1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu xây dựng hệ thống giám sát dịch bệnh trên tôm sú nuôi ở Đồng bằng sông Cửu Long

381 606 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 381
Dung lượng 4,62 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Năm 2002, với nghiên cứu dịch tễ học bệnh đốm trắng trên tôm nuôi ở mô hình nuôi công nghiệp tại Vĩnh Hậu, Bạc Liêu đã chứng minh được sự biến động của các yếu tố môi trường như pH, độ m

Trang 1

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

ĐỀ TÀI TRỌNG ĐIỂM CẤP BỘ

BÁO CÁO TỔNG HỢP KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Đề tài: “Nghiên cứu xây dựng hệ thống giám sát dịch bệnh trên tôm

sú (Penaeus monodon) và cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) nuôi

ở Đồng Bằng Sông Cửu Long”

Cơ quan chủ trì đề tài: Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II

Chủ nhiệm đề tài: TS Đinh Thị Thủy

9355

TP Hồ Chí Minh, tháng 3/2012

Trang 2

i

MỤC LỤC

Mục lục i

Danh sách các bảng viii

Danh sách các đồ thị xi

Danh sách hình và sơ đồ xii

Bảng chú giải các chữ viết tắt xiii

I LỜI NÓI ĐẦU 1

II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

2.1 Những công trình nghiên cứu về hệ thống giám sát dịch bệnh trên tôm và cá trên thế giới và tại Việt Nam 4

2.1.1 Những công trình nghiên cứu về hệ thống giám sát dịch bệnh trên tôm trên thế giới và Việt Nam 4

2.1.2 Những công trình nghiên cứu về hệ thống giám sát dịch bệnh của cá trên thế giới và Việt Nam 6

2.2 Bệnh đốm trắng trên tôm và virus gây bệnh đốm trắng 7

2.2.1 Tình hình dịch bệnh trên thế giới và tại Việt Nam 7

2.2.1.1 Trên thế giới 7

2.2.1.2 Việt Nam 7

2.2.2 Giới thiệu bệnh đốm trắng 8

2.2.2.1 Các hướng nghiên cứu liên quan về dịch tễ học bệnh đốm trắng trên tôm 8

2.2.2.2 Tuổi mắc bệnh 9

2.2.2.3 Triệu chứng, bệnh tích 10

2.2.3 Một số phương pháp hiện đang áp dụng để chẩn đoán mầm bệnh WSSV trên giáp xác 10

2.3 Bệnh gan thận mủ trên cá tra 10

Trang 3

ii

2.3.1 Lịch sử bệnh và tác nhân gây bệnh gan thận mủ 10

2.3.2 Bệnh gan thận mủ và vi khuẩn Edwardsiella ictaluri 11

2.3.2.1 Đường truyền lây của vi khuẩn Edwardsiella ictaluri 11

2.3.2.2 Mùa vụ xuất hiện bệnh và tuổi mắc bệnh 12

2.3.2.3 Triệu chứng bệnh tích 12

2.4 Những vấn đề liên quan đến việc thiết lập các chiến lược quản lý dịch bệnh thủy sản trên thế giới và Việt Nam 13

III VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16

3.1 Thời gian và địa điểm thực hiện 16

3.2 Phương pháp nghiên cứu 16

3.2.1 Phương pháp nghiên cứu thử nghiệm và vận hành hệ thống giám sát dịch bệnh thụ động 16

3.2.1.1 Nghiên cứu hiện trạng 16

3.2.1.2 Phương pháp phát triển và thử nghiệm mô hình 16

3.2.1.3 Phương pháp đánh giá mô hình thử nghiệm 18

3.2.2 Nghiên cứu thử nghiệm và vận hành hệ thống giám sát dịch bệnh chủ động trên tôm sú và cá tra 19

3.2.2.1 Nghiên cứu hiện trạng 19

3.2.2.2 Phát triển và thử nghiệm mô hình hệ thống giám sát dịch bệnh chủ động 19 3.2.3 Phương pháp nghiên cứu phục vụ nội dung xây dựng kế hoạch đón đầu và xây dựng chiến lược quản lý dịch bệnh 25

3.2.4 Phương pháp nghiên cứu phục vụ nội dung đánh giá tác động kinh tế của dịch bệnh 25

3.2.4.1 Thu thập thông tin 25

3.2.4.2 Phương pháp xử lý và phân tích 25

Trang 4

iii

IV KẾT QUẢ THẢO LUẬN 27

4.1 Nghiên cứu thử nghiệm và vận hành hệ thống giám sát dịch bệnh thụ động 27

4.1.1 Đánh giá hiện trạng của hệ thống giám sát dịch bệnh thụ động đã có (năm 2009) trên trên tôm sú nuôi ở Cà Mau và trên cá tra nuôi ở An Giang, Đồng Tháp 27

4.1.1.1 Các tiêu chí đánh giá mô hình giám sát dịch bệnh thụ động 27

4.1.1.2 Kết quả đánh giá hệ thống giám sát dịch bệnh thụ động trên tôm sú tại Cà Mau 28

4.1.1.3 Kết quả đánh giá hệ thống giám sát dịch bệnh thụ động trên cá tra tại An Giang, Đồng Tháp 28

4.1.2 Thiết lập, phát triển và vận hành thử nghiệm mô hình giám sát dịch bệnh thụ động trên tôm sú nuôi tại Cà Mau 29

4.1.2.1 Mô hình nuôi và địa bàn giám sát 29

4.1.2.2 Xây dựng mạng lưới cộng tác viên 31

4.1.2.3 Thiết lập phiếu điều tra 31

4.1.2.4 Thực hiện nhiệm vụ giám sát thông qua phỏng vấn, kiểm tra, chuyển tải và phản hồi thông tin 31

4.1.2.5 Kết quả phân tích từ phiếu báo cáo giám sát thụ động về tình hình bệnh trên tôm sú và năng suất thu hoạch tại các vùng giám sát (2010, 2011) 34

4.1.3 Thiết lập, phát triển và vận hành thử nghiệm mô hình giám sát dịch bệnh thụ động trên cá tra nuôi tại An Giang và Đồng Tháp 36

4.1.3.1 Mô hình nuôi và địa bàn giám sát 36

4.1.3.2 Xây dựng mạng lưới cộng tác viên 39

4.1.3.3 Thiết lập phiếu điều tra 39

4.1.3.4 Thực hiện nhiệm vụ giám sát thông qua phỏng vấn, kiểm tra, chuyển tải và phản hồi thông tin 40

4.1.3.5 Kết quả phân tích từ phiếu báo cáo giám sát thụ động 41

Trang 5

iv

4.1.4 Cơ chế vận hành của hệ thống giám sát dịch bệnh thụ động trên tôm sú

nuôi ở Cà Mau và trên cá tra nuôi ở An Giang và Đồng Tháp 49

4.1.4.1 Cách tiếp cận để xây dựng cơ chế vận hành 49

4.1.4.2 Cơ chế vận hành 50

4.1.4.3 Chức năng của các cấp trong việc thực hiện nhiệm vụ giám sát 51

4.1.5 Đánh giá mô hình thử nghiệm giám sát dịch bệnh thụ động 55

4.1.5.1 Xây dựng tiêu chí đánh giá mô hình giám sát dịch bệnh thụ động 55

4.1.5.2 Kết quả đánh giá mô hình giám sát dịch bệnh thụ động tại Cà Mau 58

4.1.5.3 Kết quả đánh giá mô hình giám sát dịch bệnh thụ động tại An Giang và Đồng Tháp 59

4.2 Nghiên cứu thử nghiệm và vận hành hệ thống giám sát dịch bệnh chủ động 60

4.2.1 Đánh giá hiện trạng của hệ thống giám sát dịch bệnh chủ động đã có (năm 2009) trên cá tra nuôi ở An Giang, Đồng Tháp và trên tôm sú nuôi ở Cà Mau 60

4.2.2 Thiết lập, phát triển và vận hành thử nghiệm mô hình giám sát dịch bệnh chủ động trên tôm sú nuôi tại Cà Mau 61

4.2.2.1 Mô hình nuôi và địa bàn giám sát 61

4.2.2.2 Xây dựng mạng lưới cộng tác viên 61

4.2.2.3 Thiết kế phiếu điều tra 62

4.2.2.4 Thu thập thông tin qua các phiếu điều tra 62

4.2.2.5 Thu mẫu phục vụ phân tích xác định sự hiện diện của virus WSSV 63

4.2.2.6 Nhập dữ liệu, phân tích và lưu trữ dữ liệu 63

4.2.3 Thiết lập, phát triển và vận hành thử nghiệm mô hình giám sát dịch bệnh chủ động trên cá tra nuôi tại An Giang và Đồng Tháp 63

4.2.3.1 Mô hình nuôi và địa bàn giám sát 63

4.2.3.2.Xây dựng mạng lưới cộng tác viên 64

4.2.3.3 Thiết kế phiếu điều tra 64

4.2.3.4 Thu thập thông tin qua các phiếu điều tra 65

Trang 6

v

4.2.3.5 Thu mẫu phục vụ phân tích xác định sự hiện diện của vi khuẩn gây bệnh

gan thận mủ 65

4.2.3.6 Nhập dữ liệu, phân tích và lưu trữ dữ liệu 65

4.2.4 Vận hành của hệ thống giám sát dịch bệnh chủ động 66

4.2.5 Nghiên cứu các mối nguy về sự bùng phát dịch bệnh đốm trắng trên tôm sú nuôi ở mô hình QCCT tại Cà Mau 66

4.2.5.1 Kết quả phân tích mẫu 66

4.2.5.2 Kết quả thống kê mô tả điều tra hàng tháng ao nuôi 69

4.2.5.3 Kết quả phân tích thống kê tương quan 81

4.2.6 Nghiên cứu các mối nguy về sự bùng phát bệnh gan thận mủ trên cá tra nuôi ao thâm canh tại An Giang và Đồng Tháp 87

4.2.6.1 Kết quả phân tích mẫu 87

4.2.6.2 Kết quả thống kê mô tả điều tra hàng tháng các hộ nuôi cá tra tại An Giang 89

4.2.6.3 Kết quả thống kê mô tả điều tra hàng tháng các hộ nuôi cá tra tại Đồng Tháp 96

4.2.6.4 Kết quả phân tích thống kê tương quan 103

4.2.7 Đánh giá mô hình thử nghiệm giám sát dịch bệnh chủ động 109

4.2.7.1 Xây dựng tiêu chí đánh giá mô hình giám sát dịch bệnh chủ động 109

4.2.7.2 Kết quả đánh giá mô hình giám sát dịch bệnh chủ động tại Cà Mau 111

4.2.7.3 Kết quả đánh giá mô hình giám sát dịch bệnh chủ động (cá tra tại An Giang và Đồng Tháp) 112

4.3 Chương trình hành động khẩn cấp và xác định các giải pháp để kiểm soát bệnh 113

4.3.1 Tình hình dịch bệnh trên tôm sú tại Cà Mau và trên cá tra tại An Giang và Đồng Tháp năm 2010 113

4.3.1.1 Tình hình dịch bệnh trên tôm sú nuôi tại Cà Mau năm 2010 113

4.3.1.2 Tình hình dịch bệnh trên cá tra nuôi ao thâm canh tại An Giang, Đồng Tháp 115

Trang 7

vi

4.3.2 Ước tính thiệt hại do bệnh gây ra năm 2010 119

4.3.2.1 Đối với tôm sú nuôi tại Cà Mau 119

4.3.2.2 Đối với cá tra nuôi tại An Giang và Đồng Tháp 120

4.3.3 Phương pháp phòng ngừa bệnh đốm trắng trên tôm sú và bệnh gan thận mủ trên cá tra 120

4.3.3.1 Phương pháp phòng ngừa bệnh đốm trắng trên tôm sú 120

4.3.3.2 Phương pháp phòng ngừa bệnh gan thận mủ trên cá tra 122

4.3.4 Chương trình phản hồi với dịch bệnh 123

4.3.4.1 Đối với các bệnh đã biết 123

4.5.4.2 Đối với các bệnh mới 124

4.3.5 Các giải pháp kiểm soát dịch bệnh 124

4.3.5.1 Một số giải pháp quản lý tổng hợp nhằm hạn chế và kiểm soát sự bùng phát bệnh đốm trắng trên tôm sú nuôi QCCT tại Cà Mau 124

4.3.5.2 Một số giải pháp quản lý tổng hợp nhằm hạn chế và kiểm soát sự bùng phát bệnh gan thận mủ trên cá tra nuôi ao thâm thanh tại An Giang, Đồng Tháp 129

4.4 Chiến lược quản lý dịch bệnh thủy sản 134

4.4.1 Lập kế hoạch thu thập thông tin dịch bệnh thủy sản 135

4.4.2 Xây dựng kế hoạch phòng bệnh 135

4.4.3 Xây dựng kế hoạch đón đầu, chuẩn bị các hoạt động đón đầu đối phó với dịch bệnh thủy sản 135

4.4.3.1 Kế hoạch kiểm soát bệnh theo cấp độ 136

4.4.3.2 Kế hoạch chuẩn bị đối phó với tình trạng khẩn cấp 140

4.4.4 Xây dựng các kế hoạch phòng chống dịch bệnh thủy sản 140

4.4.4.1 Nội dung cơ bản của một kế hoạch phòng chống dịch bệnh thủy sản 140

4.4.4.2 Kế hoạch phòng chống dịch bệnh hàng năm đối với tôm sú và cá tra 141

4.4.5 Xây dựng các biện pháp xử lý khi có thông tin dịch bệnh 143

4.4.5.1 Khi dịch bệnh thủy sản xuất hiện trong nước 143

4.4.5.2 Đối với thông tin dịch bệnh ngoài nước 146

Trang 8

vii

4.4.6 Các chương trình nâng cao kỹ năng cho các cấp nhằm tăng cường khả

năng chẩn đoán và phòng trị bệnh 146

4.4.6.1 Các chương trình nâng cao kỹ năng cho các cấp đã được thực hiện trong hai năm 2010 và 2011 tại An Giang và Đồng Tháp (đối với cá tra) 146

4.4.6.2 Các chương trình nâng cao kỹ năng cho các cấp đã được thực hiện trong hai năm 2010 và 2011 tại Cà Mau (đối với tôm sú) 150

4.4.6.3 Đề xuất một số chương trình nâng cao kỹ năng bổ sung đối với tôm sú và cá tra 151

4.4.7 Đánh giá tác động kinh tế của dịch bệnh 152

4.4.7.1 Tôm sú nuôi QCCT ở Cà Mau 153

4.4.7.2 Cá tra nuôi ao thâm canh ở An Giang 153

V KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 155

5.1 KẾT LUẬN 155

5.1.1 Nghiên cứu xây dựng hệ thống giám sát dịch bệnh thụ động trên tôm sú nuôi tại Cà Mau và trên cá tra nuôi tại An Giang và Đồng Tháp 155

5.1.2 Nghiên cứu xây dựng hệ thống giám sát sát dịch bệnh chủ động trên tôm sú nuôi tại Cà Mau và trên cá tra nuôi tại An Giang và Đồng Tháp 156

5.1.3 Chương trình hành động khẩn cấp và xác định các giải pháp để kiểm soát bệnhh đốm trắng trên tôm sú và bệnh gan thận mủ trên cá tra 157

5.1.4 Chiến lược quản lý dịch bệnh thủy sản 159

V.2 KIẾN NGHỊ 160

VI TÀI LIỆU THAM KHẢO 161

VII PHẦN PHỤ LỤC 168

Trang 9

viii

DANH SÁCH CÁC BẢNG

Bảng 4.1.1 Kết quả đánh giá mô hình thử nghiệm thụ động (tôm sú tại Cà Mau,

2009) 28

Bảng 4.1.2 Kết quả đánh giá mô hình thử nghiệm thụ động (cá tra An Giang, Đồng Tháp, 2009) 29

Bảng 4.1.3 Các vùng nuôi có thực hiện giám sát .29

Bảng 4.1.4 Số thông tin đã thực hiện 32

Bảng 4.1.5 Các chương trình tập huấn, hội thảo (năm 2010, 2011) 32

Bảng 4.1.6 Thông tin tỷ lệ diện tích bệnh và thông tin thu hoạch (năm 2010) 34

Bảng 4.1.7 Thông tin tỷ lệ diện tích bệnh và thông tin thu hoạch (năm 2011) 35

Bảng 4.1.8 Các vùng nuôi thực hiện giám sát (An Giang) 36

Bảng 4.1.9 Các vùng nuôi thực hiện giám sát (Đồng Tháp) 39

Bảng 4.1.10 Số thông tin đã thực hiện 40

Bảng 4.1.11 Các chương trình tập huấn, hội thảo (năm 2010, 2011) 40

Bảng 4.1.12 Tỷ lệ (%) dt bệnh/dt nuôi (ao thâm canh) (2010), An Giang 42

Bảng 4.1.13 Tỷ lệ (%) dt bệnh/dt nuôi (ao thâm canh), ao giống (2011), An Giang

43

Bảng 4.1.14 Tỷ lệ (%) dt bệnh/dt nuôi (ao thâm canh) (2010), Đồng Tháp 47

Bảng 4.1.15 Tỷ lệ (%) dt bệnh/dt nuôi (ao thâm canh), ao giống (2011), Đồng Tháp .47

Bảng 4.1.16 Số lần phát hiện và thông báo đến cấp trên những vùng nuôi có bệnh xảy ra của mạng lưới công tác viên (tôm sú Cà Mau) 55

Bảng 4.1.17 Số lần phát hiện và thông báo đến cấp trên những vùng nuôi có bệnh xảy ra của mạng lưới công tác viên (cá tra An Giang, Đồng Tháp) 56

Bảng 4.1.18 Kết quả đánh giá mô hình thử nghiệm thụ động (tôm sú tại Cà Mau)58 Bảng 4.1.19 Kết quả đánh giá mô hình thử nghiệm thụ động (cá tra tại An Giang, Đồng Tháp) 59

Trang 10

ix

Bảng 4.2.1 Nội dung thu thập thông tin của các phiếu điều tra 62

Bảng 4.2.2 Số thông tin đã điều tra, phỏng vấn năm 2010 và 2011 63

Bảng 4.2.3 Tên các vùng nuôi thực hiện giám sát (An Giang và Đồng Tháp) 63

Bảng 4.2.4 Nội dung thu thập thông tin của các phiếu điều tra 64

Bảng 4.2.5 Số thông tin đã điều tra, phỏng vấn (An Giang, Đồng Tháp) 65

Bảng 4.2.6 Kết quả phân tích PCR trên mẫu tôm sú thu định kỳ và khi có dịch bệnh đốm trắng 68

Bảng 4.2.7 Kết quả phân tích mô học trên mẫu tôm sú thu định kỳ và khi có dịch bệnh đốm trắng 68

Bảng 4.2.8 Thông tin chung về hiện trạng ao nuôi (2010 và 2011) 69

Bảng 4.2.9 Thông tin chung về điều kiện ao nuôi (năm 2010 và 2011) 71

Bảng 4.2.10 Thông tin về tình hình con giống thả nuôi (năm 2010 và 2011) 72

Bảng 4.2.11 Thông tin về kỹ thuật quản lý ao nuôi hàng tháng (2010, 2011) 74

Bảng 4.2.12 Lượng tôm thu hoạch hàng tháng của nông hộ (2010 và 2011) 77

Bảng 4.2.13 Thông tin về tình trạng sức khỏe tôm nuôi ( năm 2010 và 2011) 80

Bảng 4.2.14 Các biến khảo sát có mối tương quan với bệnh đốm trắng 82

Bảng 4.2.15 Các biến khảo sát là yếu tố tiềm năng với bệnh đốm trắng 83

Bảng 4.2.16 Các biến khảo sát có mối tương quan với bệnh đốm trắng 84

Bảng 4.2.17 Các biến khảo sát là yếu tố tiềm năng với bệnh đốm trắng 84

Bảng 4.2.18 Các biến khảo sát có mối tương quan với bệnh đốm trắng (năm 2011) .85

Bảng 4.2.19 Các biến khảo sát là yếu tố tiềm năng với bệnh đốm trắng (năm 2011) .85

Bảng 4.2.20 Kết quả phân tích, định danh vi khuẩn 89

Bảng 4.2.21 Hiện trạng và điều kiện ao nuôi, An Giang (năm 2010, 2011) 90

Bảng 4.2.22 Tình hình con giống thả nuôi, An Giang (năm 2010, 2011) 91

Bảng 4.2.23 Kỹ thuật quản lý ao nuôi, An Giang (2010, 2011) 92

Bảng 4.2.24 Tình trạng sức khỏe cá nuôi, An Giang ( năm 2010 và 2011) 95

Bảng 4.2.25 Hiện trạng và điều kiện ao nuôi, Đồng Tháp (2010, 2011) 97

Trang 11

x

Bảng 4.2.26 Tình hình con giống thả nuôi, Đồng Tháp (năm 2010, 2011) 97

Bảng 4.2.27 Kỹ thuật quản lý ao nuôi, Đồng Tháp (2010, 2011) 100

Bảng 4.2.28 Tình trạng sức khỏe cá nuôi, Đồng Tháp (2010, 2011) 101

Bảng 4.2.29 Các biến có mối tương quan với bệnh gan thận mủ 105

Bảng 4.2.30 Các biến là yếu tố tiềm năng với bệnh gan thận mủ 106

Bảng 4.2.31 Các biến có mối tương quan với bệnh gan thận mủ 107

Bảng 4.2.32 Các biến có mối tương quan với bệnh gan thận mủ (năm 2011) 108

Bảng 4.2.33 Các biến là yếu tố tiềm năng với bệnh gan thận mủ (năm 2011) 108

Bảng 4.2.34 Kết quả đánh giá mô hình thử nghiệm chủ động (tôm sú tại Cà Mau)

112

Bảng 4.2.35 Kết quả đánh giá mô hình thử nghiệm chủ động (cá tra tại An Giang, Đồng Tháp) 112

Bảng 4.3.1 Tỷ lệ (%) diện tích tôm bệnh, chết/dt đang nuôi (năm 2010) 113

Bảng 4.3.2 Tần xuất (%) ao tôm bệnh, chết và tỷ lệ (%) dấu hiệu tôm bệnh, chết

114

Bảng 4.3.3 Tỷ lệ (%) dt bệnh/dt đang nuôi (ao nuôi thâm canh) (2010), An Giang

116

Bảng 4.3.4 Thông tin về tình trạng sức khỏe cá nuôi, An Giang ( năm 2010) 117

Bảng 4.3.5 Tỷ lệ (%) dt bệnh/dt đang nuôi (ao nuôi thâm canh)(2010) Đồng Tháp

118

Bảng 4.3.6 Thông tin về tình trạng sức khỏe cá nuôi, Đồng Tháp ( năm 2010) 119

Trang 12

xi

DANH SÁCH CÁC ĐỒ THỊ

Đồ thị 4.1.1 Trung bình năng suất thu hoạch (tấn/ha/vụ), An Giang (2010) 44

Đồ thị 4.1.2 Trung bình năng suất thu hoạch (tấn/ha/vụ), An Giang (2011) 46

Đồ thị 4.1.3 Năng suất thu hoạch (tấn/ha/vụ) ao thương phẩm, Đồng Tháp (2010) .48

Đồ thị 4.1.4 Năng suất thu hoạch (tấn/ha/vụ) ao thương phẩm, Đồng Tháp (2011) .49

Đồ thị 4.2.1 Trung bình mật độ thả giống năm 2010 và 2011 73

Đồ thị 4.2.2 Tỷ lệ trung bình (%) số nông hộ có cấp xổ nước và cấp bù nước 74

Đồ thị 4.2.3 Tỷ lệ (%) số nông hộ có sử dụng vôi, phân bón và hoá chất 76

Đồ thị 4.2.4 Mực nước trảng (m) của ao nuôi theo tháng (năm 2010, 2011) 76

Đồ thị 4.2.5 Mực nước mương (m) của ao nuôi theo tháng (năm 2010 và 2011).77 Đồ thị 4.2.6 Tỷ lệ (%) các loại bệnh nhiễm trên tôm 78

Đồ thị 4.2.7 Tỷ lệ (%) cỡ tôm bệnh, chết do nhiễm bệnh đốm trắng 79

Đồ thị 4.2.8 Tỷ lệ (%) ao nuôi của các nông hộ có bệnh đốm trắng (năm 2010, 2011) 81

Đồ thị 4.2.9 Mực nước ao nuôi cá tra ở các tháng ở An Giang (năm 2010) 93

Đồ thị 4.2.10 Mực nước ao nuôi cá tra ở các tháng ở An Giang (năm 2011) 94

Đồ thị 4.2.11 Mực nước ao nuôi cá tra các tháng ở Đồng Tháp (năm 2010) 98

Đồ thị 4.2.12 Mực nước ao nuôi cá tra các tháng ở Đồng Tháp (năm 2011) 100

Đồ thị 4.2.13 Tỷ lệ (%) ao nuôi có bệnh gan thận mủ (năm 2010) 104

Đồ thị 4.2.14 Tỷ lệ (%) ao nuôi có bệnh gan thận mủ (năm 2011) 104

Trang 13

xii

DANH SÁCH HÌNH VÀ SƠ ĐỒ

Hình 4.1.1 Khu vực giám sát tỉnh Cà Mau 30

Hình 4.1.2 Hội thảo báo cáo kết quả hoạt động (2010) và định hướng kế hoạch (2011) (Cà Mau) .33

Hình 4.1.3 Tập huấn về cách phát hiện bệnh teo gan và một số kết quả bước đầu (Cà Mau) .33

Hình 4.1.4 Tập huấn về cách nhận biết một số bệnh nguy hiểm trên tôm nuôi và các biện pháp phòng bệnh 34

Hình 4.1.5 Bản đồ khu vực thực hiện giám sát tỉnh An Giang 37

Hình 4.1.6 Bản đồ khu vực thực hiện giám sát tỉnh Đồng Tháp 38

Hình 4.1.7A,B Hội thảo báo cáo kết quả hoạt động năm 2010 và định hướng kế hoạch năm 2011 (tại An Giang) .41

Hình 4.2.1 Bản đồ địa bàn thực hiện giám sát chủ động (huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau) 61

Hình 4.2.2A,B Các mẫu tôm thu bị nhiễm đốm trắng 67

Hình 4.2.3A,B Hình ảnh mang tôm có dấu hiệu nhiễm virus WSSV với phương pháp phân tích mô học 67

Hình 4.2.4 a,b Các mẫu cá thu có gan thận bị đốm trắng và có mủ 87

Hình 4.2.5 Các mẫu cá thu trong tình trạng khỏe, bình thường 88

Sơ đồ 4.1.1 Sơ đồ thu thập thông tin, phân tích dữ liệu và báo cáo 51

Sơ đồ 4.2.1 Các bước thực hiện giám sát chủ động 66

Trang 14

xiii

BẢNG CHÚ GIẢI CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Cross- sectional Nghiên cứu cắt ngang

Interval

Độ tin cậy thống kê 95%

N Số trường hợp được phân tích

syndrome virus

Virus gây hội chứng đốm trắng hay virus đốm trắng

Trang 15

1

I LỜI NÓI ĐẦU

Giám sát dịch bệnh là nội dung không thể thiếu được trong những chương trình quản lý sức khoẻ vật nuôi thủy sản Điều này đảm bảo những hoạt động với vai trò giúp phát hiện sớm của những bệnh cần quan tâm đã biết, những bệnh mới chưa biết Từ đó có biện pháp giám sát, kiểm tra và kiểm soát bệnh (http://www.fao.org/docrep)

Hệ thống giám sát dịch bệnh trên tôm sú cũng đã được thiết lập và thực hiện thử nghiệm vào năm 2004 ở một số tỉnh tại Việt Nam (trong đó có tỉnh Cà Mau) dưới

sự hỗ trợ của tổ chức DANIDA Khi dự án kết thúc thì hệ thống cũng ngừng hoạt động có lẽ do dự án chỉ mới thiết lập và thực hiện thử nghiệm hệ thống; sự điều chỉnh và hoàn thiện của hệ thống chưa được quan tâm đúng mức, cách tiếp cận chưa thật sự được ủng hộ và thiếu kinh phí hoạt động nên tính bền vững của hệ thống chưa được đảm bảo

Nghiên cứu dịch tễ học tại Việt Nam khá phát triển trên các lĩnh vực y học, thú y, nhưng đối với lĩnh vực thủy sản vẫn còn đang từng bước nghiên cứu Nghiên cứu dịch tễ học bệnh đốm trắng trên tôm sú với mô hình luân canh tôm lúa ở Long

An vào năm 1998 là nghiên cứu đầu tiên về dịch tễ học trên tôm sú tại Việt Nam; kết quả nghiên cứu chưa xác định được các yếu tố nguy cơ chính có tương quan đến bệnh

Đến năm 2001, với nghiên cứu dịch tễ học bệnh đốm trắng trên tôm sú nuôi ở

mô hình tôm lúa tại huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng; kết quả đã chỉ ra các yếu tố

kỹ thuật như mật độ và thời gian thả giống, chênh lệch độ mặn lúc thả giống là các yếu tố nguy cơ có tương quan chặt chẽ đến bệnh đốm trắng Năm 2002, với nghiên cứu dịch tễ học bệnh đốm trắng trên tôm nuôi ở mô hình nuôi công nghiệp tại Vĩnh Hậu, Bạc Liêu đã chứng minh được sự biến động của các yếu tố môi trường như

pH, độ mặn, độ kiềm,…(đặc biệt là giai đoạn tôm dễ mẫn cảm với mầm bệnh) có mối tương quan chặt chẽ với bệnh đốm trắng và một số yếu tố không thuận lợi như địa hình, ô nhiễm và suy thoái môi trường cũng góp phần làm bùng phát dịch bệnh (Nguyễn Văn Hảo và ctv, 2003)

Trang 16

2

Cá tra hiện là đối tượng nuôi nước ngọt chủ lực ở một số tỉnh thuộc ĐBSCL Cho đến nay, hệ thống giám sát dịch bệnh vẫn chưa được thiết lập và hoạt động hiệu quả Việc quản lý ao nuôi còn mang tính tự phát, kiến thức nhận biết bệnh, cách phòng và trị bệnh còn nhiều hạn chế Các quá trình thu mẫu bệnh, phân tích, chẩn đoán và sự phản hồi kết quả còn chậm trễ Đặc biệt trong một vài năm gần đây, bệnh gan thận mủ trên cá tra đã gây chết hàng loạt, dịch bệnh không chỉ xảy ra

ở một vùng, một khu vực, mà có dấu hiệu lây nhiễm trên diện rộng và việc chữa trị không mang lại hiệu quả đã làm ảnh hưởng lớn đến năng suất cá nuôi

Tóm lại, trên cá tra và tôm sú nuôi ở Đồng Bằng Sông Cửu Long, dịch bệnh xảy

ra hàng năm rất lớn, nhưng cho đến nay nghiên cứu xây dựng hệ thống giám sát dịch bệnh vẫn chưa có cách tiếp cận mới và thưc sự chưa được thiết lập và hoạt động hiệu quả Các giải pháp kiểm soát bệnh nếu có cũng chỉ mang tính tự phát, chưa xây dựng thành hệ thống và việc thực hiện chưa khả thi Mặc dù, một vài nghiên cứu trước có nghiên cứu xây dựng hệ thống giám sát dịch bệnh nhưng chưa được nghiên cứu chi tiết và nghiên cứu chưa có hệ thống Vì vậy, khi triển khai gặp nhiều khó khăn nên vẫn còn nằm trong phạm vi thăm dò Mặc khác, phổ biến trong các nghiên cứu trước là đi tìm tác nhân gây bệnh, chưa nghiên cứu đi sâu về bệnh Dịch tễ học được triển khai và thực hiện, nhưng chưa có hiệu quả Công việc giám sát dịch bệnh khi triển khai và thực hiện chưa được thống nhất giữa các cấp từ cấp trung ương đến địa phương nên tính bền vững của hệ thống đã không được đảm bảo

Tất cả những điều trên chính là lý do cần thiết để nghiên cứu và thực hiện đề tài

Nghiên cứu xây dựng hệ thống giám sát dịch bệnh trên tôm sú (Penaeus monodon) và cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) nuôi ở Đồng Bằng Sông

Cửu Long

Mục tiêu của đề tài: Xây dựng hệ thống giám sát và các giải pháp kiểm soát dịch

bệnh trên tôm sú và cá tra nuôi

Trang 17

3

Đề tài gồm 04 nội dung chính sau đây:

1 Nghiên cứu thử nghiệm và vận hành hệ thống giám sát dịch bệnh thụ động

trên tôm sú và cá tra

2 Nghiên cứu thử nghiệm và vận hành hệ thống giám sát dịch bệnh chủ động

trên tôm sú và cá tra

3 Thiết lập chương trình hành động khẩn cấp phù hợp và xác định các giải

pháp kiểm soát dịch bệnh

4 Xây dựng chiến lược quản lý dịch bệnh thủy sản

Theo hợp đồng số 10/2010/HĐ-BNN-TS giữa Bộ Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn và Viện Nghiên Cứu Nuôi Trồng Thủy Sản II, đề tài phải hoàn thành các sản phẩm sau đây:

1 Hệ thống giám sát dịch bệnh đốm trắng trên tôm sú và bệnh gan thận mủ trên cá

tra

2 Cơ chế vận hành của hệ thống giám sát

3 Báo cáo dịch tễ học bệnh đốm trắng trên tôm sú và bệnh gan thận mủ trên cá tra

4 Các giải pháp kiểm soát dịch bệnh

* 04 báo cáo chuyên đề:

- Chiến lược quản lý dịch bệnh thủy sản

- Kế hoạch và chuẩn bị các hoạt động đón đầu

- Nâng cao kỹ năng cho các cấp

- Đánh giá tác động kinh tế của dịch bệnh

Trang 18

4

II TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Những công trình nghiên cứu về hệ thống giám sát dịch bệnh trên tôm và

cá trên thế giới và tại Việt Nam

2.1.1 Những công trình nghiên cứu về hệ thống giám sát dịch bệnh trên tôm trên thế giới và Việt Nam

Hệ thống giám sát dịch bệnh là hệ thống thu thập và phân tích các dữ liệu một cách có hệ thống để phục vụ cho việc phát hiện bệnh mới, phát hiện các ổ (vùng) dịch bệnh, từ đó có các biện pháp quản lý thích hợp Hệ thống giám sát dịch bệnh

đã được nhiều nước trên thế giới áp dụng cho các đối tượng gia súc, gia cầm, Đối với thủy sản, tại Philipine, chương trình giám sát dịch bệnh đối với bệnh do virus gây nên trên tôm sú nuôi và tôm hoang dã đã thực hiện vào năm 2004 và kết quả đã kiểm soát được dịch bệnh bùng phát đảm bảo được năng suất đề ra

Một trong các nội dung lớn của hệ thống giám sát dịch bệnh là xác định rõ các mối nguy có liên quan đến việc bùng phát dịch bệnh và từ đó đề xuất các giải pháp chiến lược cho việc kiểm soát dịch bệnh đối với vật nuôi Đây chính là các nội dung

có liên quan đến dịch tễ học Dịch tễ học là khoa học nghiên cứu các yếu tố quyết định và gây ảnh hưởng đến tần suất và phân bố của bệnh hoăc các yếu tố khác có liên quan, nguyên nhân của chúng trong quần thể được xác định nhằm thiết lập ra các giải pháp phòng ngừa và kiểm soát sự phát triển và lây lan dịch bệnh

Trên các lĩnh vực nhân y, thú y, , dịch tễ học được ứng dụng rộng rãi và đã mang lại nhiều lợi ích trong việc ngăn ngừa và phòng trừ dịch bệnh, nhưng nghiên cứu dịch tễ học trên các đối tượng thủy sản chỉ mới được áp dụng gần đây Năm

2000, MPEDA (Marine Products Export Development Authority) và NACA

(Network Aquaculture Centres in Asia-Pacific) đã tiến hành nghiên cứu chi tiết các

yếu tố nguy cơ dẫn đến sự bùng phát dịch bệnh trên tôm sú nuôi ở West Goodavari, Kadaleru, Nagai thuộc Ấn Độ Kết quả đã chứng minh bệnh đốm trắng đã gây tác hại lớn nhất cho tôm sú nuôi trong khu vực, làm giảm nghiêm trọng sản lượng tôm nuôi Sau đó, một nghiên cứu sâu hơn đã đề cập đến các yếu tố rủi ro có thể dẫn đến

sự bùng phát dịch bệnh đốm trắng trong vùng nuôi này; nghiên cứu đã dựa trên việc

Trang 19

5

thu thập thông tin từ 365 ao nuôi được chọn một cách ngẫu nhiên ở Andhra Pradesh trong một vụ nuôi Kết quả đã cho thấy nguy cơ dẫn đến bệnh đốm trắng bùng phát bao hàm nhiều yếu tố như việc chăm sóc quản lý ao nuôi, chất lượng con giống,

mùa vụ thả giống, cải tạo ao, quản lý môi trường nước và đáy ao cho đến việc quản

lý thức ăn và dịch bệnh Corsin và ctv (2001) cũng đã công bố mối quan hệ giữa

bệnh đốm trắng và một số chỉ tiêu chất lượng tôm giống; đặc biệt, nếu thả con giống có nhiễm virus đốm trắng sẽ là nguy cơ cho sự bùng phát dịch bệnh sau này Điều đó cho thấy chất lượng tôm giống cũng được xem là một yếu tố quyết định đến thành công của vụ nuôi Ngoài ra, các tác giả này cũng đã chỉ ra ý nghĩa của những mẫu tôm chết xuất hiện trong ao nuôi; những mẫu tôm chết có thể cung cấp những thông tin hữu ích trong việc giám sát dịch bệnh và khảo sát dịch tễ học bệnh đốm trắng trên tôm sú Cụ thể, sự xuất hiện của chúng trong ao nuôi nhiễm virus đốm trắng là một trong những chỉ thị của việc thu hoạch trước thời vụ (< 90 ngày),

khi đó tỷ lệ sống và trọng lượng trung bình của tôm thu hoạch cũng thấp hơn

Năm 2005, các nhà nghiên cứu tại Ecuador đã xây dựng một hệ thống cảnh báo sớm dịch bệnh tôm nuôi tại khu vực nuôi tôm lớn nhất nước này là hệ thống báo động dịch tễ học và quản lý nuôi thủy sản (SAEMA: Epidemiological Alert Systems and Aquacuture Management) Hệ thống SAEMA được xây dựng trên cơ

sở hệ thống định vị địa lý GIS và các dữ liệu điều tra về sản lượng trong khu vực Khu vực nghiên cứu được chia thành dạng lưới mà mỗi đơn vị ô lưới có diện tích tương đương 12.868 ha Các chỉ số về sản lượng và quản lý ao nuôi được tính toán

từ các dữ liệu thu hoạch của mỗi ao nuôi Độ lệch chuẩn trung bình từ các năm trước đó và mức độ báo động được tính toán từ mỗi ao và mỗi đơn vị ô lưới trong khu vực nghiên cứu Bằng hệ thống này, dữ liệu được mã hóa và hiển thị trên trang thông tin điện tử, mức độ báo động được biểu diễn với màu sắc chỉ thị khác nhau: khu vực màu vàng, xanh là không có dịch bệnh, màu cam và đỏ biểu thị mức độ dịch bệnh và khả năng lây lan Hệ thống đã bắt đầu hoạt động từ tháng 5/2006; nhờ tương tác trên trang thông tin điện tử, người sản xuất có thể theo dõi sớm tình hình

Trang 20

thông tin về dịch bệnh từ các cán bộ khuyến ngư cơ sở, sử dụng tin nhắn với các mã

hoá về dịch bệnh để truyền tải thông tin về trung tâm đặt tại Hà Nội Khi dự án kết thúc thì hệ thống cũng ngừng hoạt động có lẽ do dự án chỉ mới thiết lập và thực hiện thử nghiệm hệ thống; sự điều chỉnh và hoàn thiện của hệ thống chưa được quan tâm đúng mức, cách tiếp cận chưa thật sự được ủng hộ và thiếu kinh phí hoạt động nên tính bền vững của hệ thống chưa được đảm bảo

2.1.2 Những công trình nghiên cứu về hệ thống giám sát dịch bệnh của cá trên thế giới và Việt Nam

Đối với lĩnh vực thủy sản (cá) trên thế giới, một số nước như Thái lan, Malaysia

đã được áp dụng đối với bệnh KHV (Koi Herpesvirus) trên cá Koi nhằm kiểm soát dịch bệnh bùng phát và đảm bảo chất lượng sản phẩm xuất khẩu

Đối với cá tra, tại Việt nam, hầu như những nghiên cứu về quản lý dịch bệnh chưa được công bố chính thức; mặc dù trên thực tế việc thiết lập hệ thống giám sát dịch bệnh trên cá tra đã thực hiện trong những năm trước đây tại An Giang nhưng kết quả nghiên cứu chưa được công bố

Hiện nay hướng dẫn về giám sát dịch bệnh thủy sản đã được đưa ra trong Bộ luật Thú y Thủy sản năm 2008 của OIE Đây cũng là một điều kiện thuận lợi để chương trình nghiên cứu này có điều kiện tiếp cận, bổ sung và hoàn thiện các biện pháp triển khai, các giải pháp kiểm soát dịch bệnh nhằm đạt được hiệu quả cao nhất Gần đây, dưới sự tài trợ của IMOLA, FAO và chính phủ Việt Nam, một hệ thống giám sát dịch bệnh với hướng tiếp cận mới đã được xây dựng cho việc quản

lý bệnh tôm, cá tại tỉnh Thừa Thiên Huế và đã thu được những hiệu quả nhất định

Trang 21

7

2.2 Bệnh đốm trắng trên tôm và virus gây bệnh đốm trắng

2.2.1 Tình hình dịch bệnh trên thế giới và tại Việt Nam

2.2.1.1 Trên thế giới

Từ những năm đầu thập niên 80, từ khi kỹ thuật sản xuất giống nhân tạo thành công và được áp dụng vào ngành nuôi tôm biển thì nuôi tôm trở thành ngành kinh tế quan trọng trên thế giới, đặc biệt là các nước ở khu vực Châu Á Diện tích nuôi tôm ngày được mở rộng với sản lượng tôm tăng nhanh, năm 1987, sản lượng tôm nuôi của Đài Loan đạt 95.000 tấn; Thái Lan với sản lượng từ 20.000 tấn năm 1980 tăng lên 250.000 tấn năm 1994 (World Shrimp Farming, 1996, Annual report, Shrimp International) Trung Quốc nuôi tôm bắt đầu vào năm 1978 với diện tích nuôi là 1.300 ha và sản lượng đạt 4.500 tấn; đến năm 1988 diện tích nuôi được mở rộng lên đến 162.000 ha và sản lượng hàng năm đạt 200.000 tấn chiếm 35 % sản lượng nuôi tôm thế giới Song song với việc gia tăng diện tích nuôi và sản lượng, đồng nghĩa với việc phát triển ồ ạt của nghề nuôi tôm sú trên thế giới, chính là nguyên nhân dẫn đến sự suy thoái môi trường và dịch bệnh xảy ra khắp nơi gây nhiều tổn thất lớn Dịch bệnh đốm trắng được phát hiện đầu tiên ở khu vực châu Á trong khoảng thời gian từ 1992 đến 1993 và lan rộng một cách nhanh chóng Đến năm 1996, bệnh này tác động nghiêm trọng đến nghề nuôi tôm của các nước như Nhật Bản, Thái Lan, Đài Loan, Trung Quốc, Ấn Độ và Hàn Quốc (Huang và ctv, 1995; Hameed và ctv, 1998) Ở Đài Loan vào năm 1988 dịch bệnh tôm xảy ra và gây chết hàng loạt, sản lượng giảm 70 % chỉ còn 30.000 tấn (Liao và ctv, 1992) Mặc dù Indonexia là nước đứng thứ 3 về sản lượng tôm nuôi trong năm 1993, nhưng cũng không tránh khỏi bị dịch bệnh hoành hành; dịch bệnh xảy ra liên tiếp trong những năm từ 1992

và sau đó, với sản lượng từ 140.000 tấn năm 1991 giảm còn 130.000 tấn năm 1992

và tiếp tục giảm còn 80.000 tấn năm 1993

Trong những năm gần đây, do ảnh hưởng của sự biến đổi khí hậu trên toàn cầu, việc phát triển nghề nuôi tôm sú trên thế giới cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng, dịch bệnh thường xuyên xảy ra và tiếp tục làm ảnh hưởng đến năng suất tôm nuôi

2.2.1.2 Việt Nam: ở Việt Nam, tình hình cũng diễn ra tương tự

Trang 22

8

Cuối năm 1993, dịch bệnh tôm xảy ra ở một số tỉnh ĐBSCL như Tiền Giang, Trà Vinh, Bến Tre, Bạc Liêu, Cà Mau và vùng Đông Nam Bộ như Bà Rịa, Vũng Tàu Tính đến cuối năm 1994, toàn vùng ĐBSCL có diện tích nuôi tôm chết trên 84.000

ha với sản lượng thiệt hại ước tính 5.220 tấn Liên tiếp sau đó những năm 1996,

1997 và 1998, diện tích nuôi tôm có tăng nhưng sản lượng tôm nuôi hàng năm lại giảm, năm 1996 sản lượng giảm còn 39.652 tấn, năm 1997 sản lượng tiếp tục giảm còn 38.133 tấn và năm 1998 sản lượng tăng nhẹ, dao động trong khoảng 39.382 tấn Tại ĐBSCL đến năm 1999, diện tích nuôi là 173.510 ha và sản lượng đạt 49.822 tấn; đến năm 2001, diện tích nuôi tăng lên thành 404.911 ha và sản lượng đạt 143.822 tấn (Nguyễn Văn Hảo và ctv, 2007) Đến năm 2002, dịch bệnh lại tiếp tục bùng nổ và gây tổn thất lớn cho người nuôi, nhiều nông dân mất trắng Trong những năm gần đây, đặc biệt trong các năm 2009, 2010 và 2011, một phần do ảnh hưởng biến đổi khí hậu, thời tiết xấu, nguồn nước ô nhiễm trầm trọng, bệnh tôm ngày càng gia tăng, không chỉ là những bệnh cũ thường gặp như bệnh đốm trắng, đầu vàng, mà còn xuất hiện thêm bệnh mới như hội chứng gan tụy ở các vùng nuôi khu vực ĐBSCL thuộc các tỉnh Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng, và bệnh cũng đã xảy ra trên tất cả các mô hình nuôi khác nhau

2.2.2 Giới thiệu bệnh đốm trắng

2.2.2.1 Các hướng nghiên cứu liên quan về dịch tễ học bệnh đốm trắng trên tôm

Nghiên cứu dịch tễ học bệnh đốm trắng trên tôm sú nhằm xác định các yếu tố rủi

ro liên quan đến sự xuất hiện bệnh Nhiệt độ nước có liên quan đến tỷ lệ chết của ao tôm bị nhiễm WSSV, nếu nhiệt độ trên 25oC thì tỷ lệ tôm chết trên 50,0 % và nếu nhiệt độ nước dưới 20oC thì tỷ lệ tôm chết giảm xuống dưới 30,0 % (Chou và ctv, 1998)

Mùa vụ và độ mặn cũng là yếu tố liên quan đến sự xuất hiện của bệnh đốm trắng

và Karumasagar (1997) đã báo cáo tỷ lệ WSSV xuất hiện cao trong mùa mưa, khi

độ mặn gần bằng 0 %o Đối với ao tôm đã nhiễm bệnh, Chou và ctv (1998) cho rằng nếu càng thay nước thì bệnh càng trở nên trầm trọng hơn so với ao ít thay nước

Trang 23

9

hoặc không thay nước Nghiên cứu của Đỗ Thị Hòa và ctv (2004) cũng ghi nhận các yếu tố mùa mưa và nhiệt độ thấp có liên quan đến sự xuất hiện của bệnh đốm trắng và nhiệt độ biến động là các yếu tố nguy cơ (Tendencia và ctv, 2008)

