1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Cơ cấu đầu tư và cơ cấu đầu tư hợp lý. Phân tích khái quát cơ cấu đầu tư ở Việt Nam

44 1,1K 5
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Cơ Cấu Đầu Tư Và Cơ Cấu Đầu Tư Hợp Lý. Phân Tích Khái Quát Cơ Cấu Đầu Tư Ở Việt Nam
Tác giả Nhóm 5
Người hướng dẫn Tiến Sĩ. Từ Quang Phương, Tiến Sĩ. Phạm Văn Hùng
Trường học Không có thông tin
Chuyên ngành Không có thông tin
Thể loại Bài viết
Năm xuất bản Không có thông tin
Thành phố Không có thông tin
Định dạng
Số trang 44
Dung lượng 477,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cơ cấu đầu tư là cơ cấu các yếu tố cấu thành đầu tư như cơ cấu về vốn, nguồn vốn, cơ cấu huy động và sử dụng vốn

Trang 1

Lời mở đầu

Đầu tư phát triển là một trong những yếu tố quyết định tăng trưởng kinh tế và giảiquyết nhiều vấn đề xã hội vì hoạt động này trực tiếp làm tăng tài sản cố định, tài sản lưuđộng, tài sản trí tuệ và số lượng cũng như chất lượng nguồn nhân lực; đồng thời góp phầnquan trọng vào việc thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia nhằm nâng cao mức sốngdân cư và mặt bằng dân trí; bảo vệ môi trường sinh thái và đưa các chương trình phát triểnkinh tế - xã hội khác vào cuộc sống

Hoạt động đầu tư phát triển có liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực và do nhiềuchủ thể khác nhau thực hiện cùng với sự tác động của nhiều nhân tố Chính sự khác nhau đótạo nên cơ cấu đầu tư Vì vậy có thể nói cơ cấu đầu tư là khung xương của đầu tư phát triển

Cơ cấu đầu tư có hợp lý và vững chắc thì hoạt động đầu tư phát triển mới có thể đạt đượchiệu quả cao

Do nhận thức được vai trò quan trọng của đầu tư phát triển cũng như cơ cấuđầu tư hợp lý như vậy nên trong những năm vừa qua đã có nhiều chính sách và giảipháp khơi dậy nguồn nội lực và tranh thủ các nguồn lực từ bên ngoài để huy động vốncho đầu tư phát triển, tuỳ vào từng điều kiện bên trong và bên ngoài mà xây dựng một

cơ cấu đầu tư hợp lý phục vụ cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế

Tuy vậy, việc thu hút, sử dụng và phân bổ vốn đầu tư phát triển vẫn còn tồn tạinhiều bất cập, cơ cấu đầu tư chưa tạo điều kiện cho hoạt động đầu tư đạt hiệu quả caonhất đòi hỏi phải có những giải pháp và tầm nhìn dài hạn để khắc phục Trong khuônkhổ bài viết này, chúng em xin mạnh dạn đưa ra một vài nhận xét và giải pháp chủquan của mình nhưng do khả năng có hạn, chúng em không tránh khỏi những sai lầmthiếu sót, mong các thầy cô thông cảm và góp ý cho chúng em

Chúng em xin chân thành cảm ơn: Tiến sĩ Từ Quang Phương

Tiến sĩ Phạm Văn Hùng

Đã giúp đỡ chúng em hoàn thành bài viết này

Nhóm thực hiện: Nhóm 5

Trang 2

Đề tài 5:

C

ơ c ấ u đ ầ u t ư và c ơ c ấ u đ ầ u t ư h ợ p lý Phân tích khái quát c ơ c ấ u đ ầ u t ư ở Vi ệ t Nam.

Chương I: Những vấn đề lý luận chung về cơ cấu đầu tư và cơ cấu đầu tư

2 Phân loại.

2.1 Cơ cấu đầu tư theo nguồn vốn.

Cơ cấu đầu tư theo nguồn vốn còn gọi là cơ cấu nguồn vốn đầu tư thể hiện quan

hệ tỷ lệ của từng loại nguồn vốn trong tổng vốn đầu tư xã hội hay nguồn vốn đầu tư củadoanh nghiệp và dự án Trong quá trình xây dựng và phát triển nền kinh tế nhiều thànhphần, cơ cấu nguồn vốn đầu tư ngày càng đa dạng hơn, phù hợp với các chính sách huyđộng nguồn lực cho đầu tư phát triển

Một số loại nguồn vốn chủ yếu:

- Vốn ngân sách nhà nước

- Vốn tín dụng đầu tư phát triển nhà nước

- Vốn đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước

- Vốn đầu tư của tư nhân và dân cư

- Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

Trang 3

2.2.Cơ cấu vốn đầu tư.

Cơ cấu vốn đầu tư thể hiện quan hệ tỷ lệ giữa từng loại vốn trong tổng vốn đầu tư

xã hội, vốn đầu tư của doanh nghiệp hay của một dự án Cơ cấu vốn đầu tư hợp lý là cơcấu mà vốn đầu tư được ưu tiên vào bộ phận quan trọng nhất, phù hợp với yêu cầu vàmục tiêu đầu tư với một tỷ trọng khá cao

Một số cơ cấu đầu tư quan trọng cần được chú ý xem xét như: cơ cấu kỹ thuật củavốn; Cơ cấu vốn đầu tư cho hoạt động xây dựng cơ bản, công tác nghiên cứu triển khaikhoa học và công nghệ, vốn đầu tư cho đào tạo nguồn nhân lực, tài sản lưu động vànhững chi phí khác; Cơ cấu vốn đầu tư theo quá trình lập và thực hiện dự án như chi phíchuẩn bị đầu tư, chi phí thực hiện đầu tư…

2.3 Cơ cấu đầu tư phát triển theo ngành.

Cơ cấu đầu tư phát triển theo ngành là cơ cấu thực hiện đầu tư cho từng ngànhkinh tế quốc dân cũng như trong từng tiểu ngành Cơ cấu đầu tư theo ngành thể hiện mốitương quan tỷ lệ trong việc huy động và phân phối các nguồn lực cho các ngành hoặc cácnhóm ngành của nền kinh tế và các chính sách, công cụ quản lý nhằm đạt được mối tươngquan trên Ngoài ra nó còn thể hiện việc thực hiện chính sách ưu tiên phát triển, chínhsách đầu tư đối với từng ngành trong một thời kỳ nhất định Có nhiều cách phân loại cơcấu đầu tư theo ngành Sau đây là ba cách tiếp cận thông thường:

- Phân chia theo cách truyền thống: Nông – lâm – ngư nghiệp, công nghiệp –xây dựng, dịch vụ: Mục đích là đánh giá, phân tích tình hình đầu tư Nước ta hiện nayđang ưu tiên phát triển công nghiệp và dịch vụ để đạt được mục tiêu CNH – HĐH củaĐảng đề ra Bên cạnh đó nông nghiệp nông thôn cũng phải được đầu tư phát triển mộtcách hợp lý vì ngành nông nghiệp vẫn đóng một vai trò hết sức quan trọng đối với nềnkinh tế và lao động hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp vẫn chiếm một tỷ trọng cao

- Phân chia theo nhóm ngành kết cấu hạ tầng và sản xuất sản phẩm xã hội:Nghiên cứu tính hợp lý của đầu tư cho từng nhóm ngành Đầu tư cho kết cấu hạ tầng phải

