Nhóm nghiên cứu đã tiếp cận đối tượng theo phương thức: đi từ nghiên cứu lý thuyết/ các vấn đề cơ bản của đánh giá tổ chức khoa học và công nghệ phối hợp với việc phân tích thực trạng cá
Trang 1BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
VIỆN ĐÁNH GIÁ KHOA HỌC VÀ ĐỊNH GIÁ CÔNG NGHỆ
BÁO CÁO TỔNG KẾT
Đề tài nghiên cứu cấp Bộ:
NGHIÊN CỨU PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN ĐÁNH GIÁ
TỔ CHỨC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VÀ ĐỀ XUẤT PHƯƠNG ÁN ĐÁNH GIÁ PHÙ HỢP VỚI VIỆT NAM
Chủ nhiệm đề tài: TS Phạm Xuân Thảo
(TS Tạ Doãn Trịnh)
Hà Nội, 2012
Trang 2CÁC THÀNH VIÊN THAM GIA CHÍNH
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Đề tài "Nghiên cứu phương pháp tiếp cận đánh giá tổ chức khoa học và công nghệ và đề xuất các phương án đánh giá phù hợp với Việt Nam" đã được hoàn thành với sự tài trợ của Bộ Khoa học và Công nghệ cùng với sự trợ giúp, hợp tác của nhiều đơn vị và cá nhân
Nhóm thực hiện đề tài xin cảm ơn tập thể Lãnh đạo, các nghiên cứu viên,
kế toán và nhân viên hành chính của Viện Đánh giá khoa học và Định giá công nghệ đã tham gia đóng góp ý kiến, hỗ trợ mọi hoạt động liên quan trong khi chúng tôi thực hiện đề tài
Xin chân thành cảm ơn một số tổ chức khoa học và công nghệ đã cung cấp dữ liệu để cuộc khảo sát thực trạng hoạt động của các tổ chức khoa học và công nghệ ở Việt Nam và đánh giá thử một số tổ chức thành công, đóng góp vào việc đạt được các mục tiêu của đề tài
Chúng tôi xin bày tỏ sự cảm ơn đến một số nhà khoa học (của các trường thành viên thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, một số Viện nghiên cứu thuộc Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam và của một số đơn vị nghiên cứu khác) đã nhiệt tình tham gia vào các hoạt động đánh giá, tư vấn và đóng góp ý kiến bình luận quí báu và bổ ích để chúng tôi hoàn thành tốt các nội dung của đề tài
Trang 4MỤC LỤC
TÓM TẮT CHÍNH 5
PHẦN I: PHẦN MỞ ĐẦU 13
1 Lý do thực hiện đề tài 13
2 Mục tiêu, đối tượng và phương pháp nghiên cứu 15
3 Phạm vị và các khái niệm 16
4 Nội dung nghiên cứu 17
PHẦN II: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 20
Chương 1 Tổng quan về phương pháp luận và cách tiếp cận đánh giá tổ chức khoa học và công nghệ 20
1.1 Tính đa dạng về mục đích và đối tượng đánh giá 20
1.2 Quy trình, phương pháp và tiêu chí đánh giá tổ chức khoa học và công nghệ 27
Chương 2 Thực trạng phân loại các tổ chức khoa học và công nghệ ở Việt Nam và đề xuất việc phân nhóm khi đánh giá 31
2.1 Nghiên cứu lựa chọn phương án phân nhóm các tổ chức khoa học và công nghệ ở Việt Nam khi đánh giá 31
2.2 Đặc trưng cơ bản của các nhóm tổ chức khoa học và công nghệ 36
2.3 Các vấn đề cơ bản cần lưu ý khi đề xuất phương pháp luận đánh giá các tổ chức khoa học và công nghệ ở Việt Nam 39
Chương 3 Xây dựng quy trình đánh giá hoạt động của các tổ chức khoa học và công nghệ ở Việt Nam 47
3.1 Mục đích và đối tượng đánh giá 47
3.2 Quy trình đánh giá 48
3.3 Phương pháp đánh giá 52
3.3 Tiêu chí và các chỉ số đánh giá 53
3.3 Hồ sơ đánh giá 63
3.4 Cách thức chấm điểm và kết luận đánh giá 64
PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 67
Trang 51 Kết luận 67
2 Kiến nghị 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO 73
PHỤ LỤC 77
Phụ lục 1 Mẫu Hồ sơ thông tin và Mẫu phiếu đánh giá hoạt động của các viện nghiên cứu 78
Phụ lục 2 Mẫu Hồ sơ thông tin và Mẫu phiếu đánh giá hoạt động của các tổ chức khoa học và công nghệ trong trường đại học 98
Phụ lục 3 Mẫu Hồ sơ thông tin và Mẫu phiếu đánh giá hoạt động của các tổ chức dịch vụ khoa học và công nghệ 120
Phụ lục 4: Các biểu mẫu khác (Biên bản kiểm phiếu chấm điểm đánh giá; Biên bản họp hội đồng đánh giá; Mẫu Báo cáo đánh giá) 137
Trang 6TÓM TẮT CHÍNH
Nhiệm vụ “Nghiên cứu phương pháp tiếp cận đánh giá tổ chức khoa học và công nghệ và đề xuất các phương án đánh giá phù hợp với Việt Nam” đã được thiết kế và thực hiện như một nghiên cứu mang tính chất khai phá, mở đường cho hoạt động đánh giá các tổ chức khoa học và công nghệ ở Việt Nam với quy trình tương hợp với quốc tế
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm mục tiêu: (1) tổng quan và phân tích được các vấn đề cơ bản về phương pháp luận tiếp cận đánh giá các tổ chức KH&CN; và (2) đề xuất được phương án đánh giá các tổ chức khoa học và công nghệ ở Việt Nam (phương pháp, quy trình và tiêu chí đánh giá phù hợp với các nhóm đối tượng)
Nhóm nghiên cứu đã tiếp cận đối tượng theo phương thức: đi từ nghiên cứu
lý thuyết/ các vấn đề cơ bản của đánh giá tổ chức khoa học và công nghệ phối hợp với việc phân tích thực trạng các tổ chức khoa học và công nghệ ở Việt Nam, sau đó, đề xuất phương pháp, quy trình và tiêu chí đánh giá phù hợp và cuối cùng là đánh giá thử một số tổ chức để điều chỉnh phương pháp luận đã đề xuất cho phù hợp với thực tiễn
Nghiên cứu đã được thực hiện với các nội dung theo logic như sau: (1) Nghiên cứu cách tiếp cận đánh giá tổ chức khoa học và công nghệ qua kinh nghiệm thực hành đánh giá tổ chức khoa học và công nghệ của một số nước; (2) Nghiên cứu, phân tích các yêu cầu đối với việc đánh giá các tổ chức khoa học và công nghệ ở Việt Nam hiện nay; (3) Nghiên cứu, đề xuất phương án đánh giá tổ chức khoa học và công nghệ ở Việt Nam; và (4) Kiểm nghiệm tính thực tiễn của phương pháp luận đã đề xuất (bằng cách đánh giá thử một số tổ chức khoa học
và công nghệ) và điều chỉnh cho phù hợp Các kết quả nghiên cứu lần lượt được tóm tắt dưới đây:
Trang 7Từ việc tìm hiểu kinh nghiệm thực hành đánh giá tổ chức khoa học và công nghệ của một số nước, nhóm nghiên cứu đã nhận thấy rằng không thể có một
mô hình hay một quy trình mẫu nào là “khuôn vàng thước ngọc” dùng để “đo ni đóng cột” áp dụng đánh giá mọi tổ chức khoa học và công nghệ
Sự khác biệt của các mô hình/quy trình đánh giá tổ chức khoa học và công nghệ được quyết định bởi các yếu tố sau:
Mục đích đánh giá: Việc đánh giá các tổ chức khoa học và công
nghệ thường được tiến hành nhằm phục vụ các mục đích khác nhau
Do vậy, các tiêu chí và quy trình đánh giá cũng phải được lựa chọn
để đáp ứng các mục đích khác nhau đó;
Đặc thù hoạt động và chức năng của các loại tổ chức: Các tổ chức
khoa học và công nghệ có chức năng, nhiệm vụ khác nhau và lĩnh vực nghiên cứu cũng khác nhau Do vậy, tính chất và đặc trưng của các kết quả nghiên cứu cũng khác nhau Có tổ chức có nhiều sản phẩm thuần túy là các tri thức mới/công bố để nhận biết thế giới Có
tổ chức có sản phẩm chủ yếu là tạo ra các mẫu vật mới, sản phẩm mới, quy trình công nghệ mới Có tổ chức lại có sản phẩm chủ yếu là các kiến nghị chính sách, các đề xuất tư vấn mang tính xã hội dựa trên các luận cứ khoa học và thực tiễn Yếu tố này ảnh hưởng đến việc thiết kế và lựa chọn các tiêu chí, chỉ số đánh giá và ảnh hưởng đến việc xác định thành phần của nhóm chuyên gia đánh giá
Tuy nhiên, phần lớn hoạt động đánh giá tổ chức khoa học và công nghệ được thực hiện nhằm những mục tiêu chính sau:
Nâng cao năng suất trong hoạt động bằng cách sử dụng các nguồn lực một cách hợp lý và hiệu quả hơn;
Nâng cao chất lượng quản lý tổ chức khoa học và công nghệ và quản
lý thực hiện các nhiệm vụ trong tổ chức đó;
Xác định rõ kết quả hoạt động, đo mức độ thành công của tổ chức khoa học và công nghệ;
Trang 8Cung cấp định hướng chỉ đạo những cố gắng trong tương lai của tổ chức
Việc đánh giá hoạt động hay kết quả hoạt động của tổ chức khoa học và công nghệ là để hiểu giá trị đích thực và xem xét ý nghĩa ứng dụng của các kết quả mà tổ chức tạo ra Nếu như đánh giá hoạt động nghiên cứu của một nhà khoa học là xem xét sự đóng góp đích thực của nhà khoa học đó cho việc phát triển hướng nghiên cứu họ đang theo đuổi, thì nhìn xa hơn, việc đánh giá năng lực và hoạt động của những tổ chức khoa học và công nghệ là một yêu cầu bức thiết phục vụ việc xây dựng các quyết định về chiến lược phục vụ phát triển khoa học và công nghệ cho những tổ chức đó Bên cạnh đó, việc đánh giá hoạt động của tổ chức khoa học và công nghệ cũng có ý nghĩa đối với sự tồn tại của chính tổ chức đó Chính vì vậy, kết quả đánh giá các tổ chức khoa học và công nghệ thường được sử dụng cho các đối tượng sau:
Cơ quan quản lý Nhà nước về khoa học và công nghệ để tham khảo khi phân bổ các nguồn lực cho hợp lý và có cách tổ chức lại các cơ quan yếu kém;
Chính bản thân tổ chức được đánh giá để họ nhận ra những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của tổ chức mình trong cộng đồng khoa học và công nghệ quốc gia và quốc tế, để họ có hướng hoàn thiện tổ chức và điều chỉnh phương hướng hoạt động cho phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội;
Đối với công chúng thì việc đánh giá các tổ chức khoa học và công nghệ là cơ hội để Nhà nước giải trình với công chúng về việc hiệu quả sử dụng các nguồn lực của quốc gia cho sự nghiệp phát triển khoa học và công nghệ của đất nước
Thông thường, có hai loại hình đánh giá là tự đánh giá và đánh giá từ bên ngoài Việc tự đánh giá thường được thực hiện hàng năm hoặc 2 năm một lần theo cách thức được Nhà nước quy định và báo cáo lên các cấp quản lý ở trên Còn đánh giá từ bên ngoài thường được tiến hành khi có đề xuất, hoặc theo chu
Trang 9kỳ 4-5 năm một lần với một tổ chuyên gia do Nhà nước thành lập Khi cần thiết, đánh giá từ bên ngoài có thể sử dụng cả chuyên gia nước ngoài tham gia đánh giá Đánh giá từ bên ngoài có nhiều ưu điểm như là thể hiện tính chất khách quan hơn, chính xác hơn, nhưng nó lại thường yêu cầu nhiều về kinh phí, thời gian và tổ chức khá phức tạp Trong nhiều trường hợp, “tự đánh giá” được bao gồm trong quy trình đánh giá từ bên ngoài như là một sự cộng tác đắc lực từ phía tổ chức được đánh giá
Về phương pháp đánh giá, mọi hình thức đánh giá (tự đánh giá, đánh giá từ bên ngoài) đều cần ít nhất một phương pháp quan trọng chung, đó là đánh giá bằng chuyên gia cùng ngành (peer review) Đây là phương pháp đặc biệt hữu hiệu trong đánh giá hệ thống khoa học và công nghệ nói chung và đánh giá các
tổ chức khoa học và công nghệ nói riêng Bên cạnh đó, tùy từng bước trong quy trình thực hiện đánh giá mà có thể sử dụng kết hợp với một số các phương pháp khác, như là: phương pháp điều tra, phân tích thư mục trắc lượng (survey , analysic and bibliometric), phương pháp miêu tả (descriptive research), phân tích mạng lưới xã hội (social network analysic), so sánh đối chuẩn (bench-mark), …
Đánh giá hoạt động của một tổ chức ở một thời điểm nào đó, người ta thường xem xét tổng thể các khía cạnh: chức năng, nhiệm vụ; kế hoạch chiến lược; cơ cấu tổ chức và sự lãnh đạo; cơ cấu nguồn nhân lực; cơ sở hạ tầng; khả năng thu hút các nguồn tài trợ; quan hệ hợp tác; chất lượng khoa học, công nghệ; chất lượng đào tạo nguồn nhân lưc; đóng góp cho kinh tế - xã hội … Tiêu chí đánh giá tương ứng với các khía cạnh đó thường bao gồm:
- Sự phù hợp của cấu trúc của tổ chức khoa học và công nghệ: chức năng, nhiệm vụ; kế hoạch chiến lược; cơ cấu tổ chức và sự lãnh đạo; cơ cấu nguồn nhân lực; cơ sở hạ tầng
- Tính hiệu quả của việc tổ chức hoạt động: thu hút các nguồn tài trợ; quan
hệ hợp tác; …
Trang 10- Tính hiệu suất và chất lượng của kết quả: về mặt khoa học, công nghệ; đào tạo nguồn nhân lưc; đóng góp cho kinh tế - xã hội…
Với những đặc điểm nêu trên, việc nghiên cứu đề xuất phương pháp, quy trình và tiêu chí đánh giá hoạt động của tổ chức khoa học và công nghệ ở Việt Nam trong nghiên cứu này được hiểu là việc tìm ra cách thức để xem xét một cách hệ thống và khách quan về tính phù hợp của mục tiêu, tính hiệu quả, hiệu suất và tính bền vững về hoạt động và chất lượng kết quả hoạt động của các tổ chức khoa học và công nghệ ở Việt Nam
Nhóm nghiên cứu đã đề xuất quy trình khung, áp dụng để đánh giá hoạt động của các tổ chức khoa học và công nghệ ở Việt Nam gồm các bước ứng với các nội dung cơ bản sau: (B1) Thiết kế đánh giá – xác định mục tiêu, đối tượng, phạm vi, tiêu chí và các chỉ số đánh giá; (B2) Lập hồ sơ đánh giá – thông tin đầy
đủ về hoạt động của tổ chức, báo cáo tự đánh giá từ tổ chức (cơ quan đánh giá yêu cầu tổ chức thực hiện tự đánh giá bởi Hội đồng Khoa học của tổ chức); (B3) Hội đồng chuyên gia đánh giá từ bên ngoài – đánh giá hiện trường và họp đánh giá
Căn cứ vào thực trạng về tổ chức hoạt động và các chính sách đối với hoạt động của các tổ chức khoa học và công nghệ ở Việt Nam hiện nay, tìm kiếm sự hợp tác của các tổ chức khoa học và công nghệ với công tác đánh giá là khó khăn Đặc biệt là việc tự đánh giá của bản thân các tổ chức rất khó được thực hiện một cách hiệu quả Do vậy, trong quy trình đánh giá, bước tự đánh giá có thể được thay thế bằng việc cung cấp thông tin đầy đủ, chi tiết về hoạt động của bản thân tổ chức (theo yêu cầu của cơ quan đánh giá - Viện Đánh giá khoa học
và Định giá công nghệ) và đồng thời, tăng cường vai trò của công tác đánh giá hiện trường (site-visit) và tìm kiếm sự công tác của (các/một số thành viên trong) Hội đồng khoa học của tổ chức khi duyệt báo cáo kết quả đánh giá
Qua phân tích hiện trạng của các tổ chức khoa học và công nghệ ở Việt Nam trên quan điểm của người đánh giá, nhóm nghiên cứu nhận thấy: với mục
Trang 11tiêu đánh giá hoạt động của các tổ chức khoa học và công nghệ phổ biến ở Việt Nam, cách tối ưu là phân chia các tổ chức khoa học và công nghệ thành 3 nhóm lớn sau: (1) Các viện nghiên cứu và phát triển; (2) Các tổ chức khoa học và công nghệ trong các trường đại học; và (3) Các tổ chức dịch vụ khoa học và công nghệ
Việc đề xuất các tiêu chí, chỉ số đánh giá hoạt động của các tổ chức được căn cứ vào đặc trưng của từng nhóm/loại tổ chức Đặc trưng của các loại tổ chức này được xác định dựa vào các Điều 9-13 Luật Khoa học và Công nghệ (năm 2000) và căn cứ kết quả khảo sát thực tế về hoạt động của các tổ chức Các khía cạnh đánh giá, câu hỏi đánh giá/các chỉ số đánh giá tương ứng với mỗi loại tổ chức - ở mức độ nhất định - có những điểm chung và có những điểm khác nhau Nếu so sánh các viện nghiên cứu và phát triển với các tổ chức khoa học và công nghệ trong trường đại học thì sẽ có nhiều điểm tương đồng, do đó, các tiêu chí đánh giá/câu hỏi đánh giá có nhiều điểm chung Về cơ bản, tiêu chí đánh giá các
tổ chức khoa học và công nghệ trong các trường đại học giống tiêu chí đánh giá các viện nghiên cứu và phát triển Tuy nhiên, cân đối trọng số giữa một số tiêu chí (nhỏ)/chỉ số đánh giá tổ chức khoa học và công nghệ trong trường đại học sẽ khác với viện nghiên cứu và phát triển Đối với tổ chức dịch vụ khoa học và công nghệ, do đặc điểm hoạt động rất khác biệt so với hai loại tổ chức trên mà các tiêu chí đánh giá/câu hỏi đánh giá sẽ khác
Tiêu chí và các chỉ số cơ bản để đánh giá hoạt động của các tổ chức khoa học và công nghệ được đề xuất như sau:
Tiêu chí 1 - Xem xét các khía cạnh về chức năng, nhiệm vụ và kế hoạch phát triển: Mức độ phù hợp và gắn kết của kế hoạch/chiến lược phát triển với chức năng và nhiệm vụ của tổ chức; Mức độ rõ ràng của kế hoạch/định hướng phát triển của tổ chức; Mức độ khả thi của kế hoạch/định hướng phát triển của tổ chức
Tiêu chí 2 - Xem xét các khía cạnh về cơ cấu tổ chức và hoạt động: Sự phù hợp của công tác tổ chức các hoạt động; Sự phù hợp và khả năng
Trang 12phát triển nguồn nhân lực; Năng lực thu hút các ngồn tài chính; Khả năng tăng cường cơ sở vật chất và điều kiện làm việc vì nỗ lực đạt được mục tiêu cuối cùng của tổ chức
Tiêu chí 3 - Xem xét thành tựu và kết quả (trong 5 năm lại đây): Sự gắn kết với mục tiêu; Đóng góp cho sự phát triển lĩnh vực KH&CN liên quan; Đóng góp cho sự phát triển kinh tế - xã hội
Nghiên cứu này đưa ra quy trình, phương pháp và các tiêu chí, chỉ số đánh giá cơ bản Đối với mỗi đối tượng cụ thể - khi đánh giá một tổ chức khoa học và công nghệ cụ thể - cần căn cứ vào một số đặc trưng riêng của tổ chức đó mà có
sự điều chỉnh các tiêu chí nhỏ, các câu hỏi đánh giá tương ứng và các trọng số đối với các tiêu chí tương ứng cho phù hợp Các đặc trưng riêng có thể phải xét đến bao gồm: loại hình nghiên cứu (nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ); lĩnh vực nghiên cứu (khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật – công nghệ, khoa học xã hội và nhân văn, khoa học Y- dược và khoa học nông nghiệp); giai đoạn phát triển của tổ chức (đang hoạt động trong giai đoạn
sơ khai hay giai đoạn tìm kiếm hỗ trợ để làm chủ được lĩnh vực hoạt động của mình, hay là giai đoạn hoàn toàn làm chủ kết quả hoạt động)
Nhóm nghiên cứu cho rằng kết quả của đề tài là tài liệu tham khảo bổ ích trong việc phát triển công tác đánh giá tổ chức khoa học và công nghệ, góp phần
hỗ trợ việc hiện thực hóa một số mục tiêu và nhiệm vụ đã được đề ra trong Quyết định 1244/QĐ-TTg do Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 25/7/2011 về việc phê duyệt phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ khoa học và công nghệ chủ yếu giai đoạn 2011-2015 Các mục tiêu và nhiệm vụ đó là: (1) Mục tiêu số 2:
“Hình thành 10 tổ chức nghiên cứu cơ bản trong các trường đại học trọng điểm quốc gia có đủ tiêu chuẩn và điều kiện hội nhập được với khu vực và thế giới”; (2) Mục tiêu số 4: “Hình thành 30 tổ chức nghiên cứu và phát triển có cơ sở vật chất, thiết bị hiện đại và năng lực nghiên cứu mạnh để giải quyết những vấn đề lớn của quốc gia, đạt trình độ tiên tiến của khu vực và thế giới”; (3) Nhiệm vụ 1
Trang 13– đ: “Tổ chức đánh giá độc lập kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ của các tổ chức khoa học và công nghệ”
Báo cáo tổng kết đề tài được trình bày theo bố cục 3 phần như sau:
PHẦN MỞ ĐẦU: lý do thực hiện đề tài; mục tiêu, đối tượng
và phương pháp nghiên cứu; phạm vi và khái niệm; nội dung nghiên cứu
PHẦN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU: tổng quan về phương pháp tiếp cận đánh giá các tổ chức khoa học và công nghệ; thực trạng hoạt động của các tổ chức khoa học và công nghệ ở Việt Nam; đề xuất phương án đánh giá hoạt động của các tổ chức khoa học và công nghệ ở Việt Nam
PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ: tổng kết những thành công của đề tài và kiến nghị áp dụng kết quả của đề tài
Trang 14PHẦN I: PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do thực hiện đề tài
Đầu tư cho khoa học và công nghệ nước ta cũng như rất nhiều nước trên thế giới ngày càng lớn lên với mục đích phục vụ nhu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hướng tới hội nhâp quốc tế (cụ thể là năm 1996 : 0,96% tổng chi ngân sách; 1998: 1,26%; 1999 : 1,28%; 2000-2008: 2%) Do đó, nhu cầu phát triển KH&CN đi vào chiều sâu, một mặt đòi hỏi tiến hành các hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ đích thực, một mặt là để phục
vụ kinh tế - xã hội trước mắt
Đề án Đổi mới cơ chế quản lý khoa học và công nghệ (Quyết định số
171/2004/QĐ-TTg), (2004), nhận định: “ , hoạt động KH&CN của nước ta hiện nay vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, nhất là trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và sự phát triển kinh tế tri thức trên thế giới sau khi nước ta gia nhập WTO" Đại hội Đảng lần
thứ IX đã chỉ ra những hạn chế cơ bản của hoạt động KH&CN vẫn có ý nghĩa
xác thực đến hiện nay là “KH&CN chưa thực sự gắn kết với nhu cầu và hoạt động của các ngành kinh tế, xã hội; chậm đưa vào ứng dụng những kết quả nghiên cứu được; trình độ KH&CN của nước ta còn thấp nhiều so với các nước xung quanh; năng lực tạo ra công nghệ mới còn rất hạn chế Các cơ quan nghiên cứu khoa học chậm được sắp xếp đồng bộ, còn phân tán, thiếu phối hợp,
do đó đạt hiệu quả thấp Các viện nghiên cứu và các doanh nghiệp, các trường đại học chưa gắn kết với nhau Việc đầu tư cở sở vật chất - kỹ thuật thiếu tập trung và dứt điểm cho từng mục tiêu Cán bộ KH&CN có trình độ cao còn ít, song chưa được sử dụng tốt” Và một trong những giải pháp hàng đầu cho đổi mới cơ chế quản lý KH&CN được đề ra là phải đổi mới cơ chế quản lý và hoạt động của các tổ chức KH&CN để sắp xếp lại tổ chức và thực hiện đánh giá định
kỳ các tổ chức, tạo điều kiện thuận lợi phát huy tối đa tính chủ động, sáng tạo
và nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức, cá nhân hoạt động KH&CN
Trang 15Đối với Việt Nam, việc đánh giá các tổ chức KH&CN là một vấn đề mới, chưa được đề cập một cách có hệ thống Các tổ chức KH&CN được hình thành trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ (tạm gọi là sứ mệnh) riêng, do đó, việc biết mức
độ thực hiện sứ mệnh của nó đến đâu, như thế nào là cần thiết Tuy nhiên, đánh giá tổ chức KH&CN ở Việt Nam mới chỉ dừng lại ở các báo cáo tổng kết định
kỳ và báo cáo hành chính hoặc là đánh giá các ví dụ điển hình của cơ sở nghiên cứu như những kết quả nổi bật Sự vận hành, quản lý của các tổ chức KH&CN nước ta cũng chưa được xem xét một cách hệ thống Hơn nữa, việc gắn kết kết quả nghiên cứu với kế hoạch đầu tư của nhà nước đối với các tổ chức KH&CN vẫn chưa chặt chẽ Do vậy, kết quả đánh giá rất khó sử dụng trong việc điều hành, phân bổ nguồn lực (đầu tư, nhân lực, phối hợp các đơn vị) và hoạt động đánh giá chưa có tác dụng như là một công cụ hữu hiệu phục vụ quản lý Như vậy, chúng ta cần phải khẩn trương xem xét một cách hệ thống và khách quan về tính phù hợp của mục tiêu, tính hiệu quả, hiệu suất, tác động và tính bền vững về hoạt động của các tổ chức KH&CN
Hệ thống các tổ chức KH&CN rất đa dạng - các tổ chức KH&CN không chỉ khác nhau ở các loại hình tổ chức mà còn có nhiều đặc trưng khác nhau theo tính chất của nghiên cứu, theo lĩnh vực nghiên cứu và còn theo cả mức độ phát triển Vậy câu hỏi đặt ra cho các nhà quản lý là đánh giá các tổ chức đó như thế nào, lựa chọn tiêu chí gì cho phù hợp, lựa chọn các chỉ số nào cho các tiêu chí
đó và trọng số của mỗi tiêu chí ra sao? Để trả lời được các câu hỏi này, chúng ta cần nghiên cứu về cách tiếp cận đánh giá các tổ chức KH&CN và phân tích các đặc trưng về hiện trạng các tổ chức KH&CN để đề xuất được phương án (và các
mô hình) đánh giá cho phù hợp
Cho đến nay, Việt Nam mới chỉ bắt đầu bằng một vài nghiên cứu sơ bộ tiếp cận việc đánh giá các tổ chức KH&CN mang tính chất khai phá, nhưng chưa thực sự đi sâu phân tích, nghiên cứu để đưa ra được các mô hình và phương án (phương pháp, quy trình và tiêu chí) đánh giá cụ thể đối với các loại tổ chức khoa học và công nghệ ở Việt Nam Năm 2009, trong một nội dung nhỏ thuộc
Trang 16nhiệm vụ hợp tác quốc tế theo Nghị định thư "Nghiên cứu kinh nghiệm Trung Quốc trong công tác xây dựng hệ thống đánh giá KH&CN và đề xuất áp dụng cho Việt nam", Trung tâm Hỗ trợ đánh giá khoa học và công nghệ (nay là Viện Đánh giá khoa học và Định giá công nghệ) đã có điều kiện được tìm hiểu sơ bộ phương pháp và tiêu chí chung để đánh giá hoạt động của tổ chức KH&CN Ở
đó, chưa có sự phát triển chi tiết phương pháp, quy trình và tiêu chí đánh giá đối với các nhóm tổ chức có các trình độ phát triển khác nhau, các loại hình nghiên cứu đặc trưng khác nhau và thực hiện nghiên cứu ở các lĩnh vực khác nhau Thậm chí, cũng chưa có điều kiện để làm sáng tỏ rằng đối với các loại tổ chức KH&CN khác nhau thì cách thức xây dựng tiêu chí đánh giá cũng rất khác nhau
đó còn phụ thuộc cả vào văn hoá đánh giá (thói quen và sự chấp nhận)
Như vậy, việc nghiên cứu cách tiếp cận đánh giá các tổ chức KH&CN, từ
đó đề xuất mô hình và bước đầu định hướng, đề xuất phương án thực hành đánh giá các tổ chức KH&CN ở Việt Nam sao cho phù hợp là việc làm cần thiết và cấp bách
2 Mục tiêu, đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Mục tiêu của đề tài là: Tổng quan, phân tích được các vấn đề cơ bản tiếp
cận đánh giá các tổ chức KH&CN Sau đó, đề xuất được phương án đánh giá các
tổ chức khoa học và công nghệ phù hợp với Việt Nam
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Kết hợp phương pháp tiếp cận
định tính và định lượng khi đề xuất các phương án đánh giá các tổ chức khoa học
và công nghệ phù hợp với điều kiện của Việt Nam và tương hợp với quốc tế Sử dụng phương pháp thu thập, phân tích thông tin, dữ liệu, lấy ý kiến chuyên gia trong quá trình đề xuất phương án đánh giá tổ chức khoa học và công nghệ ở Việt Nam Tiếp cận các tài liệu, văn bản trong nước và quốc tế kết hợp với nghiên cứu thực tế để phân loại các tổ chức KH&CN
Trong nghiên cứu này, chúng tôi xác định việc tiếp cận đối tượng theo phương thức: Đi từ nghiên cứu lý thuyết/ các vấn đề cơ bản của đánh giá tổ chức
Trang 17khoa học và công nghệ phối hợp với việc phân tích thực trạng các tổ chức khoa học và công nghệ ở Việt Nam Sau đó, Đề xuất phương pháp, quy trình và tiêu chí đánh giá phù hợp Cuối cùng là tiến hành đánh giá thử một số tổ chức để điều chỉnh phương pháp luận đã đề xuất cho phù hợp với thực tiễn
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là xem xét, phân tích phương pháp luận chung về đánh giá tổ chức khoa học và công nghệ và làm rõ việc áp dụng phương pháp, quy trình và tiêu chí đánh giá tổ chức khoa học và công nghệ ở Việt Nam như thế nào cho phù hợp
3 Phạm vị và các khái niệm
Trong nghiên cứu này, chúng tôi tiến hành nghiên cứu và đề xuất phương pháp, quy trình và các tiêu chí khung để đánh giá hoạt động của các tổ chức khoa học và công nghệ ở Việt Nam Các khía cạnh liên quan đến hoạt động của
tổ chức khoa học và công nghệ sẽ được xem xét/đánh giá bao gồm: (1) chức năng, nhiệm vụ và kế hoạch phát triển hoạt động của tổ chức; (2) cơ cấu và các điều kiện hoạt động của tổ chức; và (3) kết quả hoạt động của tổ chức
Một số ý kiến cho rằng, chúng tôi nên dùng cụm từ “đánh giá kết quả hoạt động của tổ chức khoa học và công nghệ” Tuy nhiên, căn cứ vào bản chất hoạt động của các tổ chức khoa học và công nghệ, nghiên cứu này sẽ sử dụng cụm từ
“đánh giá hoạt động của tổ chức khoa học và công nghệ” với ý nghĩa là xem
xét sự phù hợp, tính hiệu suất và hiệu quả của quá trình hoạt động của tổ chức khoa học và công nghệ
Khi xây dựng khung phương pháp luận đánh giá các tổ chức khoa học và công nghệ, chúng ta phải phân nhóm các tổ chức Các tổ chức có chung những tính chất, đặc điểm nhất định và có thể đánh giá bởi cùng một hệ thống tiêu chí
và có chung các chỉ số đánh giá sẽ xếp vào một nhóm Việc phân tích, đề xuất các nhóm tổ chức khoa học và công nghệ ở Việt Nam để đánh giá bởi các “mô
hình đánh giá” phù hợp được gọi là việc đưa ra “Phương án đánh giá” Nói
cách khác, khái niệm phương án đánh giá trong nghiên cứu này bao gồm việc
Trang 18lựa chọn phương pháp, quy trình và tiêu chí phù hợp để đánh giá từng nhóm đối tượng Mỗi bộ tiêu chí, chỉ số, phương pháp và quy trình đánh giá tương ứng để
đánh giá mỗi nhóm tổ chức được gọi một là một “mô hình đánh giá”
Trong nghiên cứu này, cụm từ “chỉ số đánh giá” được hiểu là đại lượng
phản ánh sự thay đổi (về mặt định tính hoặc định lượng) của một quá trình hay một hiện tượng nào đó Nó cũng được hiểu là một công cụ truyền tải một thông tin cụ thể tới người đánh giá
4 Nội dung nghiên cứu
Với mục tiêu ban đầu đề ra là nghiên cứu phương pháp tiếp cận đánh giá các tổ chức KH&CN, đề xuất được các mô hình và phương án đánh giá (phương pháp, quy trình và tiêu chí đánh giá) cho phù hợp với các tổ chức khoa học và công nghệ ở Việt Nam, chúng tôi tiến hành nghiên cứu với quy trình tổng thể như sơ đồ hình 1 dưới đây:
Trang 19Tìm hiểu phương pháp luận
đánh giá tổ chức khoa học và
công nghệ của một số nước
Xem xét thực trạng hoạt động của các tổ chức khoa học và công
nghệ ở Việt Nam
Đánh giá thử một số tổ chức khoa học và
công nghệ
Hình 1 Sơ đồ quy trình nghiên cứu
Trong đó, các bước thực hiện các nội dung nghiên cứu chính theo thứ tự như sau:
o Nội dung 1: Nghiên cứu cách tiếp cận/quy trình đánh giá tổ chức KH&CN và kinh nghiệm của một số nước trong việc xây dựng và thực hành đánh giá tổ chức khoa học và công nghệ
Trang 20o Nội dung 2: Nghiên cứu, phân tích các yêu cầu đối với việc đánh giá các tổ chức khoa học và công nghệ ở Việt Nam trong thời kỳ hiện nay
o Nội dung 3: Nghiên cứu, đề xuất các mô hình và phương án đánh giá (phương pháp, quy trình và tiêu chí đánh giá) tổ chức khoa học và công nghệ ở Việt Nam
o Nội dung 4: Kiểm nghiệm tính thực tiễn của phương pháp luận đã đề xuất (bằng cách đánh giá thử một số tổ chức khoa học và công nghệ) và điều chỉnh cho phù hợp
Trang 21PHẦN II: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Chương 1 Tổng quan về phương pháp luận và cách tiếp cận đánh giá tổ
chức khoa học và công nghệ 1.1 Tính đa dạng về mục đích và đối tượng đánh giá
1.1.1 Tính đa dạng về mục đích đánh giá
Nghiên cứu thực tiễn công tác đánh giá tổ chức khoa học và công nghệ ở một số nước cho thấy: khi xác định các mục đích đánh giá khác nhau, thì hệ quả tất yếu phải dẫn đến là các tiêu chí và quy trình đánh giá sẽ khác nhau Thật vậy: Tây Ban Nha là nước có truyền thống đã từng thực hiện việc đánh giá các viện nghiên cứu rất bài bản từ rất lâu Gần đây, năm 2007, Tây Ban Nha đã ban hành quy định về đánh giá các viện nghiên cứu4, 10, nhiều nước có thể học tập Trong đó, mục đích chính của việc đánh giá một viện nghiên cứu là để: (1) đóng góp vào việc cân nhắc và quyết định sứ mệnh của các viện; (2) cung cấp dữ liệu cho việc thiết lập tầm nhìn và các ưu tiên cho chính sách chiến lược của nó; (3)giúp xây dựng các nguồn lực của viện một cách hiệu quả; và (4) nâng cao chất lượng và khai báo hiệu quả hoạt động và sự hoàn thành mục tiêu của viện như đã đặt ra trong kế hoạch chiến lược Việc đánh giá các viện nghiên cứu ở Tây Ban Nha khá bài bản, nó được phân loại theo các giai đoạn khác nhau (đánh giá trước, đánh giá bám đuổi hay đánh giá sau), theo những người tham gia đánh giá (bên trong và bên ngoài), và theo mục đích hướng tới (là đơn lẻ hay tổng thể) Và dù có phân loại như thế nào thì việc đánh giá các viện nghiên cứu cũng
vẫn phải xét tới 3 tiêu chí cơ bản là: (1) Cơ cấu: tập trung vào việc xác định
năng lực tương lai hoặc triển vọng, cùng với việc xem xét bối cảnh và các cơ hội sẵn sàng để viện có thể phát triển Các khía cạnh được phân tích bao gồm: trình
độ nghiên cứu của các cán bộ (năng lực, kinh nghiệm và khả năng thích ứng,
…); năng lực công nghệ (đánh giá trang thiết bị, việc thử nghiệm, phần mềm,
…); kinh tế và tổ chức hành chính (khả năng thích ứng, mức độ cồng kềnh của
Trang 22bộ máy, …); và các yếu tố về cơ cấu có thể gây trở ngại hay thúc đẩy các hoạt
động của viện; (2) Hoạt động: thông thường tập trung vào việc kiểm tra sứ
mệnh và tầm nhìn của viện như là sự ràng buộc hoạt động của nó Các khía cạnh được phân tích bao gồm: mục đích các nghiên cứu được thực hiện; việc phổ biến kết quả; và sự thích hợp với văn hóa hiện tại Các yếu tố khác của hoạt động khoa học được phân tích cùng với các khía cạnh này bao gồm việc đào tạo cán
bộ, việc công bố và quảng bá các phát hiện khoa học, chuyển giao công nghệ,
…; và (3) Kết quả: đánh giá phần này bao gồm việc xem xét mức độ đạt được
các mục tiêu tổng thể, xem xét/kiểm tra sản phẩm khoa học và ảnh hưởng/tác động của các hoạt động đã thực hiện trong quá trình đạt được các mục tiêu riêng
lẻ Ví dụ, số lượng các công bố, số lượng các luận án được bảo vệ, số lượng các sáng chế thu được, danh tiếng và sự công nhận ở tầm quốc tế của viện về mặt đào tạo, và sự ảnh hưởng của viện tới các viện khác, giữa các viện với nhau Hàn Quốc là một quốc gia có ngành công nghiệp phát triển rất nhanh nhờ công nghệ, nhờ chính sách thúc đẩy sự gắn kết rất chặt chẽ giữa các tổ chức khoa học và công nghệ với doanh nghiệp Một số tài liệu hệ thống đánh giá tổ chức KH&CN của Hàn Quốc16, 20, 21 cho thấy việc khích lệ sự phát triển của các
tổ chức nghiên cứu (ở đây nói đến các tổ chức nghiên cứu của chính phủ) để thúc đẩy nhanh tiến trình chuyển giao kết quả nghiên cứu ra doanh nghiệp đã được thực hiện thông qua việc đánh giá Ở mỗi giai đoạn phát triển khác nhau, việc đánh giá các tổ chức nghiên cứu cũng được thực hiện với các mục đích, phương pháp, quy trình và các tiêu chí/chỉ số khác nhau Ví dụ: năm 1991, lần đầu tiên thực hiện đánh giá các tổ chức nghiên cứu chỉ với mục đích là để liên kết và phối hợp chức năng của các tổ chức dựa vào tiêu chí là kết quả hoạt động Giai đoạn 1992-1995, Hàn Quốc thực hiện đánh giá hàng năm để thiết lập thứ tự
và trao thưởng cho các viện xuất sắc Giai đoạn 1996-1998, để thúc đẩy việc nâng chất lượng quản lý của các tổ chức nghiên cứu, đồng thời nâng cao chất lượng nghiên cứu, Hàn Quốc thực hiện đánh giá theo 2 bước (tự đánh giá và Bộ KH&CN đánh giá hàng năm) rất chặt chẽ Từ năm 1999-2004 và đến nay, Hàn
Trang 23Quốc áp dụng hệ thống quản lý mới – Hội đồng nghiên cứu của các tổ chức thực hiện việc tự đánh giá, sau đó Hội đồng nghiên cứu của Bộ KH&CN sẽ đánh giá
để thiết lập thứ tự các tổ chức và có sự khuyến khích, thưởng cho các tổ chức có thành tích tốt qua các chính sách hỗ trợ tài chính đặc biệt Qua các giai đoạn phát triển khác nhau của các tổ chức nghiên cứu, Hàn Quốc đã áp dụng phương pháp luận đánh giá khác nhau Tuy nhiên, một số đặc trưng chung như sau:
- Mục tiêu đánh giá là để đẩy mạnh, nâng cao tính cạnh tranh cũng như thiết lập vai trò, định hướng chuyên môn của các viện theo tiêu chuẩn quốc tế
Cụ thể là: (1) nâng cao năng suất nghiên cứu thông qua việc phát triển thành tích
đề tài/dự án; (2) đào tạo một cách có chủ định; (3) tăng cường hiệu quả điều hành thông qua việc liên tục cải cách quản lý
- Tiêu chí được đặt lên hàng đầu là thành tích (kết quả) nghiên cứu của các
tổ chức
- Các kết quả đánh giá được sử dụng để: (1) làm tài liệu điều chỉnh kế hoạch ngân sách; (2) phản ánh và thanh tra thực chất và đưa ra yêu cầu cải tiến; (3) thưởng cho thủ trưởng đơn vị; và (4) xây dựng chiến lược phát triển lâu dài các tổ chức nghiên cứu – là kim chỉ nam cho công tác điều hành nhằm nâng cao hiệu quả
Đối với Mỹ7, 12, 22
, việc ban hành và áp dụng bộ luật GPRA - Government Performance and Results Act – 1993 để đánh giá các tổ chức nghiên cứu, đặc biệt là các tổ chức nghiên cứu trực thuộc chính phủ đã đóng góp đáng kể cho việc nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống quản lý và đánh giá các tổ chức nghiên cứu Việc đánh giá các tổ chức nghiên cứu ở Mỹ tập trung vào kế hoạch hành động và hiệu quả hoạt động nhằm tới việc ưu tiên phân bổ ngân sách Các
cơ quan đầu tiên thực hiện việc đánh giá các tổ chức nghiên cứu cấp dưới của mình là DOD (Department of Defence), DOE (Department of Energy) và NASA vào năm 1993 và 1994 Kết quả đánh giá của họ được ứng dụng để: (1) tăng cường quản lý và cắt bỏ dư thừa; (2) hiện đại hóa các phòng thí nghiệm phục vụ
Trang 24chiến tranh lạnh ở thời điểm đó – thiết lập lại định hướng nghiên cứu và tổ chức nghiên cứu; và (3) ưu tiên cao việc hỗ trợ nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng
CHLB Đức là nước đã thực thi chế độ đánh giá các tổ chức nghiên cứu và phát triển một cách thường xuyên và bài bản18, 22, 23 Các Hiệp hội, viện nghiên cứu lớn và các đại học nghiên cứu đã thành công trong việc đánh giá là MPG (Hiệp hội Max - Planck), FhG (Hiệp hội Fraunhofer), các trung tâm nghiên cứu Helmholtz và các viện nghiên cứu thuộc WGL (Hội đồng nghiên cứu liên bang), hay Quỹ DFG (Quỹ Nghiên cứu Cơ bản CHLB Đức) đánh giá các đại học nghiên cứu Mục đích chính của việc đánh giá các tổ chức nghiên cứu và phát triển ở đây là chẩn đoán sứ mệnh và vai trò của các tổ chức trong các giai đoạn
có sự thay đổi theo môi trường xung quanh (kinh tế, chính trị, xã hội) Ví dụ, việc đánh giá sâu đã được thực hiện đối với trung tâm nghiên cứu Helmholtz và các viện nghiên cứu thuộc WGL Nhờ kết quả đánh giá mà đã từng có 7-8 viện nghiên cứu thuộc WGL bị đóng cửa hoặc đã bị thay đổi định hướng nghiên cứu
Trung Quốc, một quốc gia có thể chế chính trị gần giống Việt Nam, đã thực hiện việc đánh giá tổ chức KH&CN để thúc đẩy các tổ chức này phát triển Đánh giá các tổ chức KH&CN, nhất là đánh giá từ bên ngoài, chưa trở thành một chế độ bắt buộc và chưa được tiến hành thường xuyên Tuy nhiên, đã có một số tổ chức thực hành đánh giá bắt buộc cho các đơn vị nghiên cứu trực thuộc, nhờ đó mà tổ chức của họ vươn lên nhanh chóng, như trường hợp của CAS - Viện Khoa học Trung Quốc chẳng hạn19 Về mặt chiến lược, đánh giá các viện nghiên cứu ở CAS là xếp hạng các viện nghiên cứu để thiết lập cơ chế cạnh tranh, thúc đẩy phát triển Cụ thể là tạo môi trường cạnh tranh về KH&CN, cung cấp bằng chứng cho việc điều chỉnh chính sách, phân bổ nguồn lực và trả lời các câu hỏi về hiệu quả của đầu tư KH&CN khối công Qua các báo cáo đánh giá các viện nghiên cứu ở CAS với các mô hình đánh giá qua các thời kỳ phát triển:
"Blue Cover Report" năm 1998; "White Cover Report" năm 2001 và "Yellow
Trang 25Cover Report" năm 2004, chúng ta có thể nhận thấy một số đặc điểm khác nhau
ở các khía cạnh: (1) cách xác định mục tiêu và nội dung cơ bản của mô hình đánh giá phù hợp với giai đoạn phát triển của các viện nghiên cứu thuộc CAS; (2) cách thiết lập các tiêu chí, các chỉ số và cách xác định các trọng số đối với mỗi chỉ số sao cho phù hợp; và (3) cách thức đánh giá phù hợp với mỗi mô hình đánh giá ở mỗi giai đoạn
Đối với việc đánh giá các đại học nghiên cứu, Hà Lan là một nước điển hình với hệ thống đánh giá đại học được bắt đầu vào năm 1988 và bắt đầu thực hiện đánh giá nghiên cứu vào năm 19935 Cứ 3 năm một lần, các đơn vị nghiên cứu công ở Hà Lan phải trình ra một bản tự đánh giá Mục đích của nó vừa là để chuẩn bị cho một đánh giá bên ngoài vừa là để đánh giá bên trong giữa kỳ (ví dụ mỗi trường đại học có một đánh giá bên ngoài 6 năm một lần) Đánh giá bên ngoài được thực hiện bởi ủy ban xét duyệt quốc tế, và thường sử dụng phương pháp thư viện trắc lượng
Hệ thống đánh giá hướng tới 3 mục tiêu liên quan tới nghiên cứu và quản lý nghiên cứu như sau:
- Cải thiện chất lượng nghiên cứu thông qua việc đánh giá hoạt động dựa trên những chuẩn quốc tế về chất lượng và sự phù hợp;
- Cải thiện việc quản lý và chỉ đạo nghiên cứu;
- Trách nhiệm giải trình với các cấp quản lý của các tổ chức nghiên cứu và các cơ quan tài trợ, chính phủ và xã hội nói chung
Tác động của các đánh giá ở Hà Lan là:
- Tăng cường hợp tác giữa các nhà nghiên cứu, vì các chương trình nghiên cứu chứ không phải các nhà nghiên cứu được đem ra đánh giá;
- Tăng tỉ lệ các công bố, đặc biệt trên những tạp chí quốc tế có hệ số ảnh hưởng cao;
Trang 26- Nhiều quyền lực hơn cho những nhà quản lý trường đại học Việc đánh giá cung cấp một nền tảng đáng tin cậy cho các nhà quản lý sử dụng như công
cụ điều khiển chất lượng;
- Tầm quan trọng của chính sách nghiên cứu được nâng cao;
- Nâng cao danh tiếng lớn hơn cho những người có kết quả đánh giá tốt hơn
Uy tín của các nhà nghiên cứu tăng lên theo;
- Các báo cáo đánh giá được công khai đã “làm cho những nhóm tổ chức/cá nhân yếu và không hữu ích không thể tiếp tục tồn tại mà không bị chú ý đến”
Tuy nhiên, việc đánh giá như ở Hà Lan5 cũng có thể có những mặt tiêu cực,
ví dụ như là có ảnh hưởng đến sự đoàn kết giữa giảng dạy và nghiên cứu và chủ yếu tập trung được hướng vào việc quản lý các chương trình nghiên cứu Gần đây – năm 2003, ba tổ chức: Hiệp hội các trường đại học Hà Lan (VSNU), Học viện Nghệ thuật và Khoa học Hoàng gia Hà Lan (KNAW) và Tổ chức nghiên cứu khoa học Hà Lan (NWO) đã định ra quy trình đánh giá chuẩn dành cho các
tổ chức nghiên cứu công Theo đó, các nghiên cứu được tài trợ công sẽ được đánh giá 6 năm một lần và cứ 3 năm một lần, các đơn vị nghiên cứu thực hiện tự đánh giá - đánh giá nội bộ giữa kỳ Hệ thống đánh giá này nhằm nâng cao chất lượng nghiên cứu thông qua đánh giá chất lượng và sự phù hợp của các nghiên cứu, cải tiến sự quản lý và sự lãnh đạo nghiên cứu, đồng thời thể hiện trách nhiệm đối với cấp quản lý cao hơn của các tổ chức, với tổ chức tài trợ, chính phủ và cả xã hội
Hội đồng Châu Âu7, 8, 17 và một số nước khác, như là Canada1, 3, 6, Phần Lan14, … cũng đã thực thi chính sách đánh giá các tổ chức nghiên cứu, đặc biệt
là các trường đại học nghiên cứu một cách bài bản với các mục đích tương tự Một số báo cáo đánh giá rằng việc đánh giá này là “đòn bẩy” khá tốt thúc đẩy các tổ chức phát triển trên sức ép cạnh tranh và danh vọng
Trang 27Từ một số trường hợp điển hình được phân tích ở trên, ta nhận thấy các nguyên lý cơ bản của phương pháp luận đánh giá tổ chức KH&CN là khá thống nhất Việc đánh giá hoạt động hay kết quả hoạt động được thực hiện trong mọi
tổ chức khoa học và công nghệ để hiểu giá trị đích thực và xem xét ý nghĩa ứng dụng của các kết quả nghiên cứu và phát triển mà tổ chức tạo ra Nếu như đánh giá hoạt động nghiên cứu của một nhà khoa học chính là xem xét sự đóng góp đích thực của nhà khoa học đó cho việc phát triển hướng nghiên cứu họ đang theo đuổi, thì nhìn xa hơn, việc đánh giá năng lực và hoạt động của những tổ chức khoa học và công nghệ là một yêu cầu bức thiết phục vụ việc xây dựng các quyết định về chiến lược nghiên cứu và phương pháp phát triển những tổ chức khoa học và công nghệ Ngoài ra, việc đánh giá tổ chức khoa học và công nghệ cũng có ý nghĩa đối với sự tồn tại của chính nó
Nói tóm lại, thông thường đánh giá các tổ chức khoa học và công nghệ có thể với một hoặc một số mục đích sau: (1) xác định sứ mệnh và tầm nhìn; (2) nâng cao chất lượng hoạt động; (3) nâng cao hiệu quả quản lý và tính linh động của việc quản lý; (4) nâng cao sức cạnh tranh cho bản thân tổ chức Tùy thuộc vào những mục đích đánh giá cụ thể mà các tiêu chí đánh giá về sự phù hợp, tính hiệu suất, chất lượng và tính bền vững, … sẽ được xem xét ở các khía cạnh khác nhau
1.1.2 Tính đa dạng về đối tượng đánh giá
Các tổ chức khoa học và công nghệ rất đa dạng cả về quy mô và cơ cấu quản lý Thông thường, cơ cấu của tổ chức được xác định rất rõ ràng, có người đứng đầu quản lý và ra quyết định, bên dưới là các bộ phận điều hành về nghiên cứu, các nội dung về thương mại và thường có một bộ phận quản trị để kiểm soát việc ký kết hợp đồng ở bên trên Trong trường hợp khác, các tổ chức lại có một cơ cấu độc lập (quản lý, tiện nghi, cán bộ, độc lập) và một số đơn vị trực thuộc Tính đa dạng rất lớn của các loại hình tổ chức khoa học và công nghệ cũng là một nguyên nhân cơ bản làm tăng tính phức tạp của quy trình đánh giá
Trang 28(bao gồm phương pháp, quy trình và tiêu chí đánh giá) Tuy nhiên, như đã nói ở phần 1.1.1, mục đích của đánh giá thông thường là để hỗ trợ những người quản trị hoặc lãnh đạo của các tổ chức trong quá trình ra quyết định với các biện pháp cải tiến để nâng cao cơ cấu, hoạt động và kết quả của tổ chức
Cụ thể hơn về sự khác biệt ở các tổ chức khoa học và công nghệ (đối tượng đánh giá) sẽ được trình bày ở chương 2, mục 2.1 dưới đây
1.2 Quy trình, phương pháp và tiêu chí đánh giá tổ chức khoa học và
công nghệ
Qua những phân tích mục 1.1, chúng ta dễ dàng nhận thấy việc đánh giá các tổ chức khoa học và công nghệ được thực hiện theo logic phụ thuộc Việc xác định rõ ràng mục đích và đối tượng đánh giá sẽ là cơ sở quyết định việc lựa chọn những tiêu chí và nội dung đánh giá Dựa trên hệ thống tiêu chí và nội dung đánh giá mà có sự lựa chọn phương pháp và quy trình đánh giá cụ thể cho phù hợp Và từ đó, kết quả đánh giá tương ứng được đưa ra phải thỏa mãn những câu hỏi đánh giá và hóa giải mục đích đánh giá Tính phụ thuộc của các hoạt động trong đánh giá tổ chức khoa học và công nghệ được thể hiện trên hình
2 dưới đây:
Trang 29Tiêu chí đánh giá +
Nội dung/chỉ
số đánh giá
trình đánh giá
Hình 2 Sự phụ thuộc trong đánh giá tổ chức khoa học và công nghệ
Nếu đánh giá hoạt động của tổ chức khoa học và công nghệ với mục đích hoàn thiện hệ thống các tổ chức, đưa các tổ chức này vào hoạt động hiệu quả hơn theo chức năng, nhiệm vụ được giao, thì quy trình và các tiêu chí, nội dung đánh giá cơ bản như thể hiện trên sơ đồ hình 3 sau đây:
So sánh
Trang 30THỰC HIỆN KẾ HOẠCH CẢI TIẾN
Hình 3 Ví dụ về một quy trình đánh giá tổ chức KH&CN
Trong quy trình đánh giá này, tiêu chí đánh giá tương ứng với các nội dung được xem xét có thể như sau:
- Sự phù hợp của cấu trúc của tổ chức khoa học và công nghệ: chức năng, nhiệm vụ; kế hoạch chiến lược; cơ cấu tổ chức và sự lãnh đạo; cơ cấu nguồn nhân lực; cơ sở hạ tầng
- Tính hiệu quả của việc tổ chức hoạt động: thu hút các nguồn tài trợ; quan
hệ hợp tác; …
- Tính hiệu suất và chất lượng của kết quả: về mặt khoa học, công nghệ; đào tạo nguồn nhân lưc; đóng góp cho kinh tế - xã hội…
Trang 31Về phương pháp đánh giá, ở cả 3 giai đoạn (tự đánh giá, đánh giá từ bên ngoài và lên kế hoạch cải tiến hoạt động của tổ chức) đều cần ít nhất một phương pháp chung, đó là đánh giá bởi chuyên gia cùng ngành (peer review) Đây là phương pháp đặc biệt hữu hiệu trong đánh giá hệ thống khoa học và công nghệ nói chung và đánh giá các tổ chức nói riêng Bên cạnh đó, tùy từng giai đoạn đánh giá mà có thể sử dụng một số các phương pháp đánh giá khác nữa, như là: phương pháp điều tra, phân tích thư mục trắc lượng (survey , analysic and bibliometric), phương pháp miêu tả (descriptive research), phân tích mạng lưới xã hội (social network analysic), so sánh đối chuẩn (bench-mark),
Trang 32Chương 2 Thực trạng phân loại các tổ chức khoa học và công nghệ ở Việt
Nam và đề xuất việc phân nhóm khi đánh giá
2.1 Nghiên cứu lựa chọn phương án phân nhóm các tổ chức khoa học và công nghệ ở Việt Nam khi đánh giá
Đã có nhiều nghiên cứu của cả các tổ chức trong nước, các tổ chức nước ngoài và nghiên cứu hợp tác trong và ngoài nước phân tích về hiện trạng các tổ chức nghiên cứu và phát triển ở Việt Nam Theo một số thống kế gần đây, Việt Nam có khoảng 1600 tổ chức khoa học và công nghệ, được phân chia theo hình thức sở hữu và đầu tư kinh phí, chức năng hoạt động, lĩnh vực nghiên cứu và phân bố theo vùng lãnh thổ Cụ thể (theo tài liệu “Phương pháp luận đánh giá các tổ chức R&D và những gợi suy trong điều kiện của Việt Nam” của Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN)22 như sau:
Phân chia theo vùng lãnh thổ thì có:
- khoảng 86% các tổ chức nghiên cứu và phát triển ở Miền Bắc và chủ yếu tập trung ở Hà Nội,
- khoảng 4% ở Miền Trung và
- khoảng 10% ở Miền Nam
Các tổ chức phân chia theo chức năng hoạt động như sau:
- phần lớn là các tổ chức chuyên thực hiện nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ (chiếm khoảng 97% trên tổng số);
- các tổ chức chuyên về khảo sát và thiết kế - hiện đang có xu hướng chuyển thành công ty và một số được sát nhập (khoảng 2%); và
- các tổ chức chuyên làm quy hoạch (khoảng ~1%)
Nếu phân theo lĩnh vực nghiên cứu thì bao gồm:
- các tổ chức nghiên cứu lĩnh vực khoa học tự nhiên ~ 5%;
- các tổ chức nghiên cứu và phát triển lĩnh vực kỹ thuật ~ 53%;
Trang 33- các tổ chức nghiên cứu và phát triển lĩnh vực khoa học nông nghiệp
~ 18%;
- các tổ chức nghiên cứu và phát triển lĩnh vực y dược ~ 5%; và
- các tổ chức nghiên cứu lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn ~ 19% Các tổ chức cũng có thể phân chia theo hình thức sở hữu và đầu tư kinh phí như sau:
- các viện, cơ quan nghiên cứu trực thuộc Chính phủ và các Bộ Ngành, được Nhà nước đầu tư và quản lý;
- các cơ quan nghiên cứu và phát triển được Nhà nước cấp kinh phí một phần, thuộc diện chuyển đổi hình thức hoạt động cho phù hợp với điều kiện kinh tế thị trường;
- các viện và trung tâm nghiên cứu và phát triển thuộc các doanh nghiệp, do các doanh nghiệp quản lý và đầu tư hoàn toàn;
- các tổ chức nghiên cứu và phát triển bán công - phần lớn được thành lập theo Nghị định 35-HĐBT về công tác quản lý khoa học và công nghệ, chúng trực thuộc các cơ quan Nhà nước và hoạt động theo hình thức tự trang trải kinh phí; và
- tổ chức nghiên cứu và phát triển của tư nhân tự trang trải kinh phí hoạt động, do cá nhân các nhà khoa học tự đăng ký hoạt động theo Nghị định 35-HĐBT
Các nhà nghiên cứu ở Viện Chiến lược và Chính sách Khoa học và Công nghệ Quốc gia đã phân tích hoạt động của các tổ chức nghiên cứu và phát triển
và nhận thấy rằng xu hướng phát triển các tổ chức nghiên cứu và phát triển Việt Nam lại có thể xếp vào các khối chính sau:
(1) các tổ chức nghiên cứu lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn;
(2) các tổ chức nghiên cứu phục vụ việc hoạch định chính sách của các Bộ ngành;
Trang 34(3) các tổ chức nghiên cứu lĩnh vực khoa học tự nhiên và công nghệ có nguồn gốc trực tiếp từ những kết quả nghiên cứu khoa học tự nhiên, như là công nghệ sinh học, công nghệ hoá hoạc, công nghệ vật liệu mới, …;
(4) các tổ chức nghiên cứu công nghiệp;
(5) các tổ chức nghiên cứu và phát triển lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp; (6) các tổ chức nghiên cứu và phát triển lĩnh vực y dược
Cách phân chia trên đã được các tác giả đề xuất trên cơ sở những khác biệt
ở các khía cạnh: (1) đối tượng nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu; (2) mục đích chính trong hoạt động nghiên cứu: và (3) đối tượng phục vụ chính Sự phân chia này có thể được sử dụng trong công tác đánh giá, để định ra trọng tâm khi nêu ra các chỉ tiêu đánh giá
Căn cứ vào phương pháp luận tiếp cận đánh giá các tổ chức khoa học và công nghê như đã trình bày ở Chương I, thì khi thiết kế đánh giá, nhất định phải phân nhóm các tổ chức, mỗi nhóm bao gồm các tổ chức có nhiều điểm tương đồng để có thể áp dụng cùng một quy trình khung Đặc trưng cơ bản về hoạt động của mỗi nhóm tổ chức sẽ quyết định các tiêu chí và các chỉ số đánh giá tương ứng Tuy nhiên, dù là cách phân loại nào trong các cách trên đều chỉ là tạm thời và tương đối phù hợp đối với một số trường hợp phân tích/đánh giá cụ thể
Một số ý kiến tư vấn của chuyên gia đánh giá nước ngoài cho rằng, khi thiết kế đánh giá tổ chức khoa học và công nghệ, cũng có một cách phân nhóm các tổ chức có thể mang lại hiệu quả, đó là phân chia theo loại hình nghiên cứu đặc trưng của tổ chức:
- các tổ chức nghiên cứu cơ bản
- các tổ chức nghiên cứu ứng dụng
- các tổ chức triển khai thực nghiệm
Trang 35Tuy nhiên, ở Việt Nam hiện nay, hệ thống các tổ chức nghiên cứu và phát triển đang chịu những biến động mạnh mẽ từ cơ chế thị trường của nền kinh tế
Do đó, nhiều tổ chức, dù có quy mô nhỏ (thậm chí ở từng nhóm nghiên cứu thuộc tổ chức đó) được hình thành với nhiệm vụ chủ yếu là nghiên cứu cơ bản, nhưng trên thực tế hoạt động của họ lại bao trùm cả nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ và thậm chí là sản xuất, kinh doanh … Các đặc điểm đó sẽ mang lại nhiều khó khăn và phức tạp cho hoạt động đánh giá các tổ chức nghiên cứu và phát triển ở Việt Nam Thật vậy:
+ Theo khái niệm của UNESCO26, các sản phẩm chính tương ứng của các loại hình nghiên cứu được thể hiện trong sơ đồ hình 4 Trong đó, nghiên cứu cơ bản là để khám phá quy luật & tạo ra các lý thuyết; nghiên cứu ứng dụng là qúa trình vận dụng lý thuyết để mô tả, giải thích, dự báo và đề xuất các giải pháp; và
t /phát triển thực nghiệm là chế tác vậ , làm Prototype, làm Pilot - tạo công nghệ để sản xuất với Prototype, và sả ạt nhỏ
định độ tin cậy
Hình 4 Sản phẩm cơ bản tương ứng với các loại hình nghiên cứu
+ Trên thực tế, sản phẩm đầu ra/kết quả trực tiếp của rất nhiều tổ chức rất
đa dạng và phức tạp, nhất là ở các tổ chức thuộc khối tự nhiên – kỹ thuật – công nghệ Theo dữ liệu điều tra của Vụ Tổ chức Cán bộ, Bộ KH&CN về hoạt động của 55 tổ chức khoa học và công nghệ thuộc khối tự nhiên – kỹ thuật – công nghệ (nhiệm vụ: lựa chọn tổ chức khoa học và công nghệ mạnh để tập trung đầu Nghiên cứu cơ bản Nghiên cứu ứng dụng Triển khai thực nghiệm
Trang 36tư trong thời gian tới – tháng 6 – 12, năm 2010), thì có đến 49 tổ chức có hoạt động hướng đến và đạt cả 3 loại sản phẩm (xuất bản phẩm; sáng chế, giải pháp hữu ích và quyền sở hữu công nghiệp; và thương mại hóa sản phẩm và dịch vụ) Như vậy, nếu phân nhóm các tổ chức khoa học và công nghệ ở Việt Nam theo đặc trưng loại hình nghiên cứu để đánh giá thì tính khả thi sẽ rất thấp
Gần đây, Nhà nước đã và đang ban hành một số chủ trương chính sách27nhằm hỗ trợ phát triển tốt hơn cơ cấu các tổ chức nghiên cứu và phát triển Những quan điểm chính thể hiện trên các chính sách đó là: (1) Hoàn thiện hệ thống để nâng cao hiệu quả hoạt động, đẩy nhanh việc áp dụng các kết quả nghiên cứu vào sản xuất và đời sống thông qua việc liên kết chặt chẽ khoa học - sản xuất - đào tạo; và (2) Thúc đẩy tự do hoá về mọi mặt trong hoạt động KH&CN, cho phép thành lập các doanh nghiệp trong các tổ chức nghiên cứu và phát triển, các trường đại học Hơn nữa, kết quả khảo sát, phân tích hiện trạng hoạt động của các tổ chức khoa học và công nghệ ở Việt Nam trong một số nhiệm vụ nghiên cứu đang thực hiện tại Viện Đánh giá khoa học và Định giá công nghệ cũng cho thấy trong công tác đánh giá các tổ chức khoa học và công nghệ, các tiêu chí và các chỉ số đánh giá sẽ được quyết định bởi các đặc trưng của quá trình hoạt động (nhân lực, kinh phí, cơ sở hạ tầng) và kết quả/sản phẩm đầu ra của tổ chức Do vậy, với mục tiêu đánh giá hoạt động của các tổ chức khoa học và công nghệ phổ biến ở Việt Nam, chúng ta có thể phân 3 nhóm chính như sau:
- Nhóm 1 - Các viện nghiên cứu và phát triển;
- Nhóm 2 - Các tổ chức khoa học và công nghệ trong các trường đại học (trong nghiên cứu này, chúng tôi xác định là các
trung tâm hay viện nghiên cứu, phát triển và chuyển giao công nghệ trong các trường đại học; không xem xét tổng thể các trường đại học hay tổng thể hoạt động nghiên cứu trong các trường đại học);
Trang 37- Nhóm 3 - Các tổ chức dịch vụ khoa học và công nghệ
Phương án phân chia các tổ chức khoa học và công nghệ thành 3 nhóm như trên để đánh giá cũng tương đồng với quy định của Luật KH&CN năm 2000 về các loại tổ chức khoa học và công nghệ (Khoản 1 - Điều 9 quy định các tổ chức khoa học và công nghệ bao gồm: tổ chức nghiên cứu và phát triển; trường đại học; và tổ chức dịch vụ khoa học và công nghệ) Sự tương đồng này cũng sẽ có
ý nghĩa lớn khi đề xuất các tiêu chí đánh giá với một căn cứ quan trọng là nguyên tắc hoạt động khoa học và công nghệ được quy định trong Điều 5 của Luật KH&CN Các nguyên tắc đó là:
- Hoạt động khoa học và công nghệ phải phục vụ nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh;
- Xây dựng và phát huy năng lực nội sinh về khoa học và công nghệ kết hợp với việc tiếp thu có chọn lọc các thành tựu khoa học và công nghệ của thế giới, phù hợp với thực tiễn Việt Nam;
- Kết hợp chặt chẽ khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật và công nghệ với khoa học xã hội và nhân văn; gắn nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ với giáo dục và đào tạo, với hoạt động sản xuất, kinh doanh và phát triển thị trường công nghệ;
- Phát huy khả năng lao động sáng tạo của mọi tổ chức, cá nhân;
- Trung thực, khách quan, đề cao đạo đức nghề nghiệp, tự do sáng tạo, dân chủ, tự chủ, tự chịu trách nhiệm
2.2 Đặc trƣng cơ bản của các nhóm tổ chức khoa học và công nghệ
Như đã luận giải mục 2.1, trong nghiên cứu này, chúng tôi sẽ đề xuất các nội dung trong quy trình đánh giá 3 loại hình tổ chức khoa học và công nghệ chính bao gồm: các viện nghiên cứu và phát triển; các tổ chức khoa học và công nghệ trong các trường đại học; và các tổ chức dịch vụ khoa học và công nghệ
Để có căn cứ khi đề xuất phương pháp, quy trình và các tiêu chí đánh giá các
Trang 38nhóm tổ chức khoa học và công nghệ này, chúng ta cần phân tích, so sánh đặc trưng của chúng trong hệ thống khoa học và công nghệ Việt Nam hiện nay Các khía cạnh chính được phân tích bao gồm: (1) chức năng, nhiệm vụ; (2)
cơ cấu tổ chức và các điều kiện đảm bảo hoạt động; và (3) các loại kết quả mà mỗi nhóm tổ chức đạt được Đặc trưng cơ bản của các nhóm tổ chức khoa học
và công nghệ ở Việt Nam hiện nay (theo dữ liệu điều tra của Viện Đánh giá khoa học và Định giá công nghệ năm 2012 – đề án “Điều tra, phân tích hiện trạng hoạt động của các tổ chức khoa học và công nghệ ở Việt Nam giai đoạn 2006-2010”28) tương ứng với các khía cạnh đó được thể hiện ở bảng dữ liệu sau:
Tổ chức dịch vụ KH&CN
cấp quốc gia, cấp bộ, tỉnh, cơ sở);
- Nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ;
- Kết hợp đào tạo với nghiên cứu khoa học và sản xuất, và cung cấp các dịch
vụ khoa học và công nghệ
- Thực hiện nhiệm
vụ nghiên cứu cơ bản, nhiệm vụ khoa học và công nghệ
ưu tiên, trọng điểm của Nhà nước và nghiên cứu khoa
- Tiến hành các hoạt động phục vụ việc nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ;
- Các hoạt động liên quan đến sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ;
- Cung cấp các dịch vụ về thông tin, tư vấn, đào tạo, bồi dưỡng, phổ biến tri thức khoa học và công nghệ và ứng dụng
Trang 39học giáo dục vào thực tiễn
2 Cơ cấu tổ chức và các điều kiện đảm bảo hoạt động:
2.1 Nhân
lực
- Đội ngũ cán bộ cơ hữu ổn định
- Cán bộ nghiên cứu
có trình độ cao, chuyên môn sâu
- Tỷ lệ cán bộ nghiên cứu chiếm ưu thế hơn hẳn so với lượng cán bộ hỗ trợ
kỹ thuật và cán bộ hành chính, dịch vụ
- Đội ngũ cán bộ nghiên cứu rất linh hoạt, hầu hết cán bộ nghiên cứu đều là kiêm nhiệm từ các khoa và bộ môn chuyên ngành
- Cán bộ nghiên cứu
có trình độ cao, chuyên môn sâu và
có năng lực đào tạo
- Chủ yếu là cán
bộ thực hiện các hoạt động liên quan đến dịch vụ
- Chi tiêu: chi lương
và hoạt động bộ máy, chi thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu thông qua các đề tài/dự án,
- Nguồn tài chính:
chủ yếu từ ngân sách nhà nước;
- Chi tiêu chủ yếu là thực hiện các nhiệm
vụ nghiên cứu thông qua các đề tài/dự án,
- Nguồn tài chính:
từ việc cung cấp dịch vụ khoa học
và công nghệ và từ các khoản hỗ trợ của nhà nước
- Chi tiêu: chi lương và hoạt động bộ máy, …
- Cơ sở vật chất gặp khó khăn như các viện nghiên cứu, tuy nhiên, việc xin đầu
tư của các tổ chức loại này khó khăn
- Cơ sở vật chất ban đầu được chú trọng đầu tư, trang thiết bị, máy móc hiện đại
Trang 40nhiên, vẫn đang được quan tâm bổ sung hàng năm
- Đào tạo sau đại học
- Công nghệ, sản phẩm cụ thể (chủ yếu là không đăng
ký bản quyền)
- Công bố công trình khoa học (bài báo, báo cáo hội nghị, hội thảo, sách )
- Đào tạo đại học và sau đại học
- Công nghệ, sản phẩm cụ thể (chủ yếu là không đăng
ký bản quyền)
- Hợp đồng cung cấp các dịch vụ, sản phẩm
2.3 Các vấn đề cơ bản cần lưu ý khi đề xuất phương pháp luận đánh giá các tổ chức khoa học và công nghệ ở Việt Nam
Từ kinh nghiệm thực hành đánh giá tổ chức khoa học và công nghệ của một số nước, chúng tôi nhận thấy không thể có một quy trình mẫu để có thể áp dụng đánh giá mọi tổ chức Sự khác biệt của các mô hình, quy trình đánh giá tổ chức khoa học và công nghệ được quyết định bởi các yếu tố sau:
Mục đích đánh giá: Việc đánh giá các tổ chức khoa học và công
nghệ thường được tiến hành nhằm phục vụ các mục đích khác nhau
Do vậy, các tiêu chí và quy trình đánh giá cũng phải được lựa chọn
để đáp ứng các mục đích khác nhau đó;
Đặc thù hoạt động và chức năng của các loại tổ chức: Các tổ chức
khoa học và công nghệ có chức năng, nhiệm vụ khác nhau và lĩnh vực nghiên cứu và phát triển cũng khác nhau Do vậy, tính chất và đặc trưng của các kết quả cũng khác nhau Có tổ chức có nhiều sản