1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dựng đề án đào tạo tiến sỹ chuyên ngành Chính sách khoa học và công nghệ tại Viện Chiến lược và Chính sách KHCN

115 512 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 0,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Viện Chiến lược và Chính sách Khoa học và Công nghệ là cơ quan nghiên cứu thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ có chức năng, nhiệm vụ thực hiện việc đào tạo cán bộ khoa học chuyên ngành Chính

Trang 1

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU CẤP BỘ NĂM 2009-2012

BÁO CÁO TỔNG HỢP KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

XÂY DỰNG ĐỀ ÁN ĐÀO TẠO TIẾN SĨ CHUYÊN NGÀNH CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TẠI VIỆN CHIẾN LƯỢC VÀ

CHÍNH SÁCH KH&CN

Chủ nhiệm Đề tài: TS Tạ Doãn Trịnh Thành viên tham gia:

PGS.TS Trần Ngọc Ca

TS Hoàng Xuân Long

TS Nguyễn Quang Tuấn PGS.TS Bùi Thiên Sơn Ths Nguyễn Ngọc Dung Ths Nguyễn Thị Thu Hường (thư ký)

9527

Hà Nội, năm 2012

 

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU 4

Chương 1 LUẬN CỨ VỀ VIỆC ĐÀO TẠO TIẾN SĨ CHUYÊN NGÀNH CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TẠI VIỆN CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH KH&CN 7

I Giới thiệu chung về Viện Chiến lược và Chính sách Khoa học và Công nghệ 7

1 Lịch sử hình thành và cơ cấu tổ chức 7

2 Kết quả đào tạo trình độ thạc sĩ chuyên ngành Chính sách KH&CN của Viện Chiến lược và Chính sách Khoa học và Công nghệ 8

3 Căn cứ pháp lý cho phép mở chuyên ngành tại Viện Chiến lược và Chính sách Khoa học và Công nghệ 8

II Phân tích đánh giá năng lực nghiên cứu - đào tạo của Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN 9

1 Năng lực nghiên cứu của Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN 9

2 Về kinh nghiệm trong đào tạo sau đại học chuyên ngành Chính sách khoa học và công nghệ 11

3 Năng lực đội ngũ giảng viên và hướng dẫn nghiên cứu sinh 12

4 Hợp tác quốc tế trong hoạt động đào tạo và nghiên cứu khoa học 17

5 Tiềm lực vật chất, cơ sở hạ tầng 18

III Khảo sát nhu cầu đào tạo tiến sĩ chuyên ngành chính sách KH&CN 19

1 Nhu cầu chuyên ngành đào tạo đối với sự phát triển kinh tế - xã hội 19

2 Nhu cầu đào tạo qua số liệu khảo sát điều tra của Đề án 21

Chương 2 NGHIÊN CỨU KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ ĐÀO TẠO TIỄN SĨ TRONG LĨNH VỰC CHÍNH SÁCH KH&CN 24

I Lịch sử hoạt động đào tạo tiến sĩ chuyên ngành Chính sách KH&CN trên thế giới 24

II Hiện trạng đào tạo Tiến sĩ chuyên ngành Chính sách khoa học và công nghệ và Quản lý khoa học và công nghệ tại một số nước trên thế giới 24

1 Đào tạo Chính sách khoa học và công nghệ tại Hoa Kỳ 24

2 Các nước Bắc Âu 25

3 Các nước Đông Âu 26

4 Các nước Tây Âu 28

5 Các nước châu Á 28

Chương 3 XÂY DỰNG KHUNG CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO TIẾN SĨ CHUYÊN NGÀNH CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ (Mã số 62.34.70.01) 34

Trang 3

I Văn bản pháp quy liên quan đến hoạt động đào tạo tiến sĩ 34

1 Thông tư số 38/2010/TT-BGDĐT, ngày 22 tháng 12 năm 2010 của Bộ Giáo dục và Đào tạo 34

2 Thông tư số 10 /2009/TT-BGDĐT ngày 07/5/2009 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định Quy chế Đào tạo trình độ tiến sĩ 36

II Khung Chương trình đào tạo tiến sĩ chuyên ngành Chính sách khoa học và công nghệ 37

1 Mục tiêu của chương trình đào tạo 37

2 Điều kiện tuyển sinh 38

3 Nội dung chương trình đào tạo 38

III Danh mục và Nội dung đề cương bài giảng các môn học 42

1 Học phần Quản lý KH&CN và đổi mới 42

2 Học phần Quản lý Công nghệ 51

3 Học phần Phương pháp xây dựng chiến lược phát triển KH&CN 54

4 Học phần Đầu tư và Tài chính cho KH&CN 64

5 Học phần Lập kế hoạch và tổ chức thực hiện nhiệm vụ KH&CN 71

IV Các hướng nghiên cứu đề tài luận văn, luận án và số lượng học viên, NCS có thể tiếp nhận 77

KẾT LUẬN 78

TÀI LIỆU THAM KHẢO 80

Trang 4

LỜI NÓI ĐẦU

Với xu thế toàn cầu hoá và sự phát triển của kinh tế tri thức, nguồn vốn con người và tri thức ngày càng trở thành nhân tố quyết định sự phát triển và khả năng hội nhập sâu, rộng vào nền kinh tế toàn cầu của mỗi quốc gia Chính vì vậy, cùng với giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ được coi là nền tảng và động lực then chốt của phát triển kinh tế - xã hội

Kinh nghiệm phát triển của các nước trên thế giới đã chỉ rõ, sự thành công của mỗi nước tùy thuộc vào việc tận dụng một cách chủ động và sáng tạo các cơ hội tham gia vào các công đoạn của chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị toàn cầu của quốc gia đó Do vậy, chiến lược và chính sách ngày càng đóng vai trò có ý nghĩa quyết định đối với tương lai phát triển của nền kinh tế Sứ mệnh quan trọng này của chiến lược và chính sách sẽ không thể thực hiện được nếu thiếu sự hiện diện của đội ngũ chuyên gia hoạch định chính sách khoa học và công nghệ Chính vì lẽ đó, trong thời gian gần đây, việc đào tạo đội ngũ cán bộ chuyên ngành Chính sách KH&CN trình

độ tiến sỹ trên thế giới đang ngày càng được đẩy mạnh Nhiều trung tâm đào tạo trên đại học chuyên ngành Chính sách KH&CN đã được hình thành và phát triển ở các viện nghiên cứu, trường đại học nổi tiếng ở Châu Âu, Châu Mỹ và Châu Á

Ở nước ta hiện nay, cùng với việc tăng cường đào tạo đội ngũ cán bộ hoạch định chính sách kinh tế - xã hội nói chung, việc đào tạo đội ngũ cán bộ hoạch định chính sách và quản lý khoa học và công nghệ nói riêng cũng ngày càng được chú trọng Đội ngũ cán bộ hoạch định chính sách KH&CN đã và đang thể hiện vai trò quan trọng trong việc đề ra chủ trương, đường lối và chính sách phát triển khoa học

và công nghệ, gắn kết sự phát triển khoa học và công nghệ với sự phát triển kinh tế

- xã hội của đất nước

Với nhận thức ngày càng tăng về vai trò, sứ mệnh và tác động của khoa học

và công nghệ đối với sự phát triển đất nước, các hoạt động nghiên cứu và xây dựng chính sách KH&CN ở nước ta ngày càng được đẩy mạnh Cùng với sự kiện toàn hệ thống tổ chức khoa học và công nghệ từ trung ương đến bộ, ngành và địa phương,

số lượng cán bộ cán bộ làm công tác quản lý và hoạch định chính sách khoa học và công nghệ ở Bộ Khoa học và Công nghệ, các Vụ KH&CN thuộc các Bộ, ngành ở Trung ương và các Sở KH&CN ở 63 tỉnh thành phố đã tăng lên nhanh chóng Sự phức tạp trong quản lý phát triển khoa học và công nghệ trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hoá cũng đòi hỏi chúng ta phải xây dựng và củng cố đội ngũ cán bộ nghiên cứu, hoạch định

Trang 5

chính sách khoa học và công nghệ có trình độ cao, đủ sức đáp ứng được yêu cầu mới

Điểm lại hoạt động đào tạo đội ngũ cán bộ nghiên cứu, hoạch định chính sách khoa học và công nghệ ở nước ta thời gian qua, có thể thấy,việc đào tạo chuyên ngành quản lư và chính sách khoa học và công nghệ tŕnh độ sau đại học ở nước ta mới đang dừng ở cấp học thạc sỹ Hiện nay, Trường đại học khoa học xã hội và nhân văn thuộc Đại học Quốc gia đang tiến hành việc mở mã ngành đào tạo trình độ tiến sỹ chuyên ngành quản lý khoa học và công nghệ Chưa có cơ sở đào tạo nào tiến hành đào tạo chuyên ngành Chính sách KH&CN ở trình độ tiến sỹ

Mặc dù khoa học và công nghệ, cùng với giáo dục và đào tạo, không ít lần được coi là yếu tố nền tảng, then chốt trong phát triển đất nước Tuy nhiên, sự thiếu hụt đội ngũ cán bộ nghiên cứu, hoạch định chính sách chuyên ngành chính sách khoa học và công nghệ trình độ cao hiện nay đang là một tồn tại lớn, ảnh hưởng không nhỏ đến việc hình thành các chính sách có tính khoa học và thực tiến cao để đưa khoa học và công nghệ thực sự trở thành động lực then chốt của phát triển đất nước

Viện Chiến lược và Chính sách Khoa học và Công nghệ là cơ quan nghiên cứu thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ có chức năng, nhiệm vụ thực hiện việc đào tạo cán bộ khoa học chuyên ngành Chính sách khoa học và công nghệ trình độ thạc

sỹ (mã số 60.34.70) và trình độ tiến sỹ (mã số 60.34.70.01) phục vụ cho công tác xây dựng chiến lược, chính sách và quản lý khoa học và công nghệ trong toàn quốc

Hoạt động đào tạo thạc sỹ chuyên ngành Chính sách khoa học và công nghệ (mã số 60.34.70) được bắt đầu tại Viện từ năm 1989 Cho tới nay, Viện đã đào tạo được 165 thạc sỹ Chính sách KH&CN, nhiều học viên sau khi tốt nghiệp đã phát huy tác dụng trong các cơ sở khoa học và công nghệ Bề dầy về năng lực và kinh nghiệm đào tạo thạc sỹ Chính sách KH&CN sẽ là cơ sở để Viện thực hiện tốt đào tạo tiến sỹ chuyên ngành Chính sách KH&CN

Trong thời gian qua, Viện Chiến lược và Chính sách Khoa học và Công nghệ

đã triển khai thực hiện nhiều nhiệm vụ nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực quản lý KH&CN Đã chủ trì xây dựng hoặc tham gia xây dựng nhiều chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước cung như nhiều văn bản quy phạm pháp luật quan trọng về KH&CN như: Luật Khoa học và Công nghệ, Luật Công nghệ cao và các Nghị định, Quyết định của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ Việc tiến hành đào tạo cán bộ chuyên ngành chính sách và quản lý KH&CN trình độ tiến sỹ tại Viện Chiến lược và Chính sách Khoa học và Công nghệ sẽ tạo điều kiện gắn kết chặt chẽ giữa nghiên cứu với đào tạo và giữa nghiên cứu, đào tạo với hoạt động thực tiễn Thực tiễn hoạt động đào tạo tiến sĩ chuyên ngành chính sách ở một số Viện nghiên