đi trước một bước với một tỷ lệ hợp lý để đạt được tăng trưởng

- Phân chia theo khối ngành: Khối ngành chủ đạo và khối ngành còn lại Đầu

tư phải đảm bảo tương quan hợp lý giữa hai khối ngành này để duy trì thế cân bằng giữanhững sản phẩm chủ đạo và những sản phẩm của các ngành khác Nhờ đó nền kinh tếphát triển một cách cân đối, tổng hợp và bền vững

Trang 4

2.4 Cơ cấu đầu tư phát triển theo địa phương, vùng lãnh thổ.

Cơ cấu đầu tư theo địa phương, vùng lãnh thổ là cơ cấu đầu tư theo không gian,phản ánh tình hình sử dụng nguồn lực địa phương và việc phát huy lợi thế cạnh tranh củatừng vùng Cơ cấu này thể hiện thông qua mối tương quan tỷ lệ và mối quan hệ giữa việcphân bổ và sử dụng các nguồn lực cho các vùng, lãnh thổ trên cơ sở vận dụng các thể chếchính sách và cơ chế quản lý phù hợp Cơ cấu đầu tư theo lãnh thổ phải phù hợp với yêucầu phát triển, chiến lược phát triển kinh tế xã hội, lợi thế sẵn có của từng vùng đồng thờivẫn đảm bảo hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển chung của các vùng khác,đảm bảo sự phát triển thống nhất và cân đối giữa các vùng, các ngành

Khi nghiên cứu cơ cấu đầu tư theo vùng, lãnh thổ có thể phân tích đầu tư giữavùng, lãnh thổ phát triển với vùng, lãnh thổ kém phát triển hoặc phân tích cơ cấu đầu tưtheo các vùng lãnh thổ kinh tế

Cơ cấu đầu tư theo ngành và cơ cấu đầu tư theo vùng, lãnh thổ tuy khác nhaunhưng lại có mối quan hệ mật thiết với nhau Cơ cấu đầu tư theo vùng, lãnh thổ được hìnhthành gắn liền với cơ cấu đầu tư theo ngành và thống nhất trong mỗi vùng kinh tế Trongmỗi vùng, lãnh thổ lại có một số ngành được ưu tiên đầu tư, tạo ra một cơ cấu đầu tư theongành riêng

3 Sự dịch chuyển cơ cấu đầu tư.

3.1 Định nghĩa.

Sự thay đổi của cơ cấu đầu tư từ mức độ này sang mức độ khác, phối hợp với môitrường và mục tiêu phát triển gọi là chuyển dịch cơ cấu đầu tư Đây không chỉ là sự thayđổi về vị trí ưu tiên mà còn là sự thay đổi về chất trong nội bộ cơ cấu và chính sách ápdụng

Sự thay đổi đó có thể là sự thay đổi về quy mô, phân bố nguồn lực hay số lượng,chất lượng các ngành trong quá trình phát triển hoặc cũng có thể là sự thay đổi về quan hệ

tỷ lệ giữa các ngành, các vùng, các thành phần kinh tế do những biến động trong nền kinh

tế như sự xuất hiện hoặc biến mất của một số ngành, tốc độ tăng trưởng của các yếu tốcấu thành cơ cấu đầu tư không đồng đều, khoa học kỹ thuật phát triển nhanh chóng

3.2 Tác động của cơ cấu đầu tư tới sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế.

Những quyết định đầu tư sẽ làm ảnh hưởng đến cơ cấu kinh tế trong tương lai Nólàm thay đổi số lượng, tỷ trọng của từng bộ phận trong nền kinh tế, đến lượt nó các bộ

Trang 5

phận cấu thành nền kinh tế sẽ hình thành nên một cơ cấu mới Cơ cấu này có hiệu quả vàtác động tốt tới nền kinh tế hay không sẽ là một yếu tố quan trọng để đánh giá sự tăngtrưởng của cả nền kinh tế bởi vậy cơ cấu kinh tế mới này là một yếu tố quan trọng tạo ratăng trưởng và phát triển kinh tế Cơ cấu kinh tế thay đổi là để nhằm thực hiện nhữngmục tiêu phát triển kinh tế - xã hội đã đặt ra, và những mục tiêu đó có đạt được hay khôngchính là thước đo cơ bản nhất xác định kết quả, hiệu quả của đầu tư đổi mới cơ câu kinh

tế và nó cho thấy tầm quan trọng của đầu tư đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Đầu tư và chuyển dịch cơ cấu đầu tư tác động đến cơ cấu kinh tế trước hết là ở sựthay đổi số lượng các ngành trong nền kinh tế quốc dân Quyết định đầu tư làm thay đổisản lượng tuyệt đối các ngành, tiểu ngành cấu thành nền kinh tế quốc dân Cùng với quyếtđịnh đầu tư, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ khiến cho các ngành côngnghiệp công nghệ cao, dịch vụ chất lượng cao phát triển mạnh hơn trong khi một sốngành khác lại giảm vai trò, tỷ trọng do nhu cầu của xã hội giảm hoặc không còn sứccạnh tranh Do đó tỷ trọng các ngành, tiểu ngành trong cơ cấu kinh tế có sự thay đổi, thứ

tự ưu tiên khác nhau và kết quả là hình thành nên một cơ cấu ngành mới Chính sách đầu

tư vào các ngành có tốc độ phát triển khác nhau sẽ tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu kinh tếtuỳ mức độ chuyển đổi cơ cấu đầu tư và hiệu quả đầu tư các ngành đó Cơ cấu kinh tế sẽluôn luôn thay đổi theo thời gian Sự vận động của cơ cấu đầu tư luôn nhằm hướng tớimột cơ cấu kinh tế có hiệu quả để các ngành, các vùng, các thành phần kinh tế đều pháthuy được điểm mạnh, khắc phục được điểm yếu, bổ xung cho nhau, cùng nhau phát triển

và sử dụng tối ưu các nguồn lực của nền kinh tế

Sau đó sự chuyển dịch cơ cấu đầu tư làm thay đổi mối quan hệ giữa các bộ phậntrong nền kinh tế theo xu hướng ngày càng hợp lý hơn Các nguồn lực trong nền kinh tếđược sử dụng hợp lý Các ngành liên kết, liên hệ với nhau chặt chẽ Trong cùng mộtngành, các bộ phận cũng có mối quan hệ với nhau và ngày càng hợp lý trong việc phânphối nguồn lực Các doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả sẽ chiếm tỷ trọng ngày càngnhiều làm tăng hiệu quả cạnh tranh giữa các doanh nghiệp bởi việc đầu tư vào ngành nào

sẽ giúp một phấn quan trọng cho ngành đó phát huy lợi thế để cạnh tranh và phát triển

Cuối cùng hiệu quả của cơ cấu đầu tư đổi mới cơ cấu kinh tế là làm tăng hiệu quảcho từng bộ phận của nền kinh tế nói riêng và toàn bộ nền kinh tế nói chung Khi xem xéthiệu quả của đầu tư tới cơ cấu kinh tế cần xem xét cả hiệu quả trực tiếp và hiệu quả giántiếp Hiệu quả trực tiếp đó là khi đầu tư vào riêng từng bộ phận thì bộ phận đó sẽ thuđược về sự tăng trưởng mới như tăng giá trị tổng sản lượng, tạo thêm công an việc làm…

Trang 6

Hiệu quả gián tiếp đó là không chỉ bộ phận nhận sự tác động trực tiếp của đầu tư có đượcnhững gia tăng mà những vùng khác, những bộ phận khác cũng phát triển theo Hoặc tráilại do sự cạnh tranh nguồn lực, tranh chấp thị trường mà kìm hãm sự phát triển triển củacác bộ phận khác Bởi vậy tác động của đầu tư không chỉ riêng đến từng bộ phận của nềnkinh tế mà còn tác động đến toàn bộ nền kinh tế nói chung.

II Cơ cấu đầu tư hợp lý.

Cơ cấu đầu tư hợp lý là cơ cấu đầu tư phù hợp với các quy luật khách quan, cácđiều kiện kinh tế xã hội của từng cơ sở, ngành, vùng và toàn nền kinh tế, có tác động tíchcực đến việc đổi mới cơ cấu kinh tế theo hướng ngày càng hợp lý hơn, khai thác và sửdụng hợp lý các nguồn lực trong nước, đáp ứng nhu cầu hội nhập, phù hợp với xu thếkinh tế, chính trị của thế giới và khu vực

Mỗi nước đều có những điều kiện về kinh tế, chính trị, xã hội cụ thể, vì vậy xâydựng một cơ cấu đầu tư hợp lý được coi là bài toán quan trọng hầng đầu của các nhà quản

lý để cơ cấu đầu tư được xây dựng nên phù hợp với điều kiện tự nhiên, xã hội, chính trị…của đất nước, tạo một cơ sở vững và tiến bộ cho kinh tế phát triển Muốn có một cơ cấuđầu tư hợp lý phải xuất phát từ định hướng cơ cấu kinh tế hợp lý Trong từng giai đoạnphát triển phải xác định nên đầu tư trọng điểm vào lĩnh vực nào, ngành nào, vùng nào.Những chính sách đầu tư phải tập trung hợp lý đối với các thành phần dân cư, lực lượnglao động để đem lại kết quả tốt nhất

* Mối quan hệ giữa cơ cấu đầu tư và tăng trưởng kinh tế.

Đầu tư là chìa khoá trong chiến lược và kế hoạch phát triển Điều này được cụ thểhoá trong mối tương quan giữa tăng trưởng vốn đầu tư với tăng trưởng thu nhập Thựctiễn đã chứng minh một nền kinh tế muốn giữ được tốc độ tăng trưởng GDP ở mức trungbình thì phải giữ được tốc độ tăng trưởng vốn đầu tư thoả đáng ( 15% - 25% NGP)

Trong lý thuyết “ Đầu tư và mô hình số nhân” Keynes đã chứng minh: tăng đầu tư

sẽ tăng thu nhập  tăng thu nhập làm tăng sức mua  tăng sức mua làm tăng đầu ra củanền kinh tế  tạo ra sự tăng trưởng

Lý thuyết gia tốc của các nhà kinh tế Mỹ lại nghiên cứu các quan điểm đầu tư vàchứng minh mối liên hệ giữa tăng sản lượng làm tăng đầu tư, sau đó tăng đầu tư làm tăngsản lượng với nhịp độ nhanh hơn Sản lượng bán ra ngày hôm nay là kết quả đầu tư thời

Trang 7

kỳ trước, năm trước Như vậy đầu ra của nền kinh tế phụ thuộc trực tiếp vào việc tăngvốn đầu tư.

Bên cạnh đó, đầu tư còn có vai trò gián tiếp trong tăng sản lượng sản xuất của nềnkinh tế thông qua đầu tư cho các lĩnh vực lao động, khoa học, công nghệ, tài nguyên thiênnhiên và thông tin để tạo ra tăng trưởng kinh tế

III Các nhân tố ảnh hưởng đến việc chuyển dịch cơ cấu đầu tư.

1 Nhóm nhân tố trong nội bộ nền kinh tế.

1.1 Quan điểm chiến lược, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, vùng và chế độ, năng lực quản lý trong mỗi giai đoạn nhất định.

Cơ cấu đầu tư là biểu hiện tóm tắt nội dung và phương tiện của chiến lược pháttriển kinh tế xã hội Mặc dù cơ cấu đầu tư vừa mang tính khách quan vừa mang tính lịch

sử nhưng các tính chất đó lại chịu sự tác động và chi phối của nhà nước thông qua cáccông cụ điều tiết kinh tế vĩ mô Thông qua các định hướng phát triển, Nhà nước khôngchỉ nhằm khuyến khích mọi lực lượng sản xuất của xã hội, đạt được mục tiêu đề ra màcòn đưa ra các dự án để thu hút mọi thành phần kinh tế tham gia, nếu không đạt được thìNhà nước trực tiếp tổ chức đầu tư, đảm bảo sự cân đối giữa các sản phẩm, các ngành lĩnhvực trong nền kinh tế

Cơ chế quản lý của Nhà nước trong từng thời kỳ lại có những thay đổi nhất định

để thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của đất nước do đó nó tác động trực tiếpđến quá trình phát triển và chuyển dịch cơ cấu đầu tư

1.2 Nhân tố thị trường và nhu cầu của xã hội.

Thị trường và nhu cầu của xã hội là người đặt hàng cho tất cả các ngành nghề, lĩnhvực kinh tế trong toàn bộ nền kinh tế Nếu như xã hội không có nhu cầu thì tất nhiênkhông có bất kỳ một quá trình sản xuất nào Cũng như vậy không có thị trường thì không

có kinh tế hàng hoá

Thị trường là nhu cầu xã hội không chỉ quy định về số lưọng mà cả về chất lượngcác sản phẩm hàng hoá và dịch vụ, nên nó có tác động trực tiếp đến quy mô, trình độ pháttriển của các cơ sở kinh tế, đến xu hướng phát triển và phân công lao động xã hội, đến vịtrí, tỷ trọng của các ngành, các khu vực, các thành phần kinh tế trong cơ cấu đầu tư

Trang 8

Việc xác đính cơ cấu đầu tư cho mỗi quốc gia, mỗi khu vực kinh tế phải tính đến

xu thế tiêu dùng, xu thế hợp tác, cạnh tranh của các sản phẩm trong nước, trong khu vực

và trên thế giới

1.3 Trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, khoa học công nghệ.

Lực lượng sản xuất là động lực phát triểnn của xội Nhu cầu xã hội ngày càng cao,muốn đáp ứng đầy đủ nhu cầu xã hội thì trước hết phải phát triển LLSX Sự phát triển củaLLSX sẽ làm thay đổi quy mô sản xuất, thay đổi công nghệ, thiết bị, hình thành cácngành nghề mới, biến đổi lao động từ giản đơn thành lao động phức tạp, từ ngành nàysang ngành khác Sự phát triển đó phá vỡ cân đối cũ, yêu cầu hình thành một cơ cấu đầu

tư mới với một vị trí, tỷ trọng vốn trong các ngành và khu vực lãnh thổ phù hợp hơn thíchứng với nhu cầu phát triển của xã hội

1.4 Vị trí địa lý kinh tế, điều kiện về các nguồn lợi tự nhiên.

Vị trí địa lý đóng vai trò quan trọng trong việc phân bố đầu tư và chuyển dịch cơcấu đầu tư Các nhân tố này tạo nên lợi thế so sánh cho các vùng bởi vậy nó chi phối mộtphần cơ cấu đầu tư theo vùng và lãnh thổ bởi cơ cấu đầu tư đặt ra cho từng vùng, từngkhu vực phải phù hợp với điều kiện tự nhiên của vùng đó, giúp các vùng phát huy đượctối đa lợi thế thì mới trở thành cơ cấu đầu tư hợp lý và có hiệu quả

2 Các nhân tố bên ngoài.

Ngoài các nhân tố tác động ở trong nội tại nền kinh tế, cơ cấu đầu tư còn chịu tácđộng của nhiều nhân tố bên ngoài Đó chính là xu thế chính trị, xã hội và kinh tế của khuvực và thế giới Cùng với sự phát triển ngày càng nhanh chóng của khoa học kỹ thuậtcông nghệ Từ khi gia nhập WTO, với nhiều thuận lợi về hội nhập kinh tế thế giới thì ViệtNam không tránh khỏi những thách thức đó là hoà nhập chứ không hoà tan Xu thế quốc

tế hoá giúp nước ta hội nhập dễ dàng hơn nhưng chúng ta cũng phải luôn cảnh giác đểđảm bảo năng lực cạnh tranh nhằm hội nhập an toàn

Trang 9

Chương II: Thực trạng cơ cấu đầu tư và chuyển dịch cơ cấu ở Việt Nam

giai đoạn 2000 – 2007

I Cơ cấu đầu tư theo nguồn vốn.

Cơ cấu đầu tư theo nguồn vốn có thể chia ra làm ba khu vực chính là khu vực nhànước, khu vực tư nhân và khu vực đầu tư nước ngoài Trong cơ cấu nguồn vốn đầu tư,khu vực nhà nước vẫn giữ tỷ trọng lớn, đóng vai trò quyết định nhưng vốn ngân sách nhànước thực ra vẫn chưa cao Khu vực tư nhân trong giai đoạn đầu chưa đóng góp nhiềucho hoạt động đầu tư nhưng sau đó từ con số 0%, tỷ trọng đóng góp trong vốn đầu tư đãtăng lên đến 20% Đối với khu vực đầu tư nước ngoài, trong giai đoạn vừa qua giá trịđóng góp tăng lên đáng kể nhưng tỷ trọng thì giảm xuống, giá trị đóng góp của đầu tưnước ngoài vào GDP khá rõ ràng vào khoảng 20% Như vậy, chuyển biến của cơ cấu đầu

tư theo nguồn vốn có nhiều giấu hiệu tích cực với sự đóng góp đa dạng, hiệu quả củanguồn vốn rõ nét hơn, và có sự phát huy ở trừng mực nhất định trong phân bổ vốn

Sau đây sẽ là những số liệu cụ thể hơn về tình hình từng loại nguồn vốn trong hoạtđộng đầu tư phát triển ở nước ta giai đoạn 2000 – 2007

1 Vốn đầu tư trong nước.

Bảng 2 : Chi đầu tư phát triển của NSNN giai đoạn 2000 – 2007

Năm Tổng chi NSNN Chi đầu tư phát triển % chi đầu tư phát triển/

GDP

Trang 10

Bảng 2 cho thấy bình quân giai đoạn 2000 - 2007: tốc độ tăng chi phát triển chiếm

tỷ lệ cao trong tổng chi NSNN ( chiếm 35,1% ) và tăng dần theo thời gian, từ 34% tổngchi ngân sách giai đoạn 1997 -1999 lên 40,5% giai năm 2002 và 37% năm 2003 Tỷ lệchi đầu tư/ GDP là 7,54% lớn hơn tỷ lệ bội chi ngân sách ( 4,57%) Tính chung cho giaiđoạn 2001 – 2005, tổng vốn đầu tư từ NSNN chiếm khoảng 22,3% tổng vốn đầu tư toàn

xã hội Trong những năm tiếp theo, vốn đầu tư từ NSNN có xu hướng tăng về giá trị tuyệtđối nhưng giảm về tỷ trọng trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội

Về cơ cấu chi đầu tư của NSNN trong thời kỳ này cũng đã chuyển biến theohướng tập trung hơn cho các lĩnh vực ưu tiên của giai đoạn này, đó là: giao thông, thủylợi giáo dục- đào tạo và các công trình phúc lợi dành cho người nghèo Những chính sáchnày đã được tiến hành trong một thời gian khá dài, và nó đã thể hiện sự cố gắng của nhànước trong việc phân bổ những nguồn lực hạn hẹp để tạo đà cho tăng trưởng kinh tế

1.2 Vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước

Trang 11

khoảng 9,21% tổn vốn đầu tư toàn xã hội, và khá ổn định Trong những năm tiếp theo,nguồn vốn tín dụng ưu đãi có khả năng tăng thêm cả về giá trị tuyệt đối và tỷ trọng trongtổng vốn đầu tư phát triển.

Vốn đầu tư từ nguồn vốn ín dụng của Nhà nước đã được tập trung cho các dự ánquan trọng thuộc các ngành công nghiệp trọng điểm như nhà máy thủy điện TuyênQuang, nhà máy nhiệt điện Cao Ngạn ( Thái Nguyên), nhà máy xi măng Hạ Long( Quảng Ninh ), nhà máy sản xuất phân đạm DAP ( Hải Phòng)…

1.3 Vốn đầu tư của các doanh nghiệp Nhà nước.

Bảng 6:

Năm Tổng vốn NSNN ( tỷ

đồng)

Vốn DNNN ( tỷđồng)

dây chuyền công nghệ của doanh nghiệp.

Trong một số năm gần đây, ngoài đầu tư vào lĩnh vực chuyên môn của mình,các doanh nghiệp nhà nước đã mở rộng đầu tư sang một số lĩnh vực khác Trong nền kinh

Trang 12

tế hiện đại, việc đa dạng hóa đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước là một xu thế tất yếu,xuất phát từ nhu cầu thực tiễn phát triển kinh doanh, từ sự xuất hiện cung cầu mới, từ xuhướng phát triển ngành và sự phát triển của khoa học công nghệ, cũng như từ sự gia tăng

áp lực cạnh tranh giữa các đối thủ tiềm năng, buộc các doanh nghiệp phải bám sát thịtrường và phải nhạy bén, năng động nắm bắt những thời cơ mới cho phép không ngừng

mở rộng quy mô, tạo ra lợi nhuận cao và giảm thiểu rủi ro trong kinh doanh Ví dụ : Tập

đoàn Bưu chính Viễn thông (VNPT), ngoài các sản phẩm, dịch vụ liên quan tới viễnthông và công nghệ thông tin, còn mở rộng sang lĩnh vực dịch vụ quảng cáo, kinh doanhbất động sản, cho thuê văn phòng; Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) ngoài lĩnh vựchoạt động truyền thống là sản xuất kinh doanh điện năng, viễn thông công cộng và cơ khíđiện lực, còn đầu tư mở rộng sang lĩnh vực bất động sản, lĩnh vực tài chính - ngân hàng;Tập đoàn Cao su Việt Nam (VRG) cũng không bó khuôn trong lĩnh vực cao su, mà cònđầu tư vào ngành cơ khí, quản lý khai thác cảng biển, vận tải, sản xuất, kinh doanh vậtliệu xây dựng, bất động sản, dịch vụ khách sạn, du lịch nội địa, quốc tế; Tập đoànVinashin ngoài lĩnh vực chuyên sâu của mình, cũng đã đầu tư vào dịch vụ vận tải biển,thuỷ điện, tài chính, chế tạo cơ khí…Theo Ban Chỉ đạo đổi mới và phát triển doanhnghiệp, tính đến cuối năm 2007, tổng số vốn mà các tập đoàn, tổng công ty nhà nước đầu

tư vào các lĩnh vực tài chính, chứng khoán, bất động sản, ngân hàng…, lên tới trên 15.000

tỉ đồng, trong đó chỉ tính riêng lĩnh vực chứng khoán là 1.061 tỉ đồng

Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, việc hoạt động đa ngành nghề, lĩnh vực cũng cótính hai mặt của nó: một mặt, nếu doanh nghiệp đi đúng hướng và đầu tư thành công sẽgiúp doanh nghiệp đạt được những mục tiêu như đã nêu trên; mặt khác, nếu “chệchhướng” hoặc đầu tư không hiệu quả có thể làm suy sụp hình ảnh của doanh nghiệp, thậmchí đánh mất thương hiệu và gây ra những thiệt hại to lớn khó lường cho doanh nghiệp.Khi doanh nghiệp đầu tư đa ngành, đa nghề, ít nhiều bản thân doanh nghiệp đánh mất đilợi thế cạnh tranh, lợi thế so sánh của mình, rất dễ mắc sai lầm do sự phân tán các nguồnlực và thiếu kinh nghiệm của bộ máy quản lý Bên cạnh đó, việc kiểm soát vốn vào hoạtđộng đa lĩnh vực thường rất phức tạp, nếu kiểm soát không tốt thì sự thất thoát, lãng phí

và khả năng đổ vỡ tài chính là những nguy cơ có thực Đặc biệt, cần thấy rõ rằng, với khảnăng tài chính có hạn, việc đầu tư vốn dàn trải sẽ buộc doanh nghiệp phải tìm đến nguồnvốn mới với những điều khoản thương mại ngặt nghèo dễ sa vào “ bẫy nợ nần”

Trang 13

Sự đa dạng hoá đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước còn là một nguyên nhântrực tiếp góp phần làm tăng áp lực lạm phát ở Việt Nam, cả lạm phát tiền tệ, lạm phát cơcấu và lạm phát chi phí đẩy Bởi vì:

Thứ nhất, cơ cấu đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước thường tập trung vào các

lĩnh vực kết cấu hạ tầng, không trực tiếp tạo ra hàng hoá và làm tăng chênh lệch cung cầu, tức làm tăng lạm phát cơ cấu

-Thứ hai, hiệu quả kinh doanh và đầu tư của các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà

nước và doanh nghiệp nhà nước nói chung cả ở trên thế giới, cũng như ở Việt Nam, đềukhông cao, và thường là thấp hơn so với hiệu quả đầu tư và kinh doanh tương tự do cácnhà đầu tư nước ngoài hoặc tư nhân trong nước thực hiện Thông tin chính thức cho thấy

tỷ lệ ICOR của khu vực doanh nghiệp nhà nước ở nước ta hiện ở mức hơn 8, so với mứctrung bình của xã hội là 4,2-4,4 Báo cáo kiểm toán năm 2007 do Kiểm toán Nhà nướccông bố ngày 1-7-2008 cho thấy, tổng số nợ phải thu của các doanh nghiệp được kiểmtoán đến thời điểm 31-12-2006 là rất lớn, 25.102 tỉ đồng, chiếm 14,24% tổng tài sản vàbằng 64% vốn chủ sở hữu Tương tự, tổng số nợ phải trả là 65.799 tỉ đồng, chiếm 62%tổng nguồn vốn và chiếm 171,2% tổng vốn chủ sở hữu

Thứ ba, do các doanh nghiệp nhà nước chiếm tỷ trọng khá lớn trong tổng dư nợ

tín dụng và đầu tư xã hội, cụ thể là hơn 50% vốn đầu tư nhà nước, 70% tổng dư nợ quốcgia và hơn 80% tổng dư nợ tín dụng, lạm phát sẽ có nguy cơ gia tăng nếu không kiểmsoát và ngăn chặn kịp thời những hiện tượng tiêu cực có thể xảy ra trong việc vay và chovay vốn, đầu tư chéo, đầu tư đa ngành mang tính đầu cơ, trục lợi cá nhân, dẫn tới sự lãngphí các nguồn lực quốc gia…

1.4 Vốn đầu tư tư nhân và dân cư.

Nguồn vốn từ khu vực tư nhân bao gồm phần tiết kiệm của dân cư, phần tích luỹcủa các doanh nghiệp dân doanh, các hợp tác xã Theo ước tính của Bộ Kế hoạch và Đầu

tư, tiết kiệm trong dân cư và các doanh nghiệp doanh dân chiếm bình quân khoảng 15%GDP, trong đó phần tiết kiệm của dân cư tham gia đầu tư gián tiếp vào khoảng 3,7%GDP, chiếm khoảng 25% tổng tiết kiệm của dân cư; phần tiết kiệm của dân cư tham giađầu tư trực tiếp vào khoảng 5% GDP và bằng 33% số tiết kiệm được Trong giai đoạn2001-2005, vốn đầu tư của dân cư và tư nhân chiếm khoảng 26% tổng vốn đầu tư toàn xãhội Trong giai đoạn tiếp nguồn này sẽ tiếp tục gia tăng cả về quy mô và tỷ trọng

Trang 14

Nguồn thu ngân sách từ doanh nghiệp nhà nước hiện nay chiếm tỷ trọng lớn,nhưng hiềm một nỗi nếu như tình hình hiện nay thì để có 1 đồng thu ngân sách từ doanhnghiệp nhà nước thì nhà nước cũng phải trợ cấp (cả cứng lẫn mềm) cho DNNN 1 đồng (ởđây chưa kể đến hoạt động bảo toàn vốn) Hơn nữa, một khi gia nhập WTO thì việc trợcấp này không thể duy trì, và hệ quả là nguồn thu từ doanh nghiệp nhà nước sẽ khó đượcđảm bảo Ngân sách nhà nước, vì vậy, phụ thuộc ngày càng nhiều vào các nguồn thukhác, trong đó đặc biệt quan trọng là từ thuế do các DN dân doanh đóng góp Như vậyphát triển khu vực kinh tế dân doanh một cách bền vững sẽ là một biện pháp rất hiệu quả

để đảm bảo ngân sách quốc gia Các doanh nghiệp dân doanh xét về tính năng động vàhiệu quả thì có lẽ chỉ thua các doanh nghiệp trong khu vực đầu tư nước ngoài Kinh tế dândoanh trong giai đoạn hiện nay lại là khu vực phát triển nhanh nhất không những đem lạimột nguồn vốn lớn cho hoạt động đầu tư mà còn tạo ra nhiều công ăn việc làm Trên thực

tế, đầu tư của các doanh nghiệp tư nhân và hộ gia đình có vai trò quan trọng đặc biệttrong phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn, mở mang ngành nghề, phát triển côngnghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ, vận tải trên các địa phương

