Đầu tư là việc sử dụng phối hợp các nguồn lực vào một hoạt động nào đó nhằm thu về, đem lại lợi ích cho chủ đầu tư trong tương lai
Trang 1quản lý đầu tư.
I Khái niệm và đặc điểm của đầu tư phát triển
1.1 Đầu tư và đầu tư phát triển
Đầu tư là việc sử dụng phối hợp các nguồn lực vào một hoạt động nào đónhằm thu về, đem lại lợi ích cho chủ đầu tư trong tương lai
Đầu tư phát triển là bộ phận cơ bản của đầu tư, là việc chi dùng vốn hiện tại
để tiến hành các hoạt động nhằm làm tăng thêm hoặc tạo ra những tài sản vật chất
và tài sản trí tuệ, gia tăng năng lực sản xuất, tạo thêm việc làm và vì mục tiêu pháttriển
Đầu tư phát triển đòi hỏi rất nhiều loại nguồn lực Theo nghĩa hẹp, nguồnlực cho đầu tư phát triển là tiền vốn Theo nghĩa rộng, nguồn lực bao gồm cảtiền vốn, đất đai, lao động, thiết bị, tài nguyên
Đối tượng của đầu tư phát triển là tập hợp các yếu tố được chủ đầu tư bỏvốn nhằm đạt những mục tiêu nhất định Trên quan điểm phân công lao động xãhội, có hai nhóm đối tưọng đầu tư chính là đầu tư theo ngành và đầu tư theo lãnhthổ Trên góc độ tính chất và mục đích, đối tượng đầu tư được chia thành hainhóm chính: công trình vì mục tiêu lợi nhuận và công trình phi lợi nhuận…Kết quả của hoạt động đầu tư phát triển là sự tăng thêm về tài sản vật chất,tài sản trí tuệ và tài sản vô hình Các kết quả đạt được của đầu tư góp phần làmtăng thêm năng lực sản xuất của xã hội Hiệu quả của đầu tư phát triển phản ánhquan hệ so sánh giữa kết quả kinh tê xã hội thu được với chi phí chi ra để đạtđược kết quả đó Kết quả và hiệu quả của đầu tư phát triển cần được xem xéttrên phương diện chủ đầu tư và xã hội, đảm bảo kết hợp hài hoà giữa các loại lợiích, phát huy vai trò chủ động sang tạo của chủ đầu tư, vai trò quản lý, kiểm tragiám sát của cơ quan quản lý nhà nước các cấp
Mục đích của đầu tư phát triển là vì sự phát triển bền vững, vì lợi ích quốcgia, cộng đồng và nhà đầu tư Ở góc độ vĩ mô, đó là thúc đẩy tăng trưỏng kinh
tế, góp phần giảI quyết việc làm và nâng cao đời sống của các thành viên trong
xã hội Ở góc độ vi mô, đó là tối thiểu hoá chi phí, tối đa hoá lợi nhuận, nâng
Trang 2cao khả năng cạnh tranh và chất lượng nguồn nhân lực…
1.2, Phân loại đầu tư
Theo mục đích và tính chất của hoạt động đầu tư có thể chia đầu tư thành:
Đầu tư tài chính: người có tiền bỏ ra cho vay hoặc mua các chứng chỉ có
giá để được hưởng lãi suất định trước như gửi tiết kiệm hay mua trái phiếu chínhphủ, tín phiếu kho bạc hoặc lãi suất tùy thuộc vào hoạt động sản xuất kinh doanhcủa công ty phát hành Đầu tư tài chính không làm gia tăng thêm tài sản cho nềnkinh tế, nếu không xét đến quan hệ quốc tế trong lĩnh vực này, nó chỉ làm tănggiá trị tài sản tài chính cho một cá nhân, tổ chức Đầu tư tài chính thường đượcthực hiện gián tiếp thông qua các trung gian tài chính như ngân hàng, công tychứng khoán Hoạt động đầu tư này là kênh huy động vốn quan trọng cho nềnkinh tế và là một trong những loại hình đầu tư lựa chọn để tối đa hoá lợi ích,giảm thiểu rủi ro cho các chủ đầu tư
Đầu tư thương mại :người có tiền mua hàng hóa và bán với giá cao hơn để
hưởng chênh lệch giá khi mua và khi bán Nếu không xét đến quan hệ ngoạithương thì loại đầu tư này không tạo ra hay làm tăng thêm tài sản cho nền kinh
tế mà chỉ làm tăng thêm tài sản tài chỉnh cho chủ đầu tư Mặc dù vậy đầu tưthương mại lại giúp cho quá trình lưu thông hàng hóa do đầu tư phát triển tạo radiễn ra một cách linh hoạt và dễ dàng hơn Qua đó, nó lại làm cho đầu tư pháttriển, tăng tích lũy vốn cho mở rộng sản xuất kinh doanh dịch vụ của các đơn vịcũng như cả nền kinh tế
Đầu tư phát triển là hình thức đầu tư quan trọng nhất trong nền kinh tế, nó
là tiển đề, cơ sở cho các hoạt động đầu tư khác Các hình thức đầu tư kháckhông thể tồn tại và vận động nếu không có đầu tư phát triển
Theo tiêu thức quan hệ quản lý của chủ đầu tư, đầu tư được chia thành
đầu tư gián tíêp và đầu tư trực tiếp:
Đầu tư gián tiếp :người bỏ vốn không trực tiếp tham gia quản lý, điều hành
quá trình thực hiện và vận hành kết quả đầu tư:mua cổ phiếu hoặc trái phiếu trênthị trường chứng khoán thứ cấp Trong trường hợp này nhà đầu tư có thể đượchưởng lợI ích vật chất ( như cổ tích, tiền lãi trái phiếu), lợì ích phi vật chất
Trang 3(quyền biểu quyết, quyền tiên mãi) nhưng không được tham gia quản lý trực tiếptài sản mà mình bỏ vốn đầu tư.
