1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Dựa vào các lý thuyết kinh tế về đầu tư, giải thích vai trò của đầu tư với tăng trưởng và phát triển kinh tế

45 781 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Dựa Vào Các Lý Thuyết Kinh Tế Về Đầu Tư, Giải Thích Vai Trò Của Đầu Tư Với Tăng Trưởng Và Phát Triển Kinh Tế
Người hướng dẫn Thầy Từ Quang Phương, Thầy Phạm Văn Hùng
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại Đề Tài
Định dạng
Số trang 45
Dung lượng 551,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tiến trình Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế cùng những yêu cầu mới trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đòi hỏi các doanh nghiệp Việt Nam, chính phủ Việt Nam phải có những định hướng đúng cho nguồn vốn đầu tư để có được chất lượng tăng trưởng cao nhất

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

Đầu tư là gì? Đầu tư để làm gì? Vai trò của đầu tư? Đây là những câu hỏi

mà bất kì 1 nền kinh tế, 1 nhà kinh tế nào cũng đều phải nghiên cứu và tìm ra lờiđáp Các trường phái kinh tế từ khi nền kinh tế mới hình thành đã nghiên cứu vềđầu tư và đã khẳng đinh phần nào vai trò đầu tư trong tăng trưởng và phát triểnkinh tê Mác đã từng khẳng định: Vốn đầu tư là một trong những yếu tố cơ bảnrạo ra sự tăng trưởng phát triển kinh tế quốc gia hay như A.Smith trong cuốn

“Của cải các dân tộc” cũng cho rằng: “Vốn đầu tư là yếu tố quyết định chủ yếuđến số lao động hữu hiệu và hiệu quả”

Ở Việt Nam đặc biệt là sau Đại hội Đảng lần thứ VI (năm 1986), vai tròcủa đầu tư đã thực sự được khẳng định Đầu tư tác động đến tốc độ tăng trưởngvừa tác động đến chất lượng tăng trưởng Tăng quy mô đầu tư và sử dụng hợp lý

là những nhân tố quan trọng góp phần làm nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh

tế, làm nâng cao hiệu quả vốn đầu tư, tăng nhân tố tổng hợp, tác động đến việcchuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nâng caosức cạnh tranh của nền kinh tế…Thông qua việc cải cách cơ chế đầu tư, thực hiệnchính sách mở cửa,mức gia tăng vốn đầu tư vào Việt Nam ngày càng cao, kéotheo đó là tốc độ tăng trưởng nền kinh tế ngày gia tăng và ổn định hơn trongnhững năm qua

Những năm gần đây, vốn đầu tư vào Việt Nam đạt được mức cao đáng kể,tuy nhiên với mức gia tăng tốc độ tăng trưởng như hiện nay thì có thể coi là thỏađáng chưa? Vì thế vấn đề của Việt Nam hiện nay là phải làm sao để có chấtlượng đầu tư cao hơn, mức gia tăng tốc độ kinh tế phải xứng đáng với vốn đầu tư

bỏ ra, chính sách đầu tư phải tạo điều kiện thu hút vốn đầu tư cả trong và ngoàinước, đầu tư vào những lĩnh vực thế mạnh phù hợp với định hướng Công nghiệphoá, hiện đại hoá Bằng việc ban hành các văn bản hướng dẫn,và thực hiện hàngloạt các biện pháp thẩm định, nâng cao chất lượng các luồng vốn đầu tư, nângcao chất lượng nguồn nhân lực….đầu tư càng thể hiện rõ vai trò của mình trongtiến trình đến một nền kinh tế công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong tương lai gần

Tiến trình Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế cùng những yêu cầu mớitrong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đòi hỏi các doanhnghiệp Việt Nam, chính phủ Việt Nam phải có những định hướng đúng chonguồn vốn đầu tư để có được chất lượng tăng trưởng cao nhất Việc huy động và

sử dụng vốn đầu tư hiệu quả sẽ là bàn đạp cho sự tăng trưởng kinh tế nói riêng vàphát triển xã hội nói chung

Trong phạm vi đề tài: “Dựa vào các lý thuyết kinh tế về đầu tư, giải thích

vai trò của đầu tư với tăng trưởng và phát triển kinh tế”, chúng em sẽ trình bày

một số lí thuyết kinh tế về đầu tư, từ đó giải thích vai trò của đầu tư với tăngtrưởng và phát triển kinh tế; đồng thời phân tích, đánh giá tác động của đầu tư tớităng trưởng và phát triển kinh tế Việt Nam trong thời gian qua

Trong quá trình nghiên cứu, tập thể nhóm xin chân thành cảm ơn thầy TừQuang Phương và thầy Phạm Văn Hùng đã giúp đỡ hoàn thành đề tài

Trang 2

Nguồn lực hi sinh đó có thể là tiền, là tài nguyên thiên nhiên, là sức laođộng và trí tuệ.

Những kết quả sẽ đạt được đó có thể là sự tăng thêm các tài sản tài chính(tiền vốn) tài sản vật chất (nhà máy, đường sá, bệnh viện…), tài sản trí tuệ (trình

độ văn hoá, chuyên môn,quản lí…) và nguồn nhân lực có đủ điều kiện làm việcvới năng suất cao hơn trong nền sản xuất XH

Loại đầu tư đem lại các kết quả không chỉ ngườ đầu tư mà cả nền kinh tế

XH được hưởng thụ trên đây không chỉ trực tiếp làm tăng tài sản của người chủđầu tư mà cả của nền kinh tế chính là đầu tư phát triển Còn các loại đầu tư chỉtrực tiếp làm tăng tài sản chính của người chủ đầu tư, tác động gián tiếp đến làmtăng tài sản của nền kinh tế thông qua sự đóng góp tài chính tích luỹ của các hoạtđộng đầu tư này cho đầu tư phát triển, cung cấp vốn cho hoạt động đầu tư pháttriển và thúc đẩy quá trình lưu thông phân phối các sản phẩm do các kết quả củađầu tư phát triển tạo ra, đó là đầu tư tài chính và đầu tư thương mại

Quá trình tiến hành một công cuộc đầu tư kể từ khi bắt đầu chi phí cácnguồn lực cho đến khi các thành quả của quá trình đầu tư phát huy tác dụng vàngừng hoạt động có rất nhiều công việc phải làm với tính chất kĩ thuật rất đadạng, đòi hỏi phải sử dụng kiến thức của rất nhiều ngành kinh tế kĩ thuật khácnhau vào quá trình thực hiện đầu tư theo từng giai đoạn và toàn bộ các công cuộcđầu tư

Nguồn lực chi phí cho một công cuộc đầu tư là rất lớn, thời gian cần hoạtđộng của các kết quả đầu tư để có thể thu hồi vốn đã bỏ ra (đối với các công cuộcđầu tư sản xuất kinh doanh) hoặc để các lợi ích thu được tương xứng và lớn hơnnhững hi sinh về nguồn lực mà nền kinh tế bỏ ra cũng rất lâu (đối với các côngcuộc đầu tư công cộng)

Có hai hình thức đầu tư mà ta xét:

- Đầu tư trực tiếp là sự đầu tư thông qua sản xuất, cung cấp dịch vụ, buônbán tại nước nhận đầu tư Hình thức đầu tư này thường dẫn đến sự thành lập một

Trang 3

pháp nhân riêng như công ty liên doanh, công ty 100% vốn nước ngoài, chinhánh công ty nước ngoài Đầu tư trực tiếp góp phần làm tăng tổng sản phẩmquốc nội, thúc đẩy quá trình chuyển giao công nghệ và phương thức quản lý, kinhdoanh tiên tiến, đồng thời góp phần giải quyết vấn đề việc làm tại nước nhận đầutư.