Mặt khác, trong quá trình hội nhập hiện nay, khi Việt Nam đã gia nhập WTO thìnguồn thu của ngân sách nhà nước sẽ có nhiều thay đổi cơ bản Đó là nguồn thu từ thuếxuất nhập khẩu hiện đang chiếm hơn 20% ngân sách sé phải giảm đáng kể do hàng ràothuế quan phải hạ từ mức trung bình ước tính hiện nay la 15-16% xuống 0-5% Nguồn thu

từ xuất khẩu dầu thô hiện cũng đang chiếm một tỷ trọng đáng kể lại không ổn định vì phụthuộc vào biến động của thị trường thế giới và không thể duy trì mãi

Với khoảng vài trăm ngàn doanh nghiệp dân doanh ( gồm có doanh nghiệp tưnhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, hợp tác xã) đã, đang và sẽ đi vàohoạt động thì phần tích luỹ của các doanh nghiệp này sẽ đóng góp đáng kể vào ngân sáchnhà nước cũng như tổng quy mô vốn của toàn xã hội

Bởi vậy việc nhà nước thực hiện các chính sách để khuyến khích thúc đẩy khuvực kinh tế tư nhân phát triển là một yêu cầu thiết yếu Và trên thực tế trong 20 năm thựchiện chính sách đổi mới, Nhà nước liên tục hoàn thiện các chính sách nhằm tạo điều kiệncho khu vực kinh tế tư nhân, kinh tế hộ gia đình mạnh dạn bỏ vốn đầu tư và phát triển

2 Vốn đầu tư nước ngoài.

2.1 Nguồn vốn FDI.

a) Tình hình tăng vốn đầu tư.

Trang 15

Bảng số liệu dưới đây cho biết tình đầu tư nước ngoài vào Việt Nam trong những

năm qua:

Bảng 7 Đơn vị: triệu USD

vốn thựchiện

Tổng số Vốn điều lệ

Tổng số Nước ngoài

góp

Việt Namgóp

số vốn đầu tư tăng thêm khoảng 2,13 tỷ USD trong 5 năm 1991 -1995 thì ở giai đoạn

1996 -2000 tăng gần gấp đôi so với 5 năm trước (4,17 tỷ USD) Giai đoạn 2001 – 2005vốn đầu tư tăng thêm đạt 7,08 tỷ USD ( vượt 18% so với dự kiến là 6 tỷ USD ) tăng 69%

so với 5 năm trước trong đó lượng vốn đầu tư tăng thêm vượt con số 1 tỷ USD bắt đầu từnăm 2002 và từ năm 2004 đến năm 2007 vón tăng thêm trung bình năm đạt trên 2 tỷUSD, tương đương 35%

Vốn tăng thêm chủ yếu tập trung vào các dự án thuộc lĩnh vực sản xuất côngnghiệp và xây dựng , đạt khoảng 40,6% trong giai đoạn 1991 -11995, 65,7% trong giai

Trang 16

đoạn 1996 -2000 và khoảng 77,3% trong thời kỳ 2001 -2005 trong hai năm 2006, 2007,

tỷ lệ tương ứng là 80,17% và 79,1% tổng vốn tăng thêm

Do vốn đầu tư chủ yếu từ các nhà đầu tư châu Á( 59%) nên trong số vốn tăngthêm, vốn mở rộng của các nhà đầu tư châu lục này cũng chiếm tỷ trọng cao nhất 66,8%trong giai đoạn 1991 -1995, đạt 67% giai đoạn 1996 -2000, khoảng 70,3% giai đoạn 2001-2005 và trong hai năm 2006,2007 đạt tương ứng là 72,1% và 80%

Việc tăng vốn đầu tư, mở rộng sản xuất thực hiện chủ yếu tại các vùng kinh tếtrọng điểm, nơi tập trung nhiều dự án có vốn đầu tư nước ngoài Vùng trọng điểm phíaNam chiếm 55,5% trong giai đoạn 1991- 1995, đạt 68,1% trong giai đoạn 1996 -2000,vàthời kỳ 2001 -2005 là 71,5%.Trong hai năm 2006,2007 là 71% và 65% Vùng trọng điểmkinh tế phía Bắc có tỷ lệ tương ứng là 36,7%, 20,4%, 21,1%, 24%, và 20%

Qua khảo sát của Tổ chức Xúc tiến thương mại Nhật Bản – JETRO tại Việt Nam

có trên 70% doanh nghiệp nước ngoài được điều tra có kế hoạch tăng vốn, mở rộng sảnxuất tại Việt Nam Điều này chứng tỏ sự an tâm và tin tưởng của nhà đầu tư nước ngoàivào môi trường đầu tư – kinh doanh tại Việt Nam

b) Quy mô dự án.

Qua các thời kỳ, quy mô dự án đầu tư nước ngoài có sự biến động thể hiện khảnăng tài chính cũng như sự quan tâm của các nhà đầu tư tới môi trường đầu tư tại ViệtNam Quy mô vốn đầu tư bình quân của một dự án đầu tư nước ngoài tăng dần qua cácgiai đoạn, tuy có trầm lắng trong vài năm sau khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997.Thời kỳ 1988 -1990 quy mô vốn đăng ký bình quân khoảng 7,5 triệu USD/ một dự án/năm Trong giai đọan 1991 -1995 tăng lên là 11,6 triệu USD /dự án/.Trong 5 năm tiếptheo 1996 -2000 là 12,3 triệu USD/dự án Điều này thể hiện số lượng các dự án quy môlớn được cấp phép trong giai đoạn 1996 -2000 nhiều hơn trong các năm trước Tuy nhiên,quy mô vốn đăng ký trên giảm xuống 3,4% triệu USD/ dự án trong thời kỳ 2001 -2005.Điều này chứng tỏ đa phần các dự án trong thời kỳ này thuộc dự án có quy mô vừa vànhỏ.Trong hai năm 2006, 2007, quy mô vốn đầu tư trung bình của một dự án đều ở mức14,4 triệu USD, cho thấy số dự án có quy mô lớn đã trăng lên so với thời kỳ trước, thểhiện qua sự quan tâm của một số tập đoàn đa quốc gia đầu tư vào một số dự án có quy môlớn ( Intel, Panasonic, Compaq, Piaggio…)

c) Đầu tư nước ngoài phân theo hình thức đầu tư.

Trang 17

Tính đến hết năm 2007, chủ yếu các doanh nghiệp ĐTNN thực hiện theo hình

thức 100% vốn nước ngoài, có 6.685 dự án ĐTNN với tổng vốn đăng ký 51,2 tỷ USD,

chiếm 77,65% về số dự án và 61,6% tổng vốn đăng ký Theo hình thức liên doanh có

1.619 dự án với tổng vốn đăng ký 23,8 tỷ USD, chiếm 18,8% về số dự án và 28,7% tổng

vốn đăng ký Theo hình thức Hợp đồng hợp tác kinh doanh có 221 dự án với tổng vốn

đăng ký 4,5 tỷ USD chiếm 2,5% về số dự án và 5,5% tổng vốn đăng ký Số còn lại thuộc

các hình thức khác như BOT, BT, BTO Có thể so sánh tỷ trọng dự án hoạt động theo

hình thức 100% vốn nước ngoài tính đến hết năm 2004 là 39,9%, theo hình thức liên

doanh là 40,6% và theo hình thức hợp doanh là 19,5% để thấy được hình thức 100% vốn

nước ngoài được các nhà đầu tư lựa chọn hơn Xem bảng số liệu sau: đơn vị %

d) Đầu tư n ước ngoài phân theo đối tác đầu tư

Thực hiện phương châm của Đảng và Chính phủ “ Đa phương hóa, đa dạng hóa

quan hệ hợp tác…Việt Nam muốn làm bạn với các nước trong khu vực và thế giới ”