Đầu tư trực tiếp: người bỏ vốn trực tiếp tham gia quản lý, điều hành quá
trình thực hiện và vận hành kết quả đầu tư Đầu tư trực tiếp bao gồm đầu tư dịchchuyển và đầu tư phát triển Đầu tư dịch chuyển là một hình thức đầu tư trong
đó việc bỏ vốn là nhằm dịch chuyển quyền sở hữu giá trị của tài sản Thực chấttrong đầu tư dịch chuyển không có sự gia tăng giá trị tài sản
Như vậy theo cách tiếp cận này, đầu tư phát triển là một hình thức đầu tư
trực tiếp Hoạt động đầu tư này nhằm duy trì và tạo ra năng lực mới trong sảnxuất kinh doanh dịch vụ và sinh hoạt đời sống Đây là hình thức đầu tư trực tiếptạo ra tài sản mới cho nền kinh tế, đơn vị sản xuất và cung ứng dịch vụ Hìnhthức đầu tư này đóng vai trò quan trọng đối với tăng trưởng và phát triển củanền kinh tế tại mỗi quốc gia
2 Đặc điểm của đầu tư phát triển
Hoạt động đầu tư phát triển có các đặc điểm chủ yếu sau:
Quy mô tiền vốn, vật tư, lao động cần thiết cho hoạt động đầu tư phát triển thường rất lớn Vốn đầu tư phát triển là bộ phận cơ bản của vốn nói
chung vốn đầu tư phát triển là biểu hiện bằng tiền toàn bộ những chi phí đã chi
ra để tạo ra năng lực sản xuất (tăng thêm tài sản cố định và tài sản lưu động) vàcác khoản đầu tư phát trỉển khác
Trên phạm vi nền kinh tế, vốn đầu tư phát triển bao gồm: vốn đầu tư xâydựng cơ bản, vốn lưu động bổ sung và vốn đầu tư phát triển khác.Trong đó, vốnđầu tư xây dựng cơ bản là quan trọng nhất Đó là những chi phí bằng tiền để xâydựng mới, mở rộng, xây dựng lại hay là khôi phục năng lực sản xuất của tài sản
cố định trong nền kinh tế Quy mô các dự án đầu tư có lớn hay không thể hiện ởnguồn vốn đầu tư
Mặt khác, các dự án đầu tư cũng cần một số lượng lao động rất lớn, đặcbiệt là các dự án trọng điểm quốc gia
Thời kỳ đầu tư kéo dài Thời kỳ đầu tư được tính từ khi khởi công thực
hiện dự án cho đến khi dự án hoàn thành và đưa vào hoạt động Do quy mô các
Trang 4dự án đầu tư thường rất lớn nên thời gian hoàn thành các dự án thường tốn rấtnhiều thời gian, có khi tới hàng chục năm như các công trình thuỷ điện, xâydựng cầu đường
Thời gian thực hiện các dự án đầu tư dài kéo theo sự ảnh hưởng đến tiến độnghiệm thu công trình và đưa vào sử dụng, do đó có thể làm giảm hiệu quả đầu
tư, thời gian thu hồi vốn chậm.Thời gian đầu tư càng dài thì rủi ro cũng như chiphí đầu tư lại càng lớn, hơn nữa, nó còn ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh củadoanh nghiệp.Do vốn lớn lại nằm khê đọng trong suốt quá trình thực hiện đầu
tư nên để nâng cao hiệu quả vốn đầu tư, cần tiến hành phân kỳ đầu tư, bố trí vốn
và các nguồn lực tập trung hoàn thành dứt điểm từng hạng mục công trình, quản
lý chặt chẽ tiến độ kế hoạch vốn đầu tư, khắc phục tình trạng thiếu vốn, nợ đọngvốn đầu tư xây dựng cơ bản nhằm hạn chế thấp nhất những mặt tiêu cực có thểxảy ra trong thời kỳ đầu tư
Thời gian vận hành các kết quả đầu tư kéo dài Thời gian vận hành các
kết quả đầu tư được tính từ khi đưa vào hoạt động cho đến khi hết hạn sử dụng
và đào thải công trình.Các thành quả của hoạt động đầu tư có thể kéo dài hàngchục năm hoặc lâu hơn thế như Vạn lý trường thành ở Trung Quốc, nhà thờ vàđấu trường La Mã ở Italia trong quá trình vận hành các kết quả của đầu tư pháttriển chịu tác động cả hai mặt, tích cực và tiêu cực của nhiêù yếu tố tự nhiên,chính trị, kinh tế, xã hội Do đó, yêu cầu đặt ra đối với công tác đầu tư là rấtlớn, nhất là về công tác dự báo về cung cầu thị trường sản phẩm đầu tư trongtương lai, quản lý tốt quá trình vận hành, nhanh chóng đưa thành quả đầu tư đưavào sử dụng, hoạt động tối đa công suất để nhanh chóng thu hồi vốn, tránh haomòn vô hình, chú ý đến cả độ trễ thời gian trong đầu tư Đây là đặc điểm có ảnhhưởng rất lớn đến công tác quản lý hoạt động đầu tư
