Đặc biệt là cuộc khai quật năm 1995-1996 của Bảo tàng Hải Dương tạikhu vực thôn Mỹ Xá - xã Minh Tân và tháng 3/2002 của Viện Khảo cổ tạithôn Chu Đậu, đã xác định rõ vị trí của 6 nền lò n
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU:
Kiến tập là hình thức thực hành không nằm trong chương trình giảng dạy đang ngày càng phổ biến Mục tiêu của việc tổ chức kiến tập là tạo điều kiện cho sv được tiếp cận môi trường làm việc thực, có cơ hội quan sát, hiểu được những yêu cầu của nghề nghiệp và tự lượng giá những ưu khuyết của bản thân để có kế hoạch phát huy, khắc phục trước khi thực sự bước vào môi trường làm việc thực tế
Trong đợt kiến tập này em được đi thực tế tại nhà máy gốm chu đậu hải dương Gốm Chu Đậu (huyện Nam Sách, Hải Dương) phát triển rực rỡvào giai đoạn thế kỷ 14 đến thế kỷ 17 Sau hơn ba thế kỷ thất truyền, nay gốmChu Đậu hồi sinh, trở thành mặt hàng xuất khẩu có giá trị Sự phục hồi củalàng gốm còn tạo nhiều tiềm năng phát triển du lịch làng nghề cho địaphương
-Bài báo cáo của e gồm 2 phần chính:
Phần 1: Khái quát chung về sự ra đời và phát triển của Gốm Chu Đậu.Phần 2: quy trình sản xuất gốm
E xin chan thành cảm ơn Thầy Nguyễn Xuân Huy, quý công ty nhàmáy Gốm Chu Đậu và các bạn đã tận tình giúp đỡ và truyền đạt nhưng kinhnghiệm quý báu để e hoàn thành được bản báo cáo này
E xin chân thành cảm ơn!
Trang 2Phần 1: Khái quát chung về sự ra đời và phát triển của
Gốm Chu Đậu.
1 Vài nét về lịch sử văn hoá, kinh tế của Chu Đậu:
Theo các tài liệu còn lưu giữ tại địa phương, Chu Đậu xã Thái Tân hiện nay được khai lập và xưng danh từ thời Lý Địa danh Chu Đậu (theo dângian) được hiểu là nơi thuyền đậu Các cụ già ở thôn cho biết bến thuyền ấychạy dài từ thôn Chu Đậu tới tận Bến Giám (ngày nay) trên sông Thái Bình,rất sầm uất vào các thế kỷ 15 - 16 Hiện nay Chu Đậu vẫn còn có các địa danhnhư xóm Văn Chỉ, Xóm Bến, xóm Đống Lò đầu làng Chu Đậu có chợ, sátcạnh làng có sông Kè Đá với Bến Tắm còn lưu truyền những câu chuyện tìnhlãng mạn Giữa làng có chùa thờ Phật và đền thờ hai anh em Phạm Mại vàPhạm Ngộ - chính khách nổi tiếng thời Trần, quê ở hương Kính Chủ (naythuộc xã Phạm Mệnh, huyện Kinh Môn) Cư dân sống chủ yếu bằng nghềtrồng lúa nước, rau, màu, chăn nuôi, dệt chiếu Mở rộng hơn thì Chu Đậuthuộc Nam Sách - tâm điểm của Văn hiến Xứ Đông xưa
Với những dấu ấn lịch sử và không gian văn hoá đương đại, vùng đấtnày đã sớm hội nhập và đến hôm nay những giá trị văn hoá tinh tuý, đậm đàbản sắc lại có thời cơ toả sáng
2 Gốm Chu Đậu - một sản phẩm văn hoá du lịch nổi tiếng
Gốm là loại sản phẩm phục vụ rộng rãi đời sống con người, từ loại gốmdân dụng, gốm nghệ thuật, gốm kiến trúc đến gốm kỹ thuật Trong quá trìnhphát triển cùng với sự tiến bộ của xã hội, của khoa học kỹ thuật, ngành gốm
từ chỗ chỉ sản xuất gốm thô, gốm sành nâu, tiến lên sản xuất gốm tinh xốp,sành trắng, gốm men và đồ sứ
Trang 3của thế kỷ XX, khi các nhà khảo cổ phát hiện, chính thức điền vào bản đồkhảo cổ học và mở ra một chương mới lịch sử nghiên cứu gốm cổ thời Lê ởViệt Nam Kể từ năm 1986 đến nay, Bảo tàng Hải Dương cùng các cơ quan
chuyên ngành khảo cổ tiến hành 7 lần khai quật Kết quả của mỗi lần khai
quật đã thu hút được sự quan tâm chú ý đặc biệt của các nhà nghiên cứu gốm trong và ngoài nước Bước đầu các nhà khoa học đã xác định được tầng văn
hoá phát triển liên tục có độ dày từ 1,4 - 2,3 m trên phạm vi 70.000 m2, chủyếu trên đất thổ cư thuộc địa phận 2 xã Thái Tân và Minh Tân, huyện NamSách Đặc biệt là cuộc khai quật năm 1995-1996 của Bảo tàng Hải Dương tạikhu vực thôn Mỹ Xá - xã Minh Tân và tháng 3/2002 của Viện Khảo cổ tạithôn Chu Đậu, đã xác định rõ vị trí của 6 nền lò nung gốm ở thế kỷ 15 - 16,
các lò nung đã bước đầu được nhận diện và thu được một số lượng lớn di vật, cho một thông tin khả quan về mối quan hệ về loại hình, dòng men và kỹ thuật sản xuất gốm giữa Chu Đậu với các di chỉ gốm Cậy (Bình Giang) Căn
cứ vào sự xác định ban đầu của các nhà khảo cổ, Hải Dương có 14 trung tâmsản xuất gốm trong đó có trung tâm gốm sứ cao cấp Chu Đậu phát triển rực rỡvào thế kỷ 15- 16
Sớm nhận thức được giá trị văn hoá, tầm quan trọng và để bảo vệ di tích, năm 1992, di tích khảo cổ học Chu Đậu đã được Bộ Văn hoá - Thông
tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) đã xếp hạng di tích quốc gia.
Đây cũng là di chỉ sản xuất gốm đầu tiên của đất nước được xếp hạng Năm
1993, Bảo tàng Hải Hưng cho xuất bản cuốn Gốm Chu Đậu đã gây tiếng vangvượt ra khuôn khổ quốc gia và đem lại sự chú ý đặc biệt của bạn bè quốc tế
Nhiều người quan tâm tìm hiểu gốm cổ Việt Nam đã biết đến chiếc lọgốm hoa lam - một đồ gốm men Việt Nam được chế tạo từ thế kỷ 15, đượctrưng bày tại bảo tàng Topkapi suray (Thổ Nhĩ Kỳ) Nét đặc biệt làm người tachú ý là trên chiếc lọ ấy có ghi chữ Hán: Thái Hoà bát niên, Nam Sách châu,tượng nhân Bùi Thị Hý bút Dòng chữ đó đã được một số nhà khoa học lúc
đó dịch là : niên hiệu Thái Hoà năm thứ 8 ( triều vua Lê Nhân Tông, 1450),
người thợ thủ công họ Bùi ở châu Nam Sách vẽ chơi; đến nay nhiều nhà
Trang 4khoa học cho rằng đó là tác phẩm của nghệ nhân Bùi Thị Hý - người thôn Quang Tiền xã Đồng Quang, huyện Gia Lộc lấy chồng về Chu Đậu Chiếc lọ
hoa lam này đã trở thành tiêu bản mẫu để làm rõ những đồ gốm men hoa lam
khác không ghi niên đại, là một điểm chỉ dẫn sự tìm kiếm về trung tâm làm
gốm men Chu Đậu thời phong kiến của khảo cổ học Việt Nam.
