1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Năm 1972 trong lịch sử cuộc kháng chiến chống mỹ cứu nước

7 3K 6

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 82,27 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HÀ MINH HỒNG, Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (19541975), mỗi năm, tháng, mỗi sự kiện đều có vị trí, ý nghĩa riêng của nó và chỉ có sự hợp thành, của chúng theo phương pháp lịch sử và logic mới giúp ta hiểu đầy đủ cuộc, kháng chiến thần thánh này. Năm 1972 nằm vào nửa cuối của cuộc kháng, chiến ấy có nhiều nét đặc thù, nó cần được đánh giá đầy đủ hơn bởi đây là, một trong mốc son quan trọng nhất., Những diễn biến chủ yếu chủa cuộc kháng chiến trong năm 1972:, Sau 15 năm theo đuổi chiến tranh không thể kết thúc thắng lợi được, từ năm 1969 Mỹ áp dụng chiếc lược chiến tranh Việt Nam hoá. Chiến lược, mới này lấy bình định nông thôn làm biện pháp chiến lược, để kết thúc chiến, tranh theo kiểu nó “tự tàn lụi”. Đến trước năm 1972 địch đã đạt đến đỉnh cao, của cố gắng chiến tranh và tạm thời thu được một số kết quả, trước hết là về, bình định; trong khi các lực lượng cách mạng ở miền Nam bị đẩy lùi. Nhưng, vượt qua những khó khăn ác liệt của tình hình, từ năm 1971, nhất là từ

Trang 1

NĂM 1972 TRONG LỊCH SỬ CUỘC KHÁNG CHIẾN

CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC

HÀ MINH HỒNG

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975), mỗi năm tháng, mỗi sự kiện đều có vị trí, ý nghĩa riêng của nó và chỉ có sự hợp thành của chúng theo phương pháp lịch sử và logic mới giúp ta hiểu đầy đủ cuộc kháng chiến thần thánh này Năm 1972 nằm vào nửa cuối của cuộc kháng chiến ấy có nhiều nét đặc thù, nó cần được đánh giá đầy đủ hơn bởi đây là một trong mốc son quan trọng nhất

Những diễn biến chủ yếu chủa cuộc kháng chiến trong năm 1972:

Sau 15 năm theo đuổi chiến tranh không thể kết thúc thắng lợi được,

từ năm 1969 Mỹ áp dụng chiếc lược chiến tranh Việt Nam hoá Chiến lược mới này lấy bình định nông thôn làm biện pháp chiến lược, để kết thúc chiến tranh theo kiểu nó “tự tàn lụi” Đến trước năm 1972 địch đã đạt đến đỉnh cao của cố gắng chiến tranh và tạm thời thu được một số kết quả, trước hết là về bình định; trong khi các lực lượng cách mạng ở miền Nam bị đẩy lùi Nhưng vượt qua những khó khăn ác liệt của tình hình, từ năm 1971, nhất là từ sau chiến thắng Đường 9- Nam Lào, các lực lượng cách mạng của ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia phối hợp giáng cho chính sách Việt Nam hóa chiến tranh và Đông Dương hoá chiến tranh của Mỹ những đòn đích đáng Chỉ thị 01/CT72 của Trung ương cục miền Nam đánh giá thắng lợi của năm 1971:

“Chẳng những ta đã vượt qua những thử thách lớn nhất mà còn làm cho chính sách Việt Nam hoá liên tiếp bị những thất bại nghiêm trọng, tạo ra được thế mới, lực mới ngày càng thuận lợi…So sánh lực lượng giữa ta và địch đã có bước chuyển biến lớn Thời cơ thất bại của địch và thắng lợi của

ta đã rõ Tình hình đã chín muồi để ta chuyển phong trào lên một bước phát triển nhảy vọt, phát động toàn Đảng toàn quân ta xốc tới đánh bại về cơ bản chính sách Việt Nam hoá chiến tranh, giành thắng lợi lớn nhất”