Trang 6

cứu về chính sách khác ở nước ta đã khẳng định tính đúng đắn và khả thi của chủ trương này

Với các lý do nêu trên, chúng tôi nhận thấy, việc xây dựng Đề án đào tạo

tiến sỹ chuyên ngành Chính sách KH&CN tại Viện Chiến lược và Chính sách Khoa học và Công nghệ là cần thiết, đáp ứng đòi hỏi và nhu cầu thực tiễn, đồng thời phù

hợp với chức năng, nhiệm vụ và năng lực của đơn vị Đề án này thực hiện trong thời gian 24 tháng với kinh phí là 550 triệu đồng

Với mục tiêu là xây dựng bộ hồ sơ trình lên các cấp có thẩm quyền để đăng

ký nhận nhiệm vụ đào tạo tiến sỹ chuyên ngành Chính sách KH&CN tại Viện Chiến lược và Chính sách Khoa học và Công nghệ, Báo cáo tổng hợp Đề án bao gồm 3 chương:

Chương 1: Luận cứ về việc đào tạo tiến sỹ chuyên ngành Chính sách khoa học và công nghệ tại Viện

Chương 2: Nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế về đào tạo tiến sỹ trong lĩnh vực Chính sách khoa học và công nghệ

Chương 3: Xây dựng khung chương trình đào tạo tiến sỹ chuyên ngành Chính sách khoa học và công nghệ (mã số 62.34.70.01)

Phụ lục Bộ hồ sơ và các văn bản đăng ký đào tạo tiến sỹ chuyên ngành Chính sách khoa học và công nghệ

Đề án này được thực hiện bởi nhóm tác giả gồm: ông Tạ Doãn Trịnh phụ trách phần tờ trình và nội dung học phần Lập kế hoạch và tổ chức thực hiện nhiệm

vụ KH&CN; ông Trần Ngọc Ca phụ trách nội dung học phần Quản lý công nghệ, ông Bùi Thiên Sơn phụ trách nội dung học phần Đầu tư và tài chính cho KH&CN, ông Hoàng Xuân Long phụ trách nội dung học phần Quản lý KH&CN và đổi mới

và học phần Phương pháp xây dựng chiến lược và phát triển KH&CN, ông Nguyễn Quang Tuấn phụ trách nội dung học phần Chính sách phát triển thị trường công nghệ, bà Nguyễn Thị Ngọc Dung phụ trách phần phân tích số liệu điều tra và các văn bản pháp quy, và ông Nguyễn Hữu Hùng phụ trách phần Kinh nghiệm đào tạo tiến sĩ chính sách KH&CN một số nước trên thế giới, và một số cộng tác viên khác

Mặc dù đã có nhiều cố gắng, song chắc chắn công trình này không tránh khỏi những thiếu sót (một phần do yếu tố khách quan như các chính sách, văn bản hướng dẫn về hoạt động đào tạo tiến sĩ thay đổi liên tục trong 2 năm đề án tiến hành nghiên cứu…) Nhóm tác giả hoan nghênh mọi ý kiến đóng góp để công trình nghiên cứu này được hoàn thiện hơn

Thay mặt nhóm nghiên cứu Chủ nhiệm đề án: Tạ Doãn Trịnh

Trang 7

Chương 1

LUẬN CỨ VỀ VIỆC ĐÀO TẠO TIẾN SĨ CHUYÊN NGÀNH

CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TẠI VIỆN CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH KH&CN

I Giới thiệu chung về Viện Chiến lược và Chính sách Khoa học và Công nghệ

1 Lịch sử hình thành và cơ cấu tổ chức

Viện Chiến lược và Chính sách Khoa học và Công nghệ là cơ quan nghiên cứu của Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường, được thành lập theo quyết định số 248/TTg, ngày 23 tháng 4 năm 1996 của Thủ tướng Chính phủ trên cơ sở hợp nhất

2 Viện: Viện Nghiên cứu Dự báo và Chiến lược Khoa học và Công nghệ (NISTFASS); Viện Nghiên cứu Quản lý Khoa học (ISM)

Ngày 8 tháng 6 năm 2009 Bộ Khoa học và Công nghệ đã ra quyết định số 955/QĐ-BKHCN Ban hành Điều lệ Tổ chức và hoạt động của Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN Quyết định này thay thế Quyết định số 101/QĐ-BKHCN ngày 18/01/2007 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Ban hành Điều lệ Tổ chức và hoạt động của Viện Chiến lược và Chính sách Khoa học và Công nghệ

Cơ cấu tổ chức của Viện bao gồm:

- Ban Nghiên cứu chiến lược và dự báo;

- Ban Chính sách nhân lực và hệ thống tổ chức KH&CN;

- Ban Chính sách đầu tư và tài chính KH&CN;

- Ban Chính sách đổi mới và phát triển thị trường công nghệ;

- Ban Đào tạo sau đại học và thông tin - thư viện;

- Văn phòng;

- Tạp chí Chính sách và quản lý KH&CN

Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN là đơn vị duy nhất đào tạo về Chính sách khoa học và công nghệ trong cả nước và là đơn vị nghiên cứu khoa học và xây dựng chính sách khoa học và công nghệ lớn nhất của đất nước

Với hàng trăm đề tài cấp Bộ, cấp cơ sở, đề án cấp nhà nước, dự án trong nước và quốc tế về nghiên cứu, xây dựng, tư vấn chính sách phát triển khoa học và công nghệ có quy mô và tính chất khác nhau, Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN đã và đang khẳng định vị thế của một Viện nghiên cứu hàng đầu về các vấn đề chính sách khoa học và công nghệ, đổi mới, dự báo khoa học và công nghệ

Trang 8

Bên cạnh những hoạt động phối hợp với các tổ chức cơ quan trong nước, Viện luôn coi trọng vai trò của hợp tác quốc tế vì những nỗ lực thúc đẩy, cải tiến chất lượng nghiên cứu, giảng dạy và đào tạo

Trong thời gian tới Viện tập trung vào chiến lược xây dựng và phát triển một

số hướng nghiên cứu và mở rộng quan hệ hợp tác với các Viện nghiên cứu lớn trong khu vực và trên thế giới

2 Kết quả đào tạo trình độ thạc sĩ chuyên ngành Chính sách KH&CN của Viện Chiến lược và Chính sách Khoa học và Công nghệ

Với những thành tựu đã đạt được, Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN đang khẳng định là một đơn vị nghiên cứu và đào tạo chất lượng cao về chuyên ngành Chính sách KH&CN Viện luôn xem việc đáp ứng nhu cầu xã hội về những ngành đạo tạo mới có tính thích ứng với thời đại là mối quan tâm trọng yếu hiện nay

Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN đã bắt đầu đào tạo Sau Đại học ngành Chính sách Khoa học và Công nghệ từ năm 1989 đến nay Theo Quyết định

số 1539/QĐ-SĐH ngày 8/11/1989 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc mở ngành đào tạo Chính sách KH&CN tại Viện Quản lý Khoa học, nay là Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN thuộc Bộ KH&CN

Viện đã có kinh nghiệm trong công tác đào tạo Thạc sĩ chuyên ngành Chính sách Khoa học và Công nghệ Sau 22 năm triển khai chương trình, đã có trên 148 học viên bảo vệ thành công Luận văn Thạc sĩ khoa học chuyên ngành Chính sách Khoa học và Công nghệ - trong đó có 98% học viên bảo vệ luận văn tốt nghiệp đạt điểm giỏi và suất sắc Nhiều học viên sau khi tốt nghiệp trong quá trình công tác đã được bổ nhiệm giữ các vị trí lãnh đạo quan trọng trong các cơ quan quản lý khoa học công nghệ ở địa phương và trung ương Nhiều học viên sau khi tốt nghiệp đã tham gia giảng dạy đại học và sau đại học chuyên ngành quản lý, chính sách KH&CN

Trên những nền tảng về kinh nghiệm và triển vọng phát triển trong thời gian tới Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN tiếp tục định hướng mở rộng việc hợp tác đào tạo với các trường đại học, học viện theo nhu cầu của thị trường nhân lực chất lượng cao hiện nay trong lĩnh vực khoa học công nghệ

3 Căn cứ pháp lý cho phép mở chuyên ngành tại Viện Chiến lược và Chính sách Khoa học và Công nghệ

Việc mở chuyên ngành đào tạo tiến sĩ về chính sách KH&CN tại Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN dựa trên những căn cứ đã có trong văn bản của Nhà nước như: Luật giáo dục ngày 14 tháng 6 năm 2005 của Quốc hội nước Cộng hòa

Trang 9

Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam; Quyết định số 955/QĐ-BKHCN ngày 8 tháng 6 năm

2009 Ban hành Điều lệ Tổ chức và hoạt động của Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN của Bộ Trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ

II Phân tích đánh giá năng lực nghiên cứu - đào tạo của Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN

1 Năng lực nghiên cứu của Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN

Bộ Khoa học và Công nghệ là cơ quan của Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ, bao gồm: hoạt động khoa học và công nghệ; phát triển tiềm lực khoa học và công nghệ; sở hữu trí tuệ; tiêu chuẩn đo lường chất lượng; năng lượng nguyên tử, an toàn bức xạ và hạt nhân; quản lý nhà nước các dịch vụ công trong lĩnh vực thuộc Bộ quản lý theo quy định của pháp luật Nghị định số 28/2008/NĐ-CP của Chính phủ Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn

và cơ cấu tổ chức của Bộ Khoa học và Công nghệ

Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN là đơn vị có nhiều năm kinh nghiệm nghiên cứu và xây dựng chính sách khoa học và công nghệ Viện là đơn vị tiên phong trong các Viện nghiên cứu xây dựng và nhận nhiệm vụ đào tạo thạc sĩ chuyên ngành, Viện đã có 22 năm kinh nghiệm đào tạo thạc sĩ chuyên ngành Chính sách KH&CN và tiếp theo là triển khai xây dựng Chương trình đào tạo bậc Tiến sĩ chuyên ngành Chính sách KH&CN góp phần thực hiện sứ mệnh “tiên phong” và phát huy lợi thế nghiên cứu gắn với giảng dạy và đào tạo trong hoạt động khoa học

và công nghệ Các mảng kiến thức được đào tạo trong chương trình Tiến sĩ chuyên ngành Chính sách KH&CN bao gồm khối kiến thức về khoa học xã hội và nhân văn, khối kiến thức khoa học tự nhiên, khối kiến thức kinh tế, khối kiến thức luật học… sẽ tận dụng được đội ngũ giảng viên nhiều kinh nghiệm, học liệu và điều kiện cơ sở vật chất của Viện cũng như của Bộ Khoa học và Công nghệ đảm bảo hiệu quả đào tạo

Viện đặc biệt có thế mạnh và truyền thống trong việc đào tạo các nhà nghiên cứu và các cán bộ lãnh đạo, quản lý, các chuyên gia phân tích và hoạch định chính sách.Với lịch sử hơn 30 năm hình thành và phát triển, Viện đã tham gia nghiên cứu nội dung khoa học các văn bản quản lý Nhà nước; Hợp tác với các Bộ, ngành, địa phương thực hiện ứng dụng KH&CN, tăng cường vai trò KH&CN trong phát triển kinh tế - xã hội; Nghiên cứu những vấn đề lý thuyết trong quản lý KH&CN cụ thể như sau:

1.1 Kết quả nghiên cứu khoa học - xây dựng văn bản pháp quy

Viện đã được Bộ Khoa học và Công nghệ giao chủ trì, tham gia nghiên cứu nội dung khoa học của khoảng 40 văn bản quy phạm pháp luật:

Trang 10

- Nghị quyết Bộ Chính trị số 37-NQ/TW năm 1981 về Chính sách Khoa học

và kỹ thuật

- Quyết định số 175/CP Ký kết và thực hiện hợp đồng kinh tế trong nghiên cứu Khoa học và kỹ thuật

- Chiến lược quản lý khoa học kỹ thuật đến năm 2000 (năm 1986)

- Pháp lệnh chuyển giao công nghệ nước ngoài vào Việt Nam (năm 1988)

- Nghị quyết Bộ Chính trị số 26/1991 về “Khoa học và công nghệ trong sự nghiệp đổi mới”

- Luật Đầu tư nước ngoài (năm 2005)

- Chỉ thị số 99-CT Sắp xếp và kiện toàn mạng lưới các cơ quan nghiên cứu khoa học và kỹ thuật (năm 1988)

- Quyết định số 324-CT Tổ chức lại mạng lưới các cơ quan nghiên cứu Khoa học và công nghệ (năm 1992)

- Chiến lược kinh tế - xã hội Việt Nam đến năm 2000

- Nghị quyết 03/NQ-TW ngày 06/05/1993 Chiến lược Kinh tế Biển

- Luật Khoa học và Công nghệ 21/2000/QH10

- Quyết định số 175/CP-KG ngày 22/02/1999 Tầm nhìn Việt Nam đến năm

- Nghị định số 99/2003/NĐ-CP về Quy chế Khu công nghệ cao

- Quyết định số 171/2004/QĐ-TTg Đề án Đổi mới cơ chế Quản lý khoa học

và công nghệ

- Quyết định số 214/2005/QĐ-TTg Đề án Phát triển Thị trường công nghệ

- Luật Chuyển giao công nghệ (năm 2006)

- Luật Công nghệ cao (năm 2008)

- Quyết định số 439/QĐ-TTg Xây dựng tiêu chí lựa chọn Danh mục sản phẩm khoa học và công nghệ quốc gia

- Đề án Đổi mới cơ chế tài chính và đầu tư cho khoa học và công nghệ

- Đề án Tổng kết thực hiện Nghị quyết TƯ 2 Khóa VIII

Trang 11

- Đánh giá 2,5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội X về khoa học và công nghệ

- Kiểm tra triển khai, thực hiện Chiến lược phát triển KH&CN đến 2010;

- Soạn thảo Nghị Quyết TƯ 7 Khóa X về Trí thức

- Xây dựng Chiến lược và Quy hoạch PT KH&CN một số Địa phương: Quảng Nam, Quảng Ngãi, Đà Nẵng, Lạng Sơn, Thái Bình, Vĩnh Phúc, Hải Phòng, Hòa Bình

- Thực hiện N/C các vấn đề lý thuyết về quản lý KH&CN như sau:

- Nghiên cứu về Hệ thống Quốc gia về Đổi mới ( phối hợp với ACPTT)

- Nghiên cứu về Dự báo tình báo KH&CN (phối hợp với Nhật, UNIDO)

- Nghiên cứu về phương pháp luận Đánh giá Tài sản Vô hình (phối hợp với Đan Mạch)

- Nghiên cứu về Chỉ số Đổi mới (phối hợp với ACPTT)

- Nghiên cứu về Tri thức và KH&CN trong phát triển bền vững (phối hợp với WBI)

- Nghiên cứu về chính sách KH&CN ứng phó với BĐKH (phối hợp với Rockerfeller)

- Nghiên cứu về phương pháp luận xây dựng Chiến lược phát triển KH&CN (phối hợp với Hàn Quốc)

- Nghiên cứu về Chính sách đổi mới trong Khoa học và Công nghệ (phối hợp với UNIDO, IPP)

2 Về kinh nghiệm trong đào tạo sau đại học chuyên ngành Chính sách khoa học

và công nghệ

Trong vòng 22 năm tham gia hoạt động đào tạo, Viện đã đào tạo và phối hợp đào tạo 148 thạc sĩ chuyên ngành Chính sách Khoa học và Công nghệ, trong đó có nhiều người đã và đang giữ các vị trí lãnh đạo, quản lý quan trọng trong các ban, ngành của Đảng, các cơ quan nhà nước, các cấp chính quyền địa phương cho đến các tổ chức phi chính phủ, tổ chức tư nhân

Đây là nền tảng quan trọng để Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN tiếp tục đào tạo và bồi dưỡng các chuyên gia về quản lý, chính sách khoa học và công nghệ, cũng như các nhà quản lý có khả năng tác nghiệp trong hoạt động thực tiễn Việc tập trung mở rộng bậc đào tạo sau đại học chuyên ngành Chính sách KH&CN được xem là bước đi phù hợp với xu thế chung của các ngành đào tạo hiện nay, phát

Trang 12

triển theo mô hình học viện nghiên cứu tương tự như lộ trình của các Viện nghiên cứu tại các quốc gia tiên tiến trong khu vực và trên thế giới hiện nay

Trong những năm qua, việc đào tạo thạc sĩ chuyên ngành Chính sách KH&CN đã tạo cho Viện không những có kinh nghiệm trong việc nghiên cứu giảng dạy sau đại học mà còn tạo cho Viện có mạng lưới đối tác rộng là các cơ sở đào tạo

và nghiên cứu trong và ngoài nước, có đội ngũ cán bộ giảng dạy giàu kinh nghiệm,

có uy tín và là nhà nghiên cứu đầu ngành trong nhiều lĩnh vực

Năm 2010 Viện được Bộ Khoa học và Công nghệ giao thực hiện nhiệm vụ Xây dựng đề án đào tạo tiến sỹ chuyên ngành Chính sách khoa học và công nghệ tại Viện Chiến lược và Chính sách Khoa học và Công nghệ Đề án tiến hành trong 2 năm 2010 - 2011

Như vậy, việc tiến hành chương trình đào tạo Tiến sĩ Chính sách KH&CN có tính khả thi cao, trên cơ sở tận dụng những thế mạnh riêng biệt hiện có của một Viện nghiên cứu đặc thù về Chính sách và Quản lý KH&CN Thế mạnh đóng vai trò làm nền tảng này đưa đến những cơ hội cho sự liên kết đào tạo, phát triển các nguồn lực nghiên cứu và tận dụng các cơ sở vật chất, kĩ thuật và nhân lực sẵn có phù hợp với chuyên ngành đào tạo Chính sách KH&CN

3 Năng lực đội ngũ giảng viên và hướng dẫn nghiên cứu sinh

Tính đến thời điểm hiện tại số lượng cán bộ của Viện là 57 biên chế, trong

đó có 03 PGS.TS; 12 TS, 19 ThS; 06 học viên cao học Bên cạnh đó Viện còn có một đội ngũ cán bộ kiêm nhiệm; liên thông trong Bộ Khoa học và Công nghệ (10 cán bộ kiêm nhiêm đều có học vị TS trở lên và 01 PGS, TS) Đội ngũ cộng tác viên khoa học với hơn 20 nhà khoa học thuộc Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia, Học viện Khoa học Xã hội, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Trường Đại học Luật… Nếu tính số cán bộ cơ hữu của Viện và cán bộ liên thông trong Bộ Khoa học

và Công nghệ có học vị TS trở lên có thể đảm nhận việc giảng dạy lĩnh vực Chính sách KH&CN là 03 PGS.TS; 20 TS Đây là nguồn nhân lực khoa học đảm bảo đủ chất lượng để có thể triển khai giảng dạy bậc tiến sĩ chuyên ngành Chính sách khoa học và công nghệ ở Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN, Bộ Khoa học và Công nghệ

Trang 13

Đội ngũ cán bộ cơ hữu tham gia đào tạo ngành hoặc chuyên ngành trình độ thạc sĩ/trình độ tiến sĩ của cơ sở đào tạo 1

Học vị, nước, năm tốt nghiệp

Chuyên ngành Tham gia đào tạo

1994

Công nghệ Tuyển khoáng

01 đề án cấp Bộ

01 đề tài cấp tổng cục thống kê

01 nhiệm vụ NĐ thư cấp nhà nước

1997

Kinh tế của đổi mới và phát triển công nghệ

2000, Viện Chiến lược và Chính sách

KH&CN, Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Đại học kinh tế quốc dân

Trang 14

Số

TT Họ và tên, năm sinh, chức vụ hiện tại

Học hàm, năm phong

Học vị, nước, năm tốt nghiệp

Chuyên ngành SĐH (năm, CSĐT) Tham gia đào tạo Thành tích khoa học (số lượng đề tài, các bài báo)

3 Hoàng Xuân Long

Chính sách KH&CN

2 đề tài cấp nhà nước

5 cấp Bộ

1 cấp tỉnh

1 dự án

10 bài báo công bố

6 Bùi Thiên Sơn

5 đề tài cấp Bộ;

5 đề tài cấp viện

35 bài báo công bố

Trang 15

Số

TT Họ và tên, năm sinh, chức vụ hiện tại

Học hàm, năm phong

Học vị, nước, năm tốt nghiệp

Chuyên ngành SĐH (năm, CSĐT) Tham gia đào tạo Thành tích khoa học (số lượng đề tài, các bài báo)

KH&CN, Đại học khoa học xã hội và nhân văn

2 đề tài cấp nhà nước;

2 đề tài cấp Bộ

50 bài báo trên các tạp chí

Trang 16

Số

TT Họ và tên, năm sinh, chức vụ hiện tại

Học hàm, năm phong

Học vị, nước, năm tốt nghiệp

Chuyên ngành SĐH (năm, CSĐT) Tham gia đào tạo Thành tích khoa học (số lượng đề tài, các bài báo)

Chính sách KH&CN, Trường Đại học Khoa học

xã hội và nhân văn;

Đại học văn hóa

Chính sách KH&CN, Trường Đại học Khoa học

xã hội và nhân văn

Viện Chiến lược và Chính sách

KH&CN, Đại học Khoa học xã hội và nhân văn

3 đề tài cấp nhà nước, nhiều đề tài cấp bộ và cơ sở Nhiều bài báo

Trang 17

4 Hợp tác quốc tế trong hoạt động đào tạo và nghiên cứu khoa học

Hiện nay, Viện đã có quan hệ và hợp tác nhiều Viện nghiên cứu, trường đại học, tổ chức quốc tế hoạt động trong lĩnh vực nghiên cứu chiến lược, chính sách KH&CN trên thế giới Ngoài các nước có quan hệ truyền thống như CHLB Nga, Trung quốc, các nước Bắc Âu (Thụy Điển, Đan Mạch), Viện đã mở rộng mối quan

hệ với các nước trong khu vực như Thái Lan, Singapo, Malaysia, Philippin.v.v… và các nước phát triển khác như CHLB Đức, Pháp, Nhật, Hàn Quốc Viện cũng có quan hệ với các tổ chức quốc tế như: CIDA Canada, Sida Thuỵ điển, World Bank,… Đó là các yếu tố rất thuận lợi để Viện phát triển và nâng cao năng lực nghiên cứu và đào tạo của Viện

