1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ứng dụng kỹ thuật tin học trong kiểm toán dự toán công trình đầu tư xây dựng cơ bản

48 422 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 48
Dung lượng 2,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đây là công việc có khối lượng lớn, tập trung nhiều thời gian, cần thu thập nhiều thông tin về văn bản chế độ, chính sách của Nhà nước trong quản lý đầu tư xây dựng; về tổng dự toán, dự

Trang 1

KIÊM TOÁN NHÀ NƯỚC

KIÊM TOÁN NHÀ NƯỚC CHUYÊN NGÀNH IV

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP CƠ SỞ

ỨNG DỤNG KỸ THUẬT TIN HỌC TRONG KIỂM TOÁN

DỰ TOÁN CÔNG TRÌNH ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN

Chủ nhiệm đề tài: Th.S LÊ ĐỨC THỌ

9415

Trang 2

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DNNN - Doanh nghiệp Nhà nước GPMB - Giải phóng mặt bằng KTNN - Kiểm toán Nhà nước NSNN - Ngân sách Nhà nước TSCĐ - Tài sản cố định TSLĐ - Tài sản lưu động XDCB - Xây dựng cơ bản

WB - Ngân hàng thế giới

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 01

Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn ứng dụng phần mềm hỗ trợ kiểm toán dự toán trong kiểm toán báo cáo quyết toán công trình đầu tư xây dựng cơ bản 04

1.1 Lý luận chung về công trình đầu tư xây dựng cơ bản và dự toán công trình đầu tư xây dựng cơ bản 04

1.1.1 Đặc điểm công trình đầu tư xây dựng cơ bản 04

1.1.2 Cơ sở lý luận và yêu cầu lập dự toán công trình XDCB 09

1.2 Cơ sở lý luận về kiểm toán dự toán công trình đầu tư xây dựng cơ bản trong cuộc kiểm toán báo cáo quyết toán đầu tư xây dựng cơ bản 11

1.3 Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin trong kiểm toán báo cáo quyết toán đầu tư xây dựng cơ bản 18

1.4 Sự cần thiết phải ứng dụng phần mềm hỗ trợ kiểm toán 19

Chương 2 Tổ chức ứng dụng phần mềm hỗ trợ kiểm toán dự toán trong cuộc kiểm toán báo cáo quyết toán công trình đầu tư xây dựng cơ bản 22

2.1 Lựa chọn phần mềm hỗ trợ kiểm toán dự toán trong cuộc kiểm toán báo cáo quyết toán công trình đầu tư xây dựng cơ bản 22

2.2 Thực hiện ứng dụng phần mềm hỗ trợ kiểm toán dự toán 25

2.2.1 Khởi động chương trình và thiết lập các thông số ban đầu 26

2.2.2 Nạp Cơ sở dữ liệu 31

2.2.3 Nhập dữ liệu vào dự toán 32

2.3 Đánh giá hiệu quả ứng dụng phần mềm hỗ trợ kiểm toán dự toán 39

2.3.1 Tính chính xác 39

2.3.2 Tính hiệu quả 40

2.3.3 Nâng cao năng lực kiểm toán 40

Trang 4

2.4 Các giải pháp để đảm bảo thực hiện có hiệu quả việc ứng dụng công nghệ thông tin trong kiểm toán 41 KẾT LUẬN 42

Danh mục tài liệu tham khảo 44

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong những năm vừa qua, Chính phủ Việt Nam đã dành những khoản ngân sách lớn cho đầu tư xây dựng để phục vụ sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế, trong khi đó hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước về quản lý đầu tư xây dựng còn thiếu, chưa đồng bộ và thường xuyên có sự thay đổi dẫn đến nhiều sai sót trong lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản

Trong quản lý đầu tư xây dựng, dự toán là một trong những khâu rất quan trọng, bao gồm lập tổng dự toán xây dựng công trình và dự toán chi tiết các hạng mục (gọi chung là dự toán) Dự toán là cơ sở để điều chỉnh tổng mức đầu tư, là căn cứ để triển khai công tác đấu thầu xây dựng, mua sắm thiết

bị, xác định giá thành xây dựng, …; là căn cứ để thực hiện giám sát, quản lý chi phí đầu tư xây dựng và thực hiện quyết toán vốn đầu tư

Dự toán được lập căn cứ vào khối lượng công việc theo thiết kế kỹ thuật hoặc thiết kế bản vẽ thi công và đơn giá xây dựng, định mức chi phí Trong khi thực tế tại mỗi tỉnh, thành phố, địa phương lại có đơn giá, định mức khác nhau Mặt khác, quá trình thực hiện dự án đầu tư xây dựng không tránh khỏi những phát sinh, thay đổi về thiết kế, khối lượng công việc, giá cả nguyên vật liệu, thiết bị, chi phí nhân công, … dẫn đến những điều chỉnh về

dự toán

Do vậy, có thể thấy việc lập, thẩm định dự toán là công việc hết sức phức tạp Đặc biệt là đối với dự án đầu tư xây dựng quy mô lớn, kỹ thuật cao, các dự án mà có những công tác xây dựng chưa có trong hệ thống định mức của Nhà nước

Chính vì vậy, việc kiểm toán dự toán công trình xây dựng trong kiểm toán báo cáo quyết toán đầu tư xây dựng cơ bản đòi hỏi ở mức độ phức tạp

Trang 6

hơn, chuyên sâu hơn nhằm có thể kiểm tra, đánh giá được sự hợp lý trong công tác lập dự toán và thẩm định dự toán, làm cơ sở để đưa ra đánh giá kết luận về báo cáo quyết toán đầu tư xây dựng cơ bản Đây là công việc có khối lượng lớn, tập trung nhiều thời gian, cần thu thập nhiều thông tin (về văn bản chế độ, chính sách của Nhà nước trong quản lý đầu tư xây dựng; về tổng dự toán, dự toán; về những điều chỉnh tổng dự toán, dự toán do thay đổi thiết kế, phát sinh khối lượng, thay đổi đơn giá, định mức, … qua nhiều thời gian khác nhau…)