Đặc điểm thứ tư là các thành quả của hoạt động đầu tư phát triển mà
là các công trình xây dựng thường phát huy tác dụng ngay tại nơi nó được tạo dựng nên, do đó, quá trình thực hiện đầu tư cũng chịu ảnh hưởng rất lớn của
các nhân tố về tự nhiên, kinh tế, xã hội vùng Các điều kiện tự nhiên của vùngnhư khí hậu, đất đai có tác động rất lớn trong việc thi công, khai thác và vận
Trang 5hành các kết quả đầu tư Đối với các công trình xây dựng, điều kiện về địa chấtảnh hưởng rất lớn không chỉ trong thi công mà cả trong giai đoạn đưa công trìnhvào sử dụng, nếu nó không ổn định sẽ làm giảm tuổi thọ cũng như chất lượngcông trình Tình hình phát triển kinh tế của vùng ảnh hưởng trực tiếp tới việc raquyết định và quy mô vốn đầu tư Ngoài ra môi trường xã hội cũng ảnh hưởngrất lớn đến việc thực hiện các dự án đầu tư như phong tục tập quán, trình độ vănhóa
Một đặc điểm dễ nhận thấy là hoạt động đầu tư phát triển có độ rủi ro cao Mọi kết quả và hiệu quả của quá trình thực hiện đầu tư chịu nhiều ảnh
hưởng của các yếu tố không ổn định theo thời gian và điều kiện địa lý của khônggian Do quy mô vốn đầu tư lớn, thời kỳ đầu tư kéo dài và thời gian vận hànhcác kết quả đầu tư cũng kéo dài nên mức độ rủi ro của hoạt động đầu tư pháttriển thường rất cao, nhiều vấn đề phát sinh ngoài dự kiến buộc các nhà quản lý
và chủ đầu tư cần phải có khả năng nhận diện rủi ro cũng như biện pháp khắcphục kịp thời Để quản lý hoạt động đầu tư có hiệu quả trươc hết cần nhận diệnrủi ro Có rất nhiều rủi ro trong hoạt động đầu tư,các rủi ro về thời tiết ví dụ nhưtrong quá trình đâu tư gặp phải mưa bão, lũ lụt làm cho các hoạt động thi côngcông trình đều phải dừng lại ảnh hưởng rất lớn đến tiến độ và hiệu quả đầu tư.Các rủi ro về thị trường như giá cả, cung cầu các yếu tố đầu vào và sản phẩmđầu ra thay đổi, ví dụ như do thông tin trong sữa Trung Quốc có chất gây bệnhsỏi thận mà cầu về sữa giảm sút nghiêm trọng, hoạt động đầu tư mở rộng cơ sởsản xuất chế biến sữa của một số doanh nghiệp vì thế cũng bị ngưng trệ Ngoài
ra quá trình đầu tư còn thể gặp rủi ro do điều kiện chính trị xã hội không ổnđịnh Khi đã nhận diện được các rủi ro nhà đầu tư cần xây dựng các biện phápphòng chống rủi ro phù hợp với từng loại rủi ro nhằm hạn chế thấp nhất tácđộng tiêu cực của nó đến hoạt động đầu tư
Trang 6II Sự ảnh hưởng của các đặc điểm đầu tư phát triển đến công tác đầu tư 1.Trong công tác quản lý vĩ mô và vi mô
1.1 Cấp vĩ mô
Nhà nước cần ban hành các văn bản pháp luật về đầu tư một cách chặt chẽ
và có hệ thống cũng như các văn bản liên quan như luật đất đai, luật đấuthầu Các văn bản này có tác dụng khuyến khích đầu tư, hướng các hoạt độngđầu tư theo định hưóng của Nhà nước, khuyến khích các nhà đầu tư tư nhântham gia vào các lĩnh vực đầu tư phát triển
Nhà nước cần có các chính sách để huy động mọi nguồn vốn cho đầu tưphát triển Các nguồn vốn có thể huy động được bao gồm nguồn vốn ngân sách,vốn từ dân cư, vốn ODA, FDI, vốn vay thương mại quốc tế Nhà nước cần cócác quy định chặt chẽ về phân bổ vốn đầu tư hợp lý theo tiến độ, đầu tư chiềusâu để mang lại hiệu quả cao nhất