Thực ra từ tháng 5-1971, Đảng ta đã nhận thấy có “thời cơ lớn” và phải “kịp thời nắm lấy thời cơ lớn, trên cơ sở phương châm chiến lược đánh lâu dài, đẩy mạnh tiến công quân sự, chính trị và ngoại giao, phát triển thế tiến công chiến lược mới trên toàn chiến trường miền Nam…giành thắng lợi quyết định trong năm 1972” Sau đó trong Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 20 (đầu năm 1972), Đảng đã nêu quyết tâm giáng cho địch “ba đòn chiến lược”: “đòn chiến lược của bộ đội chủ lực trên những chiến

Trang 2

trường có lợi; đòn chiến lược tiến công và nổi dậy ở vùng nông thôn đồng bằng; đòn đấu tranh cách mạng của quần chúng ở các thành thị” (2)

Địch không bất ngờ trước cuộc tấn công năm 1972 của ta nhưng chúng không phán đoán hết khả năng của ta và quy mô cuộc tiến công Tháng 2-1972 Tổng thống Mỹ Nixon đi thăm Trung Quốc và ký “Thông cáo chung Thượng Hải” Mưu toan của Mỹ trong chính sách ngoại giao nước lớn

là buộc Trung Quốc cắt giảm viện trợ cho Việt Nam, hòng ngăn chặn cuộc chiến tranh cách mạng của nhân dân ta ở miền Nam Nhưng Đảng ta vẫn khẳng định: “Trong bất cứ tình huống nào toàn Đảng, toàn dân và toàn quân

ta cũng tin tưởng và nắm vững đường lối cách mạng đúng đắn và độc lập tự chủ của Đảng ta, phát huy truyền thống tự lực, tự cường và đoàn kết quốc tế, tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn cho sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ cứu nước vĩ đại của nhân dân ta”, “quyết tâm không có gì thay đổi là phải đánh bại về cơ bản chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh”, đánh bại mọi âm mưu

và thủ đoạn đối phó của địch làm chuyển biến cục diện chiến tranh”

Kế hoạch tiến công chiến lược Xuân –Hè 1972 vẫn được thi hành Trưa ngày 30-3-1972 ta bắt đầu nổ súng mở màn việc thực hiện quyết tâm

ấy Lực lượng vũ trang quân giải phóng dùng lối đánh phối hợp binh chủng hiện đại, tiến công mãnh liệt vào các vị trí có ý nghĩa chiến lược của địch, chọc thủng hệ thống phòng thủ vòng ngoài của chúng ở các chiến trường Trị Thiên, Khu V, Tây nguyên và miền Đông Nam bộ Phối hợp với tiến công của bộ đội chủ lực ở rừng núi, quân dân ta ở đồng bằng cũng mở cuộc tấn công và nổi dậy chống phá bình định nông thôn Tại đây ta sử dụng lực lượng ba mũi giáp công, kết hợp chặt chẽ hoạt động của lực lượng vũ trang quần chúng, với tiến công quân sự của lực lượng vũ trang khu, tỉnh, huyện, diệt ác, phá bộ máy kềm kẹp, gỡ đồn, nhổ bót, giành quyền làm chủ cho nhân dân

Chỉ 2 tháng tiến công, quân dân miền Nam đã tiêu diệt, làm bị thương

32, 241 tên địch, loại khỏi vòng chiến đấu 294 tên Mỹ và chư hầu Ta đã thu

và phá hủy 356 khẩu pháo, 48.515 súng bộ binh, 6.679 máy truyền tin, 63 chiến xa M41, 258 xe M113, 131 xe bọc thép khác, 2.423 xe cơ giới Hệ thống phòng thủ vòng ngoài của địch bị phá vỡ Ta đã có 10 sư đoàn chủ lực Quân Giải phóng đứng vững trên chiến trường miền Nam, lực lượng vũ trang 3 thứ quân ở miền Nam được bố trí lại trong thế vững chắc Điều đó khiến cho quân nguỵ khó lòng đảo ngược được tình thế đang có lợi cho ta bất lợi cho chúng

Mỹ bị bất ngờ với sự chuyển biến nhanh của tình hình và chúng kiên quyết trả đũa cuộc tiến công Xuân –Hè của ta Đầu tháng 4-1972 Mỹ cho tập trung về vùng biển miền Nam và các căn cứ Thái Lan một lực lượng lớn không quân và hải quân, gồm 1.400 máy bay chiến đấu, 193 máy bay B52,