Như vậy có thể thấy việc ứng dụng công nghệ thông tin vào quá trình kiểm toán này là rất cần thiết, nhằm đảm bảo chất lượng của cuộc kiểm toán, giúp cho việc quản lý và sử dụng các nguồn vốn cho đầu tư XDCB ngày càng tiết kiệm, hiệu quả, ngăn ngừa tiêu cực, tham nhũng, lãng phí

Kiểm toán Nhà nước trong những năm qua đã từng bước hiện đại hoá trong kiểm toán bằng việc ứng dụng một số phần mềm hỗ trợ kiểm toán dự toán công trình XDCB Tuy nhiên, việc áp dụng còn mang tính chất nhỏ lẻ cho từng hạng mục công việc và phải dùng nhiều thao tác kết hợp, chưa mang tính toàn diện và hoàn thiện đòi hỏi phải nghiên cứu và đưa ra quy trình và phương pháp ứng dụng có hiệu quả phần mềm hỗ trợ kiểm toán dự toán trong cuộc kiểm toán báo cáo quyết toán dự án đầu tư XDCB

2 Mục tiêu nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu về tổ chức kiểm toán dự toán trong cuộc kiểm toán báo cáo quyết toán công trình đầu tư xây dựng cơ bản

Đánh giá thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin trong kiểm toán báo cáo quyết toán công trình đầu tư xây dựng cơ bản của Kiểm toán Nhà nước

Đề xuất giải pháp ứng dụng có hiệu quả công nghệ thông tin trong kiểm toán dự toán báo cáo quyết toán công trình đầu tư xây dựng cơ bản

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Trang 7

- Đối tượng nghiên cứu: Là quy trình kiểm toán dự toán trong kiểm toán báo cáo quyết toán công trình đầu tư xây dựng cơ bản trong điều kiện ứng dụng công nghệ thông tin

- Phạm vi nghiên cứu: Giới hạn về kiểm toán dự toán trong cuộc kiểm toán báo cáo quyết toán công trình đầu tư xây dựng cơ bản

4 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng phương pháp so sánh, đối chiếu, phân tích, tổng hợp,…

5 Ý nghĩa khoa học của đề tài

Góp phần nâng cao năng lực, hiệu quả và tính chính xác trong việc kiểm toán dự toán công trình xây dựng cơ bản nói riêng và kiểm toán dự án đầu tư xây dựng cơ bản nói chung của Kiểm toán Nhà nước Việt Nam

6 Dự kiến kết quả nghiên cứu:

Hướng dẫn kiểm toán viên thao tác thành thạo công tác kiểm toán dự toán trong việc thực hiện kiểm toán báo cáo quyết toán dự án đầu tư xây dựng một cách nhanh chóng và chính xác Trên cơ sở đó nâng cao chất lượng kiểm toán và rút ngắn thời gian thực hiện mỗi cuộc kiểm toán

Trang 8

1.1.1 Đặc điểm công trình đầu tư xây dựng cơ bản

Thông thường ta có thể hiểu dự án đầu tư xây dựng là tập tài liệu nghiên cứu các điều kiện kinh tế, kỹ thuật, xã hội… để nhà đầu tư có cơ sở bỏ vốn vào xây dựng một công trình và khai thác công trình đó nhằm đạt đến những hiệu quả kinh tế nhất định cho bản thân họ và xã hội

Theo Ngân hàng Thế giới (WB) thì dự án đầu tư là tổng thể các chính sách, hoạt động và chi phí có liên quan nhau được hoạch định nhằm đạt được những mục tiêu nhất định trong một thời gian nhất định

Theo định nghĩa của Luật Xây dựng ngày 26 tháng 11 năm 2003 thì dự

án đầu tư xây dựng công trình là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn để xây dựng mới, mở rộng hoặc cải tạo những công trình xây dựng nhằm mục đích phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong một thời gian nhất định

Hoạt động xây dựng bao gồm lập quy hoạch xây dựng, lập dự án đầu tư xây dựng công trình, giám sát thi công xây dựng công trình, quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình, lựa chọn nhà thầu trong hoạt động xây dựng và các hoạt động khác có liên quan đến xây dựng công trình

Công trình xây dựng là sản phẩm được tạo thành bởi sức lao động của con người, vật liệu xây dựng, thiết bị lắp đặt vào công trình, được liên kết định vị với đất, có thể bao gồm phần dưới mặt đất, phần trên mặt đất, phần dưới mặt nước và phần trên mặt nước, được xây dựng theo thiết kế Công

Trang 9

trình xây dựng bao gồm công trình xây dựng công cộng, nhà ở, công trình công nghiệp, giao thông, thuỷ lợi, năng lượng và các công trình khác với một

số đặc điểm như sau:

Sản phẩm dự án đầu tư xây dựng có tính chất cố định, nơi đầu tư xây dựng gắn liền với nơi tiêu thụ sản phẩm, phụ thuộc trực tiếp vào điều kiện địa chất, thuỷ văn;

Sản phẩm dự án đầu tư xây dựng thường có quy mô, kết cấu phức tạp, chu kỳ sản xuất dài;

Sản phẩm đầu tư xây dựng có thời gian sử dụng lâu dài, chất lượng sản phẩm có ý nghĩa quyết định đến hiệu quả hoạt động của các ngành khác;

Sản phẩm đầu tư xây dựng mang tính tổng hợp về kinh tế, kỹ thuật, xã hội, an ninh quốc phòng;

Sản phẩm của dự án đầu tư xây dựng có tính đơn chiếc, riêng lẻ

Các yếu tố ảnh hưởng tới hiệu quả của hoạt động đầu tư xây dựng

tư xây dựng cơ bản manh mún, nhỏ lẻ, ít hiệu quả Nhưng nếu không có quy hoạch thì hậu quả lại càng nặng nề hơn Khi đã có quy hoạch cần phải công khai quy hoạch để người dân và các cấp chính quyền đều biết Trên cơ sở quy hoạch, cần phải đưa vào kế hoạch đầu tư, khuyến khích các khu vực vốn tham gia đầu tư để tránh tình trạng quy hoạch treo

