1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

KẾT QUẢ BAN ĐẦU ĐIỀU TRỊ VIÊM GÂN MẠN TÍNH BẰNG VI CẮT LỌC BẰNG SÓNG RADIO

13 664 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Kết quả ban đầu điều trị viêm gân mạn tính bằng vi cắt lọc bằng sóng radio
Tác giả Bui Hong Thien Khanh, Tang Ha Nam Anh, Le Tuong Vien, Duong Đinh Triet
Trường học University Medical Center
Chuyên ngành Y học
Thể loại bài báo
Năm xuất bản 2009
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 133,83 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

KẾT QUẢ BAN ĐẦU ĐIỀU TRỊ VIÊM GÂN MẠN TÍNH BẰNG VI CẮT LỌC, SÓNG RADIO

Trang 1

KẾT QUẢ BAN ĐẦU ĐIỀU TRỊ VIÊM GÂN MẠN TÍNH BẰNG VI

CẮT LỌC BẰNG SÓNG RADIO

TÓM TẮT

Mục tiêu: Viêm gân mạn tính là bệnh lý thường gặp và điều trị nội khoa khó

khăn Nghiên cứu này nhằm đánh giá tính hiệu quả của phương pháp vi cắt lọc bằng sóng RF

Phương pháp: Từ 11-2007 đến 10-2008 chúng tôi dùng phương pháp này điều

trị cho 19 trường hợp bị viêm gân mạn tính

Kết quả: Qua 18 trường hợp theo dõi được, 94% cho kết quả giảm đau và

phục hồi chức năng tốt

Kết luận: Đây là phương pháp điều trị chọn lựa cho bệnh nhân viêm gân mạn

tính không đáp ứng với điều trị bảo tồn

ABSTRACT

MICRODEBRIDEMENT FOR TREATING CHRONIC TENDINOSIS

Trang 2

Bui Hong Thien Khanh, Tang Ha Nam Anh , Le Tuong Vien, Duong Đinh Triet

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 13 – Supplement of No 1 - 2009: 227 – 232

Purpose: Tendinosis is a common orthropaedic condiction that is often

refractory to conservative treatments The purpose of this study is to evaluate the effectiveness of using RF-based microdebridement for treating chronic tendinosis

Methods: From November 2007 to October 2008, there are 18 cases were

treated with RF-based micodebrider device (TOPAZ® ) at Univercity Medical Center

Results: 18 patients were followed up, 94% had marked pain relief and limb

function improvement

Conclusions: The RF –based microtenotomy procedure are safe and effective

through short term follow up, this is a valuable option method for treating tendinosis who have failed conservative therapy

Level of Evidence: Level IV, Prospective, nonrandomied consecutive case

series

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trang 3

Viêm gân mạn tính (Tendinosis) là một bệnh lý thường gặp trong chấn thương chỉnh hình Tổn thương này là kết quả của những chấn thương vi thể, liên quan đến các động tác lập đi lập lại nhiều lần Vị trí tổn thương thường gặp ở nơi các gân bám vào lồi cầu trong hay ngoài của khuỷu, gân bánh chè, gân gót và các gân của chóp xoay Trên vi thể, viêm gân mạn tính không có sự hiện diện của

tế bào viêm, các sợi Collagen sắp xếp không có đinh hướng và bị phì đại, các

bó sợi gân bị thiếu máu nuôi dưỡng dẫn đến việc tu chỉnh và tái tạo mô gân mới bị trở ngại Do đó mục tiêu điều trị viêm gân mạn tính là tái lập tuần hoàn đến mô gân bị tổn thương[1,4]

Hiện nay các phương pháp điều trị kinh điển như nghỉ ngơi, các bài tập vật lý trị liệu như căn giãn liệu pháp, nẹp bất động, dụng cụ chỉnh hình cũng điều hướng vào điều trị triệu chứng chứ không điều trị nguyên nhân gây bệnh