Trang 3

62 tàu chiến (bằng 40% máy bay chiến thuật, gần 50% máybay chiến lược của cả nước Mỹ, 73% tàu chiến của hạm đội 7) Lực lượng này vừa phục vụ cho nguỵ phản kích ở miền Nam, vừa gây lại chiến tranh phá hoại ở miền Bắc Từ ngày 9-5-1972 Mỹ cho phong tỏa toàn bộ bờ biển miền Bắc Việt Nam, đợt đầu là 7.963 quả thuỷ lôi và sau đó còn hàng ngàn quả thuỷ lôi khác giăng kín bờ biển, các tuyến vận chuyển đường biển đường sông miền Bắc Quốc hội Mỹ viện trợ bổ sung khẩn cấp cho nguỵ Sài Gòn 3 tỷ dollar Tổng thống Nixon tuyên bố hoãn cuộc hoà đàm ở Paris Từ tháng 5-1972 cuộc chiến của Mỹ ở Việt Nam đã chuyển sang “Mỹ hóa” trở lại chứ không còn nguyên vẹn Việt Nam hoá nữa

Số phận của Việt Nam hoá chiến tranh đến giữa năm 1972 đã có thể được định đoạt khi chúng bị giáng những đòn thất bại nặng nề ở miền Nam Nhưng hiện đang tồn tại 2 khả năng

1 Nếu Việt Nam hoá chiến tranh tiếp tục bị đánh bại thêm một bước trên chiến trường thì địch có thể kết thúc chiến tranh nhằm phục vụ cho cuộc tranh cử của Nixon

2.Ngược lại, nếu Việt Nam hoá chiến tranh chưa có nguy cơ đổ vỡ lớn hơn, Mỹ tiếp tục tìm được biện pháp khắc phục khó khăn trong nước để Nixon thắng cử thì chiến tranh còn tồn tại

Như vậy, ta phải tranh thủ khả năng thứ nhất để đi đến giải pháp chính trị, đồng thời chủ động, sẵn sàng đánh thắng địch trong trường hợp chiến tranh tiếp tục Theo đó ta vừa đẩy mạnh tiến công và nổi dậy trên chiến trường, vừa đẩy mạnh đấu tranh trên bàn hội nghị, tranh thủ thời điểm chính trị của cuộc bầu cử tổng thống Mỹ để buộc Mỹ ký kết một hiệp định hoà bình kết thúc chiến tranh vào tháng 10-1972 Lực lượng vũ trang nhân dân được tăng nhanh theo yêu cầu của mặt trận, cuộc chiến tranh nhân dân chống chiến tranh phá hoại ở miền Bắc đã vươn tới đỉnh cao mới Hàng trăm máy bay hiện đại của Mỹ đã phải bỏ xác ở khắp nơi trên miền Bắc Chỉ 1 tháng từ ngày 6-4-1972 đến ngày 8-5-1972 ta đã bắn rơi 90 máy bay địch Luồng hàng vận chuyển ở miền Bắc và từ miền Bắc vào miền Nam vẫn thông suốt (lượng hàng vận chuyển vào các chiếnt rường năm 1972 tăng hơn 1,7 lần so với năm 1971)

Trung ương cục trong Chỉ thị 16/CT72 đã chủ trương chỉ đạo các địa phương giương cao khẩu hiệu Hoà bình- Độc lập-Dân chủ-Hoà hợp dân tộc, tăng cường các mặt tấn công buộc đế quốc Mỹ phải ký kết hiệp định và sẵn sàng đối phó với khả năng chiến tranh còn tiếp tục, “nếu ta kịp thời chớp lấy

cơ hội thuận lợi này để đẩy mạnh các mặt tấn công quân sự, chính trị, ngoại giao thì có thể buộc địch phải chịu ký kết nghiêm chỉnh Nếu địch còn ngoan

cố tiếp tục chiến tranh thì thế của chúng sẽ suy yếu hơn trước, ta càng có điều kiện đẩy mạnh cuộc kháng chiến tiến lên giành thắng lợi mới”