Trang 10

- Hệ thống các chính sách pháp luật về đầu tư xây dựng

Hệ thống các chính sách pháp luật nói chung và đầu tư xây dựng cơ bản nói riêng phải được thể chế hoá Các văn bản quy phạm pháp luật tạo ra hành lang pháp lý điều chỉnh hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản Hệ thống các chính sách pháp luật có ảnh hưởng sâu rộng và trực tiếp đến hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản và do vậy có ảnh hưởng to lớn đến hiệu quả của hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản Hệ thống chính sách pháp luật vừa thiếu vừa yếu sẽ dẫn đến tình trạng có nhiều kẽ hở tạo điều kiện cho tiêu cực, tham nhũng, thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản Hệ thống chính sách pháp luật đầy đủ nhưng không sát thực, chồng chéo, nhiều thủ tục phiền hà cũng làm nản lòng các nhà đầu tư và do vậy gián tiếp ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản

Các văn bản quy phạm pháp luật nói chung và các văn bản quy phạm pháp luật về đầu tư xây dựng cơ bản được xây dựng nhằm điều chỉnh các lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội Do vậy các chính sách pháp luật cũng được bổ sung sửa đổi khi mà bản thân nó không còn đáp ứng được yêu cầu trong tình hình mới đã thay đổi Để có thể quản lý đầu tư xây dựng cơ bản được tốt, nhà nước phải luôn luôn cập nhật sự thay đổi của tình hình đầu tư xây dựng cơ bản để từ đó bổ sung sửa đổi hệ thống chính sách pháp luật về đầu tư xây dựng cơ bản cho phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản

- Năng lực bộ máy quản lý hành chính nhà nước

Năng lực tổ chức bộ máy có ảnh hưởng quan trọng quyết định đến hiệu quả hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản Năng lực tổ chức bộ máy ở đây bao gồm năng lực con người và năng lực của các tổ chức tham gia vào lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản Nếu năng lực con người và tổ chức bộ máy yếu thì

Trang 11

không thể có hiệu quả cao trong đầu tư xây dựng cơ bản Tổ chức bộ máy tham gia vào hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản rất rộng, từ khâu lập quy hoạch kế hoạch, đến khâu chuẩn bị đầu tư, tổ chức đấu thầu, thi công, nghiệm thu quyết toán, đưa công trình vào sử dụng, Công tác quản lý hành chính trong đầu tư xây dựng cơ bản cũng có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả của hoạt động đầu tư Thực tế cho thấy nếu quản lý yếu kém, quan liêu, thủ tục rườm

rà sẽ ảnh hưởng đến chi phí đầu tư và hậu quả là hiệu quả hoạt động đầu tư thấp

Đặc điểm của dự án đầu tư xây dựng thuộc đối tượng của KTNN

Theo chức năng và nhiệm vụ của Cơ quan KTNN Việt Nam thì đối tượng kiểm toán của các kiểm toán chuyên ngành dự án đầu tư xây dựng thuộc KTNN là các dự án đầu tư xây dựng có sử dụng nguồn vốn NSNN; dự

án sử dụng vốn tín dụng do Nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng phát triển của Nhà nước; dự án sử dụng vốn đầu tư phát triển của DNNN có quy mô lớn và

dự án công trình quan trọng quốc gia

Đặc điểm của dự án đầu tư xây dựng thuộc đối tượng của KTNN có ảnh hưởng không nhỏ đến các tác nghiệp của kiểm toán viên khi thực hiện kiểm toán báo cáo quyết toán dự án đầu tư xây dựng Cụ thể:

Một là, Dự án đầu tư xây dựng thuộc đối tượng kiểm toán của KTNN là

những dự án lớn có sử dụng nguồn vốn NSNN, nên các ban quản lý dự án được hình thành và hoạt động theo mô hình các đơn vị sự nghiệp có thu Đội ngũ cán bộ quản lý có trình độ nghiệp vụ chuyên môn cao, hệ thống kiểm soát nội bộ thường hoạt động có hiệu quả Mặt khác, vì các dự án sử dụng nguồn vốn NSNN nên cũng thường xuyên chịu sự thanh tra, kiểm tra do các cơ quan chức năng của Nhà nước thực hiện (Thanh tra Tài chính, thanh tra ngành, thanh tra địa phương, …) Do vậy, khi thực hiện khảo sát thu thập thông tin phục vụ cho việc lập kế hoạch kiểm toán đòi hỏi các kiểm toán viên phải đánh

Trang 12

giá đúng đắn về môi trường pháp lý cho hoạt động của các ban quản lý, hệ thống kiểm soát nội bộ Trên cơ sở đó xác định đúng rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm toán trên cơ sở tham khảo các kết luận của các đoàn thanh tra, kiểm tra trước đó đối với dự án cũng như ban quản lý dự án

Hai là, Dự án đầu tư xây dựng thuộc đối tượng kiểm toán của KTNN là

những dự án lớn, trọng điểm quốc gia có vốn đầu tư lớn, ảnh hưởng trên địa bàn rộng, số lượng các hộ dân bị ảnh hưởng phải di chuyển tái định cư để phục vụ công tác đền bù GPMB nhiều Hơn nữa, xuất phát từ đặc điểm khách quan là sản phẩm dự án đầu tư phụ thuộc trực tiếp vào điều kiện địa chất thuỷ văn, lực lượng sản xuất luôn di động phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, nên khi công tác điều tra khảo sát không tốt sẽ dẫn đến lãng phí nghiêm trọng Do vậy, cần có biện pháp để kiểm tra và đánh giá việc quản lý và sử dụng vốn đầu tư ngay từ khâu đầu tiên của quá trình đầu tư là việc xác định chủ trương đầu tư, lựa chọn địa điểm, điều tra khảo sát để dự án đầu tư đảm bảo tính khả thi cao

Ba là, Dự án đầu tư xây dựng thuộc đối tượng kiểm toán của KTNN là

những dự án đòi hỏi khối lượng vốn lớn, vật tư lao động và máy thi công nhiều Do vậy, trong quản lý kinh tế, quản lý tài chính, hoạt động đầu tư xây dựng đòi hỏi các ban quản lý và chủ đầu tư phải làm tốt công tác kế hoạch hoá vốn đầu tư, lập định mức kinh tế kỹ thuật và quản lý theo định mức Với chu kỳ sản xuất dài, vốn đầu tư bỏ vào để xây dựng dễ bị ứ đọng gây lãng phí Nếu thiếu vốn sẽ làm công tác thi công bị gián đoạn, kéo dài thời gian thi công xây dựng Do đó yêu cầu trong công tác quản lý tài chính, quản lý kinh

tế phải có kế hoạch, tiến độ thi công tốt để rút ngắn thời gian xây dựng, tiết kiệm lao động, chi phí quản lý để giảm được chi phí đầu tư Trên giác độ tài chính phải có giải pháp quản lý chi phí và quản lý trong công tác thanh quyết toán vốn đầu tư

Trang 13

Qua việc phân tích các đặc điểm của dự án đầu tư xây dựng thuộc đối tượng kiểm toán của KTNN đòi hỏi khi thực hiện kiểm toán, kiểm toán viên phải đánh giá được công tác quản lý sử dụng vốn và tài sản tại các ban quản

lý, phát hiện được các hành vi gây thất thoát, lãng phí vốn đầu tư của Nhà nước không những trong quá trình thi công xây dựng dự án mà còn cả vấn đề lãng phí do công tác điều tra khảo sát không tốt dẫn đến việc ra quyết định về chủ trương đầu tư không đúng

1.1.2 Cơ sở lý luận và yêu cầu lập dự toán công trình xây dựng cơ bản

Khái niệm, vai trò và đặc điểm dự toán xây dựng công trình

Dự toán xây dựng công trình được lập cho từng công trình, hạng mục công trình xây dựng theo khối lượng của hồ sơ thiết kế kỹ thuật, thiết kế bản

vẽ thi công, và đơn giá, định mức tương ứng

Dự toán xây dựng công trình được lập là căn cứ để lập kế hoạch và quản lý vốn đầu tư xây dựng, là cơ sở để xác định Tổng mức đầu tư và giao nhận thầu xây lắp

Dự toán công trình giúp cho việc quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình đảm bảo mục tiêu, hiệu quả dự án đầu tư xây dựng công trình và các yêu cầu khách quan của kinh tế thị trường

Dự toán công trình giúp cho việc quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình, phù hợp với các giai đoạn đầu tư xây dựng công trình, các bước thiết

kế, loại nguồn vốn và các quy định của nhà nước

Dự toán công trình bao gồm chi phí xây dựng (chi phí trực tiếp, chi phí chung, thu nhập chịu thuế tính trước, thuế giá trị gia tăng, chi phí nhà tạm tại hiện trường để ở và điều hành thi công), chi phí thiết bị, chi phí quản lý dự án, chi phí tư vấn đầu tư xây dựng, chi phí khác, chi phí dự phòng

Yêu cầu lập dự toán

Trang 14

Việc lập và quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình hay lập dự toán công trình phải đảm bảo mục tiêu, hiệu quả đầu tư, đồng thời phải đảm bảo tính khả thi của dự án đầu tư xây dựng công trình; đảm bảo tính đúng, tính đủ, hợp lý, phù hợp với điều kiện thực tế, yêu cầu khách quan của cơ chế thị trường và theo quy định của Nhà nước; phù hợp với thời gian xây dựng

Dự toán công trình được lập theo tứng công trình cụ thể và phải phù hợp với giai đoạn đầu tư xây dựng công trình, các bước thiết kế và phù hợp với thời gian xây dựng

Cơ sở lập dự toán:

Dự toán xây dựng công trình (dự toán) đóng vai trò quan trọng trong việc thiết lập nên kế hoạch tài chính cho một dự án đầu tư xây dựng Cơ sở để lập dự toán dựa trên cơ sở các tài liệu sau:

- Khối lượng công tác được xác định theo tài liệu thiết kế kỹ thuật, thiết

kế bản vẽ thi công, nhiệm vụ công việc phải thực hiện của công trình, hệ thống định mức, chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật, đơn giá xây dựng công trình, định mức chi phí theo tỷ lệ phần trăm (%) cần thiết để thực hiện khối lượng, nhiệm

vụ công việc đó Dựa vào các bản vẽ thiết kế của công trình, bao gồm cả bản

vẽ kiến trúc và bản vẽ kết cấu, bản vẽ mặt bằng các tầng, các mặt cắt điển hình và những chi tiết khác có liên quan của công trình, người lập dự toán có thể đo bóc các khối lượng chính xác các bản vẽ phải rõ ràng, hoàn chỉnh và đầy đủ các kích thước, có sự phù hợp giữa kích thước thực tế và tỷ lệ thể hiện trong bản vẽ

- Các đơn giá được quy đinh theo từng khu vực lãnh thổ và theo từng loại công tác riêng biệt trên cơ sở các định mức chi phí về vật liệu, lao động,

xe máy thi công cần thiết để hoàn thành một đơn vị khối lượng công tác và các bảng giá vật liệu, cước vận chuyển, giá ca máy, tiền lương của công nhân xây lắp Nếu các bảng giá này được tính phù hợp với mức giá trên thị trưởng

Trang 15

thì giá sản phẩm xây dựng được xác định bằng phương pháp lập dự toán cũng

sẽ mang tính chất như giá thị trường

- Các thuyết minh, chỉ dẫn và yêu cầu kỹ thuật trình bày chính xác về đặc tính và chủng loại nguyên vật liệu sẽ được sử dụng

Việc xác định đúng đắn khối lượng công tác xây lắp cần thiết để sản xuất sản phẩm xây dựng cũng như xác định luận chứng kinh tế giá trị dự toán đơn vị của các loại công tác, kết cấu xây lắp khác nhau có tính chất quyết định chất lượng của các tài liệu lập dự toán

1.2 Cơ sở lý luận về kiểm toán dự toán công trình đầu tư xây dựng

cơ bản trong cuộc kiểm toán báo cáo quyết toán đầu tư xây dựng cơ bản

Tất cả các dự án đầu tư sử dụng vốn NSNN, vốn tín dụng do Nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước sau khi hoàn thành đưa

dự án vào khai thác, sử dụng đều phải quyết toán vốn đầu tư theo quy định

Vốn đầu tư được quyết toán là toàn bộ chi phí hợp pháp đã thực hiện trong quá trình đầu tư để đưa dự án vào khai thác sử dụng Chi phí hợp pháp

là chi phí được thực hiện đúng với hồ sơ thiết kế - dự toán đã phê duyệt, bảo đảm đúng quy chuẩn, định mức, đơn giá, chế độ tài chính - kế toán, hợp đồng kinh tế đã ký kết và những quy định của Nhà nước có liên quan Vốn đầu tư được quyết toán phải nằm trong giới hạn tổng mức đầu tư được cấp có thẩm quyền phê duyệt hoặc điều chỉnh (nếu có)