Mặt khác, nhà nước cũng cần có các quy định về quy hoạch, tránh tìnhtrạng quy hoạch treo gây thất thoát lãng phí nguồn tài nguyên Cùng với đó làđào tạo nguồn nhân lực một cách hiệu quả, đáp ứng kịp thời nhu cầu về nguồnlực con người trong hoạt động đâu tư
Ngoài ra, Hệ thống cơ quan chuyên trách về quản lý dự án đầu tư và cán bộ
có trình độ chuyên môn cao đáp ứng yêu cầu thực tế cũng cần được nhà nướcchú trọng xây dựng
1.2 Ở cấp vi mô
Khi nhà nước đã có những chính sách tạo điều kiện thuận lợi cho các nhàđầu tư thì các nhà đầu tư cũng cần có các biện pháp để quản lý hoạt động đầu tư
ở tầm vi mô một cách có hiệu quả
Trước khi tiến hành các hoạt động đầu tư, chủ đầu tư cần nghiên cứu kỹcác điều kiện về môi trường tự nhiên, kinh tế, chính trị, văn hoá xã hội ở địaphương Nó giúp cho chủ đầu tư có thể khai thác tối đa lợi thế vùng và nâng caohiệu quả vốn đầu tư
Ngoài ra, doanh nghiệp cần xây dựng một chiến lược đầu tư rõ ràng, khoahọc để hạn chế đến mức thấp nhất các rủi ro có thể gặp phải Cần rõ ràng trong
Trang 7chuẩn bị về vốn đầu tư, tiến trình đầu tư Một điều cũng rất quan trọng đó là cầnxác định chính xác sự thay đổi của cung cầu trên thị trường về đầu vào và đẩu racủa dự án, đưa ra được dự báo chính xác trong tương lai để có các biện phápđiều chỉnh kịp thời.
2 Trong công tác chuẩn bị, thực hiện và vận hành các kết quả đầu tư 2.1Công tác chuẩn bị đầu tư
Giai đoạn chuẩn bị đầu tư quyết định sự thành công hay thất bại ở hai giaiđoạn sau, đặc biệt là với giai đoạn vận hành kết quả đầu tư Ở giai đoạn này, vấn
đề chất lượng, chính xác kết của kết quả nghiên cứu Tổng chi phí giai đoạnchuẩn bị chiếm từ 0,5- 15% vốn đầu tư chảy vào dự án Làm tốt công tác chuẩn
bị đầu tư sẽ tạo tiền đề cho việc sử dụng tốt phần vốn còn lại, tạo cơ sở cho quátrình hành động của dự án được thuận lợi, nhanh chóng thu hồi vốn đầu tư,nhanh chóng phát huy hết nguồn lực phục vụ dự kiến
Quá trình chuẩn bị đầu tư gồm 4 bước: nghiên cứu cơ hội đầu tư, nghiêncứu tiền khả thi, nghiên cứu khả thi và thẩm định dự án
Sự quán triệt các đặc điểm của đầu tư phát triển trong công tác chuẩn bịđầu tư được thể hiện qua các mặt như:
- Với đặc điểm vốn, vật tư lao động cho dự án đầu tư lớn:
Thứ nhất là có giải pháp huy tạo vốn và huy động vốn hợp lý Các chínhsách và giải pháp huy động vốn cho các dựa án đầu tư phải gắn với chiến lượcphát triển kinh tế-xã hội trong từng giai đoạn Trong điều kiện mà nhu cầu vốnđầu tư rất lớn như hiện nay việc đa dạng hóa các kênh huy động vốn, hiện đạihóa các hình thức và phương tiện huy động vốn là vô cùng cần thiết Các nguồnhuy động vốn cho đầu tư phát triển có thể qua phát hành cổ phiếu, trái phiếu,vay ngân hàng, các tổ chức tín dụng trong và ngoài nước Các chính sách huyđộng vốn phải được tiến hành đồng bộ cả về nguồn vốn và biện pháp thực hiện,phù hợp với quy hoạch ngành, lãnh thổ và lĩnh vực ưu tiên
Thứ hai là thực hiện đầu tư có trọng tâm trọng điểm, tránh đầu tư dàn trải,gây thất thoát lãng phí nguồn lực Với các dự án trọng điểm cần tập trung thựchiện dứt điểm, kiên quyết cắt giảm các hạng mục công trình chưa thực sự cần
Trang 8thiết, khắc phục tình trạng đầu tư dàn trải Đồng thời có các biện pháp bố trí vốntheo tiến độ của dự án, kế hoạch bố trí vốn phải bám sát những định hướng, chủtrương của chính phủ, các bộ ngành có liên quan.
Thứ ba, cần có các giải pháp về tuyển dụng, đào tạo, sử dụng và đãi ngộ laođộng một cách hợp lý, sao cho đáp ứng tốt nhất nhu cầu về nhân lực theo tiến độđầu tư Hiện nay vẫn xảy ra tình trạng nhân lực cho các dự án rất dồi dào nhưng
số lượng đáp ứng được các yêu cầu của dự án lại rất thấp, phần lớn lao độngkhông được đào tạo bài bản, hoặc không đáp ứng được yêu cầu của dự án Nhiều
dự án mặc dù đã chính thức đầu tư và khởi công nhưng lại không thực hiệnđược đúng tiến độ do bài toán về lao động Để tránh tình trạng trên, các dự ánkhi chuẩn bị đầu tư cần phải xây dựng kế hoạch tuyển dụng , phương án đào tạolao động kịp thời, để việc đào tạo lao động sát với nhu cầu thực tế
-Với đặc điểm thời kỳ đầu tư kéo dài:Yêu cầu đặt ra là cần tiến hành quản
lý chặt chẽ tiến độ kế hoạch đầu tư, lập tiến độ thi công xây dựng cụ thể trongtừng giai đoạn, đảm bảo tiến độ ngay từ khâu giải phóng mặt bằng Tiến độ thicông xây dựng công trình phải phù hợp với tiến độ của dự án đã được phê duyệt.Một trong các yếu tố làm cho thời kỳ đầu tư thực tế thường kéo dài hơn nhiều sovới dự kiến đó là tình trạng thiếu vốn Chính vì vậy cần có các giải pháp về bốtrí vốn và các nguồn lực tập trung hoàn thành dứt điểm từng hạng mục côngtrình, bố trí xen kẽ các công việc cần thực hiện nhằm đảm bảo đúng thời gianhoàn thành dự án
- Về đặc điểm đầu tư phát triển phụ thuộc vào các điều kiện tự nhiên kinhtế-xã hội vùng Trước hết cần nghiên cứu tiềm năng thế mạnh của từng vùng,địa phương, các chính sách khuyến khích đầu tư phát triển Điều này ảnh hưởngrất lớn đến việc ra quyết định đầu tư Chủ đầu tư cần nghiên cứu kỹ và lựa chọnđịa điểm đầu tư phù hợp nếu không chủ đầu tư sẽ phải đối mặt với nhiều rủi ro
về nhiều mặt cả về tự nhiên lẫn kinh tế xã hội Do đó, khi lựa chon địa điểm đầu
tư cần dựa trên những căn cứ khoa học, dựa vào hệ thống các chỉ tiêu về tựnhiên, kinh tế, chính trị, xã hội nhằm khai thác tối đa lợi thế của vùng, nângcao hiệu quả vốn đầu tư
Trang 9- Với đặc điểm đầu tư phát triển có độ rủi ro cao: Cần có biện pháp tổng thểquản lý rủi ro bao gồm từ việc nhận diện rủi ro, đánh giá mức độ rủi ro và xâydựng biện pháp phòng và chống rủi ro, điều này rất quan trọng Xác định đúngnguyên nhân rủi ro là khâu quan trọng đầu tiên để tìm ra giải pháp phù hợp đểkhắc phục Mặt khác, việc đánh giá xếp thứ tự ưu tiên rủi ro sẽ đưa ra được biệnpháp tối ưu xử lý rủi ro, hạn chế thấp nhất được các thiệt hại có thể có do rủi rogây ra trong suốt vòng đời của dự án.
2.2Quá trình thực hiện đầu tư
Giai đoạn thực hiện đầu tư: Vấn đề thời gian là quan trọng hơn cả, 95.5% vốn đầu tư được chia ra và huy động trong suốt những năm thực hiện đầu
85-tư Đây là những năm vốn không sinh lời, thời hạn thực hiện đầu tư cũng kéodai, vốn ứ đọng càng nhiều, tổn thất càng lớn Thời gian thực hiện đầu tư phụthuộc nhiều vào công tác chất lượng công tác chuẩn bị đầu tư, quản lý quá trìnhviệc thưc hiện những hoạt động khác có liên quan trực tiếp đến các kết quả củaquá trình thực hiện những hoạt động khác có liên quan trực tiếp đến các kết quảcủa quá trình thực hiện đầu tư đã được xem xét trong dự án đầu tư
Quá trình thực hiện đầu tư gồm: hoàn tất thủ tục đầu tư, thiết kế lập tổng dựtoán, xây dựng mua sắm trang thiết bị, tuyển dụng đào tạo lao động, nghiệm thu,thanh quyết toán, bàn giao kết quả
Sự quán triệt các đặc điểm của đầu tư phát triển ở giai đoạn hai này đượcthể hiện ở chỗ:
Thứ nhất cần quản lý và sử dụng có hiệu quả vốn đầu tư Do ở giai đoạnnày vốn nằm khê đọng trong thời gian dài nên để nâng cao hiệu quả vốn đầu tư,cần tiến hành phân kỳ hoạt động đầu tư, bố trí vốn và các nguồn lực tập trunghoàn thành dứt điểm từng hạng mục công trình, quản lý chặt chẽ tiến độ kếhoạch đầu tư, khắc phục tình trạng thiếu vốn, nhất là trong xây dựng cơ bản Doyếu kém trong quản lý mà nhiều chủ đầu tư đã làm thất thoát nguồn vốn, khiếncho vốn đầu tư thực tế cao hơn rất nhiều so với dự toán ban đầu Cần có chínhsạch đào tạo nguồn nhân lực, đãi ngộ công nhân và chuyên gia Điều này càngđảm bảo hơn cho sự thành công của giai đoạn thực hiện đầu tư
Trang 10Mặt khác, cần rút ngắn thời gian đầu tư, đảm bảo đúng tiến độ thi côngcông trình Thời gian hoàn thành dự án càng ngắn thì chi phí và rủi ro càng ít.Hoạt động đầu tư luôn luôn gắn liền với yếu tố rủi ro, điều quan trọng là nhậnbiết và khắc phục được chúng trong quá trình thực hiện đầu tư Kéo dài thời gianthực hiện là kéo thêm một khoản chi phí, tăng thêm những rủi ro, những bất trắc,mất đi cơ hội cạnh tranh trên thị trường, hiệu quả đầu tư vì thế cũng giảmsút.Bên cạnh đó cần quản lý chặt chẽ việc sử dụng nguyên vật liệu, tránh lãngphí, nâng cao hiệu suất sử dụng Bên cạnh đó, cũng cần có sự đầu tư về mặtcông nghệ, lắp đặt các dây chuyền thiết bị hiện đại, phù hợp với trình độ quản
lý và sử dụng giúp cho chủ đầu tư nâng cao được chất lưọng sản phẩm, mặt kháclại tiết kiệm được đáng kể chi phí về vận hành, về nhân công, nguyên vật liệu vànăng lường, góp phần nâng cao hiệu quả trong thực hiện đầu tư
2.3Quá trình vận hành kết quả đầu tư
Giai đoạn vận hành các kết quả của giai đoạn thực hiện đầu tư nhằm đạtđược các giai mục tiêu của dự án, nếu các két quả do giai đoạn thực hiện đầu tưtạo ra đảm bảo tính đồng bộ, tồn tại thấp, chất lượng tốt, đúng tiến độ tại thờiđiểm thích hợp, với quy mô tối ưu thì hiệu quả hoạt động của các kết quả này vàmục tiêu của dự án chỉ còn phụ thuộc trực tiếp vào quá trình tổ chức quản lýhoạt động Làm tốt công tác của giai đoạn chuẩn bị và thực hiện đầu tư sẽ tạothuận lợi cho quá trình tổ chức quản lý phát huy tác dụng của các kết quả đầu tư.Thời gian phát huy tác động của các kết quả đầu tư chính là đời của dự án nógắn với đời sống của sản phẩm trên thị trưòng
Đây là giai đoạn thu hồi vốn, dự án có đạt mục tiêu hay không phụ thuộcvào kết quả hoạt động của giai đoạn này Giai đoạn vận hành khai thác là giaiđoạn mà hiệu quả khai thác nguồn lực được thể hiện rõ nét phụ thuộc vào năng
lực tổ chức quản lý điều hành Sự quán triệt các đặc điểm của đầu tư phát triển
trong công tác vận hành kết quả đầu tư bỉểu hiện ở các mặt:
Thứ nhất, xây dựng cơ chế và phương pháp dự báo khoa học nhằm cónhững bước đi phù hợp trong mỗi giai đoạn cụ thể cả ở cấp vĩ mô và vi mô vềnhu cầu thị trường đối với sản phẩm đầu tư tương lai, dự kiến khả năng cung
Trang 11ứng từng năm và toàn bộ vòng đời của dự án Từ đó nắm bắt được thời cơ để tạo
ra những bứơc nhảy vọt trong đời của dự án
Thứ hai, quản lý tốt quá trình vận hành, nhanh chóng đưa thành quả đầu tưvào sử dụng, hoạt động tối đa công suất để nhanh chóng thu hồi vốn, tránh cáchao mòn vô hình Đồng thời cần tuân thủ chiến lược về công suất Vòng đời sảnphẩm của dự án càng dài thì lợi nhuận thu được càng lớn, do đó hiệu quả đầu tưcàng cao
Ngoài ra, cần chú ý đúng mức đến yếu tố độ trễ thời gian trong đầu tư Đầu
tư trong năm nhưng thành quả đầu tư chưa chắc đã phát huy tác dụng ngay trongnăm đó mà từ những năm sau và kéo dài trong nhiều năm Đây là đặc điểm rấtriêng của lĩnh vực đầu tư, ảnh hưỏng lớn đến công tác quản lý hoạt động đầu tư
Trang 12CHƯƠNG II:THỰC TRẠNG CỦA ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN VÀ TÌNH HÌNH QUÁN TRIỆT CÁC ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN TRONG CÔNG TÁC ĐẦU TƯ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY.