Trang 4

Mỹ đã ngoan cố và lắt léo đánh lừa dư luận Mỹ không muốn chấp nhận việc ký hiệp định bất lợi cho Mỹ và nguỵ nên chủ trương đánh đòn quân sự để ép ta phải nhượng bộ chúng Chúng cho rằng “đe dọa phải…kết hợp với hành động thực thì mới có hiệu quả thuyết phục đối phương” Johnson năm 1965 đã dùng biện pháp leo thang đánh phá ra miền Bắc để thực hiện ý đồ chiến lược ở miền Nam; còn Nixon năm 1972 dùng biện pháp leo thang để gây một sức ép cuối cùng theo cách tính toán “được ăn cả, ngã

về không”

Đêm 18/12/1972 cuộc tập kích chiến lược của chúng bắt đầu Mỹ hy vọng đây là biện pháp có tính quyết định chứ không còn là biện pháp hỗ trợ như trước nữa, để bắt đối phương phải khuất phục và chấm dứt chiến tranh theo ý muốn của Mỹ Nhưng điều bất ngờ là hành động điên cuồng của Mỹ chỉ càng làm cho loài người tiến bộ, kể cả nhân dân tiến bộ Mỹ công phẫn, lên án và đòi chính quyền Nixon phải chấm dứt chiến tranh Hành động điên cuồng của Mỹ phản kích ở miền Nam và đánh phá miền Bắc càng làm cho người Việt Nam thêm căm thù và quyết tâm đánh chúng

Chúng ta đã kết thúc năm 1972 bằng chiến thắng liên tiếp trong 12 ngày đêm (từ 18 đến 29-12-1972) bắn rơi 81 máy bay không lực Huê Kỳ, trong đó có 34 chiếc B52 và 5 chiếc F111 Mỹ đã kết thúc năm 1972 bằng tuyên bố sáng sớm ngày 30-12-1972 ngừng ném bom miền Bắc không điều kiện và nối lại đàm phán ở Paris Mỹ muốn giáng cho đối phương một đòn quân sự mạnh thì lại gặp một trận “Điện Biên Phủ trên không”; muốn tỏ rõ sức mạnh không thể tưởng tượng nổi của không quân chiến lược Hoa Kỳ thì những biểu tượng của sức mạnh răn đe bị mất uy thế Tổng thống Nixon vừa tái cử đã bị một trận “phản đòn”, muốn đàm phán trên thế mạnh đã phải trở lại Paris khẩn cấp và chấp thuận tất cả những gì đã chối từ kể cả việc ký kết một hiệp định kết thúc chiến tranh

Như vậy năm 1972 đã đi vào lịch sử với hàng loạt chiến công có ý nghĩa định đoạt cho quá trình đi đến kết thúc cuộc kháng chiến Và vì thế nó

có vị trí đặc biệt đối với toàn bộ cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước

Mấy đánh giá về năm 1972

Cuộc kháng chiến 21 năm có thể chia ra nhiều bước phát triển, trong

đó giai đoạn 1969-1972 là giai đoạn có tính chất bản lề Cuộc chiến trong giai đoạn này đầy những bất ngờ Năm 1972 là năm “đảo ngược thế cờ”, năm bản lề của giai đoạn bản lề Sau những cố gắng giành lại thế trận và xây dựng, củng cố, tích luỹ lực lượng, đến năm 1972 ta đã chớp lấy thời cơ liên tục tiến công, liên tiếp giành thắng lợi trên các mặt trận, cuối cùng đánh gục

ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, giành thắng lợi quyết định cho cuộc kháng chiến Năm 1972 là năm chín muồi của quá trình phát triển của cả giai đoạn 1969-1972 Có thể nêu lên những vấn đề chính:

Trang 5

1 Thành công lớn của ta năm 1972 là việc nắm bắt tình hình, sử dụng thời cơ đã đạt trình độ nghệ thuật cao Mỹ không bất ngờ như năm 1968 khi biết ta sẽ lợi dụng thời điểm chính trị năm 1972, nhưng chúng hoàn toàn bị động với những diễn biến của chiến tranh mà ta tạo ra trong năm này, hoặc không lường hết được hậu quả của những bước phiêu lưu của chúng khi theo đuổi chiến tranh Chính sách ngoại giao nước lớn của Mỹ tuy có thành công bước đầu trong quan hệ với Trung Quốc, Liên Xô, nhưng sức chi phối của

nó đến các nước nhỏ là rất ít Vì thế Mỹ không thể buộc đối phương rơi vào tình thế hoàn toàn bị động trong chiến tranh Ngược lại ta tận dụng được những điều kiện khách quan còn thuận lợi để kiên trì theo đuổi đường lối độc lập tự chủ từ đầu đến cuối Thời điểm năm 1972 đối với ta có “éo le” và ngặt nghèo, nhưng không còn ở đỉnh cao của những khó khăn phức tạp như

