Con người, vốn và công nghệ là ba yếu tố sản xuất để con người tạo ra của cải vật chất, thiếu một trong ba yếu tố này hay có sự tăng không đều giữa 3 yếu tố này đều tạo nên sự phát triển không cân đối cho nền kinh tế
Trang 1Bài tập nhóm kinh tế đầu tư:
Đầu tư phát triển nguồn nhân lực
Nhóm 15 – Lớp KTĐT 1
Trần Anh Đức - 48 Đầu tư B
Nguyễn Đức Hưng - 48 Đầu tư B
Lê Thùy Minh - 48 Đầu tư B
Cao Thị Thanh Thuỷ - 48 Đầu tư A
Kim Thị Quý - 48 Đầu tư B
Giáo viên hướng dẫn: PGS.TS Từ Quang Phương
TS Phạm Quang Hùng
Hà Nội -10/2008
Trang 2Mục lục
Lời mở đầu 5
Chương 1: Lý luận chung về đầu tư phát triển nguồn nhân lực 6
1.1 Phát triển nguồn nhân lực 6
1.1.1 Nguồn nhân lực 6
1.1.2 Phát triển nguồn nhân lực 6
1.2 Đầu tư phát triển nguồn nhân lực 7
1.3 Nội dung đầu tư phát triển nguồn nhân lực 8
1.3.1 Đầu tư giáo dục đào tạo nguồn nhân lực 8
1.3.1.1 Đầu tư cho chương trình giảng dạy 8
1.3.1.2 Đầu tư đội ngũ giáo viên và phương pháp dạy học 8
1.3.1.3 Đầu tư cơ sở hạ tầng giáo dục 9
1.3.2 Đầu tư y tế và chăm sóc sức khỏe 10
1.3.2.1 Đầu tư cơ sở vật chất (bệnh viện) 10
1.3.2.2 Đầu tư trang thiết bị y tế, chăm sóc sức khỏe 11
1.3.2.3 Đầu tư cho cán bộ y tế 12
1.3.3 Đầu tư cải thiện môi trường làm việc của người lao động 13
1.3.4 Đầu tư cho tiền lương 13
1.4 Đặc điểm của đầu tư phát triển nguồn nhân lực 14
1.5 Các học thuyết đầu tư phát triển nguồn nhân lực 15
1.5.1 Lý thuyết nguồn vốn con người (Human Capital Theory) 15
1.5.1.1 Giáo dục và thu nhập - mô hình đi học (Education and earnings - the Schooling model) 15
1.5.1.2 Coi người nô lệ là vốn đầu tư 16
1.5.1.3 Quyết định đi học 16
1.5.1.4 Trợ cấp cho giáo dục nên hay không? 19
1.5.1.5 Nhận xét đánh giá về lý thuyết nguồn vốn con người 19
1.5.2 Lý thuyết tăng trưởng nội sinh 20
1.5.2.1 Nội dung lý thuyết tăng trưởng nội sinh 20
1.5.2.2 Đánh giá lý thuyết tăng trưởng nội sinh 22
1.6 Lợi ích của đầu tư phát triển nguồn nhân lực 23
1.6.1 Lợi ích cá thể của vốn con người 23
1.6.2 Lợi ích xã hội của vốn con người 26
1.7 Các chỉ tiêu đánh giá đầu tư phát triển nguồn nhân lực 27
1.7.1 Chỉ tiêu phản ánh tình trạng sức khoẻ cuả dân cư 27
1.7.2 Chỉ tiêu biểu hiện trình độ văn hóa của người lao động 27
1.7.3 Chỉ tiêu biểu hiện trình độ chuyên môn kĩ thuật 27
1.7.4 Chỉ số phát triển con người HDI 28
1.7.5 Chỉ tiêu khác 28
Trang 3Chương 2: Thực trạng đầu tư phát triển nguồn nhân lực giai đoạn
2001-2007 29
2.1 Đầu tư kế hoạch hóa dân số và đầu tư cho chăm sóc sức khỏe nhân dân 29
2.1.1 Đầu tư cho kế hoạch hóa dân số 29
2.1.2 Đầu tư cho y tế và chăm sóc sức khỏe nhân dân 29
2.2 Đầu tư cho giáo dục đào tạo 30
2.2.1 Nguồn vốn và quy mô vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước 30
2.2.2 Đầu tư cho hệ thống giáo dục 33
2.2.2.1 Đầu tư giáo dục mầm non 34
2.2.2.2 Đầu tư giáo dục phổ thông 34
2.2.2.3 Đầu tư giáo dục bậc đại học, cao đẳng 34
2.2.2.4 Đào tạo cho giáo dục sau đại học 36
2.3 Đầu tư tạo việc làm 37
2.3.1 Đầu tư tạo việc làm cho lao động 37
2.4 Đầu tư xã hội và xuất khẩu lao động 38
2.4.1 Đầu tư toàn xã hội 38
2.4.2 Xuất khẩu lao động 39
2.5 Đầu tư cải thiện môi trường lao động 39
2.5.1 Tiền lương 39
2.5.2 Bảo hiểm 40
2.5.3 Công đoàn 41
2.5.4 Điều kiện làm việc 41
2.6 Kết quả và hiệu quả đầu tư phát triển nguồn nhân lực 43
2.6.1 Về sức khỏe 43
2.6.2.Về trình độ văn hóa 44
2.6.3 Về chuyên môn kỹ thuật 44
2.6.4 Chỉ số tổng hợp 45
Chương 3: Giải pháp đầu tư phát triển nguồn nhân lực 46
3.1 Cơ hội và thách thức đối với đầu tư phát triển nguồn nhân lực trong giai đoạn tới 46
3.1.1 Định hướng cho hoạt động Đầu tư phát triển nguồn nhân lực trong giai đoạn tới 46
3.1.2 Cơ hội cho đầu tư phát triển nguồn nhân lực 48
3.1.3 Thách thức trong bối cảnh hiện nay 49
3.2 Giải pháp đầu tư bảo vệ và tăng cường thể lực nguồn nhân lực 50
3.2.1 Đầu tư tăng cường thể lực 50
3.2.2 Đầu tư bảo vệ thể lực 51
3.3 Giải pháp đầu tư phát triển trí lực và kỹ năng nguồn nhân lực 51
3.3.1 Tăng cường nguồn vốn cho đầu tư cho giáo dục đào tạo 51
Trang 43.3.2 Giải pháp đầu tư đối với giáo dục cơ sở 54
3.3.3 Giải pháp đầu tư cho đào tạo nghề 55
3.3.3.1 Đầu tư đào tạo dạy nghề khối kỹ thuật công nghiệp 55
3.3.3.2 Đầu tư đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho xuất khẩu lao động ra nước ngoài 56 3.3.4 Đầu tư đào tạo bồi dưỡng cán bộ quản lý cấp cơ sở 57
3.4 Giải pháp đầu tư về việc làm và chống thất nghiệp 58
3.4.1 Giải pháp đa dạng hóa các nguồn vốn đầu tư 58
3.4.2 Giải pháp đầu tư khuyến khích hỗ trợ tạo việc làm 59
3.4.3 Giải pháp đầu tư cho thị trường lao động 60
3.4.3.1 Đầu tư giảm cung lao động 60
3.4.3.2 Đầu tư tăng cầu lao động 61
3.4.4 Nhóm các giải pháp đầu tư thúc đẩy giao dịch trên thị trường lao động 61
3.4.4.1 Đầu tư phát triển hệ thống trung tâm giới thiệu việc làm 61
3.4.4.2 Đầu tư phát triển hệ thống thông tin, thống kê thị trường lao động 62
3.4.5 Đầu tư cải cách hệ thống trả công lao động theo hướng thị trường 62
3.4.6 Đầu tư tăng cường an sinh xã hội 63
3.4.7 Đầu tư nâng cao an toàn và vệ sinh lao động 64
Trang 5ta cũng đang chuyển mạnh theo hướng dịch vụ, công nghiệp, đặc biệt là dịch vụ cao cấp Điều này đòi hỏi khách quan của thị trường cầu về số lượng, cơ cấu chất lượng, cơ cấu ngành nghề đối với nguồn nhân lực Từ đó cho thấy vai trò quan trọng của hoạt động Đầu tư phát triển nguồn nhân lực đối với sự phát triển lâu dài và bền vững của nền kinh tế Bối cảnh mới đã đặt ra những cơ hội cũng như thách thức cho hoạt động Đầu tư phát triển nguồn nhân lực mà chúng ta cần xem xét để có thể đưa ra những định hướng hợp lý, đáp ứng được những yêu cầu trong giai đoạn hiện nay.