Với nghiên cứu dịch tễ trên tôm sú được thực hiện tại một số tỉnh ĐBSCL như với mô hình tôm lúa ở Long An, Corsin và ctv (2001) đã xác định vị trí ao nuôi gần biển hơn các ao khác, kích cỡ tôm nhỏ sau 1 tháng thả nuôi có liên quan đến sự xuất hiện của bệnh đốm trắng Ngoài ra các yếu tố khác trong lĩnh vực quản lý ao nuôi như mật độ nuôi cao, con giống nhiễm virus gây bệnh là các yếu tố nguy cơ với bệnh đốm trắng (Mohan và ctv, 2004; Corsin và ctv, 2003) Wang và ctv (1999) cho rằng WSSV lây lan giữa các ao, các trại nuôi tôm thông qua việc sử dụng nguồn nước thải từ các ao, trang trại có nhiễm bệnh Đồng thời, Nguyễn Văn Hảo và ctv (2003) trong kết quả nghiên cứu dịch tễ học WSSV tại Vĩnh Hậu, Bạc Liêu đã chỉ

ra trong khu vực nuôi xảy ra dịch bệnh, con đường nước thẩm thấu từ các ao nuôi

kề cận nhau đóng vai trò quan trọng cho virus lây lan

Vật chủ của WSSV gồm 29 loài tôm, 36 loài cua, 8 loài tôm hùm, 6 loài crayfish

và 1 loài côn trùng Chim và một số côn trùng có cánh cũng đóng vai trò truyền lan WSSV từ ao này sang ao khác (Wang và ctv, 1999) Trứng của Rotifer có trong bùn

đáy ao nuôi tôm (Penaeus chinensis) tại Trung Quốc là nguồn chứa virus đốm

trắng Hameed và ctv (1998) đã công bố, WSSV không thể xâm nhiễm Artemia (ở tất cả các giai đoạn phát triển) trong quá trình gây nhiễm bằng cách ngâm tắm hoặc cho ăn Trong nghiên cứu của Chang và ctv (2002) cũng khẳng định không thấy kết quả dương tính với WSSV trên các ấu trùng Nauplii nở từ trứng của Artemia (với

kỹ thuật phân tích PCR)

Nguyễn Văn Hảo (2003) đã khẳng định sự xuất hiện của bệnh đốm trắng có liên quan đến sự hiện diện của nhiều mầm bệnh khác (như bệnh còi, đầu vàng, nhiễm khuẩn và ký sinh trùng) trên tôm sú nuôi ở mô hình thâm canh tại Tiền Giang

2.2.2.2 Tuổi mắc bệnh

Với kết quả nghiên cứu dịch tễ học của Chou và ctv (1998) ghi nhận tôm ở mọi lứa tuổi (từ tôm giống đến tôm trưởng thành) đều nhiễm WSSV Nhưng đặc biệt

Trang 24

10

tôm nuôi ở tuổi tháng thứ nhất và thứ hai thường hay nhiễm bệnh Ở Trung Quốc tôm nuôi có biểu hiện đốm trắng sau 1 tháng thả nuôi và tôm bị chết sau 3 ngày phát bệnh, tỷ lệ bệnh chết lên 100 % trong vòng từ 2 đến 4 ngày và theo báo cáo của

Lý Thị Thanh Loan (2003) cũng cho rằng tôm bị đốm trắng chết hàng loạt sau 30 đến 40 ngày thả nuôi tại các huyện Bình Đại, Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre và huyện Cần Giờ, TPHCM

2.2.2.3 Triệu chứng, bệnh tích

Lo và ctv (1996), Tapay và ctv (1997) đã phát hiện nhóm virus gây hội chứng đốm trắng (White Spot Syndrom Virus) Khi tôm bắt đầu chớm bệnh đốm trắng có biểu hiện bỏ ăn, lờ đờ; sau đó hoạt động kém dần, có khuynh hướng cặp mé bờ (Wang và ctv, 1999) Tôm bệnh xuất hiện nhiều đốm trắng ở mặt trong lớp vỏ kitin, các đốm trắng đường kính khoảng 0,5 mm đến 2 mm Khi quan sát dưới kính hiển

vi quang học, trên đốm trắng có nhiều vòng đồng tâm hiện ra, dày ở phía trung tâm của vòng đồng tâm, càng ra phía mép thì vòng đồng tâm càng mỏng Gan tụy của tôm nhiễm WSSV thường hay trương phình, có màu trắng hoặc hơi vàng (Chou và ctv, 1998) 100 % tỷ lệ chết trên tôm nhiễm WSSV có thể được tìm thấy trong vòng

từ 3 đến 10 ngày nhiễm virus (Lightner, 1996; Nakano và ctv, 1994)

2.2.3 Một số phương pháp hiện đang áp dụng để chẩn đoán mầm bệnh WSSV trên giáp xác

Các phương pháp chẩn đoán mầm bệnh WSSV trên giáp xác đang được áp dụng như: phương pháp phân tích mô học (Lightner, 1996); kỹ thuật phân tích PCR 1- step, 2- step PCR (Lo và ctv, 1996), one-tube nested PCR (Lo và ctv, 1998); kỹ thuật phân tích PCR định lượng: Realtime-PCR (Dhar và ctv, 2001; Durand và Lightner, 2002); kỹ thuật kính hiển vi điện tử (TEM: Transmission electron microscopy); kỹ thuật Dot blot, Western blot analysis (Nadala và ctv, 1997) và

phương pháp In situ DNA hybridisation (Chang và ctv, 1996)

2.3 Bệnh gan thận mủ trên cá tra

2.3.1 Lịch sử bệnh và tác nhân gây bệnh gan thận mủ

Trang 25

11

Năm 2001, lần đầu tiên tác nhân gây bệnh gan gan thận mủ trên nhóm cá nheo

(catfish) được công bố là do Bacillus sp (Ferguson và ctv, 2001), nhóm nghiên cứu

này đã báo cáo đây là bệnh có tỷ lệ chết rất cao kèm theo các dấu hiệu như xuất huyết đuôi, vây, đôi khi xuất huyết rải rác khắp cơ thể Nội tạng bị tổn thương, xuất hiện những đốm trắng có dạng hạt mủ đường kính từ 1 mm đến 3 mm, các đốm này

ăn sâu vào nhu mô của gan, thận, lách; mang nhạt màu và nhiều nhớt Trong nghiên

cứu của Crumlish và ctv (2002) từ năm 1998 đến 2002 đã công bố vi khuẩn E

Ictaluri là tác nhân chính gây ra bệnh gan thận mủ trên cá tra nuôi ở ĐBSCL Sau

đó đến năm 2002, nhóm nghiên cứu của Ferguson và ctv (2003) đã khẳng định lại

tác nhân gây bệnh gan thận mủ được xác định là Edwardsiella ictaluri Trần Thị Minh Tâm và ctv (2003) đã xác định hai loài vi khuẩn Hafnia alvei và Plesiomonas

shigelloides là tác nhân gây bệnh gan thận mủ trên cá tra nuôi ở ĐBSCL Cũng cá

tra nuôi ở ĐBSCL, trong những năm gần đây, Thu và ctv (2007) đã nghiên cứu và

xác định vi khuẩn Edwardsiella ictaluri là tác nhân chính của bệnh gan thận mủ

Cho đến nay tác nhân gây bệnh gan thận mủ trên cá tra còn khác nhau ở các nhóm nghiên cứu Tất cả những loài vi khuẩn nêu trên được xem là các tác nhân gây bệnh gan thận mủ và đều thuộc nhóm trực khuẩn gram âm

2.3.2 Bệnh gan thận mủ và vi khuẩn Edwardsiella ictaluri

2.3.2.1 Đường truyền lây của vi khuẩn Edwardsiella ictaluri

Vi khuẩn E ictaluri có thể lây cho cá qua nhiều con đường khác nhau:

(a) Vi khuẩn trong nước có thể xâm nhập vào cơ thể cá thông qua đường mũi đến dây thần kinh khứu giác rồi đến màng não (Miyazaki và Plumb, 1985; Shotts và ctv, 1986) Sự nhiễm trùng bắt đầu và lan rộng từ màng não đến hộp sọ và vùng da trên sọ tạo thành một lỗ lõm đầu (Plumb, 1994) Vi khuẩn này tấn công vào mũi làm giảm chức năng niên mạc mũi ở lớp màng nhầy, khi quan sát dưới kính hiển vi

nhận thấy có sự xuất hiện E ictaluri trên bề mặt màng nhầy và trong biểu mô (b) E ictaluri cũng có thể xâm nhập qua đường tiêu hóa Đầu tiên vi khuẩn qua

đường miệng đến ruột, gan, thận và cơ trong vòng 2 tuần gây nhiễm làm ruột trương

Trang 26

12

to, đầy hơi (Fracis-Floyd và ctv, 1987) Vi khuẩn từ đường tiêu hóa xâm nhập qua niêm mạc ruột vào máu gây nhiễm trùng máu (Shotts và ctv, 1986)

(c) E ictaluri cũng xâm nhập qua mang Thí nghiệm chứng minh trong suốt

quá trình ngâm, vi khuẩn phát triển thành tập đoàn trên biểu bì mang với số lượng lớn Sau đó xâm nhập vào cơ thể cá qua biểu mô che phủ mang (Nusbaum và Plumb, 1996)

2.3.2.2 Mùa vụ xuất hiện bệnh và tuổi mắc bệnh

Bệnh thường bộc phát mạnh vào mùa xuân, mùa thu ở các tỉnh miền Bắc và trong các ao nuôi mật độ cao, chất lượng nước xấu và trong nuôi cá lồng bè (Bùi Quang Tề, 2001) Ở các tỉnh ĐBSCL, bệnh xảy ra tập trung vào mùa mưa lũ và kéo dài đến đầu mùa khô và vi khuẩn này có khả năng gây bệnh cao nhất khi nhiệt độ nước thấp (khoảng từ 20 0C đến 28 0C) Hawke và ctv (1998) đã báo cáo, E Ictaluri

có khả năng gây bệnh với tỷ lệ cao nhất trên cá nheo (Ictalurus punctatus) nuôi ở

Hoa Kỳ khi nhiệt độ nước trong khoảng từ 20 0C đến 28 0C Ở vùng ĐBSCL, trong nhưng năm gần đây do mật độ nuôi thâm canh ngày càng cao, môi trường nước ô nhiễm, mầm bệnh tích tụ trong ao nên bệnh cũng đã xuất hiện thường xuyên trong các tháng mùa khô và giao mùa, mặc dù mức độ nhiễm bệnh thấp hơn so với mùa mưa lũ Nguyễn Thị Mộng Hoàng (2009) cho rằng bệnh gan thận mủ xảy ra từ tháng 2 đến tháng 8 và ở mọi lứa tuổi; kích cỡ cá bệnh dao động từ 35 g đến 400 g

với tần xuất nhiễm E ictaluri là 100 % Bệnh gan thận mủ xảy ra quanh năm cũng

được báo cáo bởi Nguyễn Mạnh Thắng (2006 - 2008)

2.3.2.3 Triệu chứng bệnh tích

Khi nhiễm bệnh cá thường lờ đờ, tấp bờ, bơi xoay vòng mất định hướng và treo

lơ lững cơ thể trên mặt nước Cá giảm ăn hay bỏ ăn khi nhiễm bệnh

(a) Dấu hiệu bên ngoài

Cá tra bệnh thường thấy có xuất huyết vây, các gốc vây, hậu môn, xung quanh vùng miệng, bụng; cũng có thể xuất huyết điểm trên thân hay toàn thân Mắt có biểu hiện đục và lồi; có hiện tượng phù đầu do tích dịch dưới da vùng sọ Mang nhạt màu, bụng thường trướng to do tích dịch trong xoang bụng

Trang 27

13

(b) Bệnh tích bên trong

Khi mổ vào trong thì thấy gan, thận, lách thường sưng to, mềm nhũng và có nhiều mủ, đặc biệt gan sưng to hơn bình thường từ 2 đến 3 lần (Nguyễn Mạnh Thắng, 2006 - 2008) Trên bề mặt gan, thận, lách xuất hiện các đốm trắng với đường kính từ 0,5 mm đến 2 mm Khi cá bệnh nặng, trên gan, thận, lách có xuất hiện thêm các màng trắng hoại tử và có tích dịch (màu hơi vàng có khi lẩn máu) trong xoang bụng

2.4 Những vấn đề liên quan đến việc thiết lập các chiến lược quản lý dịch bệnh thủy sản trên thế giới và Việt Nam

Từ năm 2003 đến tháng 02/2008, tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về thú y thủy sản được thực hiện dưới sự điều hành của Cục Quản lý Chất lượng, An toàn vệ sinh và Thú y thủy sản (NAFIQAVED) trực thuộc Bộ Thủy sản (trước đây) nay là

Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Hệ thống quản lý nhà nước này bao gồm

6 Trung tâm Chất lượng, an toàn vệ sinh và thú y thủy sản vùng đóng trên các tỉnh/thành phố Hải Phòng, Đà Nẵng, Nha Trang, Thành phố Hồ Chí Minh, Cà Mau

và Cần Thơ Tham gia phối hợp với hệ thống quản lý nhà nước của NAFIQAVED

là các Vỉện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản I (Bắc Ninh), II (Thành phố Hồ Chí Minh), III (Nha Trang) và các trường đại học thủy sản hoặc có chuyên ngành đào tạo về nuôi trồng thủy sản như Đại học Thủy sản Nha Trang (nay là Đại học Nha Trang), Đại học Cần Thơ, Đại học Nông Lâm,…

Từ ngày 28/01/2008, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ban hành Quyết định số 19/2008/QĐ-BNN qui định chức năng, nhiệm vụ của Cục Thú

y trong đó đảm nhận cả công tác quản lý thú y thủy sản trong đó bao gồm các lĩnh vực chính là: 1) quản lý dịch bệnh thủy sản (phòng chống dịch bệnh), 2) kiểm dịch động vật thủy sản, 3) vệ sinh thú y và 4) quản lý thuốc, vắc xin, hóa chất và chế phẩm sinh học dùng trong nuôi trồng thủy sản Tuy nhiên, đến ngày 25/5/2009 Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn mới ban hành Quyết định số 1427/2009/QĐ-BNN-TCCB phân công nhiệm vụ thú y thủy sản cho 3 đơn vị là Cục Thú y, Cục

Trang 28

Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện nhiệm vụ từ năm 2008 đến nay hệ thống các văn bản vẫn đang dần được hoàn thiện do một số nhiệm vụ còn chồng chéo giữa các đơn vị và đặc biệt là ở địa phương Do vậy, ngày 16/8/2011 Bộ NN&PTNT đã ban hành được thông tư số 56/2011/TT-BNNPTNT hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về thú y thủy sản trong đó các vấn đề chống chéo (nhất là ở địa phương) đã được làm rõ giúp cho công tác quản lý dịch bệnh thủy sản ngày càng có tính hệ thống và có cơ sở pháp lý đầy đủ hơn góp phần giảm thiểu thiệt hại do dịch bệnh gây ra đối với người nuôi trồng thủy sản

Hoạt động quản lý dịch bệnh động vật nói chung và động vật thủy sản nói riêng

là hết sức quan trọng trong việc đảm bảo sự phát triển bền vững của chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản Ở nước ta, hoạt động này mới chỉ được chú trọng đối với động vật trên cạn (gia súc, gia cầm) còn đối với đối tượng nuôi thủy sản thì còn nhiều hạn chế Trong khi đó, sản phẩm thủy sản đang đóng góp tích cực trong việc đảm bảo an ninh lương thực quốc gia và góp phần đáng kể trong các mặt hàng xuất khẩu của ngành nông nghiệp, đặc biệt là tôm (tôm sú, tôm chân trắng và cá tra) Vì vậy, việc xây dựng chiến lược quản lý sức khỏe trên đối tượng nuôi thủy sản quốc gia và triển khai thực hiện chiến lược này là hết sức cấp thiết Ngoài ra, đối tượng thủy sản nuôi

và hình thức nuôi trồng thủy sản ở từng địa phương trong nước cũng hết sức đa dạng và phong phú nên việc xây dựng một chiến lược chung cho quốc gia cũng gặp nhiều khó khăn

Tuy nhiên, từ trước đến nay công tác quản lý dịch bệnh thủy sản thông qua việc xây dựng các văn bản pháp lý, các tài liệu hướng dẫn kỹ thuật, các tiêu chuẩn quốc gia đã góp phần quan trọng trong việc đảm bảo sự phát triển ngày càng mạnh mẽ

Trang 29

15

của ngành thủy sản Sản lượng thủy sản ngày càng tăng, chất lượng ngày càng tốt

và đáp ứng được yêu cầu về chất lượng an toàn thực phẩm ngày càng khắt khe của thị trường trong nước và quốc tế

Một vấn đề quan trọng nữa là dịch bệnh thủy sản ngày càng phức tạp, nhiều dịch bệnh xảy ra mà tác nhân gây bệnh thường là sự biến đổi của các dòng vi sinh vật, các vi sinh vật mới hoặc do là những nguyên nhân tổng hợp bao gồm cả vi sinh vật, môi trường, dinh dưỡng,…Do vậy, việc xây dựng một chiến lược phòng chống dịch bệnh tốt trong đó triển khai được kế hoạch phòng chống dịch bệnh từ cấp trung ương đến địa phương sẽ giúp cho giảm thiểu thiệt hại do dịch bệnh gây ra

Trang 30

16

III VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Thời gian và địa điểm thực hiện

- Địa điểm thực hiện giám sát và điều tra:

+ Đối với tôm sú: thực hiện trên địa bàn tỉnh Cà Mau

+ Đối với cá tra: thực hiện trên địa bàn hai tỉnh An Giang và Đồng Tháp

- Địa điểm thực hiện phân tích mẫu và phân tích số liệu:

+ Trung Tâm Quốc Gia Quan Trắc CBMT và PNDBTS KVNB - Viện Nghiên Cứu Nuôi Trồng Thủy Sản II

+ Phân Viện Thủy sản Minh Hải - Viện Nghiên Cứu Nuôi Trồng Thủy Sản II

- Thời gian thực hiện: từ tháng 01 năm 2011 đến tháng 3 năm 2012

3.2 Phương pháp nghiên cứu

3.2.1 Phương pháp nghiên cứu thử nghiệm và vận hành hệ thống giám sát dịch bệnh thụ động

3.2.1.1 Nghiên cứu hiện trạng

- Phương pháp phân tích đánh giá hiện trạng (Desktop situation analysis) thông qua thu thập tư liệu, văn bản báo cáo và phỏng vấn nhanh về hiện trạng hệ thống giám sát dịch bệnh thụ động hiện có

- Phương pháp phân tích vai trò của các bên tham gia (Stakeholder analysis) thông qua trao đổi, thảo luận, thu thập ý kiến và báo cáo hiện trạng của các bên tham gia

- Phương pháp đánh giá ưu nhược điểm của các bên tham gia thông qua thu thập tư liệu, văn bản báo cáo của các địa phương tham gia

3.2.1.2 Phương pháp phát triển và thử nghiệm mô hình

(a) Phương cách tổ chức, thiết lập và hoạt động của mạng lưới giám sát

- Thiết lập hệ thống thu thập, truyền và phản hồi thông tin Hệ thống thông tin liên lạc qua điện thoại, fax, email, bưu điện, đi từ cấp viện, tỉnh, đến huyện, xã, nông

hộ nuôi và ngược lại Thông tin tuần sẽ được cán bộ khuyến ngư xã mã hoá và gửi qua tin nhắn điện thoại vào cuối mỗi tuần Thông tin tháng sẽ được gửi qua hệ thống email và bưu điện vào cuối mỗi tháng Ngoài ra, trong trường hợp có hiện tượng bất thường xảy ra, hệ thống điện thoại và email cũng là phương cách được

Trang 31

17

chọn để cán bộ khuyến ngư xã liên lạc với cấp huyện, tỉnh và viện Thông tin được phản hồi từ cấp viện, tỉnh, huyện đến cấp xã, nông hộ bằng nhiều hình thức: văn bản, điện thoại, email và phương tiện truyền thông Đối với những trường hợp nghiêm trọng, hình thức báo cáo lên cấp trung ương (Cục Thú y) bằng điện thoại hoặc văn bản

+ CBKN (hoặc thú y) cấp xã trực tiếp điều tra hàng tuần, hàng tháng về tình hình nuôi và bệnh của tôm, cá thuộc khu vực mình quản lý theo biểu mẫu điều tra Nông dân trong vùng sẽ cung cấp những thông tin cho CBKN (hoặc thú y) xã

+ CBKN (hoặc thú y) cấp xã sau khi tiếp nhận thông tin từ nông hộ nuôi, sẽ chuyển tải thông tin đến cấp cao hơn (huyện, tỉnh, viện) và họ còn là người thực hiện thuyên chuyển các phản hồi từ cấp trên (huyện, tỉnh, viện) đến người nuôi

- Tập huấn cho cộng tác viên các cấp tỉnh, viện về các kỹ năng có liên quan đến việc tổ chức, triển khai và thực hiện các nội dung và mục tiêu đề ra của đề tài Hướng dẫn cho cán bộ khuyến ngư xã, huyện hiểu và nắm rõ cách điều tra cũng như cách điền vào phiếu điều tra

- Tập huấn cho cộng tác viên các cấp tỉnh, viện về các kỹ năng và phương pháp phân tích và đánh giá số liệu, cách tổ chức, điều hành, triển khai và thực hiện các nội dung và mục tiêu đề ra

- Tập huấn cho người nuôi và cán bộ khuyến ngư (hoặc thú y) xã về khả năng nhận biết và đánh giá tình hình sức khỏe tôm, cá nuôi dựa vào các dấu hiệu lâm sàng

- Tập huấn cho cộng tác viên cấp tỉnh, huyện, xã về chuyên môn nhận biết các bệnh thường gặp, phát hiện các bệnh mới, bệnh lạ

(b) Chọn vùng điều tra

Các vùng được chọn mang tính đại diện cho toàn vùng nuôi

Vùng điều tra giám sát dịch bệnh thụ động trên tôm sú nuôi ở mô hình QCCT tại tỉnh Cà Mau được thực hiện tại 18 vùng (trong đó có 17 xã và 1 thị trấn) trực thuộc

7 huyện thị, thành phố, tỉnh Cà Mau

Vùng điều tra giám sát dịch bệnh thụ động trên cá tra nuôi ao thâm canh (năm

2011 có điều tra bổ sung các ao nuôi giống) được thực hiện tại 19 cụm (xã, phường

Trang 32

18

hoặc thị trấn) thuộc 7 huyện thị, thành phố, tỉnh An Giang và 9 cụm thuộc 7 huyện thị, thành phố, tỉnh Đồng Tháp

(c) Các loại phiếu điều tra và mục đích sử dụng

Phiếu điều tra mang tính chất tổng quát, với nội dung chung về tình hình nuôi và bệnh của các khu vực thực hiện giám sát, nhằm giúp cho mạng lưới nắm khái quát

về tình hình nuôi và bệnh hàng tuần, hàng tháng và giúp phát hiện nhanh khi vùng nuôi có dịch bệnh xảy ra

Các loại biểu mẫu thu thập thông tin bao gồm: phiếu thông tin hai tuần (đối với tôm), hàng tuần (đối với cá) cho cán bộ cấp xã, huyện; phiếu thông tin hàng tháng cho cán bộ cấp xã, huyện (đối với tôm, cá)

(d) Các hoạt động khác

- Quảng bá trên các phương tiện truyền thông ở địa phương bằng cách đăng tin trên trang thông tin điện tử về tình hình bệnh đang xảy ra tại các vùng giám sát, hoặc phân phát tờ rơi, tài liệu, đến người nuôi

- Phát triển cơ sở dữ liệu; nhập thông tin và phân tích dữ liệu

- Chính sách hỗ trợ phù hợp (hỗ trợ kinh phí hàng tháng) nhằm tạo điều kiện cho các cán bộ khuyến ngư xã, huyện, tỉnh… tham gia mạng lưới giám sát

3.2.1.3 Phương pháp đánh giá mô hình thử nghiệm

- Phương pháp đánh giá tính hiệu quả của mô hình: dựa trên các mức độ vận hành của cả hệ thống như các hệ thống thu thập, phân tích, xử lý, đánh giá và truyền tải thông tin nhằm phát hiện kịp thời dịch bệnh, giảm hoặc ngăn chặn dịch bệnh một cách có hiệu quả

- Phương pháp đánh giá tính khả thi (tính dễ áp dụng) của mô hình bằng:

+ Phương pháp phỏng vấn (hoặc điều tra nhanh) các đối tác trong hệ thống

+ Phương pháp phân tích các ý kiến phản hồi của các đối tác trong hệ thống

- Phương pháp đánh giá tính chấp nhận của mô hình cũng thông qua phương pháp phỏng vấn và phân tích các ý kiến phản hồi của các đối tác trong hệ thống

Trang 33

19

- Phương pháp đánh giá tính đại diện của mô hình bằng cách sử dụng phương pháp thống kê dịch tễ học (như SPSS) nhằm đánh giá số liệu thu thập đúng, đủ và chính xác cho mô hình

3.2.2 Nghiên cứu thử nghiệm và vận hành hệ thống giám sát dịch bệnh chủ động trên tôm sú và cá tra

3.2.2.1 Nghiên cứu hiện trạng

- Phương pháp phân tích đánh giá hiện trạng (Desktop situation analysis) thông qua thu thập tư liệu, văn bản báo cáo và phỏng vấn nhanh về hiện trạng hệ thống giám sát dịch bệnh chủ động hiện có

3.2.2.2 Phát triển và thử nghiệm mô hình hệ thống giám sát dịch bệnh chủ động

(a) Chọn vùng điều tra

Xác định quy mô và phạm vi nghiên cứu thoả mãn yêu cầu phân tích thống kê dịch

tễ

- Vùng được chọn phải đảm bảo đủ số lượng ao nuôi để thực hiện điều tra

- Vùng điều tra giám sát chủ động trên tôm sú nuôi ở mô hình QCCT được thực hiện tại 8 xã và thị trấn, trực thuộc huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau

- Vùng điều tra giám sát chủ động trên cá tra nuôi ao thâm canh được thực hiện tại 5 khu vực nuôi (tỉnh An Giang) và 4 khu vực (tỉnh Đồng Tháp)

(b) Phương pháp thu mẫu

(b1) Thu mẫu phục vụ phân tích theo hướng nghiên cứu cắt ngang sectional)

(Cross-(b1.1) Đối với tôm sú

Thu mẫu tôm ở các ao có tôm bệnh và các ao không có tôm bệnh tại thời điểm điều tra

Tỉnh Cà Mau có 8 khu vực nuôi được chọn để điều tra hàng tháng, mỗi khu vực điều tra 20 ao, trong đó có 10 ao được chọn ngẫu nhiên từ nhóm nông hộ có tôm bệnh và 10 ao được chọn ngẫu nhiên từ nhóm nông hộ không có tôm bệnh; thu mẫu tôm của 5 ao trong mỗi nhóm 10 ao trên Số lượng mẫu thu tùy thuộc vào tôm lớn

Trang 34

20

hay nhỏ; đối với tôm nhỏ hơn 1 tháng tuổi, thu 15 đến 20 con mỗi ao; đối với tôm lớn hơn 1 tháng tuổi, thu 5 đến 10 con mỗi ao

(b1.2) Đối với cá tra

Thu mẫu cá ở các ao có cá bệnh và các ao không có cá bệnh tại thời điểm điều tra

Tỉnh An Giang có 5 khu vực nuôi được chọn để điều tra hàng tháng Mỗi khu vực điều tra 20 ao, trong đó có 10 ao được chọn ngẫu nhiên từ nhóm nông hộ có cá bệnh và 10 ao được chọn ngẫu nhiên từ nhóm nông hộ không có cá bệnh Tương tự như thu mẫu tôm, mẫu cá được thu từ 5 ao trong mỗi nhóm 10 ao trên; lưu ý đối với nhóm cá bệnh, chọn lựa mẫu thu có biểu hiện bệnh tích rõ ràng của bệnh gan thận

mủ Mỗi ao thu từ 5 đến 7 con cá

Tỉnh Đồng Tháp có 3 khu vực nuôi được chọn để điều tra hàng tháng Cách tiến hành thu mẫu cũng tương tự như cách bố trí thu mẫu ở tỉnh An Giang

(b2) Thu mẫu phục vụ phân tích theo hướng nghiên cứu bệnh chứng (Case- control)

Trong trường hợp vùng có dịch bệnh xảy ra, tất cả các ao bệnh trong khu vực có dịch bệnh đều được điều tra và thu mẫu; bên cạnh đó, các ao không bệnh (cá khỏe) trong khu vực có dịch bệnh cũng được điều tra theo tỷ lệ 1 bệnh: 1 khỏe Số lượng

mẫu thu ở các ao có bệnh và ao khỏe tương tự như đã trình bày ở mục 2.2.1

(b3) Thu mẫu phục vụ phân tích theo hướng nghiên cứu đoàn hệ (Cohort)

Sau khi thiết kế và chọn được các ao để điều tra, mẫu được thu ở tất cả các ao được điều tra theo thời gian định kỳ từng tháng Số lượng mẫu được thu tương tự như đã trình bày ở phần (i1) của mục (i)

(c) Phương pháp thu, bảo quản và phân tích mẫu vật

(c1) Phương pháp thu, bảo quản và phân tích PCR xác định bệnh đốm trắng (WSSV) trên tôm sú

(c1.1) Loại mẫu thu, cách thu và bảo quản mẫu

- Đối với nhóm tôm bệnh, thu tôm yếu hoặc mới chết có biểu hiện lâm sàng rõ ràng của bệnh đốm trắng

Trang 35

21

- Đối với nhóm tôm khỏe, thu tôm ngẫu nhiên trong ao, đang bơi lội hoạt động nhanh nhẹn, không có biểu hiện bệnh

- Tôm nhỏ (<1 tháng tuổi): thu đầu tôm; tôm lớn (>1 tháng tuổi): thu mang tôm; tất

cả được bảo quản trong các lọ chứa mẫu có ký hiệu nhãn riêng biệt; dung dịch cố định là cồn 70 %

(c1.2) Phương pháp phân tích mẫu

Kỹ thuật phân tích PCR của quy trình chẩn đoán virus White spot syndrome virus (WSSV) (Kiatpathomchai và ctv, 2001)

(c2) Phương pháp thu, bảo quản và phân tích mô học xác định dấu hiệu của việc nhiễm virus đốm trắng trên tôm sú

(c2.1) Loại mẫu thu, cách thu và bảo quản mẫu

Cách thu mẫu tương tự như trình bày ở mục 2.3.1, nhưng thay vì mẫu được cố định trong cồn, thì thay vào đó mẫu được cố định trong dung dịch dung dich Davidson’s AFA Theo Lightner (1996), mẫu sau khi được cố định trong dung dich

Davidson’s AFA (từ 24h đến 72h), sau đó mẫu được giữ trong dung dịch cồn 70 %

(c2.2) Phương pháp phân tích mẫu

Phân tích mẫu theo phương pháp phân tích mô học truyền thống Mẫu sau khi được cố định, mẫu được khử nước bởi lần lượt qua các dung dịch ethyl alcohol (70

%, 80 %, 95 %, 100 %) và xylen Tiến hành đúc khối mẫu trong paraffin, cắt mẫu với độ dày lát cắt 3-5µm Nhuộm mẫu bởi haematoxylin và eosin, quan sát và chụp ảnh dưới kính hiển vi quang học Kết quả đọc các hình ảnh của tiêu bản theo Lightner (1996) và theo các phương pháp chẩn đoán bệnh tôm sú do FAO và Multimedia Asia Co Ltd phát hành năm 1999

(c3) Phương pháp thu, bảo quản và phân lập định danh vi khuẩn mẫu cá tra

- Đối với nhóm cá bệnh, thu cá yếu hoặc mới chết có biểu hiện lâm sàng rõ ràng của bệnh gan thận mủ

- Đối với nhóm cá khỏe, thu cá ngẫu nhiên trong ao, đang bơi lội hoạt động nhanh nhẹn, không có biểu hiện bệnh

Trang 36

22

Mẫu gan, thận của cá được thu và cấy vào môi trường thạch máu Sử dụng test kit API 20E để test sinh hóa và định danh vi khuẩn theo khóa phân loại của John và ctv

(1994)

(d) Thiết kế các loại phiếu điều tra thu thập thông tin

Có 3 nhóm phiếu điều tra: bao gồm nhóm phiếu điều tra dành cho giám sát định

kỳ hàng tháng, nhóm điều tra khi có dịch bệnh và nhóm điều tra phục vụ cho phân tích nghiên cứu đoàn hệ

Ba nhóm phiếu điều tra này mang tính chất điều tra chi tiết cụ thể về những yếu

tố có liên quan đến tình hình ao nuôi, tình hình sức khỏe vật nuôi và tình hình bệnh đang xảy ra, đã xảy ra trước đó (từ 1 đến 3 tháng trước) và đang xảy ra theo thời gian của vật nuôi cho từng ao nuôi của mỗi khu vực

(e) Phương cách xác định các biến bệnh

(e1) Bệnh đốm trắng trên tôm sú

Tiến hành phân nhóm những yếu tố có ảnh hưởng đến khả năng gây bệnh đốm trắng trên tôm sú nuôi vào các tháng trước (đối với nghiên cứu bệnh chứng), tháng hiện tại (đối với nghiên cứu cắt ngang) và các tháng sau (đối với nghiên cứu đoàn hệ) Phương cách xác định biến bệnh dựa vào các nhân tố sau:

- Các triệu chứng lâm sàng: tôm bị phát hiện thấy đỏ thân; tôm phát hiện thấy có đốm trắng (bông mình); tôm nổi đầu trên mặt nước liên tục trong ngày

- Dịch tễ:

+ Bệnh được điều tra, phỏng vấn từ các ao nuôi có bệnh định kỳ hàng tháng

+ Bệnh được điều tra, phỏng vấn các ao nuôi có bệnh trong vùng xảy ra dịch bệnh (trường hợp có dịch bệnh xảy ra)

- Kết quả chẩn đoán từ phòng thí nghiệm: kết quả phân tích PCR và mô học của tôm yếu hay tôm vừa chết trong các ao nuôi đang có bệnh đốm trắng xảy ra

(e2) Bệnh gan thận mủ trên cá tra

Tương tự như biến bệnh đốm trắng trên tôm sú tiến hành phân nhóm những yếu tố

có ảnh hưởng đến khả năng gây bệnh gan thận mủ trên cá tra nuôi vào các tháng trước (đối với nghiên cứu bệnh chứng), tháng hiện tại (đối với nghiên cứu cắt

Trang 37

+ Bệnh được điều tra, phỏng vấn từ các ao nuôi có bệnh định kỳ hàng tháng

+ Bệnh được điều tra, phỏng vấn các ao nuôi có bệnh trong vùng xảy ra dịch bệnh (trường hợp dịch bệnh xảy ra)

- Kết quả chẩn đoán từ phòng thí nghiệm: kết quả phân tích vi khuẩn của cá yếu hay

cá vừa chết trong các ao đang có bệnh gan thận mủ xảy ra

(f) Nguyên lý phân tích dữ liệu

(f1) Phân tích theo hướng nghiên cứu cắt ngang (Cross-sectional)

Để xác định các yếu tố nguy cơ chính và định hướng vùng nguy cơ cao cho từng khu vực dựa vào các ao nuôi cá không có biểu hiện bệnh (bình thường, khỏe) hoặc các ao nuôi có cá có biểu hiện bệnh gan thận mủ (xuất huyết toàn thân, bỏ ăn, bơi lờ đờ và khi mổ ra thấy gan và thận có mủ trắng); dựa vào các ao nuôi tôm không có biểu hiện bệnh (bình thường, khỏe) hoặc các ao nuôi có tôm có biểu hiện bệnh đốm trắng là tôm nuôi trong ao bị phát hiện thấy đỏ thân, tôm thấy có đốm trắng (bông mình), tôm nổi đầu trên mặt nước liên tục từ hai ngày trở lên Chúng tôi phân ra hai nhóm hộ khác nhau:

- Đối với cá:

+ Nhóm hộ 1 là nhóm hộ có ao nuôi cá tra bình thường, khỏe (không có biểu hiện bệnh) Ở nhóm hộ này, chọn ngẫu nhiên mỗi khu vực 50 hộ (10 hộ/khu vực nuôi) và điều tra mỗi tháng

+ Nhóm hộ 2 là nhóm hộ có cá nuôi có biểu hiện bệnh gan thận mủ (xuất huyết toàn thân, bỏ ăn, bơi lờ đờ và khi mổ ra thấy gan và thận có mủ trắng) Ở nhóm hộ này, chúng tôi chọn tất cả những ao có bệnh trong cùng khu vực với nhóm hộ 1 (thường thì mỗi hộ chọn 1 ao, tổng cộng 10 ao thuộc 10 hộ nuôi)

Trang 38

24

- Đối với tôm: cũng phân làm hai nhóm hộ 1 và hộ 2 tương tự như trường hợp bệnh

cá Nhưng ở đây thay thế bệnh gan thận mủ trên cá tra là bệnh đốm trắng trên tôm

sú Ao nuôi có biểu hiện bệnh đốm trắng là tôm nuôi trong ao bị phát hiện thấy đỏ thân, tôm thấy có đốm trắng (bông mình), tôm nổi đầu trên mặt nước liên tục từ hai ngày trở lên

(f2) Phân tích theo hướng nghiên cứu bệnh chứng (Case-control)

- Dựa vào các cặp số liệu điều tra của các ao nuôi đang có bệnh xảy ra (nhưng phỏng vấn thông tin ngược lại của tháng trước) và các ao nuôi tốt (bình thường)(làm đối chứng) trong cùng vùng nuôi với ao nuôi đang xảy ra bệnh

(f3) Phân tích theo hướng nghiên cứu đoàn hệ (Cohort)

- Từ kết quả của nghiên cứu bệnh chứng và nghiên cứu cắt ngang, chúng tôi đã xác định được những biến khảo sát là những yếu tố nguy cơ có mối quan hệ chặt chẽ với biến bệnh Chúng tôi tiến hành thiết kế điều tra theo dõi các ao nuôi Các ao nuôi được chọn để điều tra và thu mẫu phải thỏa các điều kiện như: (i) các biến không có mối tương quan với biến bệnh ở các ao khảo sát hầu như tương đồng

nhau; (ii) các biến có mối tương quan với biến bệnh đốm trắng (hay biến bệnh gan

thận mủ): các nhóm hộ được phân làm 2 nhóm, 2 nhóm này đều có cùng các yếu tố trên, nhưng nhóm 1: các yếu tố trên có mối tương quan với bệnh; nhóm 2: các yếu

tố trên không có mối tương quan với bệnh

(g) Lưu trữ và phân tích dữ liệu

- Thông tin được lưu trữ bằng phần mềm: MS - Excel

- Dùng phần mềm thống kê SPSS 11.5 với phương pháp phân tích logistic để xác

định mối quan hệ giữa yếu tố nguy cơ và bệnh và tác động của nhiều yếu yếu tố nguy cơ cùng lúc Xác định các giá trị xác xuất p, tỷ số chênh (Odd ratio)(OR) và

95 % độ tin cậy của OR

- Phân tích dữ liệu tham khảo từ một số tác giả như Jarp và Karlsen (1997); Trần Thị Dân và Lê Thanh Hiền (2007); Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2008)

Trang 39

25

3.2.3 Phương pháp nghiên cứu phục vụ nội dung xây dựng kế hoạch đón đầu

và xây dựng chiến lược quản lý dịch bệnh

Phương pháp nghiên cứu chủ yếu là tham khảo các tài liệu hiện hành của Tổ chức Thú y thế giới (OIE), các tài liệu hướng dẫn của OIE về thú y thủy sản và tham khảo các văn bản pháp lý của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về công tác quản lý nhà nước về Thú y thủy sản

Thu thập các tài liệu, kế hoạch thực hiện nhiệm vụ thú y thủy sản của các địa phương, các báo cáo dịch bệnh cũng như đánh giá kết quả phòng chống dịch bệnh hàng năm của địa phương,

Tham khảo ý kiến của các chuyên gia trong nước và quốc tế về xây dựng chiến lược quản lý dịch bệnh động vật nói chung và thủy sản nói riêng

3.2.4 Phương pháp nghiên cứu phục vụ nội dung đánh giá tác động kinh tế của dịch bệnh

3.2.4.1 Thu thập thông tin

- Thông tin thứ cấp liên quan tới nuôi tôm sú và cá tra được thu thập từ các Sở NN&PTNT/ Chi cục Thủy sản thuộc ĐBSCL và các trường, viện ở Tp Hồ Chí Minh và Tp Cần Thơ, nhất là từ hai tỉnh Cà Mau và An Giang

- Thông tin điều tra bằng cách phỏng vấn trực tiếp 108 hộ nuôi tôm cá ở hai tỉnh Cà Mau và An Giang Sau khi kiểm tra chất lượng phiếu phỏng vấn và số liệu được nhập thì việc phân tích số liệu được thực hiện với thông tin từ 67 hộ nuôi tôm sú QCCT ở Cà Mau (trong đó có 31 hộ thuộc nhóm tôm không bệnh và 36 hộ thuộc nhóm tôm có bệnh) và 41 hộ nuôi cá tra ao thâm canh ở An Giang (trong đó có 20

hộ thuộc nhóm cá không bệnh và 21 hộ thuộc nhóm cá có bệnh)

3.2.4.2 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu

Kết quả nghiên cứu có được và trình bày chủ yếu dưới dạng thống kê mô tả về các đặc điểm chung của hộ nuôi tôm cá và các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật chủ yếu liên quan tới bệnh tôm cá

Nội dung này tập trung về các tác động kinh tế do bệnh và việc phòng trị bệnh trên cá, tôm nuôi Vai trò của nghề nuôi tôm sú/cá tra đối với kinh tế của hộ được

Trang 40

26

khảo sát được xem xét thông qua các chỉ tiêu như: chi phí, thu nhập và lợi nhuận, việc sử dụng lao động cũng như khả năng chi tiêu sinh hoạt và mức sống Các giá trị trung bình và độ lệch chuẩn được sử dụng kết hợp với tần suất và phần trăm Việc so sánh và kiểm định thống kê hiệu quả sản xuất cũng như tác động của dịch bệnh trên tôm cá nuôi được tiến hành giữa hai nhóm hộ: tôm cá nuôi bị nhiễm bệnh

và không bị nhiễm bệnh các chỉ tiêu tài chính chủ yếu như: chi phí, thu nhập, lợi nhuận, chi phí sinh hoạt và khả năng tích lũy (riêng cho tôm/cá và chung cho toàn

bộ các hoạt động kinh tế của những hộ được khảo sát) Thống kê nhiều chọn lựa và phân tích bảng chéo được áp dụng cho phân tích nhận thức của nông dân về các vấn

đề có liên quan tới chủ đề nghiên cứu, nhất là khó khăn và giải pháp của người nuôi trong phòng trị bệnh cho tôm cá

Với tôm nuôi QCCT, trong “Vụ nuôi” gồm nhiều lần thả giống và nhiều lần thu hoạch (Còn gọi là “Thu tỉa, thả bù theo con nước”) Vụ nuôi được tính từ khi sên vét cải tạo ao/vuông trước khi thả tôm giống lần đầu cho tới khi kết thúc lần thu hoạch cuối cùng và thời gian nuôi được tính từ lần thả giống đầu tiên đến lần thu hoạch cuối cùng Như vậy, các chỉ tiêu kinh tế-kỹ thuật được tính/vụ là tương đương với cách tính/năm, ví dụ: sản lượng tôm sú/vụ sẽ bằng tổng lượng tôm sú thu được trong một năm

Ngày đăng: 10/03/2015, 07:51

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 4.1.1. Khu vực giám sát tỉnh Cà Mau - Nghiên cứu xây dựng hệ thống giám sát dịch bệnh trên tôm sú nuôi ở Đồng bằng sông Cửu Long
Hình 4.1.1. Khu vực giám sát tỉnh Cà Mau (Trang 44)
Đồ thị 4.1.1. Trung bình năng suất thu hoạch (tấn/ha/vụ), An Giang (2010) - Nghiên cứu xây dựng hệ thống giám sát dịch bệnh trên tôm sú nuôi ở Đồng bằng sông Cửu Long
th ị 4.1.1. Trung bình năng suất thu hoạch (tấn/ha/vụ), An Giang (2010) (Trang 56)
Đồ thị 4.1.4. Năng suất thu hoạch (tấn/ha/vụ) ao thương phẩm, Đồng Tháp (2011) - Nghiên cứu xây dựng hệ thống giám sát dịch bệnh trên tôm sú nuôi ở Đồng bằng sông Cửu Long
th ị 4.1.4. Năng suất thu hoạch (tấn/ha/vụ) ao thương phẩm, Đồng Tháp (2011) (Trang 61)
Sơ đồ 4.1.1. Sơ đồ thu thập thông tin, phân tích dữ liệu và báo cáo - Nghiên cứu xây dựng hệ thống giám sát dịch bệnh trên tôm sú nuôi ở Đồng bằng sông Cửu Long
Sơ đồ 4.1.1. Sơ đồ thu thập thông tin, phân tích dữ liệu và báo cáo (Trang 63)
Đồ thị 4.2.1. Trung bình mật độ thả giống (năm 2010 và 2011) - Nghiên cứu xây dựng hệ thống giám sát dịch bệnh trên tôm sú nuôi ở Đồng bằng sông Cửu Long
th ị 4.2.1. Trung bình mật độ thả giống (năm 2010 và 2011) (Trang 85)
Đồ thị 4.2.2. Tỷ lệ trung bình (%) số nông hộ có cấp xổ nước và cấp bù nước - Nghiên cứu xây dựng hệ thống giám sát dịch bệnh trên tôm sú nuôi ở Đồng bằng sông Cửu Long
th ị 4.2.2. Tỷ lệ trung bình (%) số nông hộ có cấp xổ nước và cấp bù nước (Trang 86)
Đồ thị 4.2.4. Mực nước trảng (m) của ao nuôi theo tháng (năm 2010, 2011) - Nghiên cứu xây dựng hệ thống giám sát dịch bệnh trên tôm sú nuôi ở Đồng bằng sông Cửu Long
th ị 4.2.4. Mực nước trảng (m) của ao nuôi theo tháng (năm 2010, 2011) (Trang 88)
Đồ thị 4.2.5. Mực nước mương (m) của ao nuôi theo tháng (năm 2010 và 2011) - Nghiên cứu xây dựng hệ thống giám sát dịch bệnh trên tôm sú nuôi ở Đồng bằng sông Cửu Long
th ị 4.2.5. Mực nước mương (m) của ao nuôi theo tháng (năm 2010 và 2011) (Trang 89)
Đồ thị 4.2.6. Tỷ lệ (%) các loại bệnh nhiễm trên tôm - Nghiên cứu xây dựng hệ thống giám sát dịch bệnh trên tôm sú nuôi ở Đồng bằng sông Cửu Long
th ị 4.2.6. Tỷ lệ (%) các loại bệnh nhiễm trên tôm (Trang 90)
Đồ thị 4.2.7. Tỷ lệ (%) cỡ tôm bệnh, chết do nhiễm bệnh đốm trắng - Nghiên cứu xây dựng hệ thống giám sát dịch bệnh trên tôm sú nuôi ở Đồng bằng sông Cửu Long
th ị 4.2.7. Tỷ lệ (%) cỡ tôm bệnh, chết do nhiễm bệnh đốm trắng (Trang 91)
Đồ thị 4.2.8. Tỷ lệ (%) ao nuôi của các nông hộ có bệnh đốm trắng (2010, 2011) - Nghiên cứu xây dựng hệ thống giám sát dịch bệnh trên tôm sú nuôi ở Đồng bằng sông Cửu Long
th ị 4.2.8. Tỷ lệ (%) ao nuôi của các nông hộ có bệnh đốm trắng (2010, 2011) (Trang 93)
Hình 4.2.5. Các mẫu cá thu trong tình trạng khỏe, bình thường - Nghiên cứu xây dựng hệ thống giám sát dịch bệnh trên tôm sú nuôi ở Đồng bằng sông Cửu Long
Hình 4.2.5. Các mẫu cá thu trong tình trạng khỏe, bình thường (Trang 100)
Đồ thị 8. Tỷ lệ (%) ao nuôi của các nông hộ có bệnh đốm trắng (năm 2010, 2011) - Nghiên cứu xây dựng hệ thống giám sát dịch bệnh trên tôm sú nuôi ở Đồng bằng sông Cửu Long
th ị 8. Tỷ lệ (%) ao nuôi của các nông hộ có bệnh đốm trắng (năm 2010, 2011) (Trang 262)
Đồ thị 14. Tỷ lệ TB (%) ao nuôi của các nông hộ có bệnh gan thận mủ (năm 2011) - Nghiên cứu xây dựng hệ thống giám sát dịch bệnh trên tôm sú nuôi ở Đồng bằng sông Cửu Long
th ị 14. Tỷ lệ TB (%) ao nuôi của các nông hộ có bệnh gan thận mủ (năm 2011) (Trang 286)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm