Công tác lập BCKT là việc mà các Kiểm toán viên KTV trong Đoàn kiểm toán phải soát xét và đánh giá những kết luận rút ra từ các bằng chứng kiểm toán thu thập được, từ những số liệu, ý ki
Trang 1KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC
DuE
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP CƠ SỞ
GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC LẬP, TRÌNH DUYỆT VÀ PHÁT HÀNH BÁO CÁO KIỂM TOÁN NGÂN SÁCH ĐỊA PHƯƠNG CỦA KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC KHU VỰC IX
Chủ Nhiệm đề tài: Th.S Vũ Văn Sang Phó Chủ Nhiệm:CN Phạm Thị Mỹ Châu Thư Ký: CN Mai Thanh Thúy
- CN Nguyễn Thị Phi Vân
- CN Nguyễn Văn Thảo
9440
Hà Nội, tháng 2 năm 2012
Trang 2MỤC LỤC
H×I
Nội dung
Trang
MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
3.1 Đối tượng nghiên cứu 2
3.2 Phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Kết cấu đề tài 3
CHƯƠNG I - CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC LẬP, TRÌNH DUYỆT VÀ PHÁT HÀNH BÁO CÁO KIỂM TOÁN NGÂN SÁCH, TIỀN VÀ TÀI SẢN NHÀ NƯỚC CỦA TỈNH 1.1 Một số khái niệm cơ bản 4
1.1.1 Khái niệm về BCKT ngân sách, tiền và tài sản nhà nước 4
1.1.2 Công tác lập BCKT 4
1.1.3 Công tác trình duyệt BCKT 5
1.1.4 Công tác phát hành BCKT 7
1.1.5 Công tác kiểm tra soát xét chất lượng của BCKT 8
1.1.6 Vị trí, mục tiêu, ý nghĩa của BCKT trong Quy trình KTNN 8
1.2 Nhân tố ảnh hưởng đến công tác lập, duyệt và phát hành BCKT NSĐP 11
1.2.1 Trình độ đội ngũ KTV 11
Trang 31.2.2 Quy trình công tác lập, duyệt và phát hành BCKT NSĐP 12
1.2.3 Chất lượng dự thảo BCKT 12
1.3 Công tác lập, duyệt và phát hành BCKT và trách nhiệm của Trưởng đoàn kiểm toán, Kiểm toán trưởng và Hội đồng thẩm định cấp Vụ 12
1.3.1 Trình tự lập, trình duyệt, thông báo kết quả kiểm toán với địa phương 13
1.3.2 Nguyên tắc cần tuân thủ khi lập, trình duyệt 14
1.3.3 Các cơ sở, tiêu chí để đánh giá chất lượng 15
1.3.4 Yêu cầu BCKT 16
1.3.5 Kiểm soát chất lượng BCKT 16
1.3.6 Trách nhiệm của Trưởng đoàn kiểm toán, Kiểm toán trưởng và Hội đồng thẩm định cấp Vụ 16
1.4 Sự cần thiết và tính khả thi trong việc hoàn thiện công tác lập, trình duyệt và phát hành BCKT 18
1.4.1 Sự cần thiết của việc hoàn thiện trong lập BCKT 18
1.4.2 Tính khả thi trong việc hoàn thiện công tác lập BCKT 19
CHƯƠNG II - THỰC TRẠNG CÔNG TÁC LẬP, TRÌNH DUYỆT VÀ PHÁT HÀNH BÁO CÁO KIỂM TOÁN CỦA KTNN KV IX 2.1 Khái quát về tổ chức Bộ máy của KTNN KV IX 19
2.1.1 Lịch sử về quá trình hình thành 19
2.1.2 Về chức năng, nhiệm vụ được giao 20
2.1.3 Về đội ngũ KTV 21
2.1.4 Về tình hình hoạt động 21
2.2 Thực trạng công tác lập, trình duyệt và phát hành BCKT của KTNN KV IX thời gian qua 21
Trang 42.2.1 Về số lượng và tiến độ thực hiện công tác lập, trình duyệt và phát hành
BCKT của đơn vị từ khi thành lập đến nay 22
2.2.2 Những kết quả đạt được thể hiện qua BCKT 22
2.2.3 Những hạn chế, thiếu sót trong quá trình lập, trình duyệt và phát hành BCKT 29
2.2.4 Nguyên nhân của tồn tại hạn chế, thiếu sót 38
2.3 Kinh nghiệm học tập từ các KTNN KV, chuyên ngành 41
2.3.1 Các BCKT chính thức của KTNN 41
2.3.2 Qui trình soạn thảo 41
2.3.3 Trình các tài liệu gửi lãnh đạo KTNN 42
2.3.4 Về mặt nhân sự và tổ chức thực hiện 42
2.3.5 Bài học rút ra cho KTNN KV IX 42
CHƯƠNG III- NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC LẬP, TRÌNH DUYỆT VÀ PHÁT HÀNH BÁO CÁO KIỂM TOÁN CỦA KTNN KV IX 3.1 Giải pháp hoàn thiện trong các bước của qui trình lập BCKT 44
3.1.1 Tổ chức Đoàn kiểm toán, Tổ kiểm toán 44
3.1.2 Tổ chức Tổ biên tập Dự thảo BCKT 44
3.1.3 Tăng cường phối hợp với UBND và HĐND 45
3.1.4 Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác lập Dự thảo BCKT 48
3.1.5 Hoàn thiện tổ chức bộ máy KTNN KV IX và chính sách sử dụng cán bộ công chức 48
3.1.6 Hoàn thiện trong quá trình duyệt BCKT 49
Trang 53.1.7 Hoàn thiện trong việc thông báo kết quả kiểm toán với địa phương được kiểm toán 49 3.1.8 Trong việc phát hành BCKT 50 3.1.9 Phân định rõ trách nhiệm và quyền hạn của các cấp kiểm soát và thống nhất trình tự, phương pháp thực hiện công tác lập BCKT 50 3.2 Những điều kiện để thực hiện giải pháp nâng cao công tác công tác lập, trình duyệt và phát hành BCKT 51 3.2.1 Kiến nghị sửa đổi, Bổ sung các quy định về thời gian tổng hợp và kết cấu BCKT 51 3.2.2 Tăng cường công tác tổng hợp, đánh giá rút kinh nghiệm trong công tác lập, trình duyệt và phát hành BCKT 52 3.2.3 Kiến nghị để thực hiện các giải pháp 52
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6DANH MỤC VIẾT TẮT
KTNN: Kiểm toán nhà nước
NSNN: Ngân sách nhà nước
HĐND: Hội đồng nhân dân
UBND: Ủy ban nhân dân
BCTC: Báo cáo tài chính
KTV: Kiểm toán viên
BCKT: Báo cáo kiểm toán
NSTW: Ngân sách trung ương
NSĐP: Ngân sách địa phương
KV: khu vực
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của đề tài
Luật Kiểm toán Nhà nước (KTNN) quy định KTNN phải có trách nhiệm Báo
cáo kết quả kiểm toán hàng năm với Chính phủ, Quốc hội, Ủy Ban thường vụ
Quốc hội khi có yêu cầu Các thông tin trong Báo cáo kiểm toán (BCKT) phải
đáng tin cậy, trung thực và hợp lí để làm căn cứ cho Quốc hội về kết quả thu chi
ngân sách nhà nước (NSNN) hàng năm Qua đó, Quốc hội xem xét phê chuẩn
quyết toán ngân sách cũng như phân bổ ngân sách BCKT ngân sách, tiền và tài
sản nhà nước của tỉnh do KTNN khu vực (KV) thực hiện là Báo cáo tổng hợp về
tình hình quản lý, sử dụng ngân sách trên các lĩnh vực của địa phương được
kiểm toán, là một trong các cơ sở để KTNN tổng hợp BCKT quyết toán NSNN
và Báo cáo với Chính phủ, Quốc hội theo Luật định Việc nâng cao chất lượng
BCKT ngân sách, tiền và tài sản nhà nước của tỉnh sẽ góp phần nâng cao chất
lượng của BCKT quyết toán NSNN Từ đó có thể tư vấn cho các cơ quan Đảng,
Nhà nước, về công tác quản lý điều hành NSNN Vì thế, tổng hợp lập BCKT là
một khâu quan trọng trong quá trình kiểm toán và thực hiện tốt công tác tổng
hợp lập BCKT sẽ góp phần nâng cao chất lượng cuộc kiểm toán
KTNN KV IX được thành lập ngày 12 tháng 12 năm 2007 theo quyết định số
13/2007/QĐ-KTNN Sau hơn 3 năm thành lập và hoạt động, KTNN KV IX vừa
xây dựng tổ chức vừa đi vào hoạt động KTNN KV IX cũng đã từng Bước hoàn
thiện về tổ chức và hoạt động nói chung, hoạt động kiểm toán nói riêng và Bước
đầu đã thu được nhiều kết quả đáng khích lệ, góp phần làm lành mạnh hoá hoạt
động tài chính công, chống lãng phí, giúp Nhà nước quản lý vĩ mô nền kinh tế
Tuy nhiên, việc lập và gửi BCKT sau khi kết thúc kiểm toán tại địa phương của
đơn vị còn chậm so với quy định
BCKT là kết quả cuối cùng của cuộc kiểm toán, để chất lượng của hoạt động
kiểm toán được nâng cao thì công tác lập, xét duyệt và phát hành BCKT của
KTNN cũng phải luôn được quan tâm, chú trọng và không ngừng được Bổ sung,
Trang 8KV IX nói riêng và KTNN nói chung cần phải hoàn thiện về nội dung, phương
pháp lập và gửi BCKT quyết toán ngân sách địa phương (NSĐP)
Xuất phát từ yêu cầu nâng cao chất lượng kiểm toán của KTNN và thực trạng
của công tác lập, xét duyệt và phát hành BCKT của KTNN KV IX hiện nay vẫn
còn có một số hạn chế, nhóm nghiên cứu nhận thấy cần phải hoàn thiện công tác
lập, xét duyệt và phát hành BCKT ngân sách, tiền, tài sản nhà nước địa phương
của KTNN KV IX
2 Mục tiêu nghiên cứu
Hệ thống hoá những vấn đề lý luận về nội dung, phương pháp lập, xét duyệt,
phát hành BCKT đồng thời đánh giá đúng đắn thực trạng, phân tích, làm rõ
những tồn tại trong quá trình lập, xét duyệt, phát hành BCKT tại các đơn vị tham
mưu và KTNN KV IX
Đưa ra những ý kiến đề xuất và điều kiện để KTNN KV IX thực hiện tốt hơn
công tác lập và gửi BCKT quyết toán NSĐP
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Công tác lập, xét duyệt và phát hành BCKT của các Đoàn kiểm toán, KTNN
chuyên ngành, KTNN KV và tại các đơn vị tham mưu của KTNN
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Công tác lập, xét duyệt và phát hành BCKT trong phạm vi quá trình thực
hiện hoạt động kiểm toán của KTNN Do thời gian tìm hiểu và nghiên cứu có
hạn, nên đề tài chỉ tập trung nghiên cứu quy trình lập, xét duyệt và phát hành
BCKT của một số huyện và của tỉnh mà KTNN KV IX đã thực hiện trong niên
độ năm 2008, 2009 và 2010
4 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, thực tiễn của công tác lập, xét duyệt và phát
hành BCKT của KTNN Ban hành hướng dẫn, cũng như thực tiễn của hoạt động
Trang 9kiểm soát chất lượng kiểm toán của KTNN, phân tích những mặt còn hạn chế và
đề xuất những giải pháp hoàn thiện
Phương pháp nghiên cứu: phân tích, thống kê, hệ thống hóa…để đưa ra nội
dung, phương pháp lập và công bố BCKT
5 Kết cấu đề tài
Đề tài nghiên cứu gồm 03 chương:
Chương I: Cơ sở lý luận về công tác lập, trình duyệt và phát hành BCKT
ngân sách, tiền và tài sản nhà nước của tỉnh
Chương II: Thực trạng công tác lập, trình duyệt và phát hành BCKT của
KTNN KV IX
Chương III: Nâng cao chất lượng công tác lập, trình duyệt và phát hành
BCKT của KTNN KV IX
Trang 10CHƯƠNG I - CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC LẬP, TRÌNH DUYỆT
VÀ PHÁT HÀNH BÁO CÁO KIỂM TOÁN NGÂN SÁCH, TIỀN VÀ TÀI
SẢN NHÀ NƯỚC CỦA TỈNH
1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1 Khái niệm về BCKT ngân sách, tiền và tài sản nhà nước của tỉnh (gọi
tắt là BCKT)
BCKT là văn bản do KTNN lập và công bố để đánh giá, xác nhận, kết luận và
kiến nghị về những nội dung đã kiểm toán Hoạt động KTNN phục vụ việc kiểm
tra, giám sát của Nhà nước trong quản lý, sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà
nước; góp phần thực hành tiết kiệm, chống tham nhũng, thất thoát, lãng phí, phát
hiện và ngăn chặn hành vi vi phạm pháp luật; nâng cao hiệu quả sử dụng ngân
sách, tiền và tài sản nhà nước
1.1.2 Công tác lập BCKT
Khi kết thúc kiểm toán tại địa phương, Trưởng đoàn có trách nhiệm: tập hợp
đầy đủ các bằng chứng kiểm toán thích hợp và kết quả kiểm toán để lập BCKT;
Kiểm tra, phân loại, tổng hợp kết quả kiểm toán; Lập BCKT; Thảo luận, lấy ý
kiến thành viên Đoàn kiểm toán
Trưởng đoàn tổ chức thảo luận trong Đoàn kiểm toán để lấy ý kiến tham gia của
các thành viên Đoàn kiểm toán về đánh giá, nhận xét, kết luận và kiến nghị trong
dự thảo BCKT Xem xét, tiếp thu các ý kiến đóng góp của các thành viên trong
Đoàn kiểm toán, hoàn chỉnh dự thảo BCKT để trình Kiểm toán trưởng xét duyệt
Công tác lập BCKT là việc mà các Kiểm toán viên (KTV) trong Đoàn kiểm
toán phải soát xét và đánh giá những kết luận rút ra từ các bằng chứng kiểm toán
thu thập được, từ những số liệu, ý kiến đánh giá của các Biên bản kiểm toán
được thực hiện kiểm toán chọn mẫu tại đơn vị và sử dụng những kết luận này để
làm cơ sở cho ý kiến của mình về Báo cáo tài chính (BCTC) của đơn vị được
kiểm toán sau khi kết thúc kiểm toán tại đơn vị
Trang 11Trong ý kiến đánh giá của KTV và Đoàn kiểm toán phải xác định mức độ phù
hợp của BCTC với chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành hoặc phù hợp với
chế độ chính sách hiện hành của Nhà nước, cũng như xác định sự tuân thủ theo
các quy định pháp lý có liên quan khi lập BCTC
BCKT phải nêu rõ thực trạng, tình hình của đơn vị từ đó đưa ra những kết
luận và kiến nghị phù hợp để giúp đơn vị hiểu hơn về chế độ chính sách, khắc
Sau khi dự thảo BCKT đã được Kiểm toán trưởng xét duyệt, Trưởng đoàn
hoàn thiện dự thảo BCKT theo kết luận của Kiểm toán trưởng tại cuộc họp xét
duyệt báo cáo và gửi cho Tổng KTNN trình duyệt
Xét duyệt BCKT là một nội dung quan trọng của quá trình kiểm soát chất
lượng kiểm toán, trình tự và cấp độ xét duyệt báo cáo tùy thuộc vào sự phân cấp
quản lý, trình độ phát triển của hệ thống tổ chức KTNN, năng lực chuyên môn
của đội ngũ KTV Nhưng nhìn chung việc xét duyệt BCKT thường được thực
hiện theo trình tự hai hoặc ba bước như sau:
Thứ nhất, xét duyệt BCKT tại KTNN chuyên ngành (khu vực):
- Với vai trò là người quản lý, lãnh đạo toàn bộ hoạt động của kiểm toán
chuyên ngành (khu vực), Kiểm toán trưởng có trách nhiệm tổ chức xét duyệt dự
thảo BCKT các cuộc kiểm toán do kiểm toán chuyên ngành (khu vực) của mình
thực hiện, thành phần tham dự xét duyệt gồm :
+ Kiểm toán trưởng Kiểm toán chuyên ngành (khu vực);
Trang 12+ Bộ phận quản lý chất lượng (phòng tổng hợp) thuộc Kiểm toán chuyên
ngành (khu vực)
- Xét duyệt dự thảo BCKT tại Kiểm toán chuyên ngành (khu vực) (gọi tắt là
Hội đồng cấp vụ) sẽ phải đánh giá về thể thức, nội dung, tính hợp lý, giá trị của
dự thảo BCKT và lập biên bản cuộc họp theo mẫu quy định làm cơ sở để trình
lên Hội đồng cấp cao hơn (Hội đồng xét duyệt cấp KTNN)
Thứ hai, xét duyệt BCKT tại Hội đồng xét duyệt BCKT (gọi tắt là Hội đồng
xét duyệt cấp KTNN):
- Kiểm toán trưởng Kiểm toán chuyên ngành (khu vực) sau khi đã hoàn thiện
dự thảo BCKT theo tinh thần của cuộc họp Hội đồng cấp Vụ sẽ trình lên lãnh
đạo KTNN bản dự thảo cuối cùng kèm theo tờ trình của Kiểm toán trưởng Kiểm
toán chuyên ngành (khu vực) đánh giá, nhận xét về thực hiện mục tiêu của kế
hoạch kiểm toán, những vấn đề còn có ý kiến khác nhau của KTV chưa được xử
lý, những vấn đề cần xin ý kiến lãnh đạo KTNN Biên bản cuộc họp xét duyệt
dự thảo BCKT của Hội đồng cấp Vụ và những tài liệu khác mà Đoàn kiểm toán
thấy cần thiết
- Thành phần cuộc họp xét duyệt, gồm:
+ Lãnh đạo KTNN - chủ trì hội nghị;
+ Kiểm toán trưởng (hoặc Phó kiểm toán trưởng được ủy quyền) kiểm toán
chuyên ngành (khu vực), lãnh đạo Đoàn kiểm toán, chủ tịch Hội đồng thẩm định
cấp Vụ, Trưởng phòng tổng hợp (hoặc Phó phòng tổng hợp) của kiểm toán
chuyên ngành (khu vực) và các thành viên khác có liên quan (nếu cần thiết);
+ Đại diện Vụ Tổng hợp;
+ Đại diện Vụ Pháp chế;
+ Đại diện Văn phòng KTNN (phòng Thư ký - Tổng hợp);
+ Các thành phần khác do lãnh đạo KTNN yêu cầu khi xét thấy cần thiết
Trang 13Tùy theo tầm quan trọng và mức độ phức tạp của dự thảo BCKT mà lãnh
đạo KTNN có thể mở rộng thành phần tham dự trong cuộc họp xét duyệt, nếu
thấy cần thiết
- Tại cuộc họp xét duyệt dự thảo BCKT: lãnh đạo KTNN sau khi nghe
Trưởng đoàn kiểm toán báo cáo, các đơn vị tham mưu tư vấn (Vụ Tổng Hợp, Vụ
Pháp chế) trình bày kết quả thẩm định dự thảo BCKT, ý kiến tham gia của các
thành viên sẽ đưa ra ý kiến kết luận cuối cùng
- Sau cuộc họp xét duyệt dự thảo BCKT bộ phận quản lý chất lượng (Vụ
Tổng hợp, Vụ Pháp chế) phải dự thảo thông báo ý kiến kết luận của lãnh đạo
KTNN về BCKT được xét duyệt để gửi tới Kiểm toán trưởng chuyên ngành
(khu vực) để Kiểm toán chuyên ngành (khu vực) chỉ đạo tổ soạn thảo hoàn thiện
dự thảo BCKT theo ý kiến kết luận của lãnh đạo KTNN để hoàn chỉnh dự thảo
BCKT
1.1.4.Công tác phát hành BCKT
Sau khi Kiểm toán trưởng trình lãnh đạo KTNN BCKT đã hoàn chỉnh, Vụ
Tổng hợp rà soát, kiểm tra và đảm bảo về nội dung, các thủ tục, trình tự lập
BCKT đúng quy định; soạn thảo công văn gửi BCKT trình lãnh đạo KTNN ký
phát hành
BCKT chính thức sau khi hoàn thành phải được phát hành kịp thời mới có ý
nghĩa, việc phát hành BCKT được thực hiện theo quy định sau:
- BCKT trước hết được gửi đơn vị được kiểm toán và cấp trên của đơn vị
được kiểm toán nhằm chính thức thông báo kết quả kiểm toán để đơn vị được
kiểm toán và cấp trên của họ xem xét chỉ đạo sửa chữa, khắc phục những sai sót,
yếu kém trong chỉ đạo, điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh và trong công
tác quản lý tài chính - ngân sách, trong quản lý và sử dụng kinh phí cho các dự
án trọng điểm quốc gia
- Đối với những BCKT có ý nghĩa quan trọng, ngoài việc gửi cho đơn vị
Trang 14nước có liên quan (Bộ chủ quản, Bộ Tài chính,…) theo quy định của pháp luật
Đối với những BCKT có tầm quan trọng đặc biệt, có phạm vi ảnh hưởng sâu
rộng trong toàn xã hội còn phải gửi tới Chính Phủ, Quốc hội để báo cáo
- BCKT sau khi phát hành sẽ được phổ biến kết quả BCKT trên các phương
tiện thông tin đại chúng theo quy định của pháp luật Sự công khai kết quả kiểm
toán được càng nhiều càng có lợi cho chính sách công khai và minh bạch tài
chính của Đảng và Nhà nước
1.1.5.Công tác kiểm tra soát xét chất lượng của BCKT
Hoạt động kiểm soát chất lượng kiểm toán nhằm đảm bảo việc tuân thủ pháp
luật; tuân thủ Hệ thống chuẩn mực KTNN và các quy trình, thủ tục kiểm toán;
vận dụng thích hợp các phương pháp chuyên môn nghiệp vụ kiểm toán, góp
phần giảm thiểu rủi ro kiểm toán của KTNN
Xét duyệt BCKT là một nội dung quan trọng của quá trình kiểm soát chất
lượng kiểm toán, trình tự và cấp độ xét duyệt báo cáo tùy thuộc vào sự phân cấp
quản lý, trình độ phát triển của hệ thống tổ chức KTNN, năng lực chuyên môn
của đội ngũ KTV
1.1.6 Vị trí, mục tiêu, ý nghĩa của BCKT trong Quy trình KTNN
* Vị trí: căn cứ Mục 2 Điều 9 Luật KTNN năm 2005 quy định, BCKT của
KTNN là một trong những căn cứ để:
- Quốc hội sử dụng trong quá trình xem xét, quyết định dự toán NSNN,
quyết định phân bổ ngân sách trung ương (NSTW), quyết định dự án và công
trình quan trọng quốc gia được đầu tư từ nguồn NSNN; xem xét, phê chuẩn
quyết toán NSNN và sử dụng trong hoạt động giám sát việc thực hiện NSNN,
chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia, nghị quyết của Quốc hội về NSNN, dự án
và công trình quan trọng quốc gia, chương trình phát triển kinh tế - xã hội, dự án
và công trình xây dựng cơ bản quan trọng khác;
- Chính phủ, cơ quan quản lý nhà nước và tổ chức, cơ quan khác của Nhà
nước sử dụng trong công tác quản lý, điều hành và thực thi nhiệm vụ của mình;
Trang 15- Hội đồng nhân dân (HĐND) sử dụng trong quá trình xem xét, quyết định dự
toán, phân bổ và giám sát NSĐP; phê chuẩn quyết toán NSĐP; Đơn vị được kiểm
toán phải thực hiện các kết luận, kiến nghị của KTNN đối với các sai phạm trong
BCTC và các sai phạm trong việc tuân thủ pháp luật; thực hiện các biện pháp
khắc phục yếu kém trong hoạt động của đơn vị do KTNN phát hiện và kiến nghị
* Mục tiêu: giúp cho KTV và Cơ quan kiểm toán đưa ra ý kiến xác nhận rằng
BCTC có được lập trên cơ sở chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành (hoặc
được chấp nhận), có tuân thủ pháp luật liên quan và có phản ánh trung thực và
hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu hay không Mục tiêu của kiểm toán BCTC
còn giúp cho đơn vị được kiểm toán thấy rõ những tồn tại, sai sót để khắc phục
nhằm nâng cao chất lượng thông tin tài chính của đơn vị
- Đối với KTV, BCKT là sản phẩm của KTV cung cấp cho xã hội, nên họ
chịu trách nhiệm về ý kiến của mình
- Đối với người sử dụng thông tin được kiểm toán, BCKT là căn cứ để họ
đánh giá các thông tin này và đưa ra các quyết định kinh tế Để đảm bảo vai trò
này, báo cáo phải rõ ràng, rễ hiểu để không gây các hiểu lầm
- Đối với đơn vị được kiểm toán , trong một số trường hợp ví dụ như kiểm
toán hoạt động – BCKT va bảng kiến nghị về công tác quản lý nếu có còn là căn
cứ để đánh gía và cải tiến hoạt động của đơn vị nói chung, kiểm toán nội bộ của
công tác kế toán tài chính nói riêng
* Ý nghĩa: BCKT là giai đoạn cuối cùng của toàn bộ quy trình kiểm toán và là
sản phẩm của một cuộc kiểm toán BCKT là do KTV lập để trình bày ý kiến của
mình về các BCTC được kiểm toán để cung cấp cho các đối tượng quan tâm đến
thông tin tài chính Do đó, nó có ý nghĩa rất quan trọng:
- Đối với KTV, BCKT thực chất là tài liệu ghi nhận những kết luận cuối
cùng của KTV về thông tin đã được kiểm toán BCKT thực chất là thông báo về
kết quả của cuộc kiểm toán, nó phản ánh đầy đủ và ngắn gọn toàn bộ công việc
Trang 16tuân thủ quy trình, chuẩn mực kiểm toán, sự thành thạo của KTV trong công
việc Đồng thời nó là sản phẩm của KTV cung cấp cho xã hội, tăng cường tính
minh bạch tài chính nên họ phải chịu trách nhiệm về ý kiến nhận xét đã đưa ra
trong BCKT
- Đối với người sử dụng thông tin bên ngoài đơn vị như các cơ quan chức
năng, BCKT là căn cứ giúp họ biết được mức độ trung thực hợp lý, đáng tin cậy
của thông tin đã được kiểm toán từ đó có thể đưa ra những quyết định phù hợp
Do vậy BCKT cần phải nêu rõ mức độ phù hợp giữa thông tin được kiểm toán
với các chuẩn mực đã được xây dựng cho thông tin đó BCKT phải được trình
bày rõ ràng, dễ hiểu để người sử dụng thông tin không mắc phải những sai lầm
khi sử dụng thông tin đã được kiểm toán
- Đối với bản thân đơn vị được kiểm toán, BCKT có ý nghĩa trên 2 góc độ
Với tư cách là người cung cấp thông tin, BCKT giúp cho đơn vị được kiểm toán
chứng minh được tính hợp lý, đúng đắn của thông tin mà họ cung cấp Qua
BCKT, người sử dụng thông tin sẽ tin cậy hơn vào các thông tin do đơn vị kiểm
toán cung cấp (vì thông tin đó đã được xác nhận về mức độ tin cậy) Theo đó
các đơn vị kiểm toán sẽ thuận lợi hơn trong các mối quan hệ kinh tế với các bên
liên quan Tuy nhiên, nếu đơn vị được kiểm toán cung cấp thông tin sai lệch thì
BCKT sẽ chỉ rõ những sai phạm đó cho người sử dụng thông tin Do vậy nó
khiến cho đơn vị được kiểm toán phải thận trọng hơn trong việc thu thập, xử lý
và cung cấp thông tin cho các đối tượng Đây là yếu tố tác động rất lớn đến việc
đảm bảo chất lượng thông tin mà các đơn vị được kiểm toán cung cấp Mặt khác
với tư cách là người sử dụng thông tin BCKT giúp cho các đơn vị được kiểm
toán đưa ra quyết định đúng đắn để quản lý đơn vị bởi vì KTV đã chỉ ra những
sai phạm, những điều bất hợp lý của thông tin, đặc biệt là thông tin tài chính do
đơn vị được kiểm toán cung cấp và xử lý
Để có được những ý kiến trên, BCKT phải được lập theo đúng yêu cầu của
các chuẩn mực kiểm toán có liên quan về lập BCKT Các chuẩn mực này sẽ
giúp cho việc lập và trình bày BCKT được thống nhất về nội dung và bao gồm
Trang 17đầy đủ các yếu tố cần thiết để tránh những hiểu lầm có thể xảy ra cho người sử
dụng BCKT
Đối với BCKT do KTNN lập ngoài chức năng kiểm tra, xác nhận báo cáo
kết quả kiểm toán và tư vấn nhằm hoàn thiện công tác quản lý kinh tế, NSNN,
còn có chức năng đưa ra các kiến nghị xử lý đối với những sai phạm của doanh
nghiệp được phát hiện ra trong quá trình kiểm toán, do đó sau khi kết thúc mỗi
cuộc kiểm toán, việc lập BCKT vừa là quyền hạn vừa là trách nhiệm pháp lý đối
với KTV và cơ quan KTNN Do đó BCKT của KTNN cũng có một số đặc trưng
cơ bản, đó là:
- BCKT phải gắn liền với cuộc kiểm toán cụ thể được thực hiện theo một trình
tự nhất định, là kết quả kiểm toán dựa trên nguyên tắc hoạt động độc lập, khách
quan, trung thực, tuân thủ pháp luật và phương pháp chuyên môn, nghiệp vụ
- BCKT phải có ý kiến giải trình về tình hình tài chính, tính kinh tế, hiệu
quả, tiết kiệm của đơn vị được kiểm toán, dựa trên cơ sở những bằng chứng
kiểm toán đầy đủ, thích hợp, các quy định về chế độ quản lý kinh tế tài chính và
những chuẩn mực kê toán, chế độ kế toán hiện hành
- BCKT có mục tiêu tư vấn thể hiện thông qua các khuyến nghị đối với các
đơn vị được kiểm toán và các cơ quan quản lý nhà nước giúp khắc phục, sửa
chữa sai sót, cải tiến công tác quản lý, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực tài
chính của Nhà nước hoặc hạn chế thiệt hại
- BCKT phải được công bố, công khai trên các phương tiện thông tin đại
chúng để phát huy tác dụng răn đe những sự tái phạm trong tương lai
1.2 Nhân tố ảnh hưởng đến công tác lập, duyệt và phát hành BCKT NSĐP
1.2.1 Trình độ đội ngũ KTV
Nhân tố mang tính chất quyết định ảnh hưởng đến tiến độ và chất lượng công
tác lập, duyệt và phát hành BCKT NSĐP Đội ngũ KTV cần có trình độ, năng
lực, biết sắp xếp công việc khoa học và am hiểu chuyên môn lĩnh vực kiểm toán
Trang 181.2.2 Quy trình công tác lập, duyệt và phát hành BCKT NSĐP
Được thực hiện theo Quyết định số 03/2008/QĐ-KTNN ngày 26 tháng 02
năm 2008 của Tổng KTNN về ban hành quy định trình tự lập, thẩm định, xét
duyệt và phát hành BCKT của KTNN
Quy định này quy định trình tự, nội dung công việc, nhiệm vụ và trách nhiệm
của các đơn vị, bộ phận có liên quan trong việc lập, thẩm định, xét duyệt và phát
hành BCKT quyết toán NSĐP
1.2.3 Chất lượng dự thảo BCKT
Căn cứ Điểm d Điều 8 Quyết định số 03/2008/QĐ-KTNN ngày 26 tháng 02
năm 2008 của Tổng KTNN về ban hành quy định trình tự lập, thẩm định, xét
duyệt và phát hành BCKT của KTNN, dự thảo BCKT phải đảm bảo các nội
dung như sau:
- Tuân thủ mẫu BCKT về kết cấu, nội dung, tính hợp lý, lôgic trong trình
bày, văn phạm và lỗi chính tả;
- Tuân thủ quy định về tài liệu, hồ sơ của cuộc kiểm toán;
- Kết quả thực hiện kế hoạch kiểm toán đã được lãnh đạo KTNN phê duyệt
về mục tiêu, trọng yếu, nội dung, phạm vi, giới hạn, đơn vị được kiểm toán, thời
hạn kiểm toán;
- Tính đầy đủ, hợp lý, hợp pháp của các bằng chứng kiểm toán làm cơ sở
cho các nhận xét, đánh giá, kết luận và kiến nghị kiểm toán;
- Tính đúng đắn, đầy đủ và trung thực của số liệu; tính hợp pháp của những
nhận xét, đánh giá, xác nhận, kết luận, kiến nghị và tính khả thi của những kiến
nghị kiểm toán
1.3 Công tác lập, duyệt và phát hành BCKT và trách nhiệm của Trưởng
đoàn kiểm toán, Kiểm toán trưởng và Hội đồng thẩm định cấp Vụ
Trưởng đoàn kiểm toán có nhiệm vụ tổ chức, chỉ đạo việc lập dự thảo BCKT,
