1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

bài dự thi trình bày hiểu biết ứng dụng khoa học tư duy hệ thống trong công tác quản lý chỉ đạo điều hành của đơn vị

13 917 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 0,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tư duy hệ thống cung cấp một viễn cảnh mới mạnh mẽ, một ngôn ngữ riêng và một tập các công cụ có thể dùng để đề cập tới những vấn đề hóc búa nhất trong cuộc sống và công việc thường ngày

Trang 1

ỦY BAN NHÂN DÂN QUẬN HỒNG BÀNG

TRƯỜNG TIỂU HỌC TRẦN VĂN ƠN

BÀI DỰ THI

TƯ DUY HỆ THỐNG TRONG CÔNG TÁC QUẢN LÝ,

CHỈ ĐẠO, ĐIỀU HÀNH CỦA ĐƠN VỊ

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

Nhân loại đã thành công qua thời gian trong việc chinh phục thế giới vật

lý và trong việc phát triển tri thức khoa học bằng việc chấp thuận phương pháp phân tích để hiểu vấn đề Phương pháp này bao gồm việc chia vấn đề thành các cấu phận, nghiên cứu từng phần cô lập và rồi rút ra kết luận về cái toàn thể Loại tư duy tuyến tính và máy móc này đang ngày một trở nên không hiệu quả khi đề cập đến các vấn đề hiện đại

Thế giới đã trở nên tăng sự liên nối và các chu trình nhân quả phản hồi, nội sinh bây giờ chi phối hành vi của các biến quan trọng trong các hệ thống xã hội và kinh tế Để hiểu nguồn gốc và giải pháp cho các vấn đề hiện đại, cách tư duy tuyến tính máy móc phải nhường chỗ cho cách tư duy hữu cơ và phi tuyến, thường hay được nói tới nhưcách

tư duy hệ thống – cách tư duy với việc thừa nhận vị trí thứ nhất của cái toàn thể

Cách tiếp cận tư duy hệ thống về cơ bản khác với cách tiếp cận phân tích truyền thống Tư duy hệ thống tập trung vào các đối tượng được nghiên cứu tương tác với các thành phần khác của hệ thống có chứa nó – hệ thống vốn là tập hợp các phân tử tương tác để tạo ra hành vi Tư duy hệ thống làm việc bằng cách

mở rộng góc nhìn của nó

Đặc trưng của tư duy hệ thống là làm cho nó rất có hiệu quả trong hầu hết các kiểu vấn đề khó giải quyết nhất: những vấn đề bao gồm các yếu tố phức tạp, những vấn đề phụ thuộc rất nhiều vào quá khứ hay hành động của các yếu tố khác và những hành động bắt nguồn từ sự phối hợp không hiệu quả giữa những yếu tố tham dự

PHẦN I: NHẬN THỨC VẤN ĐỀ Trước tiên ta cần hiểu tư duy hệ thống là gì?

Tư duy hệ thống cung cấp một viễn cảnh mới mạnh mẽ, một ngôn ngữ riêng và một tập các công cụ có thể dùng để đề cập tới những vấn đề hóc búa nhất trong cuộc sống và công việc thường ngày Tư duy hệ thống là cách hiểu thực tế nhấn mạnh tới mối quan hệ giữa các phần của hệ thống, thay vì chỉ bản thân các bộ phận Dựa trên lĩnh vực nghiên cứu có tên là tính năng động hệ thống, tư duy hệ thống có giá trị thực tế dựa trên nền tảng lý thuyết chắc chắn

Trang 3

Tư duy hệ thống bao gồm bốn thành phần:

Tư duy theo mô hình: hiểu tường minh việc mô hình hóa

Tư duy theo mô hình cũng chứa đựng khả năng xây dựng mô hình Mô hình phải được xây dựng, làm hợp lệ và phát triển thêm nữa Khả năng xây dựng

mô hình và phân tích mô hình phụ thuộc một phần lớn vào công cụ sẵn có để mô

tả mô hình Chọn một dạng biểu diễn thích hợp (như biểu đồ chu trình nhân quả, biểu đồ kho là luồng, phương trình) là điểm mấu chốt của tư duy hệ thống

Tư duy theo tương quan: tư duy theo cấu trúc hệ thống, tương quan

Nền tảng của cách tư duy này là phác họa chính xác giữa nguyên nhân và hậu quả Để giải thích một hiện tượng chúng ta phải tìm “nguyên nhân” của nó (có lẽ là một) Người ta giả thiết rằng nguyên nhân này tồn tại và hậu quả bao giờ cũng có thể được quan sát bất kỳ khi nào nguyên nhân hợp thức Những từ

và cụm từ như “vì”, “do vậy”, “nếu – thì” ký hiệu cho quan niệm tư duy như vậy trong ngôn ngữ hàng ngày Điều tương tự về toán học là khái niệm hàm với một biến độc lập (= “nguyên nhân”) và một biến phụ thuộc (= “hậu quả”) Tương phản với cách tư duy này trong mối quan hệ nhân quả, có thể được gọi là tư duy chức năng hay tư duy tuyến tính – là tư duy theo tương quan

Tư duy động tư duy theo các tiến trình động (trễ, chu trình phản hồi, dao động)

Hệ thống có hành vi nào đó qua thời gian Tính trễ và dao động thời gian

là tính năng điển hình của hệ thống, điều có thể được quan sát theo chiều thời gian, tư duy động cũng có nghĩa nhìn trước sự phát triển tương lai (có thể)

Chỉ đạo các hệ thống khả năng cho việc quản lý hệ thống thực hành và hệ thống kiểm soát

Tư duy hệ thống bao giờ cũng có cấu phần thực dụng: nó giải quyết không chỉ bằng suy nghĩ về hệ thống, song, nó còn quan tâm tới hành động hướng theo hệ thống Tư duy hệ thống có giá trị bởi vì nó có thể giúp thiết kế khôn ngoan, kéo dài giải pháp của vấn đề Theo nghĩa đơn giản nhất, tư duy hệ thống cung cấp bức tranh chính xác hơn về thực tế, để có thể sử dụng các lực tự nhiên của hệ thống đạt tới kết quả mong muốn Nó cũng động viên việc suy nghĩ

về các vấn đề và giải pháp bằng con mắt nhìn lâu dài – chẳng hạn, làm sao một giải pháp đặc biệt đang xem xét có thể tồn tại lâu được? Và hậu quả có thể

Trang 4

không được để ý tới là gì? Cuối cùng, tư duy hệ thống dựa trên một số nguyên tắc phổ dụng, cơ bản có trong tất cả mọi phạm vi hoạt động của cuộc sống

Hệ thống là gì?

Hệ thống đích xác là gì? Hệ thống là một nhóm các cấu phần độc lập, có quan hệ, có tương tác với nhau, tạo nên một toàn thể phức tạp và thống nhất Các hệ thống có ở mọi nơi – chẳng hạn, bộ phận nghiên cứu triển khai trong tổ chức, hệ tuần hoàn trong thân thể, mối quan hệ dã thú/con mỗi trong tự nhiên, hệ thống đánh lửa trong xe hơi… Hệ thống sinh thái và hệ thống xã hội con người

là những hệ thống sống, các hệ thống nhân tạo như ôtô và máy giặt là các hệ không sống Phần lớn các nhà tư tường hệ thống đều tập trung sự chú ý của họ vào các hệ thống sống, đặc biệt là hệ thống xã hội con người

Hệ thống có một số đặc trưng xác định:

Mọi hệ thống đều có mục đích bên trong một hệ thống lớn hơn

Ví dụ: Mục đích của phòng nghiên cứu phát triển trong tổ chức của bạn là

để sinh ra ý tưởng về sàn phẩm và tính năng mới cho tổ chức Tất cả mọi bộ phận của tổ chức đều phải hiện diện để tổ chức thực thi mục đích của nó được tối ưu Ví dụ: hệ thống nghiên cứu và phát triển trong tổ chức của bạn bao gồm con người, thiết bị và quy trình

Hệ thống thay đổi trong khi đáp ứng với phản hồi Từ phản hồi giữ vai trò trung tâm trong tư duy hệ thống Phản hồi là thông tin quay trở lại nguồn phát của nó để gây ảnh hưởng tới hành động tiếp theo của nơi phát

Hệ thống duy trì sự ổn định của chúng bằng việc điều chỉnh dựa trên phản hồi Ví dụ: nhiệt độ thân thể bạn nói chung lơ lửng quanh 98,60 Fahrenheit (370 Celcius) Nếu bạn bị quá nóng, thân thể bạn sẽ tạo ra mồ hôi, làm lạnh bạn

Tư duy hệ thống như một viễn cảnh: Biến cố, hình mẫu, hay hệ thống?

Tư duy hệ thống là một viễn cảnh vì nó giúp chúng ta thấy các biến cố và hình mẫu trong cuộc của mình dưới ánh sáng mới và đáp ứng lại chúng theo cách mang tính đòn bẩy cao

Tư duy hệ thống như một ngôn ngữ đặc biệt

Trang 5

Như một ngôn ngữ, tư duy hệ thống có phẩm chất duy nhất giúp bạn trao đổi với người khác về nhiều hệ thống xung quanh và bên trong chúng ta:

Nó nhấn mạnh vào cái toàn thể hơn là các bộ phận, và nhấn mạnh vào vai trò của mối tương hỗ – kể cả vai trò chúng ta giữ trong hệ thống tại công việc trong cuộc sống chung ta

Nó chưa thuật ngữ đặc biệt mô tả hành vi hệ thống, như tiến trình củng cố (luồng phản hồi sinh ra sự tăng trưởng hàm mũ hay sự co lại) và tiến trình cân bằng (luồng phản hồi điều khiển thay đổi và giúp cho bệ thống duy trì tính ổn định)

Tư duy hệ thống như một tập các công cụ

Lĩnh vực tư duy hệ thống đã phát sinh ra một phạm vi rộng các công cụ để cho bạn mô tả về mặt đồ họa hiểu biết của bạn về cấu trúc và hành vi của hệ thống đặc biệt, trao đổi với người khác về hiểu biết của bạn và thiết kế ra những

sự can thiệp tác động cao cho hành vi hệ thống có vấn đề

Những công cụ này bao gồm cả chu trình nhân quả, đồ thị hành vi theo thời gian, biểu đồ kho và luồng, và nguyên mẫu hệ thống – tất cả trong chúng đều cho phép bạn mô tả hiểu biết của mình để tính toán các mô hình mô phỏng và “bộ mô phỏng bay”, giúp bạn kiểm thử tác động tiềm năng của sự can thiệp của bạn

Chu trình nhân quả

Một trong những cấu trúc gốc được các nhà tư duy hệ thống sử dụng để xem xét các mối liên hệ tương hỗ của tổ chức là chu trình nhân quả Hai kiểu chu trình nhân quả đặc biệt được dùng để chỉ ra các lực có tác dụng: Chu trình tăng cường mô tả theo biểu diễn đồ họa cho trường hoặc suy giảm xuất hiện vào mọi nhịp tăng lên Mọi biến được biểu diễn đều hoặc là nguyên nhân hoặc hậu qủa của biến nào đó khác tạo nên vòng tròn

Kiểu tăng trưởng hay co lại này làm cho bức tranh chu trình tăng cường không bao giờ có thể tiếp diễn vô hạn định Bao giờ cũng có cái gì đó giới hạn nó lại Chu trình giới hạn này được biết tới như chu trình cân bằng Ngoài chức năng giới hạn của nó, chu trình cân bằng cũng có thể cung cấp sự thăng bằng cho những lực có thể dường như ngoài kiểm soát Chu trình nhân quả có thể rất phức tạp làm khó cho việc vượt qua những chi tiết vụn vặt để tìm ra cội nguồn của vấn đề

Trang 6

PHẦN II: ỨNG DỤNG KHOA HỌC TƯ DUY HỆ THỐNG TRONG CÔNG TÁC QUẢN LÝ, CHỈ ĐẠO, ĐIỀU HÀNH TẠI ĐƠN VỊ

Trong những thập kỷ qua, nền giáo dục Việt Nam có những bước phát triển vượt bậc góp phần quan trọng vào nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực cho công cuộc xây dựng, bảo vệ và đổi mới đất nước Nhưng đồng thời nền giáo dục đang ẩn chứa rất nhiều bất cập so với yêu cầu phát triển của đất nước còn nhiều nội dung chưa đạt; chưa thực sự là quốc sách hàng đầu

Những vấn đề, những yếu kém và bất cập nêu trên của giáo dục không thể giải quyết khắc phục được căn bản chỉ bằng các giải pháp cục bộ, đơn lẻ, bề mặt nhất thời, thiếu chiến lược và tầm nhìn dài hạn, thiếu tính đồng bộ và hệ thống

Để giải quyết được căn bản những vấn đề đặt ra, những người lãnh đạo - quản lý, những người làm giáo dục phải có cách nhìn toàn diện, đầy đủ, khách quan hơn

Những vấn đề trên đã và đang đặt ra những yêu cầu, những nội dung rất mới, rất cao về nguồn lực con người, với những giá trị xã hội mới, tiêu chí mới

về phẩm chất và năng lực của mỗi con người và cả cộng đồng (như năng lực hợp tác, cạnh tranh; năng lực làm chủ - ứng dụng và sáng tạo khoa học và công nghệ cao; năng lực kết nối cộng đồng …) Tất cả những giá trị mới nêu trên tất yếu đặt ra những yêu cầu mới về nhận thức, quan điểm, mục tiêu, cơ chế phát triển giáo dục; về nội dung, chương trình và phương pháp giáo dục; đòi hỏi phải đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục

Từ những nhận thức về tầm quan trọng của khoa học tư duy hệ thống; từ những nhận thức về tầm quan trọng của công cuộc đổi mới giáo dục Trường tiểu học Trần Văn Ơn trong những năm gần đây đã không ngừng đổi mới nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, tập trung vào các mặt: xây dựng đội ngũ, tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện đại, thu hút đầu vào và đổi mới công tác quản lý Trong đó công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành giữ vai trò quan trọng, quyết định sự phát triển của nhà trường

Để đạt được kết quả chất lượng giáo dục cao, nhà trường đã đề ra những phương pháp và hình thức tổ chức giáo dục phù hợp với các đối tượng học sinh (HS) cụ thể, các điều kiện học tập cụ thể Ban giám hiệu (BGH) đã có kế hoạch

Trang 7

tổ chức thực hiện, chỉ đạo tất cả các hoạt động giáo dục trong nhà trường nhịp nhàng, hợp lý Hay nói cách khác là phải điều hành các hoạt động trong hệ thống nhà trường một cách đồng bộ, khoa học

Trong công tác quản lý, việc đề ra những mục tiêu, định hướng phát triển ngắn hạn và xây dựng chiến lược phát triển nhà trường dài hạn là rất quan trọng

Hiện nay trong hệ thống giáo dục của đất nước ta quản lý theo các chuẩn: Trường đạt chuẩn quốc gia; chuẩn nghề nghiệp giáo viên (GV); chuẩn BGH (Chuẩn Hiệu trưởng, chuẩn Phó hiệu trưởng); chuẩn kiến thức kĩ năng cơ bản của chương trình; chuẩn đánh giá, xếp loại HS; tiêu chí đánh giá chất lượng trường tiểu học (gọi là kiểm định chất lượng ), trường học thân thiện, HS tích cực; Các chuẩn, tiêu chí hiện hành có tác dụng định hướng trong phấn đấu rèn luyện, nâng cao năng lực quản lý BGH, năng lực thực hiện nhiệm vụ dạy học của GV trong công tác xây dựng đội ngũ, trong điều hành các hoạt động của nhà trường Vì vậy trong công tác quản lý, dựa vào các yêu cầu của chuẩn và điều kiện thực tế của đơn vị, BGH nhà trường đã đề ra các kế hoạch ngắn hạn, dài hạn, đánh giá được điều kiện hiện tại, xây dựng lộ trình thực hiện theo từng kế hoạch cụ thể

Việc phân cấp quản lý trong nhà trường là một trong những cách tư duy mang tính hệ thống.

Việc phân cấp quản lý được nhà trường cụ thể hóa, khách quan; Các thành viên trong nhà trường tích cực tham gia vào quá trình đưa ra các quyết định liên quan đến nhà trường, tham gia quản lý, điều hành các hoạt động trong nhà trường Như vậy, đổi mới quản lý giáo dục không chỉ đổi mới trong công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành của BGH mà còn đổi mới từ GV chủ nhiệm, GV bộ môn đến tổ trưởng chuyên môn Sự phân cấp trong công tác quản lý đã góp phần nâng cao vai trò, trách nhiệm của hệ thống cán bộ giáo viên, nhân viên trong nhà trường nhằm tới sự phát triển đồng bộ của nhà trường về mọi mặt

Trong quản lý giáo dục nhà trường đã tránh đi sâu vào công tác hành chính, sự vụ, mà phát huy tối đa tính tự chủ, sáng tạo và mang lại hiệu quả cao

Trang 8

Ứng dụng khoa học tư duy hệ thống trong công tác đầu tư, quản lý cơ sở

vật chất (CSVC) đã góp phần lớn trong sự phát triển chung của nhà trường

Bắt đầu từ năm học 2009 - 2010 đến thời điểm hiện tại, cơ sở vật chất của nhà trường đã được đầu tư mạnh mẽ đáp ứng yêu cầu của trường chuẩn quốc gia mức độ II và trường đạt kiểm định mức độ III Để có cơ sở vật chất đầy đủ, hiện đại phục vụ tốt nhất cho công tác giảng dạy trong nhà trường, lãnh đạo nhà trường đã rất linh hoạt trong việc tranh thủ sự ủng hộ của các cấp, các ngành và nhân dân địa phương Các nguồn đầu tư cho việc xây dựng cơ sở vật chất chủ yếu là sự đầu tư của cấp trên và sự ủng hộ từ phụ huynh học sinh (công tác xã hội hóa giáo dục), cụ thể:

Nguồn kinh phí của ngân sách cấp cho nhà trường:

Kinh phí huy động từ PHHS ủng hộ :

- Tiền ủng hộ của PHHS đầu vào lớp 1:

đựng chăn cho HS bán trú

- Tiền ủng hộ của PHHS xây nhà vệ sinh cho học sinh: 123.500.000đ

- CSVC phụ huynh mua tặng nhà trường

( VNĐ )

Tổng (VNĐ)

2010 - 2011

268.000.000

Trang 9

2011 - 2012 - 7 Ti vi 52 Inch và 7 CPU 126.000.000 152.000.000

2012 - 2013

179.300.000

- Hệ thống dây cáp nối mạng, công lắp đặt

40.000.000

- Hệ thống Camera lắp đặt tại các phòng học, các phòng học bộ môn, phòng chức năng, sân trường

120.000.000

15 ghế đá trị giá 10.000.000 đồng

Như vậy việc huy động đầu tư cho phát triển CSVC của nhà trường được thể hiện qua các năm học như sau:

Ứng dụng khoa học tư duy hệ thống trong quản lý, chỉ đạo đổi mới

phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá nhằm nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường.

Phương pháp dạy học bao gồm phương pháp giảng dạy (của GV) và phương pháp học tập (của HS) đều lấy HS làm trung tâm Khi đã có hệ thống cơ

sở vật chất tốt đáp ứng việc dạy và học nhà trường quan tâm đến việc đổi mới

Trang 10

phương pháp dạy học như: UDCNTT trong dạy học, sử dụng trang thiết bị dạy học hiện đại ( máy soi, máy chiếu, bảng dạy học tương tác ) Giáo viên thiết kế giáo án điện tử E- learning, thiết kế các phần mềm, tư liệu dạy học Việc đầu tư

cơ sở vật chất tác động đến việc đổi mới phương pháp dạy học Từ việc phương pháp dạy học được đổi mới, chất lượng giảng dạy của giáo viên nâng lên, gây hứng thú cho học sinh trong quá trình học tập và như thế chất lượng giáo dục được nâng cao

Đổi mới kiểm tra, đánh giá: Coi trọng việc phân tích kết quả kiểm tra, qua

đó giúp GV điều chỉnh hoạt động giảng dạy, giúp HS biết tự đánh giá kết quả học tập để phát huy điểm mạnh, khắc phục điểm yếu trong học tập; các cấp quản

lý trong nhà trường điều chỉnh, bổ sung công tác chỉ đạo dạy học, kiểm tra đánh giá một cách kịp thời Bồi dưỡng GV về kĩ năng ra đề dưới nhiều hình thức bám

sát chuẩn kiến thức, kĩ năng của chương trình với 3 cấp độ: Biết, thông hiểu, vận

dụng sáng tạo Kiểm tra đánh giá không chỉ cho điểm mà phải có nhận xét, lời phê (liên quan đến kiến thức, đạo đức của HS)

Thường xuyên đổi mới công tác thi đua, khen thưởng

Việc ứng dụng khoa học tư duy hệ thống trong các lĩnh vực quản lý, CSVC và chỉ đạo đổi mới phương pháp dạy và học đúng hướng, đúng mục đích

đã đem lại những thành công cho nhà trường trong việc nâng cao chất lượng 2 mặt giáo dục Mỗi thầy cô giáo, mỗi HS đều cố gắng thi đua đạt thành tích cao

Để khích lệ những kết quả đó nhà trường đã quan tâm đến công tác thi đua, khen thưởng Nhà trường thường xuyên đổi mới công tác thi đua, khen thưởng đảm bảo tính khoa học, công bằng, công khai từ khâu xây dựng các tiêu chí, triển khai thực hiện đến việc kiểm tra đánh giá Kiên quyết khắc phục bệnh thành tích, hình thức Gắn liền việc khen và thưởng một cách hợp lý và xứng đáng Đổi mới công tác thi đua đã tạo đà cho phong trào thi đua trong trường thực sự trở nên mạnh mẽ thúc đẩy CBGV-NV đoàn kết, cùng nhau phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ, thúc đẩy mỗi học sinh tích cực phát huy khả năng của bản thân trong học tập và rèn luyện

Các giải pháp nhằm thực hiện đổi mới công tác quản lý trong nhà trường đều có mối liên quan hữu cơ, luôn gắn kết và tác động thúc đẩy nhau để phát

Ngày đăng: 10/03/2015, 05:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w