- Đầu tư gián tiếp là sự đầu tư thông qua việc buôn bán cổ phiếu và cácgiấy tờ có giá trị, gọi chung là chứng khoán Hình thức đầu tư này không dẫn đếnviệc thành lập pháp nhân riêng Hình thức này mang tính đầu cơ nên có thể thulãi rất lớn thông qua sự biến động giá chứng khoán (điều này lại liên quan đếnnhiều yếu tố khác như tình hình chính trị, phát triển kinh tế, chính sách điều hành

vĩ mô, v.v ), nhưng cũng chính vì thế mà có thể phải chịu những rủi ro khólường trước Đối với nước nhận đầu tư, hình thức đầu tư góp phần giải quyết sựkhan hiếm vốn, nhưng khi các nhà đầu tư đồng loạt rút đi (bằng cách bán lạichứng khoán) sẽ dễ dẫn đến những biến động trên thị trường tiền tệ, ảnh hưởngtới nền kinh tế

1.2 Các loại hình đầu tư

1.2.1 Đầu tư phát triển

Khái niệm

Đầu tư phát triển là bộ phận cơ bản của đầu tư, là việc chi dung vốn tronghiện tại để tiến hành các hoạt động nhằm làm tăng thêm hoặc tạo ra những tài sảnvật chất (nhà xưởng, thiết bị…) và tài sản trí tuệ (tri thức, kĩ năng…), gia tăngnăng lực sản xuất, tạo thêm việc làm và vì mục tiêu phát triển

Đầu tư phát triển đòi hỏi rất lớn nhiều loại nguồn lực Theo nghĩa hẹp,nguồn lực sử dụng cho đầu tư phát triển là tiền vốn Theo nghĩa rộng, nguồn lựcđầu tư bao gồm cả tiền vốn, đất đai, lao động, máy móc, thiêt bị, tài nguyên Nhưvậy, khi xem xét lựa chọn dự án đầu tư hay đánh giá hiệu quả hoạt động đầu tưphát triển cần tính đúng tính đủ các nguồn lực tham gia

Đối tượng của đầu tư phát triển là tập hợp các yếu tố được chủ đầu tư bỏvốn thực hiện nhằm đạt những mục tiêu nhất định Trên quan điểm phân công laođộng XH, có hai nhóm đối tượng đầu tư chính là đầu tư theo ngành và đầu tưthao lãnh thổ Trên góc độ tính chất và mục đích đầu tư, đối tượng đầu tư chiathành hai nhóm chính: công trình vì mục tiêu lợi nhuận và công trình phi lợinhuận Trên góc độ xem xét mức độ quan trọng, đối tượng đầu tư chia thành: loạiđược khuyến khích đầu tư, loại không được khuyến khích đầu tư và loại cấm đầutư

Kết quả của đầu tư phát triển là sự tăng thêm về tài sản vật chất (nhàxưởng, thiết bị…) tài sản trí tuệ (trình độ văn hoá, chuyên môn…) và tài sản vôhình (phát minh, sáng chế…) Các kết quả đạt được của đầu tư góp phần làm tăngthêm năng lực sản xuất của XH Hiệu quả của đầu tư phát triển phản ánh quan hệ

so sánh giữa kết quả kinh tế XH thu được với chi phí chi ra để đạt được kết quả

đó Kết quả và hiệu quả đầu tư phát triển cần được xem xét cả trên phương diệnchủ đầu tư và XH, đảm bảo kết hợp hài hoà giữa các loại lợi ích phát huy vai tròchủ động sáng tạo của chủ đầu tư, vai trò quản lí, kiểm tra giám sát của cơ quanquản lí Nhà nước các cấp Thực tế, có những khoản đầu tư tuy không trực tiếp tạo

Trang 4

ra tài sản cố định và tài sản lưu động cho hoạt động sản xuất kinh doanh như đầu

tư cho y tế, giáo dục, xoá đói giảm nghèo… Nhưng lại rất quan trọng để nâng caochất lượng cuộc sống và vì mục tiêu phát triển, do đó cũng được xem là đầu tưphát triển

đa lợi nhuận, nâng cao khả năng cạnh tranh và chất lượng nguồn nhân lực…

Hoạt động của đầu tư phát triển là một quá trình diễn ra trong thời kì dài vàtồn tại vấn đề “độ trễ thời gian” Độ trễ thời gian là sự không trùng hợp giữa thờigian đầu tư và thời gian vận hành các kết quả đầu tư Đầu tư hiện tại nhưng kếtquả thường được thu trong tương lai Đặc điểm này của đầu tư cần được quántriệt khi đánh giá kết quả ,chi phí và hiệu quả đầu tư phát triển

Đặc điểm của đầu tư phát triển:

- Quy mô tiền vốn vật tư, lao động cần thiết cho hoạt động đầu tư phát

triển thường rất lớn Vốn đầu tư lớn nằm khô đọng lâu trong suốt quá trình thựchiện đầu tư Lao động cần sử dụng cho cac dự án rất lớn, đặc biệt đối với các dự

án trọng điểm quốc gia

- Thời kì đầu tư kéo dài: thời kì đầu tư tính từ khi khởi công thực hiện dự

án đến khi dự án hoàn thành và đưa vào hoạt động Nhiều công trình đầu tư pháttriển có thời gian kéo dài hàng chục năm

- Thời gian vận hành các kết quả đầu tư kéo dài: thời gian vận hành các kếtquả đầu tư tính từ khi đưa công trình vào hoạt động cho đến khi hết thời hạn sửdụng và đào thải công trình

- Các thành quả của hoạt động đầu tư phát triển là các công trình xây dựngthường phát huy tác dụng ở ngay nơi no được tạo dựng nên, do đó, quá trình thựchiện đầu tư cung như thời kì vận hành các kết quả đầu tư chịu ảnh hưởng lớn củacác nhân tố về tự nhiên, kinh tế, XH vùng Không thể dễ dàng di chuyển các côngtrình đã đầu tư từ nơi này sang nơi khác, nên công tác quản lí hoạt động đầu tưphát triển cần phải quán triệt đặc điểm này trên một số nội dung sau:

+ Trước tiên, cần phải có chủ trương đầu tư và quyết định đầu tư đúng đắn.+ Lựa chọn địa điểm đầu tư hợp lí

- Đầu tư phát triển có độ rủi ro cao, do quy mô vốn đầu tư lớn, thời kì đầu

tư kéo dài, thời gian vận hành các kết quả đầu tư cũng kéo dài… nên mức độ rủi

ro của hoạt động đầu tư phát triển thường cao

Nội dung của đầu tư phát triển:

Hoạt động đầu tư phát triển bao gồm nhiều nội dung, tuỳ theo cách tiếpcận

Căn cứ vào lĩnh vực phát huy tác dụng, đầu tư phát triển bao gồm các nộidung sau: đầu tư phát triển sản xuất, đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kĩ thuậtchung của nền kinh tế, đầu tư phat striển văn hoá giáo dục y tế và dịch vụ XHkhác, đầu tư phát triển khoa học kĩ thuật và những nội dung phát triển khác Cách

Trang 5

tiếp cận này là căn cứ để xác định quy mô vốn đầu tư, đánh giá kết quả và hiệuquả hoạt động cho từng ngành lĩnh vực trong nền kinh tế quốc dân.

Theo khái niệm, nội dung đầu tư phát triển bao gồm: đầu tư những tài sảnvật chất (tài sản thực) và đầu tư những tài sản vô hình Đầu tư các tà sản vật chấtgồm: đầu tư tài sản cố định (đầu tư xây dựng cơ bản) và đầu tư vào hàng tồn trữ.Đầu tư tài sản vô hình gồm các nội dung sau: đầu tư nâng cao chất lượng nguồnnhân lực, đầu tư nghiên cứu và triển khai các hoạt động khoa học, kĩ thuật, đầu tưxây dựng thương hiệu, quảng cáo

1.2.2 Đầu tư tài chính và đầu tư thương mại

1.2.2.1 Đầu tư tài chính

Đầu tư tài chính (đầu tư tài sản tài chính) là loại đầu tư trong đó người cótiền bỏ tiền ra cho vay hoặc mua các chứng chỉ có giá trên thị trường tiền tệ, thịtruờng vốn để hưởng lãi suất định trước (gửi tiết kiệm, mua trái phiếu chính phủ)hoặc lợi nhuận tuỳ thuộc vào kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công typhát hành (mua cổ phiếu…) Đầu tư tài sản tài chính là loại đầu tư không trựctiếp làm tăng sản phẩm thực (tài sản vật chất) cho nền kinh tế (nếu không xét đếnquan hệ quốc tế trong lĩnh vực này) mà chỉ làm tăng giá trị tài sản tài chính chochủ đầu tư Mua cổ phiếu (đầu tư cổ phiếu) gắn với việc chuyển quyền sở hữu vàhoạt động cho vay dẫn đến chuyển quyền sử dụng,do vậy, hai loại đầu tư này đềuthuộc hoạt động đầu tư dịch chuyển Đầu tư tài chính thường được thực hiện giántiếp thông qua các trung gian tài chính như ngân hàng, công ty chứng khoán Đầu

tư tài chính còn có đặc điểm là: chủ đầu tư thường có kì vọng thu được lợi nhuậncao khi đầu tư nhưng thực tế lợi nhuận thu được có thể tăng giảm không theo ýmuốn Tuy nhiên, đầu tư tài chính là kênh huy động vốn rất quan trọng cho hoạtđộng đầu tư phát triển và là một trong những loại hình đầu tư lựa chọn để tối đahoá lợi ích, giảm thiểu rủi ro cho chủ đầu tư

1.2.2.2 Đầu tư thương mại

Đầu tư thương mại là loại đầu tư trong đó người có tiền bỏ tiền ra để muahàng hoá và sau đó bán với giá cao hơn nhằm thu lợi nhuận cho chênh lệch giákhi mua và khi bán Loại đầu tư này cũng không tạo ra tài sản mới cho nền kinhtế

1.2.3 Mối quan hệ giữa ba loại hình đầu tư

Đầu tư phát triển, đầu tư tài chính và đầu tư thương mại là ba loại hình đầu

tư luôn tồn tại và có mối quan hệ tương hỗ với nhau Đầu tư phát triển tạo tiền đề