TOPAZ NHÓMCHỨNG

Trang 5

Hình 1: Hình trên mô học ở gân gót khi kích thích với sóng Radio cho thấy có

đáp ứng viêm vào ngày thứ 9 (A), hình ảnh phì đại tế bào và mạch máu tân tạo vào ngày thứ 28 (C), hình ảnh mô gân bình thường sau 90 ngày (E) Ở nhóm chứng cho thấy mô gân bình thường, không có đáp ứng ở mọi thời điểm (B, D, F)

Dụng cụ đốt lưỡng cực được dùng trong nghiên cứu này có cơ chế tạo các ion dương (cation) và các electron tự do từ năng lượng của sóng radio (RF) tác động trong môi trường dung dịch điện giải (nước muối sinh lý dùng trong nội soi khớp) Các electron này có khả năng phá vỡ các liên kết hóa học, giúp cắt hoặc làm tan mô liên kết Do đó cơ chế chính của sóng RF là tác động hóa học chứ không phải là thông qua năng lượng trực tiếp của sóng RF Đầu của

Trang 6

dụng cụ TOPAZ có đường kính 0,8 mm, Arthrocare Timer giúp mỗi lần phát sóng chỉ 0,5 giây, khi cắm đầu đốt sâu vào mô 4 mm thì sẽ vi cắt lọc được 2

mm3 mô Với diện tích đốt như thế đã được nghiên cứu tương đối là an toàn cho mô gân, không bị yếu thêm về mặt cơ học(4).

Sóng Radio kích thích lên mô gân có tác dụng kích thích mạch máu tân tạo, biểu hiện bằng những thay đổi đáp ứng trên mô học cũng như sự tăng nồng độ các marker sinh học như yếu tố tăng trưởng nguyên bào sợi (fibroblastic growth factor), yếu tố tăng trưởng nội mô mạch máu (vascular endothelial growth factor), α integrin.Chúng tôi thực hiện nghiên cứu này nhằm đánh giá khả năng kích thích của sóng radio đối với quá trình liền mô gân viêm mạn tính, biểu hiện là giảm đau và cải thiện chức năng chi trên lâm sàng, cũng như

sự an toàn cho bệnh nhân khi điều trị với dụng cụ này

PHƯƠNG PHÁP ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Phương pháp nghiên cứu:

case series (level IV)

Trang 7

Tiêu chuẩn chọn bệnh

Bệnh nhân từ 18 tuổi trở lên, bị viêm gân mạn tính kéo dài hơn 6 tháng và không đáp ứng với điều trị bảo tồn

Tiêu chuẩn loại trừ

Bệnh nhân mắc đái tháo đường, mang thai, có phẫu thuật ở nơi tổn thương trước đó

Dụng cụ: (Hình 2)

Hình 2: Hệ thống ATLAS (Arthrocare® ) (C),Đầu đốt TOPAZ XL.(A), Arthrocare Timer.(B)

Phương pháp phẫu thuật

Bộc lộ vùng gân tổn thương bằng đường mổ rạch da khoảng 3 cm (gân gót, gân duỗi cổ tay quay ngắn), riêng gân trên gai thì được kích thích qua nội soi ở mặt trên sau khi bộc lộ khoang dưới mỏm cùng Sau này chúng tôi kích thích gân duỗi cổ tay quay ngắn hoàn toàn qua nội soi

Trang 8

Khi kích thích gân qua đường mổ mở thì cần kết nối dây nước của dụng cụ TOPAZ với chai nước muối sinh lý NaCl 0,9%, chỉnh tốc độ chảy khoảng 1-2 giọt mỗi giây để tạo môi trường điện giải cho sự hoạt động của sóng RF

Đầu đốt của dụng cụ TOPAZ XL đặt vuông góc với bề mặt của gân cần kích thích, thời gian kích thích được cài đặt trên Arthrocare Timer là 0,5 giây Khoảng cách giữa các điểm đốt là 5-8 mm Tùy vào chu vi gân bị tổn thương, trung bình vùng gân tổn thương được đốt từ 15-20 điểm