được cụ thể hóa qua hệ thống pháp luật ĐTNN, qua 20 năm đã có 81 quốc gia và vùng

lãnh thổ đầu tư tại Việt Nam với tổng vốn đăng ký trên 83 tỷ đô la Mỹ Trong đó, các

nước Châu Á chiếm 69%, trong đó khối ASEAN chiếm 19% tổng vốn đăng ký Các nước

châu Âu chiếm 24%, trong đó EU chiếm 10% Các nước Châu Mỹ chiếm 5%, riêng Hoa

Kỳ chiếm 3,6% Tuy nhiên, nếu tính cả số vốn đầu tư từ các chi nhánh tại nước thứ 3 của

các nhà đầu tư Hoa Kỳ thì vốn đầu tư của Hoa Kỳ tại Việt Nam sẽ đạt con số trên 3 tỷ

USD, đứng vị trí thứ 5 trong tổng số 80 quốc gia và vùng lãnh thổ có đầu tư tại Việt Nam,

ví dụ Tập đoàn Intel không đầu tư thẳng từ Mỹ vào Việt Nam mà thông qua chi nhánh tại

Trang 18

Hồng Kông Hai nước châu Úc (New Zealand và Australia) chỉ chiếm 1% tổng vốn đăng

Hiện đã có 15 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vốn đăng ký cam kết trên 1 tỷUSD tại Việt Nam Đứng đầu là Hàn Quốc vốn đăng ký 13,5 tỷ USD, thứ 2 là Singapore10,7 tỷ USD, thứ 3 là Đài loan 10,5 tỷ USD (đồng thời cũng đứng thứ 3 trong giải ngânvốn đạt 3,07 tỷ USD), thứ 4 là Nhật Bản 9,03 tỷ USD Nhưng nếu tính về vốn thực hiệnthì Nhật Bản đứng đầu với vốn giải ngân đạt gần 5 tỷ USD, tiếp theo là Singapore đứngthứ 2 đạt 3,8 tỷ USD Hàn Quốc đứng thứ 4 với vốn giải ngân đạt 2,7 tỷ USD

Trong nhưng năm đầu 90 thực hiện Luật Đầu tư, chủ yếu là dự án quy mô nhỏ và

từ các quốc gia và vùng lãnh thổ thuộc châu Á, như Hồng Kông, Hàn Quốc và Đài Loan.Cho tới hết năm 2007, vốn ĐTNN vào Việt Nam vẫn từ các nước châu Á mặc dù Đảng vàChính phủ đã có Nghị quyết 09 đã đề ra ba định hướng thu hút ĐTNN

2.2 Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức – ODA.

a) Tình hình cam kết vốn ODA cho Việt Nam

ODA là nguồn vốn quan trọng của ngân sách Nhà nước, được sử dụng để hỗ trợ thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội ưu tiên

Ngày 9/11/1993, Hội nghị quốc tế các nhà tài trợ dành cho Việt Nam đã khai mạctại Paris, đây là sự kiện đánh dấu sự hội nhập của Việt Nam với cộng đồng tài trợ quốc tế.Thông qua 14 Hội nghị CG (Hội nghị Nhóm tư vấn các nhà tài trợ dành cho Việt Nam),

các nhà tài trợ đã cam kết ODA cho nước ta với tổng lượng đạt 37,011 tỷ USD Mức cam

kết năm sau cao hơn năm trước và đạt đỉnh điểm trong năm 2006 (4,4 tỷ USD) Trongthời kỳ 1993-2006, tổng giá trị ODA cam kết là 37,011 tỷ USD; tổng vốn ODA ký kết đạtkhoảng 27,810 tỷ USD, tương đương 75% tổng vốn OĐA cam kết; tổng vốn ODA giảingân đạt xấp xỉ 17,684 tỷ USD, tương đương 63,54% tổng vốn ODA ký kết

ODA được cung cấp theo dự án hoặc chương trình dưới hình thức viện trợ khônghoàn lại và vay ưu đãi Khoảng 15 - 20% số vốn ODA cam kết nói trên là viện trợ khônghoàn lại, hầu hết là các dự án hỗ trợ kỹ thuật, còn lại một phần nhỏ là các dự án đầu tưxây dựng quy mô nhỏ và phi dự án (viện trợ hàng hóa) Các khoản vay ưu đãi tập trungcho các dự án đầu tư xây dựng, trong đó có các dự án cấp quốc gia với giá trị hàng trămtriệu đô la Mỹ Ngoài ra, còn có các khoản vay theo chương trình gắn với việc thực hiệnkhung chính sách, như khoản vay thể chế tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo của IMF,chương trình tín dụng hỗ trợ giảm nghèo của WB

Trang 19

Bảng 9 : Cam kết, ký kết và giải ngân vốn ODA giai đoạn 2000 – 2007

Đơn vị: Triệu USD

Nguồn: Bộ kế hoạch và đầu tư

Sau thành công của Hội nghị Nhóm Tư vấn các nhà tài trợ dành cho Việt Namgiữa kỳ tổ chức tại Nha Trang vào tháng 6 năm 2006, Hội nghị CG thường niên tháng 12năm 2006 được đánh giá là Hội nghị thành công nhất từ trước đến nay trước bối cảnhViệt nam bước vào một giai đoạn phát triển mới Tại Hội nghị này, Thủ tướng Chính phủ

đã đối thoại trực tiếp với các nhà tài trợ trên tinh thần thẳng thắn, mang tính xây dựng vềnhững vấn đề cùng quan tâm như thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm2006-2010, phát triển xã hội và môi trường bền vững, xây dựng nền tảng pháp luật và thểchế, hội nhập quốc tế và khu vực, hài hoà thủ tục và nâng cao hiệu quả viện trợ Các nhàtài trợ đánh giá cao những nỗ lực của Việt Nam trong việc nâng cao hiệu quả sử dụngnguồn vốn ODA Tại Hội nghị này Việt Nam và các nhà tài trợ đã thông qua mức camkết ODA kỷ lục, cao nhất từ trước đến nay là 4,445 tỷ USD và cho thấy xu thế gia tăngliên tục nguồn vốn ODA cam kết trong suốt thời gian qua

b)Cơ cấu vốn ODA theo nhà tài trợ

Hiện nay có 28 nhà tài trợ song phương, trong đó có 24 nhà tài trợ cam kết ODAthường niên (úc, Bỉ, Canađa, Séc, Đan Mạch, Phần Lan, Pháp, Đức, Italy, Nhật Bản, HànQuốc, Lux-xem-bua, Hà Lan, New Zealand, Na Uy, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Thụy Sỹ,Thái Lan, Anh, Hoa Kỳ, Ailen, ); 4 nhà tài trợ không cam kết ODA thường niên (áo,

Trang 20

Trung Quốc, Nga, Singapore) mà cam kết ODA theo từng dự án cụ thể Ví dụ, gần đâyTrung Quốc cam kết cung cấp 85 triệu USD vốn vay ưu đãi để thực hiện dự án xây dựngnhà máy nhiệt điện Cao Ngạn.

Hiện có 23 tổ chức tài trợ ODA đa phương cho Việt Nam, bao gồm ADB, WB,JBIC, KFW, AFD, (nhóm 5 ngân hàng), Uỷ ban Châu Âu (EC), Quỹ các nước xuất khẩudầu mỏ (OPEC), Quỹ Kuwait, Chương trình Phát triển của Liên hiệp quốc (UNDP), QuỹDân số Thế giới (UNFPA), Quỹ Nhi đồng Liên hiệp quốc (UNICEF), Tổ chức Y tế Thếgiới (WHO), Quỹ Phát triển Nông nghiệp Quốc tế (IFAD), Chương trình Lương thực Thếgiới (WFP), Quỹ môi trường toàn cầu (GEF) và Quỹ Đầu tư phát triển của Liên hiệp quốc(UNCDF), IMF

Bảng 10 : Số vốn ODA cam kết của 10 nhà tài trợ hàng đầu cho việt Nam

Đơn vị: Triệu USD

Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Ngoài ra còn có trên 350 NGOs ( các tổ chức phi chính phủ ) hoạt động tại ViệtNam, cung cấp bình quân một năm khoảng 100 triệu USD viện trợ không hoàn lại

Trang 21

Trong số các nhà tài trợ, có 3 nhà tài trợ có quy mô cung cấp ODA lớn nhất làNhật Bản, WB và ADB, chiếm trên 70% tổng giá trị các điều ước quốc tế về ODA được

ký kết trong thời kỳ 1993 - 2006, trong đó Nhật Bản chiếm trên 40%

Bảng 11 : Cơ cấu ODA theo vùng của các nhà tài trợ đa phương và UNDP ( trương

trình phát triển LHQ )

Đơn vị tính: Triệu USD

Vùng

Ngân hàng Phát triển Châu á (ADB)

Ngân hàng Thế giới (WB)

Chương trình Phát triển Liên Hiệp quốc (UNDP)

Trang 22

Từ năm 1998, khi Chính phủ và các nhà tài trợ nhất trí tập trung nguồn vốn ODAcho phát triển nông nghiệp và nông thôn, xoá đói giảm nghèo thì việc phân bổ vốn ODA

đã có xu thế cân đối hơn Tuy nhiên, thực tế cho thấy rằng, ODA chủ yếu tập trung vàocác vùng kinh tế trọng điểm Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ là địa bàn thu hút ODA lớnnhất, chiếm gần 30% số vốn ODA ký kết nhưng chủ yếu tập trung vào tam giác kinh tếgồm 3 tỉnh Hà Nội, Hải Phòng và Quảng Ninh Vùng đồng bằng Sông Cửu Long thu hútđược một lượng đáng kể vốn ODA và phân bổ tương đối đồng đều giữa các tỉnh trongvùng Còn vùng kinh tế trọng điểm Trung Bộ không có lợi thế về nhiều mặt, trong đónguồn vốn ODA thu hút cũng ít

Khoảng 200 dự án với tổng vốn ODA hơn 3 tỷ USD đầu tư cho phát triển nôngnghiệp và nông thôn, chiếm 14.4% tổng mức ODA cam kết Các dự án ODA đã góp phầncung cấp nguồn tín dụng cho nông dân, tạo ra các ngành nghề phụ, phát triển công táckhuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, phát triển giao thông nông thôn, cung cấp nướcsạch, phát triển lưới điện sinh hoạt, trạm y tế, trường học

2.3 Nguồn vốn huy động qua thị trường vốn quốc tế

Để thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa nền kinh tế, Nhà nước ta rấtcoi trọng việc huy động nguồn vốn trên thị trường vốn quốc tế Ngày 25/10/2005, ViệtNam phát hành lượng trái phiếu đầu tiên trị giá 750 triệu USD ra thị trường vốn quốc tế

và được đánh giá là khá thành công ( trái phiếu của Vinashin ) Sau đợt phát hành, đã cónhiều doanh nghiệp "nhăm nhe" đưa trái phiếu của mình ra thị trường quốc tế và Bộ TàiChính luôn khẳng định sẽ hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện kế hoạch phát hành Tập đoànĐiện lực Việt Nam đã trình Chính phủ và được đồng ý về nguyên tắc kế hoạch phát hành

800 triệu USD trái phiếu doanh nghiệp (TPdoanh nghiệp) ra thị trường quốc tế Đầutháng 6/2007, BTC đã kiến nghị Chính phủ thông qua Nghị quyết phát hành 1 tỷ USD tráiphiếu ra thị trường vốn quốc tế với thời hạn từ 15 đến 20 năm (hiện tại được mở rộng thờihạn huy động từ 10 đến 30 năm) cho Tập đoàn Dầu khí, Tổng công ty Hàng hải, Tổngcông ty Sông Đà và Lilama vay lại để đầu tư các dự án

Ngày đăng: 01/04/2013, 16:12

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2   : Chi đầu tư phát triển của NSNN giai đoạn 2000 – 2007 - Cơ cấu đầu tư và cơ cấu đầu tư hợp lý. Phân tích khái quát cơ cấu đầu tư ở Việt Nam
Bảng 2 : Chi đầu tư phát triển của NSNN giai đoạn 2000 – 2007 (Trang 9)
Bảng 2 cho thấy bình quân giai đoạn 2000 - 2007: tốc độ tăng chi phát triển chiếm  tỷ lệ cao trong tổng chi NSNN ( chiếm 35,1% )  và tăng dần theo thời gian, từ 34% tổng chi  ngân sách giai đoạn 1997 -1999 lên  40,5% giai năm 2002 và 37% năm 2003 - Cơ cấu đầu tư và cơ cấu đầu tư hợp lý. Phân tích khái quát cơ cấu đầu tư ở Việt Nam
Bảng 2 cho thấy bình quân giai đoạn 2000 - 2007: tốc độ tăng chi phát triển chiếm tỷ lệ cao trong tổng chi NSNN ( chiếm 35,1% ) và tăng dần theo thời gian, từ 34% tổng chi ngân sách giai đoạn 1997 -1999 lên 40,5% giai năm 2002 và 37% năm 2003 (Trang 10)
Bảng số liệu dưới đây cho biết tình đầu tư nước ngoài vào Việt Nam trong những  năm qua: - Cơ cấu đầu tư và cơ cấu đầu tư hợp lý. Phân tích khái quát cơ cấu đầu tư ở Việt Nam
Bảng s ố liệu dưới đây cho biết tình đầu tư nước ngoài vào Việt Nam trong những năm qua: (Trang 15)
Bảng 8: đơn vị % - Cơ cấu đầu tư và cơ cấu đầu tư hợp lý. Phân tích khái quát cơ cấu đầu tư ở Việt Nam
Bảng 8 đơn vị % (Trang 17)
Bảng 10 : Số vốn ODA cam kết của 10 nhà tài trợ hàng đầu cho việt Nam - Cơ cấu đầu tư và cơ cấu đầu tư hợp lý. Phân tích khái quát cơ cấu đầu tư ở Việt Nam
Bảng 10 Số vốn ODA cam kết của 10 nhà tài trợ hàng đầu cho việt Nam (Trang 20)
Bảng  : tỷ lệ đầu tư XDCB trong tổng chi NSNN. ( đơn vị : tỷ đồng ) - Cơ cấu đầu tư và cơ cấu đầu tư hợp lý. Phân tích khái quát cơ cấu đầu tư ở Việt Nam
ng : tỷ lệ đầu tư XDCB trong tổng chi NSNN. ( đơn vị : tỷ đồng ) (Trang 26)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w