I,Thực trạng đầu tư phát triển ở Việt Nam
1,Huy động nguồn lực cho đầu tư phát triển.
Thực tiễn Việt Nam từ khi thực hiện chính sách đổi mới mở cửa ,bên cạnhviệc thoát khỏi khủng hoảng kinh tế Việt Nam còn đạt đựoc thành tích tăngtrưởng kinh tế cao liên tục(bình quân GDP hàng năm trong giai đoạn 1991_2005đạt 7.5%có những giai đoạn cá biệt 2 năm tăng liên tục trên 9% mỗi năm) Điều
đó làm cho khả năng huy động ,khai thác và sử dụng các nguồn vốn đầu tư được
mở rộng hơn.Tốc độ gia tăng quy mô đầu tư gia tăng đáng kể trung bình tănghơn 20%/năm).Tỷ trọngvốn đầu tư phát triển gia tăng mạnh mẽ (năm 1991 chỉkhoảng 17.6% GDP thì đến năm 2005 đã đạt xấp xỉ 38.7%GDP).Trong đó cảnguồn vốn trong nước và nguồn vốn nước ngoài đều có sự chuyển biến về quy
mô và tốc độ tăng trưởng
Trong nguồn vốn đầu tư của nước ta nguồn vốn trong nước chiếm 70%tổng sổ vốn đầu tư và 30% tổng vốn đầu tư là huy động từ nước ngoài Trongnguồn vốn trong nứoc thì vốn tư ngân sách Nhà nước và các doanh nghiệp Nhànước là chủ yếu,chiếm khoảng 53.7%.Trong đó vốn đầu tư từ ngân sách Nhànứơc chiếm khoảng 22.5%trong tổng số vốn đầu tư phát triển toàn xã hội, vốntín dụng đầu tư của nhà nước chiếm tỷ 15,7%, vốn đầu tư của những doanhnghiệp Nhà nước chiếm 17.1%.Vốn đầu tư của khu vực tư nhân và dân cư chiếm25,3%,vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chiếm 17,8%,các nguồn vốn huy độngkhác chiếm khoảng 4,7%
Tổng vốn đầu tư toàn xã hôi tăng đáng kể năm 2005 số vốn đầu tư toàn xãhội là 3.301,780 tỷ đồng; năm 2006 tổng số vốn đầu tư tòan xã hội là 4.027,166
tỷ đồng; và năm 2007 con số đó là 4.851,917 tỷ đồng(tính theo giá trị hiệ hành).Như vậy trong vòng 3 năm 2005-2007 tổng số vốn đầu tư toàn xã hội tăngkhoảng 46,95%
Vốn nhà nước tăng liên tục qua các năm;năm 2005 là 1.198,814 tỷ đồng,năm 2006 là 1.244,303 tỷ đồng, năm 2007 là 1138,762 tỷ đồng Ngân sách nhà
Trang 13nước chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số vốn đầu tư phát triển và vốn ngân sáchnhà nước chiếm khoảng 70% vốn nhà nước.Trong ngân sách nhà nước thì nguồnthu chủ yếu là từ thuế và phí (chiếm tới 90%),tăng trung bình 17%/năm.Trong
đó ngân sách trung ương chiếm khoảng 10%(năm 2007 vốn ngan sách trungương là 74,911 tỷ đồng trong tổng ngân sách nhà nước là 778,46 tỷ đồng, chiếmkhoảng 9,624%);ngân sách địa phương đóng góp khoảng 90%(năm 2007 vốnngân sách đia phương là 703,549 tỷ đồng, chiếm khoảng 90,376%) GDP đónggóp vào ngân sách nhà nứơc khoảng 23.5%.Tỷ lệ đầu tư phát triển chiếm 29.7%trong tổng vốn ngân sách nhà nước Nguồn vốn tín dụng đầu tư cũng cố nhữngchuyển biến tiến bộ, tuy nhiên trong những năm gần đây nguồn vốn đầu tư tíndụng Nhà nước xu hướng giảm dần do nhà nước có chủ trương thu hẹp đốitương cho vay ,hạn chế cho vay theo dự án và đẩy mạnh thực hiện hỗ trợ lãi suấtđầu tư.Năm 2005 số vốn tín dụng nhà nước là 159,816 tỷ đồng, năm 2006 là117,554 tỷ đồng,, và năm 2007 là 91,877 tỷ đồng; giảm khoảng 42,5% trongvòng 3 năm Nguồn vốn tín dụng từ các nguồn khác tăng lên rất nhanh;năm
2005 là 122,317 tỷ đồng, năm 2006 là 288,165 tỷ đồng;năm 2007 là 221,608 tỷđồng; mức tăng khoảng 81,17%
Vốn đầu tư của khu vực ngoài quốc doanh trong những năm gần đây đượcchú trọng, tăng khoảng 78,5%trong vòng 3năm 2005-2007 (năm 2005 là2024,563 tỷ đồng và năm 2007 là 3613,629 tỷ đồng).Theo điều tra thực tế năm
2007 thì số vốn của các hộ gia dình là 1283,919 tỷ đồng và vốn của các tổ chứcdoanh nghiệp là 2329,71 tỷ đồng
Để tăng vốn cho đầu tư phát triển, chính phủ thực hiện huy động vốn thôngqua việc phát hành trái phiếu chính phủ từ năm 2003.Năm 2003 là 8.1 nghìn tỷđồng, năm 2004 là 6.5 nghìn tỷ đồng và năm 2006 khoảng 13.1 tỷ đồng
Bên cạnh đó, chúng ta luôn coi trọng việc thu hút nguồn vốn từ bên ngoài.Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản luật và cơ chế chính sách với mục đíchkhuyến khích nhà đầu tư nước ngoài mang vốn,công nghệ quản lý hiện đại vàoViệt Nam.Cùng với đó là tạo lập môi trường đầu tư thuận lợi cho các nhà đầu tưnước ngoài,giữ vững môi trường kinh tế vĩ mô ổn định,giảm chi phí đầu tư,giảiquyết những vướng mắc cụ thể cho các nhà đầu tư trong nước và ngoài nước.Đặc biệt từ khi Việt Nam là thành viên của tổ chúc thương mại thế giới WTO
Trang 14vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam gia tăng đáng kể.Vốn đầu tư trực tiếp nướcngoài năm 2005 là 78,400 tỷ đồng, năm 2006 là 97,175 tỷ đồng, năm 200799,525 là tỷ đồng.Vốn đầu tư nước chiếm khoảng 30% tổng vốn đầu tư pháttriển của nền kinh tế.Ngoài các nguòn vốn chủ yếu là ODA và FDI,vào ViệtNam còn có lượng vốn mà doanh nghiệp tự đi vay nước ngoài hoặc vốn huyđộng thông qua phát hành trái phiếu chính phủ bằng ngoại tệ ra nước ngoài.Tuynhiên chúng ta cũng chỉ mới phát hành tráiphiếu chính phủ ra nước ngoài nênnguồn vốn này chưa đáng kể.
Nguồn vốn ODA trong thời gian qua đạt thành tựu quan trọng.tổng mức ODAcác nhà tài trợ cam kết cho nước ta trong giai đoạn 2000-2006 ước tính đạt 31 tỷUSD,trong đó các khoản viện trợ không hoàn lại chiếm 15-20%.Nguồn vốn ODA
đã được giải ngan khoảng 15.5 tỷ USD ,chiếm khoảng 50% giá trị ODA cam kếttài trợ,trong đó 80% nguồn vốn đầu tư cho đầu tư phát triển còn lại là chi cho sựnghiệp,tốc độ giải ngân là 11.3%.Hiện nay có 25 nhà tài trợ song phương,14 tổchức tài trợ đa phương và trên 350 NGO hoạt động tại Việt Nam
Thu hút vốn FDI cũng đạt kết quả tích cực khoảng 298,4 nghìn tỷđồng,tương ứng khoảng 19.5% nguồng vốn đầu tư phát triển của toàn nền kinhtế.Trong số 64 nước đầu tư tại Việt Nam ,các nước châu Á chiếm trên 76% số
dự án và trên 70% số vốn đăng kí,trong đó Nhật Bản, Đài Loan, HànQuốc ,Hồng Kông chiếm trên 605 số dự án và đăng kí còn các nước EU chiếmkhoảng 16% vê số dự án và 24% số vốn đăng kí,Hoa Kì chiếm khoảng 19.55 số
dự án va 2.7%sô vốn đăng kí
Bên cạnh ODA và FDI thì một lượng vốn không nhỏ được chuyển vàonước ta là kiêu hối chuyển về hang năm Lượng kiều hố năm 2006 dạt 4.5 tỷUSDvà năm 2007 lên tới 10 tỷ USD, mức cao nhất từ trước tới nay.So với tổngmức ngoại tệ Việt kiều gửi về nước năm 2006, lượng kiều hối năm 2007 tăng gần50% Nguyên nhân là do chính phủ Việt Nam áp dụng các quy chế mới đối vớiViệt kiều trong các lĩnh vực đầu tư, bất động sản và miễn thị thực nhập cảnh Đặcbiệt gần đây quốc hội thông qua điều luật cho Việt kiều mua nhà tại Việt Nam.Ngoài các nguồn vốn trên thì còn một lượng vốn vay của nước ngoài Tuynhiên, lượng vốn này không đáng kể, chỉ đạt khoảng 50 nghìn tỷ đồng Lượng tráiphiếu chính phủ phát hành ra nước ngoài bằng ngoại tệ khoảng 5.5 nghìn tỷ đồng