trực tiếp hoàn thiện dự thảo BCKT; chịu trách nhiệm trước pháp luật, trước
Trang 19Kiểm toán trưởng và Tổng KTNN về tính đúng đắn, trung thực, khách quan của
các số liệu, nhận xét, đánh giá, xác nhận, kết luận và kiến nghị trong BCKT của
Đoàn kiểm toán
Kiểm toán trưởng thành lập Hội đồng cấp vụ để thẩm định dự thảo BCKT; tổ
chức xét duyệt dự thảo BCKT trước khi trình lãnh đạo KTNN: chịu trách nhiệm
trước Tổng KTNN về kết quả xét duyệt và chịu trách nhiệm liên đới đối với
những sai sót về tính chính xác, hợp pháp của các ý kiến nhận xét, đánh giá, xác
nhận, kết luận và kiến nghị của dự thảo BCKT đã được KTNN KV xét duyệt
Hội đồng thẩm định cấp Vụ có nhiệm vụ tổ chức thẩm định dự thảo BCKT
trước khi Kiểm toán trưởng thông qua và trình lãnh đạo KTNN; Chủ tịch Hội
đồng thẩm định cấp vụ chịu trách nhiệm trước Kiểm toán trưởng, Tổng KTNN
về kết quả thẩm định và chịu trách nhiệm liên đới về những sai sót trong BCKT
1.3.1 Trình tự lập, trình duyệt, thông báo kết quả kiểm toán với địa phương
và phát hành BCKT
Ngày 26/02/2008 KTNN đã ra Quyết định số 03/2008/QĐ-KTNN ban hành
quy định trình tự lập, xét duyệt và phát hành BCKT của KTNN thì từ Điều 6 đến
Điều 13 của Quyết định này đã qui định rõ về trình tự này, nội dung gồm:
- Lập dự thảo BCKT
- Kiểm toán trưởng xét duyệt dự thảo BCKT
- Thẩm định dự thảo BCKT
- Lãnh đạo KTNN xét duyệt dự thảo BCKT
- Hoàn thiện dự thảo BCKT, gửi lấy ý kiến đơn vị được kiểm toán
- Tổ chức thông báo kết quả kiểm toán với đơn vị được kiểm toán
- Phát hành BCKT
Trang 201.3.2 Nguyên tắc cần tuân thủ khi lập, trình duyệt và phát hành BCKT
BCKT được lập theo mẫu quy định của KTNN, tuân thủ chuẩn mực kiểm
toán, quy định về hồ sơ kiểm toán và quy trình kiểm toán do KTNN ban hành
phù hợp với từng lĩnh vực
BCKT phải đảm bảo phản ánh đầy đủ kết quả kiểm toán từ các biên bản kiểm
toán và các bằng chứng kiểm toán
Kết thúc năm kiểm toán và kết thúc cuộc kiểm toán, KTNN lập BCKT ghi rõ
các ý kiến đánh giá, xác nhận, kết luận và kiến nghị về những nội dung đã kiểm
toán
- Chậm nhất là mười lăm ngày, kể từ ngày Đoàn kiểm toán kết thúc kiểm
toán tại đơn vị được kiểm toán, Trưởng đoàn kiểm toán phải hoàn thành dự thảo
BCKT gửi Kiểm toán trưởng để Kiểm toán trưởng trình dự thảo BCKT lên Tổng
KTNN chậm nhất là hai mươi ngày, kể từ ngày kết thúc kiểm toán tại đơn vị
được kiểm toán
- Chậm nhất là mười ngày, kể từ ngày nhận được dự thảo BCKT, Tổng
KTNN có trách nhiệm tổ chức xét duyệt, hoàn thiện dự thảo BCKT và gửi lấy ý
kiến của đơn vị được kiểm toán chậm nhất là năm ngày sau khi dự thảo báo báo
kiểm toán được xét duyệt và hoàn thiện
- Trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày nhận được dự thảo BCKT, đơn vị
được kiểm toán phải có ý kiến bằng văn bản gửi KTNN; quá thời hạn trên, đơn
vị được kiểm toán không có ý kiến thì được coi là đã nhất trí với dự thảo BCKT
- BCKT của cuộc kiểm toán được KTNN gửi cho đơn vị được kiểm toán và
các cơ quan có liên quan theo quy định của Tổng KTNN chậm nhất là bốn mươi
lăm ngày, kể từ ngày kết thúc kiểm toán tại đơn vị được kiểm toán; trường hợp
đặc biệt thì có thể kéo dài, nhưng không quá sáu mươi ngày, kể từ ngày kết thúc
kiểm toán tại đơn vị được kiểm toán
Trang 21- BCKT quyết toán NSĐP được gửi cho HĐND, Ủy ban nhân dân (UBND)
cùng cấp; đối với BCKT quyết toán ngân sách tỉnh, thành phố trực thuộc trung
ương còn được gửi cho Bộ Tài chính
1.3.3 Các cơ sở, tiêu chí để đánh giá chất lượng của BCKT
Hệ thống tiêu chí và tiêu chuẩn đánh giá chất lượng kiểm toán được xây dựng
để đánh giá các công việc của một cuộc kiểm toán phù hợp với các quy định của
pháp luật, Chuẩn mực KTNN, quy trình kiểm toán và các quy định khác của
KTNN
Các tiêu chí chung đánh giá chất lượng kiểm toán gồm:
- Mức độ thực hiện các mục tiêu của cuộc kiểm toán;
- Mức độ tuân thủ pháp luật và các quy định, kế hoạch, chương trình kiểm toán;
- Mức độ hợp lý của việc áp dụng các phương pháp kiểm toán;
- Mức độ đầy đủ, hợp pháp, thích hợp của các tài liệu, bằng chứng kiểm toán;
- Mức độ thực hiện việc quản lý và kiểm tra, soát xét kiểm toán;
- Mức độ thực hiện việc ghi chép và quản lý tài liệu làm việc thuộc hồ sơ
kiểm toán;
- Chính xác: BCKT phải chính xác về mặt nội dung số liệu, phần ý kiến
nhận xét của KTV phải dựa trên cơ sở những bằng chứng đáng tin cậy mà KT
hiểu cặn kẽ, đánh giá và chấp nhận;
- Cụ thể, rõ ràng, súc tích: Có nghĩa là khi lập BCKT, KTV phải dùng câu
văn trong sáng, ngắn gọn dễ hiểu không gây ra nhiều cách hiểu khác nhau;
- Đảm bảo kịp thời: BCKT phải lập đúng thời hạn quy định trong kế hoạch
kiểm toán hoặc trong hợp đồng kiểm toán để kịp thời cung cấp cho khách hàng
và các cơ quan quản lý theo yêu cầu;
Trang 22- Đảm bảo tính thống nhất: những nội dung, ý kiến nhận xét, đánh giá những
kiến nghị, từ ngữ sử dụng trong BCKT cần phải nhất quán không có mâu thuẫn
giữa các phần, các chỉ tiêu trong BCKT
1.3.4 Yêu cầu BCKT
BCKT được lập dựa trên các bằng chứng thu thập được trong quá trình kiểm toán
Tổng hợp số liệu về kết quả kiểm toán để xác định tăng thu, giảm chi NSNN
Tổng hợp ý kiến đánh giá, nhận xét, kết luận về việc tuân thủ luật và các cơ
chế chính sách về quản lý kinh tế tài chính của địa phương Nội dung kết luận và
kiến nghị phải phù hợp và khả thi
Ý kiến tư vấn cho các cấp, các ngành của địa phương được kiểm toán khắc
phục những tồn tại, cải tiến công tác quản lý kinh tế tài chính ngày càng có hiệu
quả cao hơn
1.3.5 Kiểm soát chất lượng BCKT
Kiểm soát trực tiếp là việc kiểm soát được thực hiện tại Đoàn kiểm toán Hình
thức kiểm soát trực tiếp chỉ được thực hiện đối với các cuộc kiểm soát đột xuất
và đối với giai đoạn Thực hiện kiểm toán
Kiểm soát gián tiếp là việc kiểm soát được thực hiện thông qua kiểm tra hồ sơ
kiểm toán Hình thức kiểm soát gián tiếp thực hiện đối với các cuộc kiểm soát
thuộc kế hoạch kiểm soát năm, các cuộc kiểm soát đột xuất
Cuộc kiểm soát trực tiếp do Đoàn kiểm soát thực hiện theo kế hoạch được
Tổng KTNN phê duyệt
Cuộc kiểm soát gián tiếp do Vụ Chế độ thực hiện theo kế hoạch được Vụ
trưởng phê duyệt
1.3.6 Trách nhiệm của Trưởng đoàn kiểm toán, Kiểm toán trưởng và Hội
đồng thẩm định cấp Vụ
Trách nhiệm của Trưởng đoàn kiểm toán
Trang 23- Chậm nhất là 15 ngày, kể từ ngày Đoàn kiểm toán kết thúc kiểm toán tại
đơn vị, Trưởng đoàn kiểm toán phải hoàn thành dự thảo BCKT gửi Kiểm toán
trưởng để tổ chức thẩm định và xét duyệt Trong quá trình lập dự thảo
BCKT,Trưởng đoàn kiểm toán phải tuân thủ các quy định của Luật KTNN, Quy
chế tổ chức và hoạt động của Đoàn KTNN và các quy định khác có liên quan;
- Khi họp Đoàn kiểm toán để lấy ý kiến tham gia hoặc xử lý các tình huống
khác trong quá trình lập dự thảo BCKT phải được ghi thành biên bản và được
lưu trữ theo quy định của Luật KTNN
Trách nhiệm của Hội đồng thẩm định cấp vụ
- Hội đồng thẩm định cấp vụ giúp Kiểm toán trưởng thẩm định dự thảo
BCKT Thành phần của Hội đồng cấp vụ tối thiểu là 05 thành viên, bao gồm: Chủ
tịch Hội đồng thẩm định cấp vụ là Kiểm toán trưởng; Phó chủ tịch Hội đồng thẩm
định cấp vụ là 01 Phó kiểm toán trưởng; 01 thành viên không thuộc Đoàn kiểm
toán; Đại diện Phòng Tổng hợp làm thư ký Hội đồng; Các thành viên khác
- Nguyên tắc làm việc của Hội đồng thẩm định cấp vụ: Hội đồng thẩm định
cấp vụ làm việc theo nguyên tắc thảo luận tập thể, biểu quyết theo đa số Hội
đồng thẩm định cấp vụ chỉ tiến hành họp thẩm định khi có đủ các thành viên của
Hội đồng và tự giải thể sau khi hoàn thành nhiệm vụ
Trách nhiệm của Kiểm toán trưởng
- Chỉ đạo Trưởng đoàn kiểm toán hoàn thiện dự thảo BCKT theo kết quả xét
duyệt
- Trước khi trình lãnh đạo KTNN xét duyệt dự thảo BCKT, Kiểm toán trưởng
phải chỉ đạo Trưởng đoàn kiểm toán, Tổ trưởng Tổ kiểm toán hoàn thành xong
việc giải trình những ý kiến chưa thống nhất của đơn vị được kiểm toán, trường
hợp không thể giải quyết được thì trình lãnh đạo KTNN xem xét, quyết định
Trưởng đoàn kiểm toán, Tổ trưởng Tổ kiểm toán phải chịu trách nhiệm về những
vấn đề còn tồn tại dẫn đến chậm phát hành BCKT theo quy định
Trang 241.4 Sự cần thiết và tính khả thi trong việc hoàn thiện công tác lập, trình
duyệt và phát hành BCKT
1.4.1 Sự cần thiết của việc hoàn thiện trong lập BCKT
Việc lập BCKT vừa là nghĩa vụ, vừa là trách nhiệm của KTV, trách nhiệm đó
được quy định trong Chuẩn mực số 14 của KTNN.(1) BCKT là sản phẩm của
một cuộc kiểm toán, thể hiện ý kiến nhận xét, đánh giá kết luận và khuyến nghị
của KTV rút ra từ các bằng chứng kiểm toán đã thu thập được trong quá trình
kiểm toán Để có một Báo cáo chất lượng tốt, đầu tiên KTV cần phải có quy
trình và phương pháp lập BCKT phù hợp với năng lực, trình độ của KTV mà
thông qua công tác lập, trình duyệt và phát hành báo cáo, KTV nêu được đầy đủ,
logic, ngắn gọn và dễ hiểu những vấn đề cần trình bày trong BCKT để đưa ra ý
kiến, nhận xét, đánh giá trung thực, độc lập, khách quan và vô tư Bên cạnh đó
trong quá trình thực hiện kiểm toán, KTV phải được cấp trên của mình kiểm tra,
giám sát, chỉ đạo và duyệt các nội dung công việc, nhất là duyệt BCKT trước khi
công bố và phát hành nhằm giảm thiếu rủi ro đến mức thấp nhất Với những vấn
đề nêu trên, việc hoàn thiện BCKT là điều tất yếu, vừa là trách nhiệm, nghĩa vụ
và quyền lợi của KTV mà trước hết là trách nhiệm của Trưởng đoàn kiểm toán
Hoàn thiện công tác lập, xét duyệt và phát hành BCKT của KTNN sẽ đem lại
chất lượng cao cho BCKT từ đó nâng cao chất lượng và hiệu quả của hoạt động
của KTNN, vì BCKT là kết quả cuối cùng của cuộc kiểm toán, chính vì thế mà
vai trò, vị thế của KTNN ngày càng được nâng cao
Đối với một cuộc kiểm toán của KTNN, giai đoạn lập, xét duyệt và phát hành
BCKT là giai đoạn tương đối dài, có khi chiếm mất hơn nửa thời gian của cuộc
kiểm toán Chính vì vậy, hoàn thiện công tác lập, xét duyệt và phát hành BCKT
sẽ có thể tiết kiệm thời gian và chi phí cho cuộc kiểm toán mà vẫn mang lại sản
phẩm cuối cùng là BCKT có chất lượng cao
Đối với đơn vị được kiểm toán mà đặc biệt là các doanh nghiệp nhà nước,
việc hoàn thiện công tác lập, xét duyệt và phát hành BCKT giúp cho đơn vị có
Trang 25được một BCKT có chất lượng cao, phản ánh đúng đắn tình hình và kết quả kinh
doanh cũng như tình hình sử dụng và huy động các nguồn lực tài chính của
mình, qua đó nâng cao uy tín của doanh nghiệp đối với Nhà nước và các đối tác,
đặc biệt là nâng cao uy tín trên thị trường huy động vốn Mặt khác, những ý kiến
nhận xét, đánh giá của KTV trong BCKT về BCTC của doanh nghiệp sẽ giúp
cho doanh nghiệp hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ, hệ thống quản lý tài
chính, kế toán của mình, từ đó nâng cao chất lượng hoạt động của doanh nghiệp
1.4.2 Tính khả thi trong việc hoàn thiện công tác lập BCKT
KTNN đã hơn 15 năm thành lập và trưởng thành, tuy chưa phải là lâu năm so
với các quốc gia khác nhưng cũng đã tích lũy một số kinh nghiệm trong lĩnh vực
kiểm toán Tổng KTNN đã ban hành Hệ thống mẫu biểu kiểm toán áp dụng
thống nhất trong toàn ngành giúp rút ngắn thời gian ở các giai đoạn kiểm toán và
đảm bảo chất lượng của BCKT, đáp ứng yêu cầu phát triển KTNN là công cụ
quan trọng và đủ mạnh của Nhà nước trong việc thực hiện kiểm tra, kiểm soát
tài chính và tài sản công
Theo quy định tại Quyết định số 02/2008/QĐ-KTNN ngày 25 tháng 02 năm
2008 thì thời gian từ khi lập, thẩm định, xét duyệt dự thảo Báo cáp kiểm toán
đến khi hoàn thành phát hành BCKT là 45 ngày Để đạt được mục tiêu về thời
gian này, lãnh đạo Đoàn kiểm toán, Tổ trưởng Tổ kiểm toán, Tổ Biên tập cần
nâng cao tinh thần trách nhiệm và tinh thần phối hợp tốt
CHƯƠNG II - THỰC TRẠNG CÔNG TÁC LẬP, TRÌNH DUYỆT VÀ
PHÁT HÀNH BÁO CÁO KIỂM TOÁN CỦA KTNN KV IX
2.1 Khái quát về tổ chức bộ máy của KTNN KV IX
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của KTNN KV IX
KTNN KV IX được thành lập theo Quyết định số 13/2007/QĐ-KTNN ngày
12/12/2007 của Tổng KTNN KTNN KV IX kiểm toán BCTC, kiểm toán tuân
thủ, kiểm toán hoạt động trong việc quản lý, sử dụng ngân sách, tiền và tài sản
Trang 26nhà nước của các tỉnh trực thuộc trung ương trên địa bàn khu vực theo sự phân
công của Tổng KTNN
2.1.2 Về chức năng, nhiệm vụ được giao
Về chức năng, KTNN KV IX là đơn vị trực thuộc Kiểm toán Nhà nước, giúp
Tổng Kiểm toán Nhà nước tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm toán báo cáo quyết
toán ngân sách các tỉnh: Tiền Giang, Long An, Bến Tre, Trà Vinh, Vĩnh Long,
Đồng Tháp
Về nhiệm vụ, sau khi thành lập đến nay thì KTNN KV IX thực hiện các nhiệm
vụ sau:
- Thứ nhất, xây dựng kế hoạch kiểm toán hàng năm của đơn vị trình Tổng
Kiểm toán Nhà nước quyết định;
- Thứ hai, xét duyệt và chịu trách nhiệm trước Tổng Kiểm toán Nhà nước và
trước pháp luật về biên bản kiểm toán và báo cáo kiểm toán do các đoàn kiểm
toán thuộc đơn vị thực hiện trước khi trình Tổng Kiểm toán Nhà nước;
- Thứ ba, tổng hợp kết quả kiểm toán và kết quả thực hiện kiến nghị kiểm
toán của các đơn vị được kiểm toán hàng năm thuộc phạm vi kiểm toán của đơn
vị, báo cáo Tổng Kiểm toán Nhà nước;
- Thứ tư, tham gia với đơn vị được giao chủ trì và các đơn vị có liên quan
chuẩn bị ý kiến về dự toán ngân sách nhà nước;
- Cuối cùng là trong trường hợp đã thực hiện kiểm toán báo cáo quyết toán
ngân sách địa phương nhưng báo cáo quyết toán ngân sách chưa được Hội đồng
nhân dân phê chuẩn thì trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Kiểm
toán Nhà nước khu vực IX phải tiếp tục làm rõ những vấn đề Hội đồng nhân dân
đề nghị để Tổng Kiểm toán Nhà nước gửi Hội đồng nhân dân quyết định (Trích
theo Quyết định số 1426/QĐ-KTNN ngày 12/12/2007)
Trang 272.1.3 Về đội ngũ KTV
Do đặc thù vùng đồng bằng sông Cửu Long hạn chế về nguồn nhân lực nên
KTNN KV IX còn gặp khó khăn trong công tác tuyển dụng cán bộ Nguồn cán
bộ từ các ngành và địa phương chuyển đến công tác chưa có kinh nghiệm trong
công tác kiểm toán Số lượng KTV có kinh nghiệm trong ngành kiểm toán
chiếm tỷ lệ thấp, trong khi số lượng KTV dự bị quá nhiều nên dẫn đến công tác
phân công lĩnh vực kiểm toán, bố trí nhân sự tham gia các Đoàn kiểm toán còn
gặp nhiều khó khăn Do đó, các Đoàn kiểm toán phải thường xuyên được tăng
cường nhân sự từ các KTNN chuyên ngành và KV trong ngành
2.1.4 Về tình hình hoạt động
Đến cuối năm 2010, đơn vị đã triển khai và hoàn thành 07 cuộc Kiểm toán
quản lý sử dụng ngân sách, tiền và tài sản Qua kiểm toán đã phát hiện được
nhiều tồn tại, sai phạm trong công tác quản lý ngân sách, tiền và tài sản nhà
nước của các đơn vị được kiểm toán Tổng hợp kết quả xử lý đến cuối năm 2010
là 329,7 tỷ đồng, trong đó tăng thu NSNN là 170,7 tỷ đồng; giảm chi NSNN là
76,2 tỷ đồng; kiến nghị các khoản xử lý tài chính khác 82,8 tỷ đồng Qua đó đã
giúp cho HĐND và UBND các tỉnh trong công tác quản lý, điều hành, sử dụng
ngân sách, tiền và tài sản của địa phương; góp phần thực hành tiết kiệm, chống
tham nhũng, thất thoát, lãng phí, phát hiện và ngăn chặn hành vi vi phạm pháp
luật, nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước
Kết quả tình hình thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán tại các tỉnh đến hết
năm 2010 như sau: tổng số kiến nghị thực hiện là 276,7 tỷ đồng đạt 84% tổng số
kiến nghị, trong đó kiến nghị tăng thu NSNN đã thực hiện 143,8 tỷ đồng, đạt tỷ
lệ 84%; kiến nghị giảm chi ngân sách đã thực hiện 68,7 tỷ đồng, đạt tỷ lệ 90%;
kiến nghị xử lý tài chính khác đã thực hiện 64,2 tỷ đồng, đạt tỷ lệ 77 %
2.2 Thực trạng công tác lập, trình duyệt và phát hành BCKT của KTNN
KV IX thời gian qua
Trang 282.2.1 Về số lượng và tiến độ thực hiện công tác lập, trình duyệt và phát hành
BCKT của đơn vị từ khi thành lập đến nay
Từ năm 2008 đến nay, KTNN KV IX đã triển khai và hoàn thành 07 cuộc
kiểm toán ngân sách, tiền và tài sản nhà nước của 6 tỉnh: Bến Tre (02 cuộc),
Vĩnh Long, Tiền Giang, Đồng Tháp, Trà Vinh, Long An Ngoài ra còn bố trí lực
lượng phối hợp với KTNN chuyên ngành VI kiểm toán BCTC năm 2009 của
Tập đoàn Bưu chính Viễn thông; phối hợp với Vụ Tổng hợp kiểm toán Chương
trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc
và miền núi năm 2009 Đã phát hành 07 BCKT đảm bảo yêu cầu về chất lượng;
tuy nhiên thời gian phát hành báo cáo của một số cuộc kiểm toán còn vượt quá
thời hạn quy định của Luật KTNN
Là đơn vị mới thành lập, đang trong quá trình hoàn thiện về tổ chức, nhân sự
còn thiếu và bất cập về cơ cấu nên số lượng cuộc kiểm toán thực hiện được còn
thấp, bình quân 03 cuộc/năm Về tổng thời gian thực hiện báo cáo bình quân là
67,2 ngày xấp xĩ bình quân của ngành nhưng chậm hơn so với quy định của Luật
KTNN Xét về chi tiết, thời gian thực hiện báo cáo phổ biến nhất là 50 ngày (03
cuộc/07 cuộc) chậm hơn so quy định là 05 ngày; có 01 BCKT có thời gian thực
hiện là 44 ngày, sớm hơn 01 ngày so với quy định; 02/07 cuộc có thời gian thực
hiện là 70 ngày Và đặc biệt 01 cuộc có thời gian thực hiện là 136 ngày do đơn
vị chậm hoàn thành Báo cáo quyết toán ngân sách năm Xét chi tiết từng giai
đoạn thực hiện thì thời gian Đoàn kiểm toán dự thảo BCKT trình xét duyệt bình
quân 11,7 ngày/20 ngày theo quy định; thời gian hoàn chỉnh sau thẩm định cấp
vụ và trình KTNN xét duyệt bình quân là 9,3 ngày/10 ngày theo quy định; thời
gian hoàn chỉnh sau khi KTNN xét duyệt đến khi phát hành bình quân là 47,7
ngày/15 ngày theo quy định, trong đó thời gian bình quân từ khi xét duyệt của
KTNN đến khi thông qua tại tỉnh là 16,4 ngày
2.2.2 Những kết quả đạt được thể hiện qua BCKT
Về tiến độ triển khai kế hoạch kiểm toán: tất cả các Đoàn kiểm toán đều kết
thúc kiểm toán tại đơn vị đúng thời gian quy định
Trang 29Về chất lượng kiểm toán: được sự quan tâm lãnh, chỉ đạo của lãnh đạo
KTNN, lãnh đạo KTNN KV cùng sự cố gắng, nỗ lực của cán bộ, KTV, các
Đoàn kiểm toán đều hoàn thành tốt nhiệm vụ kiểm toán, đã phát hiện nhiều sai
phạm trong quản lý tài chính, ngân sách của các địa phương, đơn vị; kiến nghị
đề xuất các Bộ, ngành trung ương nghiên cứu xem xét cơ chế, chấn chỉnh để
tăng cường quản lý tài chính trong một số lĩnh vực về quản lý thuế, phát thanh
truyền hình và đầu tư xây dựng cơ bản trên địa bàn địa phương nhằm tháo gỡ
những vướng mắc về cơ chế chính sách đang vướng mắc gây khó khăn cho địa
phương
Nhìn chung, các Đoàn kiểm toán đã thực hiện kiểm toán, lập biên bản kiểm
toán và tổng hợp vào BCKT các nội dung được ghi trong các quyết định kiểm
toán, hoàn thành các mục tiêu kiểm toán xác định trong kế hoạch kiểm toán đã
được KTNN phê duyệt và làm rõ các trọng yếu, trọng tâm kiểm toán đã xác định
trong kế hoạch kiểm toán chi tiết
Trong khâu trình duyệt, nhìn chung, các dự thảo BCKT đã có nhiều phát hiện
kiểm toán trong quản lý và điều hành ngân sách, các ý kiến đánh giá, nhận xét,
kết luận và kiến nghị kiểm toán phù hợp với các phát hiện kiểm toán, nội dung
đánh giá giữa các mục trong BCKT, giữa các nội dung và phụ biểu về cơ bản
đảm bảo tính lôgic, thống nhất về số liệu
Báo cáo đã phản ánh các mục tiêu và nội dung kiểm toán chủ yếu theo kế
hoạch kiểm toán đã được duyệt; phản ánh được thực tế hoạt động quản lý tài
chính, ngân sách và được sự thống nhất ghi nhận của chính quyền địa phương
khi thông qua dự thảo báo cáo cũng như đạt tỷ lệ thực hiện kiến nghị đạt khá cao
sau khi báo cáo được phát hành
2.2.2.1 Theo các khâu thực hiện
Về cơ bản, các dự thảo BCKT đã tuân thủ theo kết cấu, nội dung quy định tại
Quyết định số 02/2007/QĐ-KTNN ngày 26/6/2007 của Tổng KTNN về ban
hành hệ thống mẫu biểu hồ sơ kiểm toán
Trang 30Trong khõu dự thảo, cỏc Đoàn kiểm toỏn đó hoàn thành dự thảo BCKT và
trỡnh hội đồng thẩm định cấp vụ xột duyệt đảm bảo đỳng mẫu biểu, thời gian
theo quy định hiện hành của KTNN (thụng qua cỏc bỏo cỏo thẩm định của cỏc
vụ chức năng thuộc KTNN) Cụ thể về thời gian tổng hợp dự thảo và trỡnh hội
đồng thẩm định cấp vụ xột duyệt của 07 Đoàn kiểm toỏn do đơn vị thực hiện
bỡnh quõn là 11,7 ngày so với thời gian quy định là 20 ngày Cụ thể, trong năm
2010 thời gian tổng hợp của Đoàn kiểm toỏn tỉnh Bến Tre là 07 ngày/20 ngày,
Đoàn kiểm toỏn tỉnh Trà Vinh là 23 ngày/20 ngày và Đoàn kiểm toỏn tỉnh Đồng
Thỏp là 13 ngày/20 ngày
Trong khõu trỡnh duyệt, cỏc vụ chức năng thuộc KTNN tổ chức thẩm định Dự
thảo BCKT đó được điều chỉnh theo ý kiến thẩm định của hội đồng thẩm định
cấp vụ theo đỳng quy định Trờn cơ sở tiếp thu ý kiến thẩm định của cỏc vụ chức
năng, KTNN KV tổ chức thụng qua Dự thảo BCKT với địa phương, tiếp thu ý
kiến của địa phương và ý kiến kết luận của lónh đạo KTNN, hoàn chỉnh và trỡnh
phỏt hành theo đỳng quy định
Qua cỏc bỏo cỏo kiểm tra của đơn vị đối với hoạt động của cỏc Đoàn kiểm
toỏn cho thấy cỏc Đoàn kiểm toỏn đó tuõn thủ nghiờm cỏc quy định tại Quyết
định số 04/2007/QĐ-KTNN ngày 02/8/2007 của Tổng KTNN ban hành quy
trỡnh kiểm toỏn; tuõn thủ cỏc quy định tại Quyết định số 556/QĐ-KTNN ngày
11/7/2006 và Quyết định số 05/2009/QĐ-KTNN ngày 05/10/2009 của Tổng
KTNN ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của Đoàn KTNN
a Khõu lập Dự thảo BCKT
Tổ soạn thảo thu nhận và kiểm tra các biên bản kiểm toán, bằng chứng kiểm
toán, tổng hợp những số liệu kiểm toán, tình hình và những thông tin thu đ−ợc về
đối t−ợng kiểm toán
Tổ soạn thảo tiến hành lập dự thảo BCKT theo mẫu biểu quy định, giao nhiệm
vụ cho các thành viên theo từng nội dung, từng lĩnh vực và chuyên đề theo từng
phần trong dự thảo BCKT Sau đó tổng hợp lại để hoàn chỉnh dự thảo BCKT
Trang 31Trưởng đoàn kiểm toán có trách nhiệm lấy ý kiến các thành viên trong đoàn
kiểm toán về dự thảo BCKT Chậm nhất là 15 ngày, kể từ ngày đoàn kiểm toán
kết thúc kiểm toán tại đơn vị được kiểm toán, Trưởng đoàn kiểm toán phải hoàn
thành dự thảo BCKT gửi Kiểm toán trưởng
Dự thảo BCKT được thông qua với hội đồng thẩm định cấp vụ, bao gồm:
Kiểm toán trưởng, các Phó kiểm toán trưởng trong các đơn vị, lãnh đạo đoàn
kiểm toán, tổ soạn thảo báo cáo, tổ trưởng các tổ kiểm toán Trong trường hợp
cần thiết, Kiểm toán trưởng mời thêm các kiểm toán viên khác
Dự thảo BCKT sau khi đã thẩm định được gửi về Vụ Tổng hợp, Vụ Pháp chế
và Văn phòng KTNN để đăng ký xét duyệt
Sau khi dự thảo BCKT được xét duyệt, đoàn kiểm toán tiến hành gửi cho đơn
vị được kiểm toán để lấy ý kiến tham khảo
Mặc dự trình tự các bước và nội dung công việc của từng bước được quy định
tương đối rõ ràng, cụ thể và hợp lý Tuy nhiên, trong thực tế các đoàn kiểm toán
chưa áp dụng đầy đủ dẫn đến tình trạng BCKT chưa đảm bảo chất lượng về cả
thể thức, nội dung và thời gian lập báo cáo Do Trưởng đoàn kiểm toán chưa
quan tõm đỳng mức đến việc lập đề cương để định hướng cho kiểm toán viên lập
dự thảo báo cáo hoặc việc kiểm tra dự thảo sau khi lập và trước khi thẩm định;
tình trạng này dẫn đến kết quả là báo cáo phản ánh không đầy đủ tình hình kết
quả kiểm toán tại các đơn vị cấp dưới Chỉ phản ánh đầy đủ các hiện tượng sai
phạm, chỉ phản ánh tình hình, hiện tượng, không phân tích đánh giá được bản
chất của sự việc hay chỉ lập đề cương một cách khái quát, không đi vào chi tiết
các vấn đề, phân công mỗi người viết một phần báo cáo Do đó, BCKT chưa
phản ánh được đầy đủ, súc tích các sự việc xảy ra để quy về một mối, dẫn đến
phản ánh trùng lặp, tản mạn, dài dòng, BCKT thiếu logic và thống nhất từ đầu
đến cuối Vì vậy, BCKT không đảm bảo chất lượng, không phản ánh đúng thực
trạng về quản lý, sử dụng kinh phí, tài sản, nguồn vốn của Nhà nước tại các đơn
vị được kiểm toán… Ngay từ khi tiến hành cuộc kiểm toán, trong quá trình chỉ
đạo thực hiện kế hoạch kiểm toán đã được Tổng KTNN phê duyệt, trong kế
Trang 32Vì vậy phải hình thành ngay đề cương khái quát của BCKT theo mẫu BCKT mà
Tổng Kiểm toán đã quy định cho cuộc kiểm toán và trong quá trình chỉ đạo kiểm
toán, trưởng đoàn kiểm toán đã phải lập, chỉnh sửa để hoàn thành một dự thảo
BCKT chi tiết, hoàn chỉnh, phù hợp với tình hình hoạt động của đơn vị được
kiểm toán vi chỉ có Trưởng đoàn kiểm toán mới có được những thông tin đầy đủ,
toàn diện và hệ thống nhất về đơn vị được kiểm toán
Trình độ, năng lực tổng hợp, phân tích và khả năng chuyên môn theo chuyên
ngành của kiểm toán viờn còn hạn chế
Việc tổng hợp số liệu,tình hình thông tin của các biên bản kiểm toán chưa
bám sát vào đề cương báo cáo và chưa chú ý đến mối quan hệ giữa các số liệu
chi tiết trong hệ thống số liệu tổng hợp
Người tổ trưởng được phân công soạn thảo văn báo cáo không được tham dự
toàn bộ các cuộc kết luận kiểm toán ở các tổ kiểm toán mà chỉ căn cứ vào các
biên bản kiểm toán để tổng hợp, do vậy nhiều khi không nắm được đầy đủ tình
hình một cách chủ động
Các biên bản kiểm toán được lập chưa thống nhất về nội dung, về kết cấu và
chưa thật phù hợp với nội dung, kết cấu của mẫu báo cáo chung Nội dung chi
tiết của mẫu biên bản chưa được lập thống nhất giữa các tổ, nhất là nội dung của
bản báo cáo còn tản mạn chưa có các chỉ tiêu đồng nhất để phản ánh cùng một
hiện tượng, dẫn đến tình trạng phổ biến là chỉ phản ánh số liệu mà thiếu hẳn
đánh giá, phân tích, nhận xét hoặc chỉ phân tích đánh giá nhận xét mà không có
số liệu chứng minh
b Khõu trỡnh duyệt Dự thảo BCKT
Tại cuộc họp xột duyệt BCKT dưới sự chủ trỡ của lónh đạo KTNN, Kiểm toán
trưởng hoặc trưởng đoàn kiểm toán trình bày tóm tắt việc thực hiện kế hoạch kiểm
toán đã được phê duyệt và những vấn đề cần xin ý kiến lãnh đạo KTNN, đại diện
Vụ Tổng hợp và Vụ Pháp chế trình bày kết quả thẩm định BCKT, các thành viên
trong cuộc họp xét duyệt thảo luận các vấn đề được nêu trong báo cáo thẩm định
của các đơn vị tham mưu Sau đó, Kiểm toán trưởng hoặc Trưởng đoàn kiểm toán
Trang 33nêu ý kiến giải trình và ý kiến tiếp thu về các vấn đề do các đơn vị thẩm định đề
nghị và ý kiến chỉ đạo của lãnh đạo KTNN và cuối cùng lãnh đạo KTNN kết luận,
ý kiến kết luận của lãnh đạo KTNN là ý kiến kết luận cuối cùng
Trưởng Đoàn kiểm toán chỉ đạo tổ soạn thảo hoàn chỉnh dự thảo BCKT theo ý
kiến kết luận của lãnh đạo KTNN, giải trình bằng văn bản những nội dung không
tiếp thu trong báo cáo thẩm định của các đơn vị chức năng theo kết luận của lãnh
đạo KTNN
Đến đõy kết thỳc giai đoạn lập BCKT và xột duyệt BCKT để tổ chức thụng
qua BCKT đối với đơn vị được kiểm toỏn
c Khõu thụng qua Dự thảo BCKT với địa phương được kiểm toỏn
Sau khi lãnh đạo KTNN xét duyệt BCKT, lãnh đạo KTNN KV IX chỉ đạo
đoàn kiểm toán, chỉnh lý hoàn chỉnh BCKT lần cuối trinh lên Tổng KTNN để
xin thông qua với đơn vị được kiểm toán Được sự đồng ý của Tổng KTNN, lãnh
đạo của KTNN KV IX phối hợp với đơn vị được kiểm toán tổ chức hội nghị để
công bố chính thức kết luận của KTNN về BCTC của đơn vị được kiểm toán
Thành phần tham dự cuộc họp thông báo kết quả kiểm toán về phớa KTNN do
Tổng KTNN quy định, chủ yếu là lónh đạo KTNN, lónh đạo KTNN KV, lónh
đạo đoàn kiểm toán và một số tổ trưởng tổ kiểm toán (nếu cần thiết); về phớa đơn
vị được kiểm toỏn bao gồm thủ trưởng cơ quan (Chủ tịch hoặc Phú Chủ tịch
UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương) và các cơ quan tổng hợp giúp
việc chịu trách nhiệm về quản lý, điều hành kế toán - tài chính của đơn vị
Đơn vị được kiểm toán có quyền tham gia ý kiến đối với BCKT do cơ quan
KTNN công bố và đưa ra ý kiến chấp nhận và không chấp nhận đối với các nhận
xét, đánh giá, kiến nghị, của KTNN
Tại cuộc họp lãnh đạo KTNN chủ trì đưa ra ý kiến kết luận cuối cùng có tính
chất khẳng định
Căn cứ vào kết luận của KTNN, kiểm toán trưởng KTNN KV IX chỉ đạo đoàn
kiểm toán chỉnh sửa BCKT để lãnh đạo KTNN ký, ban hành chính thức gửi các
Trang 34d Khõu phỏt hành Dự thảo BCKT
BCKT sau khi hoàn thiện được Trưởng Đoàn kiểm toán ký và ghi rõ họ tên;
Kiểm toán trưởng KTNN khu vực IX được Tổng KTNN ủy quyền ký BCKT
BCKT trước hết được gửi đơn vị được kiểm toán và cấp trên của đơn vị được
kiểm toán nhằm chính thức thông báo kết quả kiểm toán để đơn vị được kiểm
toán và cấp trên của họ xem xét chỉ đạo sửa chữa, khắc phục những sai sót, yếu
kém trong chỉ đạo, điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh và trong công tác
quản lý tài chính - ngân sách, trong quản lý và sử dụng kinh phí cho các dự án
trọng điểm quốc gia
Theo quy định, thời gian gửi BCKT cho đơn vị được kiểm toán và các đơn vị
có liên quan chậm nhất là 45 ngày, trường hợp đặc biệt không quá 60 ngày (nếu
có lý do khách quan và được lãnh đạo KTNN cho phép) kể từ ngày kết thúc kiểm
toán tại đơn vị được kiểm toán Tuy nhiờn, do những hạn chế trong cỏc khõu lập,
trỡnh duyệt BCKT, thời gian bỡnh quõn KTNN KV IX gửi BCKT cho đơn vị được
kiểm toỏn là 50 ngày
2.2.2.2 Theo từng cấp thực hiện
Về cơ bản, cỏc dự thảo BCKT đó tuõn thủ theo kết cấu, nội dung quy định tại
Quyết định số 02/2007/QĐ-KTNN ngày 26/6/2007 của Tổng KTNN về ban
hành hệ thống mẫu biểu hồ sơ kiểm toỏn
Trong khõu dự thảo, cỏc Đoàn kiểm toỏn đó hoàn thành dự thảo BCKT và
trỡnh hội đồng thẩm định cấp vụ xột duyệt đảm bảo đỳng mẫu biểu, thời gian
theo quy định hiện hành của KTNN (thụng qua cỏc bỏo cỏo thẩm định của cỏc
vụ chức năng thuộc KTNN) Cụ thể về thời gian tổng hợp dự thảo và trỡnh hội
đồng thẩm định cấp vụ xột duyệt của 07 Đoàn kiểm toỏn do đơn vị thực hiện
bỡnh quõn là 11,7 ngày so với thời gian quy định là 20 ngày Cụ thể, trong năm
2010, thời gian tổng hợp của Đoàn kiểm toỏn tỉnh Bến Tre là 07 ngày/20 ngày,
Đoàn kiểm toỏn tỉnh Trà Vinh là 23 ngày/20 ngày và Đoàn kiểm toỏn tỉnh Đồng
Thỏp là 13 ngày/20 ngày
Trang 35Trong khâu trình duyệt, các vụ chức năng thuộc KTNN tổ chức thẩm định Dự
thảo BCKT đã được điều chỉnh theo ý kiến thẩm định của hội đồng thẩm định
cấp vụ theo đúng quy định Trên cơ sở tiếp thu ý kiến thẩm định của các vụ chức
năng, KTNN KV tổ chức thông qua Dự thảo BCKT với địa phương, tiếp thu ý
kiến của địa phương và ý kiến kết luận của lãnh đạo KTNN, hoàn chỉnh và trình
phát hành theo đúng quy định
Qua các báo cáo kiểm tra của đơn vị đối với hoạt động của các Đoàn kiểm
toán cho thấy các Đoàn kiểm toán đã tuân thủ nghiêm các quy định tại Quyết
định số 04/2007/QĐ-KTNN ngày 02/8/2007 của Tổng KTNN ban hành quy
trình kiểm toán; tuân thủ các quy định tại Quyết định số 556/QĐ-KTNN ngày
11/7/2006 và Quyết định số 05/2009/QĐ-KTNN ngày 05/10/2009 của Tổng
KTNN ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của Đoàn KTNN
2.2.3 Những hạn chế, thiếu sót trong quá trình lập, trình duyệt và phát hành
BCKT
Sự đồng thuận của địa phương, đơn vị được kiểm toán và tính khả thi của các
kiến nghị trong các BCKT trong tất cả các khâu từ tổng hợp dự thảo, trình duyệt,
thông qua tại địa phương và phát hành BCKT có thể xem xét thông qua kết quả
thực hiện kiến nghị kiểm toán của các địa phương, đơn vị được kiểm toán Kết
quả thực hiện kiến nghị kiểm toán của 07 BCKT trong thời gian qua do KTNN
KV IX thực hiện đạt khá: 276,7 tỷ đồng đạt 84% tổng số kiến nghị cao hơn bình
quân của toàn ngành
2.2.3.1 Đánh giá theo từng khâu thực hiện
a Khâu lập Dự thảo BCKT
Sau hơn 3 năm thành lập, công tác lập BCKT tại KTNN KV IX cơ bản đã đáp
ứng được yêu cầu về thời gian, nội dung và chất lượng báo cáo Tuy nhiên, nếu
so sánh với các KTNN chuyên ngành và khu vực trong ngành thì công tác lập
BCKT tại KTNN KV IX còn hạn chế, thiếu sót như sau:
Trang 36- Số lượng KTV có kinh nghiệm trong công tác kiểm toán chiếm ¼ trên tổng
số biên chế hiện có (còn lại ¾ là số lượng KTV dự bị mới vào công tác trong
ngành) Ngoài ra, KTV cũng chưa có nhiều kinh nghiệm trong công tác kiểm
toán tổng hợp và biên tập dự thảo BCKT làm ảnh hưởng đến việc phát hành
BCKT còn chậm so với thời gian quy định Bên cạnh đó, công tác thẩm định dự
thảo BCKT của Hội đồng cấp vụ và xét duyệt dự thảo BCKT còn hạn chế
Nguyên nhân là do Đoàn kiểm toán lập dự thảo BCKT chưa hoàn chỉnh và gửi
dự thảo BCKT cho Hội đồng thẩm định trong thời gian quá ngắn nên ảnh hưởng
đến công việc thẩm định
- Các Tổ trưởng chuyển tập tin kết quả kiểm toán không đúng theo phông,
cỡ chữ quy định, ghi chép kết quả kiểm toán không theo đúng mẫu BCKT nên
Tổ biên tập phải mất nhiều thời gian chỉnh sửa và bổ sung
- Tài liệu tập tin kết quả kiểm toán của các Tổ kiểm toán chỉ là những Biên
bản kiểm toán, chưa có phần tóm tắt nội dung, nên Tổ soạn thảo sẽ phải đọc lại
toàn bộ các Biên bản để nắm được nội dung, tình hình trong các Biên bản này
rồi mới đưa vào BCKT của Tỉnh, công việc này mất rất nhiều thời gian và đôi
khi Tổ soạn thảo chưa hiểu đúng nội dung cốt lỗi của vấn đề được trình bày
trong Biên bản kiểm toán Thực trạng vừa viết vừa đọc biên bản, vừa thu nhận
tài liệu này đang gây cản trở, ảnh hưởng nhiều đến thời gian và chất lượng của
việc lập BCKT
- Bên cạnh đó, do thiếu kinh nghiệm trong công tác tổng hợp, các KTV còn
lúng túng, gặp nhiều khó khăn trong công tác này, và nhiều khi các thành viên
trong Tổ soạn thảo lại được phân tổng hợp không đúng chuyên môn càng gây ra
khó khăn trong công tác này
- KTNN KV IX chưa chú trọng việc thông qua và lấy ý kiến về dự thảo
BCKT với các tất cả thành viên của Đoàn kiểm toán, mà khi Tổ soạn thảo hoàn
thành Dự thảo BCKT sẽ được trình trực tiếp lên Hội đồng thẩm định cấp vụ Các
KTV chưa xem đây là trách nhiệm và nghĩa vụ đóng góp ý kiến vào báo cáo, cứ
Trang 37kết thúc cuộc kiểm toán là hoàn thành nhiệm vụ còn việc lập báo cáo kết quả
kiểm toán là trách nhiệm của lãnh đạo đoàn KTNN chuyên nghành (khu vực)
- Nội dung BCKT chưa đầy đủ so với Kế hoạch kiểm toán tổng thể được
duyệt, phổ biến là các nội dung về đánh giá việc thực hiện các giải pháp điều hành
kinh tế vĩ mô, an sinh xã hội của Chính phủ và các Nghị quyết của Quốc hội
- Chất lượng BCKT chưa cao, còn nhiều hạn chế như: báo cáo còn dài, diễn
đạt chưa rõ ý và xúc tích, chưa đi vào trọng tâm trọng điểm của Kế hoạch kiểm
toán tổng thể được duyệt, còn một số sai sót trong lỗi chính tả, phông chữ, lỗi
viết hoa, số thứ tự các điểm mục trong dự thảo BCKT, số liệu phản ánh trên các
phụ biểu chưa có sự thống nhất với diễn giải lời văn trên dự thảo BCKT, chưa
phản ánh hết số liệu vào phụ biểu theo quy định
- Mục tiêu, nội dung kiểm toán: qua các báo cáo thẩm định của Hội đồng
thẩm định cấp vụ cho thấy trong quá trình tổng hợp dự thảo BCKT còn phát sinh
một số hạn chế như chưa thể hiện đầy đủ nội dung kiểm toán chủ yếu theo
hướng dẫn của KTNN, cụ thể: tại Dự thảo BCKT năm 2009 của tỉnh Bến Tre
chưa có những đánh giá về nội dung “Tình hình kết quả và hiệu quả thực hiện
chính sách hỗ trợ lãi suất (theo yêu cầu tại công văn số 453/KTNN-TH ngày
11/5/2010”, “Tình hình kết quả, hiệu lực, hiệu quả việc thực hiện các giải pháp
về thuế nhằm kích cầu đầu tư và tiêu dùng ngăn chặn suy giảm kinh tế tại công
văn số 471/KTNN-CN II của KTNN về việc phối hợp thực hiện kiểm toán
Chuyên đề công tác quản lý thu thuế”; tại Dự thảo BCKT năm 2009 của tỉnh Trà
Vinh chưa có những đánh giá về nội dung thực hiện 5 nhóm giải pháp theo Nghị
quyết số 30/2008/NQ-CP của Chính phủ và nội dung đánh giá công tác kiểm
soát vốn đầu tư XDCB tại Kho bạc được xác định trong Kế hoạch kiểm toán,
chưa đánh giá được nguyên nhân các khoản thu đạt cao và không đạt dự toán,
nhất là các khoản chi quản lý hành chính, nhà nước, đảng, đoàn thể trong việc
thực hiện tiết kiệm 10% Hạn chế còn thể hiện trong Dự thảo BCKT năm 2009
của tỉnh Long An qua một số nội dung kiểm toán được đánh giá nhưng chưa
Trang 38thu tiền thuê đất; thể hiện số liệu thống kê nhưng chưa có nhận xét, đánh giá về
tình hình quản lý về miễn, giảm thuế khu vực kinh tế cá thể Ngoài ra, về nội
dung các dự thảo BCKT còn phát sinh hạn chế trong việc chưa thống nhất hợp
lý giữa kết quả kiểm toán được thể hiện với nhận xét, đánh giá có liên quan; số
liệu viện dẫn trên dự thảo BCKT chưa phù hợp thống nhất với số liệu liên quan
thể hiện trên các phụ biểu
Hạn chế trong khâu dự thảo BCKT còn được phát hiện qua báo cáo thẩm định
của các vụ chức năng thuộc KTNN Cụ thể, một số nội dung kiểm toán được xác
định trong kế hoạch kiểm toán chưa được thể hiện trong dự thảo BCKT mà hội
đồng thẩm định cấp vụ chưa đề cập đến Như tại DT BCKT năm 2009 tỉnh Bến
Tre chưa đánh giá tính kinh tế, hiệu quả quản lý, sử dụng vốn, tài sản nhà nước
của doanh nghiệp nhà nước; kiểm tra việc thực hiện rà soát, sắp xếp, điều chỉnh
lại vốn đầu tư theo Nghị quyết số 10/2008/NQ-CP ngày 17/4/2008 và QĐ số
390/QĐ-TTg ngày 17/4/2008 của Thủ tướng Chính phủ; kiểm tra việc xử lý các
khoản thu - chi trên tài khoản tạm thu, tạm giữ và nguyên nhân chưa nộp NSNN
các khoản đã quá hạn nộp tại cơ quan thuế Tại dự thảo BCKT năm 2009 tỉnh Trà
Vinh chưa đánh giá hoặc đánh giá chưa đầy đủ một số nội dung đã xác định trong
Kế hoạch kiểm toán như: việc ban hành các văn bản quy định về công tác thu
thuế, việc tạo nguồn để thực hiện tạo nguồn cải cách tiền lương; chi dự phòng, các
khoản chi hỗ trợ, số tăng thu, số thưởng vượt thu; tình hình thực hiện các dự án
đầu tư từ vốn trái phiếu chính phủ, chi từ nguồn thu xổ số kiến thiết; đánh giá tính
kinh tế hiệu quả trong việc quản lý sử dụng ngân sách, tiền và tài sản Nhà nước;
tình hình quản lý tài sản nhà nước, hỗ trợ lãi suất tại các doanh nghiệp, nợ đọng
XDCB; Tại dự thảo BCKT năm 2009 của tỉnh Bến Tre việc thể hiện số liệu các
kiến nghị xử lý vào các phụ biểu chưa phù hợp về tính chất theo hướng dẫn tại
QĐ số 02/2007/QĐ-KTNN và Công văn số 427/KTNN-TH của KTNN, chưa ghi
chú nội dung các khoản thu khác trong phụ biểu để thuận lợi trong việc tổng hợp,
chưa ghi chú rõ nguyên nhân sai phạm đối với một số kiến nghị
Trang 39Ngoài ra, qua kiểm tra thực hiện kiến nghị kiểm toán của các địa phương
được kiểm toán thời gian qua đối với 07 BCKT do đơn vị thực hiện cho thấy
một số hạn chế trong khâu tổng hợp dự thảo BCKT như: việc tổng hợp thừa
hoặc thiếu kết quả kiểm toán được thể hiện trong các biên bản kiểm toán vào
BCKT (tại BCKT năm 2008 của tỉnh Vĩnh Long thiếu 1,7 tỷ đồng, thừa 6,1 triệu
đồng; tại BCKT năm 2008 của tỉnh Đồng Tháp thừa 94,8 triệu đồng); tổng hợp
kết quả do đơn vị khác thực hiện vào kiến nghị kiểm toán (BCKT năm 2008 của
tỉnh Đồng Tháp 52 triệu đồng); tổng hợp kiến nghị ghi thu ghi chi nhưng chưa
đầy đủ bằng chứng phải điều chỉnh giảm trong BCKT năm 2008 của tỉnh Đồng
Tháp 17 triệu đồng
Tính khả thi của các kiến nghị trong BCKT: trong khâu dự thảo BCKT một
số nội dung chưa mang tính khả thi cao như kiến nghị đối với Bộ Giáo dục và
Đào tạo thể hiện còn chung chung, chưa rõ ý, tổng hợp kiến nghị thu hồi tạm
ứng vào các khoản xử lý tài chính khác sẽ có nhiều khó khăn và chậm trong thực
hiện kiến nghị (dự thảo BCKT năm 2009 của tỉnh Bến Tre); kiến nghị thu hồi
chi phí ban quản lý dự án và chi phí khác nhưng chưa có thể hiện nội dung đánh
giá, nhận xét trong dự thảo BCKT năm 2009 của tỉnh Trà Vinh
Qua thẩm định của các vụ chức năng thuộc KTNN cho thấy trong quá trình
tổng hợp dự thảo BCKT còn một số nội dung kết luận và kiến nghị chưa được
nêu đầy đủ, thống nhất hợp lý những cơ sở pháp lý trong phần kết quả kiểm toán
hoặc nhận xét, đánh giá mang tính chủ quan thiếu bằng chứng, số liệu chứng
minh cụ thể Ngược lại một số phát hiện kiểm toán đã được nêu trong phần kết
quả kiểm toán nhưng chưa có nội dung kết luận và kiến nghị (tại dự thảo BCKT
năm 2009 của tỉnh Bến Tre, Trà Vinh và Long An)
b Khâu trình Dự thảo duyệt BCKT
Do công tác lập BCKT còn chậm nên gửi dự thảo BCKT trình KTNN xét
duyệt có lúc vượt quá thời gian quy định
Trang 40Do Trưởng đoàn chưa quan tâm đúng mức đến công tác biên tập, kiểm tra
tổng thể kết quả kiểm toán nên khi trình KTNN xét duyệt BCKT, công tác hoàn
thiện BCKT chưa đạt yêu cầu của Vụ Tổng hợp và Pháp chế và phải chỉnh sửa
nhiều lần
c Khâu thông qua BCKT với địa phương được kiểm toán
Sau khi hoàn thiện BCKT theo Báo cáo thẩm định của Vụ Tổng hợp, Vụ Pháp
chế, dự thảo BCKT được gửi cho địa phương được kiểm toán Nhưng tại một số
cuộc kiểm toán, địa phương phản hồi chậm và còn giải trình nhiều nên ảnh
hưởng đến tiến độ
Về tính khả thi của các kiến nghị trong BCKT: hạn chế về tính khả thi của các
kiến nghị trong khâu này là kiến nghị liên quan đến chế độ, chính sách chi cho
con người do địa phương vận dụng sai theo hướng mở rộng so với quy định
chung và nhiều người có liên quan đến lợi ích Do đó, khi thông qua dự thảo
BCKT, chính quyền địa phương có giải trình tình hình quản lý thực tế và đề
nghị không kiến nghị xử lý những nội dung trên Ví dụ như việc UBND tỉnh
Long An có giải trình tình hình quản lý thực tế và kiến nghị KTNN không đề
nghị hủy bỏ các quy định về chế độ đi học cho cán bộ, công chức, viên chức
(nội dung hỗ trợ cho CBCC là nữ đi học) tại Quyết định số 23/2007/QĐ-UBND
ngày 25/6/2007 của UBND tỉnh Long An về việc sửa đổi, bổ sung chế độ đi học
cho cán bộ, công chức, viên chức nhưng không phù hợp quy định tại điểm b,
mục 1, Phần II Thông tư số 51/2008/TT-BTC ngày 16/6/2008 của Bộ Tài chính
về việc hướng dẫn quản lý và sử dụng kinh phí đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công
chức nhà nước; Quy định giảm 50% học phí cho các học sinh là con của các cặp
vợ chồng được Chi cục Dân số và Kế hoạch hóa gia đình cấp chứng nhận thôi đẻ
hẳn theo hướng dẫn số 1793/LS-SGDĐT-STC ngày 07/11/2008 của liên Sở
Giáo dục và Đào tạo, Sở Tài chính căn cứ vào điểm 3, Điều 1 Quyết định số
56/2006/QĐ-UBND ngày 10/11/2006 về mức thu học phí hàng năm giai đoạn
2006-2010 chưa phù hợp với quy định tại Nghị định 75/NĐ-CP ngày 02/8/2006
của Chính phủ; Quy định cho bảo lưu phụ cấp ưu đãi 01 năm đối với giáo viên,