Vì nhiều lý do bài tập này chỉ đề cập được trong một chừng mực nhất định những lý thuyết chung trong vấn đề đầu tư phát triển nguồn nhân lực, vì vậy cũng không tránh khỏi những khiếm khuyết chủ quan và khách quan, hi vọng nhiều ở sự góp ý của thầy và các bạn
Xin trân trọng cảm ơn PSG.TS Từ Quang Phương và TS Phạm Quang
Hùng đã giúp chúng em thực hiện bài tập này
Nhóm15
Trang 6Chương 1: Lý luận chung về đầu tư phát triển nguồn nhân lực
1.1 Phát triển nguồn nhân lực
1.1.1 Nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực (Human resources) là nguồn lực con người, yếu tố quan trọng, năng động nhất của tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội Nguồn nhân lực có thể xác định cho một quốc gia, vùng lãnh thổi địa phương (Tỉnh, Thành Phố …) và nó khác với các nguồn lực khác (Tài chính, đất đai, công nghệ …) ở chỗ nguồn lực với hoạt động sáng tạo, tác động vào thế giới tự nghiên và trong quá trình lao động nảy sinh các vấn quan hệ lao động và quan hệ xã hội, cụ thể hơn nguồn nhân lực của một quốc gia biểu hiện ở các khía cạnh sau đây:
• Với tư cách là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội bao gồm toàn bọ dân cư trong xã hội có khả năng lao động
• Với tư cách là yếu tố của sự phát triển kinh tế - xã hội thì nguồn nhân lực
là khả năng lao động ở các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động có khả năng lao động
• Với tư cách là tổng thể cá nhân những con người cụ thể tham gia vào quá trình lao động thì nguồn nhân lực bao gồm cả yếu tố về thể lực và trí lực, thuộc những người có giới hạn tuổi từ 15 trở lên
Nguồn nhân lực được xem xét trên giác độ số lượng thì nguồn nhân lực được thể hện qua các chỉ tiêu quy mô và tốc độ tăng nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực được xem xét trên giác độ về mặt chất lượng được thể hiện trên các mặt trình độ văn hoá, trình độ chính thức chuyên môn, năng lực phẩm chất Như vậy, mặc dù có các biểu hiện khác nhau nhưng nguồn nhân lực một quốc gia phản ánh các đặc điểm quan trọng sau đây:
Nguồn nhân lực là nhân lực con người
Nguồn nhân lực là bộ phận của dân số, gắn với cung lao động
Nguồn nhân lực phản ánh khả năng lao động của một xã hội
1.1.2 Phát triển nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực theo nghĩa rộng bao gồm cả số lượng và chất lượng dân số,
do vậy phát triển nguồn nhân lực (PTNNL) về thực chất là liên quan đến cả hai khía cạnh đó Tuy nhiên, hiện nay đối với thế giới và đặc biệt các nước đang phát triển thì vấn đề nổi cộm là chất lượng dân số và do vậy các nghiên cứu về PTNNL trong những thập kỷ gần đây chủ yếu nhằm vào chất lượng nguồn nhân
lự, tức nhấn mạnh chủ yếu đến nguồn vốn nhân lực Còn đối với khía cạnh số lượng, do tốc độ tăng dân số quá mức trong những thập niên gần đây, điều quan
Trang 7tâm của các chính phủ các nước đang phát triển là hạn chế gia tăng dân số Như vậy hướng PTNNL hiện nay đang được đặc biệt quan tâm là quá trình nâng cao chất lượng và hiệu quả sử dung nguồn nhân lực.
Việc hình thành và tạo dựng nguồn vốn nhân lực của mỗi cá nhân là một quá trình thay đổi chất lượng sức lao động Quá trình này chủ yếu do trình độ giáo dục chính thức, kinh nghiệm, sức khỏe và dinh dưỡng quyết định Theo lý thuyết nguồn vốn còn người (The Human Capital Theory) thì nguồn vốn con người được thể hiện trong năng suất lao động, rằng nguồn vốn nhân lực của một con người càng cao thì năng suất lao động của anh ta càng cao Nguồn vốn nhân lực được tạo ra qua quá trình đầu tư vào nguồn nguồn nhân lực bao gồm đầu tư vào giáo dục và học học tập kinh nghiệm tại nơi làm việc, sức khỏe và dinh dưỡng.PTNNL, xét từ góc độ một đất nước là quá trình tạo dựng lực lượng lao động năng động có kỹ năng và sử dụng chúng có hiệu quả, xét từ góc độ cá nhân là việc nâng cao kỹ năng, năng lực hành động và chất lượng cuộc sống nhằm nâng cao năng suất lao động và thu nhập Một cách rõ ràng hơn, có thể nói PTNNL là các hoạt động nhằm nâng cao và khuyến khích đóng góp tốt hơn kiến thức và thể lực của người lao động, đáp ứng tốt hơn cho nhu cầu sản xuất Kiến thức có được nhờ quá trình đào tạo và tiếp thu kinh nghiệm, trong khi đó thể lực có được nhờ chế độ dinh dưỡng, rèn luyện thân thể và chăm sóc y tế
Như vậy phát triển nguồn nhân lực bao gồm các quá trình phát triển giáo
dục, tiếp thu kinh nghiệm, tăng cường thể lực, kế hoạch hóa dân số, tăng nguồn khích hiệu ứng lan tỏa kiến thức trong nhân dân PTNNL từ góc độ làm chính sách vốn xã hội cũng như các quá trình khuyến khích hoặc tối ưu hóa sự đóng góp của các quá trình đã nói trên vào quá trình sản xuất chẳng hạn như các quá trình sử dụng lao động, khuyến là một giải pháp phân phối hơn là tái phân phối
1.2 Đầu tư phát triển nguồn nhân lực
Đầu tư phát triển nguồn nhân lực là một bộ phận của đầu tư phát triển, nó là
việc chi dùng vốn trong hiện tại để tiến hành các hoạt động nhằm nâng cao và khuyến khích đóng góp tốt hơn kiến thức, thể lực của người lao động, để đáp ứng tốt hơn cho nhu cầu sản xuất
Đầu tư phát triển bao gồm : đầu tư những tài sản vật chất và đầu tư phát triển
những tài sản vô hình Đầu tư phát triển nguồn nhân lực là một trong những nội
dung của đầu tư những tài sản vô hình Đầu tư phát triển nguồn nhân lực bao gồm những nội dung cơ bản sau: đầu tư cho hoạt động đào tạo lực lượng lao động, đầu tư cho công tác chăm sóc sức khỏe y tế, đầu tư cải thiện môi trường, điều kiện làm việc của người lao động …
Trang 81.3 Nội dung đầu tư phát triển nguồn nhân lực
1.3.1 Đầu tư giáo dục đào tạo nguồn nhân lực
Đào tạo nguồn nhân lực là quá trình trang bị nhất định về chuyên môn nghiệp vụ cho người lao động, để họ có thể đảm nhận được một công việc nhất định Phát triển nguồn nhân lực bao gồm các hoạt động học tập trang thiết bị kiến thức kĩ năng để cho người lao động làm công việc khó khăn phức tạp hơn
và để phát triển sự nghiệp của mình Để hoàn thành tốt công tác đào tạo nguồn nhân lực cần phải có sự đầu tư kĩ lưỡng về mọi mặt Việc đầu tư cho giáo dục được thể hiện qua các mặt chính sau:
Chương trình giảng dạy thể hiện những nội dung sẽ được đưa vào nhà trường nhằm nâng cao tri thức của mỗi người tham gia khóa học Vì vậy chương trình giảng dạy cần được coi trọng Hiện nay ở Việt Nam thì chương trình học được thể hiện rõ nét trong sách giáo khoa.
Sách giáo khoa là loại sách cung cấp kiến thức, được biên soạn với mục đích dạy và học Thuật ngữ sách giáo khoa còn được hiểu là một loại sách chuẩn cho ngành học Sách giáo khoa được phân loại theo đối tượng sử dụng hoặc chủ đề của sách Biên soạn một sách giáo khoa có giá trị cả một kì công Ở cấp phổ thông, sách giáo khoa là sự thể hiện những nội dung cụ thể của chương trình phổ thông Trên thế giới có nhiều bộ sách giáo khoa khác nhau cùng biên soạn cho cùng một môn học Tại Việt Nam, hiện tại chỉ tồn tại một bộ sách duy nhất cho một môn học
Để sách giáo khoa được đảm bảo phù hợp với trình độ và thời gian học tập của học sinh thì nó cần phải được đầu tư một cách nghiêm túc, có sự tham gia của các học giả, các nhà giáo kinh nghiệm để đảm bảo hệ thống kiến thức trong
đó phải chính xác, theo một trình tự logic chặt chẽ, được gia công về mặt sư phạm cho phù hợp với học sinh Và ngoài phần kiến thức, sách giáo khoa còn có một phần về rèn luyện các kĩ năng và các phương pháp giảng dạy môn học
Một chương trình đào tạo giáo dục có hiệu quả, chất lượng tốt cần có sự
phối hợp giữa người dạy và người học, người dạy tốt sẽ có học trò giỏi Một người giáo viên dạy tốt là người nhiệt tình, nhiều kinh nghiệm và có trình
