hóa hoặc thanh toán nội bộ
- Các khoản vốn đầu tư ngắn hạn về chứng khoán, cho vay ngắn hạn….
Trang 6Theo cách phân loại trên thì ta có các nhân tố hàng tồn kho, các khoảnphải thu khách hàng và các khoản phải trả người bán là yếu tố quan trọng nhất
vì chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi quy mô hoạt động và chu kỳ kinh doanh củadoanh nghiệp
Hàng tồn kho tăng có thể do sản phẩm làm ra không bán được, do Công
ty tăng quy mô sản xuất kinh doanh hoặc có sự thay đổi trong chính sách muahàng Nhằm mục đích giảm chi phí đặt hàng và giảm giá mua nhờ hưởng chiếtkhấu, Công ty có thể gia tăng số lượng đơn đặt hàng, làm cho số lượng dự trữhàng tồn kho tăng Tuy nhiên nếu hàng tồn kho tăng với tốc đọ quá nhanh sovới tốc độ tăng giá vốn hàng bán là không tốt, Công ty đã không tiết kiệm đượcchi phí trong việc quản lý hàng tồn kho hiệu quả
Nợ phải thu khách hàng tăng có thể do khách hàng trì hoãn việc trả nợ,doanh nghiệp không có biện pháp hữu hiệu để thu hồi nợ hoặc có thể doanhnghiệp kéo dài thời gian bán chịu và gia tăng tỉ lệ doanh thu bán chịu cho kháchhàng nhằm mục tiêu gia tăng doanh thu Nợ phải thu tăng cũng làm cho Công tygia tăng rủi ro do không thu hồi được nợ, làm gia tăng các khoản nợ khó đòi Khi tỉ kệ tăng các khoản phải thu của khách hàng lớn hơn tốc độ tăng doanh thu
sẽ làm giảm hiệu quả tiết kiệm vốn, đông thời tìm ẩn rủi ro nợ khó đòi
Nợ phải trả người bán tăng: doanh nghiệp thành công trong việc đàmphán và được nhà cung cấp bán chịu trong thời gian dài hơn hoặc cũng có thể
do thiếu khả năng thanh toán, doanh nghiệp không thanh toán đúng hạn cáckhoản nợ đến hạn làm cho các khoản nợ tăng lên Sự gia tăng các khoản nợ sẽtốt nếu như các khoản phải trả đều còn trong thời gian thanh toán và không nếunhư quá hạn
Việc trì hoãn thanh toán làm giảm vị thế tín dụng của doanh nghiệp, sẽ tácđộng xấu tới khả năng mua chịu hoặc ngừng mua bán giữa các doanh nghiệpvới nhau
1.2 Vai trò của vốn lưu động
Trang 7- Vốn lưu động là điều kiện đầu tiên để doanh nghiệp đi vào hoạt động Cóthể nói nói rằng : vốn lưu động là điều kiện cần và đủ cho hoạt động sản xuấtkinh doanh của doanh nghiệp
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, vốn lưu động của doanh nghiệp trongcùng một lúc được phân bổ trên khắp các giai đoạn và tồn tại dưới những hìnhthức khác nhau, làm cho quá trình sản xuất kinh doanh được diễn ra và diễn ramột cách liên tục không bị gián đoạn hay để tiến hành sản xuất, ngoài TSCĐnhư máy móc, thiết bị, nhà xưởng… doanh nghiệp phải bỏ ra một lượng tiềnnhất định để mua sắm hàng hóa, nguyên vật liệu… phục vụ cho quá trình sảnxuất Đây chính là vốn luân chuyển giúp cho DN sử dụng tốt máy móc thiết bị
và lao động để tiến hành sản xuất kinh doanh nhằm thu lợi nhuận Do vai trò vôcùng to lớn này nên việc sử dụng vốn lao động trong doanh nghiệp là một côngviệc đòi hỏi sự tính toán chính xác và hợp lý giữa các khâu, các giai đoạn trongquá trình sản xuất kinh doanh thì mới có thể phát huy hết tác dụng và mang lạihiệu quả thiết thực cho doanh nghiệp
- Vốn lưu động còn đảm bảo cho quá trình tái sản xuất của doanh nghiệpđược tiến hành thường xuyên, liên tục
- Vốn lưu động còn là công cụ phản ánh đánh giá quá trình mua sắm, dựtrữ, sản xuất, tiêu thụ của doanh nghiệp
-Vốn lưu động với đặc điểm về khả năng chu chuyển của mình có thể giúpcho DN thay đổi chiến lược SXKD một cách dễ dàng đáp ứng kịp thời nhu cầuthị trường cũng như các nhu cầu tài chính trong các quan hệ kinh tế đối ngoạicho DN
-Vốn lưu động còn là công cụ phản ánh và kiểm tra qui trình vận động củavật tư
Vốn lưu động còn là công cụ phản ánh và kiểm tra qui trình vận động củavật tư Mặc khác trong doanh nghiệp, sự vận động của vốn phản ánh sự vậnđộng của vật tư mà chủ yếu là vốn lưu động Nghĩa là trong doanh nghiệp vốnlưu động nhiều hay ít thể hiện số lượng vật tư hay hàng hoá dự trữ ở các khâu
Trang 8nhiều hay ít, hoặc là vốn lưu động luân chuyển nhanh hay chậm thi phản ánh vật
tư được sử dụng có tiết kiệm hay không, thời gian nằm ở các khâu trong sảnxuất và lưu động sản phẩm có hợp lý hay không Vì vậy qua tình hình luânchuyển vốn lao động, chúng ta có thể kiểm tra một cách toàn diện đối với việccung ứng, sản xuất và tiêu thụ của doanh nghiệp
-Vốn lưu động còn là bộ phận chủ yếu cấu thành nên giá thành sản phẩm
do đặc điểm luân chuyển toàn bộ một lần vào giá trị sản phẩm Giá trị của hànghóa bán ra được tính toán trên cơ sở bù đắp được giá thành sản phẩm cộng thêmmột phần lợi nhuận Do đó, vốn lưu động đóng vai trò quyết định trong việctính giá cả hàng hóa bán ra
-Ngoài ra, vòng tuần hoàn và chu chuyển của vốn lưu động diễn ra trongtoàn bộ các giai đoạn của chu kỳ sản xuất kinh doanh nên đồng thời trong quátrình theo dõi sự vận động của vốn lưu động, doanh nghiệp quản lý được gầnnhư toàn bộ các hoạt động diễn ra trong chu kỳ SXKD Chính vì, vậy vốn lưuđộng có ảnh hưởng lớn đến việc thiết lập chiến lược SXKD của DN
-Quy mô của vốn lưu động ảnh hưởng trực tiếp đến quy mô SXKD của
DN Đặc biệt là đối với các DN thương mại, nó làm tăng khả năng cạnh tranhcho DN nhờ cơ chế dự trữ, khả năng tài chính trong các quan hệ đối ngoại, tậndụng được cơ hội trong kinh doanh và khả năng cung cấp tín dụng cho kháchhàng Đó là những công cụ đặc biệt hiệu quả trong cơ chế cạnh tranh hiện nay Tóm lại: vốn lưu động có vai của trò vô cùng quan trọng quyết định đến sựsống còn của doanh nghiệp, việc khai thác sử dụng nguồn vốn này ảnh hưởngtrực tiếp đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, nếu khai thác xu hướng vàhợp lý thì hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp sẽ được nâng cao và ngược lại.Điều này đòi hỏi các doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh của mình cầnphải định hướng đúng đắng qui mô cơ cấu của lượng vốn này, đồng thời phân
bổ hợp lý thiếu hụt vốn hay dư thừa dẫn đến lãng phí Có như vậy, sẽ phát huyhết các tác dụng của vốn lưu động trong cơ cấu nguồn vốn kinh doanh
Trang 92 Các nguồn hình thành vốn lưu động – Vốn lưu động ròng và nợ vay
ngắn hạn.
Để nghiên cứu nguồn hình thành vốn lưu động ta phải xem xét sơ đồ biếnđộng của vốn lưu động theo thời gian Mặc dù vốn lưu động có chu kì luânchuyển ngắn, thông thường dưới một năm, nhưng do hoạt động của công ty liêntục nên các chu kì luân chuyển vốn gối đầu và đan xen nhau chứ không phảihoàn tất hết chu kì luân chuyển này này rồi mới bắt đầu chu kỳ luân chuyểnkhác, vì vậy doanh nghiệp luôn luôn tồn tại một nhu cầu lưu động thường xuyêntrong quá trình sản xuất kinh doanh
Vốn lưu động có thời gian luân chuyển ngắn, thường dưới một nămnhưng không phải vì thế mà vốn lưu động sẽ được tài trợ hoàn toàn bằng vốnngắn hạn Theo quan điểm cho rằng thời gian luân chuyển của vốn lưu độngthường dưới một năm nên phải được tài trợ bằng nguồn vốn ngắn hạn là xemxét từng chu kỳ vốn lưu động Tuy nhiên, theo quan điểm này, công ty sẽ luônđối phó với nhu cầu thanh toán nợ ngắn hạn thường xuyên, quá trình vay nợ vàtrả nợ ngắn hạn sẽ đan xen liên tục theo các chu kỳ kinh doanh liên tục và đanxem nhau Điều này sẽ làm gia tăng rủi ro thanh toán và hạn chế sự chủ độngcủa công ty về vốn trong quá trình kinh doanh, làm gia tăng chi phí giao dịch vàlàm tăng chi phí tài chính
Vốn lưu động của doanh nghiệp bao gồm vốn lưu động thường xuyên vàvốn lưu động không thường xuyên Trong quá trình hoạt động, vốn lưu độngcủa doanh nghiệp có thể tăng lên giảm xuống, nhưng thông thường không nhỏhơn 0, bất cứ thời điểm nào trong quá trình kinh doanh vốn lưu động của doanhnghiệp thường là số dương, hay nói cách khác doanh nghiệp thường tồn tại mộtnhu cầu vốn lưu động thường xuyên Do tính chất thường xuyên của nhu cầuvốn lưu động này nên đòi hỏi phải có một nguồn tài trợ tương đối ổn định.Nguồn vốn ổn định để tài trợ cho nhu cầu vốn lưu động thường xuyên được gọi
là vốn lưu động ròng (Net working Capital) Hay nói cách khác, vốn lưu
động ròng là nguồn vốn dài hạn tài trợ cho tài sản ngắn hạn.