Một sự kiện vô cùng đặc biệt là con tàu chở gốm bị đắm dưới lòng đạidương từ thế kỷ 15 ở Hội An (Quảng Nam) được phát hiện năm 1993, và trụcvớt năm (1997- 2000), theo các nhà khoa học nhận định thì đã có tới 40 vạn
bộ hiện vật gốm Chu Đậu Bằng chứng này cho thấy rõ từ thế kỷ 15, sảnphẩm của các lò gốm ở Chu Đậu đã từng được xuất khẩu ra thị trường quốc
tế Đã có nhiều thông tin cũng cho biết: đến nay sản phẩm Gốm Chu Đậu còn
được lưu giữ và trưng bày tại trên 40 Bảo tàng Quốc gia lớn trên thế giới Và
như vậy đồng nghĩa với gốm Chu Đậu sớm nổi tiếng, trở thành một sản phẩm văn hoá du lịch, hành trình xuyên quốc gia.
Tại trong nước, gốm Chu Đậu hiện đã có mặt với số lượng hiện vật lớn
tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, Bảo tàng Dân
tộc (Hà Nội), Bảo tàng tỉnh Quảng Nam, Bảo tàng thành phố Hồ Chí Minh.
Tại Bảo tàng Hải Dương đang lưu giữ trên 3 vạn di vật gốm, trong đó có trên
5000 di vật tiếp nhận từ con tàu đắm được trục vớt tại Cù Lao Chàm - Hội
An Số hiện vật trên đã và đang được bảo quản, đăng ký khoa học và chọn lựahiện vật tiêu biểu trưng bày tại Nhà trưng bày Gốm Sứ Hải Dương, khánhthành năm 2010
Trang 5Phần 2: Quy trình sản xuất gốm
1- KHÁI NIỆM CHUNG VỀ GỐM SỨ
Gốm là sản phẩm được sản xuất từ bột liệu mịn sau khi tạo hình đượcsấy và nung đến nhiệt độ cao để đạt yêu cầu kỹ thuật cần thiết Chính vì vậy
mà gốm được phân loại theo tính chất và phạm vi sử dụng của chúng
- Độ bền hóa
Độ bền hóa hay khả năng chịu tác dụng hóa học của môi trường như thức
Trang 6ăn hay nước uống, chanh hay dấm, nước mắm, nước rửa và nhiều loại khácnữa.
1.4- Ứng dụng của gốm sứ
Phạm vi ứng dụng vật liệu gốm sứ rất rộng và rất lớn Hầu như tất cácngành công nghiệp đều dùng đến gốm sứ dưới nhiều dạng khác nhau như:
- Công nghiệp xây dựng
- Công nghiệp luyện kim,công nghiệp điện
- Công nghiệp điện tử
- Công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng
Trang 7I.2 TỔNG QUAN VỀ SƠ ĐỒ QUÁ TRÌNH SẢN XUẤT GỐM SỨ
+ Sơ đồ quy trình sản xuất
Sấy, sửa sản phẩm môcNăng lượng nhiệt
Các nguyên liệu
Trang trí,tráng men
Năng lượng nhiệt
Men, chất màu
Nung
Kiểm tra phân loại
Trang 8Nguyên liệu chủ yếu để sản xuất gốm sứ là các loại đất đá có trongthiên nhiên, nó phân bố khắp nơi trên mặt đất và có những mỏ tập trung như
mỏ đất sét, cao lanh, trường thạch, thạch anh, đá vôi, hoạt thạch
Căn cứ vào tính năng vật lý của nguyên liệu, người ta chia làm 2 loại:
+ Nguyên liệu dẻo: Cao lanh, đất sét
+Nguyên liệu không dẻo: Thạch anh, trường thạch
1.3.1- Nguyên liệu dẻo (Cao lanh và đất sét.)
- Các loại cao lanh và đất sét khác nhau gọi chung là nguyên liệu sét.Nguyên liệu sét – danh từ để chỉ các loại khoáng vật mảnh vụn cóthành phần hóa thông thường là hydroalumosilicat
- Nguyên liệu sét hình thành do sự phong hóa của đá gốc như fenpat,granit, mica, thạch anh Trong suốt nhiều thế kỷ nguyên địa chất
- Dựa vào điều kiện hình thành mà các nguyên liệu sét được phânthành loại sét nguyên sinh và thứ sinh
+ Sét nguyên sinh được tạo thành và nằm tại nơi phong hóa có đặcđiểm là hạt thô, kém dẻo và chứa ít tạp chất.Đa só các loại cao lanh thuộc vềsét nguyên sinh
+ Sét thứ sinh là sản phẩm phong hóa được mang đi nơi khác và đượclấy đọng lại Đặc điểm của sét thứ sinh là chứa nhiều hạt mịn, dẻo và lẫnnhiều tạp chất Các loại đất sét khác nhau, tùy theo cấu tạo tạp chất và điềukiện hình thành, thường thuộc về sét thứ sinh
1.3.2-Nguyên liệu không dẻo
Nguyên liệu không dẻo, có thể chia thành hai loại:
- Loại giảm dẻo như cát, Samot mảnh gốm sứ…
- Loại giảm dẻo và hạ nhiệt nung như: trường thạch đá vôi, hoạtthạch…
+ Thạch anh.
Công thức toán học là SiO2 Thạch anh trong thiên nhiên tồn tại
Trang 9-Loại tinh thể như quac-zit, cát sông, cát biển…
-Loại vô định hình như: đá cuội( Flint), diatonit…
Thạch anh có tỷ trọng từ 2.21 đến2.65 tùy theo cấu tạo của tinh thể Thạchanh biến đổi tinh thể khi nhiệt độ thay đổi và kèm theo hiện tượng tăng giảmthể tích
+ Trường thạch.
Trong tự nhiên thường hay gặp:
-Trường thạch KaLi: K2O.Al2O3.SiO2
-Trường thạch Natri: Na2O.Al2O3.6SiO2
-Trường thạch CanXi: Ca2O.Al2O3.2SiO2
Trường thạch có tỉ trọng từ 2.50 đến 2.70 Độ cứng từ 6 ÷ 6.5 Nhiệt độ nóngchảy từ11500c đến 12900c Khi nung đến 13000c rồi để nguội, trường thạchchảy thành thủy tinh màu trắng đục
+ Hoạt thạch.
Hoạt thạch ở dạng đá có màu trắng, xám nhạt hồng tỷ trọng từ 2.7 ÷2.8
-Hoạt thạch có đặc điểm là để cắt gọt, ghét nước, sờ tay vào thấy trơn trượt.-Công thức hóa học của hoạt thạch dao động rất rộng từ 3MgO.4SiO2 đến4MgO.5SiO2.5H2O
-Hoạt thạch cho vào xương sứ sẽ tăng cường độ cơ học tăng tính bền điện,bền nhiệt của sứ
-Hoạt thạch pha vào men sẽ hạ thấp nhiệt độ nung chảy của men, giảm
độ nhớt của pha lỏng
+Đá vôi
Công thức toán học CaCO3 thành phần hóa học: CaO = 56%; CO2 = 44%
-Đá vôi pha vào phế liệu sứ để hạ thấp nhiệt độ nung Đá vôi dùngtrong men gốm sứ khi ở nhiệt độ cao sẽ phản ứng mãnh liệt với cao lanh vàthạch anh tạo thành lớp thủy tinh trong suốt, tạo thành lớp trung gian tốt giữaxương và men
+Đôlômit
Trang 10Đôlômit là loại đá có màu trắng xám, vàng, nâu, lục, nhạt, độ cứng 3,5% ÷ 4 Tỷ trọng 1,8 ÷ 2,9.
-Công thức hóa học: CaMg(CO3)2
-Đôlômit cho vào phê liệu sứ chủ yếu cung cấp CaO và MgO để hạ thấp nhiệt
độ nung Tăng tính bền điện, bền nhiệt, bền hóa…
1.3.3-Gia công chế biến nguyên liệu.
+Trong sản xuất gốm sứ thì khâu gia công phối liệu xương là quantrong nhất Tùy theo nguyên liệu sử dụng và yêu cầu chất lượng của sản phẩm
mà người ta lựa chọn thiết bị và dây chuyền công nghệ cho phù hợp
+Đối với gốm chu đậu hiện nay đang sản xuất dây chuyền sau:
-Phương pháp gia công phối liệu ướt( hồ rót)
- Phương pháp gia công phối liệu dẻo( đất xây)
1.3.4- Phương pháp gia công phối liệu ướt( hồ rót).
+Các mặt hàng gốm sứ có hình khối phức tạp như tượng mỹ nghệ, ấmtrà… đều phải dùng phương pháp đổ rót bằng khuôn thạch cao
+Hồ rót phải đạt các yêu cầu kỹ thuật sau:
- Lượng nước phải ít nhất để giảm thời gian đổ rót và thời gian sấy sảnphẩm
- Hồ phải có độ linh động cao để vận chuyển trong đường ống
- Hồ phải bền không lắng, không đóng cục
- để thoát khuôn bề mặt sản phẩm phải bóng đẹp
Trang 11
-1.3.5 -Dây truyền gia công hồ rót như sau:
Bể chứa
Cân phối liệu
Thành hình
Bể ủBơm
Trang 121.3.6 - Dây truyền gia công phối liệu dẻo( đất xây).
uo
I.4 - THẠCH CAO
Thạch cao là vật liệu làm khuôn cho sản phẩm gốm sứ, khuôn thạchcao chế tạo dễ, giá thành hạ, thạch cao tồn tại trong thiên nhiên hàng triệunăm nhưng mãi đến năm 1760 người Pháp mới tìm ra công nghệ chế biếnthạch cao
* Quá trình lý hóa khi nung thạch cao
Trang 13Thạch cao bao gồm thạch cao thiên nhiên, anhydric thiên nhiên và các phếphẩm của công nghẹ hóa học.
1.4.1-Thạch cao thiên nhiên
1.4.2-Anhydric thiên nhiên ( CaSO 4 )
Thành phần hóa của anhydric
Nung thạch cao ở nhiệt độ khác nhau sẽ cho những sản phẩm khác nhau:
- Ở 1000C CaSO4.2H2O phân hủy nhanh chóng thành CaSO4.0,5H2O
CaSO4.2H2O = CaSO4.0.5H2O + 1,5H2O Hơi nước thoát ra sủi bọt nhanh làm cho thạch cao sôi, bột thạc cao lúcnày linh động như chất lỏng CaSO4.0,5H2O có 2 dạng thù hình là β haidạng thù hình này khác nhau về chỉ số khúc xạ, kích thước tinh thể và một sốchỉ số khác
- α CaSO4.0,5H2O đóng rắn và ninh kết chậm cường độ cơ học cao
- β CaSO4.0,5H2O đóng rắn và ninh kết nhanh , cường độ cơ học thấp
- Khi nâng nhiệt độ lên 2000c quá trình mất nước càng nhanh và CaSO4 cótính hòa tan trong nước
Trang 14- Tiếp tục nâng nhiệt độ lên 3000c lượng CaSO4 càng nhiều và chuyển thànhCaSO4 không hòa tan trong nước.
- Đến 4500c và 4700c sản phẩm hoàn toàn là anhydric(CaSO4) không hòatan trong nước và mất tính liên kết, đóng rắn
1.4.4 - Chế tạo khuôn thạch cao
- Khuôn thạch cao dùng trong kỹ thuật sản xuất gốm sứ thông thường đểlàm khuôn cho phương pháp tạo hình dẻo các loại hình xoay tròn như:bát , đĩa, chén v.v và phương pháp tạo hình ướt (đổ rót) như : lọ hoa, ấmtrà, tượng mỹ nghệ… Khuôn có thể một mảnh hoặc nhiều mảnh ghép lại.Muốn sản xuất khuôn phải qua các bước sản xuất khuôn đầu, khuôn mẹ,khuôn con
- Sản phẩm được thiết kế trên bản vẽ có kích thước chính xác ví dụ một bát cơm: Người ta đổ thạch cao có phôi sơ bộ to hơn thiết kế, sau đó sẽ tiện trên bàn xoay theo hình dáng và kích thước phía ngoài sản phẩm gọi là khuôn đầu.
- Tiếp tục bôi xà phòng, lau khô Nhiều lần làm như vậy, để chống dính, rồi
đổ thạch cao lên trên khuôn đầu Khi thạch cao đóng rắn tiếp tục tiện theothiết kế của khuôn con (3) Sau đó lại bôi xà phòng, lau khô để chống dínhrồi lại đổ thạch cao lên khuôn (3) vừa tiện xong Chờ thạch cao đóng rắnlại tiện theo thiết kế của khuôn bao (2) Khi thạch cao đóng rắn đủ cường
độ và đủ thời gian ta tháo rời khuôn ra thành 3 mảnh 1,2,3
Trang 15Ta ghép mảnh 1 ( khuôn đầu ) và mảnh 2 ( khuôn bao ) ta được bộ khuôngọi là khuôn mẹ.
- Từ khuôn mẹ ta có khoảng trống 3, ta bôi xà phòng lau khô để chống dính
và hòa thạch cao đổ vào khoảng trống Để thạch cao đóng rắn đủ cường độ
ta lấy ra được khuôn con 3,như vậy từ khuôn mẹ ta có thể sản xuất hàngtrăm khuôn con giống nhau
- Khuôn con 3 chính là khuôn dùng để sử dụng trong sản xuất các mặt hànggốm sứ
I.5 - TẠO DÁNG VÀ SẤY SẢN PHẨM
Tạo dáng sản phẩm.
Hình dáng các sản phẩm gốm sứ rất đa dạng, phong phú Tính năng củasản phẩm gốm sứ có yêu cầu rất cao Những sản phẩm sứ kỹ thuật đòi hỏikích thước chính xác Vì vậy phương pháp tạo dáng sản phẩm gốm sứ cũngrất phong phú Tùy theo yêu cầu của sản phẩm mà lựa chọn từ công nghệ đếnpha chế nguyên liệu và tạo dáng cho phù hợp, để đạt được hiệu qur cao nhất
1.5.1- Phương pháp dẻo.
a)Phương pháp xây bằng máy bàn tua.
Trang 16Máy bàn tua dùng dao bản để thành hình các loại sản phẩm nhỏ có hình dángtròn xoay như : chậu hoa để bàn, các loại bát ,chén uống nước….
+ Nguyên lý hoạt động của máy như sau :
Phối liệu dẻo được nắm thành phôi đất, ném vào khuôn thạch cao (5).Cho motơ quay để truyền động cho trục (8) và bề thạch cao (6) quay tròn làmcho khuôn (5) quay theo Hạ cầu dao (2) xuống dao bản sẽ nén đất vào thànhkhuôn Phôi thừa được cắt bỏ bằng dao biên và văng ra ngoài, nhấc cầu daolên, lấy khuôn (5) ra ta được sản phẩm mà phía trong lòng là hình của dao bản(4) và phía ngoài sản phẩm là hình dáng của khuôn (5) Thạch cao sẽ hút ẩm
và sản phẩm sẽ khô, bong ra khỏi khuôn lấy ra ta được sản phẩm có độ ẩmkhoảng 20% ÷ 22% Cho sản phẩm vào phòng sấy và chuyển đi cáo côngđoạn tiếp theo
+Tạo hình bằng máy bàn tua có những yêu điểm sau:
-Dễ thao tác
-Vốn đâu tư thấp giá thành hạ
+Tuy vậy có những nhược điểm là: Kết cấu của sản phẩm không đều, lực nényếu, độ ẩm thành hình cao, nên sản phẩm dễ bị biến dạng
Trang 17lăn với nhiều kiều dáng khác nhau như loại hai bệ quay ngược chiều với tốc
độ khác nhau, loại hai đầu nén, loại đầu nén có gia nhiệt…
b- phương pháp dùng máy ép loại hai đầu nén
1.5.2- Phương pháp đổ rót.
Hồ rót có độ linh động cao, có độ ẩm từ 32÷ 40% được rót vào khoảngtrống (4) Do khuôn thạch cao có khả năng hút nước nên hồ chuyển động theo
Trang 18hướng thành khuôn Phối liệu rót sẽ bám vào thành khuôn đều đặn và xít đặc,theo thời gian chiều dầy sản phẩm tăng dân, khi độ dầy sản phẩm đạt yêu cầu
ta đổ hồ thừa ra và được sản phẩm theo ý muốn Chờ cho sản phẩm khô tách
ra khỏi khuôn( độ ẩm khoảng 20÷ 22%) ta tháo từng mảnh khuôn và chờ sảnphẩm đủ cường độ ta mang đi sấy, sửa, tráng men
Nguyên lý của sự hình thành lớp xương mộc như sau:
-Nếu gọi chiều dầy lớp bám vào khuôn là x trong một thời gian dt, lớp xương tăng được chiều dầy dx.
-dx sẽ giảm dần khi chiều dầy lớp xương mộc tăng.
Giả thiết khả năng hút nước của thạch cao là a và coi a là hằng số, thì quan hệ giữa chiều dày lớp mộc và thời gian sẽ là:
Thời gian càng lâu lớp xương mộc bám khuôn càng dày.
Phương pháp đổ rót có yêu điểm sau:
Tạo dáng được những sản phẩm có hình dáng phức tạp, mật độ kết cấu củaxương sít đặc đồng đều nhưng có nhược điểm năng xuất thấp,
Trang 19c - Sửa ướt và gắn sản phẩm
-Sản phẩm sau khi thoát khỏi khuôn cần được bảo quản độ ẩm đồng đều khoảng từ 15% - 17%, chuyển sản phẩm lên bàn xoay ( hoặc máy sửa ) đánh cân rồi dùng dao chuyên dụng cắt gọt các ba via dư thừa để điều chỉnh hình dáng sản phẩm theo mong muốn.
1.5.3 - Sấy và sửa khô sản phẩm gốm sứ.
a- sấy sản phẩm
Trong quá trình tạo dáng sản phẩm chúng ta đã thêm vào phối liệu một lượng nước khá lớn như tạo hình dẻo là 25% Để sản phẩm đủ cường độ tiếp tục các công đoạn sau như sửa, tráng men và vận chuyển giữa các công đoạn khác nhau ta phải tiến hành sấy sản phẩm.
Khi sấy hơi nước sẽ thoát ra, phần hơi nước ở bề mặt sẽ bốc hơi nhanh, phần nước ở giữa sản phẩm sẽ khó bốc hơi và phải di chuyển ở giữa
ra bề mặt, do đó sẽ có sự chênh lệch về độ ẩm và sự co rút sản phẩm sẽ bị chênh lệch, gây lực nén làm nứt sản phẩm Mặt khác do nhiệt độ sấy và áp lực hơi nước phía trong sẽ lớn làm nổ sản phẩm nếu chế độ sấy không hợp lý Vấn đề chủ yếu của kỹ thuật sấy là đảm bảo chất lượng sản phẩm nhưng phải tìm ra biện pháp kỹ thuật để rút ngắn thời gian sấy, giảm vốn đầu