1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Tài liệu ôn thi tài chính tiền tệ lời giải tổng hợp

62 545 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 562 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

quy định tỷ lệ huy động vốn của ngân hàng thương mại so với vốn tự có, quy định việc phát hành trái phiếu, kỳ phiếu và quy định cả mức cho vay của ngân hàng thương mại đốivới khách hàng…

Trang 1

Câu 1: Nêu những tác động đến tài chính cá nhân trong 10 năm qua ?

Tài chính cá nhân là ứng dụng những nguyên tắc tài chính vào những quyết định về tiền bạc của một cá thể hoặc một gia đình Nó chỉ ra phương thức để những cá thể/ gia đình

đó hoạch định ngân sách, tiết kiệm, kiếm tiền và tiêu tiền theo thời gian, có tính toán đến những rủi ro về tài chính và những kế hoạch trong cuộc sống tương lai Nói nôm na là những hoạt động có liên quan đến tiền của bạn để giúp bạn đạt được các mục tiêu mong ước tương lai

Những yếu tố tác động đến tài chính cá nhân:

- Tình hình tài chính và nhu cầu của bản thân, gia đình

- tổng thu nhập thực tế, nghĩa là khoản có được sau khi trừ đi các khoản thuế, bảo hiểm

xã hội

- mức chi cụ thể của mỗi tháng Bạn nên phân thành hai loại chi phí: cố định và không cố

định Khoản đầu là mức phải chi ra đều đặn hàng tháng như tiền nhà, hóa đơn điện nước, tiền học cho con hoặc tiền bảo hiểm Khoản không thường xuyên thường thay đổi như tiền mừng đám cưới, đi xem phim Với khoản chi này, bạn nên lấy trung bình cộng của

Hạ bậc tín nhiệm quốc gia ảnh hưởng đến tài chính cá nhân như thế nào?

Tất cả những nhà chiến lược trên toàn thế giới đang quan tâm đến vấn đề trần nợ của

Mỹ và khả năng quốc gia này sẽ sớm bị hạ định mức tín nhiệm Cũng không riêng gì Mỹ, rất nhiều quốc gia khác từ châu Âu đến châu Á cũng đang gặp những rắc rối liên quan đến nợ công và không ít trong số này đã bị Sandard and Poor's, Moody's hay Fitch hạ mức tín nhiệm quốc gia của mình.

Tuy nhiên, nhiều người không nghĩ vấn đề nợ công và hạ mức tín nhiệm sẽ ảnh hưởng đến cá nhân mình, dưới đây là những lý do họ sẽ phải thay đổi quan điểm của mình.

Lãi vay

Khi một quốc gia bị hạ mức tín nhiệm, tất cả những người cho vay sẽ yêu cầu một lợi suất cao hơn cho khoản tiền mà mình bỏ ra - và điều này cũng có nghĩa là lãi suất thẻ tín dụng, vay thế chấp, vay tiêu dùng phải tăng lên.

Thị trường tiền tệ và tài khoản tiết kiệm

Cho dù lãi suất tiền gửi có tăng thì nó cũng không có nghĩa là bạn sẽ được nhận nhiều tiền hơn trong tài khoản tiền gửi của mình Ông McBride - chuyên viên phân tích cấp cao của Bankrate cho rằng: "Sự hạ mức tín nhiệm và lãi suất tiết kiệm tăng sẽ tạo ảnh hưởng xấu tới nền kinh tế và nhu cầu vay vốn chứ không phải kích thích nó phát triển" Ít nhu cầu vay vốn sẽ khiến đồng tiền của bạn có ít cơ hội nhận được lãi suất cao hơn.

Trang 2

Khi các ngân hàng không muốn tăng chi phí để có nguồn vốn của bạn thì các mức lãi

suất sẽ tiếp tục không tăng cho đến khi nhu cầu vay vốn tăng lên.

Danh mục đầu tư

Chắc chắn việc hạ mức tín nhiệm quốc gia sẽ gây ra những ảnh hưởng tiêu cực tới việc

đầu tư của bạn.

Đầu tiên, ngay lập tức sẽ có thể xuất hiện sự bán tháo đồng loạt cả cổ phiếu lẫn trái

phiếu trên thị trường Thêm vào đó, sự mất lòng tin sẽ làm gia tăng sự bất ổn của môi

trường kinh tế trong thời gian tiếp theo Theo David Joy, giám đốc chiến lược thị trường

của Ameriprise Financial cho rằng: "Lợi nhuận của các công ty sẽ không đạt kỳ vọng

trước đây, làm thị trường cổ phiếu trở nên kém hấp dẫn"

Trái phiếu của chính phủ và doanh nghiệp cũng lâm vào tình trạng tương tự Cũng vì

hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, khả năng chi trả nợ của các doanh nghiệp sẽ

giảm theo; những trái phiếu trong danh mục đầu tư của bạn hay của quỹ đầu tư mà bạn

tham gia cũng giảm theo.

Câu 2: Trình bày nguyên tắc bình thông nhau của thị trường chứng khoán và thị

trường tiền tệ? (cho ví dụ minh họa)

Thị trường tiền tệ và TTCK như 2 bình thông nhau trong sự luân chuyển vốn, lãi suất

ngân hàng tăng hoặc giảm sẽ ảnh hưởng đến giá CK giảm hoặc tăng, cũng như ảnh

hưởng đến dòng luân chuyển vốn: vốn được chuyển từ TTCK sang thị trường tiền tệ hoặc

ngược lại Thêm vào đó, thị trường CK phát triển còn tạo thêm những công cụ mới, tạo

điều kiện cho các NHTM có thể mở rộng khả năng tham gia các nghiệp vụ thị trường tiền

tệ Thúc đẩy thị trường tiền tệ phát triển, đồng thời hỗ trợ NHTW thực hiện tốt vai trò

điều tiết tiền tệ thông qua các công cụ CSTT, nhất là thông qua nghiệp vụ thị trường mở

Việc mua, bán CK của NHNN với các NHTM sẽ có tác dụng mở rộng hay thu hẹp khối

lượng tiền tệ trong lưu thông, qua đó mà khối lượng tiền tệ được điều tiết theo mục tiêu

đã định

TTCK đang thu hút sự quan tâm của các nhà đầu tư, tạo ra sự phát triển mạnh hơn của thị

trường tiền tệ liên NH và thị trường tín dụng ngắn hạn, góp phần làm giảm gánh nặng tín

dụng NH Lượng vốn từ hệ thống NH chuyển sang TTCK tăng đáng kể thông qua cho

vay các dự án, hợp đồng mua lại về CK, cầm cố, thể chấp CK…

Về hoạt động cấp tín dụng, các TCTD được phép cấp tín dụng cho các hoạt động liên

quan đến TTCK Tuy nghiên báo cáo của các TCTD cho thấy tổng dư nợ cho vay để đầu

tư và kinh doanh CK còn thấp, nhưng tiềm ẩn rủi ro gia tăng nợ xấu khi giá CK giảm

mạnh

(bỏ phần nói về bất động sản)

Lựa chọn kênh đầu tư hiệu quả và cân nhắc tỉ trọng đầu tư hợp lý tại mỗi thị trường vốn là câu hỏi không dễ dàng ngay cả với những nhà đầu tư nhiều kinh nghiệm, đặc biệt trong thời điểm hiện nay Nhà đầu tư cho dù giỏi về một lĩnh vực cũng cần nghiên cứu cả những thị trường vốn khác để nhạy bén trong việc đánh giá cơ hội mới & rút vốn kịp thời khi lợi nhuận giảm.

Thị trường chứng khoán trước đây được xem như một “bình nước” lớn thu hút từ nguồn thặng dư từ

Trang 3

doanh nghiệp, người dân và các quỹ đầu tư nước ngoài Mức đầy nhất của bình – hay thị trường vốn này là khi VnIndex đạt 1170 điểm đầu năm 2007 Nhà đầu tư nước ngoài với kinh nghiệm kinh doanh ở nhiều thị trường vốn, không bỏ lỡ cơ hội giành “miếng bánh ngon” là thị trường mới nổi Việt Nam,

mở ra cơ hội lớn để giải ngân nguồn vốn Tuy nhiên , lượng nước càng đầy thì áp lực càng lớn, và dòng tiền đã nhanh chóng đổ sang bất động sản khi các mã chứng khoán trở nên “đắt đỏ” so với giá trị nội tại của nó Có thể nói năm 2007 là năm của bất động sản Hầu như ai mua bất động sản từ đầu năm đã kiếm “1 vốn 4 lời” khiến cho Bất động sản cũng được xem là hình thức đầu tư “lướt

sóng”.Tuy nhiên, đầu năm 2008, với những chính sách thắt chặt tiền tệ & hạn chế đầu cơ bất động sản

đã khiến thị trường này ngay lập tức “nguội đi”, dừng lại nghe ngóng Thị trường chứng khoán đến giai đọan phải trả giá do tính liên thông kém với thị trường sản xuất, không tạo ra được giá trị thặng

dư có thật, không còn hấp dẫn với nhà đầu tư dài hạn Trong bối cảnh lạm phát tăng cao, đồng Đôla suy yếu, Kinh doanh vàng trở thành kênh đầu tư hấp dẫn Nhiều nhà nhập khẩu, đầu tư chuyển sang kinh doanh vàng vì đây là hình thức mang tính phòng ngừa rủi ro lạm phát cao.

Hậu quả của việc đầu tư theo “tâm lý đám đông” đã đưa thị trường tăng trưởng nhanh nhưng tính ổn định kém Vì vậy, nhà đầu tư phải biết “ngưỡng chịu rủi ro” của chính mình, nhạy bén với “sức khỏe”

& hình thái của các thị trường vốn, để “biết thắng – biết thua, biết chơi – biết dừng” đúng lúc.

Tham khảo

Chứng khoán - bất động sản: Bình thông nhau

Thị trường chứng khoán và thị trường bất động sản có quan hệ như bình thông nhau.

Hiện tượng này đã lặp đi lặp lại trong 7 năm từ khi xuất hiện thị trường chứng khoán

Việt Nam

Khi thị trường chứng khoán Việt Nam mới ra đời (năm 2000), chỉ số giá chứng khoán tại

Trung tâm Giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh (VN - Index) đã tăng “phi

mã” từ 100 điểm lên đỉnh điểm 572 điểm trong vòng có 6 tháng! Liền sau đó, bất động

sản bước vào cơn sốt giá thứ hai kéo dài đến cuối năm 2001, với giá tăng gấp 2 - 3 lần

Cần nhớ rằng giá bất động sản đã bị đóng băng suốt gần 6 năm liên tục trước đó (tính từ

cơn sốt thứ nhất vào năm 1993 - 1994).

Chứng khoán đi trước, nhà đất theo sau

Vào năm 2002, chỉ giá chứng khoán “down” gần như “rơi tự do”, có lúc chỉ còn hơn

130 điểm trong những năm sau đó Giá bất động sản cũng bị sốt lạnh kéo dài trong giai

đoạn này

Từ năm 2006, giá chứng khoán đã tăng từ 304 điểm trong phiên đầu tiên của năm 2006

lên 632 điểm sau đó 4 tháng Nhưng do giá vàng tăng cao (có lúc đã lên đến 1,5 triệu

đồng/chỉ), giá USD có dấu hiệu tăng cao (có lúc đã vượt qua mốc 17 ngàn VND/USD),

thị trường bất động sản nóng lên về giao dịch, ấm lên về giá, cộng với một số yếu tố khác

đã làm cho VN-Index “rơi” từ 632 điểm xuống dưới mốc 400 điểm vào 2.8.2006.

Sau đó, vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài đổ vào ào ạt (theo ước tính lên đến gần 2 tỉ

USD), đã làm cho VN-Index chỉ trong chưa đầy 4 tháng đã vọt lên đỉnh điểm mới, ở mức

750 vào cuối năm 2006 Đầu năm 2007, mặc dù có hàng trăm công ty lên sàn niêm yết,

nhưng do đầu tư gián tiếp nước ngoài tiếp tục tăng mạnh, kéo theo hàng trăm ngàn các

nhà đầu tư trong nước đổ vốn vào thị trường chứng khoán, đã làm cho VN-Index thẳng

Trang 4

tiến đạt đỉnh cao nhất 1.170 điểm vào 12.3.2007!

Thị trường bất động sản từ cuối năm 2006, bước sang năm 2007 bắt đầu nóng dần lên về giá theo chu kỳ nóng - lạnh (nóng lên một vài năm, lạnh trong vòng 5 - 6 năm), đã gặp đúng lúc những người thắng lớn ở thị trường chứng khoán chuyển tiền sang mua bất động sản Sau khi vượt qua đỉnh điểm 1.170 điểm, VN-Index bắt đầu sang dốc bên kia Một bộ phận của thị trường bất động sản (đất xây khách sạn, siêu thị, trung tâm thương mại, chung cư cao cấp) lên cơn sốt, bắt đầu từ thành phố Hồ Chí Minh - nơi có mặt bằng giá bất động sản thấp hơn Hà Nội - sau đó lan ra Hà Nội.

Sắp sốt bất động sản lần ba?

Khi giá chứng khoán xuống thấp, thì giá bất động sản nhanh chóng hạ xuống mạnh Bắt đầu từ cuối tháng 6, cung chứng khoán tăng mạnh bởi các đợt IPO của các đại gia, các đợt phát hành chứng khoán để huy động thêm vốn của các công ty đã niêm yết Để kiềm chế lạm phát có xu hướng tăng cao sau khi đưa một lượng tiền lớn hàng trăm ngàn tỉ đồng để mua 7 tỉ USD, Ngân hàng Nhà nước thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ nên VN-Index đã giảm mạnh, những ngày gần đây đã xuyên thủng mốc 900.