Trang 10Nguồn vốn ổn định bao gồm vốn chủ sỡ hữu và nợ dài hạn.
Vốn lưu động ròng được xác định theo công thức:
Vốn lưu động ròng = Nguồn vốn dài hạn – Tài sản dài hạn
Hoặc:
Vốn lưu động ròng = Tài sản ngắn hạn – Nợ ngắn hạn
Hay:
Vốn lưu động ròng = Vốn lưu động – Vay ngắn hạn
Nguồn vốn dài hạn trước hết phải để tài trợ cho tài sản dài hạn trước,phần còn lại mới tài trợ cho vốn lưu động, vì vậy để phân tích những nhân tốảnh hưởng đến vôn lưu động ròng phải căn cứ vào công thức:
Vốn lưu động ròng =
Từ công thức trên có thể thấy vốn lưu động ròng sẽ tăng khi vốn dài hạntăng, ngược lại khi tài sản dài hạn tăng, vốn lưu động ròng giảm Hay nói cáchkhác, khi nguồn vốn dài hạn tăng ít hơn sự gia tăng của tài sản dài hạn thì vốnlưu động ròng sẽ giảm và ngược lại
Như vậy, vốn lưu động ròng là khoản chênh lệch giữa nguồn vốn dài hạn
và tài sản dài hạn Nó cho biết mức độ tài trợ của nguồn vốn dài hạn tài trợ vàocác tài sản ngắn hạn, vốn lưu động ròng có thể dương hoặc âm hay bằng không
2.1.Trường hợp vốn lưu động ròng dương.
Vốn lưu động ròng dương nghĩa là nguồn vốn dài hạn không chỉ đủ tài trợcho các tài sản dài hạn mà còn thừa để tài trợ vào tài sản ngắn hạn Doanhnghiệp không lấy nguồn vốn TSLĐ Nguồn vốn
-Tài sảndài hạn
Trang 11Để thấy được mức độ an toàn hay rủi ro của doanh nghiệp trong cơ cấu tàichính của mình ta có 2 chỉ tiêu để đánh giá:
Tỷ lệ vốn lưu động ròng trên vốn lưu động= vốn lưu động ròng/ vốn lưuđộng
Chỉ tiêu này cho thấy cơ cấu nguồn vốn tài trợ cho vốn lưu động Cụ thểnhư sau : Nếu tỷ lệ này cao chứng tỏ công ty có cơ cấu tài chính ổn định, rủi rotài chính và rủi ro thanh toán thấp Và ngược lại nếu tỷ lệ này thấp có nghĩa làcông ty có cơ cấu tài chính không ổn định, rủi ro tài chính và rủi ro thanh toáncao
Tuy nhiên nếu xét theo nguyên tắc đánh đổi giữa lợi nhuận và rủi ro trong
cơ cấu tài chính công ty ta sẽ thấy được: nếu một cơ cấu tài chính ổn định với tỷ
lệ vốn lưu động được tài trợ bởi nguồn vốn dài hạn cao sẽ làm tăng chi phí sửdụng vốn đồng thời làm cho việc sử dụng vốn kém linh hoạt , dẫn đến tình trạngthừa vốn, chính vì vậy hiệu quả sử dụng vốn giảm và ngược lại
Trog thực tế, mức độ tài trợ của nguồn vốn dài hạn vào vốn lưu động cònphụ thuộc vài đặc điểm chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp và quan điểm củatừng công ty
o Đặc điểm chu kỳ kinh doanh: những công ty có chu kỳ kinh doanhdài thường có tỷ lệ nguồn vốn dài hạn tài trợ cho vốn lưu động cao hơn nhữngcông ty có chu kì kinh doanh ngắn
VLĐ ròng dương
Trang 12o Quan điểm công ty: những công ty đặt mục tiêu tiết kiệm vốn, chấpnhận rủi ro cao thì tỷ lệ vốn lưu động ròng trên vốn lưu động mục tiêu sẽ thấp.
4.876.499.441 5.371.182.605
4
10.247.682.04 6
1.000.000 6.953.115.346
3.136.009.740 0
1.000.000 7.110.672.306
4
10.247.682.04 6