Tập phục hồi chức năng: Bắt đầu tập ngay khi bớt đau, bắt đầu với các bài tập thụ động, chủ động có trợ giúp nhằm lấy lại biên độ hoạt động khớp Sang tuần thứ 3 bắt đầu tập các bài tập chủ động có đề kháng

Hình 3: Kích thích nơi bám gân gót thông qua đường rạch da bên ngoài

Hình 4: Viêm mỏm trên lồi cầu ngoài sau khi được cắt lọc qua nội soi, tiến

hành kích gân duỗi cổ tay quay ngắn thông qua đường rạch da nhỏ bên ngoài

Hình 5: Viêm gân chóp xoay được kích thích bằng sóng RF hoàn toàn qua nội

soi

Đánh giá kết quả

Bệnh nhân được đánh giá mức độ đau theo thang điểm VAS (visual analog scale) trước và các thời điểm lúc thăm khám sau mổ Kết quả về chức năng

Trang 9

khớp vai và khuỷu được đánh giá theo chỉ số DASH (Disability of Arm, Shoulder and Hand), khớp cổ chân đánh giá theo thang điểm AOFAS ( American Orthopedic Foot and Ankle Society)

Thời gian thực hiện

Từ 09-11-2007 đến 01-10-2008

KẾT QUẢ

Cỡ mẫu nghiên cứu

Chúng tôi điều trị và theo dõi được cho 18 bệnh nhân Trong đó có 9 trường hợp viêm mạn tính-rách bán phần gân trên gai, 2 trường hợp viêm nơi bám gân gót, 7 trường hợp viêm nơi bám gân duỗi cổ tay quay ngắn với 1 trường hợp bị

cả hai bên Thời gian theo dõi trung bình 10 tháng ( từ 8- 12 tháng), tuổi trung bình 48( 35-74) Nữ giới chiếm đa số 72% (13/18) Thời gian dùng thuốc giảm đau trước đó trung bình 11 tháng ( từ 6- 36 tháng)

Mức độ giảm đau: 15/18 bệnh nhân đạt hiệu quả giảm đau sau mổ 1 đến 2 tuần

và giảm dần từ từ sau đó, những bệnh nhân này không cần sử dụng thuốc giảm đau như trước Có một bệnh nhân than phiền cơn đau trở nên nặng hơn sau mổ viêm gân gót 1 tháng mặt dù ngay sau mổ có giảm đau Một trường hợp tình trạng đau không cải thiện sau 5 tháng theo dõi, bệnh nhân bị viêm mỏm trên lồi cầu ngoài hơn 3 năm, có chích corticoid trực tiếp vào gân nhiều lần, sức cơ

Trang 10

duỗi cổ tay rất yếu, tuy nhiên đến tháng thứ sáu thì mức độ đau giảm rõ rệt Một trường hợp viêm gân trên gai, bệnh nhân sau mổ tự ý đi đấp thuốc nam hổ trợ do còn đau, bệnh nhân không theo chương trình tập vật lý trị liệu sau mổ Trong 18 bệnh nhân theo dõi chỉ có 04 bệnh nhân hết đau hoàn toàn sau mổ ba tháng, 03 bệnh nhân hết đau hoàn toàn sau mổ sáu tháng Nhận thấy ba trường hợp này đều có thời gian mắc bệnh ngắn (6-9 tháng) hơn so với các trường hợp còn lại

Biểu đồ 1: Thang điểm đau trung bình của bệnh nhân, hiệu quả giảm đau rõ rệt

nhưng không hết hẳn và giảm rất chậm sau đó

Phục hồi chức năng

Khớp vai và khớp khuỷu

Thang điểm DASH có cải thiện từ sau mổ 1-2 tháng, và cải thiện dần Bệnh nhân đạt được tầm vận động tốt hơn trước mổ nhờ giảm đau, riêng sức cơ của vùng vai và khuỷu phục hồi không đáng kể sau ba tháng theo dõi, các trường hợp theo dõi dài hơn 3 tháng cho thấy sức cơ bắt đầu cải thiện dần

Trang 11

Gân gót

Có hai trường hợp mà bệnh nhân không hài lòng trong nhóm nghiên cứu Trường hợp thứ nhất bệnh nhân không đạt được hiệu giảm đau sau mổ ba tháng, chức năng cổ chân có lẽ từ đó mà không có sự cải thiện, chức năng trước

và sau mổ như nhau Tuy nhiên đến tháng thứ sáu bệnh nhân hết đau hoàn toàn,

có thể trở sinh hoạt bình thường Trường hợp thứ hai bệnh nhân giảm đau ở nơi bám gân gót hoàn toàn nhưng bệnh nhân lại bị viêm cân gan chân bên dưới, do

đó chức năng chi vẫn không cải thiện so với trước mổ

Biểu đồ 2: Thang điểm Dash cải thiện dần tương ứng với mức độ giảm đau

trên lâm sàng của bệnh nhân

Trang 12

BÀN LUẬN

Các bệnh nhân trong nhóm nghiên cứu đều đã không đáp ứng với điều trị nội khoa Sau khi được kích thích với sóng RF, hầu hết đều đạt hiệu quả giảm đau 94,4% (17/18 trường hợp) Từ đó chức năng chi cũng dần phục hồi, bệnh nhân hài lòng hơn Tuy nhiên bệnh nhân không giảm đau hoàn toàn sau ba tháng , phải đến sáu tháng mới thấy rõ đáp ứng với điều trị 11/18 trường hợp vẫn còn đau âm ỉ sau sáu tháng dù không phải dùng thuốc giảm đau (bệnh nhân chịu đựng được với mức đau này) So sánh với tác giả Tasto(4), bệnh nhân của ông giảm đau từ từ nhưng không hết đau hẳn sau mổ 12 tháng, tỷ lệ còn đau sau 3 tháng là 55% (11/22 bệnh nhân), hiệu quả giảm đau rõ rệt sau mổ ba tháng (p<0,01) So sánh với kỹ thuật cắt lọc điểm bám của gân, tác giả Goldberg(1) báo cáo thực hiện trên 34 bệnh nhân viêm mỏm trên lồi cầu ngoài có kết quả giảm đau đạt 73%, 24% vẫn còn đau dai dẳng sau 4 năm theo dõi, tác giả Rosenberg báo cáo 18/19 trường hợp giảm đau sau mổ 3-4 tháng Kỹ thuật cắt điểm bám gân mặt dù cho thấy tỷ lệ thành công cao nhưng nguy cơ bị yếu cơ vĩnh viễn, teo cơ, mất vững khớp Phương pháp kích thích gân bằng sóng RF

dễ thực hiện hơn mà gân lại không phá hủy về mặt giải phẫu đồng thời lại cho hiệu quả giảm đau tương đương

KẾT LUẬN

Trang 13

Kết quả ban đầu của việc ứng dụng sóng RF vào vi cắt lọc trong điều trị bệnh

lý viêm gân mạn tính đã cho thấy đây là dụng cụ an toàn, có hiệu quả Hiệu quả giảm đau rất nhanh trong tuần đầu sau mổ và giảm tiếp tục sau đó Chức năng chi từ đó cũng cải thiện Tuy nhiên cần thời gian nghiên cứu dài hơn với cỡ mẫu lớn hơn để có độ tin cậy cao Kỹ thuật tương đối đơn giản, tuy nhiên giá thành của dụng cụ còn khá đắt Bệnh nhân trong lô nghiên cứu cần được theo dõi lâu hơn để đưa ra kết luận về hiệu quả lâu dài của sóng RF

Ngày đăng: 01/04/2013, 16:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w