Yêu cầu đối với báo cáo quyết toán dự án đầu tư xây dựng:

Báo cáo quyết toán dự án đầu tư xây dựng phải xác định đầy đủ, chính xác tổng chi phí đầu tư đã thực hiện; phân định rõ nguồn vốn đầu tư; chi phí đầu tư được phép không tính vào giá trị tài sản hình thành qua đầu tư dự án; giá trị tài sản hình thành qua đầu tư: TSCĐ, TSLĐ; đồng thời phải đảm bảo đúng nội dung, thời gian lập, thẩm tra và phê duyệt theo quy định

Trang 16

Đối với các dự án nhóm A gồm nhiều dự án thành phần hoặc tiểu dự

án, trong đó nếu từng dự án thành phần hoặc tiểu dự án có thể độc lập vận hành khai thác hoặc thực hiện theo phân kỳ đầu tư được ghi trong văn bản phê duyệt báo cáo nghiên cứu tiền khả thi hoặc văn bản quyết định chủ trương đầu

tư của cấp có thẩm quyền, thì mỗi dự án thành phần hoặc tiểu dự án đó được thực hiện quyết toán vốn đầu tư như một dự án đầu tư độc lập tương ứng với quy định về phân nhóm dự án (A, B, C) của Quy chế Quản lý đầu tư và xây dựng phù hợp với từng thời kỳ đầu tư

Khi toàn bộ dự án hoàn thành, chủ đầu tư và cơ quan quản lý cấp trên của chủ đầu tư có trách nhiệm quyết toán các chi phí chung liên quan tới dự

án trình Bộ chủ quản phê duyệt và tổng hợp chung vào kết quả quyết toán vốn đầu tư của toàn dự án để báo cáo Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Đối với các dự án có nhiều công trình, hoặc hạng mục công trình mà mỗi công trình, hạng mục công trình hoặc nhóm hạng mục khi hoàn thành có thể được đưa vào để khai thác, sử dụng độc lập, thì chủ đầu tư lập báo cáo quyết toán vốn đầu tư theo hạng mục công trình, trình người có thẩm quyền phê duyệt Giá trị đề nghị quyết toán của hạng mục công trình bao gồm: chi phí xây lắp, chi phí thiết bị và các khoản chi phí khác có liên quan trực tiếp đến hạng mục đó Sau khi toàn bộ dự án hoàn thành, chủ đầu tư phải tổng quyết toán toàn bộ dự án và xác định mức phân bổ chi phí chung của dự án cho từng hạng mục công trình thuộc dự án trình người có thẩm quyền phê duyệt quyết toán phê duyệt

Đối với các dự án đầu tư có sử dụng vốn nước ngoài (vốn do Nhà nước bảo lãnh, vốn vay, vốn viện trợ từ các Chính phủ, tổ chức, cá nhân người nước ngoài) khi hoàn thành phải thực hiện quyết toán vốn đầu tư theo quy định của Thông tư hướng dẫn quyết toán vốn đầu tư do Bộ Tài chính ban

Trang 17

hành phù hợp với từng thời kỳ và các quy định liên quan của Điều ước quốc

tế (nếu có)

Vai trò của báo cáo quyết toán dự án đầu tư xây dựng:

Báo cáo quyết toán dự án đầu tư thể hiện kết quả công tác quyết toán vốn đầu tư nhằm đánh giá kết quả quá trình đầu tư, xác định năng lực sản xuất, giá trị tài sản mới tăng thêm do đầu tư mang lại; xác định rõ trách nhiệm của chủ đầu tư, các nhà thầu, cơ quan cấp vốn, cho vay, kiểm soát thanh toán, các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan; đồng thời qua đó rút kinh nghiệm nhằm không ngừng hoàn thiện cơ chế chính sách của nhà nước, nâng cao hiệu quả của công tác quản lý vốn đầu tư trong cả nước

Nội dung của báo cáo quyết toán dự án đầu tư xây dựng:

Nguồn vốn đầu tư thực hiện dự án tính đến ngày khoá sổ lập báo cáo quyết toán (chi tiết theo từng nguồn vốn đầu tư);

Chi phí đầu tư đề nghị quyết toán và được lập chi tiết theo cơ cấu xây lắp, thiết bị, chi phí khác; chi tiết theo hạng mục, khoản mục chi phí đầu tư;

Xác định chi phí đầu tư thiệt hại không tính vào giá trị tài sản hình thành qua đầu tư như: Chi phí đầu tư thiệt hại do thiên tai, địch họa và các nguyên nhân bất khả kháng không thuộc phạm vi và đối tượng được bảo hiểm; Chi phí đầu tư thiệt hại do thực hiện các khối lượng công việc phải huỷ

bỏ theo quyết định của cấp có thẩm quyền;

Xác định số lượng và giá trị tài sản hình thành qua đầu tư của dự án, chi tiết theo nhóm, loại TSCĐ, TSLĐ theo chi phí thực tế Đối với các dự án

có thời gian thực hiện hơn 36 tháng tính từ ngày khởi công đến ngày nghiệm thu bàn giao đưa vào khai thác sử dụng phải thực hiện quy đổi vốn đầu tư về mặt bằng giá tại thời điểm bàn giao đưa vào khai thác sử dụng Việc phân bổ chi phí khác cho từng TSCĐ được xác định theo nguyên tắc: Chi phí trực tiếp liên quan đến TSCĐ nào thì tính cho TSCĐ đó; chi phí chung liên quan đến

Trang 18

nhiều TSCĐ thì phân bổ theo tỷ lệ chi phí trực tiếp của từng TSCĐ so với tổng số chi phí trực tiếp của toàn bộ tài sản cố định Trường hợp tài sản do đầu tư mang lại được bàn giao cho nhiều đơn vị sử dụng phải xác định đầy đủ danh mục và giá trị của TSCĐ, TSLĐ của dự án bàn giao cho từng đơn vị

Khái niệm về kiểm toán:

Thuật ngữ “kiểm toán” thực sự mới xuất hiện và được sử dụng ở nước

ta từ những năm 1990 Vì vậy, trong cách hiểu và cách dùng khái niệm này chưa được thống nhất

Theo quan điểm thứ nhất: Kiểm toán được hiểu theo đúng thời cuộc

của nó: Phát sinh cùng với cơ chế thị trường Theo lời mở đầu “giải thích về các chuẩn mực kiểm toán” của Vương quốc Anh “Kiểm toán là sự kiểm tra độc lập và bày tỏ ý kiến về những bản khai tài chính của một xí nghiệp do một kiểm toán viên được bổ nhiệm để thực hiện những công việc đó theo đúng với bất cứ nghĩa vụ pháp định có liên quan”, hoặc cụ thể hơn, có thể dẫn

ra quan niệm của các chuyên gia kiểm toán Hoa Kỳ “kiểm toán là một quá trình mà qua đó một người độc lập, có nghiệp vụ tập hợp và đánh giá rõ ràng

về thông tin có thể lượng hoá có liên quan đến một thực thể kinh tế riêng biệt nhằm mục đích xác định và báo cáo mức độ phù hợp giữa thông tin có thể lượng hoá với những tiêu chuẩn đã được thiết lập” Tương tự như vậy là quan điểm chính thống trong giáo dục và đào tạo kiểm toán ở Cộng hoà Pháp

“Kiểm toán là việc nghiên cứu và kiểm tra các tài khoản niên độ của một tổ chức do một người độc lập, đủ danh nghĩa gọi là một kiểm toán viên tiến hành

để khẳng định rằng những tài khoản đó phản ánh đúng đắn tình hình tài chính thực tế không che dấu sự gian lận và chúng được trình bày theo mẫu chính thức của luật định”

Các định nghĩa đã nêu tuy khác nhau về từ ngữ với ý nghĩa cụ thể xác định, song đều bao hàm khái niệm kiểm toán gồm 5 yếu tố cơ bản:

Trang 19

Chức năng của kiểm toán là xác minh và bày tỏ ý kiến;

Đối tượng trực tiếp của kiểm toán là các bảng khai tài chính;

Khách thể của kiểm toán được xác định là thực thể kinh tế hoặc một tổ chức;

Người thực hiện kiểm toán là những kiểm toán viên độc lập, có nghiệp vụ;

Cơ sở thực hiện kiểm toán là những luật định, tiêu chuẩn hay chuẩn mực chung

Theo quan điểm thứ hai: Kiểm toán được đồng nghĩa với kiểm tra kế

toán, một chức năng của bản thân kế toán, một thuộc tính cố hữu của kế toán Nội dung của hoạt động này là rà soát các thông tin kế toán từ chứng từ kế toán và tổng hợp cân đối kế toán

Đây là quan điểm mang tính truyền thống trong điều kiện kiểm tra chưa phát triển và trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung Từ khi chuyển đổi cơ chế kinh tế, Nhà nước không còn là chủ sở hữu duy nhất Từ đó, sự can thiệp trực tiếp của Nhà nước không thể thực hiện đối với các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh; cách thức can thiệp cũng không thể như cũ được nữa,…Vì vậy, công tác kiểm tra kế toán cần được thực hiện rộng rãi, đa dạng song thật khoa học, khách quan, trung thực, đủ sức thuyết phục và tạo niềm tin cho mọi người quan tâm Việc tách kiểm toán khỏi hoạt động kế toán và hình thành khoa học kiểm toán độc lập là một xu hướng phát triển tất yếu của lịch sử

Theo quan điểm hiện đại: Phạm vi kiểm toán rất rộng Nó bao gồm

những lĩnh vực chủ yếu sau:

Kiểm toán về thông tin hướng vào việc đánh giá tính trung thực và hợp pháp của các tài liệu làm cơ sở pháp lý cho việc giải quyết các mối quan hệ về kinh tế và tạo niềm tin cho những người quan tâm đến tài liệu kế toán;

Trang 20

Kiểm toán tính quy tắc hướng vào việc đánh giá tình hình thực hiện các thể lệ, chế độ, luật pháp của đơn vị kiểm tra trong quá trình hoạt động;

Kiểm toán hiệu quả có đối tượng trực tiếp là sự kết hợp giữa các yếu tố, các nguồn lực trong từng lợi hình nghiệp vụ kinh doanh Kiểm toán này giúp ích trực tiếp cho việc hoạch địch chính sách và phương hướng, giải pháp cho việc hoàn thiện hoặc cải tổ hoạt động kinh doanh của đơn vị kiểm toán;

Kiểm toán hiệu năng được đặc biệt quan tâm ở khu vực công, nơi mà năng lực quản lý cần được đánh giá toàn diện và bồi bổ thường xuyên nhằm không ngừng nâng cao hiệu năng quản lý của đơn vị kiểm toán

Từ tất cả các trình bày trên có thể đi đến kết luận “kiểm toán là xác minh và bày tỏ ý kiến về thực trạng hoạt động được kiểm toán bằng hệ thống phương pháp kỹ thuật của kiểm toán chứng từ và ngoài chứng từ do các kiểm toán viên có trình độ nghiệp vụ tương xứng thực hiện trên cơ sở hệ thống pháp lý có hiệu lực”

Cũng như các hoạt động khác, kiểm toán cần và có thể phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau:

Nếu phân theo chức năng thì kiểm toán được chia thành ba loại hình cơ bản sau: Kiểm toán báo cáo tài chính, kiểm toán tuân thủ và kiểm toán hoạt động

Kiểm toán báo cáo tài chính là quá trình xem xét, đánh giá và xác nhận tính hợp pháp, trung thực của các báo cáo tài chính Đây là loại kiểm toán phổ biến nhất hiện nay trên thế giới;

Kiểm toán tuân thủ là quá trình xem xét, đánh giá đơn vị được kiểm toán có tuân thủ theo các thủ tục, các quy định, các quy chế, các nguyên tắc

đã được các cơ quan có thẩm quyền đề ra hay không;

Kiểm toán hoạt động có thể hiểu là loại kiểm toán để xem xét, đánh giá tính hiệu lực, hiệu quả của đơn vị được kiểm toán Trong đó, việc xem xét

Trang 21

đánh giá tính hiệu lực là xem xét và đánh giá quá trình thực hiện và khả năng thực hiện các nhiệm vụ, mục tiêu hoạt động của đơn vị Đánh giá và xem xét tính hiệu quả là xem xét và đánh giá công việc đạt được kết quả cao nhất với chi phí bỏ ra thấp nhất

Theo bản chất của khách thể kiểm toán có thể phân kiểm toán thành kiểm toán doanh nghiệp, kiểm toán dự án và các công trình, kiểm toán các đơn vị dự toán,…

Báo cáo quyết toán Dự án đầu tư xây dựng được lập nhằm cung cấp thông tin về nguồn vốn và vốn đầu tư thực hiện của dự án cần thiết cho việc kiểm tra, kiểm soát chi phí đầu tư của dự án của Nhà nước, giúp cho Chính phủ quản lý chặt chẽ các khoản chi trong lĩnh vực đầu tư xây dựng

Để thông tin kế toán thực sự hữu ích phục vụ cho công tác quản lý kinh

tế, tài chính có hiệu quả thì các thông tin này phải thực sự tin cậy, bảo đảm tính trung thực và hợp pháp Vì vậy, việc kiểm tra để xác nhận các thông tin, tài liệu và báo cáo quyết toán phải được thực hiện thường xuyên và phải được một cơ quan độc lập với đơn vị được kiểm tra thực hiện để đảm bảo tính trung thực và khách quan Theo thông lệ quốc tế, nhiệm vụ này do Cơ quan KTNN thực hiện

Một trong những nhiệm vụ quan trọng của Cơ quan KTNN là kiểm toán Báo cáo quyết toán Dự án đầu tư xây dựng Kiểm toán Báo cáo quyết toán Dự án đầu tư xây dựng là việc kiểm tra và xác nhận tính trung thực và hợp lý của Báo cáo quyết toán Dự án đầu tư xây dựng, cũng như xem xét mức

độ phù hợp giữa các nội dung trên Báo cáo quyết toán Dự án đầu tư xây dựng với các nguyên tắc, chuẩn mực kế toán và các yêu cầu của pháp luật về lĩnh vực quản lý đầu tư xây dựng, lĩnh vực tài chính kế toán và các lĩnh vực khác

Các nội dung cơ bản của kiểm toán Báo cáo quyết toán Dự án đầu tư xây dựng:

Trang 22

Kiểm toán báo cáo quyết toán vốn đầu tư công trình hoàn thành;

Kiểm toán việc tuân thủ pháp luật, chế độ đầu tư xây dựng;

Trong quá trình kiểm toán Báo cáo quyết toán Dự án đầu tư xây dựng, kiểm toán viên phải kiểm tra việc tuân thủ Luật Xây dựng, Luật Kế toán và các chế độ chính sách về lĩnh vực đầu tư dự án và lĩnh vực tài chính kế toán trong quá trình quản lý, sử dụng nguồn vốn và quyết toán vốn đầu tư thực hiện với Nhà nước Đồng thời, các kiểm toán viên phải kiểm tra các khoản chi phí, các hạng mục công trình thành phần của dự án theo đúng đơn giá, định mức theo quy định của Nhà nước Thông qua kiểm toán tại đơn vị, kiểm toán viên đánh giá công tác quản lý đầu tư cũng như quản lý tài chính đối với đơn

vị và có những kiến nghị đối với đơn vị nhằm nâng cao chất lượng quản lý và

đề xuất với cấp có thẩm quyền những quy định phù hợp với thực tiễn

1.3 Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin trong kiểm toán báo cáo quyết toán đầu tư xây dựng cơ bản

Trong những năm qua Kiểm toán Nhà nước đã có sự phát triển mạnh

mẽ về qui mô, chất lượng kiểm toán Số lượng các cuộc kiểm toán năm sau cao hơn năm trước, phạm vi kiểm toán ngày một mở rộng Chất lượng Báo cáo kiểm toán từng bước được nâng lên Tính hiệu lực của các kết luận, kiến nghị của Kiểm toán Nhà nước ngày một cao Kiểm toán Nhà nước trở thành một công cụ quan trọng của Đảng, Nhà nước và nhân dân trong kiểm tra giám sát việc quản lý, sử dụng ngân sách, tiền, tài sản của Nhà nước

Cùng sự phát triển ngày một lớn mạnh của Kiểm toán Nhà nước, sự tăng lên về số lượng, chất lượng cuộc kiểm toán, công nghệ thông tin từng bước đã được ứng dụng vào quá trình kiểm toán Trong lĩnh vực kiểm toán Báo cáo quyết toán đầu tư xây dựng cơ bản, hiện tại công nghệ thông tin đã được ứng dụng vào kiểm toán một số bước, một số khâu của quá trình kiểm toán như kiểm toán việc áp dụng các định mức đơn giá, kiểm toán việc tính

Trang 23

toán khối lượng, kiểm toán chấp hành chế độ quản lý đầu tư Các phần mềm được sử dụng là Excel, phần mềm lập dự toán, phần mềm Autocad, Nova, softdest

Việc ứng dụng các phần mềm trên đã đem góp phần nâng cao chất lượng kiểm toán, rút ngắn thời gian, giảm chi phí cho cuộc kiểm toán

Tuy nhiên, trong thực tiễn kiểm toán báo cáo quyết toán công trình xây dựng những năm vừa qua còn có những hạn chế trong việc ứng dụng công nghệ thông tin vào kiểm toán dự toán Cụ thể:

+ Do năng lực và trình độ về công nghệ thông tin của kiểm toán viên còn hạn chế, nên nhiều kiểm toán viên vẫn chỉ sử dụng máy vi tính để tính toán thủ công trên EXCEL, chưa sử dụng các phần mềm hỗ trợ để kiểm tra, tính toán Do vậy, thời gian các cuộc kiểm toán dự án đầu tư còn kéo dài, kết quả số liệu kiểm toán do kiểm toán viên đưa ra ban đầu còn chưa chính xác, kết quả kiểm toán sau khi đơn vị giải trình còn phải điều chỉnh nhiều

+ Các phần mềm được kiểm toán viên sử dụng trong quá trình thực hiện kiểm toán còn mang tính nhỏ lẻ cho từng hạng mục công việc, chưa có

sự sử dụng thống nhất giữa các kiểm toán viên nên việc tổng hợp còn mất nhiều thời gian

+ Chưa có phần mềm chuyên dụng Khi kiểm toán phải áp dụng kết hợp đồng thời nhiều phần mềm, hiệu quả đem lại chưa cao trong kiểm toán

1.4 Sự cần thiết phải ứng dụng phần mềm hỗ trợ kiểm toán

Nâng cao chất lượng và đẩy nhanh tiến độ cuộc kiểm toán là một nhiệm

vụ thực tế đặt ra hiện nay của Kiểm toán nhà nước Để thực hiện tốt điều này đòi hỏi các kiểm toán viên phải nâng cao trình độ chuyên môn, thành thạo kỹ năng và có khả năng ứng dụng tốt các phần mềm công nghệ thông tin hỗ trợ kiểm toán

Trang 24

Trong kiểm toán Báo cáo quyết toán công trình xây dựng cơ bản, một trong các nội dung quan trọng là kiểm toán dự toán Các công trình xây dựng

cơ bản (đặc biệt là dự án nhóm A) thường có tính đặc thù, đơn chiếc, vốn đầu

tư lớn, phạm vi thi công rộng, thời gian thi công dài, chế độ chính sách thay đổi, liên quan đến nhiều đơn vị quản lý khác nhau… Do đó việc áp dụng các định mức kinh tế - kỹ thuật, định mức chi phí, đơn giá, các chế độ, chính sách

có liên quan và các khoản mục chi phí trong dự toán sẽ phức tạp, tiềm ẩn nhiều rủi ro, mất nhiều thời gian nếu không ứng dụng các phần mềm hỗ trợ kiểm toán dự toán Một nội dung khác của kiểm toán dự toán là kiểm tra sự phù hợp của khối lượng thiết kế và khối lượng dự toán Công việc này đòi hỏi kiểm toán viên phải sử dụng tốt các phần mềm thiết kế, tính toán khối lượng mới đẩy nhanh được tiến độ kiểm toán Mặt khác, công việc kiểm toán thường

có tính cơ động nên rất khó để mang được hết các văn bản, chế độ, tài liệu cần thiết do khối lượng lớn và thường xuyên thay đổi Việc ứng dụng các phần mềm công nghệ sẽ tạo ra kho giữ liệu cần thiết phục vụ cho việc cập nhật, tra cứu, lưu trữ thông tin

Thực tiễn hiện nay, hầu hết các đơn vị thiết kế, lập dự toán đều sử dụng các phần mềm hỗ trợ Vì vậy, để tiếp cận nhanh và giảm thiểu rủi ro, kiểm toán viên phải chủ động học hỏi và sử dụng được các phần mềm ứng dụng này, từng bước trang bị cho mình các phần mềm hỗ trợ kiểm toán

Việc ứng dụng ngày một sâu rộng những tiến bộ của công nghệ thông tin vào kiểm toán là một xu thế tất yếu, tạo điều kiện nâng cao chất lượng, hiệu quả kiểm toán Cùng với sự phát triển ngày một lớn mạnh của Kiểm toán nhà nước, việc ứng dụng công nghệ thông tin vào kiểm toán cũng được chú trọng phát triển Kiểm toán nhà nước đã có các chương trình, kế hoạch cụ thể

về đào tạo bồi dưỡng kiến thức công nghệ thông tin cho đội ngũ Kiểm toán viên, chiến lược xây dựng, ứng dụng các phần mềm hỗ trợ kiểm toán đáp ứng

Ngày đăng: 10/03/2015, 07:45

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Tài chính (2003), Thông tư 45/2003/TT-BTC ngày 15 tháng 3 năm 2003 của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn quyết toán vốn đầu tư, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư 45/2003/TT-BTC ngày 15 tháng 3 năm 2003 của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn quyết toán vốn đầu tư
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2003
2. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX (2001), Văn kiện Đại hội, Hà Nội 3. Đỗ Bình Dương (2004), “KTNN góp phần quan trọng nâng cao hiệu lực, hiệu quả sử dụng các nguồn lực công, lành mạnh hoá các quan hệ tài chính quốc gia”, Tạp chí kiểm toán của KTNN Việt Nam, (04), tr. 6 - 13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội," Hà Nội 3. Đỗ Bình Dương (2004), “KTNN góp phần quan trọng nâng cao hiệu lực, hiệu quả sử dụng các nguồn lực công, lành mạnh hoá các quan hệ tài chính quốc gia”, "Tạp chí kiểm toán của KTNN Việt Nam
Tác giả: Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX (2001), Văn kiện Đại hội, Hà Nội 3. Đỗ Bình Dương
Năm: 2004
5. Vương Đình Huệ (2006), “Vinh dự lớn trách nhiệm nặng nề”, Tạp chí kiểm toán của KTNN Việt Nam, (08), tr. 4 - 7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vinh dự lớn trách nhiệm nặng nề”, "Tạp chí kiểm toán của KTNN Việt Nam
Tác giả: Vương Đình Huệ
Năm: 2006
6. Lương Xuân Hùng (2008), giáo trình quản lý hoạt động xây dựng, Nhà xuất bản đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh, TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: giáo trình quản lý hoạt động xây dựng
Tác giả: Lương Xuân Hùng
Nhà XB: Nhà xuất bản đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh
Năm: 2008
9. Ngô Văn Quý (2005), Cơ sở khoa học xây dựng phương pháp kiểm toán công tác đấu thầu đối với các dự án đầu tư XDCB thực hiện bằng nguồn vốn NSNN, Đề tài khoa học cấp cơ sở, Kiểm toán Nhà nước, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở khoa học xây dựng phương pháp kiểm toán công tác đấu thầu đối với các dự án đầu tư XDCB thực hiện bằng nguồn vốn NSNN
Tác giả: Ngô Văn Quý
Năm: 2005
10. Trường Đại học Kinh tế quốc dân (2005), Lý thuyết kiểm toán, Nhà xuất bản Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý thuyết kiểm toán
Tác giả: Trường Đại học Kinh tế quốc dân
Nhà XB: Nhà xuất bản Tài chính
Năm: 2005

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w