Nhưng khi VN-Index xuống quá sâu, giao dịch chứng khoán suy yếu đã làm cho người

ta nghĩ ngay đến thị trường bất động sản Bởi các kênh sinh lợi khác đều kém khả quan hơn, như giá vàng lên xuống phụ thuộc vào thị trường thế giới, giá USD khó mà tăng cao.

Trong khi đó, nhu cầu nhà đất tăng nhanh do dân số mỗi năm vẫn tăng trên 1 triệu người… Nhu cầu thành lập các điểm giao dịch của doanh nghiệp, phát triển hệ thống bán lẻ sản phẩm cũng như dịch vụ, cần thêm nhiều khách sạn cao cấp, văn phòng cho thuê theo xu hướng phát triển du lịch và kinh doanh đang hứa hẹn một thị trường địa ốc

ấm áp hơn trong những tháng tới.

Nhu cầu tăng cao, cộng hưởng với một lượng tiền lớn chuyển từ thị trường chứng khoán sang khi giá chứng khoán xuống, có thể sẽ làm cho giá bất động sản ấm nóng trở lại và

có thể xuất hiện cơn sốt bất động sản thứ ba.

ví dụ:

Ngày 3/8/2011, Ngân hàng Nhà nước chính thức tổ chức hội nghị bàn giao việc điều hành công tác ngân hàng và chúc mừng Thống đốc Ngân hàng Nhà nước cũ và mới, sau khi được Quốc hội khóa 13 bầu và phê chuẩn các chức danh lãnh đạo mới

Một sự trùng hợp, ngay sau khi tân Thống đốc tiếp nhận việc điều hành, thị trường vàng

và ngoại tệ có những biến động mới

Trên thị trường thế giới, những biến động mạnh của thị trường chứng khoán, giá vàng, giá dầu… thu hút sự chú ý của giới đầu tư và có những tác động nhất định đối với thị trường trong nước Riêng với giá vàng, tác động theo nguyên lý “bình thông đáy” được đặc biệt chú ý

Ngày 4/8, tại New York, giá vàng đã thiết lập một kỷ lục mới khi lên tới mức 1.683,3 USD/oz trên thị trường giao ngay Ngày 5/8, thị trường vàng trong nước lập tức phản ánhcơn sốt với những khác biệt so với chuỗi giao dịch suốt thời gian qua

Trang 5

41,5 rồi tiến tới gần 42 triệu đồng/lượng là các đỉnh cao mới của giá vàng trong nước Và sau hơn hai tháng qua, lần đầu tiên giá vàng trong nước vượt lên cao hơn giá thế giới, ghi nhận chênh lệch có từ 200.000 - 250.000 đồng/lượng.

Phía sau đó là phản ứng của người dân Ngày 5 và 6/8, các phương tiện truyền thông liên tục phản ánh dòng người xếp hàng mua vàng, dù mức giá cao đi cùng với rủi ro, hay chấpnhận cả mức chênh lệch lớn so với giá vàng thế giới quy đổi

Người dân có quyền mua, cất giữ vàng Trong những tình huống nhất định, đó không chỉ

là hoạt động đầu tư và đầu cơ, mà còn là một lựa chọn để trú ẩn trước lạm phát cao, bất

ổn kinh tế hoặc để bảo vệ tài sản trước lo ngại có rủi ro…

Thời điểm này, trước biến động của thị trường thế giới, đặc biệt là sự chao đảo của thị trường chứng khoán Phố Wall và tại châu Á những phiên vừa qua; phản ứng của hai quốcgia lớn là Trung Quốc và Nhật Bản với lời kêu gọi dự phòng về khả năng một cơn bão tàichính mới; rồi hãng định mức tín nhiệm Standard&Poor’s hạ xếp hạng tín nhiệm của Mỹ…, dòng người xếp hàng mua vàng trong nước có thể xem là một phản ứng ít nhiều

có tính liên kết

Trước dòng chảy đó, không thừa khi đặt ra tình huống xấu: liệu có hiện tượng người dân rút tiền ở ngân hàng để chuyển vào vàng hay không? Chí ít, nguồn vốn này cũng đang chảy vào vàng, thay vì vào sản xuất kinh doanh, hoặc gián tiếp là vào kênh tiền gửi ngân hàng

Nếu hiện tượng trên tiếp tục thể hiện, các dòng vốn sẽ có sự xáo trộn và có thể dẫn đến những dịch chuyển bất lợi Trong khi đó, ổn định và quản lý tốt thị trường vàng là một trong những nhiệm vụ của Ngân hàng Nhà nước, mà hiện nay sự chờ đợi cụ thể nhất là nghị định quản lý kinh doanh vàng được ban hành, dù đã qua hai mươi lần dự thảo Đây cũng là một thử thách đầu tiên đối với tân Thống đốc

Câu 3: Những nhân tố nào ảnh hưởng đến khả năng tạo tiền qua hệ thống NHTM ? Chức năng tạo tiền: Tạo tiền là một chức năng quan trọng, phản ánh rõ bản chất của

ngân NHTM Với mục tiêu là tìm kiếm lợi nhuận như là một yêu cầu chính cho sự tồn tại

và phát triển của mình, các NHTM với nghiệp vụ kinh doanh mang tính đặc thù của mình

đã vô hình chung thực hiện chức năng tạo tiền cho nền kinh tế Chức năng tạo tiền được thực thi trên cơ sở hai chức năng khác của NHTM là chức năng tín dụng và chức năng thanh toán Thông qua chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng sử dụng số vốn huy động được để cho vay, số tiền cho vay ra lại được khách hàng sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ trong khi số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng vẫn được coi là một bộ phận của tiền giao dịch, được họ sử dụng để mua hàng hóa, thanh toándịch vụ… Với chức năng này, hệ thống NHTM đã làm tăng tổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trả của xã hội

Các nhân tố ảnh hưởng được chia thành nhân tố khách quan và nhân tố chủ quan

với nhân tố khách quan có những nhân tố sau ảnh hưởng:

- Hành lang pháp lý: Có ảnh hưởng lớn đến nghiệp vụ huy động vốn của ngân hàng

thương mại như luật các tổ chức tín dụng, luật ngân hàng nhà nước… Những luật này

Trang 6

quy định tỷ lệ huy động vốn của ngân hàng thương mại so với vốn tự có, quy định việc phát hành trái phiếu, kỳ phiếu và quy định cả mức cho vay của ngân hàng thương mại đốivới khách hàng… Sự can thiệp của ngân hàng nhà nước khi thực hiện mục tiêu của chính sách tiền tệ cũng ảnh hưởng tới việc huy động vốn, vì khi thực hiện chính sách tiền tệ nớilỏng sẽ mang lại thuận lợi cho ngân hàng thương mại trong việc huy động vốn vay từ ngân hàng nhà nước Đồng thời, nó còn có tác dụng làm giảm lãi suất trên thị trường tiền

tệ Ngược lại, thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt sẽ khó khăn hơn trong việc huy động vốn vay từ ngân hàng nhà nước.Chính sách đầu tư của Nhà nước hợp hý hay không hợp

lý cũng ảnh hưởng đến chính sách huy động vốn của Ngân hàng Để khuyến khích sản xuất, đầu tư, Nhà nước có chính sách bảo hộ cho hàng hoá sản xuất, chính sách trợ giá… tạo điều kiện cho sản xuất kinh doanh phát triển và có lãi Các doanh nghiệp và người laođộng có tích luỹ là nền tảng để Ngân hàng huy động vốn được nhiều hơn

- Sự tăng trưởng của nền kinh tế: Trong thời kỳ kinh tế tăng trưởng, doanh nghiệp và

cá nhân có thu nhập khá, tích luỹ được nhiều nên các khoản tiền ký thác thường tăng nhanh để đáp ứng các giao dịch kinh tế Mặt khác, nền kinh tế phát triển sẽ có tác động ngược lại, nhiều doanh nghiệp mới được thành lập, giao dịch kinh tế tăng hơn hình thành một bộ phận tích luỹ, tạo môi trường tiềm tàng để ngân hàng thương mại thu hút vốn.Chu

kỳ kinh tế (phục hồi – Tăng trưởng – Bão hòa – Suy thoái) Ngân hàng thương mại phải tìm biện pháp huy động sao cho có hiệu quả, vừa thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển,vừa đem lại lợi nhuận cho Ngân hàng Ngược lại, khi nền kinh tế suy thoái, sản xuất bị đình trệ, môi trường đầu tư của Ngân hàng sẽ bị thu hẹp, lợi nhuận của Ngân hàng giảm, quá trình huy động vốn sẽ gặp nhiều khó khăn Hơn thế nữa, lạm phát làm cho đồng tiền mất giá, người dân sẽ không gửi tiền vào Ngân hàng, mà dùng tiền để mua hàng hoá có giá trị để cất trữ cũng ảnh hưởng đến việc huy động vốn của Ngân hàng

Bên cạnh đó chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa quốc gia cũng ảnh hưởng tới việc tạo vốn của ngân hàng Nếu mở rộng tiền tệ thì sẽ huy động vốn dễ, nếu thắt chặt tiền tệ

sẽ huy động vốn khó Khi chính sách tài khóa thu hẹp cũng như tăng thuế, giảm chi tiêu chính phủ cũng dẫn tới tăng thất nghiệp nên khó huy động vốn Mặt khác lãi suất giảm sẽkhông hấp dẫn được nguồn tiết kiệm vì người có tiền sẽ chỉ quan tâm tới lãi suất dương, vậy nên không ai muốn gửi tiền tiết kiệm Tỷ giá hối đoái cũng ảnh hưởng tới việc tạo vốn của ngân hàng Khi đồng việt nam mất giá dân chúng không muốn giữ đồng nội tệ

mà chuyển sang cất giữ đồng ngoại tệ và vàng, vì vậy huy động vốn nội tệ trong dân cư

sẽ giảm

- Môi trường – xã hội: Đời sống, thu nhập của người dân là yếu tố trực tiếp quyết định

đến lượng tiền gửi vào Ngân hàng Thật vậy, thu nhập của ngưòi lao động càng cao thì nguồn vốn động được vào Ngân hàng càng lớn Bởi vì, người dân có thu nhập cao ngoài việc thoả mãn được yêu cầu của đời sống, họ còn giành một phần để tích luỹ Số tiền tích luỹ này sẽ dùng để thoả mãn nhu cầu cao hơn trong tương lai.Tâm lý và thói quen tiêu dùng của người dân cũng ảnh hưởng đến việc huy động vốn của Ngân hàng ở các nước phát triển, nhu cầu thanh toán không dùng tiền mặt qua Ngân hàng rất phát triển Các nước chậm phát triển, tâm lý ưa dùng tiền mặt và tích luỹ tiền không gửi vào Ngân hàng

là khá phổ biến Tâm lý và thói quen tiêu dùng còn rất khác nhau giữa các dân tộc và các vùng, miền ở nước ta Vì vậy, phát triển nhanh các hình thức không dùng tiền mặt có ý nghĩa quan trọng trong việc huy động vốn của Ngân hàng

Trang 7

- Công nghệ: Các ngân hàng ứng dụng công nghệ cao thì càng tăng được khả năng huy

động vốn vì càng tăng khả năng tiếp cận với khách hàng, giảm được thời gian vv…Hiện nay các ngân hàng thường mại ở nước ta đã đưa máy rút tiền tự động ATM vào thị trường để khách hàng sử dụng, khách hàng có thể rút tiền ở mọi lúc, mọi nơi

Nhân tố chủ quan

- Chính sách lãi suất: Là một nhân tố quan trọng, có tác động mạnh đến việc huy động

vốn của Ngân hàng thương mại; đặc biệt là đối với các khoản vốn mà người gửi hoặc người dân đầu tư Ngân hàng với mục đích hưởng lãi Các Ngân hàng cạnh tranh không chỉ về lãi suất huy động với các Ngân hàng khác mà cả với thị trường tiền tệ Do đó, chỉ một sự khác biệt nhỏ về lãi suất có thể đẩy dòng vốn nhàn rỗi trong xã hội đầu tư theo những chiều hướng khác nhau Đó cũng là lý do, động lực để các nhà đầu tư hoặc người gửi tiền chuyển vốn từ Ngân hàng này sang Ngân hàng khác Vì vậy, xác định một lãi suất hợp lý, có tính cạch tranh là một vấn đề vô cùng quan trọng, phải được nghiên cứu, cân nhắc, tính toán tỷ mỉ và toàn diện Tuy nhiên, Ngân hàng phải tính toán sao cho lãi suất vừa có tính cạnh tranh, vừa phải đảm bảo được chi phí đầu vào thấp nhất và kinh doanh có lãi

- Chiến lược kinh doanh của Ngân hàng: Cũng ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến

công tác huy động vốn Một Ngân hàng có hệ thống chiến lược kinh doanh đúng đắn sẽ đạt được các mục tiêu đề ra về chi phí cũng như về lợi nhuận Đó là chiến lược về sản phẩm dịch vụ Chiến lược giá, lãi suất, chiến lược phân phối, chiếm lược phát triển nhân

sự, chiến lược khuyếch chương giao tiếp… có tác động mạnh đến việc huy động vốn Hệ thống chiến lược kinh doanh của Ngân hàng là thực tiễn sinh động để đánh giá năng lực

và trình độ quản lý hoạt động kinh doanh của Ngân hàng, tạo được niềm tin đối với khách hàng Do đó, thu hút ngày càng nhiều khách hàng đến với Ngân hàng

- Uy tín và vị thế của Ngân hàng: Thông thường, khách hàng lựa chọn những Ngân

hàng có uy tín và vị thế trên thị trường để giao dịch, vay mượn, thanh toán và bảo lãnh…

Uy tín và vị thế của Ngân hàng có ý nghĩa quan trọng trong việc lựa chọn của khách hàng, thể hiện cụ thể ở năng lực tài chính, tình hình hoạt động kinh doanh, quá trình lịch

sử, chất lượng marketing… Vì vậy, các Ngân hàng thông qua hoạt động của mình, bằng chất lượng dịch vụ, công nghệ hiện đại và phong cách làm việc văn minh, lịch sự … thoả mãn tốt nhất mọi yêu cầu của khách hàng, là thiết thực nâng cao uy tín và vị thế trên thị trường

- Các hình thức huy động và dịch vụ kèm theo:Trong điều kiện cạnh tranh hiện nay,

việc đa dạng hoá các sản phẩm, dịch vụ Ngân hàng nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu của khách hàng có ảnh hưởng lớn đến hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Với nhiều loại sản phẩm khác nhau, khách hàng có thể lựa chọn một sản phẩm phù hợp với điều kiện khả năng của mình Có như vậy, ngân hàng thương mại mới thu hút được ngày càng nhiều khách hàng đến với mình Không những thế, Ngân hàng còn phải đưa ra được các dịch vụ kèm theo tốt và đa dạng để tăng lợi thế cạnh tranh Với nhiều tiện ích kèm theo,

sẽ giúp Ngân hàng thu hút được ngày càng nhiều nguồn vốn của mọi thành phần kinh tế

và dân cư trong xã hội Qua đó, tạo thêm nhều mối quan hệ gắn bó chặt chẽ hơn giữa các Ngân hàng và khách hàng

- Mạng lưới hoạt động kinh doanh của Ngân hàng:Tổ chức mạng lưới hoạt động rộng,

Trang 8

hợp lý trên địa bàn dân cư giúp Ngân hàng có nhiều cơ hội để thu hút vốn hơn, giúp

khách hàng tiết kiệm thời gian và chi phí để thực hiện giao dịch Tuy nhiên, việc mở chi

nhánh cần phù hợp với điều kiện năng lực của Ngân hàng Yếu tố địa điểm cũng tác độngđến tâm lý của khách hàng, một Ngân hàng nằm ở vị trí thuận lợi như khu vực trung tâm, khu đông dân cư, đi lại thuân tiện… giúp khách hàng thu hút được nhiều khách hàng hơn

- Cơ sở vật chất và đội ngũ cán bộ nhân viên:Có thể nói, tất cả mọi khách hàng đều

muốn giao dịch với Ngân hàng có địa điểm đẹp, cơ sở vật chất hiện đại, cán bộ nhân viênphục vụ tận tình và lịch thiệp Một Ngân hàng được trang bị công nghệ hiện đại nhất định

sẽ rút ngắn được rất nhiều thời gian sử lý công việc, đảm bảo được độ chính xác cao

trong các giao dịch kinh tế Hơn nữa, cơ sở vật chất, trình độ công nghệ hiện đại, đội ngũ cán bộ nhân viên có trình độ chuyên môn cao là điều kiện cần thiết để họ giải quyết công việc nhanh chóng, khoa học… Từ đó, nâng cao hơn chất lượng dịch vụ Ngân hàng cung

ứng ra thị trường, là điều khách hàng rất quan tâm

Câu 4 : Trong các chủ thể cung ứng tiền, chủ thể nào là quan trọng nhất ? Tại sao ?

Hiện nay ở Việt Nam chủ thể quan trọng nhất trong việc cung ứng tiền ra lưu thông là Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Ngân hàng sẽ điều tiết lượng cung tiền qua 1 số cách chủ yếu như sau:

- Điều chỉnh lãi suất cơ bản để các ngân hàng có thể huy động vốn nhàn rỗi trong dân Từ đó giảm tiền trong lưu thông

- In ấn và cung tiền cho các ngân hàng phục vụ sản xuất

- Qui định tỷ lệ dự trữ bắt buộc tại các ngân hàng và mức tăng trưởng tín dụng hàng năm

- Phát hành trái phiếu bắt buộc và tự nguyện để huy động tiền trong dân, ngân hàng, các cty

Ngày nay, việc cung ứng tiền chủ yếu được thực hiện bởi NHTW và hệ thống NH trung gian NHTW phát hành tín tệ (tiền giấy và tiền kim loại) Hệ thống NH trung gian cung ứng bút tệ (tiền gửi không kỳ hạn) Ngoài ra, nhà nước và các DN cũng được coi là các chủ thể cung ứng tiền cho nền kinh tế, vì đây là các chủ thể phát hành các chứng từ

nợ như tín phiếu kho bạc nhà nước, thương phiếu …

1 Ngân hàng trung ương với việc cung ứng tiền tệ:

NHTW là cơ quan độc quyền phát hành tiền giấy và tiền kim loại vào lưu thông (Lưuý: Một số nước quy định tiền kim loại do kho bạc phát hành)

NHTW thực hiện việc phát hành tiền qua 4 kênh:

a) Phát hành qua Kênh ngân sách nhà nước (Kênh chính phủ): Trong trường

hợp NSNN bị thâm hụt, sau khi tìm cách tăng thu, giảm chi mà vẫn chưa cân đối được NS thì chính phủ phải vay tiền theo các cách: vay của dân thường qua việc phát hành tín phiếu

và trái phiếu KBNN; vay của nước ngòai; vay của NHTW

Khi chính phủ vay của công chúng thì không ảnh hưởng đến mức cung tiền tệ

Trang 9

Khi chính phủ vay của nước ngoài thì mức cung tiền tệ tăng lên, vì những tài sản vay (ngoại tệ mạnh, vàng …) khi đưa về nước phải gởi ở NHTW để chuyển thành nội tệ.

Khi chính phủ vay của NHTW thì lượng tiền trong lưu thông sẽ tăng lên Chính phủ muốn vay tiền của NHTW cũng phải đem tài sản đến cầm thế (vàng, ngoại tệ, chứng khoán …).Khi NHTW cho chính phủ vay có các tài sản cầm thế đầy đủ, ta gọi đó là nghiệp vụ phát hành tiền gián tiếp (phát hành tiền thanh khiết) Trường hợp chính phủ vay mà không có tài sản cầm thế đầy đủ thì gọi đó là nghiệp vụ phát hành tiền trực tiếp Khi đó lượng tiền tăng thêm trở nên dư thừa, giá cả sẽ leo thang

b) Phát hành tiền qua kênh NH trung gian (kênh tín dụng):

Khi NHTG thiếu tiền để đáp ứng nhu cầu chi trả hoặc cho vay, NHTG có thể giải quyết bằng các cách: bán chứng khoán hoặc tài sản NH đang có; phát hành chứng khoán riêng của NH (kỳ phiếu NH, trái phiếu NH); vay của các NHTG và các tổ chức tài chính khác; vay của NHTW Khi NHTW cho NHTG vay, tiền sẽ thông qua NHTG để đi vào lưu thông Nếu các khoản vay này có tài sản cầm thế đầy đủ thì đây là nghiệp vụ phát hành tiền gián tiếp.Nhược điểm của biện pháp này là kém linh hoạt vì NHTW không thể bắt buộc các NHTG phải vay tiền của NHTW

c) Phát hành tiền qua kênh thị trường tiền tệ (thị trường mở):

NHTW có thể phát hành tiền vào lưu thông bằng nghiệp vụ mua các chứng khoán ngắn hạn trên thị trường tiền tệ, NHTW có thể thu hẹp khối tiền cung ứng bằng nghiệp vụ bán chứng khoán Phát hành tiền bằng nghiệp vụ mua chứng khoán là nghiệp vụ phát hành tiềngián tiếp bởi vì tiền tăng thêm trong lưu thông được cân đối bởi lượng chứng khoán NHTW mua vào

Đây là cách phát hành tiền phổ biến nhất ở các nước có thị trường tài chính pháttriển vì nó ưu điểm là khắc phục được tính kém linh hoạt khi phát hành tiền qua kênh các NHTG (NHTW không thể bắt buộc các NHTG phải vay tiền của NHTW)

d) Phát hành tiền qua kênh thị trường hối đoái:

Bằng nghiệp vụ mua hoặc bán ngoại hối (ngoại tệ mạnh, vàng…), NHTW

có thể làm gia tăng hoặc thu hẹp khối tiền cung ứng cho nền kinh tế

2 Ngân hàng trung gian với việc cung ứng tiền tệ:

Các ngân hàng trung gian cung ứng cho nền kinh tế thông qua cơ chế tín dụng tạo tiền.Thật vậy, nhờ nhận tiền gởi mà NHTG có nguồn vốn để cho vay

Nhưng khi cho vay và thực hiện chức năng trung gian thanh toán, các NHTG lại có thể tạo ra một lượng tiền gởi không kỳ hạn (bút tệ) lớn gấp nhiều lần so với số tiền gởi ban đầu

Trong điều kiện lý tưởng, ta có các công thức tính số tiền gửi mở rộng mà cả ngân hàng tạo ra như sau

Số tiền gửi mở rộng = Số tiền gửi ban đầu x hệ số tạo tiền (1)

Trang 10

Trong đó :

Hệ số tạo tiền=

Tỷ lệ dự trữ bắt buộc do NHTW quy định, nó là tỷ lệ % trên lượng tiền gởi mà NHTG huy động được NHTG chỉ được sử dụng số tiền còn lại sau khi đã thực hiện dự trữ bắt buộc đúng theo quy định

Sau đây là ví dụ minh họa về sự sáng tạo ra bút tệ qua nghiệp vụ nhận tiền gửi

và cho vay của NHTG:

Nếu không có bất kỳ “chướng ngại vật” nào xảy ra thì quá trình trên cứ tiếp diễn cho đến khi tổng số dự trữ bắt buộc của các NHTM đúng bằng số tiền gửi ban đầu (1.000đ) thì sẽ bị triệt tiêu.

+ NH không tìm đủ khách hàng để cho vay đến mức tối đa

+ Người đi vay yêu cầu NH cho vay bằng tiền mặt, số tiền mặt này chưa chắc quay lại NH dưới hình thức tiền gởi

Trang 11

+ Người thụ hưởng séc yêu cầu được nhận tiền mặt, không gởi số tiền này vào NH.

+ Người gởi tiền có thể rút tiền khỏi NH

Câu 5 : Mối quan hệ tương quan giữa chức năng tài chính và chức năng tiền tệ là

gì ?

đây là mối quan hệ tương hỗ

Chức năng của tài chính

•Chức năng huy động

Đây là chức năng tạo lập các nguồn tài chính, thể hiện khả năng tổ chức khai

thác các nguồn tài chính nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của nền kinh tế

Việc huy động vốn phải tuân thủ cơ chế thị trường, quan hệ cung cầu và giá

cả của vốn

•Chức năng phân phối

Chức năng phân phối của tài chính là một khả năng khách quan của phạm trù

tài chính Con người nhận thức và vận dụng khả năng khách quan đó để tổ

chức việc phân phối của cải xã hội dưới hình thức giá trị Khi đó, tài chính

được sử dụng với tư cách một công cụ phân phối

phân phối được chia thành 3 nhóm:

Phân phối có hoàn lại có thời hạn Ví dụ: Tín dụng

Phân phối không hoàn lại Ví dụ: Ngân sách nhà nước

Phân phối hoàn lại có điều kiện Ví dụ: Bảo hiểm

•Chức năng giám sát

Đây là chức năng kiểm tra sự vận động của các nguồn tài chính trong quá

trình tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ

Thông qua chức năng này để kiểm tra và điều chỉnh các quá trình phân phối

tổng sản phẩm xã hội dưới hình thức giá trị, phù hợp với yêu cầu phát triển

kinh tế-xã hội của mỗi thời kỳ, kiểm tra các chế độ tài chính của Nhà nước

Bản chất của tiền tệ được thể hiện qua các chức năng của nó Theo C Mác tiền tệ

có 5 chức năng:

- Thước đo giá trị Tiền tệ dùng để biểu hiện và đo lường giá trị của các hàng hoá.

Muốn đo lường giá trị của các hàng hoá, bản thân tiền tệ phải có giá trị Vì vậy, tiền tệ

làm chức năng thước đo giá trị phải là tiền vàng Để đo lường giá trị hàng hoá không

cần thiết phải là tiền mặt mà chỉ cần so sánh với lượng vàng nào đó một cách tưởng

tượng Sở dĩ có thể làm được như vậy, vì giữa giá trị của vàng và giá trị của hàng hoá

trong thực tế đã có một tỷ lệ nhất định Cơ sở của tỷ lệ đó là thời gian lao động xã hội

cần thiết hao phí để sản xuất ra hàng hoá đó Giá trị hàng hoá được biểu hiện bằng tiền

gọi là giá cả hàng hoá Do đó, giá cả là hình thức biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng

hoá Giá cả hàng hoá do các yếu tố sau đây quyết định:

+ Giá trị hàng hoá

+ Giá trị của tiền

Trang 12

+ ảnh hưởng của quan hệ cung - cầu hàng hoá.

Để làm chức năng thước đo giá trị thì bản thân tiền tệ cũng phải được đo lường

Do đó, phải có đơn vị đo lường tiền tệ Đơn vị đó là một trọng lượng nhất định của kimloại dùng làm tiền tệ ở mỗi nước, đơn vị tiền tệ này có tên gọi khác nhau Đơn vị tiền tệ

và các phần chia nhỏ của nó là tiêu chuẩn giá cả Tác dụng của tiền khi dùng làm tiêuchuẩn giá cả không giống với tác dụng của nó khi dùng làm thước đo giá trị Là thước

đo giá trị, tiền tệ đo lường giá trị của các hàng hoá khác; là tiêu chuẩn giá cả, tiền tệ đolường bản thân kim loại dùng làm tiền tệ Giá trị của hàng hoá tiền tệ thay đổi theo sựthay đổi của số lượng lao động cần thiết để sản xuất ra hàng hoá đó Giá trị hàng hoátiền tệ (vàng) thay đổi không ảnh hưởng gì đến "chức năng" tiêu chuẩn giá cả của nó,mặc dù giá trị của vàng thay đổi như thế nào Ví dụ, một USD vẫn bằng 10 xen

- Phương tiện lưu thông: Với chức năng làm phương tiện lưu thông, tiền làm môi

giới trong quá trình trao đổi hàng hoá Để làm chức năng lưu thông hàng hoá ta phải cótiền mặt Trao đổi hàng hoá lấy tiền làm môi giới gọi là lưu thông hàng hoá

Công thức lưu thông hàng hoá là: H- T - H, khi tiền làm môi giới trong trao đổi

hàng hoá đã làm cho hành vi bán và hành vi mua có thể tách rời nhau cả về thời gian vàkhông gian Sự không nhất trí giữa mua và bán chứa đựng mầm mống của khủng hoảngkinh tế

Trong lưu thông, lúc đầu tiền tệ xuất hiện dưới hình thức vàng thoi, bạc nén Dầndần nó được thay thế bằng tiền đúc Trong quá trình lưu thông, tiền đúc bị hao mòn dần

và mất một phần giá trị của nó Nhưng nó vẫn được xã hội chấp nhận như tiền đúc đủgiá trị

Như vậy, giá trị thực của tiền tách rời giá trị danh nghĩa của nó Sở dĩ có tình

trạng này vì tiền làm phương tiện lưu thông chỉ đóng vai trò chốc lát Người ta đổi hànglấy tiền rồi lại dùng nó để mua hàng mà mình cần Làm phương tiện lưu thông, tiềnkhông nhất thiết phải có đủ giá trị Lợi dụng tình hình đó, khi đúc tiền nhà nước tìmcách giảm bớt hàm lượng kim loại của đơn vị tiền tệ Giá trị thực của tiền đúc ngàycàng thấp so với giá trị danh nghĩa của nó Thực tiễn đó dẫn đến sự ra đời của tiền giấy.Bản thân tiền giấy không có giá trị mà chỉ là dấu hiệu của giá trị và được công nhậntrong phạm vi quốc gia

- Phương tiện cất trữ Làm phương tiện cất trữ, tức là tiền được rút khỏi lưu thông

đi vào cất trữ Sở dĩ tiền làm được chức năng này là vì: tiền là đại biểu cho của cải xãhội dưới hình thái giá trị, nên cất trữ tiền là một hình thức cất trữ của cải Để làm chứcnăng phương tiện cất trữ, tiền phải có đủ giá trị, tức là tiền vàng, bạc Chức năng cất trữlàm cho tiền trong lưu thông thích ứng một cách tự phát với nhu cầu tiền cần thiết cholưu thông Nếu sản xuất tăng, lượng hàng hoá nhiều thì tiền cất trữ được đưa vào lưuthông Ngược lại, nếu sản xuất giảm, lượng hàng hoá lại ít thì một phần tiền vàng rútkhỏi lưu thông đi vào cất trữ

- Phương tiện thanh toán Làm phương tiện thanh toán, tiền được dùng để trả nợ,

nộp thuế, trả tiền mua chịu hàng Khi sản xuất và trao đổi hàng hoá phát triển đếntrình độ nào đó tất yếu nảy sinh việc mua bán chịu Trong hình thức giao dịch này trướctiên tiền làm chức năng thước đo giá trị để định giá cả hàng hoá Nhưng vì là mua bánchịu nên đến kỳ hạn tiền mới được đưa vào lưu thông để làm phương tiện thanh toán

Sự phát triển của quan hệ mua bán chịu này một mặt tạo khả năng trả nợ bằng cáchthanh toán khấu trừ lẫn nhau không dùng tiền mặt Mặt khác, trong việc mua bán chịu

Trang 13

người mua trở thành con nợ, người bán trở thành chủ nợ Khi hệ thống chủ nợ và con nợphát triển rộng rãi, đến kỳ thanh toán, nếu một khâu nào đó không thanh toán được sẽgây khó khăn cho các khâu khác, phá vỡ hệ thống, khả năng khủng hoảng kinh tế tănglên.

- Tiền tệ thế giới Khi trao đổi hàng hoá vượt khỏi biên giới quốc gia thì tiền làm

chức năng tiền tệ thế giới Với chức năng này, tiền phải có đủ giá trị, phải trở lại hìnhthái ban đầu của nó là vàng Trong chức năng này, vàng được dùng làm phương tiệnmua bán hàng, phương tiện thanh toán quốc tế và biểu hiện của cải nói chung của xãhội

Tóm lại: 5 chức năng của tiền trong nền kinh tế hàng hoá quan hệ mật thiết với

nhau Sự phát triển các chức năng của tiền phản ánh sự phát triển của sản xuất và lưuthông hàng hoá

Câu 6 : Tài chính công và tài chính nhà nước khác nhau như thế nào ?

TCNN = TCC + TC DNNN

TCNN có 3 đặc trưng là:

- Được hình thành bằng quyền lực nhà nước

- Vận động (thu-chi) theo luật định

- Phục vụ cho lợi ích công

Ban đầu TCC được xem là TCNN, nhưng trong quá trình phát triển hành chính nhà nước,vai trò của NN đối vói nền KT ngày càng tăng Chính vì thế mà NN ngoài chức năng ban đầu là tổ chức và điều hành nền KT còn có thêm chức năng "Làm kinh tế"

==> TCNN chia làm 2 bộ phận:

- Tc phục vụ cho việc quản lý diều hành NN > TCC (ko vì lợi nhuận)

- TC phục vụ cho NN làm KT >TC DNNN (vì lợi nhuận)

Tài chính công là 1 bộ phận của tài chính nhà nước

Tài chính NN là 1 khái niệm dùng để phản ảnh những hoạt động tài chính gắn liền với chủ thể NN

Tài chính công bao hàm các ý nghĩa:

- Một là, trong khuông khổ của 1 quốc gia, tài chính công thuộc sở hữu nhà nước và nhà nước hay quốc hội là cơ quan quyền lực tối cao của 1 quốc gia, có quyền áp đặt mọi khoản thu chi của quốc gia hay có thể ủy quyền cho chính phủ hay cơ quan công quyền quyết định đó

- Hai là Khâu tài chính này hoạt động ko vì lợi nhuận

- Ba là: tài chính công cung cấp hàng hóa công, gắn liền với nhu cầu thiết yếu của đời sống xã hội Mọi người dân có thể tiếp cận và sử dụng những hàng hóa, dịch vụ do khâu tài chính này cung cấp mà ko phải trả tiền, hoặc có trả nhưng ko theo cơ chế giá cả thị trường Hay nói cách khác, vấn đề “người hưởng tự do ko phải trả tiền” là hiện tượng phổbiến trong hoạt động tài chính công

Tài chính nhà nước là công cụ để nhà nước can thiệp vào kinh tế nhằm điều tiết các hoạt động sản xuất kinh doanh Phạm vi hoạt động của tài chính nhà nước ko chỉ dừng lại ở các hoạt động thu chi NSNN, các quỹ ngoài ngân sách (bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế nhằm chăm lo phúc lợi cộng đồng…), hoạt động tài chính của các đơn vị hành chính, các

Trang 14

đơn vị sự nghiệp mà còn có cả hoạt động đầu tư, hỗ trợ tài chính cho các khu vực kinh tế.Như vậy, xét về mặt sắp xếp thể chế, có thể thấy, trong nền kinh tế hiện đại tài chính nhà nước bao hàm sự đan xen của những hoạt động mang tính chất công, ko vì lợi nhuận và 1

số hoạt động mang tính chất tư, nhằm mục tiêu lợi nhuận như hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp nhà nước

Như vậy, trong số các bộ phận tài chính nhà nước, những hoạt động tài chính phục vụ cho kinh doanh và lợi nhuận coi là định hướng cho mục tiêu hành động thì ko thể xem đó

là tài chính công, chẳng hạn như hoạt động của khâu tài chính DN nhà nước

Câu 7 : So sánh ngân sách trung ương và ngân sách trực thuộc trung ương?

NS trực thuộc TW là NS do TW cấp và do thành phố cấp, được quyết toán hàng năm chung với NS thành phố và chịu sự quản lý của TW

Ngân sách trung ương là ngân sách của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các cơ quan khác ở trung ương

NGÂN SÁCH TRUNG ƯƠNG: là bộ phận chủ yếu của NSNN, bao gồm dự toán thu chi của chính phủ, của các bộ, các cơ quan ngang bộ, các cơ quan trực thuộc, quỹ bảo hiểm

xã hội và một số khoản khác do nhà nước quy định NSTƯ có vị trí chủ yếu và giữ vai tròquyết định trong ngân sách nhà nước; tập trung một bộ phận lớn thu nhập quốc dân nhằmđảm bảo những nhu cầu có tính chất toàn quốc về xây dựng kinh tế, phát triển văn hoá, củng cố quốc phòng, quản lí nhà nước Các nguồn thu của NSTƯ gồm: các khoản thu 100% từ những nguồn và những ngành kinh tế chủ yếu (như thu từ dầu khí, thuế xuất khẩu - thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt, các khoản vay của chính phủ, các khoản viện trợ không hoàn lại của chính phủ nước ngoài, vv.); các khoản thu được phân chia theo tỉ lệ phần trăm giữa NSTƯ và ngân sách địa phương (như thuế doanh thu, thuế lợi tức, thuế thu nhập dân cư, thuế tài nguyên, vv.) Chi của NSTƯ gồm có: chi thường xuyên, chi đầu tư phát triển cho những công trình lớn, trọng điểm, chậm thu hồi vốn, chi cho kết cấu hạ tầng, cho đầu tư và hỗ trợ vốn đối với một số doanh nghiệp nhà nước quantrọng, chi góp cổ phần hay liên doanh vào các lĩnh vực cần có sự tham gia của nhà nước; chi trả nợ các khoản vay của chính phủ; chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính; chi trợ cấp cho ngân sách địa phương

Ngân sách trung ương phản ánh nhiệm vụ thu, chi theo ngành và giữ vai trò chủ đạo trong hệ thống ngân sách nhà nước Nó bắt nguồn từ vị trí, vai trò của chính quyền trung ương được Hiến pháp quy định đối với việc thực hiện các nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước Ngân sách trung ương cấp phát kinh phí cho yêu cầu thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước trung ương (sự nghiệp văn hoá, sự nghiệp an ninh quốc phòng, trật tự an toàn xã hội, đầu tư phát triển…) Nó còn là trung tâm điều hoà hoạt động ngân sách của địa phương Trên thực tế, ngân sách trung ương là ngân sách của cả nước, tập trung đại bộ phận nguồn tài chính quốc gia và đảm bảo các nhiệm vụ chi tiêu

có tính chất huyết mạch của cả nước ngân sách trung ương bao gồm các đơn vị dự toán của cấp này, mỗi bộ, mỗi cơ quan trung ương là một đơn vị dự toán của ngân sách trung ương.Ngân sách trung ương bao gồm:

- Ngân sách cấp tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là ngân sách cấp tỉnh)

Trang 15

• Ngân sách cấp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là ngân sách cấp huyện).

• Ngân sách cấp xã, phường, thị trấn (gọi chung là ngân sách cấp xã)

* Ngân sách địa phương là tên chung để chỉ các cấp ngân sách của các cấp chính quyền bên dưới phù hợp với địa giới hành chính các cấp Ngoài ngân sách xã chưa có đơn vị dự toán, các cấp ngân sách khác đều bao gồm một số đơn vị dự toán của cấp ấy hợp thành.+ Ngân sách cấp tỉnh phản ánh nhiệm vụ thu, chi theo lãnh thổ, đảm bảo thực hiện các nhiệm vụ tổ chức quản lý toàn diện kinh tế, xã hội của chính quyền cấp tỉnh và thành phốtrực thuộc trung ương Chính quyền cấp tỉnh cần chủ động, sáng tạo trong việc động viên khai thác các thế mạnh trên địa bàn tỉnh để tăng nguồn thu, đảm bảo chi và thực hiện cân đối ngân sách cấp mình

+ Ngân sách cấp xã, phường, thị trấn là đơn vị hành chính cơ sở có tầm quan trọng đặc biệt và cũng có đặc thù riêng: nguồn thu được khai thác trực tiếp trên địa bàn và nhiệm

vụ chi cũng được bố tríđể phục vụ cho mục đích trực tiếp của cộng đồng dân cư trong xã

mà không thông qua một khâu trung gian nào Ngân sách xã là cấp ngân sách cơ sở trong

hệ thống ngân sách nhà nước, đảm bảo điều kiện tài chính để chính quyền xã chủ động khai thác các thế mạnh về đất đai, phát triển kinh tế, xã hội, xây dựng nông thôn mới, thực hiện các chính sách xã hội, giữ gìn an ninh, trật tự trên địa bàn

Câu 8 : Trình bày cơ cấu thu ngân sách nhà nước ?

Trong cơ cấu thu NSNN ở hầu hết các quốc gia trên TG, thuế luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất bởi nó được trích xuất chủ yếu từ những giá trị do nền KT tạo ra và thể hiện rõ nét quyền lực của Nhà nước Nền kinh tế quốc dân càng phát triển với tốc độ cao thì nguồn thu của Nhà nước từ thuế càng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu NSNN Tại các nước phát triển, thuế chiếm hơn 90% thu của NSNN và hơn ¼ tổng sp quốc dân Ở nước quốc gia đang phát triển, thuế chiếm tỷ trọng ít hơn (khoảng 80% tổng thu NSNN) và trích xuất từ GDP cũng ít hơn (khoảng 1/5 GDP)

Bên cạnh thuế, nợ Chính phủ dưới mọi hình thức đang gia tăng, nhất là tại các quốc gia đang phát triển Đây là 1 khoản thu có tính chất vay mượn nên phải hoàn trả Nguồn đầu tiên để hoàn trả là lợi ích kinh tế sinh ra từ những hoạt động đầu tư bằng tiền vay Và tất nhiên, nguồn cuối cùng để hoàn trả ko gì khác hơn là thuế Nếu sử dụng hữu hiệu, nợ là đòn bẩy; nếu sử dụng kém hiệu quả, nợ trở thành gánh nặng, phải tốn nhiều thời gian, công sức và chịu nhiều hậu quả nặng nề mới có thể thanh toán dứt điểm

Thêm vào thuế và nợ là các khoản thu từ lệ phí và phí thuộc NSNN và các quỹ tài chính khác của nhà nước Mặc dù phần lớn chi tiêu của nhà nước được tài trợ từ thuế xong lệ phí và phí thuộc NSNN vẫn có vai trò riêng và ko hề suy giảm theo thời gian

Trang 16

Thu từ doanh nghiệp Nhà nước

Thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Thu từ khu vực công, thương nghiệp, dịch vụ ngoài quốc

doanh

Thuế sử dụng đất nông nghiệp

Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao

Lệ phí trước bạ

Thu xổ số kiến thiết

Thu phí xăng dầu

Thu phí, lệ phí

Các khoản thu về nhà đất

Các khoản thu khác

Thu từ dầu thô

Thu từ hải quan

Thuế xuất, nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt hàng nhập

khẩu; Thu chênh lệch giá hàng nhập khẩu

Thuế giá trị gia tăng hàng nhập khẩu

Thu viện trợ không hoàn lại

NSNN là một khâu của hệ thống tài chính quốc gia, nó phản ánh quan hệ kinh tế phát sinh gắn liền với quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước khi Nhà nước tham gia phân phối các nguồn tài chính quốc gia nhằm thực hiện các chức năng của Nhà nước trên cơ sở luật định.

1 Thu Ngân sách nhà nước

1.1.Những vấn đề chung về thu NSNN

1.1.1 Khái niệm thu NSNN

Để có nguồn tài chính đáp ứng nhu cầu chi tiêu, Nhà nước thường sử dụng ba hình thức động viên đó là: quyên góp của dân, vay của dân và dùng quyền lực Nhà nước bắt buộc dân phải đóng góp Trong đó hình thức quyên góp tiền và tài sản của dân và hình thức vay của dân là những hình thức không mang tính ổn định và lâu dài, thường được Nhà nước sử dụng có giới hạn trong một số trường hợp đặc biệt Để đáp ứng nhu cầu chi tiêu thường xuyên, Nhà nước dùng quyền lực chính trị của mình ban hành các luật thuế để bắt buộc dân phải đóng góp một phần thu nhập của mình cho Ngân sách Nhà nước Đây chính là hình thức cơ bản nhất để huy động tập trung nguồn tài chính cho Nhà nước Vậy

Trang 17

- Đối tượng phân chia là nguồn tài chính quốc gia là kết quả do lao động sản xuất trong nước tạo ra được thể hiện dưới hình thức tiền tệ (GDP).

Như vậy, thu NSNN trước hết và chủ yếu gắn liền với các hoạt động kinh tế trong xã hội Mức độ phát triển kinh tế, tỷ lệ tăng trưởng GDP hàng năm là tiền đề và là yếu tố khách quan hình thành nên các khoản thu NSNN và quyết định mức độ động viên các khoản thu của NSNN

- Về mặt nội dung, thu NSNN chứa đựng các quan hệ phân phối dưới hình thức giá trị nảy sinh trong quá trình Nhà nước dùng quyền lực tập trung một phần nguồn tài chính quốc gia hình thành quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước.

1.1.2 Phân loại thu NSNN

Việc phân loại các khoản thu NSNN có ý nghĩa thiết thực trong việc phân tích, đánh giá

và quản lý các nguồn thu NSNN.

Có 3 cách phân loại phổ biến là:

a) Căn cứ vào phạm vi phát sinh, các khoản thu NSNN được chia làm hai nhóm là thu trong nước và thu ngoài nước Cụ thể:

- Các khoản thu trong nước bao gồm:

+ Thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh Đây là lĩnh vực tạo ra đại bộ phận tổng sản phẩm xã hội và cũng là nơi tạo ra số thu chủ yếu cho NSNN.

+ Thu từ hoạt động dịch vụ (là những hoạt động phục vụ cho sản xuất kinh doanh và đời sống xã hội) bao gồm cả thu sự nghiệp và thu từ các dịch vụ tài chính Số thu từ lĩnh vực này có xu hướng ngày càng tăng.

+ Thu từ các hoạt động khác như thu về bán và cho thuê tài sản quốc gia, nguồn tài nguyên, vay nợ trong nước dưới các hình thức.v.v.

- Các khoản thu ngoài nước bao gồm:

+ Thu từ các hoạt động xuất khẩu lao động và hợp tác chuyên gia với nước ngoài; + Thu từ viện trợ của nước ngoài

+ Thu từ vay nợ nước ngoài, kể cả vay các tổ chức tài chính quốc tế.

* Ý nghĩa của cách phân loại này: các phân loại này phản ánh cơ cấu của nền kinh tế, thông qua đó có thể đánh giá tính hiệu quả, tính hợp lý của nền kinh tế

b) Căn cứ vào tính chất phát sinh và nội dung kinh tế, các khoản thu được chia làm hai loại:

- Các khoản thu thường xuyên: là các khoản thu phát sinh tương đối đều đặn, ổn định về mặt thời gian và số lượng gồm thuế, phí, lệ phí.

- Các khoản thu không thường xuyên: là những khoản thu không ổn định về mặt thời gian phát sinh cũng như số lượng tiền thu được, bao gồm các khoản thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước, thu từ hoạt động sự nghiệp, thu tiền bán hoặc cho thuê tài sản thuộc sở hữu nhà nước, thu từ viện trợ nước ngoài, từ vay trong nước và ngoài nước và các khoản thu khác.

* Ý nghĩa của cách phân loại này: Việc phân loại các khoản thu NSNN dựa trên sự kết

Trang 18

hợp giữa hai tiêu chí: theo nội dung kinh tế và tính chất phát sinh của nguồn thu là cần thiết, bởi qua cách phân loại này để thấy rõ sự phát triển của nền kinh tế, tính hiệu quả của nền kinh tế và mức độ ổn định vững chắc của nguồn thu NS.

c) Phân loại theo yêu cầu động viên vốn vào NSNN:

Có thể chia các khoản thu NSNN thành:

- Thu trong cân đối NSNN:

Bao gồm các khoản thu:

+ Thuế, phí, lệ phí

+ Thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước, bao gồm: thu nhập từ vốn góp của Nhà nước vào các cơ sở kinh tế, tiền thu hồi vốn của Nhà nước tại các cơ sở kinh tế, thu hồi tiền cho vay của Nhà nước (cả gốc và lãi).

+ Thu từ hoạt động sự nghiệp

+ Thu tiền bán hoặc cho thuê tài sản thuộc sở hữu nhà nước

+ Các khoản thu khác theo luật định.

Trong các khoản thu nói trên thì thuế là nguồn thu chủ yếu, chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng thu của NSNN

- Thu bù đắp thiếu hụt NSNN: khi số thu NSNN không đáp ứng được nhu cầu chi tiêu và Nhà nước phải đi vay, bao gồm vay trong nước từ các tầng lớp dân cư, các tổ chức kinh

tế - xã hội, vay từ nước ngoài.v.v.

* Ý nghĩa của cách phân loại này: Cách phân loại này cho phép đánh giá sự lành mạnh của NSNN và rất có ý nghĩa trong tổ chức điều hành NSNN.

Sau đây là một số khoản thu chủ yếu:

1.2 Một số khoản thu chủ yếu của NSNN

1.2.1 Thuế - Khoản thu chủ yếu của NSNN

Thuếlà hình thức động viên bắt buộc một phần thu nhập của cá nhân, doanh nghiệp cho Nhà nước nhằm đảm bảo nhu cầu chi tiêu của Nhà nước

huếcó những đặc trưng sau:

- Là hình thức động viên một phần thu nhập của các cá nhân, doanh nghiệp cho

Nhà nước Các cá nhân, doanh nghiệp là người được hưởng các lợi ích từchi tiêu

NSNN và họcó thu nhập nên phải có nghĩa vụtrích một phần thu nhập nộp cho

ngân sách Nhà nước, có thểbằng hình thức trực tiếp (thuếđánh vào thu nhập)

hoặc gián tiếp (thuếVAT, thuếxuất nhập khẩu…).

-Là khoản đóng góp mang tính bắt buộc vì thuếlà nguồn thu chủyếu của NSNN

cho nhu cầu chi tiêu cho Nhà nước nhưng do tính chất không hoàn trảtrực tiếp

nên người chịu thuếkhông tựgiác nộp.

- Không hoàn trảtrực tiếp mà hoàn trảgián tiếp và không tương đương dưới hình

thức người chịu thuếđược hưởng các hàng hoá, dịch vụNhà nước cung cấp

không mất tiền hoặc với giá thấp và không phân biệt giữa người nộp thuếnhiều

Trang 19

Tiền lệphí thu được dùng đểbù đắp các khoản chi phí phát sinh khi giải quyết công việc của bộphận quản lý trực tiếp và gián tiếp Ví dụtiền lệphí trước bạnhà, đất không chỉ

để đảm bảo hoạt động của bộphận trước bạmà cònđảm bảo hoạt động của cảhệthống cơquan quản lý nhàđất nhưTổng cục địa chính, Sởnhà đất với các công việc nhưlập hồ

sơ địa chính, lập quy hoạch… Do đó một sốlệphí có sốtiền thu lớn nhưlệphí trước bạ nhà đất lên tới2% giá trịnhà đất.

Thu lệphí là nhằm đảm bảo thực hiện nguyên tắc thu theo khảnăng đóng góp trong chính sách động viên vào ngân sách Nhà nước và công bằng trong việc hưởng thụcác lợi ích từchi tiêu của ngân sách Vì vậy người nộp lệphí là người được hưởng lợi ích từhoạt động quản lý của Nhà nước và sốtiền lệphí phù hợp với khảnăng đóng góp của họnên Nhà nước không cần trợgiúp đểgiảm gánh nặng cho người nộp thuế.

Một sốlệphí là bắt buộc Trong đó quan trọng là lệphí trước bạ, vì Nhà nước cần quản

lý quyền sởhữu, quyền sửdụng một sốtài sản là nhà đất, tầu thuyền, ôtô, xe máy, súng săn, súng thểthao nhưng nhiều người không muốn nộp lệphí nên không chịu trước bạ những tài sản này.

Nếu Nhà nước quy định sốtiền nộp lệphí nào đó lớn nhằm tăng thu ngân sách thì không gọi là lệphí mà gọi là thuếhay thuếmang tính chất lệphí nhưthuếmôn bài.

Tóm lại, lệphí vừa mang tính chất phục vụcho người nộp lệphí vềviệc thực hiện một số thủtục hành chính, vừa mang tính chất động viên đóng góp cho NSNN.

3.1.3 Phí

Phí là khoản thu do nhà quy định nhằm bù đắp một phần chi phí của NSNN mà nhà nước

Trang 20

đã dùngđể:

- đầu tưxây dựng, mua sắm, bảo dưỡng và quản lý tài sản, tài nguyên hoặc chủ

quyền quốc gia,

-tài trợcho các tổchức, cá nhân hoạt động sựnghiệp, hoạt động công cộng hoặc

lợi ích công cộng theo yêu cầu, không mang tính kinh doanh.

Khác với lệphí, việc thu phí chỉ nhằm bù đắp một phần chi phí và gắn với hoạt động sự

nghiệp, hoạt động công cộng và chỉthu theo yêu cầu.

Các dịch vụcủa hoạt động sựnghiệp nhưgiáo tục, y tế… hoạt động công cộng nhưgiao

thông, vệsinh đô thị… rất cần phát triển nhưng một bộphận dân cưkhông có khảnăng

mua nếu Nhà nước không hỗtrợmột phần chi phí Do thu không đủbù đắp chi phí nên

đơn vị sựnghiệp là đơn vị dựtoán ngân sách Người trảtiền phí (mua dịch vụ) là người

được hưởng một phần sốtiền chi tiêu của Nhà nước nên phải tuỳvào loại hoạt động sự

nghiệp và sức sống của dân và khảnăng chi của ngân sách mà xác định mức phí cho phù

hợp.

Nhưvậy, phí là một khoản thu mang tính chất bù đắp và bắt buộc đối với các thểnhân và

pháp nhân do được hưởng một lợi ích hoặc được sửdụng một dịch vụ(công cộng) nào

đó do nhà nước cung cấp.Phí có tính hoàn trảtrực tiếp.

Do đặc điểm của thuế, lệphí và phí khác nhau dẫn đến hình thức văn bản pháp luật điều

chỉnh và cơquan ban hành chúng cũng khác nhau Thuếcần được Quốc hội quyết định

và ban hành dưới dạng luật, riêng thuếmang tính chất lệphí thì chỉ cần Chủtịch nước

quyết định Do Việt nam mới tiếp cận kinh tếthịtrường nên một sốthuếtạm thời do Uỷ ban

thường vụquốc hội ban hành dưới dạng pháp lệnh đểthuận tiện cho quá trình hoàn

thiện Lệphí, phí do Chính phủ, BộTài chính và Uỷban nhân dân tỉnh thành phốtrung

ương ban hành dưới dạng nghịđịnh, quyết định

Câu 9 : So sánh thuế trực thu và thuế gián thu ?

Giống nhau: là khoản đóng góp

Khái niệm Là các loại thuế điều tiết trực

tiếp vào thu nhập hoặc tài sản của người nộp thuế

Là loại thuế không trực tiếp điều tiết vào thu nhập hay tài sản của người nộp thuế mà điều tiết gián tiếp thông qua giá

cả hàng hoá, dịch vụ

Trang 21

Đối tượng chịu thuế và đối

tượng nộp thuế

Người nộp thuế đồng thời cũng

là người chịu thuế

Người nộp thuế là người nộp thay cho người chịu thuếTác động của thuế trong nền

kinh tế

Ít tác động vào giá cả thị trường (vì thường đánh vào kết quả kinh doanh, kết quả thu nhập sau một kỳ kinh doanh)

Ảnh hưởng trực tiếp đến giá cả thị trường (vì thuế được cộng vào giá bán HHDV)

Về nguồn thu của NSNN Đối với các nước nghèo, thu

nhập thấp thì nguồn thu từ thuế

TT không lớn; khó thu vì nạn

"trốn thuế, lách thuế còn nhiều

Có số thu lớn, tập trung vào NS

TW vì thu ngay vào khâu Sản xuất và Nhập khẩu của các DN đầu mối; trước khi hàng hóa, dịch vụ thực sự đến tay người tiêu dùng tiêu dung

Về kinh tế - chính trị Tác động trực tiếp đến việc

điều tiết thu nhập của các tầng lớp có thu nhập cao, tao ra công bằng XH rõ rệt

Có tính cào bằng, vì thu vào người tiêu dùng số đông; tuy cũng có tác dụng gián tiếp điềutiết thu nhập (ai tiêu dùng nhiều thì chịu thuế GT nhiều) nhưng đối với hàng thiết yếu thì ngay cả người nghèo, ngườithu nhập thấp vẫn bị điều tiết (ví dụ:điện, nước, lương thực, TP>>> đều chịu thuế GTGT )

Về mặt quản lý Khó thu; dễ trốn thuế nhất là

đối với các nước đang phát triển như VN, việc thanh toán chủ yếu bằng tiền mặt; NN không kiểm soát được thu nhậpthực tế của người nộp thuế

Dễ thu thuế vì được cầu thành giá bán HHDV; người tiêu dùng nếu trình độ dân trí chưa cao thì không thấy được Vì vậy hầu hất các nước nghèo, chậm phát triển thường coi thuế GT là nguồn thu chủ yếu; Trong lúc các nước phát triển lại Lấy thuế TT là nguồn thu chính của NS

Câu 10 : Nêu các yếu tố ảnh hưởng đến nguồn thu thuế ?

a) Thu nhập GDP bình quân đầu người

Chỉ tiêu này phản ánh tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế của một quốc gia, phản ánh

khả năng tiết kiệm, tiêu dùng và đầu tư của một nước Thu nhập GDP bình quân đầu

người là nhân tố quyết định đến mức động viên của NSNN Nếu không tính đến chỉ tiêu

này khi xác định mức động viên của ngân sách sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến các vấn đề tiết

kiệm, tiêu dùng và đầu tư của các tổ chức kinh tế, của các tầng lớp dân cư Thông thường

mức động viên vào NSNN ở các nước khoảng từ 17%- 21% GDP là hợp lý

* Lưu ý:

Trang 22

Hiện nay, có một nghịch lý ở các nước đang phát triển Đó là ở các nước này, khả năng thu là rất hạn chế (do GDP bình quân đầu người thấp) trong khi nhu cầu chi cho phát triển kinh tế và các vấn đề xã hội lại rất lớn nên tỷ lệ động viên của các nước này thường rất cao (thường trên 23%) do vậy đã gây ra hiệu ứng tiêu cực là kìm hãm sản xuất, gây thất thu trong tương lai.

b) Tỷ suất lợi nhuận trong nền kinh tế

Tỷ suất lợi nhuận trong nền kinh tế phản ánh hiệu quả của đầu tư phát triển kinh tế Tỷ suất lợi nhuận càng lớn, nguồn tài chính càng lớn Đây là nhân tố quyết định đến việc nâng cao tỷ lệ động viên của NSNN

Dựa vào tỷ suất lợi nhuận trong nền kinh tế để xác định tỷ suất thu NSNN sẽ tránh được việc động viên vào NSNN gây khó khăn về tài chính cho hoạt động kinh tế Hiện nay, tỷ suất lợi nhuận trong nền kinh tế nước ta đạt thấp, trong khi chi phí tiền lương ngày càng tăng, nên tỷ lệ động viên của NSNN không thể cao được

c) Tiềm năng đất nước về tài nguyên thiên nhiên

Đối với các nước đang phát triển và nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú thì nhân tố này có ảnh hưởng lớn đến số thu NSNN

Ở nước ta hiện nay, tỷ trọng thu từ dầu thô chiếm khoảng 74% trong tổng thu NSNN(1) Trong tương lai, việc xuất khẩu dầu mỏ và khoáng sản chiếm tỷ trọng lớn trong kim ngạch xuất khẩu Đó là nhân tố rất quan trọng ảnh hưởng to lớn đến việc nâng cao tỷ lệ động viên của NSNN

d) Mức độ trang trải các khoản chi phí của Nhà nước

Nhân tố này phụ thuộc vào:

+ Quy mô tổ chức của bộ máy nhà nước và hiệu quả hoạt động của nó

+ Những nhiệm vụ kinh tế- xã hội mà Nhà nước đảm nhận trong từng thời kỳ

+ Chính sách sử dụng kinh phí của Nhà nước

Trong điều kiện các nguồn tài trợ khác cho chi phí Nhà nước không có khả năng tăng lên,việc tăng mức độ chi phí của Nhà nước sẽ dẫn đến áp lực thu NSNN phải tăng lên

* Lưu ý:

Ở hầu hết các nước đang phát triển, Nhà nước đều có tham vọng đẩy nhanh sự tăng trưởng kinh tế bằng việc đầu tư vào các công trình lớn Để có nguồn vốn đầu tư phải tăngthu Nhưng trong thực tế tăng thu quá mức lại làm cho tốc độ tăng trưởng chậm lại Để giải quyết vấn đề nan giải đó, Nhà nước phải có một chương trình phát triển kinh tế, xã hội thận trọng trên cơ sở khoa học và thực tiễn để đạt hiệu quả cao, từ đó xác lập một chính sách chi tiêu có hiệu quả và tiết kiệm Có như vậy mới giải quyết hài hoà mối quan

hệ giữa thu và chi của NSNN

e) Tổ chức bộ máy thu nộp

Tổ chức bộ máy thu nộp gọn nhẹ, đạt hiệu quả cao, chống được thất thu do trốn, lậu thuế

sẽ là nhân tố tích cực làm tăng hiệu quả thu NSNN, đáp ứng nhu cầu chi tiêu của NSNN

Về mặt lý luận cũng như thực tiễn, để xác định mức thu NSNN đúng đắn cần phải có sự phân tích, đánh giá cụ thể các nhân tố tác động đến nó trong những điều kiện, hoàn cảnh

cụ thể của đất nước trong từng thời kỳ Tỷ lệ động viên các khoản thu NSNN được xem

là hạt nhân cơ bản của chính sách thu nên cần phải được nghiên cứu, xem xét trên nhiều khía cạnh kinh tế, chính trị, xã hội

Câu 11 : Phân biệt nguồn thu từ thuế và từ phí và lệ phí giống và khác nhau như thế nào ?

Giống nhau:

Trang 23

-Là khoản thu NSNN

-Là khoản nộp của thế nhân và pháp nhân

-Mang tính bắt buộc, gắn liền với quyền lực chính trị của nhà nước

-Mang tính ổn định tương đối

- Đều được lượng hóa thông qua tiền tệ

Khác nhau (chia cột, sắp ý tương đương)

Thuế

-Là luật định, dưới hình thức luật hoặc pháp lệnh do cơ quan lập pháp(quốc hội) ban hànhviệc ấn định, ban hành, bãi bỏ hoặc sửa đổi mộ số sắc thuế phải trải qua những trình tự lập pháp chặt chẽ do hiến pháp quy định

-Mang tính hoàn trả trực tiếp cho người nộp

-Chỉ khi có hưởng lợi ích hoặc được sử dụng dịch vụ công cộng mới phải nộp phí và lệ phí

-Mức thu về lệ phí, phí là một loại gải cả đặc biệt nó không giống như giá cả hàng hóa dịch vụ phải chịu sự chi phối bởi quy luật cung cầu trên thị trường, mà mức thu lệ phí được đặt ra trên cơ sở đáp ứng yêu cầu bù đắp chi phí của dịch vụ công cộng

Câu 12 : Hãy phân biệt những ưu và nhược điểm của phát hành chứng từ có giá và

Trang 24

khoản chi của ngân sách Nhà nước (ngân sách chính phủ) lớn hơn các khoản thu, phần chênh lệch chính là thâm hụt ngân sách Trường hợp ngược lại, khi các khoản thu lớn hơncác khoản chi được gọi là thặng dư ngân sách Thu của chính phủ không bao gồm khoản

đi vay Đi vay chính là một cách mà chính phủ tài trợ cho thâm hụt ngân sách Trong lịch

sử, phát hành thêm tiền đã từng là một cách tài trợ cho thâm hụt ngân sách, nhưng do hậuquả nghiêm trọng của nó là dẫn đến lạm phát ở mức cao nên ngày nay cách này hầu như không được chính phủ của bất cứ quốc gia nào sử dụng nữa Do chính phủ bù đắp cho thâm hụt ngân sách bằng cách đi vay, nên lũy kế các khoản thâm hụt ngân sách chính phủđến một thời điểm nào đó chính là nợ chính phủ

Phân loại như sau: có hai loại Thâm hụt cơ cấu và thâm hụt chu kỳ

Tài chính công hiện đại phân loại thâm hụt ngân sách thành hai loại: thâm hụt cơ

cấu và thâm hụt chu kỳ.

•Thâm hụt cơ cấu là các khoản thâm hụt được quyết định bởi những chính sách

tùy biến của chính phủ như quy định thuế suất, trợ cấp bảo hiểm xã hội hay

quy mô chi tiêu cho giáo dục, quốc phòng,

•Thâm hụt chu kỳ là các khoản thâm hụt gây ra bởi tình trạng của chu kỳ kinh tế,nghĩa là bởi mức độ cao hay thấp của sản lượng và thu nhập quốc dân Ví dụ khi nền kinh tế suy thoái, tỷ lệ thất nghiệptăng sẽ dẫn đến thu ngân sách từ

thuế giảm xuống trong khi chi ngân sách cho cho trợ cấp thất nghiệp tăng

lên

Giá trị tính ra tiền của thâm hụt cơ cấu và thâm hụt chu kỳ được tính toán như sau:

•Ngân sách thực có: liệt kê các khoản thu, chi và thâm hụt tính bằng tiền trong

một giai đoạn nhất định (thường là một quý hoặc một năm)

•Ngân sách cơ cấu: tính toán thu, chi và thâm hụt của chính phủ sẽ là bao nhiêu nếu nền kinh tế đạt mức sản lượng tiềm năng

•Ngân sách chu kỳ: là chênh lệch giữa ngân sách thực có và ngân sách cơ cấu

Việc phân biệt giữa ngân sách cơ cấu và ngân sách chu kỳ phản ánh sự khác nhau

giữa chính sách tài chính: chính sách ổn định tùy biến và chính sách ổn định tự động.Việc phân biệt hai loại thâm hụt trên đây có tác dụng quan trọng trong việc đánh giá ảnh hưởng thực sự của chính sách tài chính khi thực hiện chính sách tài chính mở rộng hay thắt chặt sẽ ảnh hưởng đến thâm hụt ngân sách như thế nào giúp cho chính phủ có những biện pháp điều chỉnh chính sách hợp lý trong từng giai đoạn của chu kỳ kinh tế

Thâm hụt ngân sách do rất nhiều nguyên nhân, và có sự ảnh hưởng khác nhau đến

sự cân đối vĩ mô của nền kinh tế Về cơ bản, tình trạng thâm hụt ngân sách nhà nước gồm các nguyên nhân chính sau:

· Thất thu thuế nhà nước

Thuế là nguồn thu chính và bền vững nhất cho ngân sách nhà nước bên cạnh các nguồn thu khác như tài nguyên, doanh nghiệp nhà nước, vay, nhận viện trợ…tuy nhiên, do hệ thống pháp luật ta còn nhiều bất cập, sự quản lí chưa chặt chẽ đã tạo kẻ hở cho các cá nhân, tổ chức lợi dụng để trốn thuế, gây thất thu một lượng đáng kể cho ngân sách nhà nước…điển hình, trong năm 2008 lượng thuốc lá nhập lậu vào nước ta đã làm thất thu thuế, lấy đi của ngân sách nhà nước 2.500- 3000 tỉ đồng Ngoài ra, lượng thuốc lá nhập

Trang 25

lậu còn làm chảy máu ngoại tệ của đất nước khoảng 200 triệu USD/năm, làm gia tăng thất nghiệp, ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển kinh tế.

Bên cạnh đó, việc giãn thuế, giảm thuế và miễn thuế một mặt giúp các doanh nghiệp có thêm nguồn vốn đầu tư, duy trì và mở rộng sản xuất Tuy nhiên,việc miễn thuế, giảm thuếhoặc chậm thu làm ảnh hưởng tới các khoản chi ngân sách khác gây thâm hụt ngân sách nhà nước

· Đầu tư công kém hiệu quả

Trong 2 năm 2007 và 2008, nước ta đã tiếp nhận một lượng vốn rất lớn từ bên ngoài Nhằm đẩy mạnh đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng và các công trình trọng điểm quốc gia phục vụ lợi ích phát triển của đất nước Tuy nhiên, trên thực tế, tình trạng đầu tư dàn trải gây lãng phí ở các địa phương vẫn chưa được khắc phục triệt để, tiến độ thi công những

dự án trọng điểm quốc gia còn chậm và thiếu hiệu quả, đã gây lãng phí nguồn ngân sách nhà nước và kiềm hãm sự phát triển của các vùng miền, là nguyên nhân chính dẫn đến thâm hụt ngân sách nhà nước

Bên cạnh đó, nền hành chính công - dịch vụ công của chúng ta quá kém hiệu quả Chính

sự kém hiệu quả này làm cho tình trạng thâm hụt ngân sách càng trở nên trầm trọng

· Nhà nước huy động vốn để kích cầu

Chính phủ kích cầu qua 3 nguồn tài trợ chính là: Phát hành trái phiếu Chính phủ, miễn giảm thuế và sử dụng Quỹ dự trữ nhà nước Sử dụng gói giải pháp kích cầu một mặt làm kích thích tiêu dùng, tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, sẽ làm mức thâm hụt ngân sách tăngrất cao khoảng 8-12%GDP

· Chưa chú trọng mối quan hệ giữa chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên

Đây là một trong những nguyên nhân gây căng thẳng về ngân sách áp lực bội chi ngân sách (nhất là ngân sách các địa phương) Chúng ta có thể thấy, thông qua cơ chế phân cấpnguồn thu và nhiệm vụ chi giữa các cấp ngân sách và cơ chế bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới Ngân sách địa phương được phân cấp nguồn thu ứng với cácnhiệm vụ chi cụ thể và được xác định cụ thể trong dự toán ngân sách hằng năm Vì vậy, khi các địa phương vay vốn để đầu tư sẽ đòi hỏi bảo đảm nguồn chi thường xuyên để bố trí cho việc vận hành các công trình khi hoàn thành và đi vào hoạt động cũng như chi phí duy tu, bảo dưỡng các công trình, làm giảm hiệu quả đầu tư Chính điều đó luôn tạo sự căng thẳng về ngân sách.Để có nguồn kinh phí hoặc phải đi vay để duy trì hoạt động hoặcyêu cầu cấp trên bổ sung ngân sách, cả hai trường hợp đều tạo áp lực bội chi NSNN

· Quy mô chi tiêu của chính phủ quá lớn.

Tăng chi tiêu của chính phủ một mặt giúp nền kinh tế tăng trưởng tạm thời trong ngắn hạn, nhưng lại tạo ra những nguy cơ bất ổn lâu dài như lạm phát và rủi ro tài chính do sự thiếu hiệu quả của các khoản chi tiêu công và thiếu cơ chế giám sát đảm bảo sự hoạt độnglành mạnh của hệ thống tài chính Lý thuyết kinh tế không chỉ ra một cách rõ ràng về hướng tác động chi tiêu của chính phủ đối với tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên đa số các nhà kinh tế thường thống nhất rằng chi tiêu của chính phủ một khi vượt quá một ngưỡng nào đó sẽ làm cản trở tăng trưởng kinh tế do gây ra phân bổ nguồn lực một cách không hiệu quả dẫn tới thâm hụt ngân sách nhà nước và cuối cùng là gây ra lạm phát

· Bên cạnh đó, sự thiếu hụt ngân sách trong những năm qua còn được sử dụng như một công cụ trong chính sách tài khóa để kích thích sự tăng trưởng kinh tế

Chúng ta có thể dễ dàng nhận ra điều này thông qua cân đối NSNN hằng năm Về nguyêntắc, sau khi lấy tổng thu trừ đi tổng chi trong năm sẽ xác định được số thặng dư hoặc thiếu hụt ngân sách trong năm Tuy nhiên, khi cân đối ngân sách chúng ta thường xác

Trang 26

định số bội chi trước (thông thường tương đương với mức Quốc hội cho phép) và nguồn còn lại được Quốc hội cho phép chuyển nguồn sang năm sau Đây là chính sách ngân sách thận trọng khi áp dụng lý thuyết bội chi một cách chủ động và điều đó không gây xáo trộn trong chính sách kinh tế vĩ mô, nhưng phải cân nhắc và kiểm tra xem toàn bộ số bội chi có được sử dụng để chi đầu tư phát triển cho các dự án trọng điểm và hiệu quả qua đó tạo thêm công ăn việc làm, tạo đà cho nền kinh tế phát triển, tăng khả năng thu NSNN trong tương lai hay không.

Thâm hụt ngân sách không phải là ý muốn của bất kỳ chính phủ nào,mà ngược lại tất cả các chính phủ đều hứa hẹn và mong muốn đạt tới sự cân bằng ngân sách.Tuy nhiên đây thực sự là một bài toán hóc búa,mà nguyên nhân chủ yếu là do vi phạm một số nguyên tắc thu và chi ngân sách

Ngoài ra,các cuộc khủng hoảng kinh tế cũng dẫn tới tình trạng thâm hụt.Khi đất nước lâmvào khủng hoảng ,GNP thực tế giảm,các khoản thu nhập của chính phủ giảm (thuế doanh thu và thu nhập giảm), mà các khoản chi chuyển nhượng lại tăng

Cụ thể,ở các nước tư bản,một mặt để khuyến khích phát triển khu vực kinh tế tư

nhân,chính phủ đã tiến hành cải cách hệ thống thuế, theo hướng thu hẹp tỷ lệ thuế trực thu,làm cho tổng số thu của ngân sách nhà nước giảm mạnh.Mặt khác,cùng với việc tăng chi cho các nhu cầu xã hội,xây dựng các công trình công cộng,trợ cấp cho các doanh nghiệp tư nhân,nghiên cứu khoa học,thì chi phí quân sự cũng tăng lên không ngừng,quá sức chịu đựng của ngân sách nhà nước,dẫn đến tình trạng thâm hụt

Còn ở Việt Nam,đặc điểm nổi bật của ngân sách nhà nước thời gian qua là chịu ảnh hưởng nặng nề của hoàn cảnh chiến tranh lâu dài và cơ chế quản lý kế hoạch hoá tập trung cao độ.Vì vậy ngân sách nhà nước luôn gặp phải những khó khăn to lớn , trở nên hết sức bị động cả về thu,chi và cân đối

Thu ngân sách nhà nước tăng chậm và không ổn định,nguồn thu từ nội bộ nền kinh tế không đủ chi cho hầu hết các lĩnh vực kinh tế,xã hội và cho sản xuất kinh doanh.Chi ngânsách còn lãng phí ,kém hiệu quả, mà nhu cầu chi tiêu của nhà

Giải pháp giảm thâm hụt

1.Phát hành tiền

a Giới thiệu phương pháp

Khi ngân sách nhà nước thâm hụt,Chính phủ có thể tài trợ số thâm hụt của mình bằng cách phát hành thêm lượng tiền cơ sở,đặc biệt là trong trường hợp nền kinh tế đất nước suy thoái.Khi sản lượng thực tế thấp hơn mức sản lượng tiềm năng thì việc tài trợ số thâmhụt của chính phủ bằng cách phát hành thêm lượng tiền cơ sở sẽ góp phần thực hiện những mục đích của chính sách ổn định hoá kinh tế thông qua việc đưa nền kinh tế tiến đến gần mức sản lượng tiềm năng mà không gây lạm phát

Ngược lại,khi nhu cầu của nền kinh tế quá mạnh (sản lượng thực tế cao hơn mức sản lượng tiềm năng ) thì chính phủ không nên tài trợ số thâm hụt của mình bằng cách tăng nhanh lượng tiền cơ sở ,vì như vậy sẽ càng kích tổng cầu lên cao và đẩy sản lượng thực tếvượt xa mức sản lượng tiềm năng,hậu quả là làm tăng lạm phát

c Ưu nhược điểm

Trang 27

Tài trợ thâm hụt ngân sách theo phương pháp này thì xu hướng sẽ tạo ra một tổng cầu quá lớn trong nền kinh tế và làm cho lạm phát tăng nhanh

Như vậy, biện pháp này có nhược điểm lớn là chứa đựng nguy cơ lạm phát,gây tác động tiêu cực đến mọi mặt đời sống chính trị ,kinh tế và xã hội

Kinh nghiệm chua xót về việc phát hành tiền quá dễ dãi để bù đắp thâm hụt ngân sách gây ra lạm phát cao trong thập kỷ 80 đã cho chúng ta những bài học quý giá

Trong những năm 80 của thế kỷ 20, nước ta đã bù đắp bội chi ngân sách nhà nước bằng cách in thêm tiền đưa vào lưu thông Việc này đã đẩy tỷ lệ lạm phát đỉnh điểm lên tới hơn600%, nền kinh tế bị trì trệ

Chính vì những hậu quả đó, biện pháp này rất ít khi được sử dụng Và từ năm 1992, nước

ta đã chấm dứt hoàn toàn việc in tiền để bù đắp bội chi ngân sách nhà nước

Ngày 1/4/1990 thành lập hệ thống kho bạc nhà nước trực thuộc bộ tài chính (chịu trách nhiệm về thâm hụt ngân sách nhà nước ) độc lập với ngân hàng nhà nước ( chịu trách nhiệm phát hành tiền vào lưu thông ) Đây là một cuộc cách mạng về cơ cấu nhằm tách chức năng quản lý quỹ ngân sách nhà nước ra khỏi chức năng phát hành tiền,tránh tình trạng tiền túi nọ bỏ vào tuúi kia Cơ chế đó đã đóng góp có kết quả vào việc kiềm chế bội chi và lạm phát trong thập kỷ vừa qua.Từ năm 1991 nhà nước đã tiến hành vay nợ để bù đắp thâm hụt ngân sách

2 Vay nợ

a,Vay nợ trong nước

Vay nợ trong nước được Chính phủ thực hiện dưới hình thức phát hành công trái, trái phiếu Công trái, trái phiếu là những chứng chỉ ghi nhận nợ của nhà nước, là một loại chứng khoán hay trái khoán do nhà nước phát hành để vay các dân cư, các tổ chức kinh tế

- Tập chung được khoản tiền tạm thời nhàn rỗi trong dân cư,tránh được nguy cơ khủng hoảng nợ nước ngoài, dễ triển khai

Hạn chế :

Thứ nhất, chứa đựng nguy cơ kìm hãm sự phát triển của các hoạt động sản xuất, kinh

doanh của nền kinh tế

Để vay được tiền chính phủ phải đa dạng hoá các hình thức vay như phát hành trái phiếu, tín phiếu, công trái Đồng thời phải thực hiện nhiều biện pháp để tăng mức độ hấp dẫn người cho vay như tăng lãi suất, mở rộng ưu đãi về thuế thu nhập ngoài ra còn phải triển khai các biện pháp khác, kể cả tuyên truyền, vận động để huy động tối đa nguồn tiền trong dân cư nhằm hoàn thành kế hoạch vay đã định

Tuy nhiên, tổng lượng tiền mà nhân dân và các đơn vị có thể có để cho chính phủ vay bị giới hạn trong tổng lượng tiết kiệm của xã hội Nếu chính phủ huy động được nhiều thì đương nhiên phần tiền còn lại dành cho đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh ở khu vực ngoài quốc doanh sẽ giảm đi

Như vậy, chưa biết chính phủ sẽ làm gì, làm như thế nào đối với lượng tiền huy động

Trang 28

được, nhưng xã hội hay trực tiếp hơn là khu vực các doanh nghiệp và dân cư đó sẽ mất đimột nguồn vốn tương ứng có khả năng dành cho đầu tư phát triển kinh tế Nếu các biện pháp thu hút tiền vay của chính phủ và của ngân hàng càng có lãi suất cao thì càng tạo ra luồng tiền vốn dịch chuyển từ các khu vực doanh nghiệp và dân cư sang hệ thống tài chính ngân hàng mà không chảy vào sản xuất kinh doanh.

Do vậy, vay trong nước để bù đắp thâm hụt ngân sách luôn luôn chứa đựng nguy cơ kìm hãm các hoạt động sản xuất kinh doanh của nền kinh tế Mục tiêu chấn hưng kinh tế của chính phủ thông qua con đường phát hành trái phiếu, tín phiếu bị chính bản thân giải pháp này cản trở ngay từ nguồn gốc

Chính vì thế, trong thời kỳ kinh tế đình đốn, hầu như các nước đều tránh các biện pháp cónguy cơ làm giảm khẳ năng tự đầu tư của các thành phần kinh tế, kể cả doanh nghiệp quốc doanh, ngoài quốc doanh và các tầng lớp dân cư Biện pháp tài trợ thâm hụt ngân sách này chỉ nên thực hiện trong trường hợp nền kinh tế là cường thịnh Nếu ta tài trợ thâm hụt ngân sách bằng cách phát hành trái phiếu, thì trái phiếu sẽ tạo ra cho công dân trách nhiệm nộp thêm thuế trong tương lai để trang trải lãi về các trái phiếu đấy

Thứ hai, việc trả lãi trong tương lai tạo ra một gánh nặng nợ cho chính phủ (trừ khi

những thâm hụt ngân sách nhà nước này bắt nguồn từ việc chi tiêu cho các dự án đầu tư

có sức sinh lời)

Đặc biệt, ở những nước trải qua giai đoạn lạm phát cao (như nước ta hiện nay), giá trị thực của trái phiếu chính phủ giảm nhanh chóng, làm cho chúng trở nên ít hấp dẫn Chínhphủ có thể sử dụng quyền lực của mình để buộc các chủ thể khác trong nền kinh tế phải giữ trái phiếu, tuy nhiên, nếu việc này kéo dài có thể gây ảnh hướng nghiêm trọng đến uytín của Chính phủ và khiến cho việc huy động vốn thông qua kênh này sẽ trở nên khó khăn hơn vào các năm sau

Tuy nhiên điều này chưa xảy ra ở Việt Nam

Ngược lại, tức thực tế hiện nay, lãi suất trái phiếu chính phủ vẫn không đáp ứng được lãi suất kỳ vọng của thị trường nên phát hành trái phiếu luôn bị thất bại Hậu quả có khi cũng

tệ không kém, thị trường gần như không có thanh khoản

b, Vay nợ nước ngoài

Chính phủ có thể tài trợ thâm hụt ngân sách bằng các nguồn vốn nước ngoài thông qua việc nhận viện trước nước ngoài hoặc vay nợ nước ngoài từ các chính phủ nước ngoài, các định chế tài chính thế giới như Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), các tổ chức liên chính phủ, tổ chức quốc tế

Viện trợ nước ngoài là nguồn vốn phát triển của các chính phủ, các tổ chức liên chính

phủ, các tổ chức quốc tế cung cấp cho chính phủ của một nước nhằm thực hiện các chương trình hợp tác phát triển kinh tế xã hội và hiện nay chủ yếu là nguồn vốn phát triểnchính thức ODA

Vay nợ nước ngoài có thể thực hiện dưới các hình thức: phát hành trái phiếu bằng ngoaị

tệ mạnh ra nước ngoài, vay bằng hình thức tín dụng

Ưu điểm: nó là một biện pháp tài trợ ngân sách nhà nước hữu hiệu, có thể bù đắp được

các khoản bội chi mà lại không gây sức ép lạm phát cho nền kinh tế Đây cũng là một nguồn vốn quan trọng bổ sung cho nguồn vốn thiếu hụt trong nước, góp phần thúc đẩy

Trang 29

phát triển kinh tế - xã hội

Nh

ược điểm:

Thứ nhất, việc vay nợ nước ngoài sẽ khiến cho gánh nặng nợ nần, nghĩa vụ trả nợ tăng

lên, giảm khả năng chi tiêu của chính phủ

Thứ hai, dễ khiến cho nền kinh tế trở nên bị phụ thuộc vào nước ngoài Thậm chí, nhiều

khoản vay, khoản viện trợ còn đòi hỏi kèm theo đó là nhiều các điều khoản về chính trị, quân sự, kinh tế khiến cho các nước đi vay bị phụ thuộc nhiều

Vay nước ngoài phụ thuộc vào đối tác cho vay và thường phải chịu những điều kiện ngặt nghèo về lãi suất và thời hạn vay trả Hình thức vay thường qua các hiệp định song phương,nguồn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và vay trên thị trường tài chính quốc

tế Nguồn hỗ trợ phát triển chính thức thường cho vay với các điều kiện ưu đãi, nhưng ngày càng hiếm hoi và do vậy có sự cạnh tranh gay gắt Dù thế nào, thì vay nước ngoài cũng chịu sự ràng buộc của nhiều điều kiện vay áp đặt từ nước cho vay

Ví dụ, Quỹ MIYAZWA của Nhật Bản quy định :Trong tống số vốn được cho vay tài trợ, phải có ít nhất 50% được sử dụng để mua hàng của Nhật hoặc các công ty Nhật đóng tại nước sở tại Ngoài ra còn kèm theo các điều kiện, thủ tục không thành văn khác như phải qua khâu trung gian là Ngân hàng xuất nhập khẩu Nhật Bản (JEXIM) hoặc các trung gian tài chính khác của Nhật thì mới có thể vay được tiền từ MIYAZAWA

Như vậy nếu ta vay được của Nhật 1 tỷ ta đã góp phần trực tiếp chấn hưng nền kinh tế Nhật tới trên 500 triệu, chưa kể các áp lực về thủ tục đấu thầu,giá cả,công nghệ

Tính đến cuối năm 2000, mức độ nợ nước ngoài của Việt Nam khoảng 12,8 tỷ USD, chiếm 40-45% so với GDP và vẫn còn nằm trong “giới hạn an toàn” ( ngưỡng an toàn là 50% GDP)

Năm 2008, nợ Chính phủ chiếm khoảng 36,5% GDP, năm 2009 ước lên đến 40% GDP

và năm 2010 khoảng 44% GDP

3 Tài trợ thâm hụt ngân sách bằng biện pháp tăng thuế

Nhà kinh tế học Mỹ-Laffer (thập kỷ 70 ) đã đồ thị hoá hai tác động trái ngược nhau của việc tăng thuế thu nhập tuỳ theo mức thuế suất áp dụng

Có một mức thuế suất tối ưu (t*) cho phép nhà nước đạt được số thu ngân sách từ thuế lớn nhất Khi thuế suất nằm dưới mức tối ưu này, thì nâng thuế suất cho phép tăng thu ngân sách Nhưng nếu thuế suất đã cao hơn mức tối ưu này mà lại tiếp tục nâng thuế suất thì số thu ngân sách chỉ giảm đi Hàm ý của đường cong Laffer là khi thuế suất đang ở mức cao, thì giảm thuế suất sẽ có lợi vì thu ngân sách tăng đồng thời lại khuyến khích khu vực tư nhân hăng hái đầu tư

-

Ưu điểm: Khi còn trong vùng có thể chịu đựng được,tăng thuế suất thuế thu nhập sẽ

làm tăng nguồn thu ngân sách nhà nước,đồng thời còn kích thích các đối tượng mở mang các hoạt động kinh tế,tăng khả năng sinh lời,một phần nộp ngân sách nhà nước,còn lại là thặng dư cho mình.Trong trường hợp này,tăng thuế thu nhập có tác dụng kích thích tăng trưởng kinh tế

Trang 30

- Nh ược điểm: Khi vượt qua giới hạn chịu đựng của nền kinh tế, tăng thuế suất trực thu

sẽ làm giảm nguồn thu từ thuế của ngân sách nhà nước và thúc đẩy trốn thuế ,lậu thuế.Trên thực tế, tăng thuế là giải pháp không dễ áp dụng và rất tốn kém Tăng thuế có khả thi hay không còn phụ thuộc vào sức chịu đựng của nền kinh tế, phụ thuộc vào hiệu quả làm việc của hệ thống thu, phụ thuộc vào hiệu suất của từng sắc thuế Trong thời kỳ kinh

tế suy thoái, hoạt động kinh tế mờ nhạt thì tăng thuế không những không khả thi mà còn cản trở hoạt động sản xuất kinh doanh,trực tiếp làm tăng số lượng nợ đọng thuế của các doanh nghiệp, đẩy các doanh nghiệp vào tình trạng tài chính không lành mạnh và làm giảm nguồn thu ngân sách

Ở Việt Nam, năm 2009 Chính phủ đã giải quyết thâm hụt ngân sách bằng cách: Tăng thuế thu nhập cá nhân và thuế bất động sản Liên quan tới các ưu đãi về thuế TNDN: Từ 1-1-2009 thuế suất thu hẹp lại chỉ còn 10% và 20%, bỏ thuế suất ưu đãi 15%

Các ưu đãi miễn giảm thuế thu hẹp lại, không mặc nhiên áp dụng cho các DN mới thành lập hay đang đầu tư mở rộng nữa Chỉ ưu đãi với các dự án đầu tư vào lĩnh vực mang tínhchất nhà nước đặc biệt khuyến khích

Ví dụ: lĩnh vực công nghệ cao, nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, đầu tư hạ tầng quan trọng, sản xuất phần mềm, các dự án đầu tư vào các khu kinh tế Mức để miễngiảm thuế tối đa là miễn 4 năm giảm 9 năm

Các doanh nghiệp đã thành lập trước ngày 1-1-2009 và đang được hưởng các ưu đãi đầu

tư theo quy định hiện hành sẽ tiếp tục được áp dụng thời gian ưu đãi như cũ

Luật mới cũng khống chế cách xác định thời gian bắt đầu tính thuế ưu đãi: tính từ năm cóthu nhập chịu thuế Nếu doanh nghiệp nào lỗ trên 3 năm, thì năm đầu tiên tính ưu đãi là năm thứ 4

Thay đổi về thuế GTGT: Thu hẹp nhóm hàng hoá dịch vụ có thuế suất 5% Đây là bước chuyển tiếp để tiến đến chỉ duy trì hai mức thuế suất là 0% và phổ thông 10%

Ví dụ: hiện nay qui định sản phẩm cơ khí phục vụ sản xuất là 5% còn phục vụ tiêu dùng

là 10%, tuy nhiên rất khó phân biệt hai loại này nên sẽ chuyển hết sang 10%; sản phẩm luyện cán kéo kim loại cũng chuyển hết sang thuế suất 10%; hóa chất cơ bản, thông thường được chuyển qua nhóm 10%; máy xử lý tự động; than đá, đất đá sỏi, bốc xếp trục vớt cứu hộ…cũng vậy

4 Cắt giảm chi tiêu nhằm giảm thâm hụt ngân sách

Đây là một giải pháp tuy mang tính tình thế, nhưng vô cùng quan trọng với mỗi quốc gia khi xảy ra bội chi NSNN và xuất hiện lạm phát Triệt để tiết kiệm các khoản đầu tư công

có nghĩa là chỉ đầu tư vào những dự án mang tính chủ đạo, hiệu quả nhằm tạo ra những đột phá cho sự phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt những dự án chưa hoặc không hiệu quảthì phải cắt giảm, thậm chí không đầu tư Mặt khác, bên cạnh việc triệt để tiết kiệm các khoản đầu tư công, những khoản chi thường xuyên của các cơ quan nhà nước cũng phải cắt giảm nếu những khoản chi này không hiệu quả và chưa thực sự cần thiết

Xét theo góc độ kinh tế học,cắt giảm chi tiêu với hy vọng giảm tổng chi nhằm giảm mức thâm hụt ngân sách nhà nước là một biện pháp ‘tiêu cực’

Trang 31

Chính phủ sẽ cắt giảm chi thường xuyên,bao gồm cả chi lương, chi mua sắm trang thiết

bị cho bộ máy quản lý hành chính,thậm chí sẽ trì hoãn hoặc cắt giảm đầu tư phát triển.Đương nhiên, ở đây cần phân biệt tính hiệu quả, tiết kiệm trong mỗi khoản chi ngân sách với khái niệm cắt giảm chi tiêu ngân sách nhà nước,cần phân biệt khái niệm lãng phí và phạm trù kích cầu Nếu như công việc trung gian gián tiếp kích thích hoạt động kinh tế thì đó không phải là lãng phí mà là những việc cần làm ngay giúp cho nền kinh tế phục hồi.Dù trước mắt ,ngân sách có thiếu hụt cũng phải tạo nguồn để chi cho khoản đó nhằm chấn hưng nền kinh tế và nuôi dưỡng nguồn thu trong tương lai

Chẳng hạn ở Việt Nam để tăng khả năng cạnh tranh cho hàng hoá của ta, cần tăng khả năng lưu thông,muốn tăng khả năng lưu thông cần giảm chi phí vận chuyển,muốn giảm chi phí vận chuyển nhà nước cần đầu tư vào cơ sở hạ tầng giao thông vận tải, cải tạo, hoàn thiện và xây mới các tuyến đường

5 Dự trữ ngoại hối:

Sử dụng nguồn dự trữ ngoại tệ của quốc gia (bao gồm ngoại tệ mạnh và vàng) để bù đắp thâm hụt NSNN Đây là một trong những giải pháp tương đối chu toàn vừa đảm bảo ổn định tỷ giá vừa đảm bảo không gây ra lạm phát Tuy nhiên đối với Việt Nam điều này không khả thi cho lắm do dự trữ ngoại tệ quốc gia đang ở mức thấp và tình trạng mất kiểm soát đối với thị trường ngoại tệ chợ đen còn nghiêm trọng Thông tin nhà nước giảm

dự trữ ngoại tệ sẽ khiến cho tình trạng đầu cơ găm giữ ngoại tệ trở nên phổ biến và điều này sẽ khiến cho những cố gắng ổn đỉnh tỷ giá hối đoái thêm khó khăn

Tham khảo

Để giải quyết tình trạng thâm hụt ngân sách, Nhà nước sẽ phải tăng thuế hoặc phải vay

nợ thông qua phát hành trái phiếu Cả hai hành động này đều tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế Hơn nữa năm 2011, cân đối ngân sách sẽ phải tiếp tục chịu sự tác động của gói kích thích phát triển kinh tế đã giải ngân khoảng 15.000 tỉ đồng từ năm 2009, vốn ODA cho Việt Nam cũng có xu hướng giảm vì các nhà tài trợ lo ngại về tình trạng

nợ nần của Việt Nam quá lớn sẽ làm mất cân đối vĩ mô.

Trong bối cảnh Việt Nam ngày càng hội nhập sâu hơn, thực hiện nhiều cam kết WTO và cam kết đa phương, song phương về giảm thuế nhập khẩu thì nguồn thu ngân sách chỉ còn trông chờ vào tăng thuế trong nước Tuy nhiên, nếu tăng thuế doanh nghiệp sẽ phải chịu gánh nặng chi phí nhiều hơn, làm giảm khả năng cạnh tranh của nền kinh tế Nếu tăng thuế thu nhập cá nhân thì mức tiêu dùng sẽ giảm, làm giảm một phần tổng cầu, lập tức sẽ tác động tiêu cực đến động lực phát triển của nền kinh tế, tăng trưởng sẽ càng khó khăn hơn.

Theo IMF, Việt Nam nên thực hiện một kế hoạch củng cố ngân sách nhằm giảm tỷ lệ nợ công trên GDP để tạo không gian tài khóa, đồng thời nên cắt giảm thâm hụt ngân sách xuống mức 5% GDP trong năm 2011 và khoảng 3% vào năm 2015 Tuy nhiên, Chính phủ vẫn tiếp tục tăng ngân sách bằng cách vay nợ trong nước và nước ngoài.Điều đáng

lo là mặt bằng lãi suất hiện nay rất cao, vào khoảng 18% Điều này không những không

hỗ trợ doanh nghiệp phục hồi sản xuất, kinh doanh mà còn khiến họ lao đao Nhất là trong những tháng cuối năm 2010, nhu cầu vốn của doanh nghiệp lớn, để tồn tại, nhiều doanh nghịêp phải chấp nhận vay vốn với lãi suất cao, vì thế rủi ro sẽ càng lớn.

Ngày đăng: 10/03/2015, 09:22

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình thức tín dụng đều có đặc điểm riêng của mình như : mục đích, đối tượng, chủ thể, - Tài liệu ôn thi tài chính tiền tệ lời giải tổng hợp
Hình th ức tín dụng đều có đặc điểm riêng của mình như : mục đích, đối tượng, chủ thể, (Trang 59)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w