để tăng tích luỹ, phát triển hoạt động đầu tư tài chính và đầu tư thuơng mại.Ngược lại đầu tư tài chính và đầu tư thương mại hỗ trợ và tạo điều kiện để tăngcường đầu tư phát triển

1.3 Các lí thuyết kinh tế về đầu tư

1.3.1.Số nhân đầu tư

Số nhân đầu tư phản ánh vai trò của đầu tư đối với sản lượng Nó cho thấysản lượng gia tăng bao nhiêu khi đầu tư gia tăng 1 đơn vị

Công thức tính:

k = ∆Y/ ∆I (1)

Trang 6

Trong đó: ∆Y: Mức gia tăng sản lượng

∆I : Mức gia tăng đầu tư

k : Số nhân đầu tư

Từ công thức (1) ta được

∆Y = k * ∆I (2)

Như vậy, việc gia tăng đầu tư có tác dụng khuyếch đại sản lượng tăng lên

số nhân lần Trong công thức trên, k là số dương lớn hơn 1 Vì, khi I = S, có thểbiến đổi công thức (2) thành:

1

 1

1

=MPS1 (3) Trong đó:

MPS = Y s

 Khuynh hướng tiết kiệm biên

1.3.2.Gia tốc đầu tư

Số nhân đầu tư giải thích mối quan hệ giữa gia tăng đầu tư gia tăng sảnlượng hay việc gia tăng đầu tư có ảnh hưởng như thế nào đến sản lượng Nhưvậy, đầu tư xuất hiện như một yếu tố của tổng cầu Theo Keynes (nhà kinh tể họctrong thập niên 30 thế kỉ trước), đầu tư cũng được xem xét từ góc độ tổng cung,nghĩa là, mỗi sự thay đổi của sản lượng làm thay đổi đầu tư như thế nào

Theo lí thuyết này, để sản xuất ra 1 đơn vị đầu ra cho trước cần phải cómột lượng vốn đầu tư nhất định Tương quan giữa sản lượng và vốn đầu tư có thểđược biểu diễn như sau:

x = Y K (4)

Trong đó:

K: Vốn đầu tư tại thời kì nghiên cứu

Y: Sản lượng tại thời kì nghiên cứu

x : Hệ số gia tốc đầu tư

Từ công thức (4) suy ra:

K = x * Y (5)Như vậy, nếu x không đổi thì khi quy mô sản lượng sản xuất tăng dẫn đếnnhu cầu vốn đầu tư tăng theo và ngược lại Nói cách khác, chi tiêu đầu tư tăng

Trang 7

hay giảm phụ thuộc nhu cầu về tư liệu sản xuất và nhân công Nhu cầu các yếu tốsản xuất lại phụ thuộc vào quy mô sản phẩm cần sản xuất.

Theo công thức (5), có thể kết luận:sản lượng phải tăng liên tục mới là chođầu tư tăng cùng tốc độ, hay không đổi so với thời kì trước

* Ưu điểm của lí thuyết gia tốc đầu tư:

- Lí thuyết gia tốc đầu tư phản ánh quan hệ giữa sản lượng với đầu tư Nếu

x không đổi trong kì kế hoạch thì có thể sử dụng công thức để lập kế hoạch kháchính xác

- Lí thuyết phản ánh sự tác động của tăng trưởng kinh tế đến đầu tư Khikinh tế tăng trưởng cao, sản lượng nền kinh tế tăng, cơ hội kinh doanh lớn,dẫnđến tiết kiệm tăng cao và đầu tư nhiều

*Nhược điểm của lí thuyết gia tốc đầu tư:

- Lí thuyết giả định quan hệ tỷ lệ giữa sản lượng và đầu tưlà cố định.thực tếđại lượng này (x) luôn luôn biến động do sự tác động của nhiều nhân tố khácnhau

- Thực chất lí thuyết đã xem xét sự biến động của đầu tư thuần (NI) chứkhông phải sự biến động của tổng đầu tư do sự tác động của thay đổi sản lượng

Vì, từ công thức (5) có thể viết:

+ Tại thời điểm t: Kt = x * Yt (6)

+ Tại thời điểm (t-1): K(t-1) = x *Y(t-1) (7)

Và đầu tư ròng: Ix* Y (10)

Như vậy, theo lí thuyết này, đầu tư ròng là hàm của sự gia tăng sản lượngđầu ra Nếu sản lượng tăng, đầu tư ròng tăng (lớn hơn x lần) Nếu sản lượnggiảm, đầu tư thuần sẽ âm Nếu tổng cầu về sản lượng trong thời gian dài khôngđổi, đầu tư ròng sẽ bằng 0 (Khi y  0 thì I =0)

- Theo lí thuyết này toàn bộ vốn đầu tư mong muốn đều được thực hiệnngay trong cùng một thời kì Điều này không đúng bởi nhiều lí do, chẳng hạn doviệc cung cấp các yếu tố liên quan đến thực hiện vốn đầu tư không đáp ứng, docầu vượt quá cung… Do đó, lí thuyết gia tốc đầu tư tiếp tuc được hoàn thiện quathời gian.theo lí thuyết gia tốc đầu tư sau này thì vốn đầu tư mong muốn đượcxác định như là một hàm của mức sản lượng hiện tạivà quá khứ, nghĩa là, qui môđầu tư mong muốn được xác định trong dài hạn

Nếu gọi: Kt và K (t-1) là vốn đầu tư thực hiện ở thời kì t và (t-1)

Kt* là vốn đầu tư mong muốn là một hằng số ( 0<<1 )

Thì: Kt – K(t-1) = *(Kt* - K(t-1))

Trang 8

Có nghĩa là, sự thay đổi đầu tư thực hiện giữa hai kì chỉ bằng một phần củachênh lệch giữa vốn đầu tư mong muốn thời kì t và vốn đầu tư thực hiện thời kì

1.3.3.Quỹ nội bộ của đầu tư

Theo lí thuyết này,đầu tư có quan hệ tỷ lệ thuận với lợi nhuận thực tế:

I = f (lợi nhuận thực tế) Do đó, dự án đầu tư nào đem lại lợi nhuận cao sẽđược lựa chọn Vì lợi nhuân cao, thu nhập giữ lại cho đầu tư sẽ lớn và mức đầu tư

sẽ cao hơn Nguồn vốn cho đầu tư có thể huy động bao gồm: Lợi nhuận giữ lại,tiền trích khấu hao, đi vay các loại trong đó bao gồm cả việc phát hành trái phiếu

và bán cổ phiếu Lợi nhuận giữ lại và tiền trích khấu hao tài sản là nguồn vốn nội

bộ của doanh nghệp, còn đi vay và phát hành trái phiếu, bán cổ phiếu là nguồnvốn huy động từ bên ngoài Vay mượn thì phải trả nợ, trường hợp nền kinh tế lâmvào tình trạng suy thoái, doanh nghiệp có thể không trả được nợ và lâm vào tìnhtrạng phá sản Do đó việc đi vay không phải là điều hấp dẫn, trừ khi được vay ưuđãi Cũng tương tự, việc tăng vốn đầu tư bằng phát hành trái phiếu cũng khôngphải là biện pháp hấp dẫn Còn bán cổ phiếu để tài trợ cho đầu tư chỉ được cácdoanh nghiệp thực hiện khi hiệu quả của dự án đầu tư là rõ ràng và thu nhập do

dự án đem lại trong tương lai lớn hơn các chi phí đã bỏ ra

Chính vì vậy, theo lí thuyết quỹ nôi bộ của đầu tư, các doanh nghiệpthường chọn biện pháp tài trợ cho đầu tư từ các nguồn vốn nội bộ và chính sự giatăng của lợi nhuận sẽ làm cho mức đầu tư của doanh nghiệp lớn hơn

Sự khác nhau giữa lí thuyết gia tốc đầu tư và lí thuyết nàydẫn đến việc thựcthi các chính sách khác nhau để khuyến khích đầu tư Theo lí thuyết gia tốc đầu

Trang 9

tư, chính sách tài khóa mở rộng sẽ làm cho mức đầu tư cao hơn và do đó sảnlượng thu được cũng sẽ cao hơn Còn việc giảm thuế lợi tức của doanh nghiệpkhông có tác dụng kích thích đầu tư Ngược lại, theo lí thuyết quỹ nội bộ của đầu

tư thì việc giảm thuế lợi tức của doanh nghiệp sẽ làm tăng lợi nhuận từ đó tăngđầu tư và tăng sản lượng, mà tăng lợi nhuận có nghĩa là tăng quỹ nội bộ Quỹ nội

bộ là một yếu tố quan trọng để xác định lượng vốn đầu tư mong muốn, còn chínhsách tài khóa mở rộng không có tác dụng trực tiếp làm tăng đầu tư theo lí thuyếtnày

1.3.4.Lí thuyết tân cổ điển

Theo lí thuyết này thì đầu tư bằng tiết kiệm (ở mức sản lượng tiềm năng).Còn: tiết kiệm S = s*y trong đó 0 s 1

s: Mức tiết kiệm từ 1 đơn vị sản lượng(thu nhập) và tỷ lệ tăng trưởng củalao động bằng với tỷ lệ tăng dân số và kí hiệu là n

Theo hàm sản xuất,các yếu tố của sản xuất là vốn và lao động có thể thaythế cho nhau trong tương quan sau đây:

A*E(  ) biểu thị ảnh hưởng của yếu tố công nghệ

 và ( 1   )là hệ số co giãn thành phần của sản xuất với các yếu

tố vốn và lao động (thí dụ nếu  =0.25 thì 1% tăng lên của vốn sẽ làm cho sảnlượng tăng lên 25%) Trong điều kiện cạnh tranh hoàn hảo thì  và ( 1   )biểuthị phần thu nhập quốc dân từ vốn và lao động

Từ hàm sản xuất Cobb Douglas trên đây ta có thể tính được tỷ lệ tăngtrưởng của sản lượng như sau:

g = r +  *h ( 1   ) *n (13) Trong đó:

g: Tỷ lệ tăng trưởng của sản lượng

h: Tỷ lệ tăng trưởng của vốn

n: Tỷ lệ tăng trưởng lao động

Biểu thức trên cho thấy:tăng trưởng của sản lượng có mối quan hệ thuậnvới tiến bộ của công nghệ và tỷ lệ tăng trưởng của vốn và lao động

Trong một nền kinh tế ở “thời đại hoàng kim”có sự cân bằng trong tăngtrưởng của các yếu tố sản lượng,vốn và lao động

Gọi đầu tư ròng là I và I  K

Y s S

Trang 10

Khi h không đổi,s không đổi thì

lệ tăng trưởng của công nghệ và lao động Điều này cho thấy,không thể có thunhập trên đầu người tăng nếu không có sự tiến bộ của công nghệ

1.3.5.Mô hình Harrod - Domar

Mô hình Harrod - Domar giải thích mối quan hệ giữa tốc độ tăng trưởngkinh tế với yếu tố tiết kiệm và đầu tư

Để xây dựng mô hình, các tác giả đưa ra 2 giả định:

- Lao động đầy đủ việc làm, không có hạn chế với cung lao động

- Sản xuất tỷ lệ với khối lượng máy móc

Nếu gọi: Y : Là sản lượng năm t

g = Yt Y : Tốc độ tăng trưởng kinh tế Y : Sản lượng gia tăng trong kì

S : Tổng tiết kiệm trong năm

s =

Yt

S

: Tỷ lệ tiết kiệm/GDP ICOR : Tỷ lệ gia tăng của vốn so với sản lượng

Từ đây suy ra: Y  ICO s*YR

Phương trình phản ánh tốc độ tăng trưởng kinh tế:

Y ICO

Y s

Trang 11

với các nước đang phát triển như ở nước ta Ở những nước đang phát triển, vấn

đề không đơn thuần chỉ là duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế như cũ mà quantrọng là phải tăng với tốc độ cao hơn Đồng thời do thiếu vốn, thừa lao động, họthường sử dụng nhiều nhân tố khác phục vụ tăng trưởng

2/ Tổng quan về tăng trưởng và phát triển kinh tế

2.1 Một số quan điểm

Lịch sử phát triển kinh tế cho thấy, mỗi quốc gia tuỳ theo quan niệm khácnhau của các nhà lãnh đạo đã lựa chọn con đường phát triển khác nhau Nhìn mộtcách tổng thể có thể hệ thống sự lựa chọn ấy theo ba con đường: nhấn mạnh tăngtrưởng nhanh; coi trọng vấn đề bình đẳng, công bằng xã hội và phát triển toàndiện

2.1.1 Quan điểm nhấn mạnh vào tăng trưởng kinh tế

Các nước phát triển theo khuynh hướng tư bản chủ nghĩa trước đây thườnglựa chọn con đường nhấn mạnh tăng trưởng nhanh Sự phát triển kinh tế của cácnước Mehico, các nước OPEC và kể cả Philipin, Malaysia, Indonesia đi theo sựlựa chọn này

Nội dung: Chính phủ tập trung chủ yếu vào các chính sách đẩy nhanh tốc

độ tăng trưởng mà bỏ qua các nội dung xã hội Các vấn đề về bình đẳng, côngbằng xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống dân cư chỉ được đặt ra khi tăngtrưởng thu nhập đã đạt được một trình độ khá cao

Kết quả: Nhiều quốc gia thực hiện theo mô hình này đã làm cho nền kinh

tế rất nhanh khởi sắc Tốc độ tăng trưởng thu nhập bình quân năm rất cao

Hạn chế: - Bất bình đẳng về kinh tế xã hội ngày càng gay gắt, các nội dung

về nâng cao chất lượng cuộc sống thường không được quan tâm, một số giá trịvăn hoá, lịch sử truyền thống của dân tộc và đạo đức thuần phong mỹ tục tốt đẹpcủa nhân dân bị phá huỷ

- Việc chạy theo mục tiêu tăng trưởng nhanh trước mắt đã nhanhchóng dẫn đến sự cạn kiệt nguồn tài nguyên, huỷ hoại môi trường sinh thái, chấtlượng tăng trưởng kinh tế không bảo đảm và vi phạm những yêu cầu phát triểnbền vững Chính những hạn chế này đã tạo ra lực cản cho sự tăng trưởng kinh tế

ở giai đoạn sau

2.1.2 Quan điểm nhấn mạnh công bằng xã hội

Đây là mô hình khá nổi bật của các nước đi theo mô hình Chủ nghĩa xã hộitrước đây, trong đó có cả Việt Nam

Nội dung: Đưa ra yêu cầu giải quyết các vấn đề xã hội ngay từ đầu trongđiều kiện thực trạng tăng trưởng thu nhập ở mức độ thấp Các nguồn lực pháttriển, phân phối thu nhập cũng như chăm sóc sức khoẻ, giáo dục, văn hoá đượcquan tâm và thực hiện theo phương thức dàn đều, bình quân cho mọi ngành, mọivùng và các tầng lớp dân cư trong xã hội

Kết quả: Các nước đã đạt được một mức độ khá tốt về các chỉ tiêu xã hội.Công bằng xã hội cao

Hạn chế: Nền kinh tế thiếu các động lực cần thiết cho sự tăng trưởngnhanh, mức thu nhập bình quân đầu người thấp, nền kinh tế lâu khởi sắc và ngày

Trang 12

càng trở nên tụt hậu so với mức chung của thế giới Các chỉ tiêu xã hội thườngchỉ đạt cao về mặt số lượng mà có thể không bảo đảm về chất lượng.

2.1.3 Quan điểm phát triển toàn diện

Hiện nay, nền kinh tế mở cửa, hội nhập cho phép nhiều nước đang pháttriển tận dụng lợi thế lịch sử để thực hiện một sự lựa chọn tối ưu hơn bằng conđường phát triển toàn diện Hàn Quốc, Đài Loan là những nước đã thực hiện theo

sự lựa chọn này Trong quá trình cải tổ nền kinh tế, Đảng và Chính phủ Việt Nam

đã thể hiện sự lựa chọn theo hướng phát triển toàn diện

Nội dung: Đi đôi với thực hiện mục tiêu tăng trưởng nhanh, đưa ra mụctiêu giải quyết vấn đề công bằng xã hội ngay từ đầu và trong toàn tiến trình pháttriển Theo mô hình này, Chính phủ các nước, một mặt đưa ra các chính sáchthúc đẩy tăng trưởng nhanh, khuyến khích dân cư làm giàu, phát triển kinh tế tưnhân và thực hiện phân phối thu nhập theo sự đóng góp nguồn lực; mặt khác,cũng đồng thời đặt ra vấn đề bình đẳng, công bằng và nâng cao chất lượng cuộcsống dân cư

* Việc hệ thống hoá các con đường phát triển kinh tế mặc dù mang nộidung tương đối, nhưng nó là cần thiết để giúp các nước, căn cứ vào điều kiệnkinh tế, chính trị trong và ngoài nước ở từng giai đoạn cụ thể để lựa chọn hướng

đi thích hợp cho mình

2.2 Khái niệm

2.2.1.Tăng trưởng kinh tế

Phúc lợi vật chất được đo lường bằng giá trị hàng hoá và dịch vụ mà nềnkinh tế sản xuất ra Nghiên cứu về tăng trưởng kinh tế là nghiên cứu về khả năngcủa các nền kinh tế sản xuất ra hàng hoá và dịch vụ Khi một nước có tăng truởngkinh tế, thì dân cư trong nước nhìn chung sẽ có cuộc sống sung túc hơn Tăngtrưởng kinh tế được định nghĩa là sự gia tăng về mặt thu nhập của một nền kinh

tế trong khoảng thời gian nhất định, thường tính là một năm

Nhìn chung,tăng trưởng kinh tế được tính bằng % thay đổi của mức sảnlượng quốc dân

y : GDP thực tế bình quân đầu người

Khi các nhà kinh tế nghiên cứu tăng trưởng kinh tế, họ quan tâm đến tăngtrưởng của sản lượng thực tế qua một thời kì dài để có thể xác định được các yếu

tố làm tăng GDP thực tế tại mức tự nhiên trong dài hạn

Trang 13

Các nguồn lực của tăng truởng kinh tế: Yếu tố hàng đầu quyết định tăngtrưởng là năng suất Nhưng các yếu tố quyết định năng suất và do đó tăng truởngkinh tế là nguồn nhân lực, tích luỹ tư bản, tài nguyên thiên nhiên và tri thức côngnghệ Các nhân tố đó có thể khác nhiều giữa các nước và một số nước có thể kếthợp chúng hiệu quả hơn các nước khác.

Các chính sách của chính phủ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế:

- Chính sách khuyến khích tiết kiệm và đầu tư trong nước

- Chính sách thu hút đầu tư từ nước ngoài

- Chính sách về vốn nhân lực

- Xác định quyền sở hữu tài sản và sự ổn định chính trị

- Chính sách mở cửa nền kinh tế

- Chính sách kiểm soát tăng dân số

- Nghiên cứu và triển khai công nghệ mới

Tăng trưởng bền vững: Phát triển bền vững là một khái niệm mới nhằmđịnh nghĩa một sự phát triển về mọi mặt trong hiện tại mà vẫn phải bảo đảm sựtiếp tục phát triển trong tương lai xa Khái niệm này hiện đang là mục tiêu hướngtới nhiều quốc gia trên thế giới, mỗi quốc gia sẽ dựa theo đặc thù kinh tế, xã hội,chính trị, địa lý, văn hóa riêng để hoạch định chiến lược phù hợp nhất với quốcgia đó

Theo Brundtland: "Phát triển bền vững là sự phát triển thoả mãn những

nhu cầu của hiện tại và không phương hại tới khả năng đáp ứng nhu cầu của cácthế hệ tương lai Đó là quá trình phát triển kinh tế dựa vào nguồn tài nguyên đượctái tạo tôn trọng những quá trình sinh thái cơ bản, sự đa dạng sinh học và những

hệ thống trợ giúp tự nhiên đối với cuộc sống của con người, động vật và thực vật.Qua các bản tuyên bố quan trọng, khái niệm này tiếp tục mở rộng thêm và nộihàm của nó không chỉ dừng lại ở nhân tố sình thái mà còn đi vào các nhân tố xãhội, con người, nó hàm chứa sự bình đẳng giữa những nước giàu và nghèo, vàgiữa các thế hệ Thậm chí nó còn bao hàm sự cần thiết giải trừ quân bị, coi đây làđiều kiện tiên quyết nhằm giải phóng nguồn tài chính cần thiết để áp dụng kháiniệm phát triển bền vững

Như vậy, khái niệm "Phát triển bền vững" được đề cập trong báo cáoBrundtlanđ với một nội hàm rộng, nó không chỉ là nỗ lực nhằm hoà giải kinh tế

và môi trường, hay thậm chí phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường Nộidung khái niệm còn bao hàm những khía cạnh chính trị xã hội, đặc biệt là bìnhđẳng xã hội Với ý nghĩa này, nó được xem là "tiếng chuông" hay nói cách khác

là "tấm biển hiệu” cảnh báo hành vi của loài người trong thế giới đương đại.2.2.2 Khái niệm phát triển

Hiện nay, mọi quốc gia đều phấn đấu vì mục tiêu phát triển Phát triển kinh

tế được hiểu là quá trình tăng tiến mọi mặt của nền kinh tế Phát triển kinh tếđược xem như quá trình biến đổi cả lượng và chất, nó là sự kết hợp 1 cách chặtchẽ quá trình hoàn thiện của 2 vấn đề về kinh tế và xã hội ở mỗi quốc gia Nhưvậy, phát triển phải là 1 quá trình lâu dài và do các nhân tố nội tại của nền kinh tếquy định

Nội dung của phát triển kinh tế được khái quát theo 3 tiêu thức:

Trang 14

- Sự gia tăng tổng mức thu nhập của nền kinh tế và mức gia tăng thu nhậptrên 1 đầu người Nó thể hiện quá trình biến đổi về lượng của nền kinh tế, là điềukiện cần để nâng cao mức sống vật chất của 1 quốc gia và thực hiện những mụctiêu khác của phát triển

- Sự biến đổi theo đúng xu hướng của cơ cấu kinh tế Đây là tiêu thức phảnánh sự biến đổi về chất Hiện nay cơ cấu kinh tế thương được thay đổi theohướng: thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá; giảm vai trò của ngành nông nghiệp;thay đổi sản phẩm thương mại; tăng cường ứng dụng vốn con người và vốn trithức trong sản xuất; tiến hành thay đổi thể chế Để phân biệt các giai đoạn pháttriển hay đánh giá trình độ phát triển kinh tế của mỗi nước, người ta thường dựavào dấu hiệu về dạng cơ cấu ngành kinh tế

- Sự biến đổi ngày càng tốt hơn trong các vấn đề xã hội Đây là mục tiêucuối cùng của sự phát triển kinh tế trong các quốc gia Đó là việc xoá bỏ nghèođói, suy dinh duỡng, sự tăng lên của tuổi thọ bình quân, khả năng tiếp cận đếncác dịch vụ y tế, văn hoá, giáo dục…

* Hoàn thiện các tiêu chí trên là sự thay đổi về chất xã hội của quá trìnhphát triển, và là mục tiêu mà bất kỳ quốc gia nào cũng mong muốn hướng tới.2.2.3 Khái niệm phát triển bền vững

Theo thời gian, quan niệm về phát triển bền vững ngày càng được hoànthiện Năm 1987, vấn đề về phát triển bền vững được Ngân hàng thế giới (WB)

đề cập lần đầu tiên, theo đó phát triển bền vững là: “…Sự phát triển đáp ứng cácnhu cầu hiện tại mà không làm nguy hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của cácthế hệ tương lai” Ngày nay, quan niệm về phát triển bền vững được đề cập mộtcách đầy đủ hơn, bên cạnh yếu tố môi trường tài nguyên thiên nhiên, yếu tố môitrường xã hội được đặt ra với ý nghĩa quan trọng Hội nghị thượng đỉnh thế giới

về phát triển bền vững năm 2002 đã xác định: Phát triển kinh tế bền vững là quátrình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý, hài hoà giữa 3 mặt của sự pháttriển, gồm: tăng trưởng kinh tế, cải thiện các vấn đề xã hội và bảo vệ môi trường.Tiêu chí để đánh giá sự phát triển bền vững là sự tăng trưởng kinh tế ổn định;thực hiện tốt tiến bộ và công bằng xã hội; khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm tàinguyên thiên nhiên; bảo vệ và nâng cao chất lượng môi trường sống

Đảng cộng sản Việt Nam đã thể hiện rất rõ quan điểm về phát triển bềnvững trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước tới năm 2010:

“Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiệntiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường”, gắn sự phát triển kinh tế với giữvững ổn định chính trị xã hội, bảo đảm an ninh quốc phòng

2.3 Các chỉ tiêu đánh giá tăng trưởng kinh tế

2.3.1 Tổng giá trị sản xuất(GO Gross output)

Tổng giá trị sản xuất (GO) là tổng giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụđược tạo nên trên phạm vi lãnh thổ của một quốc gia trong một thời kì nhất định(thường là một năm) Chỉ tiêu tổng giá trị sản xuất có thể được tính theo hai cách.Thứ nhất, đó là tổng doanh thu bán hàng thu được từ các đơn vị, các ngành trongtoàn bộ nền kinh tế Quốc Dân Thứ hai, tính trực tiếp từ sản xuất và dịch vụ gồmchi phí trung gian (IC) và giá trị gia tăng của sản phẩm vật chất và dịch vụ (VA)

Trang 15

Công thức tính:

GO = Chi phí trung gian + giá trị gia tăng

= IC + VA

2.3.2 Tổng sản phẩm quốc nội(GDP_Gross domestic product)

Tổng sản phẩm quốc nội (GDP): Là tổng giá trị sản phẩm vật chất và dịch

vụ cuối cùng do kết quả hoạt động kinh tế trên pham vi lãnh thổ của một quốc giatạo nên trong một thời kì nhất định

Để tính GDP, có ba cách tiếp cận cơ bản là từ sản xuất, tiêu dùng, phânphối Theo cách tiếp cận từ sản xuất, GDP là giá trị gia tăng tính cho toàn bộ nềnkinh tế Nó được đo bằng tổng giá trị gia tăng của tất cả các đơn vị thường trútrong nền kinh tế

Như vậy: VAi = GOi - ICi

Trong đó: GOi là tổng giá trị sản xuất, ICi là chi phí trung gian của ngànhi

Tiếp cận từ chi tiêu, GDP là tổng chi cho tiêu dùng cuối cùng của các hộgia đình (C), chi tiêu của chính phủ (G), đầu tư tích luỹ tài sản (I) và chi tiêu quathương mại quốc tế, tức là giá trị kim ngạch xuất khẩu trừ kim ngạch nhập khẩu(X-M)

GDP = C + G + I + (X – M)

Nếu tiếp cận từ thu nhập, GDP đựơc xác định trên cơ sở các khoản hìnhthành thu nhập và phân phối thu nhập lần đầu, bao gồm: Thu nhập của người cósức lao động dưới hình thức tiền công và tiền lương (W); thu nhập của người cóđất cho thuê(R); thu nhập của người có tiền cho vay (In); thu nhập của người cóvốn (Pr); khấu hao vồn cố định (Dp) và cuối cùng là thuế kinh doanh (Ti)

GDP = W + R + In + Pr + Dp + Ti

2.3.3 Tổng thu nhập quốc dân(GNI_Gross national income)

Tổng thu nhập quốc dân(GNI): Đây là chỉ tiêu xuất hiện trong bảng SNAnăm 1993 thay cho chỉ tiêu GNP sử dụng trong bảng SNA năm 1968 Về nộidung thì GNI và GNP là như nhau, tuy vậy khi sử dụng GNI là muốn nói theocách tiếp cận từ thu nhập chứ không phải nói theo góc độ sản phẩm sản xuất nhưGDP Hiểu theo khía cạnh trên, GNI là tổng thu nhập từ sản phẩm vật chất vàdịch vụ cuối cùng do công nhân của một nước tạo nên trong một khoảng thờigian nhất định Chỉ tiêu này bao gồm các khoản hình thành thu nhập và phân phốilại thu nhập lần đầu có tính đến cả các khoản từ nước ngoài về và chuyển ra nướcngoài Như vậy, GNI hình thành từ GDP tiếp cận theo góc độ thu nhập và đượcđiều chỉnh theo con số chênh lệch thu nhập nhân tố với nước ngoài

GNI = GDP + Chênh lệch thu nhập nhân tố với nước ngoài

Chênh lệch thu nhập nhân tố với nước ngoài = Thu nhập lợi tức nhân tốvới nước ngoài - Chi trả lợi tức nhân tố ra nước ngoài

Sự khác nhau về lượng giữa GDP và GNI là ở phần chênh lệch thu nhậpnhân tố với nước ngoài Ở các nước đang phát triển thì GNI thường nhỏ hơn GDP

vì thông thường phần chênh lệch này nhận giá trị âm

2.3.4.Thu nhập quốc dân(NI_National income)

Trang 16

Thu nhập quốc dân (NI): Là phần giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ mớisáng tạo ra trong một khoảng thời gian nhất định.NI chính là tổng thu nhập quốcdân (GNI) sau khi đã trừ đi khấu hao vốn cố định của nền kinh tế (Dp).

NI = GNI - Dp2.3.5.Thu nhập quốc dân sử dụng (NDI_Natonal disposable income)

Thu nhập quốc dân sử dụng (NDI): Là phần thu nhập của cả quốc gia dànhcho tiêu dùng cuối cùng và tích luỹ thuần trong một thời kì nhất định Chỉ tiêunày được hình thành sau khi thực hiện phân phối thu nhập lần thứ hai, thực chất

nó là thu nhập quốc dân (NI) sau khi đã điều chỉnh các khoản thu, chi về chuyểnnhượng hiện hành giữa các đợn vị thường trú và không thường trú Tuy vậy, xéttrên toàn bộ nền kịnh tế các chuyển nhượng hiện hành giữa các đơn vị thường trú

sẽ triệt tiêu nhau, vì nếu có một đơn vị chi thì sẽ có một đơn vị khác thu chuyểnnhượng Vì vậy, NDI và NI sau khi điều chỉnh các khoản chuyển nhượng hiệnhành với nước ngoài

NDI = NI + Chênh lệch về chuyển nhượng hiện hành với nước ngoài

Chênh lệch chuyển nhượng với nước ngoài = Thu chuyển nhượng hiệnhành với nước ngoài - Chi chuyển hiện hành ra nước ngoài

2.3.6.Thu nhập bình quân đầu người

Với ý nghĩa phản ánh thu nhập, chỉ tiêu GDP và GNI còn được sử dụng đểđánh giá mức thu nhập bình quân trên đầu người của mỗi quốc gia (GDP/người;GNI/người) Chỉ tiêu này phản ánh tăng trưởng kinh tế có tính đến sự thay đổ dân

số Quy mô và tốc độ tăng thu nhập bình quân dầu người là những chỉ báo quantrọng phản ánh và là tiền đề để nâng cao mức sống dân cư nói chung Sự gia tăngliên tục với tốc độ ngày càng cao của chỉ tiêu này là dấu hiệu thể hiện sự tăngtrưởng bền vững và nó còn được sử dụng trong việc so sánh mức sống dân cưgiữa các quốc gia với nhau

Theo dõi chỉ tiêu thu nhập bình quân đầu người có thể xác định khoảngthời gian cần thiết nâng cao thu nhập lên gấp 2 lần dựa vào tỷ lệ tăng trưởng kinh

tế theo dự báo Một phương pháp đơn giản và khá chính xác tiếp cận đến con sốnày gọi là “luật 70” tức là thời gian để thu nhập dân cư tăng lên gấp 2 lần đượcxác định xấp xỉ bằng 70 chia cho tốc độ tăng trưởng thu nhập bình quân đầungười hàng năm thao dự báo Ví dụ như nếu tốc độ tăng trưởng thu nhập bìnhquân đầu người một nước đặt ra là 5% 1năm thì sẽ đạt được mức tăng gấp 2 lầnsau khoảng 14 năm (70:5) Dự báo mức tăng thu nhập bình quân trên đầu người

có ý nghĩa quan trọng trong nghiên cứu xu hướng chuyển biến thu nhập của cácquốc gia từ nhóm này sang nhóm khac so với mức bình quân toàn thế giới

II Xem xét vai trò của đầu tư với tăng trưởng và phát triển kinh tế dưới góc

độ các mô hinh kinh tế:

1, Các mô hình cho rằng đầu tư kích thích tổng cung của nền kinh tế

1.1 Mô hình tăng trưởng kinh tế của phái cổ điển :

Theo Ricardo (1773 - 1823) thuộc trường phái cổ điển, nông nghiệp làngành kinh tế quan trọng nhất, từ đó ông cho rằng các yếu tố cơ bản của tăngtrưởng kinh tế là đất đai, lao động và vốn Đây cũng là các yếu tố cấu thành tổng

Trang 17

cung nền kinh tế và trong từng ngành, theo 1 trình độ kĩ thuật nhất định các yếu

tố này kết hợp với nhau theo 1 tỉ lệ không thay đổi Trong 3 yếu tố kể trên, đấtđai là yếu tố quan trọng nhất Chính vì thế đất đai là giới hạn của tăng trưởng,cũng là giới hạn của tổng cung

Khi sản xuất nông nghiệp gia tăng trên những đất đai kém màu mỡ hơn thìgiá lương thực thực phẩm tăng lên Do đó tiền lương danh nghĩa của công nhâncũng phải tăng theo tương ứng, lợi nhuận của các nhà tư bản có xu hướng giảm.Nếu cứ tiếp tục như vậy đến khi lợi nhuận hạ thấp, ko bù đắp được rủi ro trongkinh doanh làm cho nền kinh tế rơi vào bế tắc Đây là tình trạng tổng cung nềnkinh tế bị giới hạn

Trước tình hình đó, các nhà kinh tế đã đưa ra giải pháp gì để hạn chế sựgiới hạn? Ricardo cho rằng chỉ có thể giải quyết bằng cách xuất khẩu hàng côngnghiệp để mua lương thực rẻ hơn từ nước ngoài, hoặc phát triển công nghiệp đểtác động vào nông nghiệp Tức là cần thiết nhất phải đầu tư sang ngành côngnghiệp từ đó tạo tiền đề phát triển nông nghiệp, đồng thời phát triển kinh tế Nhưvậy, đầu tư có vai trò rất quan trọng trong việc thúc đẩy tổng cung, giảm giới hạnphát triển tổng cung, đặc biệt là đầu tư vào công nghiệp

Tuy nhiên, những lý thuyết trên vẫn còn 1 số hạn chế Các nhà kinh tế học

cổ điển vẫn cho rằng thị trường tự do được 1 bàn tay vô hình dẫn dắt để gắn lợiích cá nhân với lợi ích xã hội Thị trường với sự linh hoạt của giá cả và tiền công

có khả năng điều chỉnh những mất cân đối của nền kinh tế, xác lập những cân đốimới, tạo công ăn việc làm đầy đủ Ngoài ra, Ricardo còn cho rằng chính phủkhông có vai trò gì trong phát triển kinh tế thậm chí chính sách của chính phủ cókhi còn hạn chế khả năng phát triển kinh tế Như vậy, Ricardo chưa nhìn ra vaitrò cần thiết của nhà nước, cũng như những chính sách đầu tư phát triển của nhànước

1.2 Mô hình tăng trưởng kinh tế của Marx (1818 - 1883)

Theo Marx các yếu tố tác động đến quá trình tái sản xuất là đất đai, laođộng vốn và tiến bộ kĩ thuật Trong đó, Marx đặc biệt quan tâm đến vai trò củalao động trong việc sản xuất ra giá trị thặng dư Ngoài ra, với yếu tố sản xuất kĩthuật Marx phân tích mục đích của nhà tư bản là tăng giá trị thặng dư cho nên họtìm cách tăng thời gian làm việc của công nhân, hoặc là nâng cao năng suất laođộng bằng cải tiến kỹ thuật Trong đó cải tiến kĩ thuật là quan trọng nhất vì 2phương án đầu đều có giới hạn Muốn cải tiến kĩ thuật thường xuyên và có hiệuquả, các nhà tư bản phải có 1 nguồn vốn cần thiết và đầy đủ Đây chính là tầmquan trọng của vốn đầu tư trong tích luỹ cho tái sản xuất, từ đó tăng năng suất laođộng, tăng tổng cung nền kinh tế

Marx còn cho rằng giữa cung và cầu luôn có 1 khoảng cách Để giải quyếtkhoảng cách này, cần thiết phải có tích luỹ sản xuất, tích luỹ hàng hoá Đây cũng

là hoạt động đầu tư hàng tồn trữ Cũng theo ông, sau khi trải qua giai đoạn khủnghoảng có chu kỳ, để tiếp tục phát triển các nhà tư bản phải tiến hành đổi mới tưbản cố định với quy mô lớn làm cho nền kinh tế tiến đến phục hồi, hưng thịnh

Để đổi mới được tư bản cố định, các nhà tư bản cũng nhất thiết cần có hoạt động

Trang 18

đầu tư đổi mới công nghệ Đây cũng chính là vai trò của đầu tư trong tăngtrưởng kinh tế.

1.3 Lý thuyết tăng trưởng kinh tế của phái tân cổ điển :

Các nhà kinh tế tân cổ điển đã giải thích nguồn gốc sự tăng trưởng thôngqua hàm sản xuất Cobb - Douglas :

Trong đó : g tốc độ tăng trưởng kinh tế

a,b,c tốc độ tăng trưởng của vốn, lao động và đất đai

Qua đó ta thấy rằng sự tăng trưởng của yếu tố vốn cũng như yếu tố đầu tưgóp phần vào tăng trưởng kinh tế nói chung

Hạn chế của lý thuyết này cũng là chưa thấy được vai trò của chính phủtrong tăng trưởng kinh tế Vai trò này cũng còn rất mờ nhạt trong nền kinh tế

1.4 Lý thuyết tăng trưởng kinh tế của trường phái Keynes :

Keynes đã rất coi trọng vai trò của đầu tư trong tăng trưởng kinh tế Dựavào tư tưởng của ông, 2 nhà khoa học Harrod và Domar đã đưa ra mô hình giảithích mối quan hệ giữa sự tăng trưởng và thất nghiệp ở các nước phát triển Môhình cũng được sử dụng rộng rãi ở các nước đang phát triển để xem xét mối quan

hệ giữa tăng trưởng và các nhu cầu về vốn Mô hình này coi đầu ra của bất kì 1đơn vị kinh tế nào, dù là 1 công ty, 1 doanh nghiệp hay toàn bộ nền kinh tế phụthuộc vào tổng số vốn đầu tư cho nó Mô hình cũng chỉ ra nguồn gốc của đầu tư,mối quan hệ giữa vốn đầu tư và vốn sản xuất Theo 2 ông thì tiết kiệm luôn lànguồn gốc của đầu tư, nên về lý thuyết đầu tư luôn bằng tiết kiệm Đồng thời đầu

tư chính là cơ sở để tạo ra vốn sản xuất 2 ông đã thiết lập mối quan hệ như sau:

- Đầu tư = tiết kiệm => s = đầu tư/sản lượng

- Đầu tư = vốn sản xuất => k = đầu tư/mức tăng trưởng

Từ đó 2 ông xây dựng được mô hình:

g = s/k

Trong đó : g tốc độ tăng trưởng kinh tế

s tỉ lệ tiết kiệm trong GDP

k hệ số ICOR

Hệ số ICOR còn được gọi là hệ số gia tăng vốn đầu ra (là tỷ số gia tănggiữa vốn và đầu ra), thể hiện rằng: vốn được tạo ra bằng đầu tư là yếu tố cơ bảncủa tăng trưởng, tiết kiệm của nhân dân và các công ty là nguồn gốc của đầu tư

Hệ số này hiện nay là thước đo quan trọng của các nước đang phát triển về việc

sử dụng hiệu quả vốn Nó thể hiện vai trò quan trọng của vốn cũng như của đầu

tư tới sự tăng trưởng và phát triển

Trang 19

Hạn chế của trường phái: Mô hình Harrod - Domar chỉ ra sự tăng trưởngkinh tế là do kết quả của tương tác giữa tiết kiệm và đầu tư và đầu tư là động lực

cơ bản của tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên trên thực tế thì tăng trưởng kinh tế cóthể xảy ra không phải vì lý do tăng đầu tư, hoặc ngược lại, nếu đầu tư có hiệu quảvẫn có thể dẫn đến không có sự tăng trưởng Và kể cả trong trường hợp đầu tư cóhiệu quả thì cũng chỉ có thể tạo nên sự gia tăng trong tốc độ tăng trưởng trongngắn hạn, chứ không thể đạt được trong dài hạn

1.5 Căn cứ vào các lý thuyết tăng trưởng kinh tế của trường phái hiện đại:

Những yếu tố tác động đến tổng cung của nền kinh tế theo trường pháihiện đại: Nguồn lao động, vốn sản xuất, tài nguyên thiên nhiên và khoa học côngnghệ Các yếu tố này được kế thừa từ trường phái tân cổ điển, và cũng thống nhấtvới hàm sản xuất Cobb_Douglas về những yếu tố tác động đến tăng trưởng

g = t + aK + bL + cR

Samuelson gọi những yếu tố này là nguồn gốc của sự tăng trưởng Và 1 nétđặc trưng quan trọng của nền kinh tế hiện đại là “ kỹ thuật công nghiệp tiên tiếnhiện đại dựa vào việc sử dụng vốn lớn” Do đó, vốn được coi là cơ sở để phát huytác dụng của các yếu tố khác

Mặt khác, 1 mặt tiến bộ trong trường phái kinh tế hiện đại là ngày càng coitrọng vai trò của Chính phủ trong đời sống kinh tế Theo Samuelson, trong nềnkinh tế hỗn hợp hiện đại, Chính phủ có 4 chức năng cơ bản: thiết lập khuôn khổpháp luật, xác định chính sách ổn định kinh tế vĩ mô, tác động vào việc phân bổtài nguyên để cải thiện hiệu quả kinh tế, thiết lập các chương trình tác động tớiviệc phân phối thu nhập Qua các chức năng này, đặc biệt là các chức năng vềkinh tế, Chính phủ đã thể hiện vai trò quan trọng của mình trong thúc đẩy cáchoạt động đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi cho đầu tư, và qua đó ta thấy được vaitrò của đầu tư trong tăng trưởng và phát triển kinh tế

2 Đầu tư kích thích tổng cầu nền kinh tế:

2.1 Vai trò của tổng cầu trong tăng trưởng kinh tế:

Các lý thuyết của trường phái kinh tế trước trường phái Keynes thường chủyếu quan tâm đến vấn đề tổng cung, coi tăng tổng cung cũng chính là tăng trưởngkinh tế Tuy nhiên bắt đầu vào những năm 30 của thế kỷ XX, các cuộc khủnghoảng kinh tế diễn ra thường xuyên và nghiêm trọng Trước hoàn cảnh đó trườngphái Keynes ra đời đánh dấu 1 sự phát triển mới của các lý thuyết kinh tế Lýthuyết này đã nhấn mạnh đến tổng cầu, coi tổng cầu cũng như tổng cung là yếu tốquyết định đến tăng trưởng kinh tế

Keynes cho rằng tiêu dùng có vai trò quan trọng trong việc xác định sảnlượng Theo ông, thu nhập của các cá nhân được sử dụng cho tiêu dùng và tíchlũy Khi mức thu nhập tăng thì tiêu dùng có xu hướng giảm và tiết kiệm có xuhướng tăng Việc giảm xu hướng tiêu dùng sẽ làm cho cầu tiêu dùng giảm, vàđây chính là 1 trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến sự trì trệ trong hoạt độngkinh tế Ông lý giải điều này như sau: Cầu tiêu dùng giảm dẫn đến hàng hóa ếthừa, không bán được Trước tình hình đó, các nhà kinh tế bi quan về nền kinh tế

sẽ giảm qui mô sản xuất, đồng thời thất nghiệp xảy ra, tệ nạn xã hội gia tăng Tất

Trang 20

cả những nguyên nhân đó sẽ làm tổng nền kinh tế trở nên trì trệ và tất yếu sẽ dẫnđến khủng hoảng

Mặt khác cũng từ những lý luận trên ta thấy rằng khi cầu tiêu dùng tănglên,các doanh nghiệp sẽ tích cực sản xuất, từ đó nâng cao tổng cung Như vậy,tổng cầu kích thích tổng cung của nền kinh tế và tạo ra 1 mức sản lượng cân bằngmới cao hơn mức sản lượng cũ Và như vậy nền kinh tế đã tăng trưởng

2.2 Vai trò của đầu tư với tổng cầu:

2.2.1 Vai trò của đầu tư với tổng cầu thông qua mô hình số nhân của Keynes:

Số nhân đầu tư phản ánh vai trò của đầu tư đối với sản lượng Cụ thể nhưsau: mỗi sự gia tăng của vốn đầu làm tăng nhân công và tư liệu sản xuất, từ đódẫn đến sự gia tăng của nhu cầu tiêu dùng và kéo theo đó là thu nhập Thu nhậpgia tăng lại làm tăng sự đầu tư mới Quá trình này lặp đi lặp lại, kết quả là thunhập sẽ gia tăng theo cấp số nhân nhờ sự gia tăng của đầu tư Đó là nội dung của

mô hình số nhân

k = dR/dI = dR/dS = 1/(1- dC/dR )

Trong đó k hệ số nhân đầu tư

dR sự gia tăng thu nhập

dI sự gia tăng đầu tư

dS sự gia tăng tiết kiệm

dC sự gia tăng tiêu dùng

2.2.2 Vai trò của đầu tư thông qua các chính sách kinh tế:

Qua phân tích tổng quan về việc làm, Keynes đã đi đến kết luận, muốnthoát khỏi khủng hoảng, thất nghiệp, Nhà nước phải thực hiện điều tiết bằng cácchính sách kinh tế, những chính sách này nhằm nâng cao cầu tiêu dùng, đồng thờikích thích đầu tư Theo ông nhà nước nên sử dụng ngân sách để kích thích đầu tưthông qua các đơn đặt hàng và trợ cấp vốn cho các doanh nghiệp Ông đánh giácao vai trò của các chính sách tài khóa và tiền tệ Ông tán thành đầu tư của chínhphủ vào công trình công cộng, đồng thời cũng phải đẩy mạnh và khuyến khíchđầu tư của khu vực tư nhân

Như vậy các chính sách của nhà nước có vai trò quan trọng trong việckhuyến khích đầu tư, tăng cầu tiêu dùng và từ đó sản xuất phát triển - là nhân tốquyết định đến tăng trưởng kinh tế

3 Đầu tư là cú huých bên ngoài thoát khỏi vòng luẩn quẩn:

Mô hình vòng luẩn quẩn của Samuelson:

Theo ông các nước có trình độ kinh tế phát triển thấp thường rơi vào vòngluẩn quẩn Vòng luẩn quẩn này đưa các nước đang phát triển từ mức phát triểnthấp đến thấp hơn, và gần như không thoát ra nổi tình trạng đó

Tiết kiệm và đầu tư thấp

Trang 21

Thu nhập bình quân thấp Tốc độ tích lũy vốn thấp

là cú huých mạnh nhất, có hiệu quả nhất Muốn vậy, các nước đang phát triểnphải tạo ra các điều kiện thuận lợi nhằm kích thích đầu tư nước ngoài, cụ thểbằng các chính sách của nhà nước, bằng môi trường thuận lợi để thu hút đầu tư.Đây chính là vai trò quan trọng của đầu tư nước ngoài trong việc thúc đẩy kinh tếcủa các nước đang phát triển

4 Tác động của đầu tư nước ngoài tới khoa học và công nghệ:

* Lý thuyết đầu tư nước ngoài của Vernon về chu kì sống của sản phẩm:Đầu tư nước ngoài giúp chuyển giao công nghệ từ các nước phát triển sangcác nước đang phát triển cần khoa học công nghệ Mà như ta đã biết, khoa họccông nghệ có vai trò vô cùng to lớn với sự tăng trưởng của các nước đang pháttriển

Mô hình của Vernon đã chỉ ra rằng: đầu tư đổi mới công nghệ giúp tạo rasản phẩm mới, từ đó tăng lợi nhuận, rồi sản xuất phát triển, thúc đẩy quá trìnhthương mại hóa Và đến một mức nhất định nào đó, sẽ có thể đầu tư ra nướcngoài, sự đầu tư này là khâu cốt yếu để chuyển giao công nghệ

Như vậy, nhờ có đầu tư nước ngoài mà các nước đang phát triển sẽ nhậnđược những công nghệ mới, nâng cao hiệu quả sản xuất trong nước, thúc đẩy quátrình tăng trưởng và phát triển

5 Đầu tư tác động đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế:

5.1 Mô hình các giai đoạn của Rostow:

Theo ông quá trình phát triển kinh tế của 1 quốc gia phải trải qua 5 giaiđoạn: xã hội truyền thống, chuẩn bị cất cánh, cất cánh, trưởng thành và cuối cùng

là tiêu dùng cao Ứng với mỗi giai đoạn là 1 dạng cơ cấu ngành kinh tế đặc trưng

Giai đoạn 1: Xã hội truyền thống: Sản xuất nông nghiệp thống trị nền kinh

tế, năng suất lao động thấp, tích lũy thấp, nói chung nền kinh tế chưa có nhữngbiến đổi mạnh

Giai đoạn 2: Chuẩn bị cất cánh: Bước đầu phát triển công nghiệp, khoa họccông nghệ bắt đầu được áp dụng Nhu cầu đầu tư tăng lên, thúc đẩy sự hoạt độngcủa ngân hàng và các tổ chức huy động vốn

Giai đoạn 3: Cất cánh: Đây là giai đoạn trung tâm trong các giai đoạn pháttriển Đầu tư đã thực sự phát triển với các yếu tố huy động vốn được thúc đẩymạnh mẽ: tỉ lệ tiết kiệm tăng lên, ít nhất chiếm 10% trong thu nhập quốc dânthuần túy Ngoài vốn đầu tư trong nước, vốn đầu tư nước ngoài cũng có ý nghĩaquan trọng giúp thúc đẩy các ngành công nghiệp mũi nhọn - là 1 yếu tố chủ đạotrong phát triển các ngành kinh tế khác

Trang 22

Giai đoạn 4: Trưởng thành: Giai đoạn này đã đánh dấu sự phát triển vượtbậc của đầu tư Cụ thể là, tỷ lệ đầu tư tăng lên liên tục, tới 20% thu nhập kinh tếquốc dân thuần túy Khoa học công nghệ được ứng dụng cho toàn bộ nền kinh tế,nhiều ngành công nghiệp mới hiện đại phát triển.

Giai đoạn 5: Tiêu dùng cao: Giai đoạn cao nhất của sự phát triển được thểhiện qua thu nhập bình quân đầu người tăng cao

Tóm lại, qua mỗi giai đoạn phát triển, đầu tư lại càng thể hiện rõ hơn vaitrò của nó, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo chiều hướng phát triển hơn

5.2 Mô hình 2 khu vực của Lewis

Mô hình của Lewis mô tả sự vận động của 2 khu vực kinh tế: khu vựctruyền thống (nông nghiệp) và khu vực hiện đại (công nghiệp)

Do ảnh hưởng từ Ricardo, Lewis cũng cho rằng đất đai là giới hạn của tăngtrưởng, do đó nông nghiệp cũng bị đình trệ, lao động trong nông nghiệp trở nên

dư thừa Để giảm bớt sự dư thừa lao động vô ích này, phải có sự tham gia củacông nghiệp, trước hết là để tận dụng những lao động dư thừa, sau là để tạo điềukiện cho nông nghiệp phát triển Vai trò của đầu tư chính ở chỗ tạo điều kiện chocông nghiệp phát triển Khi công nghiệp phát triển đến mức độ cần thiết đầu tưcho nông nghiệp, khi đó cả 2 ngành sẽ phát triển và nền kinh tế sẽ phát triểnmạnh mẽ

THỰC TRẠNG VỀ ĐẦU TƯ VÀ TĂNG TRƯỞNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRONG GIAI ĐOẠN 2000 - 2007

Ngày đăng: 01/04/2013, 16:12

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Đóng góp của các yếu tố đầu vào trong tăng trưởng GDP Việt Nam - Dựa vào các lý thuyết kinh tế về đầu tư, giải thích vai trò của đầu tư với tăng trưởng và phát triển kinh tế
Bảng 1 Đóng góp của các yếu tố đầu vào trong tăng trưởng GDP Việt Nam (Trang 28)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w