Một số hoạt động hợp tác quốc tế điển hình mà Viện đã tiến hành trong thời gian gần đây là:

- Chủ trì Dự án “Tư vấn chính sách về chiến lược,chính sách khoa học, công nghệ và đổi mới 2011-2020 và thực hiện Luật Công nghệ cao”; Cơ quan tài trợ: UNIDO

- Chủ trì dự án “Hỗ trợ xây dựng khung chiến lược KH&CN theo cách tiếp cận hệ thống đổi mới và cơ chế điều chỉnh”; Cơ quan tài trợ: “Đối tác Đổi mới Sáng tạo Việt Nam - Phần Lan”

- Chủ trì và là cơ quan điều phối dự án “Mạng lưới các thành phố châu Á có khả năng chống chịu với biến đổi khí hậu”;Cơ quan tài trợ: Quỹ Rockefeller

- Chủ trì dự án “Diễn đàn tri thức về thích ứng với biến đổi khí hậu khu vực châu Á”; Cơ quan tài trợ: Cơ quan Hợp tác Phát triển Thụy Điển (Sida)

- Chủ trì dự án “Mô hình truyền thông về rủi ro do biến đổi khí hậu hỗ trợ cho công tác thích ứng tại các cộng đồng ven biển và châu thổn tại Việt Nam”; Cơ quan tài trợ: Trung tâm Phát triển Quốc tế Canada (IDRC), Canada

- Chủ trì Dự án “Xây dựng thiết chế thị trường công nghệ cho chuyển giao công nghệ cho các DNVVN - nghiên cứu trường hợp ba ngành sản phẩm chế biến nông nghiệp là chè, rau quả và tôm”; Cơ quan tài trợ: Tổ chức Sida - Thụy điển

- Tham gia Chương trình nghiên cứu về “Quản trị tài nguyên nước ở Khu vực Mê Kông” (M-POWER) hoạt động từ đầu năm 2006 do Ngân hàng Phát triển Liên hợp Quốc về Nông nghiệp (IFAD) tài trợ Viện là một trong những sáng lập viên

- Tham gia Chương trình nghiên cứu có tên “Mạng lưới Nghiên cứu vùng

Mê Kông bền vững” (SUMERNET), do Sida - Thuỵ Điển tài trợ từ đầu năm 2006 Viện là một trong số ít sáng lập viên của Chương trình

Trang 18

- Tham gia Chương trình hợp tác nghiên cứu về Đổi mới do IBM tài trợ

- Tham gia Mạng lưới STEPAN

5 Tiềm lực vật chất, cơ sở hạ tầng

- Phòng học và trang thiết bị phòng học

Viện hiện có 3 phòng học l ý thuyết và phòng học ngoại ngữ, có đầy đủ bàn,

ghế, bục giảng, điện chiếu sáng, thiết bị âm thanh; được trang bị các phương tiện giảng dạy hiện đại như máy chiếu, máy tính, thiết bị âm thanh, điều hòa nhiệt độ… phòng học hiện đại cho chương trình đào tạo sau đại học, 1 phòng chuyên dùng bảo

vệ luận văn và luận án tiến sỹ

- Máy tính, mạng Internet

Máy tính và nối mạng Internet đến các phòng học lớn Phòng học đa năng, máy tính nối mạng Internet, máy chiếu, hệ thống âm thanh, đảm bảo giảng viên có thể áp dụng các phương pháp giảng dạy mới

Các máy tính ở các phòng, ban nghiên cứu đều có hệ thống máy tính cấu hình cao, được nối mạng nội bộ và Internet 24/24h Giảng viên có thể khai thác, trao đổi, cập nhật thông tin phục vụ giảng dạy và nghiên cứu khoa học, cũng như các công tác quản lý

Hiện nay, Viện đã lắp đặt mạng Internet không dây để phục vụ nhu cầu truy cập thông tin của cán bộ, giảng viên và học viên Viện có 2 phòng hội thảo 1 phòng

khai thác mạng với trên 45 máy tính được kết nối mạng Internet

- Thư viện, phòng đọc

Thư viện Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN là thư viện chuyên ngành đặc biệt lưu trữ, phổ biến và cung cấp các thông tin chuyên ngành về quản lý, chính sách, nghiên cứu dự báo khoa học và công nghệ Với Khung phân loại tài liệu chuyên ngành đặc biệt được xây dựng và hoàn thiện từ năm 1997 Viện đã dành cho thư viện 4 phòng tại tòa nhà B với tổng diện tích sử dụng 200m2, gồm 1 phòng cho mượn và 1 phòng đọc (1 phòng đọc tổng hợp, 1 phòng đọc báo, tạp chí và 1 phòng đọc đa năng) Mỗi năm thư viện được bổ sung từ 400 – 500 cuốn sách chuyên ngành về dự báo, chiến lược và chính sách khoa học và công nghệ, trên 40 loại báo

và tạp chí trong nước và nước ngoài

Ngoài ra thư viện còn là địa chỉ thụ hưởng tài liệu từ Quỹ Châu Á và Thư viện Quốc gia Việt Nam

- Thông tin tư liệu trong và ngoài nước

Thư viện Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN có khoảng 7.000 cuốn sách chuyên ngành về chính sách, quản lý, dự báo KH&CN, (trong đó trên 2.500 cuốn sách tham khảo bằng Tiếng Anh) và khoảng 40 tạp chí

Trang 19

Bên cạnh các sách và tạp chí, đặc biệt, thư viện có các cơ sở dữ liệu toàn văn các bài báo phục vụ nghiên cứu chiến lược và chính sách KH&CN với 600 biểu ghi; CSDL tóm tắt luận văn thạc sĩ, CSDL toàn văn các công trình nghiên cứu CSDL chuyên gia KH&CN

Các thông tin chuyên đề phục vụ cho công tác nghiên cứu, quản lý, xây dựng chiến lược và chính sách khoa học và công nghệ được cung cấp hàng tháng trên website với các nội dung mới được dịch từ các tài liệu tiếng Anh

Mục tin quốc tế cung cấp các hoạt động về nghiên cứu trong lĩnh vực Chính sách KH&CN trên toàn thế giới, xu hướng phát triển KH&CN, đổi mới KH&CN của các nước trên thế giới được cập nhật liên tục hàng ngày

Website của Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN với lượt truy cập từ 2000-3000 lượt/ngày

- Tạp chí Chính sách và Quản lý Khoa học và Công nghệ

Tạp chí Chính sách và Quản lý Khoa học và Công nghệ thuộc Viện Chiến lược và Chính sách Khoa học và Công nghệ là nơi công bố những kết quả nghiên cứu của các nhà quản lý, nhà khoa học liên quan đến chính sách về quản lý khoa học và công nghệ Tạp chí xuất bản 1 năm 4 số

III Khảo sát nhu cầu đào tạo tiến sĩ chuyên ngành chính sách KH&CN

1 Nhu cầu chuyên ngành đào tạo đối với sự phát triển kinh tế - xã hội

Các Thạc sĩ chuyên ngành Chính sách Khoa học và Công nghệ do Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN đào tạo đều đảm bảo về chất lượng, có khả năng tác nghiệp quản lý, tư vấn, nghiên cứu và giảng dạy ở các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị - xã hội, đặc biệt trong lĩnh vực khoa học và công nghệ Họ đang đóng vai trò tích cực đối với công tác quản lý trong thực tiễn Tuy nhiên, chính đội ngũ này đang rất cần bổ sung và cập nhật những kiến thức quản lý KH&CN ở bậc học cao hơn để có thể tiếp tục nghiên cứu, ứng dụng vào thực tiễn cũng như giảng dạy trong lĩnh vực liên tục có những biến động lớn này

Các thạc sĩ Chính sách KH&CN đã tốt nghiệp hơn hai mươi năm đang làm nhiều việc khác nhau thuộc lĩnh vực khoa học và công nghệ là những đối tượng đang có nhu cầu cấp thiết tiếp tục được đào tạo lên bậc tiến sĩ Đây là một nhu cầu rất lớn đòi hỏi Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN, một cơ sở đào tạo lớn cần

có những chiến lược phù hợp đáp ứng kịp thời

Bên cạnh đó, nguồn nhân lực được đào tạo đảm bảo tính khác biệt đối với các chương trình đào tạo hiện nay ở trong nước Dựa trên khối lượng kiến thức cơ bản và chuyên ngành, Chương trình được thiết kế có tham khảo các đề án đào tạo tương tự trong và ngoài nước, kết hợp hài hòa với phương pháp giảng dạy tích cực theo dự án, tiến hành phân tích các tình huống nghiên cứu cụ thể (case-study) và

Trang 20

thực tập thực tế (field - trip).Với một kết cấu hiện đại chương trình sẽ tạo dựng cơ hội cho nghiên cứu sinh tiếp cận kiến thức quản lý khoa học và công nghệ một cách

hệ thống và cơ bản, nâng cao kĩ năng vận dụng kiến thức vào giải quyết các tình huống trong thực tiễn

Với nhu cầu về đào tạo như vừa trình bày, những nghiên cứu sinh được cấp bằng Tiến sĩ chuyên ngành Chính sách KH&CN có khả năng đáp ứng những đòi hỏi ngày càng cao hơn của việc lập kế hoạch, tổ chức, triển khai các hoạt động cũng như tiến hành các nghiên cứu chuyên sâu thuộc lĩnh vực chính sách, quản lý khoa học và công nghệ trong điều kiện hội nhập quốc tế như hiện nay

Tiến bộ khoa học và công nghệ cung cấp các cơ sở năng lực cạnh tranh quốc

tế và chiếm phần lớn sự tăng trưởng quốc gia và cải thiện chất lượng cuộc sống trên khắp thế giới Khả năng để tạo ra, điều chỉnh, và áp dụng công nghệ mới vô cùng quan trọng trong xã hội hiện đại

Những tiến bộ trong khoa học và công nghệ đồng thời cũng là những thách thức mới hiện nay, bao gồm cả thay đổi trong xã hội và nền kinh tế Các mối quan tâm mới nổi lên như đạo đức sinh học, nhu cầu ngày càng bức xúc đối với việc đánh giá các rủi ro và chi phí xã hội (khoa học pháp lý), tranh chấp và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ

Trong môi trường toàn cầu ngày nay, đổi mới là điều cần thiết để giải quyết các vấn đề xã hội và chiếm ưu thế trước sự cạnh tranh Những hướng ưu tiên phát triển công nghệ của Việt Nam trong các lĩnh vực như: Phát triển công nghệ thông tin, thăm dò không gian, biến đổi di truyền và tiến bộ trong khoa học vật liệu được xác định và hình thành từ các tổ chức chính sách khoa học và công nghệ

hiện đại hóa, phát triển nhanh, bền vững đất nước (Luật KH&CN năm 2000)

Ngày 14/10, Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) đã ra Thông báo

Hội nghị lần thứ 13 Về một số nhiệm vụ định hướng phát triển và cơ cấu lại nền

kinh tế, Thông báo của Ban chấp hành nêu 12 nội dung lớn trong đó có nêu “Phát triển khoa học-công nghệ thực sự là động lực then chốt của quá trình phát triển nhanh, bền vững”; Đổi mới toàn diện và phát triển giáo dục - đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao

Trang 21

Một trong ba khâu đột phá chiến lược mà Đảng ta xác định thì ỘPhát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng caoỢ(Sđd, tr.106) được xem là khâu đột phá thứ hai

Các nghiên cứu khoa học về chắnh sách KH&CN được thực hiện ở rất nhiều quốc gia, đặc biệt là các quốc gia phát triển như Anh, Pháp, Mỹ, Úc, Nhật, Hàn QuốcẦĐặc biệt trong cuối thế kỷ 20 đầu thế kỷ 21, với sự nổi lên của một số quốc gia nhờ vào sự phát triển của khoa học và công nghệ như Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản đã gây ra những cú sốc cho các nước phát triển như Anh, Pháp, Mỹ, ĐứcẦ Họ đã thành lập các trung tâm nghiên cứu về chắnh sách phát triển khoa học

và công nghệ của các nước mới nổi Từ đó rút ra các bài học cho chắnh bản thân họ, khuyến cáo chắnh phủ cần có chắnh sách đổi mới trong hoạt động nghiên cứu khoa học cũng như quản lý khoa học và công nghệ và từ đó xây dựng các chiến lược phát triển khoa học và công nghệ cho quốc gia

Chắnh đó là lý do dẫn đến nhu cầu đào tạo những nhà khoa học có khả năng nghiên cứu, phân tắch, đánh giá và quản lý chuyên nghiệp trong lĩnh vực KH&CN

Năm 1989 Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có Quyết định số 1539/QĐ-SĐH ngày 8/11/1989 về việc mở ngành đào tạo Chắnh sách khoa học và công nghệ tại Viện Quản lý Khoa học, nay là Viện Chiến lược và Chắnh sách KH&CN thuộc Bộ KH&CN Như vậy, tắnh đến nay Viện Chiến lược và Chắnh sách KH&CN là đơn vị đầu tiên và lâu năm nhất đã có hơn 22 năm kinh nghiệm đào tạo sau đại học về chuyên ngành chắnh sách KH&CN với số lượng hơn 148 thạc sĩ2

Trước nhu cầu ngày càng cao về đào tạo chuyên gia có trình độ cao đáp ứng yêu cầu đổi mới và phát triển của đất nước, Viện Chiến lược và Chắnh sách KH&CN đã có hợp tác liên kết đào tạo với Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội, Học Viện Khoa học và Xã hội thuộc Viện Khoa học Xã hội Việt Nam Chỉ tiêu tuyển sinh thạc sĩ của Viện đã tăng từ 15 chỉ tiêu lên 25 chỉ tiêu tuyển sinh năm 2011

Trong số những thạc sỹ tốt nghiệp loại giỏi và suất sắc trong vòng 22 năm qua, rất nhiều người đang làm công tác nghiên cứu, giảng dạy, quản lý có nhu cầu nâng cao trình độ, đáp ứng yêu cầu của công việc mong muốn được đào tạo tiến sỹ

2 Nhu cầu đào tạo qua số liệu khảo sát điều tra của Đề án

Nhóm nghiên cứu tiến hành khảo sát nhu cầu tại 4 nhóm đối tượng chắnh: Nhóm viện nghiên cứu; Trường đại học, Doanh nghiệp và các sở, bộ ban ngành

2

Mười năm sau 1998 Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội được đào tạo thạc sỹ chuyên ngành Quản lý Khoa học và Công nghệ theo Quyết định số 1116/QĐ- BGD&ĐT/SĐH ngày 22/3/1999 Đây là một chuyên ngành trong mã ngành đào tạo Chắnh sách và Quản lý Khoa học và Công nghệ, đến nay đã có trên 170 thạc sĩ Quản lý khoa học và công nghệ

Trang 22

Theo lĩnh vực hoạt động, tỷ lệ số người tham dự trả lời như sau: Lĩnh vực nghiên

cứu chiếm 6,36% số người trả lời, lĩnh vực giảng dạy chiếm 12,7% số người trả lời,

số người làm việc trong khu vực quản lý KH&CN trả lời phiếu hỏi chiếm 33,05%

và các lĩnh vực khác là 38,98%

Bảng 1 Tỷ lệ số người tham dự trả lời theo lĩnh vực hoạt động

Lĩnh vực Nghiên cứu Giảng dạy Quản lý Khác KTL

Tổng 15 30 78 92 21

Bảng 2 Đánh giá về mức độ cần thiết của kiến thức về chính sách khoa học và

công nghệ đối với công việc hiện tại của người được hỏi

Qua số liệu bảng 2 chúng ta thấy, số người trả lời rất cần các kiến thức về

quản lý, chính sách KH&CN chiếm tỉ lệ rất cao 29,66%, số người cần kiến thức này

cũng chiếm tới 47,66%, qua đó chúng ta thấy gần 77% số người được hỏi đều coi

trọng và có nhu cầu cao về kiến thức về chính sách cũng như quản lý KH&CN

Điều nay cho thấy Viện cần tích cực hơn nữa trong việc tổ chức các khoá học

truyền bá kiến thức về chính sách KH&CN và nhu cầu kiến thức về chính sách

KH&CN trong xã hội, đặc biệt là tại các cơ quan nghiên cứu, giảng dạy và quản lý,

thực thi chính sách KH&CN là rất bức súc

Số người được hỏi có nhu cầu đào tạo thạc sĩ và tiến sĩ chuyên ngành Chính

sách KH&CN được thể hiện qua Bảng 3 sau đây

Bảng 3 Nhu cầu đào tạo thạc sĩ và tiến sĩ chuyên ngành Chính sách KH&CN

Tổng 85 47 40

Số liệu điều tra cho thấy số người có nhu cầu đào tạo nâng cao trình độ trong

5-10 năm tới là rất lớn Trong số 240 phiếu thu về có 36,02% số người trả lời có

nhu cầu học cao học, 19,92% số người được hỏi có nhu cầu tiếp tục làm nghiên cứu

sinh, đặc biệt trong số đó có 16,95% số người trả lời tương đương với 40 người trả

lời có nhu cầu làm nghiên cứu sinh (Tiến sĩ) chuyên ngành chính sách KH&CN

Trang 23

Con số này cho thấy nhu cầu đào tạo từ đội ngũ cán bộ làm công tác liên quan đến nghiên cứu, xây dựng và thực thi chính sách KH&CN là rất lớn Đây là con số khá

ấn tượng để Viện đẩy nhanh nhiệm vụ đăng ký đào tạo Tiến sĩ chuyên ngành chính sách KH&CN tại Viện Công việc này một phần đáp ứng nhu cầu thực tế của xã hội đồng thời cũng đáp ứng nhu cầu nâng cao trình độ cho đội ngũ cán bộ tại Viện hiện đang làm công tác nghiên cứu, xây dựng và hoạch định chính sách KH&CN để tiếp tục thúc đẩy công tác nghiên cứu tại Vịên

Trang 24

Chương trình đào tạo Tiến sỹ trong lĩnh vực Chính sách KH&CN được thực hiện tại nhiều nước Thoạt đầu, từ những năm 50 của thế kỷ XX, những luận án tiến

sỹ liên quan tới chính sách và quản lý KH&CN được thực hiện trong các lĩnh vực như xã hội học, kinh tế học, lịch sử khoa học, khoa học quản lý,… Đến nay, bên cạnh việc vẫn tồn tại các luận án về lĩnh vực chính sách KH&CN được bảo vệ trong các lĩnh vực trên, nhiều nước đã có chương trình đào tạo tiến sỹ riêng về lĩnh vực này với các tên gọi có thể khác nhau, ví dụ: “Chính sách KH&CN" ở Đan Mạch, Thụy Điển, Anh ; “Kinh tế, quản lý tiến bộ khoa học - kỹ thuật” ở CHLB Nga, Ukrain… và nhiều nước SNG

II Hiện trạng đào tạo Tiến sĩ chuyên ngành Chính sách khoa học và công nghệ

và Quản lý khoa học và công nghệ tại một số nước trên thế giới

1 Đào tạo Chính sách khoa học và công nghệ tại Hoa Kỳ

Tại Hoa kỳ có các địa chỉ sau tham gia đào tạo tiến sĩ về chính sách khoa học

và công nghệ:

Đại học Arizona State-Hiệp hội Khoa học, Chính sách và kết quả

Đại học Colorado, Trung tâm Nghiên cứu chính sách Khoa học và Công nghệ

Đại học George Washington- Elliot Khoa học quốc tế và Chương trình chính sách công

Đại học Harvard Kennedy -Khoa học, Công nghệ và Chương trình chính sách công

Đại học Massachusetts, Amherst-Trung tâm chính sách công và Quản trị

Trang 25

Đại học Michigan, Ford Trường Chính sách công

Đại học Minnesota, Hubert H Humphrey Học Viện Chính sách Công

Đại học Princeton-Woodrow Wilson trường công cộng và vấn đề quốc tế Tại các trường đại học và học viện nghiên cứu tại Hoa kỳ, chính sách khoa học và công nghệ được nằm trong ngành khoa học về chính sách công Các nghiên cứu sinh ngành chính sách công sẽ chọn chuyên ngành nghiên cứu về chính sách khoa học và công nghệ hoặc trong ngành khoa học về chính sách

2 Các nước Bắc Âu

Ở Thụy Điển đã có chương trình đào tạo Thạc sĩ và TS về Chính sách

KH&CN bắt đầu từ những năm 80 Yêu cầu đào tạo tiến sỹ tại Đại học Lund (Thụy Điển) có thời gian là 4 năm Tổng thời lượng của chương trình đào tạo là 240 tín chỉ (credits), trong đó được chia thành 2 phần: bài giảng (course component) gồm 75 tín chỉ và phần luận án (thesis component) là 165 credits Trong 4 năm đào tạo theo chương trình TS, có 2 năm học liên tục để hoàn thành phần “Khung” được tính bằng luận án với 75 credits và phần bài giảng với 45 credits Các học phần được thực hiện theo Chương trình Khung (general syllabus) do Khoa biên soạn Nghiên cứu sinh phải hoàn thành một luận án (doctoral thesis), trình bày kết quả nghiên cứu độc lập theo đúng tiêu chuẩn học thuật (high scholarly standard) Luận án của nghiên cứu sinh sẽ được trình bày và bảo vệ công khai ở Hội đồng quốc gia (the Higher Education Ordinance) sau khi được thông qua ở Khoa (the Faculty of Social Sciences) tại Đại học Lund