độ cao Để đảm bảo sự nhiệt tình cho người giáo viên, tạo hứng thú cho mỗi giờ giảng của họ thì ít nhất họ cũng phải có một cuộc sống ổn định, không
Trang 9phải lo lắng về thu nhập hay nói cách khác việc đầu tư nâng cao thu nhập của giáo viên sẽ tăng làm hiệu quả của công tác giảng dạy, người giáo viên
sẽ dành nhiều tâm sức để nâng cao hiệu quả bài giảng của mình
Phương pháp giáo dục là cách thức sử dụng các nguồn lực trong giáo dục như giáo viên, trường lớp, dụng cụ học tập, các phương tiện vật chất để giáo dục người học
Hiện nay đã hình thành và phát triển nhiều phương pháp giảng dạy khác nhau như:
• Phương pháp giáo dục truyền thống: Giáo viên độc thoại, chủ động
truyền đạt kỹ năng còn người học tiếp thu một cách thụ động Giáo viên làm mẫu còn học viên làm theo
• Phương pháp giáo dục hiện đại: Giáo viên là người thiết kế tổ chức còn bản thân học viên tự tìm kiếm tri thức, tự hoạt động theo cách riêng độc lập và sáng tạo
• Phương pháp giáo dục thụ động: Giáo viên truyền đạt kiến thức, độc thoại, phát vấn hay đặt câu hỏi, giáo viên áp đặt kiến thức có sẵn, còn học viên thì học thuộc lòng và nhớ máy móc Giáo viên độc quyền
đánh giá cho điểm
hành động thao tác giáo viên đối thoại với học viên, giáo viên hợp tác và trao đổi với học viên và giáo viên khẳng định kiến thức do học viên tìm ra Học sinh học cách học, cách đặt vấn đề và giải quyết vấn
đề, cách sống và trưởng thành Học sinh tự đánh giá và điều chỉnh làm cơ sở cho giáo viên cho điểm cơ động
Đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng nâng cao giáo dục hiện đại với người học tích cực chủ động tìm kiếm kiến thức là một trong những điều kiện quyết định đối với việc nâng cao chất lượng đào tạo hiện nay Ý thức được tầm quan trọng của vấn đề này, nhà nước ta rất quan tâm tới việc bồi dưỡng, cập nhật, vận dụng các phương pháp giảng dạy mới trong nhà trường
Việt Nam đang trên con đường phát triển với nhiều biến đổi cả về chất và
lượng Một trong những những nguyên nhân đó là do đặc điểm nguồn nhân
lực Việt Nam Nhà nước ta đã đầu tư rất nhiều ngân sách cho công tác giáo dục Một trong những nội dung đầu tư đó là đầu tư cho cơ sở hạ tầng giáo dục Mà ở đây chúng ta sẽ xét đến cơ sở nhà trường nơi diễn ra quá trình
Trang 10đào tạo nguồn nhân lực Để đầu tư cho giáo dục đào tạo cần một lượng vốn rất lớn, điều đó có thể nằm ngoài khả năng ngân sách của chính phủ, vì vậy phải tạo điều kiện tối đa cho các thành phần kinh tế khác đầu tư cho giáo dục Bên cạnh đó, ở những vùng sâu vùng xa miền núi, chi phí của việc xây dựng trường học rất tốn kém, lợi nhuận từ việc đầu tư cho giáo dục cũng không hấp dẫn tư nhân tham gia nên nhà nước phải đứng ra đầu tư Hay các trường chuyên, trường năng khiếu; trường, lớp dành cho người tàn tật;
trường giáo dưỡng cũng thế, đều cần có sự đầu tư trực tiếp từ nhà nước
1.3.2 Đầu tư y tế và chăm sóc sức khỏe
Chăm sóc sức khỏe là một ngành dịch vụ trong đó người cung ứng và người
sử dụng quan hệ với nhau thông qua giá dịch vụ Tuy nhiên, không giống các loại dịch vụ khác, chăm sóc sức khỏe có một số đặc điểm riêng, đó là:
Mỗi người đều có nguy cơ mắc bệnh và nhu cầu chăm sóc sức khoẻ ở các mức độ khác nhau Chính vì không dự đoán được thời điểm mắc bệnh nên thường người ta gặp khó khăn trong chi trả các chi phí y tế không lường trước được
Chính vì những đặc điểm trên của ngành y tế mà việc đầu tư phát triển y tế, chăm sóc sức khỏe phải được quan tâm một cách đặc biệt để phát triển nguồn nhân lực hoạt động một cách có hiệu quả Đầu tư vào lĩnh vực y tế đứng trên góc
độ của một nền kinh tế bao gồm những lĩnh vực sau:
Việc đầu tư xây dựng bệnh viên tổ chức tuyến điều trị theo ba cấp độ chuyên môn như sau:
Tuyến 1( tuyến chăm sóc sức khỏe cơ bản ban đầu hay tuyến
huyện): thực hiện các kỹ thuật chăm sóc sức khỏe cơ bản, mang tính
đa khoa;
Tuyến 2( tuyến tỉnh ): chăm sóc sức khoẻ với các kỹ thuật phức tạp
hơn, mang tính chuyên khoa chuyên ngành; là tuyến kỹ thuật cao hơn Tuyến 1 và tiếp nhận người bệnh do Tuyến 1 chuyên đến
Tuyến 3( tuyến trung ương ): tuyến cuối cùng trong bậc thang điều
trị, thực hiện các kỹ thuật chuyên khoa sâu và tiếp nhận người bệnh
từ tuyến dưới chuyển đến
Ngoài các bệnh viện công lập như trên còn phải khuyến khích việc hình thành và phát triển các bệnh viện theo hướng đa dạng hóa các loại hình khám chữa bệnh, khuyến khích thành lập các bệnh viện bán công, dân lập, tư nhân có vốn đầu tư nước ngoài nhưng bệnh viện công vẫn giữ vai trò chủ đạo Nhất là bệnh viện chuyên khoa nhằm thực hiện chính sách xã hội hoá và đa dạng hoá các loại hình dịch vụ y tế Tuy nhiên, hệ thống bệnh viện công vẫn đóng vai trò chủ
Trang 11đạo, đặc biệt là phát triến các kỹ thuật cao, đảm bảo cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân.
Trang thiết bị y tế bao gồm các loại thiết bị, dụng cụ, vật tư, phương tiện vận chuyển chuyên dụng phục vụ cho hoạt động chăm sóc bảo vệ sức khỏe nhân dân Cùng với sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước, đặc biệt trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay, nhu cầu chăm sóc bảo vệ sức khỏe nhân dân đòi hỏi chất lượng ngày càng cao Trang thiết bị y tế là một trong những yếu tố quan trọng quyết định hiệu quả, chất lượng của công tác y tế, hỗ trợ tích cực cho người thầy thuốc trong công tác phòng bệnh và chữa bệnh Do vậy, lĩnh vực trang thiết bị y tế cần được tăng cường đầu tư cả về số lượng và chất lượng, đảm bảo tính khoa học và hiệu quả Việc đầu tư trang thiết bị y tế cần phải chú ý những nội dung sau:
Trang thiết bị y tế là lĩnh vực chuyên dụng và rất đắt tiền đòi hỏi nhiều yêu cầu khắt khe về kỹ thuật cao, chính xác, an toàn và ổn định Nhu cầu kinh phí để trang bị mới cũng như duy trì hoạt động liên tục của trang thiết
hoá gia đình, chăm sóc sức khỏe ban đầu, dụng cụ sử dụng một lần và các
trang thiết bị phục vụ y tế học đường và gia đình, người lao động
Xây dựng quy chế nhằm tạo môi trường hấp dẫn cho các doanh nghiệp, các
cơ sở nghiên cứu khoa học và công nghệ thuộc các ngành, các địa phương tham gia sản xuất trang thiết bị y tế Khuyến khích dùng trang thiết bị y tế sản xuất trọng nước, giảm dần nhập khẩu, đến năm 2010 chỉ nhập khẩu những thiết bị y tế chưa sản xuất được trong nước
Từng bước xây dựng và đệ trình Nhà nước xem xét ban hành các chính sách khuyến khích, ưu đãi đối với các cơ sở sản xuất trang thiết bị y tế trong nước
Có chính sách ưu tiên thích đáng trong việc cử cán bộ đi đào tạo về nghiên cứu sản xuất trang thiết bị trong nước
Có chính sách hỗ trợ về vốn và kỹ thuật cho các cơ sở thuộc thành phần kinh
tế nhà nước nhằm phát huy vai trò chủ đạo trong lĩnh vực kinh doanh trang thiết
bị y tế
Trang 12Tạo điều kiện thuận lợi để các thành phần kinh tế có thể tham gia hoạt động kinh doanh trang thiết bị y tế theo quy định của Nhà nước và hướng dẫn của Bộ
y tế
Bộ Y tế thành lập cơ sở nghiên cứu với sự tham gia của các cơ quan trực thuộc Bộ Y tế, các cơ sở khoa học công nghệ, các nhà khoa học để nghiên cứu khả năng ứng dụng những trang thiết bị y tế, các phương pháp điều trị và chẩn đoán mới xuất hiện trên thế giới để áp dụng có chọn lọc vào Việt Nam
Có chính sách khuyến khích các nhà khoa học, các cơ sở khoa học và công nghệ trong và ngoài ngành tham gia nghiên cứu chế tạo, khai thác sử dụng và thực hiện dịch vụ kỹ thuật về trang thiết bị y tế
Cán bộ y tế là lực lượng chủ chốt trọng nghành y Dù máy móc, thiết bị có hiện đại đến đâu đi chăng nữa thì vẫn cần phải có những bác sĩ có trình độ chuyên môn để khám và chuẩn đoán bệnh Chính vì vậy mà việc đầu tư cho cán
bộ y tế là rất cần thiết
Đầu tư cho hệ thống giáo dục đào tạo các y bác sĩ ngay từ trong nhà trường Việc đào tạo phải được kết hợp giữa lý thuyết và thực hành, đầu tư trang bị các dụng cụ học tập phục vụ giảng dạy, sinh viên phải được tiếp xúc với các loại bệnh tật ngay khi còn ở trên ghế nhà trường
Muốn trò giỏi thì đội ngũ giáo viên phải là những người có chuyên môn và kinh nghiểm giảng dạy cũng như thực hành trong thực tế
Tổ chức các chương trình du học, cấp học bổng cho các sinh viên y khoa có trình độ giỏi đi du học nước ngoài để nâng cao tầm hiểu biết và kinh nghiệm Tuy nhiên đi kèm với nó phải có sự thỏa thuận về công ăn việc làm sau khi học xong tránh tình trạng chảy máu chất xám cũng như thất nghiệp sau khi về nước
Đội ngũ y, bác sĩ phải được quan tâm, phụ cấp phải phù hợp với trình độ và hơn thế nữa là tránh hiện tượng lương được chi trả không đáp ứng được những chi tiêu thiết yếu của cuộc sống
Tóm lại, nhà nước và doanh nghiệp khi đầu tư vào y tế cần tập trung vào các vấn để kể trên, cần phải vận dụng và kết hợp sao cho phù hợp với điều kiện của các doanh nghiệp và cuộc sống của người lao động
Trang 131.3.3 Đầu tư cải thiện môi trường làm việc của người lao động
Cùng với sự phát triển về kinh tế, sự gia tăng lực lượng lao động và số doanh nghiệp trong công tác an toàn – vệ sinh lao động(AT-VSLĐ), chúng ta phải đối mặt với những thách thức về sự gia tăng tai nạn lao động(TNLĐ), bệnh nghề nghiệp(BNN) và ô nhiễm môi trường lao động Để giảm thiểu sự bất lợi đó, không chỉ các địa phương cần quan tâm làm tốt công tác quản lý nhà nước, mà còn cần cả các doanh nghiệp thực hiện tốt các quy định về AT-VSLĐ Công tác AT-VSLĐ có tác động rất lớn đến kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia và đem lại quyền lợi trước hết cho doanh nghiệp, cho người lao động và bản thân gia đình
họ Một công tác nghiên cứu tại Canada cho thấy nếu đầu tư cho công tác VSLĐ 1USD sẽ thu lợi được lại từ 1,5 đến 8 USD Các nghiên cứu về lợi nhuận thu được từ đầu tư cho AT-VSLĐ được tiến hành tại nhiều nước như Trung Quốc, Đức đã cho các kết quả khả quan tương ứng Một kết quả nghiên cứu tại cộng đồng Châu Âu cho thấy chi phí trực tiếp và gián tiếp trung bình cho 1 người bị TNLĐ khoảng 25000 EUR, nhưng nếu phòng ngừa tốt thì nó có thể đem lại cho người lao động khoảng 3000 EUR/người mỗi năm Đây là những con số lý tưởng nếu so sánh với mức sống trên 1USD/người 1 ngày mà các quốc gia đang phấn đấu trong xóa đói giảm nghèo Theo số liệu của tổ chức ILO, mỗi năm trên thế giới có khoảng 270 triệu người bị TNLĐ phải nghỉ việc ít nhất 3 ngày, trong đó 350000 ca chết người và khoảng 160 triệu người mắc BNN làm khoảng 1,7 đến 2 triệu người chết TNLĐ, BNN làm thiệt hại khoảng 4% GDP toàn thế giới Dự báo ở Việt Nam năm 2010, khu vực công nghiệp có khoảng 120-130 tai nạn lao động/năm, khoảng 2000 người mắc bệnh nghề nghiệp làm thiệt hại cho nền kinh tế hàng nghìn tỷ đồng Trước tình hình đó, nhà nước cần
AT-có những biện pháp tích cực để giảm thiểu TNLĐ và BNN phải tăng cường giám sát và đầu tư cho các vấn đề sau:
• Đầu tư tăng cường điều kiện lao động
• Đầu tư giảm tai nạn lao động
• Đầu tư cho bảo hiểm y tế và bảo hiểm xã hội
1.3.4 Đầu tư cho tiền lương
Đối với người lao động, tiền lương là thu nhập từ quá trình lao động của họ, phần thu nhập chủ yếu đối với đại đa số lao động trong xã hội Phấn đấu nâng cao TL là mục đích của hết thảy mọi người lao động Mục đích này tạo ra động lực để người lao động phát triển trình độ và khả năng lao động của mình
Còn đối với doanh nghiệp, TL là một phần chi phí cấu thành chi phí sản xuất của doanh nghiệp Tiền lương phải trả cho người lao động là một yếu tố cấu thành nên giá trị sản phẩm, dịch vụ do doanh nghiệp toạ ra Các doanh nghiệp sử
Trang 14dụng tiền lương để làm đòn bẩy kinh tế khuyến khích tinh thần tích cực lao động, là nhân tố thúc đẩy để phát triển năng suất lao động.
Để có được cơ chế trả lương xứng đáng cho người lao động cũng như phù hợp với từng doanh nghiệp thì cần có nhiều sự điều chỉnh xuyên suốt từ các cấp cao đến từng cấp ngành cơ sở, địa phương
1.4 Đặc điểm của đầu tư phát triển nguồn nhân lực
Coi vốn nhân lực là một lĩnh vực có thế đầu tư, cần phân biệt sự khác nhau giữa lĩnh vực đầu tư này với các lĩnh vực đầu tư thông thường khác Kết quả của đầu tư phát triển nhân lực không phải sự tăng lên ngay về tài sản cố định mà là
sự tăng lên về tài sản trí tuệ và tài sản sức khỏe Các kết quả đạt được đó góp phần làm tăng thêm năng lực sản xuất xã hội, rồi qua đó người lao động sẽ tác động người lại các tài sản cố định khác làm chúng tăng lên
Một khác biệt quan trọng nữa là ta có thể mua bán, trao đổi và dùng vốn tài sản như một khoản thế chấp khi vay tiền trong khi ta không thể làm được như vậy với vốn con người Ta chỉ có thể thuê vốn con người Điều này lý giải phần nào tại sao như chúng ta thấy chỉ có một khoản vay tư nhân hạn chế dành cho các sinh viên học lên đại học
Lợi ích có được từ đầu tư vào nhân lực mang một số đặc trưng khác hẳn với các loại đầu tư khác
Đầu tư vào nguồn nhân lực không hề bị giảm giá trị trong quá trình sử dụng mà ngược lại càng được sử dụng nhiều, khả năng tạo thu nhập và do vậy thu hồi vốn càng cao
Đầu tư vào nguồn nhân lực có chi phí tương đối không cao trong khi đó khoảng thời gian sử dụng lại lớn, thường là khoảng thời gian làm việc của một đời người
Các hiệu ứng gián tiếp, và hiệu ứng lan tỏa của đầu tư và vốn nhân lực là rất lớn Trình độ nhân lực trung bình ở một nước cao hơn cũng cho phép tăng trưởng kinh tế tốt hơn và điều chỉnh tốt hơn đối với các vấn đề dân
số, kế hoạch hóa gia đình, môi trường và nhiều vấn đề khác
Đầu tư vào con người không chỉ là phương tiện để đạt thu nhập mà còn là mục tiêu của xã hội, giúp con người thưởng thức cuộc sống đầy đủ hơn
Đầu tư vào con người không chỉ do tỷ lệ thu hồi đầu tư trên thị trường quyết định
Tuy nhiên, như đã nói ở trên, các lợi ích thu được từ đầu tư vào nguồn vốn nhân lực thu được chỉ trong điều kiện được sử dụng hiệu quả và có môi trường phát triển phù hợp và thuận lợi Ngược lại sẽ là sự lãng phí đầu tư Trong mọi sự lãng phí, lãng phí nguồn nhân lực con người là mất mát to lớn và đáng sợ nhất
Trang 151.5 Các học thuyết đầu tư phát triển nguồn nhân lực
1.5.1 Lý thuyết nguồn vốn con người (Human Capital Theory)
Lý thuyết nguồn vốn con người khẳng định năng suất lao động của một cá nhân phụ thuộc vào trình độ nguồn vốn nhân lực của bản thân anh ta và đồng thời thu nhập là do năng suất của anh ta quyết định Trong các công trình nghiên cứu ban đầu của các nhà lý thuyết nguồn vốn con người, khái niện nguồn vốn con người gắn chủ yếu với giáo dục Giáo dục trong lý thuyết nguồn vốn con người được coi là một hình thức đầu tư Xuất phát từ tư duy tân cổ điển, học thuyết nguồn vốn con người giải thích quyết định của các cá nhân đầu tư vào giáo dục là do sau khi so sánh chi phí – lợi ích của việc đầu tư bằng cachs tính tỷ
lệ thu hòi đầu tư của giáo dục so sánh với các loại đầu tư khác
the Schooling model)
Người lao động được chi trả khác nhau vì công việc, các kỹ năng, và khả năng của họ khác nhau Chúng ta đều biết rằng giáo dục giúp giảm khả năng bị thất nghiệp và gia tăng thu nhập sau khi đi học Tuy nhiên, yếu tố nào khuyến khích một số người ở lại trường học tiếp, trong khi một số khác lại bỏ học sớm?
Mô hình đi học có thể giải thích vấn đề đó:
Giả định của mô hình:
• Mục tiêu hành vi của nhà đầu tư là tối đa hóa lợi ích
• Các kỹ năng thu được không bị mai một sau khi nghỉ học
• Dòng thu nhập là cố định suốt cuộc đời
• Không có những lợi ích nào khác trong quá trình đi học
• Không có đào tạo khác trong quá trình làm việc
Giá trị hiện tại (Present Value - PV): giá trị của một thu nhập tương lai hay một sự chi tiêu tương lai ở thời điểm hiện nay Người ta nói rằng con người có thị hiếu hiện tại, nghĩa là họ thích hiện tại hơn là tương lai
Xem xét tình huống sau:
Tham gia vào thị trường lao động, một người tốt nghiệp trung học thu được
w0 dollar hàng năm cho tới khi nghỉ hưu, giả sử là 65 tuổi Nếu đi học đại học, người đó bỏ đi w0 dollar thu nhập, phải tốn chi phí trực tiếp C1 và chi phí gián tiếp C2 Sau 4 năm đi học, anh ta kiếm được w1 cho đến khi nghỉ hưu
Trang 16Giá trị hiện tại của dòng thu nhập của từng trường hợp là:
Với r là tỉ lệ chiết khấu, và C = C1 + C2
Người học sinh đó sẽ đi học đại học nếu PV1 > PV0 Trong trường hợp có nhiều hơn 2 chọn lựa, anh ta chỉ cần tính giá trị hiện tại của dòng thu nhập ứng với mỗi trường hợp và chọn ra trường hợp có giá trị hiện tại là cao nhất
Thể hiện dưới dạng lợi suất đầu tư, chúng ta có:
Lợi suất giáo
Chi phí ròng cho việc học đại học
Logic của luồng PV áp dụng cho chế độ nô lệ Nếu bạn đang mua một người cho cả cuộc đời của anh ta, giá bán sẽ bằng với PV của số tiền kiếm được trong suốt cuộc đời của người nô lệ, trừ đi PDV của chi phí duy trì cuộc sống, trừ đi
PV của chi phí cường chế lao động
Tương tự, giả sử một người sở hữu nô lệ đang xem xét liệu có phải huấn luyện cho người nô lệ của ông ta thành một thời rèn hay không.Việc này đồng nghĩa với suy tính về số tiền kiếm được trong tương lai- người nô lệ không thể làm việc thay cho học nghề Những số tiền kiếm được cũng cao hơn đối với những người chủ trong tương lai Những người chủ nô mong muốn tối đa hoá lợi nhuận sẽ chọn mức chi phí đào taọ nghề tối đa hoá PV của người nô lệ
Hoặc giả sử một người chủ nô đang quyết định xem có nên cho phép nô lệ của ông ta có con hay không (những đứa trẻ đó cũng là những nô lệ hợp pháp) Nếu một nô lệ có một đứa con, người mẹ sẽ đem lại thu nhập ít hơn trong một khoảng thời gian, và đứa trẻ bị biến thành nô lệ sẽ hầu như không tạo ra giá trị lợi nhuận trong nhiều năm; nhưng cuối cùng người chủ sẽ có hai nô lệ thay vì chỉ
có 1 Người chủ nô tìm cách tối đa hoá lợi nhuận sẽ chọn bất cứ cách nào có PV cao hơn
Tỷ suất hồi vốn đối với một người nô lệ là bao nhiêu? Nếu một nô lệ bán với giá 3.000 USD, tạo ra 300 USD thu nhập ròng, và giảm xuống chỉ còn giá trị bằng 2.850 USD, tỷ suất hồi vốn là (300 - 150)/3.000 = 5%
Trong một nền kinh tế có chế độ nô lệ, bạn dự tính đầu tư vào nô lệ sẽ có giá trị hồi vốn tiêu biểu giống như bất cứ cái gì khác
Chúng ta có thể minh họa những chi phí và lợi ích này bằng đồ thị như trong Hình 4 dưới đây
Trang 17Để đơn giản hóa, giả định rằng bạn bắt đầu đi học đại học (ĐH) ở tuổi 18
và học xong khi bạn 22 tuổi Trong khi học ĐH, bạn không làm thêm Chúng ta
có thể điều chỉnh đồ thị này cho phù hợp với trường hợp bạn có đi làm thêm, tức
là vừa đi học vừa đi làm Bạn hãy thử tự vẽ đồ thị cho trường hợp đó
Đường màu xanh là những gì bạn có thể kiếm được với một tấm bằng
cấp III.[1]
học phí cũng như các khoản chi khác nhưng không phải là các khoản phí sinh hoạt Kiểu gì thì bạn cũng phải chi tiền cho việc ăn ở
không đi làm để dành thời gian cho việc học tập), = chi phí cơ hội của thời gian bạn bỏ ra
Hình 1: Quyết định đi học
Nên lưu ý là tôi đã giả định rằng sinh viên tốt nghiệp ĐH phải mất một vài năm mới có thể đuổi kịp kinh nghiệm làm việc của những người chỉ tốt nghiệp trung học đã đi làm trước đó Nhưng chúng ta biết rằng điều này trước sau gì cũng sẽ xảy ra
Nhằm thu được lợi ích ròng từ việc đi học, chúng ta cần có giá trị hiện tại của tổng lợi ích và chi phí cho việc đi học lớn hơn không Điều này cũng giống như khi chúng ta nói rằng giá trị hiện tại của vùng 3 phải lớn hơn giá trị hiện tại của vùng 2 + vùng 1
Chúng ta có thể dùng phân tích đơn giản mà chúng ta đã phát triển để xét xem những thay đổi trong các biến cơ sở sẽ tác động thế nào đến quyết định đi học:
Trang 18• Độ dài thời gian ở vùng 3 càng lớn (và độ dài thời gian ở vùng 2 càng nhỏ) thì lợi tức ròng thu được càng lớn Những người còn trẻ có xu hướng thích đi học hơn so với những người lớn tuổi.
• Thu nhập của một sinh viên tốt nghiệp ĐH càng cao, lợi tức ròng của việc
đi học càng lớn, bạn càng có xu hướng muốn đi học ĐH
• Thu nhập của một người tốt nghiệp cấp III càng cao, lợi tức ròng của việc
đi học ĐH càng thấp (vùng 2 lớn hơn và vùng 3 nhỏ hơn), khả năng bạn sẽ quyết định đi học càng ít hơn
• Vùng 1 càng lớn (bao gồm học phí và các khoản phí khác) thì bạn càng ít
có xu hướng sẽ đi học ĐH
• Tỷ lệ lãi suất (r) càng cao, giá trị hiện tại của những sự kiện xảy ra trong tương lai càng thấp thì lợi tức ròng của việc đi học ĐH càng thấp Bạn có thể coi đó như một chi phí cơ hội tiềm ẩn Bạn có thể nghĩ đến điều này như một chi phí vay tiền hiện nếu bạn cần phải vay tiền để đi học ĐH
Vậy còn khả năng bẩm sinh của mỗi người, lượng vốn con người ban đầu họ có?
• Khả năng bẩm sinh này có tác động trái ngược nhau đến quyết định của mỗi người đi học hay không đi học
• Nếu bạn có khả năng bẩm sinh giúp bạn tăng lợi tức thu được từ việc theo học chương trình trước ĐH (ví dụ như bạn là Nguyễn Hiền) thì ít có khả năng là bạn sẽ đi học ĐH
• Mặt khác, khả năng bẩm sinh của bạn có thể biến bạn thành một học sinh
ưu việt hơn mọi người Điều đó có nghĩa là bạn có thể đạt được cùng mức vốn con người trong thời gian ngắn hơn (ví dụ như tham gia học 40 trình trong một kỳ) hay với chi phí thấp hơn (ví dụ như bạn có thể vừa đi học vừa đi làm)
Và lúc đó, xu hướng xảy ra là những người thông minh hơn thường đi học nhiều hơn Họ tiếp tục học lên cao hơn chứ không dừng lại ở bậc trung học
Tóm lại, khó có thể nói trước trong hai tác động nói trên tác động nào sẽ đóng vai trò chi phối Cuối cùng, chúng ta nên lưu ý rằng mọi người không phải
là những cá nhân đồng nhất Mỗi người có thể có những một mức thu nhập riêng tuỳ thuộc vào trình độ của họ là tốt nghiệp trung học hay ĐH Một số người có thể sinh ra để làm thợ mộc mà không có khả năng trong việc dùi mài kinh sử Tốt hơn hết là họ không nên đi học ĐH bởi chi phí mà họ phải bỏ ra là rất cao Thậm chí, việc kiếm được tấm bằng ĐH đối với họ là một việc không tưởng Một số người khác có thể sinh ra để theo nghiệp đèn sách và không có khả năng
về kỹ thuật hay làm việc chân tay Đường thu nhập của họ ở trình độ trung học là khá thấp
Trang 19Thế nên, những khác biệt về thu nhập mà chúng ta đưa ra cho mỗi cá nhân
là không giống nhau Không phải ai cũng có thể đạt được trình độ ĐH cho dù họ
có xuất thân như thế nào hay khả năng bẩm sinh của họ là gì đi chăng nữa
Chú ý: trong kinh tế, chúng ta quy giá trị bằng tiền Tuy nhiên, trên thực
tế, danh dự, học vị, kiến thức để giúp chúng ta trở thành con người tốt hơn, giá trị đó khó quy lại bằng tiền Nghĩa là, nếu bạn đi học vì tiền, thì PV là cách tính; nhưng nếu bạn đi học vì lý do khác, như tể thoả mản 1 sự tò mò về 1 lãnh vực nào đó, bạn phải tính đến giá trị của học vấn như là 1 sự sảng khoái, giúp bạn giải quyết được gút mắc
Trợ cấp giáo dục hoạt động có hiệu quả: Doanh thu thuế cao hơn khi đánh thuế vào những người tốt nghiệp ĐH tạo ra những lợi ích ngoại sinh Ngoài ra còn phải kể đến ảnh hưởng lan toả của các phát minh Trợ cấp giáo dục là một ý tưởng tốt Các cá nhân sẽ bỏ qua những lợi ích này khi đưa ra quyết định của mình Bởi vậy, chính phủ cần phải khuyến khích họ bằng việc trợ cấp cho họ
Trợ cấp giáo dục để đảm bảo sự công bằng Rất khó để có thể đi vay tiền dựa vào vốn con người của bạn vì bạn không thể dùng nó để thế chấp như đối với vốn tài sản Hệ quả là những sinh viên con nhà nghèo sẽ phải đối đầu với một mức lãi suất cao hơn, tức là sẽ được học hành ít hơn Điều này vừa không công bằng vừa thiếu hiệu quả
Qua đó và từ đó học thuyết nguồn vốn con người có thể thấy được cách hành động của chính phủ để trợ cấp giáo dục
o Đầu tư cho các trung gian việc làm để rút ngắn thời gian tìm việc, giúp người tìm việc làm đúng nghề, tạo ra thu nhập ngay khi ra trường
Giảm diện tích vùng 1:
o Chính phủ hỗ trợ học phí cho người học như cho sinh viên các khoản vay khoản vay không lãi suất để giảm chi phí học tập, đẩy đường 1 lên trên, giảm diện tích vùng 1
1.5.1.5 Nhận xét đánh giá về lý thuyết nguồn vốn con người
Đóng góp của lý thuyết nguồn vốn con người là rất lớn Nó đưa giáo dục thành đối tượng trực tiếp của phân tích kinh tế và do vậy các thể chế xã hội liên
Trang 20quan đến giáo dục (ví dụ như trường học, gia đình) vốn trước đây được xem như các phạm trù hoàn toàn văn hóa vào lĩnh vực phân tích kinh tế Gắn giáo dục với năng suất lao động và mức thu nhập, lý thuyết nguồn vốn con người đã chỉ ra cho cá nhân phương tiện để chủ động cuộc sống của mình Đầu tư vào chương trình học tập có lợi ích lớn hơn chi phí giúp một cá nhân tăng thu nhập Điều này đặc biệt quan trọng với các quá trình giảm nghèo và thu hẹp khoảng cách phát triển cách biệt trong xã hội, bởi vì các nhóm thất học có xu thể là các nhóm nghèo Các chính phủ theo đuổi chính sách tăng trưởng công bằng luôn coi trọng luận điểm này.
Ngoài ra học thuyết này tạo ra một mảnh đất màu mỡ cho các học thuyết sau đó như học thuyết tăng trưởng nội sinh ra đời và phát triển
Thông qua phân tích lợi ích- chi phí, thuyết nguồn vốn con người cung cấp luận chứng cho quyết định đầu tư vào các chương trình giáo dục cần thiết cũng như chỉ ra chi phí của việc phân bổ thời gian, có nghĩa là nên đầu tư vào giáo dục ở thời điểm nào là tốt nhất Chỉ ra chi phí của việc phân bổ thời gian có thể là đóng góp quan trọng nhất của lý thuyết nguồn vốn con người
Sự khác biệt trong tiền lương không chỉ do sự khác biệt về trình độ giáo dục mà còn do nhiều yếu tố khác trong tính cách của người lao động như tính kiên trì, khả năng tổ chức tốt, sự thông minh nhanh nhạy Hơn nữa, gia đình xuất thân, nhóm xã hội, giới tính hay sắc tộc là những yếu tố có tác động đến tiền lương
Học thuyết nguồn vốn con người còn bị phê phán do không tính đến các lợi ích gián tiếp và ngoại ứng của giáo dục Giáo dục không chỉ tạo ra thu nhập
mà còn mang lại nhiều lợi ích khác như hưởng thụ cuộc sống tốt hơn, giúp nhận thức tốt hơn các sự kiện chính trị - xã hội Do đo, quyết định đầu tư vào giáo dục
có thể không chỉ xuất phát từ các suy tính lựa chọn hợp lý dựa trên tỷ lệ thu hồi
từ giáo dục cao hơn
1.5.2 Lý thuyết tăng trưởng nội sinh
Theo các nhà lý thuyết, tăng trưởng nội sinh nguồn vốn nhân lực của một đất nước thể hiện trong nguồn vốn nhân lực của từng cá nhân, khả năng lan tỏa kiếm thức giữa các cá nhân cũng như khả năng kết hợp cá đầu vào Nguồn vốn này càng cao thì càng có khả năng sản sinh ra tiến bộ công nghệ cho nền kinh tế và
sử dụng chúng cho sản xuất Ứng dụng công nghệ, về phía mình lại tạo ra khả năng dịch chuyển đường giới hạn sảnh xuất lên phía trên tạo ra tăng trưởng dài hạn cho nền kinh tế Họ đã chứng minh logic này bằng các “mô hình tăng trưởng mới”
Trang 21“Mô hình tăng trưởng mới” ra đời cuối những năm 1980 như một giải pháp cho các khó khăn trong giải thích nguồn gốc tăng trưởng thực tế bằng các mô hình tăng trưởng tân cổ điển, Khác với mô hình tân cổ điển của Solow-Swan đôi khi còn gọi là mô hình tăng trưởng ngoại sinh, các công trình nghiên cứu tăng trưởng nội sinh nhấn mạnh rằng tăng trưởng kinh tế được sản sinh ra từ chính từ chính bên trong hệ thống kinh tế chứ không phải là các kết quả từ bên ngoài hệ thống kinh tế Các nhà lý thuyết tăng trưởng nội sinh đã đưa các yếu tố sản sinh công nghệ vào bên trong mô hình và coi đó là do bản thân nền kinh tế sản sinh
ra Các tác giả tiên phong của thuyết tăng trưởng nội sinh như Romer (1986) và Lucas (1988) nhấn mạnh hiệu ứng lan tỏa của kiến thức và giả thiết tồn tại ngoại ứng của vốn nhân lực trong một nền kinh tế Theo họ các ngoại ứng này, tuy không lan truyền thông qua các cơ chế thị trường, song lại là những nguồn gốc quan trọng làm gia tăng năng suất và do vậy là nên tảng cho tăng trưởng dài hạn của một nên kinh tế Chính trình độ của nguồn vốn nhân lực và ngoại ứng của nó cung cấp lời giải thích cho sự khác biệt về tăng trưởng kinh tế quốc tế
Romer trong công trình “Lợi tức tăng dần và tăng trưởng dài hạn” (1986)(Increase return and long-run growth) đã phát triển một mô hình cân bằng theo thay đổi công nghệ nội sinh, trong đó tăng trưởng dài hạn chủ yếu do tích lũy kiến thức điều chỉnh Các giả thiết trung tâm trong mô hình này là:
• Kiến thức mới có lợi tức giảm dần do sản phẩm của tri thức mới là một công nghệ mới có lợi tức giảm dần
• Sản xuất tri thức có ngoại ứng tích cực, vì kiến thức mới do một công
ty tạo ra có tác động tích cực lên khả năng sản xuất của công ty khác,
do kiến thức không thể hoàn toàn được giấu kín hay đặt dưới quyền kiểm soát của tác giả
• Sản xuất hàng tiêu dùng từ góc độ là một hàm của kiến thức có thể có lợi tức tăng dần do kiến thức theo sản phẩm lan truyề đến người tiêu dùng
Ba yếu tố này kết hợp với nhau tạo ra một mô hình tăng trưởng có sức cạnh tranh tốt vì trong mô hình này tri thức sẽ gia tăng không giới hạn và liên tục, tạo
ra sự tăng trưởng dài hạn cho tổng sản phẩm trên đầu người
Lucas (1988, 1990, 1993) cho rằng mô hình di cư và sự khác biệt tiền lương quốc tế và di chuyển tư bản là rất khó giải thích được bằng mô hình tăng trưởng dân số cổ điển vì nó không thể giải thích được tại sao nguồn vốn nhân lực lại di chuyển từ nơi rất thiếu hụy tới nơi ít thiếu hụt hơn; Tại sao cùng một người công nahan lại có thể kiếm được nguồn thu nhập tốt hơn sau khi dịch chuyển , ví dụ từ Philippin sang mỹ và tại sao nguồn vốn lại dịch chuyển từ nước nghèo đến nước giàu trong điều kiện công nghệ như nhau ở tất cả các nước
Theo Lucas, động cơ tăng trưởng chính là sự tích lũy nguồn vốn nhân lực và nguồn gốc chính tạo nên sự khác biệt trong mức sống dân cư ở các nước khác
Trang 22nhau là sự chênh lệch tích lũy nguồn vốn con người Nguồn vốn con người tích lũy ở trường học, trong các hoạt động và tổ chức nghiên cứu và trong quá trình sản xuấ và liên kết thương mại Tuy nhiên, học tập nhờ kinh nghiệm trong quá trình làm việc, theo Lucas, là yếu tố trung tâm giải thích cho quá trình tăng
trưởng của một nền kinh tế riêng lẻ
Sự khác biệt trong nguồn vốn con người tích lũy không chỉ nằng trong trình
độ nguồn vốn nhân lực của từng công nhân riêng lể mà cong trong ngoại ứng của nguồn vốn nhân lực của đất nước Ngoại ứng nguồn vốn nhân lực này cùng với nguồn vốn nhân lực của bản thân người công nhân tác động tới năng suất lao động của anh ta
Mô hình học tập trong quá trình làm việc khác nhau với mỗi loại hàng hóa và dịch vụ trong mỗi nền kinh tế Các mô hình này tạo ra các ngoại ứng khác nhau đối với nguồn vốn nhân lực Giả thuyết này gợi ra một mô hình PTNNL tối ưu cho xã hội thông qua việc hướng tiêu điểm ưu tiên tới các ngành có ngoại ứng nguồn vốn nhân lực cao
Thuyết tăng trưởng nội sinh đã tạo ra một bước cải tiếng mang tính cách mạng trong dự đoán mô hình, rằng nhờ có ngoại ứng nguồn vốn con người, lợi ích xã hội thu được từ việc đầu tư vào nhân lực có thể vượt trội lợi ích cá nhân Kết luận này tạo luận cứ mấu chốt cho đầu tư công cộng vào phát triển nguồn nhân lực Trong trường hợ thiếu vắng sáng kiến đầu tư nhân lực từ phía tư nhân, đầu tư công cộng không chỉ có lợi mà còn cần thiết Ngoài luận điểm trên còn thuyết phục và khuyến khích các hãng và công ty tăng cường sử dụng lao động
có kỹ năng và tạo ra các nguồn tri thức mới thông qua hoạt động nghiên cứu triển khai Điều này được Romer nêu lên rất rõ ràng “Thậm chí cả khi tất cả các yếu tố khác không đổi, sẽ không tối ưu nếu dừng sản xuất tri thức và thực hiện nghiên cứu”
Lý thuyết tăng trưởng nội sinh gặp phải hạn chế trong giả thiết về ngoại ứng của nguồn vốn con người chỉ xảy ra trong phạm vi một nước Giả thiết này
đã không tính đến yếu tố gia tăng toàn cầu hóa và sự di chuyển tư do hơn của dòng hàng hóa và lao động giữa các quốc gia vốn tạo ra ngoại ứng nguồn vốn nhân lực lớn hơn Điều này làm cho việc so sánh tốc độ tăng trưởng giữa các quốc gia thiếu chính xác và hơn nữa không đủ để kết luận rằng sự khác biệt về tốc độ tăng trưởng giữa các nữa sẽ vẫn duy trì lâu dài Thiếu sót của giả thiết này
đã được chính tác giả Lucas thừa nhận Ông viết “ Điều quan trọng và phức tạp, theo tôi, là chỗ so sánh giữa các quốc gia dựa trên giả thiết rằng ngoại ứng của nguồn vốn con người chỉ diễn ra hoàn toàn đối với người sản xuất trong phạm vi một nước Hiệu ứng tràn tri thức giữa các quốc gia được giả định bằng zero”
Trang 23Như vâỵ, nguồn vốn nhân lực cao là tiền đề cho tăng trưởng dài hạn nhờ các nỗ lực nghiên cứu và ứng dụng tri thức và công nghệ mới Các lý thuyết tăng trưởng nội sinh đã chứng minh cho luận cứ này Tuy các lý thuyết tăng trưởng mới chưa tính đến yếu tố toàn cầu hóa và tự do hóa trong mô hình của mình , song có thể thấy một điều rằng vai trò của việc tăng nguồn vốn nhân lực hay PTNNL không hề giảm khi tính đến yếu tố tự do hóa và toàn cầu hóa Ngược lại, vai trò của nguồn vốn nhân lực không chỉ vẫn tiếp tục được khẳng định mà còn gia tăng trong điều kiện toàn cầu hiện nay.
1.6 Lợi ích của đầu tư phát triển nguồn nhân lực
1.6.1 Lợi ích cá thể của vốn con người
Tại sao mọi người lại muốn đạt được các bằng cấp Đặc biệt, tại sao ngày càng có nhiều phụ nữ đạt được bằng cấp học vị hơn?
Chúng ta sẽ đưa vào cùng trong phần này một phân tích chi phí-lợi ích đầy
đủ Những hình vẽ dưới đây cho thấy rằng những lợi ích mà việc đầu tư nhiều hơn vào vốn con người đem lại bao gồm mức thù lao cao hơn và tỷ lệ thất nghiệp thấp hơn
Hình 2: Biểu quan hệ thu nhập theo tuổi của nam [2]
Trang 24Hình 3: Biểu Quan hệ Thu nhập theo tuổi của nữ
Những điều nhận xét từ dữ liệu:
1 Nam lứa tuổi 20 có trình độ đại học có thu nhập cao hơn so với nam cùng
độ tuổi có trình độ trung học khoảng 8,000 đô Nam độ tuổi 50 có trình độ
Trang 25đại học có thu nhập cao hơn so với nam cùng độ tuổi có trình độ trung học
khoảng 17,000 đô
2 Nữ độ tuổi 20 có trình độ ĐH có thu nhập cao hơn so với nữ cùng độ tuổi
có trình độ trung học khoảng 10,000 đô trong khi nữ ở độ tuổi 50 có trình
độ ĐH có thu nhập cao hơn so với nữ cùng tuổi có trình độ trung học
khoảng 18,000 đô
3 Những khoản lợi thu được từ giáo dục này là tương đối cao, nhất là đối
với nữ
• Chúng ta có thể nhận thấy rằng khoảng cách thu nhập giữa nam và
nữ giảm khi trình độ học vấn của nữ tăng như thể hiện ở Bảng dưới đây
• Điều này lý giải phần nào tại sao số nữ đi học ĐH lại nhiều hơn nam
Bảng 1: Tỷ lệ thu nhập Nữ-Nam
Trung học
Tốt nghiệp TH
Chứng chỉ Thương mại
Tốt nghiệp Cao đẳng
Tốt nghiệp ĐH
Tốt nghiệp sau
ĐH 20-29
30-39
40-49
50-59
0.7610.6940.6520.630
0.7680.7330.6730.621
0.6910.6400.6180.633
0.7600.74906890.649
0.8600.7810.7470.724
1.0030.8130.8080.763
4 Chúng ta cũng có thể ghi nhận rằng kinh nghiệm/thâm niên đem lại mức
lợi tức cao Khi mọi người lớn tuổi hơn, họ kiếm được nhiều tiền hơn,
nhất là với những người có trình độ học vấn cao
5 Hình 4 dưới đây thể hiện một lợi ích khác mà học vấn cao đem lại Nó
giúp giảm tỷ lệ thất nghiệp và giảm bớt độ nhạy với chu kỳ kinh doanh
• Nên lưu ý một điều rằng các sinh viên tốt nghiệp ĐH có thể phải vật
lộn mới tìm được công việc đầu tiên của mình Tuy nhiên, sau khi bắt đầu đi làm thì tỷ lệ thất nghiệp của họ giảm dần (trong khoảng thời gian từ 2 năm sau khi tốt nghiệp đến 5 năm, tỷ lệ thất nghiệp này giảm xuống còn một nửa) Trong khi đó, mức tiền công họ nhận được bắt đầu tăng ngay khi bắt đầu đi làm (trong khoảng thời gian từ 2 năm sau khi tốt nghiệp đến 5 năm sau khi tốt nghiệp, mức lương của nam tăng 20%, của nữ tăng 11%)
Hình 4: Tỷ lệ Thất nghiệp theo Trình độ Học vấn [3]
Trang 261.6.2 Lợi ích xã hội của vốn con người
Ngoài lợi ích mà mỗi cá nhân tích lũy được, việc đầu tư vào vốn con người còn đem lại một số lợi ích ngoại sinh cho toàn xã hội
• Trước hết, người ta thường lập luận rằng cá nhân được giáo dục tốt hơn sẽ trở thành những công dân tốt hơn Họ được thông tin đầy đủ hơn và có khả năng đóng góp nhiều hơn cho toàn xã hội
• Thứ hai, Chính phủ (CP) thu lợi trực tiếp từ mức vốn con người cao hơn
CP phải chi ít hơn cho trợ cấp thất nghiệp và phúc lợi xã hội CP chi ít hơn cho dịch vụ chăm sóc sức khỏe (trạng thái sức khỏe được cải thiện cùng với sự gia tăng trong trình độ học vấn) CP thu được nhiều thuế thu nhập hơn
• Một lập luận khác thường gặp là giáo dục tốt hơn dẫn đến tăng trưởng kinh tế, nhất là giáo dục trong các lĩnh vực khoa học và công nghệ Lập luận này lấy từ những những lý thuyết mới về tăng trưởng của Paul Romer
[4] Romer lập luận rằng thay đổi kỹ thuật mang tính nội sinh Các kỹ thuật mới là do các công ty, cá nhân hưởng ứng những khuyến khích về kinh tế sáng chế và phát triển Càng có nhiều nhân viên R & D càng có nhiều phát minh, sáng kiến mới [5]
• Những hiệu ứng lan tỏa (spillover effects) củng cố thêm tác động này Phát minh về con chíp điện tử dẫn đến việc chế tạo ra đầu đĩa DVD và túi khí cùng nhiều sản phẩm khác Thực nghiệm đã củng cố thêm lập luận này Nó đưa ra bằng chứng chứng tỏ rằng đầu tư vào vốn con người có vai
Trang 27trò quan trọng không kém gì đầu tư vào vốn tài sản trong việc tạo ra tăng trưởng kinh tế [6]
1.7 Các chỉ tiêu đánh giá đầu tư phát triển nguồn nhân lực
Chất lượng nguồn nhân lực được thể hiện qua một hệ thống các chỉ tiêu, trong đó có các chỉ tiêu chủ yếu sau:
1.7.1 Chỉ tiêu phản ánh tình trạng sức khoẻ cuả dân cư
Sức khỏe là trạng thái thoải mái về thể chất, tinh thần chứ không phải đơn thuần là không có bệnh tật Sức khỏe là tổng hòa nhiều yếu tố tạo nên giữa bên trong và bên ngoài, giữa thể chất và tinh thần Có nhiều chỉ tiêu biểu hiện trạng thái về sức khỏe, bộ y tế nước ta quy định có 3 loại:
• Thể lực tốt, loại không có bệnh tật gì
1.7.2 Chỉ tiêu biểu hiện trình độ văn hóa của người lao động
Trình độ văn hóa của dân số hay của nguồn nhân lực là một chỉ tiêu hết sức quan trọng phản ánh chất lượng của nguồn nhân lực và có tác động mạnh mẽ tới quá trình phát triển kinh tế xã hội Trình độ văn hóa cao tạo khả năng tiếp thu và vận dụng một cách nhanh chóng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào thực tiễn
1.7.3 Chỉ tiêu biểu hiện trình độ chuyên môn kĩ thuật
Trình độ chuyên môn là sự hiểu biết, khả năng thực hành về chuyên môn nào đó, nó biểu hiện trình độ được đào tạo ở các trường trung học chuyên
nghiệp, cao đẳng, đại học và sau đại học, có khả năng chỉ đạo quản lý một công việc thuộc một chuyên môn nhất định Do đó, trình độ chuyên môn của nguồn nhân lực được đo bằng:
Trình độ kỹ thuật của người lao động thường dùng đó chỉ trình độ của người được đào tạo ở các trường kỹ thuật, được trang bị kiến thức nhất định, những kỹ năng thực hành về công việc nhất định Trình độ kỹ thuật thường được biểu hiện qua các chỉ tiêu:
• Số lao động được đào tạo và lao động phổ thông
Trang 28• Trình độ tay nghề theo bậc thợ
Trình độ chuyên môn và kỹ thuật thường kết hợp chặt chẽ với nhau, thông qua chỉ tiêu số lao động được đào tạo và không được đào tạo trong từng tập thể nguồn nhân lực
1.7.4 Chỉ số phát triển con người HDI
Chất lượng nguồn nhân lực còn được thể hiện thông qua chỉ số phát triển con người (HDI)
Chỉ số này được tính bởi 3 chỉ tiêu chủ yếu:
• Tuổi thọ trung bình
• Trình độ học vấn ( tỉ lệ biết chữ và số còn đi học trung bình của dân cư)
Như vậy chỉ số HDI không chỉ đánh giá sự phát triển con người về mặt kinh
tế mà còn nhấn mạnh đến chất lượng cuộc sống và sự công bằng tiến bộ xã hội
• Truyền thống dân tộc bảo vệ tổ quốc
• Truyền thống về văn hóa văn minh dân tộc
• Phong tục tập quán, lối sống
Nhìn chung chỉ tiêu này nhấn mạnh đến ý chí, năng lực tinh thần của người lao động
Trang 29Chương 2: Thực trạng đầu tư phát triển nguồn nhân lực giai đoạn
2001-2007
2.1 Đầu tư kế hoạch hóa dân số và đầu tư cho chăm sóc sức
khỏe nhân dân
2.1.1 Đầu tư cho kế hoạch hóa dân số
Số lượng nguồn lực con người được phản ánh qua quy mô dân số và tốc độ
gia tăng dân số của 18 năm trước đó Với một tỷ lệ tăng dân số quá cao sẽ làm
triệt tiêu mọi cố gắng và thành quả đạt được trong phát triển kinh tế, làm gay gắt
thêm các vấn đề xã hội vốn đã gay gắt, mà còn là vật cản không cho phép cải
thiện chất lượng nguồn nhân lực
Năm 2003 nhà nước đã ban hành pháp lệnh dân số (hiện nay đang xây dựng
luật dân số), trong đó quy định quy mô dân số, cơ cấu dân số, phân bố dân cư,
chất lượng dân số, các biện pháp thực hiện công tác dân số và quản lý nhà nước
về dân số Cùng Chương trình mục tiêu quốc gia về dân số và kế hoạch hóa gia
đình giai đoạn 2006 -2010 với mục tiêu mỗi gia đình chỉ sinh 2 con, đã thể hiện
quyết tâm của nhà nước về giảm mức độ gia tăng dân số hàng năm Từ năm
2003, do được đầu tư mạnh từ ngân sách (841 tỷ năm 2002) cho công tác tuyên
truyền dân số nên tốc độ gia tăng dân số đã giảm dần và tới năm 2007 còn
1,21% Tuy nhiên gần đây tỷ lệ số người sinh con thứ 3 có xu hướng tăng, điều
này tiềm ẩn nguy cơ tỷ lệ tăng dân số cao trong những năm sắp tới
Bảng 2: Chi ngân sách nhà nước cho sự nghiệp dân số kế hoạch hóa
gia đình trong giai đoạn 2000-2006
Đơn vị: Tỷ đồng
Chi cho dân số kế
họach hoá gia
Nguồn: Tổng cục thống kê
2.1.2 Đầu tư cho y tế và chăm sóc sức khỏe nhân dân
Nói về sức khỏe thì sự cường tráng về thể chất, sự thoải mái về tinh thần vừa
là nhu cầu của bản thân mỗi con người, vừa là vốn quý để tạo ra các tài sản trí
tuệ, vật chất, và tinh thần cho toàn xã hội Do vậy vấn đề chăm sóc sức khỏe,
tăng cường thể chất cho các thế hệ người Việt Nam luôn được coi là một trong
những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của toàn Đảng, toàn dân ta
Để thực hiện việc này, nhà nước đã ban hành Luật bảo vệ sức khỏe nhân dân
(1989), Điều lệ khám bệnh, chữa bệnh, phục hổi chức năng (1991), cũng như
Trang 30nhiều văn kiện khác về chăm sóc sức khỏe cho các tầng lớp nhân dân (như cho phụ nữ, trẻ em) Việc thực thi những chính sách chủ trương, biện pháp được nêu trong các văn kiện đó những năm qua đưa lại những kết quả thiết thực trong
chăm sóc sức khỏe, nâng cao một bước chất lượng dân số nước ta
Phần lớn nguồn vốn đầu tư cho y tế là từ nguồn ngân sách nhà nước Theo báo cáo của Chính phủ đã ưu tiên tăng chi ngân sách nhà nước (NSNN) cho y tế, năm sau đã cao hơn năm trước cả về số tuyệt đối và tỷ trọng trong tổng chi
NSNN (năm 2007 tăng lên 23.280 tỷ đồng, đạt 6,3% và dự toán năm 2008 là
27.463 tỷ đồng) Bên cạnh nguồn vốn đầu tư cho y tế từ NSNN, Nhà nước cũng
có chủ trương khuyến khích sự tham gia của các thành phần kinh tế vào đầu tư phát triển hệ thống y tế Cho đến nay, các bệnh viện công đã huy động được
khoảng 3.000 tỷ đồng để triển khai các kỹ thuật cao Ngoài ra còn có 22 bệnh viện đã được cấp phép đang tiến hành xây dựng
Chính phủ đã đảm bảo đủ kinh phí để khám, chữa bệnh miễn phí cho khoảng
10 triệu trẻ/năm tại các cơ sở y tế công lập với mức chi ngày càng tăng: năm
2005 là 75.000 đồng/trẻ, năm 2007 là 108.000 đồng/trẻ, năm 2008 là 130.000 đồng/trẻ Hàng chục triệu trẻ em đã được khám chữa bệnh miễn phí, nhiều
trường hợp bệnh nặng, hiểm nghèo chi phí lên đến 40-50 triệu đồng Theo đánh giá của Chính phủ, việc tăng đầu tư từ ngân sách Nhà nước và thực hiện các giải pháp, chính sách nêu trên đã mang lại hiệu quả rõ rệt trong công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân
Bảng 3: Phần trăm chi ngân sách nhà nước cho sự nghiệp y tế trong
2.2 Đầu tư cho giáo dục đào tạo
Nhà nước ta đã xác định đầu tư cho giáo dục đào tạo, trong đó có cả dạy nghề là đầu tư cho tương lai, đầu tư cho phát triển, từ đó Nhà nước đã kêu gọi các cấp ngành và toàn xã hội đẩy mạnh phát triển giáo dục, góp phần trực tiếp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
2.2.1 Nguồn vốn và quy mô vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước
Nhà nước chịu trách nghiệm hầu như toàn bộ các khoản chi của giáo dục đại học, trung học chuyện nghiệp và dạy nghề Phần ngân sách nhà nước cấp phần lớn để trả lương cho giáo viên và một phần dành để trao học bổng cho sinh viên đại học và trung học chuyên nghiệp Chính quyền địa phương cấp tỉnh và thành
Trang 31phố chịu phần lớn ngân sách giáo dục bậc phổ thông Các địa phương phải lo phần lớn các khoản chi xây dựng trường học, phương tiện học tập của học sinh.Trong những năm qua nhà nước đã rất chú trọng tăng cường đầu tư cho giáo dục Tăng đầu tư cho giáo dục từ ngân sách nhà nước và đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục, đào tạo Khuyến khích mạnh mẽ các thành phần kinh tế đầu tư phát triển giáo dục ở tất cả các bậc học, đáp ứng nhu cầu đa dạng của xã hội Ngân sách nhà nước tập trung nhiều hơn cho các bậc giáo dục phổ cập, cho vùng nông thôn, miền núi, cho đào tạo trình độ cao và những ngành khó thu hút đầu tư ngoài ngân sách nhà nước; bảo đảm điều kiện học tập cho con em người có công
và gia đình nghèo Tăng cường quản lý nhà nước, đặc biệt là hệ thống thanh tra giáo dục, thiết lập kỷ cương, đẩy lùi các hiện tượng tiêu cực Tăng cường quản lý
và giúp đỡ người đi học tập, nghiên cứu ở nước ngoài.Chi ngân sách nhà nước cho giáo dục đào tạo năm 2000 là 11,63%, năm 2005 là 10.89%, năm 2007 là 20%
Hình 5: Phần trăm chi ngân sách nhà nước cho giáo dục đào tạo
trong giai đoạn 2000-2007
Bảng 4: Chi ngân sách nhà nước cho giáo dục (Nguồn Bộ giáo dục và đào tạo)
CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CHO GIÁO DỤC PUBLIC EXPENDITURE ON EDUCATION & TRAINING
(Tỉ đồng - VND billion)
Trang 32Mĩ mới chỉ là 6%, Trung Quốc là 2,7% ; nếu tính theo thu nhập hộ gia đình tỷ
lệ chi cho giáo dục ở nước ta còn cao hơn nữa.Ví dụ Trung Quốc, họ chi trung bình cho một học sinh là 332 $US một năm, so với Việt Nam là 227 $US Tất nhiên so sánh này cũng còn khập khiễng vì thu nhập trên đầu người Trung Quốc gấp 3 Việt Nam (2 055 $US so với 643 $US), và giá cả cao hơn Việt Nam