3 năm 1969-1971 Trong khi thời điểm này đối với nước Mỹ rất nhạy cảm chính trị và ta đã khai thác thành công tình hình chính trị trong ngoài nước,

Mỹ phục vụ cho ý đồ chiến tranh cách mạng của mình

2.Từ năm 1969 địch tiến hành Việt Nam hoá chiến tranh khi chúng đã tạm thời giành được một số kết quả trong biện pháp bình định ở miền Nam, năm 1970 mở rộng chiến tranh sang Campuchia, đẩy mạnh chiến tranh đặc biệt ở Lào Chúng muốn củng cố kết quả ấy và đẩy mạnh hơn nữa Việt Nam hoá chiến tranh, tạo cho nguỵ Sài Gòn thêm những “đồng minh” và thử thách chúng ở các chiến trường 3 nước Đông Dương Nhưng điều ấy cũng

có nghĩa là từng bước chúng đẩy nhân dân các nước Đông Dương vào cùng một hoàn cảnh, về cùng một phía trong trận tuyến chính trị ở đây, sự phát triển mới của liên minh đặc biệt Việt Nam-Lào-Campuchia là bước phát triển tất yếu khi Mỹ trở thành kẻ thù chung Như vậy, trận tuyến chống Mỹ ở miền Nam cũng như trên cả 3 nước Đông Dương, đến năm 1972 cùng có thêm những vận hội mới để cùng phát triển

3.Những năm 1969-1971 ta đã có nhiều cố gắng nỗ lực vượt ra khỏi những khó khăn phức tạp của tình hình, từng bước giành thắng lợi, xây dựng củng cố thế và lực Nhờ vậy đến xuân hè 1972, ta đã đủ sức mở cuộc tiến công chiến lược đánh vào các căn cứ sào huyệt địch, khi chúng đã có nhiều kinh nghiệm trong phản công và phòng thủ, nhưng chúng lại rất chủ quan với thắng lợi tạm thời của chúng và tình hình còn nhiều khó khăn của ta Quả đấm chiến lược của quân giải phóng miền Nam trên 3 chiến trường lựa chọn ấy, vừa phá vỡ tuyến phòng thủ vòng ngoài của địch và tạo lại áp lực đối với các chiến trường vòng trong, vừa tạo ra thế mới cho các hoạt động đấu tranh khác trên chiến trường miền Nam, trực tiếp là trận tuyến chống phá bình định đã nhanh chóng vượt qua bước một, chuyển sang bước hai

4 Những năm 1969-1971 ta cũng đã có sự phối hợp chặt chẽ giữa đấu tranh quân sự, chính trị, ngoại giao, chỉ trên cơ sở đó đến năm 1972, sự phối

Trang 6

hợp này mới đạt đến đỉnh cao, khi nắm bắt lấy thời điểm chính trị của nước

Mỹ trước cuộc bầu cử tổng thống Đó là thời điểm mà nước Mỹ không thể

đủ kiên trì với bất kỳ một sự ngoan cố nào Giải pháp chính trị cho cuộc chiến tranh Việt Nam, thôi thúc các giới hiếu chiến Mỹ phải nhanh chóng có những quyết định Những đòn tấn công quân sự, chính trị, ngoại giao của ta trong năm 1972 cuối cùng đã đánh gục ý chí xâm lược của Mỹ Sự chuyển biến nhanh của tình hình thuận lợi ấy của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, khác hẳn với những khó khăn tưởng như không vượt qua nổi những năm 1969-1970 Trên trận tuyến chống phá bình định, dù còn nhiều khó khăn phức tạp đòi hỏi phải có nỗ lực lớn, song từ cuối năm 1971 sang đầu năm 1972 ta đã vượt ra khỏi thời kỳ khó khăn nhất để trỗi dậy theo phương thức mới Có thể nói trên lĩnh vực này, ta đã có nhiều cố gắng, kiên trì để nắm bắt tình hình, nhận thức rõ hơn sai lầm, khuyết điểm của mình, vì thế ta hoàn toàn có khả năng đưa trận tuyến chống phá bình định lên bước phát triển mới, đáp ứng được yêu cầu của cuộc kháng chiến trong thời điểm quyết định năm 1972

Những vấn đề trên đây đan xen vào nhau, tạo ra những kết quả tác động ảnh hưởng lẫn nhau Chính sự tác động lẫn nhau ấy đã làm cho năm

1972 có tính chất đặc thù và những thắng lợi của năm 1972 có ý nghĩa chiến lược đánh bại âm mưu thủ đoạn của Mỹ, kết thúc chiến tranh

Cuộc kháng chiến chống Mỹ có nhiều mốc lịch sử đánh dấu những bước phát triển tuần tự xen kẽ với những bước phát triển nhảy vọt Năm

1972 là kết quả phát triển của giai đoạn 1969-1972, giai đoạn của những thử thách lớn và mở ra giai đoạn cuối cùng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ còn phải giải quyết nhiều vấn đề không ít khó khăn Song một khi đã “đánh cho Mỹ cút”, mà năm 1972 có góp phần trực tiếp quyết định, thì việc “đánh cho nguỵ nhào” cũng không còn là một bài toán khó nữa

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.Ban chỉ đạo tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị, Tổng kết kháng chiến chống Mỹ cứu nước-Thắng lợi và bài học NXB Chính trị Quốc gia, H.1995

2.Ban tổng kết chiến tranh B2, Quá trình cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ và quy luật hoạt động của Mỹ nguỵ trên chiến trường B2 (Dự thảo) Phòng tổng kết địch Lưu hành nội bộ 1984

3 Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam (1954-1975) , tập II, Viện nghiên cứu chủ nghĩa Mác Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, NXB Chính trị Quốc gia H.1995

4.Quân giải phóng miền Nam, Báo cáo gửi Bộ tình hình tháng 1/1972

5 Quân giải phóng miền Nam, Báo cáo tình hình địch Xuân hè 1972 (từ tháng 3-6/1972)

Trang 7

6 Quân giải phóng miền Nam, So sánh địch-ta trên các chiến trường Đông Dương (cuối tháng 2/1972)

7 Quân giải phóng miền Nam, Số liệu năm 1973 của chiến trường B2

8 Quân giải phóng miền Nam, Tổng kết mấy bài học kinh nghiệm trong xây dựng các lực lượng vũ trang địa phương năm 1972

9 Quân ủy Trung ương, điện chỉ thị tháng 6/1973 gửi Quân ủy miền…

10 Quân ủy Trung ương, điện số 425 ngày 8/6/1972: Văn gửi anh Mười Khang, Tư Chi, Bảy Cường…

11 Thành ủy Sài Gòn –Gia Định, thông báo tình hình từ 7/1972 đến 11/1972 của Sài Gòn- Gia Định

12.Tình trạng dân, ấp tháng 9/1972 (theo H.L.A), Sài Gòn 1972

13 Trung ương Cục miền Nam, Báo cáo trong hội nghị TWC mở rộng đầu năm 1972: Phát huy thắng lợi to lớn của xuân hè, tranh thủ thời cơ

nỗ lực cao độ làm chuyển biến cục diện…

14 Trung ương Cục miền Nam, Chỉ thị 16/CT72 ngày 30-10-1972: Tăng cường các mặt tấn công…sẵn sàng ứng phó với khả năng chiến tranh còn tiếp tục

15 Trung ương Cục miền Nam, Chỉ thị số 01/CT72 ngày 3/1972: Thời cơ đã chín muồi…

16 Trung ương Cục miền Nam, Chỉ thị số 09/CT72 ngày 16-10-1972: Dưới khẩu hiệu hoà bình, độc lập, dân chủ, cơm áo, hoà hợp dân tộc, kiên quyết đưa phong trào cách mạng tiến lên…

Ngày đăng: 10/03/2015, 12:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w