Tại Hà Lan có trường Đại học Maastricht – khoa nghiên cứu khoa học và

công nghệ (TSS) được thành lập từ năm 1994 Kể từ khi thành lập các nhà nghiên cứu khoa học đã có nhiều đề tài nghiên cứu về công nghệ TSS đã phối hợp cùng với khoa triết học, lịch sử, văn học và nghệ thuật thành lập ra khoa năng khiếu nghệ thuật và văn hoá của trường đại học Maastricht Về quá trình đào tạo, Hiệp hội trường đại học quốc tế Châu Âu đã tổ chức một khoá học mới cấp bằng thạc sĩ về nghiên cứu xã hội, KH&CN ở Châu Âu (ESST) Mục đích chính của chương trình ESST là đào tạo những nhà khoa học có hiểu biết sâu rộng, có khả năng trình bày các vấn đề mà Châu Âu và thế giới đang phải đối mặt hoặc sẽ gặp phải trong thời gian tới Trong đó bao gồm cả chiến lược giải quyết cũng như mối quan hệ qua lại giữa xã hội KH&CN Khóa học thạc sĩ này do một hiệp hội của các bộ môn STS đứng đầu trong các trường đại học STS tổ chức Khoá học này cũng hợp tác với một

số ngành công nghiệp Trường Đại học Hà Lan về khoa học, công nghệ và văn hoá (WTMC) đang cộng tác thường xuyên với các nhà nghiên cứu Hà Lan nghiên cứu

sự phát triển của khoa học, công nghệ và văn hoá hiện đại với các chương trình đào tạo, nghiên cứu liên quan đến: phương thức thiết kế và tổ chức của KH&CN được kết hợp với sự phát triển của các xã hội và nền văn hoá hiện đại, hợp lý hoá; Những

Trang 26

vấn đề ảnh hưởng đến sự phát triển và hình thành nền công nghệ và khoa học cũng như văn hoá và xã hội

Tại Na Uy, Trường Đại học ESST ở Oslo đã đào tạo bằng thạc sĩ về khoa học, công nghệ và xã hội ở Châu Âu Đào tạo ở ESST bao gồm 2 chương trình giáo dục, một dành cho sinh viên học chương trình sau đại học, một dành cho các chuyên gia có ít nhất 5 năm kinh nghiệm Nghiên cứu của ESST được thực hiện trong lĩnh vực xã hội, khoa học công nghệ giữa các đối tác trong hệ thống hay giữa các thành viên của ESST và những viện khác Trung tâm Công nghệ và Xã hội (STS), Trường đại học Tổng hợp Nauy về Khoa học và công nghệ cũng tiến hành đào tạo tiến sĩ về chính sách KH&CN

Tại Đan Mạch, Trường Đại học Roskilde (Đan Mạch) tại khoa các Khoa học

xã hội đào tạo chương trình về Quản lý công nghệ (Technology Management) và Chính sách KH&CN (Science and Technology Policy) Chương trình đào tạo tiến

sỹ về Chính sách KH&CN (Science and Technology Policy) bao gồm:

Nghiên cứu độc lập của nghiên cứu sinh có sự hướng dẫn của giáo sư (Independent research under supervision);

Các học phần cho nghiên cứu sinh gồm 30 tín chỉ (Courses for PhD students (approximately 30 ECTS credits);

Tham gia mạng nghiên cứu (Participation in research networks, including placements at other, primarily foreign, research institutions);

Trợ giảng và tham gia phổ biến kiến thức về chủ đề liên quan tới luận án (Teaching or another form of knowledge dissemination, which is, as far as possible, related to the PhD topic);

Hoàn thành luận án (The completion of a PhD thesis)

3 Các nước Đông Âu

Chương trình đào tạo Tiến sĩ về Chính sách KH&CN ở nhiều nước Đông Âu

có nội dung đa dạng, phong phú, trong đó thường có 5 phần cơ bản là:

- KH&CN trong xã hội;

- Các học thuyết và lịch sử ra đời chính sách KH&CN;

- Thông tin của KH&CN;

- KH&CN và phát triển;

- Công nghệ và sự biến đổi của xã hội

Tại Cộng hòa Liên Bang Nga có Trung tâm nghiên cứu Khoa học và Thống

kê (CSRS), trung tâm được thành lập năm 1991 dưới sự bảo hộ của Bộ Chính sách KH&CN của Liên bang Nga và Viện Hàn lâm Khoa học của Nga Trung tâm kết

Trang 27

hợp các học giả từ các trung tâm nghiên cứu của Chính phủ và các đơn vị nghiên cứu đặc biệt trong thống kê nghiên cứu triển khai, nghiên cứu chính sách, dự báo và những khu vực liên quan Do đào tạo đại học ở Nga có quan hệ gần gũi với hệ thống KH&CN Điều đó lý giải tại sao CRSR chú ý phân tích khuynh hướng và tình hình trong hệ thống giáo dục sau đại học Các nghiên cứu của trung tâm bao gồm phần hạ tầng cơ sở của đào tạo đại học, các cơ chế về kinh tế tài chính, hệ thống đào tạo sau đại học, nghiên cứu triển khai R&D thực hiện trong các trường đại học tổng hợp, trong đó có:

- Trường đại học Quản lý Moskva (MIU);

- Trường đại học tổng hợp Moskva mang tên Lomonosov;

- Trường đại học tổng hợp các khoa học Xã hội và Nhân văn CHLB Nga (RGGU);

- Học viện kinh tế Moskva mang tên Plekhanov

Tại Viện các nghiên cứu hệ thống và Viện lịch sử Khoa học tự nhiên và kỹ thuật thuộc Viện Hàn lâm KH Liên Xô cũ và CHLB Nga ngày nay có các chương trình đào tạo bậc cao về:

Tại Ukraine có Trung tâm nghiên cứu tiềm lực khoa học và lịch sử KH&CN mang tên G.M Dobrov có chương trình đào tạo tiến sĩ 2 chuyên ngành về:

- Quản lý tiến bộ KH và KT (Mã số: 08.02.02);

- Lịch sử KH&CN (Mã số: 07.00.07)

Hai chuyên ngành này trực tiếp liên quan tới những vấn đề về chính sách KH&CN

Trang 28

4 Các nước Tây Âu

Tại CHLB Đức có Viện nghiên cứu KH&CN ĐH Tổng hợp Bielefeld (IWT), Viện này cũng đào tạo cán bộ KH&CN nghiên cứu sự phát triển của khoa học và cũng như mối liên hệ của chúng với xã hội trên diện rộng Nó đặt tại cả khoa Lịch

sử và Triết học cũng như Xã hội Khoa học của đại học ĐH Tổng hợp Bielefeld Các nhà sử học, triết học, các nhà khoa học và xã hội học phối hợp với nhau trong chương trình nghiên cứu đa ngành này Với việc thành lập IWT, ĐH Tổng hợp Bielefeld trở thành Viện nghiên cứu đầu tiên ở Đức đáp ứng được các điều kiện tiên quyết về mặt tổ chức cho công việc đa ngành dài hạn trong lĩnh vực nghiên cứu về KH&CN

Hiện này, IWT được nhìn nhận là một trung tâm nghiên cứu thành công tầm

cỡ quốc tế trong lĩnh vực học tập xã hội học, triết học, sử học của KH&CN Trong

chương trình đào tạo và nghiên cứu liên khoa Nền tảng, cấu trúc và hậu quả của

KH&CN, xã hội học của KH&CN được phối hợp cùng với Triết học của KH&CN

Các lĩnh vực về sự tương tác giữa các chuyên ngành là vấn đề trọng tâm Chương trình đó không tạo thành một khoa riêng biệt mà gồm phạm vi vấn đề có thể được nghiên cứu bởi nhiều bộ môn khác nhau Việc đào tạo trong chương trình này có nhằm tới việc hiểu được quá trình đổi mới, phát triển chính sách KH&CN và các nền văn hoá đa dạng trong khoa học Học viện sau đại học là một phương tiện cho các nhà nghiên cứu trong các ngành khoa học, các ngành khoa học xã hội và khoa học nhân văn nằm trong lĩnh vực chính sách và quản lý KH&CN; nó cũng là phương tiện dành cho nhà khoa học nào mong muốn tập trung làm việc về lập kế hoạch KH&CN trong khu vực kinh tế Nhà nước và tư nhân, cũng như dành cho nhà khoa học có triển vọng tốt mong muốn tập trung vào các điều kiện xã hội cho phát triển KH&CN

5 Các nước châu Á

Tại Ấn Độ có Trường Đại học KH&XH thuộc Đại học mang tên Jawaharial

Nehru có Trung tâm nghiên cứu Chính sách khoa học (Centre for Studies in Science Policy) Từ nhiều năm nay, Trung tâm thực hiện chương trình đào tạo chuyên ngành Chính sách Khoa học cho 2 bậc học sau đại học là: Thạc sỹ (M.Phil) và tiến sỹ (PhD) Trung tâm nghiên cứu về Chính sách khoa học (CSSP) thực hiện chương trình đào tạo và nghiên cứu mang tính liên ngành (interdisciplinary) đây là cơ sở đào tạo duy nhất về lĩnh vực này trong hệ thống giáo dục đại học của Ấn Độ Chương trình đào tạo tiến sỹ được thiết kế với sự kết hợp giữa đào tạo nà nghiên cứu của 3 lĩnh vực: Khoa học - Công nghệ - Xã hội Sự phối hợp về phương diện học thuật ( an academic programme) và những vấn đề về chính sách (policy concerns) là điểm nổi bật về nội dung Nghiên cứu sinh trong chương trình sẽ phải thực hiện công việc nghiên cứu về chính sách trong các lĩnh vực khoa học, công nghệ và đổi mới trong những địa bàn như nhà trường đại học - doanh nghiệp; sở

Trang 29

hữu trí tuệ; vấn đè giới trong KH&CN; toàn cầu hóa việc đổi mới và quốc tế hóa R&D; công nghệ và môi trường; nhà khoa học trong các tổ chức; tương lai của công nghệ …

Trung tâm tuyển nghiên cứu sinh từ những ngành khoa học tự nhiên và KHXH, ngành công nghệ, kỹ thuật, Y tế, Luật pháp và Quản lý Trọng tâm chủ đề nghiên cứu hiện tại của Trung tâm là phân tích chính sách về KH&CN, bao gồm: chính sách đổi mới, xã hội học KH&CN; lịch sử khoa học và công nghệ; kinh tế học biến đổi công nghệ và nghiên cứu đổi mới; nghiên cứu tương lai của công nghệ

; nghiên cứu vấn đè giới trong KH&CN; khoa học và công nghệ với phát triển; vấn

đề quốc tế trong KH&CN và quản lý management quyền sở hữu trí tuệ

Trung tâm thực hiện đào tạo theo cả hai chương trình: đào tạo thạc sỹ và đào tạo tiến sỹ Chương trình đào tạo thạc sỹ (The M.Phil programme) thực hiện trong

4 học kỳ với 24 tín chỉ (credits in four semesters) Chương trình đào tạo tiến sỹ (Ph.D programme) dành cho những thạc sỹ cùng chuyên ngành, có năng lực nghiên cứu thông qua các công trình công bố (Demonstrated their research capability by way of equivalent published work in science policy studies) Tới năm 2010, đã có hơn 60 nghiên cứu sinh về chương trình đào tạo tiến sỹ tại Trung tâm Học viên của chương trình đào tạo tiến sỹ tại Trung tâm là cán bộ của các cơ quan quốc gia và quốc tế như:

Ủy ban Kế hoạch (the Planning Commission);

Viện Nghiên cứu Khoa học, Công nghệ và Phát triển Quốc gia (National Institute of Science, Technology and Development Studies (NISTADS);

Hội đồng Nghiên cứu Khoa học và Công nghiệp (Council of Scientific and Industrial Research (CSIR);

Viện Năng lượng và Tài nguyên (The Energy and Resources Institute (TERI);

Hiệp đoàn Nghiên cứu Phát triển Quốc gia (National Research Development Corporation (NRDC);

Hội đồng Năng suất Quốc gia ( National Productivity Council (NPC);

Liên đoàn các Phòng Thương mại và Công nghiệp (Federation of Indian Chambers of Commerce and Industry (FICCI);

Viện Quản lý thảm họa Quốc gia (National Institute of Disaster Management (NIDM);

Viện Nghiên cứu Phát triển ( Institute of Development Studies );

Trung tâm Quản lý Nông nghiệp (Centre for Management in Agriculture), Viện Quản lý (Indian Institute of Management (Ahmedabad);

Trang 30

Trung tâm Công nghệ và Thương mại Centre for Technology and Trade, Học viện Ngoại thương (Indian Institute of Foreign Trade) ;

Học viện Hành chính công (Indian Institute of Public Administration),

Trung tâm Nghiên cứu và Hệ thống Thông tin (Research and Information Systems (RIS);

Ngân hàng Thế giới (World Bank);

Chương trình Phát triển của Liên Hợp Quốc (UNDP);

Chương trình Quản lý đổi mới và Chính sách của Trường Đại học Quốc gia Australia ( Innovation Management and Policy Programme, The Australian National University)

Tại Hàn Quốc, Trường Đại học Quốc gia Seoul của Hàn Quốc (SNU) trong khung khổ Chương trình Năng lượng đã thực hiện đào tạo trình độ tiến sĩ ngành Chính sách và Kinh tế quản lý công nghệ (Graduate course of Technology Management Economics and Policy Program -TEMEP) Bản chất của chương trình đào tạo này là ở tính liên ngành (the interdisciplinary programs), tại Đại học Quốc gia Seoul của Hàn Quốc (SNU) đã tích hợp các khoa ngành:

Khoa Kinh tế ( Department of Economics),

Khoa Quản trị Kinh doanh (Department of Business Administration),

Khoa sau đại học về hành chính công và kỹ thuật (Graduate School of Public Administration and Department of Engineering)

Trong chương trình đào tạo gồm các học phần của các lĩnh vực tri thức khác nhau, như:

Bài giảng trên lớp (in-class lectures),

Thảo luận (seminars),

Thực địa tại doanh nghiệp (internships at business companies),

Trang 31

Tham dự các Hội thảo và Hội nghị khoa học quốc tế (workshop and participation in international conferences)

Đối với các học viên nước ngoài, trên 70% thời lượng các bài giảng được giảng bằng tiếng Anh Các bài giảng của các học phần được chia thành 2 nhóm: bắt buộc (required),và lựa chọn (elective)

Khái quát về trình tự các giai đoạn đào tạo được thể hiện thành:

Bài giang trên lớp (Class),

Thảo luận (seminars),

Nghiên cứu và làm Luận án (Research & Dissertation),

Ngoại khóa (Extra Curriculum)

Dưới đây sẽ xem xét khaí quát về cơ cấu, nội dung của chương trình đào tạo trình độ tiến sỹ của chuyên ngành Chính sách và Kinh tế về Quản lý công nghệ

Trang 32

Hướng Quản lý công nghệ Kinh tế kinh doanh Hành chính công

Nhập môn Quản lý công nghệ, kinh tế và chính sách (1) Seminar về Quản lý công nghệ, kinh tế và chính sách (1)

Chương trình

bắt buộc

Đọc tài liệu và nghiên cứu

Phương pháp luận cho

Quản lý công nghệ, kinh tế và chính sách

Kinh tế vi mô (ECON)

Phương pháp luận cho

Quản lý công nghệ, kinh tế và chính sách Thống kê quản lý Thống kê kinh tế (ECON)

Hướng 1 từ Khoa Hành chính công

Phân tíc kinh tế lượng Quản lý công nghệ

Kinh tế lượng (ECON)

Hướng 2 từ Khoa Hành chính công

Phân tíc kinh tế kỹ thuật (IE) Thống kê quản lý

Kinh tế vĩ mô (ECON)

và chính sách (Bắt buộc)

Thưc tập Quản lý công nghệ, kinh tế và chính sách (Bắt buộc)

Thưc tập Quản

lý công nghệ, kinh tế và chính sách (Bắt buộc)

Lý thuyết năng suất và ứng dụng Các học phần

chuyên ngành

Quản lý chiến lược với công nghệ

Trang 33

Công nghệ và doanh nghiệp Phương pháp phân tích thị trường công nghệ CNTT ứng dụng

3 học phần

Quản lý chăm sóc sức khỏe và đổi mới

Nghiên cứu tổ chức công nghiệp (ECON)

Kinh tế vĩ mô (ECON)

7 học phần do Khoa Hành chính công yêu cầu

Module tăng cường:

4 học phần

Kinh tế lượng nâng cao(ECON)

3 học phần kiểm tra **

5 học phần kiểm tra **

Nghiên cứu tổ chức công

Trang 34

Chương 3

XÂY DỰNG KHUNG CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO TIẾN SĨ

CHUYÊN NGÀNH CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

(Mã số 62.34.70.01)

I Văn bản pháp quy liên quan đến hoạt động đào tạo tiến sĩ

1 Thông tư số 38/2010/TT-BGDĐT, ngày 22 tháng 12 năm 2010 của Bộ Giáo dục và Đào tạo

Thông tư số 38/2010/TT-BGDĐT, ngày 22 tháng 12 năm 2010 của Bộ Giáo dục và Đào tạo Quy định điều kiện, hồ sơ, quy trình cho phép đào tạo,đình chỉ

tuyển sinh, thu hồi quyết định cho phép đào tạo các ngành hoặc chuyên ngành trình

độ thạc sĩ, trình độ tiến sĩ, áp dụng đối với các đại học, học viện, trường đại học, viện nghiên cứu khoa học quy định các điều kiện được xem xét để cấp phép đào tạo các chuyên ngành trình độ tiến sĩ

c) Có đội ngũ giảng viên đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng để tổ chức

đào tạo trình độ tiến sĩ ở chuyên ngành đề nghị cho phép đào tạo, cụ thể:

- Có khả năng xây dựng và tổ chức thực hiện chương trình đào tạo trình độ tiến sĩ, có khả năng phát hiện vấn đề nghiên cứu, hướng dẫn, chỉ đạo nghiên cứu sinh xây dựng đề cương nghiên cứu đề tài luận án, hướng dẫn nghiên cứu sinh thực hiện đề tài luận án, viết luận án và tham gia Hội đồng chấm luận án tiến sĩ;

- Có ít nhất 01 giáo sư hoặc phó giáo sư và 4 tiến sĩ cùng ngành là cán bộ cơ

hữu của cơ sở đào tạo, trong đó có 3 người cùng chuyên ngành đề nghị cho phép đào tạo;

d) Có đủ khả năng và điều kiện để thành lập hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ

và tổ chức đánh giá luận án theo quy định của Quy chế đào tạo trình độ tiến sĩ hiện hành;

Trang 35

đ) Có cơ sở vật chất, trang thiết bị bảo đảm đáp ứng yêu cầu đào tạo trình độ tiến sĩ, cụ thể:

- Có đủ phòng thí nghiệm, phòng nghiên cứu với trang thiết bị cần thiết bảo đảm để nghiên cứu sinh có thể triển khai thực hiện đề tài luận án; có chỗ làm việc dành riêng cho người hướng dẫn và nghiên cứu sinh;

- Thư viện có đủ nguồn thông tin tư liệu và phương tiện để nghiên cứu sinh tìm hiểu, tra cứu khi thực hiện đề tài luận án, viết luận án như sách, giáo trình, tạp chí khoa học trong và ngoài nước, thư viện điện tử có thể liên kết với các cơ sở đào tạo cùng lĩnh vực, cùng chuyên ngành đào tạo trong và ngoài nước;

- Có website của cơ sở đào tạo được cập nhật thường xuyên, công bố công khai cam kết chất lượng giáo dục và chất lượng giáo dục thực tế, công khai các điều kiện đảm bảo chất lượng của cơ sở giáo dục, công khai thu chi tài chính;

e) Cơ sở đào tạo đã thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu khoa học, trong đó có

ít nhất 5 nhiệm vụ nghiên cứu thuộc đề tài khoa học cấp nhà nước, bộ, ngành, tỉnh, thành phố hoặc thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu khoa học có chất lượng cao hoặc tương đương

Có kinh nghiệm trong đào tạo, bồi dưỡng những người làm công tác nghiên cứu khoa học; thường xuyên tổ chức hội thảo, hội nghị khoa học chuyên ngành

Các giảng viên tham gia giảng dạy trong chương trình đào tạo trình độ tiến sĩ

đã và đang chủ trì các đề tài khoa học từ cấp Bộ hoặc tương đương trở lên ở chuyên ngành đề nghị cho phép đào tạo Mỗi giảng viên là tiến sĩ có ít nhất 3 công trình khoa học được công bố trên các tạp chí khoa học chuyên ngành có trong danh mục của Hội đồng Chức danh giáo sư nhà nước quy định trong 5 năm trở lại đây tính đến ngày cơ sở đào tạo đề nghị cho phép đào tạo chuyên ngành trình độ tiến sĩ;

g) Đã hợp tác với các trường đại học trên thế giới trong hoạt động đào tạo và hoạt động khoa học công nghệ;

h) Có chương trình đào tạo và đề cương chi tiết các học phần trong chương trình đào tạo của chuyên ngành đề nghị cho phép đào tạo, được xây dựng theo quy định của Quy chế đào tạo trình độ tiến sĩ hiện hành do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành

Tên chuyên ngành đào tạo có trong Danh mục chuyên ngành đào tạo trình độ tiến sĩ do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành

Trường hợp tên chuyên ngành đào tạo chưa có trong Danh mục, cơ sở đào tạo phải trình bày luận cứ khoa học về chuyên ngành đào tạo mới đã được Hội đồng khoa học đào tạo của cơ sở đào tạo thông qua; thực tiễn và kinh nghiệm đào tạo của một số nước trên thế giới, kèm theo chương trình đào tạo tham khảo của một số trường đại học đã được kiểm định ở nước ngoài;

Trang 36

i) Có đơn vị quản lý chuyên trách đáp ứng yêu cầu chuyên môn nghiệp vụ quản lý hoạt động đào tạo trình độ tiến sĩ; đã xây dựng quy định đào tạo trình độ tiến sĩ của cơ sở đào tạo

Thông tư đã quy định về Hồ sơ đề nghị cho phép đào tạo các ngành hoặc chuyên ngành trình độ thạc sĩ, trình độ tiến sĩ (Điều 5)

Nhóm nghiên cứu Đề án này đã tuân thủ các yêu cầu trong thông tư và trình

bộ Hồ sơ gồm 6 phụ lục kèm theo

2 Thông tư số 10 /2009/TT-BGDĐT ngày 07/5/2009 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục

và Đào tạo quy định Quy chế Đào tạo trình độ tiến sĩ

Gồm 48 điều quy định chi tiết về các công việc cụ thể cần thực hiện của một

cơ sở đào tạo được phép đào tạo tiến sĩ như: Điều kiện đăng ký mở chuyên nghành đào tạo; Cơ sở đào tạo; Tuyển sinh; Chương trình tổ chức đào tạo; Luận án và bảo

vệ luận án; Thẩm định luận án và cấp bằng tiến sĩ

Nội dung Quy chế quy định rõ mục tiêu Đào tạo trình độ tiến sĩ là đào tạo những nhà khoa học, có trình độ cao về lý thuyết và năng lực thực hành phù hợp, có khả năng nghiên cứu độc lập, sángtạo, khả năng phát hiện và giải quyết được những vấn đề mới có ý nghĩa về khoa học, công nghệ và hướng dẫn nghiên cứu khoa học (Điều 2)

Thời gian đào tạo trình độ tiến sĩ đối với người có bằng thạc sĩ là 3 năm tập trung liên tục; đối với người có bằng tốt nghiệp đại học là 4 năm tập trung liên tục

Điều kiện đăng ký mở chuyên ngành đào tạo: Các cơ sở đào tạo trình độ

tiến sĩ được đăng ký mở chuyên ngành đào tạo khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Tên chuyên ngành đào tạo có trong Danh mục chuyên ngành đào tạo trình

độ tiến sĩ do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Trường hợp tên chuyên ngành đào tạo chưa có trong Danh mục, cơ sở đào tạo phải trình bày luận cứ khoa học về chuyên ngành đào tạo mới đã được Hội đồng Khoa học - Đào tạo của cơ sở đào tạo thông qua;

b) Có đội ngũ giảng viên, cán bộ khoa học cơ hữu của cơ sở đào tạo đáp ứng yêu cầu đào tạo, cụ thể: Có ít nhất một phó giáo sư và 4 tiến sĩ cùng ngành, trong đó

ít nhất có ba người cùng chuyên ngành đăng ký;

- Có khả năng xây dựng chương trình và tổ chức thực hiện chương trình đào tạo, hướng dẫn nghiên cứu sinh thực hiện luận án tiến sĩ và tổ chức hội đồng đánh giá luận án

c) Có cơ sở vật chất, kỹ thuật, trang thiết bị, thư viện, phòng thí nghiệm bảo đảm đáp ứng yêu cầu đào tạo; có chỗ làm việc dành riêng cho nghiên cứu sinh;

Trang 37

d) Có kinh nghiệm trong công tác nghiên cứu khoa học; đã thực hiện những nhiệm vụ nghiên cứu khoa học và công nghệ cấp nhà nước, cấp Bộ, ngành, cấp tỉnh, thành phố; có kinh nghiệm trong đào tạo, bồi dưỡng những người làm công tác nghiên cứu khoa học; thường xuyên tổ chức hội thảo, hội nghị khoa học chuyên ngành; thường xuyên có những trao đổi hợp tác quốc tế trong nghiên cứu khoa học, đào tạo;

Chương trình đào tạo:

1) Chương trình đào tạo trình độ tiến sĩ nhằm giúp nghiên cứu sinh hoàn chỉnh và nâng cao kiến thức cơ bản, có hiểu biết sâu về kiến thức chuyên ngành; có kiến thức rộng về các ngành liên quan; hỗ trợ nghiên cứu sinh rèn luyện khả năng nghiên cứu, khả năng xác định vấn đề và độc lập giải quyết các vấn đề có ý nghĩa trong lĩnh vực chuyên môn, khả năng thực hành cần thiết Nội dung chương trình phải hỗ trợ nghiên cứu sinh tự học những kiến thức nền tảng, vững chắc về các học thuyết và lý luận của ngành, chuyên ngành; các kiến thức có tính ứng dụng của chuyên ngành; phương pháp luận, phương pháp nghiên cứu, phương pháp viết các bài báo khoa học và trình bày kết quả nghiên cứu trước các nhà nghiên cứu trong nước và quốc tế

2) Phương pháp đào tạo trình độ tiến sĩ được thực hiện chủ yếu bằng tự học,

tự nghiên cứu dưới sự hướng dẫn của nhà giáo, nhà khoa học; coi trọng rèn luyện thói quen nghiên cứu khoa học, phát triển tư duy sáng tạo trong phát hiện, giải quyết những vấn đề chuyên môn…

II Khung Chương trình đào tạo tiến sĩ chuyên ngành Chính sách khoa học và công nghệ

1 Mục tiêu của chương trình đào tạo

Đào tạo tiến sĩ có kiến thức và trình độ chuyên môn cao về chính sách khoa học và công nghệ, có phương pháp luận nghiên cứu khoa học vững chắc, đủ năng lực thực hiện các nghiên cứu khoa học độc lập, có giá trị học thuật cao, có tính mới

và sáng tạo, có thể nghiên cứu, hoặc làm cán bộ nghiên cứu hoặc quản lý tại các cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức quốc tế về tư vấn chính sách khoa học và công nghệ

1.1 Về kiến thức

Trang bị cho nghiên cứu sinh (NCS) các kiến thức chuyên sâu về chính sách khoa học và công nghệ, cách thức vận dụng chúng trong thực tế NCS sẽ được tăng cường về phương pháp luận nghiên cứu khoa học vững vàng, có thể độc lập nghiên cứu, kiến tạo tri thức mới

1.2 Về năng lực

Trang 38

Đảm nhận được trọng trách về hoạch định và thực thi chính sách khoa học và công nghệ, nghiên cứu xác lập các xu hướng phát triển của khoa học và công nghệ

Có khả năng tiếp tục nghiên cứu ở bậc cao về chính sách khoa học và công

nghệ, quan hệ giữa khoa học và công nghệ với kinh tế - xã hội

Có năng lực giảng dạy và hướng dẫn nghiên cứu khoa học chuyên sâu về chính sách khoa học và công nghệ ở bậc trên đại học tại các cơ sở nghiên cứu và đào tạo trong nước (thuộc các nhóm nghiên cứu)

1.3 Về kỹ năng:

Nghiên cứu sinh được trang bị các kỹ năng chuyên sâu về phân tích, xử lý và

mô hình hoá các số liệu điều tra thu thập được Điều tra các kịch bản, mô hình dự báo về xu hướng phát triển của KH&CN của Việt Nam cũng như quốc tế

Phát triển kỹ năng nghiên cứu độc lập ở bậc cao, kỹ năng tự hoàn thiện kiến thức

2 Điều kiện tuyển sinh

2.1 Về văn bằng (chuyên ngành tốt nghiệp)

Người dự tuyển đào tạo trình độ tiến sĩ phải có một trong các điều kiện sau:

a Có bằng đại học loại khá trở lên ở chuyên ngành gần với chuyên ngành quản lý KH&CN; Đối với các chuyên ngành khác đã có 5 năm kinh nghiệm làm việc trong lĩnh vực nghiên cứu về quản lý KH&CN, tham gia quản lý KH&CN

b Có bằng thạc sĩ chuyên ngành chính sách KH&CN, quản lý KH&CN không quá 10 năm

c Có bằng thạc sĩ chuyên ngành khác nhưng có 3 năm kinh nghiệm làm việc

trong lĩnh vực nghiên cứu về quản lý KH&CN, tham gia quản lý KH&CN

d Có bằng thạc sĩ chuyên ngành khác và có bằng thạc sĩ đúng chuyên ngành nhưng tốt nghiệp quá 10 năm, cơ sở đào tạo trình độ tiến sĩ yêu cầu nghiên cứu sinh học bổ sung các học phần cần thiết theo yêu cầu của chuyên ngành đào tạo và lĩnh vực nghiên cứu

2.2 Về trình độ ngoại ngữ:

Trình độ ngoại ngữ TOEFL ITP 450 điểm, IELTS 5.0 trở lên hoặc tương đương

3 Nội dung chương trình đào tạo

3.1 Thời gian đào tạo trình độ tiến sĩ Quản lý KH&CN

3 năm tập trung liên tục: Đối với người có bằng thạc sĩ

4 năm tập trung liên tục: Đối với người có bằng đại học

Trang 39

Trong trường hợp được gia hạn, thời gian đào tạo không vượt quá 7 năm (84 tháng) Trường hợp NCS không theo học tập trung liên tục tại cơ sở đào tạo để thực hiện đề tài nghiên cứu trong tổng thời gian đào tạo nêu trên

3.2 Nội dung đào tạo

Phần 1: Các học phần bổ sung (để đảm bảo đạt trình độ thạc sĩ chuyên ngành Chính sách KH&CN)

a Đối với NCS có bằng đại học thuộc đối tượng ở mục 2.1 tiểu mục a : số tín

HVXH 403 - Phương pháp luận nghiên cứu khoa học xã hội 5 2 3

Phần kiến thức cơ sở và chuyên ngành (48,9% thời lượng CTĐT)

Trang 40

CSKHCN 1209 Hệ thống tổ chức KH&CN 2 1 1

CSKHCN 1210 Chính sách phát triển thị trường công nghệ 2 1 1

CSKHCN 1213 Quyền sở hũu trí tuệ và kết quả nghiên cứu

CSKHCN 1214 Phương pháp dự báo và xây dựng chiến

Trong trường hợp cần thiết, nếu chương trình đào tạo trình độ đại học của

NCS còn thiếu những học phần có vai trò quan trọng cho việc đào tạo tiến sĩ Chính

sách KH&CN, theo đề nghị của người hướng dẫn khoa học và Ban Đào tạo sau đại

học và TTTV, Viện trưởng Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN ra quyết định

cho NCS học bổ sung một số học phần ở trình độ đại học

b Đối với NCS có bằng thạc sĩ thuộc đối tượng ở mục 2.1 tiểu mục c và d:

Ngày đăng: 10/03/2015, 01:21

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Tỷ lệ số người tham dự trả lời theo lĩnh vực hoạt động - Xây dựng đề án đào tạo tiến sỹ chuyên ngành Chính sách khoa học và công nghệ tại Viện Chiến lược và Chính sách KHCN
Bảng 1. Tỷ lệ số người tham dự trả lời theo lĩnh vực hoạt động (Trang 22)
Bảng 3 Nhu cầu đào tạo thạc sĩ và tiến sĩ chuyên ngành Chính sách KH&CN - Xây dựng đề án đào tạo tiến sỹ chuyên ngành Chính sách khoa học và công nghệ tại Viện Chiến lược và Chính sách KHCN
Bảng 3 Nhu cầu đào tạo thạc sĩ và tiến sĩ chuyên ngành Chính sách KH&CN (Trang 22)
Bảng 2. Đánh giá về mức độ cần thiết của kiến thức về chính sách khoa học và  công nghệ đối với công việc hiện tại của người được hỏi - Xây dựng đề án đào tạo tiến sỹ chuyên ngành Chính sách khoa học và công nghệ tại Viện Chiến lược và Chính sách KHCN
Bảng 2. Đánh giá về mức độ cần thiết của kiến thức về chính sách khoa học và công nghệ đối với công việc hiện tại của người được hỏi (Trang 22)
Bảng 1. Tỷ lệ số người tham dự trả lời theo lĩnh vực hoạt động - Xây dựng đề án đào tạo tiến sỹ chuyên ngành Chính sách khoa học và công nghệ tại Viện Chiến lược và Chính sách KHCN
Bảng 1. Tỷ lệ số người tham dự trả lời theo lĩnh vực hoạt động (Trang 99)
Bảng 3 Nhu cầu đào tạo thạc sĩ và tiến sĩ chuyên ngành Chính sách KH&CN - Xây dựng đề án đào tạo tiến sỹ chuyên ngành Chính sách khoa học và công nghệ tại Viện Chiến lược và Chính sách KHCN
Bảng 3 Nhu cầu đào tạo thạc sĩ và tiến sĩ chuyên ngành Chính sách KH&CN (Trang 99)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm