Nhóm đề tài cũng đã thực hiện điêu tra mẫu tại 12 doanh nghiệp thuộc Bộ Công Thương Phần 2 : Xấy dựng các chỉ tiêu của CSDL ngành cơ khí Việt Nam, dùng làm thước đo để đánh giá sức sản
Trang 1MỤC LỤC
MỤC LỤC 1 LỜI NÓI ĐẦU 3 BẢNG KÊ CÁC CHỮ VIẾT TẮT, TỪ TIẾNG ANH 4
Đề tài:
NGHIÊN CỨU, KHẢO SÁT ĐÁNH GÍA THỰC TẾ
CÁC YẾU TỐ ĐẢM BẢO XÂY DỰNG CSDL
VÀ XÂY DỰNG CÁC CHỈ TIÊU KỸ THUẬT VÀ CÔNG
NGHỆ NGÀNH CƠ KHÍ VIỆT NAM
Trang 2dựng chỉ tiêu kỹ thuật và công nghệ cho CSDL ngành cơ khí Việt Nam"
1 - Giới thiệu chung
Phần 2 : Xấy dựng các chỉ tiêu của CSDL ngành cơ khí Việt Nam, dùng làm thước đo để đánh giá sức sản xuất, khả năng đáp ứng của ngành cơ khí với nền kinh tế Quố dân; Trình độ phát triển của nền công nghiệp chế tạo Việt Nam so với mặt bằng chung của ngành cơ khí chế tạo thế giới và khu vực
Phần I : Kết quả khảo sát các yếu tố đảm bảo xây dựng CSDL
1 - Khảo sat hạ tầng CNTT Bộ Công Thương
Hạ tầng CNTT của Bộ Công thương đã có sự kết nối hoàn chỉnh trong nội bộ BCT và kết nối ra bên ngoài Đội ngũ cán bộ chuyên về CNTT được đào tạo cơ bản, có chuyên môn về lĩnh vực của mình
Hạ tầng công nghệ thông tin của Bộ Công Thương đáp ứng được nhu cầu nghiên cứu và triển khai thực hiện dự án Cơ sở dữ liệu ngành Cơ khí Việt
2 - Thực trạng hạ tầng CNTT TT TTCN & TM
TT TT CN & TM có một hệ thông hạ tầng CNTT tương đối hoàn chỉnh với mạng nộc bộ có kết nối ra bên ngoài qua đường truyền internet tốc độ cao
Các cá nhân của TT được trang bị đầy đủ kiến thức cơ bản về mạng
và máy tính; các cán bộ chuyên môn của TT được đào tạo cơ bản và có kinh nghiệm trong xây dựng và triển khai hệ thống thiết bị CNTT
3 - Các dự án ứng dụng CNTT trong Bộ Công thương và TTTT CN &TM
Hiện nay BCT và TT đã và đang triển khai nhiều dự án ứng dụng CNTT có mức đầu tư và giải pháp công nghệ tương đồng với CSD:L nagnfh
cơ khí Việt Nam, đó là thuận lợi rất lớn trong việc xây dựng và khai thác
Trang 3Trong quá trình phát triển của đất nước, ngành cơ khí Việt Nam luôn nhận được sự quan tâm của các cấp chính quyền từ TƯ đến địa phương Tuy vậy hệ thống văn bản luật cho sự phát triển cua ngành cơ khí chưa đồng bộ và thiếu tính hệ thống
5 - Thực trạng đầu tư,sản xuất kinh doanh của ngành cơ khí Việt Nam
Ngành cơ khí VN trong thời kỳ bao cấp, đã nhận đươc sự quan tâm đúng mức của Đảng và Nhà nước nên đã những bước phát triển đáng kể Từ sau khi nền kinh tế chuyển sang kinh tế thị trường thì ngành cơ khí dã không
có được sự quan tâm đầu tư đúng mức cả ở tầm vĩ mô và vi mô
Ngành cơ khí VN hiện nay có có hệ thống hạ tầng lạc hậu, sản phẩm không tieu thu được trên thị trường, lương công nhân thấp không đảm bảo được đời sống cho người lao động
6 - Nghiên cứu, khảo sát các CSDL ngành cơ khí của thế giới
Trên thế giới hiện nay có rất nhiều các CSDL chuyên ngành cơ khí
7- Khảo sát vai trò của ngành cơ khí trong một số nền kinh tế thế giới
Ngành cơ khí chế tạo luôn đóng vai tròn quan trong và chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân của bất ký một Quốc gia nào Ngành cơ khí có vai trò chủ đạo trong việc tạo ra của cải vật chất cho xã hội Ở những nước phát triến nó chiếm tới trên 80% tổng sản phẩm quốc nội
Trình độ phat triển của ngành cơ khí chế tạo còn quyết định đến trình
độ của toàn bộ nền kinh tế
8 – Nghiên cứu, khảo sát nguồn cung cấp thông tin cho hệ thống dữ liệu của CSDL
Nguồn thứ cấp: gồm Tổng cục Thông kê; Bộ Công Thương, Bộ Kế hoạch Đầu tư, Bộ KH-CN; Bộ QP, Bộ GD, Bộ NN&PT NT; Bộ Xây dựng,
Bộ GTVT, Tổng cục Hải Quan , thông tin từ các CSDL này đã được xử lý theo nhu cầu riêng của từng cơ quan, có nhiều thông tin mà CSDL ngành cơ khí VN không có nhu cầu sử dụng, trong khi đó có những thông tin lại
Trang 4nước đều không quản lý được thông tin từ các doanh nghiệp Dô vậy thông tin ban đàu cần phải thu thập thông qua các cuộc điều tra từ cơ sở
9– Nghiên cứu khảo sát nhu cầu người sử dụng thông tin của CSDL
Qua khảo sat thăm dò tại các sở Công thương và đại diện các doanh nghiệp nhóm khảo sat đều nhận được yêu cầu được CSDL cung cấp thông tin phục vụ cho nhu cầu quản lý điều hành của các cơ quan nhà nước và sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp
Phần 2: Xây dựng chỉ tiêu kỹ thuật công nghệ cho CSDL ngành cơ khí Việt Nam
1 - Chỉ tiêu đánh giá tỷ suất tiêu hao năng lượng trên mức đầu tư
Tỷ suất tiêu hao năng lượng trên mức đầu tư là giá trị xác định nhu cầu cung cấp năng lượng cho một đồng vốn (1000đ) vốn đầu tư Qua đó có
kế họach cung ứng và phát triển nguồn năng lượng cung ứng cho để phát triêể một ngành sản phẩm nào đó
2 - Chỉ tiêu đánh giá trình độ trang thiết bị của doanh nghiệp
Trình độ trang bị là giá trị phản ánh thực trạng trang bị hiện thời của một doanh nghiệp, của một ngành Nó phản ánh mức độ, khả năng đáp ứng của doanh nghiệp theo kịp quá trình thay đổi, nâng cấp công cụ sản xuất của doanh nghiệp theo kịp đà phát triển của khoa học và kỹ thuật
3 - Chỉ tiêu đánh giá tính phát triển bền vững cho doanh nghiệp
"Phát triển bền vững của doanh nghiệp" là khả năng thich ứng của doanh nghiệp truớc mọi biến động của thị trường và xã hội để tồn tại và lớn mạnh, đáp ứng tốt các yêu cầu ngày càng cao của nền kinh tế, của người tiêu dùng
4 - Chỉ tiêu đánh giá trình độ quản lý của doanh nghiệp
Trình độ quản lý của doanh nghiệp đánh giá khả năng quản trị mọi mặt của hê thống lãnh đạo và quản lý doanh nghiệp, đủ đáp ứng yêu cầu tạo điều kiện thich của doanh nghiệp với tình hình phát triển của thị trường
Trang 5Mức tiêu hao năng lượng của sản phẩm là tỷ lệ giữa giá trị tiêu hao năng lượng hàng năm cho sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp cho sản phẩm của doanh nghiệp Mức này có sự thay đổi hàng năm
7 - Chỉ tiêu đánh giá tỷ lệ nội địa hóa của sản phẩm
Tỷ lệ nội địa hóa của sản phảm là tỷ trọng giá trị của nguyên vật liệu, phụ tùng, chi tiết được sản xuất tại các cơ sở sản xuất trong nước trên toàn
bộ giá xuất xưởng của sản phẩm
"Nội địa hóa" là một khái niệm trong sản xuất được áp dụng trong các Cty có vốn của nước ngoài Khi mới đầu tư và đi vào sản xuất thì toàn bộ nguyên liệu sản xuát ra sản phẩm đều được nhập từ nước về chính vì vậy mà giá thành sản phẩm thường cao, để giảm giá thành thì phương pháp nội địa hóa là tốt nhất vì vật tư, nguyên liệu được sản xuất trong nước nên giảm được thuế nhập khẩu và các chi phí liên quan khác\
8 - Chỉ tiêu đánh giá nghiên cứu và phát triển
Nghiên cứu là toàn bộ các hoạt động trong các lĩnh vực KH&CN
nhằm tìm kiếm tri thức mới, hoàn thiện, mở rộng những tri thức đã có về sự vật, hiện tượng, bản chất của sự vật, hiện tượng hay các quy luật hoặc các dự báo trạng thái tương lai của chúng
Trong quản lý các hoạt động nghiên cứu, theo tính chất của sản phẩm,
nghiên cứuđược phân loại thành: Nghiên cứu cơ bản (NCCB); nghiên cứu
ứng dụng (NCƯD) và nghiên cứu triển khai (NCTK)
9 - Chỉ tiêu đánh giá năng lực sản xuất
Năng lực sản xuất của doanh nghiệp được biểu hiện bằng khối lượng sản phẩm mà doanh nghiệp có thể tạo ra trong một thời kỳ nhất định Năng lực sản xuất là một chỉ tiêu tương đối khó xác định vì nó gắn liền với tình hình cơ bản, thực trạng về cơ sở vât chất kỹ thuật, trình độ quản lý và khả năng đầu tư của doanh nghiệp
10 - Chỉ tiêu đánh giá mức tiêu hao nguyên vật liệu chính cho sản phẩm Nguyên vật liệu là đối tượng lao động được biểu hiện bằng hình thái vật chất khi tham gia vào quá trình sản xuất, trị giá nguyên vật liệu được chuyển một lần vào chi phí sản xuất kinh doanh
11 - Chỉ tiêu đánh giá chỉ số phát triển môi trường bền vững
Trang 6mở mang quốc gia, các chính sách và kế hoạch kinh tế-xã hội chỉ quan tâm tới các vấn đề đầu tư, sản xuất, công nghiệp hóa, tự túc lương thực, hiện đại hóa nông nghiệp, sản xuất thay thế nhập khẩu, sản xuất nhắm thị trường nước ngoài, v.v Lúc bấy giờ phát triển kinh tế (développement économique) đồng nghĩa với tăng trưởng kinh tế (croissance économique), không có sự phân biệt, cân nhắc hoặc so sánh giữa phẩm và lượng trong công cuộc mở mang quốc gia
12 - Chỉ tiêu đánh giá chỉ số nguồn nhân lực của doanh nghiệp
Nguồn nhân lực là tổng thể các yếu tố bên trong và bên ngoài của mỗi cá nhân bảo đảm nguồn sấng tạo cùng các nội dung khác cho sự thành công, đạt được mục tiêu của tổ chức Tuy có những định nghĩa khác nhau tuỳ theo giác độ tiếp cận nghiên cứu những điểm chung mà ta có thể dễ dàng nhận thấy qua các định nghĩa trên về nguồn nhân lực
NGƯỜI LẬP BÁO CÁO
CHU NGỌC CHIỂU
Trang 7Phần I - NGHIÊN CỨU KHẢO SÁT ĐÁNH GIÁ THỰC TẾ CÁC YẾU TỐ ĐẢM BẢO
XÂY DỰNG CSDL 5
1 - Thực trạng cơ sở hạ tầng CNTT Bộ Công thương 5
2 - Thực trạng hạ tầng CNTT TT TTCN & TM 8
3 - Các dự án ứng dụng CNTT trong Bộ Công thương và TTTT CN &TM 13
4 – Hệ thống văn bản pháp luật của Việt Nam cho đầu tư và phát triển ngành cơ khí. 19
5 - Thực trạng đầu tư,sản xuất kinh doanh của ngành cơ khí Việt Nam. 24
6 - Nghiên cứu, khảo sát các CSDL ngành cơ khí của thế giới 37
7- Khảo sát vai trò của ngành cơ khí trong một số nền kinh tế thế giới 45
8 – Nghiên cứu, khảo sát nguồn cung cấp thông tin cho hệ thống dữ liệu của CSDL 51
9 – Nghiên cứu khảo sát nhu cầu người sử dùng thông tin của CSDL 60
Phần II - XÂY DỰNG CHỈ TIÊU KỸ THUẬT VÀ CÔNG NGHỆ CHO CSDL NGÀNH CƠ KHÍ VIỆT NAM 66
A - PHƯƠNG PHÁP LUẬN TRONG XÂY DỰNG CHỈ TIÊU CHO CSDL NGÀNH CƠ KHÍ VIỆT NAM 66
1 - Phương pháp Atlas 66
2 - Phương pháp thống kê 67
3- Phương pháp sử dụng trong xây dựng chỉ tiêu cho CSDL ngành cơ khí VN 69
B - CHỈ TIÊU KỸ THUẬT VÀ CÔNG NGHỆ CỦA CSDL NGÀNH CƠ KHÍ VIỆT NAM 69
1 - Chỉ tiêu đánh giá tỷ suất tiêu hao năng lượng trên mức đầu tư 69
2- Chỉ tiêu đánh giá trình độ trang thiết bị của doanh nghiệp 73
3 - Chỉ tiêu đánh giá tính phát triển bền vững cho doanh nghiệp 80
4 - Chỉ tiêu đánh giá trình độ quản lý của doanh nghiệp 82
5 - Chỉ tiêu đánh giá tính cạnh tranh của sản phẩm 88
6 - Chỉ tiêu đánh giá mức tiêu hao năng lượng của sản phẩm 91
7 - Chỉ tiêu đánh giá tỷ lệ nội địa hóa của sản phẩm 95
8- Chỉ tiêu đánh giá nghiên cứu và phát triển 102
9 - Chỉ tiêu đánh giá năng lực sản xuất 109
10 - Chỉ tiêu đánh giá mức tiêu hao nguyên vật liệu chính cho sản phẩm 116
11- Chỉ tiêu đánh giá chỉ số phát triển môi trường bền vững 124
12 - Chỉ tiêu đánh giá chỉ số nguồn nhân lực của doanh nghiệp 136
KẾT LUẬN 144
TÀI LIỆU THAM KHẢO 146
Trang 8LỜI NÓI ĐẦU
Đề tài nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ " Nghiên cứu khảo
sát đánh giá thực tế các yếu tố đảm bào xây dựng CSDL và xây dựng chỉ tiêu
kỹ thuật và công nghệ CSDL ngành cơ khí Việt Nam" là một đề tài nhánh
thuộc dự án đầu tư phát triển " Xây dựng cơ sở dữ liệu ngành cơ khí Việt Nam " do Trung tâm Thông tin Công nghiệp và Thương mại, Bộ Công thương chủ trì
Đề tài gồm mục lục; lời nói đầu; 2 phần chính và tài liệu tham khảo
Đề tài gồm 148 tr chia làm 2 phần chính
Phần 1 : Khảo sát thực tế các yếu tố đảm bảo xấy dựng cơ sở dữ liệu, nhằm xác định quy mô, khối lượng dự án, nguồn cung cấp dữ liệu cho dự án, loại dữ liệu cung cấp cho dự án, nhu cầu của người dùng và khả năng cung cấp dữ liệu của CSDL; nhu cầu lọi thông tin mà người dùng cần khai thác; xác định thực tế hạ tầng CNTT của cơ quan chủ quản và cơ quan chủ đầu tư
để xác định khả năng và nhu cầu đầu tư cho hệ thống hạ tầng và phần cứng hệ thống mạng Xác định rõ vị trí vai trò của ngành cơ khí trong cơ cấu nền kinh
tế quốc dân của Việt Nam cũng như của thế giới; xác định mức độ đàu tư nhứng năm qua cho ngành cơ khí và định hướng đầu tư cho ngành cơ khí trong tương lai
Nhóm đề tài đã thực hiện điều tra khảo sát các nội dung theo Nghị định 102/2009/NĐ-CP tại 63 tình thành trong cả nước, trong đó có 28 tỉnh thành được điều tra phỏng vấn trực tiếp, các tỉnh thành còn lại đều được gửi phiếu điều tra lây sý kiến Nhóm đề tài cũng đã thực hiện điêu tra mẫu tại 12 doanh nghiệp thuộc Bộ Công Thương
Phần 2 : Xấy dựng các chỉ tiêu của CSDL ngành cơ khí Việt Nam, dùng làm thước đo để đánh giá sức sản xuất, khả năng đáp ứng của ngành cơ khí với nền kinh tế Quốc dân; Trình độ phát triển của nền công nghiệp chế tạo Việt Nam so với mặt bằng chung của ngành cơ khí chế tạo thế giới và khu vực
Trong quá trình thự chiện đề tài, nhóm tác giả đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của Lãnh đạo Bộ Công Thương; Vụ Công Nghiệp năng, Bộ Công Thương; Vụ Khoa học và Công nghệ, Bộ Công thương; Viện nghiên cứu cơ khí, Bộ Công thương; Hiệp hội các doanh nghiệp cơ khí Việt Nam; sở Công thương các tỉnh thành trong cả nước
Trang 9BẢNG KÊ CÁC CHỮ VIẾT TẮT, TỪ TIẾNG ANH
nghiệp và Thương mại
R & D Nghiên cứu và phát triển
Trang 10Phần I - NGHIÊN CỨU KHẢO SÁT ĐÁNH GIÁ THỰC TẾ CÁC YẾU
TỐ ĐẢM BẢO XÂY DỰNG CSDL
1 - Thực trạng cơ sở hạ tầng CNTT Bộ Công thương
Trang thiết bị phần cứng hiện tại Bộ Công Thương được tích hợp dữ liệu
với hệ thống các máy chủ có cấu hình kỹ thuật là mạnh, các máy tính cá nhân
của các cán bộ của Bộ Công Thương đều được kết nối ADSL, chia sẻ tài
nguyên trên nội bộ LAN, điều hành in ấn qua mạng, khai thác CSDL, văn bản
pháp quy, quản lý văn bản đi đến, quản lý Đảng Viên, quản lý cán bộ, công
chức…Các máy chủ được phân cấp quản lý theo một cấu trúc thống nhất của
một hệ thống thông tin hoàn chỉnh
3 Cisco Pix525(x1) Tường lửa 8
Trang 113 IBM x255 7U 4xCPU XEON MP
2.7/2.8 2003 WebService Database Email
2.7/2.8 2003 WebService Database Email
Các phần mềm được sử dụng trong các đơn vị quản lý nhà nước, các đơn vị
sự nghiệp, Thương vụ trực thuộc Bộ:
- Bộ ứng dụng soạn thảo văn bản Word và bảng tính Excel trong văn
phòng
- Phần mềm mã font tiếng việt(Unikey, VietKey )
- Quản lý Email (MS Outlook/ Exchange/ Lotus Notes)
Trang 12- Quản lý kế toán, tài chính
- Quản lý nhân sự, tiền lương
- Quản lý tổng thể nguồn lực(ERP)
1.3 – Kết nối Internet – Thương mại điện tử E-commerce
Tất cả các đơn vị quản lý nhà nước, các đơn vị sự nghiệp, Thương vụ trực thuộc Bộ đều đã lắp đặt và sử dụng internet theo các kiểu kết nối khác nhau nhưng chất lượng sử dụng đều ổn định nhằm các mục đích:
- Tìm kiếm thông tin trên internet nhằm phục vụ mục đích của đơn vị
- Sử dụng email cho công việc: từ lãnh đạo cho tới các nhân viên đều
sử dụng email để trao đổi công việc hằng ngày
- Mỗi đơn vị đều có website riêng nên sử dụng internet để: Giới thiệu hình ảnh của đơn vị, cập nhật thông tin hằng ngày… Tất cả các website của đơn vị sử dụng đều đạt được kết quả cao thông tin trên website được bảo đảm về mặt nội dung
- Các đơn vị đều có bộ phận chuyên trách phụ trách công nghệ thông tin
1.4 - Kết luận, đánh giá
1 Các đơn vị trực thuộc Bộ đảm bảo trang bị cho mỗi cán bộ, công chức, viên chức ít nhất một máy tính cá nhân với chất lượng và cấu hình phù hợp; từng bước trang bị các thiết bị đầu cuối di động cho các cán bộ, công chức có nhu cầu
2 Tất cả các đơn vị đều có mạng cục bộ (LAN) hoặc mạng diện rộng (WAN) với chất lượng phù hợp với nhu cầu trao đổi thông tin số hóa và triển khai các ứng dụng thuộc chức năng nhiệm vụ của đơn vị cũng như của cả Bộ
3 Xây dựng mạng nội bộ (Intranet) của ngành công thương phục vụ tốt công tác quản lý nhà nước của Bộ: hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của
Trang 13lãnh đạo Bộ và các đơn vị; cung cấp, trao đổi, khai thác thông tin nội bộ của
Bộ và ngành công thương
4 Đảm bảo hệ thống máy tính và mạng của các đơn vị trực thuộc Bộ được kết nối với Mạng truyền số liệu chuyên dùng của Chính phủ theo hướng dẫn của cơ quan chủ quản
5 Đảm bảo tất cả các máy tính cá nhân được kết nối Internet tốc độ cao, ngoại trừ một số máy tính cá nhân được sử dụng cho các công việc đòi hỏi an toàn thông tin theo quy định của pháp luật
6 Nhanh chóng nâng cấp các Trung tâm tích hợp dữ liệu (Data Center) của các đơn vị đủ khả năng xử lý các nhiệm vụ ứng dụng công nghệ thông tin của đơn vị trong cả giai đoạn kế hoạch; đảm bảo khả năng tích hợp và liên thông giữa các Trung tâm tích hợp dữ liệu để tối ưu hiệu suất các thiết bị, phòng ngừa các rủi ro về mất an toàn thông tin liên quan tới các sự cố về điện, cháy nổ, tin tặc, v.v…
Ngoài ra cần Đầu tư mua sắm các phần mềm có bản quyền như: Hệ điều hành windows, Microsoft Office, phần mềm diệt virus
7 Kết luận
Hạ tầng công nghệ thông tin của Bộ Công Thương đáp ứng được nhu cầu nghiên cứu và triển khai thực hiện dự án Cơ sở dữ liệu ngành Cơ khí Việt
2 - Thực trạng hạ tầng CNTT TT TTCN & TM
2.1 - Giới thiệu Trung tâm Thông tin Công nghiệp và Thương mại
Theo quyết định 2975 /QĐ – BCT ngày 22/5/2008, Trung tâm Thông tin Công nghiệp và Thương mại là đơn vị sự nghiệp công lập có thu tự đảm bảo một phần kinh phí hoạt động thường xuyên, hoạt động trên phạm vi cả nước, thực hiện chức năng cung cấp thông tin và xuất bản các ấn phẩm về kinh tế, công nghiệp, thương mại, thị trường, thương nhân trong và ngoài nước phục vụ công tác quản lý nhà nước của Bộ Công thương, các cơ quan Đảng, nhà nước và nhu cầu của các tổ chức, cá nhân trong nước, ngoài nước theo quy định của pháp luật
2.2- Nhiệm vụ và quyền hạn của Trung tâm Thông tin Công nghiệp và Thương mại
1.Xây dựng hoặc tham gia xây dựng và trình Bộ trưởng phê duyệt chiến lược, quy hoạch, kế hoạch các chương trình, dự án, đề án về công tác thông tin về kinh tế, công nghiệp, thương mại, thị trường, thương nhân trong và ngoài nước phục vụ công tác quản lý nhà nước về công nghiệp và thương mại; tổ chức thực hiện sau khi được phê duyệt
Trang 142.Thu thập, tổng hợp, dự báo, đánh giá và báo cáo Bộ về diễn biến, xu
hướng phát triển của ngành công nghiệp, thương mại, thị trường, mặt hàng
quan trọng của Việt Nam và thế giới; đề xuất các biện pháp, giải pháp quản lý
nhà nước về công nghiệp, thương mại và thị trường
3.Thu thập, điều tra, thống kê, xử lý, lưu trữ và cung cấp thông tin kinh
tế, công nghiệp, thương mại, thị trường, thương nhân trong và ngoài nước
bằng các hình thức và phương thức thông tin, truyền thông phục vụ các cơ
quan Đảng, Nhà nước và các tổ chức, cá nhân có nhu cầu theo quy định của
pháp luật
4.Xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia, dữ liệu ngành về kinh tế, công nghiệp,
thương mại; xây dựng và công bố chỉ số giá xuất nhập khẩu của ngành Công
thương
5.Xuất bản các ấn phẩm phục vụ phát triển kinh tế, công nghiệp, thương
mại theo quy định của pháp luật
6.Tham gia các hoạt động xúc tiến thương mại, tư vấn cho các tổ chức và
cá nhân trong và ngoài nước trong việc tìm kiếm cơ hội đầu tư, kinh doanh
trong và ngoài nước
7.Chủ trì hoặc tham gia xây dựng và thực hiện các đề án, dự án, đề tài
nghiên cứu khoa học, tổ chức các khóa đào tạo về thông tin kinh tế, công
nghiệp, thương mại, đầu tư
8.Tham gia Tổ Điều hành thị trường trong nước, Hội đồng Tư vấn thông
tin của Bộ
9.Tham gia triển khai và phát triển thương mại điện tử
10 Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực thông tin, thống kê kinh tế, công
nghiệp, thương mại theo quy định của pháp luật
11 Thực hiện chế độ kế toán, thống kê, quản lý tài chính, tài sản, tổ chức,
biên chế được giao theo quy định của pháp luật và phân cấp quản lý của Bộ
12 Thực hiện các nhiệm vụ khác do Lãnh đạo Bộ giao
Trang 152.3.2 - Thiết bị mạng:
Bảng 1.2 – Hạ tầng thiết bị mạng của TT TTCN & TM
Stt Tên thiết bị Loại thiết bị Cấu hình cơ bản Hiệu suất sử
Bảng 1.3 – Thực tế sử dung thiết bị CNTT TT TTCN &TM
Stt Loại máy chủ Cấu hình cơ bản Năm sản xuất Ứng dụng hiện tại
2.7/2.8
LAN
Trang 1613 IBM x235(x4) 4U 2xCPU XEON MP
Bảng 1.4 – Trang bị hạ tầng CNTT kghac của TT TTCN & TM
5 Kế hoạch tổng
46 NQ – 76 NTT
Vinanet.com.vn Nhanhieuviet.gov.vn
12 Tư vấn, nghiên
cứu, dự báo
Tinthuongmai.vn
Trang 17Về hạ tầng mạng, do địa điểm làm việc của các bộ phận nằm phân tán nên
từ trước năm 2010, nhiều đơn vị tự thuê bao và quản lý mạng LAN – Internet riêng của mình Điều này không những gây lãng phí mà còn gây khó khăn cho việc quản lý cũng như chia sẻ thông tin giữa các đơn vị Để khắc phục, từ năm 2010, phòng Kỹ thuật đã thiết lập hạ tầng chung tại hai địa chỉ - 46 Ngô Quyền và 76 Nguyễn Trường Tộ
Về hạ tầng công nghệ, hiện tại do nhu cầu riêng của từng đơn vị, các đơn
vị tự chịu trác nhiệm về các phần mềm ứng dụng cũng như các hệ quản trị CSDL Dự kiến, Ban CNTT sẽ xây dựng CSDL chung để chia sẻ thông tin của tất cả các đơn vị trong Trung tâm
Về trang web, các trang web của Trung tâm cũng do các đơn vị tạo lập nên Trong khi đó, ngoài trang web thông tin nội bộ http://web.vtic.vn Trung tâm chưa có một website chính thức, nhằm mục đích quảng bá hình ảnh của Trung tâm ra bên ngoài
Trang 18Về bản quyền phần mềm: ngoài các phần mềm kế toán được mua bản quyền, còn lại hầu các phần mềm như Windows, Offices, Lạc Việt từ điển, diệt virus … đều chưa được đầu tư đúng đắn để có bản quyền chuẩn, dẫn đến tình trạng hay xảy ra sự cố trong quá trình làm việc như virus, lỗi windows, mất dữ liệu
3 - Các dự án ứng dụng CNTT trong Bộ Công thương và TTTT CN &TM
3.1 -Các dự án, đề án ứng dụng CNTT của Bộ Công thương:
Kế hoạch ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước năm 2008 (Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 43/2008/QĐ-TTg ngày 24/3/2008)
Kế hoạch ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước giai đoạn 2009 – 2010 (Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 48/2009/QĐ-TTg ngày 31/3/2009)
Dự án Phát triển CNTT và truyền thông tại Việt Nam, thời gian thực hiện: 2006-2010
Dự án Phòng thí nghiệm điện tử, tự động hoá - Viện Nghiên cứu Điện tử, Tin học, Tự động hoá: Quyết định đầu tư số 5419/QĐ-BCT 29/10/2009, khởi công năm 2010, kết thúc năm 2013,
ĐT xây dựng trung tâm phân tích hoá - lý kim loại màu của Viện Khoa học Công nghệ Mỏ và Luyện kim, Quyết định đầu tư số 5147/QĐ-BCT 16/10/2009
Cung cấp trực tuyến các dịch vụ công ngành thương mại (giai đoạn I) Cục Thương mại điện tử và Công nghệ Thông tin, Quyết định đầu tư số 1562/QĐ-BTM 28/9/2006, Khởi công năm 2008, kết thúc năm 2010
DA XD mạng kinh doanh điện tử cho một số doanh nghiệp quy mô lớn Cục Thương mại Điện tử và Công nghệ thông tin, Quyết định đầu tư số 5468/QĐ-BCT 30/10/2009, Khởi công năm 2009, kết thúc năm 2012
-Dự án Hỗ trợ Thương mại Đa biên giai đoạn III (EU-Vietnam MUTRAP III) do Ủy ban châu Âu phối hợp với Chính phủ Việt Nam thực hiện bắt đầu
từ tháng 8/2008 đến tháng 6/2012 Mục tiêu của Dự án Hỗ trợ Thương mại
Đa biên giai đoạn III nhằm tăng cường năng lực cho Bộ Công Thương trong việc tiếp tục thực hiện và phát triển chiến lược hội nhập kinh tế và thương mại theo Hiệp định Tài chính số ASIE/2007/018-844 giữa Ủy ban châu Âu và Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Dự án Xây dựng Cổng thông tin điện tử Bộ Công Thương đang triển khai
Dự án Hỗ trợ thương mại đa biên Giai đoạn III (EU-Việt Nam MUTRAP III) do Liên minh châu Âu tài trợ, Bộ Công Thương thực hiện (Trang Web của của Dự án http://www.mutrap.org.vn )
Trang 19Dự án ứng dụng công cụ quản trị cho doanh nghiệp tại Sở Công thương Đồng Tháp: Nhằm tăng cường năng lực cạnh tranh bằng năng suất – chất lượng cho doanh nghiệp (DN) sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp, ngày 24/3/2011, tại thành phố Cao Lãnh, Trung tâm hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa 2 phối hợp cùng Sở Công Thương Đồng Tháp tổ chức hội thảo giới thiệu nội dung, mục tiêu của dự án ứng dụng một số công
cụ quản trị tiên tiến nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động cho DN, đồng thời triển khai cho DN đăng ký để xem xét đủ điều kiện nhận được sự hỗ trợ từ dự
án
Hội thảo đã thu hút hơn 60 đại biểu đại diện cho hơn 50 DN đến dự nghe báo cáo về tình hình triển khai các công cụ quản trị trong DN của cả nước cũng như tình hình ứng dụng trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp Ngoài ra, các DN còn được nghe báo cáo điển hình của một số DN trên địa bàn tỉnh đã áp dụng thành công và có hiệu quả một số tiêu chuẩn như tiêu chuẩn ISO 14001 về hệ thống quản lý môi trường và một số công cụ về năng suất trong DN
Theo báo cáo đánh giá, đến nay toàn tỉnh có khoảng 72 tiêu chuẩn, công
cụ về chất lượng được cấp cho các DN, trong đó tiêu chuẩn ISO 9001 được các DN áp dụng nhiều nhất (34 DN), còn lại các tiêu chuẩn khác chỉ có vài
DN áp dụng Vì vậy, để hỗ trợ DN tiếp cận với các công cụ quản trị tiến tiến nhằm năng cao hiệu quả hoạt động, dự án sẽ lựa chọn khoảng 20 DN có đủ điều kiện và năng lực triển khai để hỗ trợ tư vấn và chứng nhận lần đầu cho các các hệ thống quản lý như: hệ thống quản lý môi trường ISO 14001-2004 nhằm thực hiện biện pháp bảo vệ môi trường theo yêu cầu của từng ngành nghề sản xuất; hệ thống quản lý an toàn vệ sinh thực phẩm ISO 22000 cho các DN sản xuất chế biến thực phẩm, đồ uống; hệ thống quản lý an toàn thông tin ISO/IEC 27001 nhằm bảo mật thông tin trong DN và một số công
cụ nâng cao năng suất cho DN, dự kiến dự án sẽ hỗ trợ 100% kinh phí tư vấn
và chứng nhận lần đầu, việc triển khai cải tạo và ứng dụng sẽ do DN đầu tư thực hiện từ nay đến năm 2013.Đây là dự án mang tính chất trình diễn nhằm xây dựng một số công cụ quản trị cho DN, nhưng là yếu tố quan trọng quyết định năng lực cạnh tranh của DN, tạo lập được các DN hạt nhân điển hình của tỉnh về năng suất, chất lượng, đồng thời phối hợp nhân rộng cho cộng đồng DN của tỉnh và khu vực theo con đường phát triển vững chất, bền vững bằng năng suất, chất lượng trong thời gian tới
3.2 - Dự án, đề án ứng dụng CNTT của Trung tâm Thông tin CN&TM:
Một trong những chức năng của Trung tâm là thực hiện triển khai các
dự án, đề án, nhiệm vụ quan trọng của Bộ
Trung tâm hiện đang triển khai các dự án lớn là
Dự án “Tổ chức và triển khai phát triển Thương mại điện tử”
Trang 20Dự án “Xây dựng CSDLQG kinh tế, công nghiệp và thương mại”
Dự án “Xây dựng CSDL ngành cơ khí Việt Nam” \
Hiện các dự án đều triển khai đúng tiến độ và kế hoạch đề ra Giá trị khối lượng hoàn thành lớn
Riêng dự án “Xây dựng CSDL ngành cơ khí Việt Nam” hiện nay được
chia làm nhiều giai đoạn, tại mỗi giai đoạn được triển khai dưới dạng các đề tài, và trong năm 2011, 2012 sẽ triển khai 3 đề tài như sau:
- Đề tài “Nghiên cứu thiết kế xây dựng cổng thông tin điển tử cho CSDL
ngành cơ khí Việt Nam”
- Đề tài “Nghiên cứu,Khảo sát đánh gía thực tế các yếu tố đảm bảo xây
dựng CSDL và xây dựng các chỉ tiêu kỹ thuật và công nghệ ngành cơ khí Việt Nam”
- Đề tài “Nghiên cứu lý thuyết và phương pháp luận xây dựng CSDL theo
mô hình Data Ware House và Metadata "
3.2.1 - Dự án “Tổ chức và triển khai phát triển Thương mại điện tử”
- Phần xây lắp
Tổng cộng có 51 gói thầu Hiện nay, dự án đã thực hiện xong 40 gói thầu Đang thực hiện 07 gói thầu khác (đã có báo cáo cụ thể gửi Vụ Kế hoạch hàng tháng) Gói thầu phần thân đã xây xong phần thô, đang hoàn thiện những hạng mục cuối của tòa nhà 15 tầng Trung tâm đang phấn đấu để cuối năm
2011 hoàn thành về cơ bản phần xây lắp đưa toà nhà vào sử dụng
- Phần Thương mại điện tử
Trung tâm đã trình Bộ cho thực hiện hai gói thầu đầu tiên là “Thiết kế thi công lập Tổng dự toán” và “Thẩm định thiết kế thi công tổng dự toán” từ tháng 02 năm 2011 Đến tháng 10 năm 2011, theo yêu cầu của Bộ, Trung tâm đang phối hợp chặt chẽ với Cục TMĐT và CNTT điều chỉnh lại phần thương mại điện tử theo hướng phù hợp hơn theo đúng Nghị định 102/2009/NĐ-CP của Chính phủ Hiện nay Trung tâm đã xây dựng xong Dự thảo Báo cáo điều chỉnh phần thương mại điện tử và Cục TMĐT &CNTT đang xem xét góp ý Trên cơ sở góp ý của Cục TMĐT &CNTT, Trung tâm sẽ hoàn chỉnh trình Bộ phê duyệt phê duyệt điều chỉnh phần thương mại điện tử của Dự án
3.2.2 - Dự án “Xây dựng CSDLQG kinh tế, công nghiệp và thương mại”
- Tình hình thực hiện Dự án:
+ Triển khai tiếp hạng mục Mua sắm phần mềm lõi và triển khai phần mềm ứng dụng
+ Tạo lập số liệu ban đầu – Phần Thống kê Công nghiệp
+ Tạo lập số liệu ban đầu - Phần Thống kê Thương mại và các nội dung thông tin khác
+ Đào tạo nguồn lực CNTT để duy trì vận hành và phát triển CSDL
Trang 21+ Thiết bị phần cứng và thiết bị dân dụng phần hạ tầng CNTT
+ Kiểm toán quyết toán vốn đầu tư dự án hoàn thành
+ Tổ chức đoàn ra khảo sát mô hình, học tập quản lý vận hành cơ sở
Kết quả đề án đã thực hiện được về cơ bản những nội dung và yêu cầu đặt
ra Kết quả tính toán, phân tích chỉ số giá xuất nhập khẩu thương mại đã cung cấp thông tin tới lãnh đạo Bộ Công Thương, các Vụ, Cục, Ban, Ngành liên quan để điều hành xuất khẩu, nhập khẩu và bình ổn thị trường trong nước, giúp cho doanh nghiệp theo dõi diễn biến giá, tìm kiếm thị trường xuất nhập khẩu Hiệu quả cung cấp thông tin của nhiệm vụ "Thu thập giá, tính toán và công bố
chỉ số giá hàng hoá xuất nhập khẩu thương mại" ngày càng được nâng cao
- Khắc phục những khó khăn để thực hiện tốt các nhiệm vụ đặt ra Đánh giá các dàn mẫu đại diện đưa vào tính chỉ số giá các nhóm/mặt hàng, thị trường đảm bảo chỉ số giá được tính toán chính xác, kịp thời Giữ kết quả tính chỉ số giá và đánh giá hiệu quả sử dụng của Cơ quan quản lý nhà nước và doanh nghiệp
+ Xây dựng được các dàn mẫu đại diện, giá đại diện để tính chỉ số giá hàng hoá xuất nhập khẩu từng tháng năm 2011 theo gốc so sánh năm 2010 (để phù hợp với các chỉ tiêu của Nhà nước và của Bộ Công Thương)
+ Hiện nay, số thị trường đưa vào tính toán và công bố lên 20 thị trường,
có chi tiết từng nhóm/mặt hàng; số nhóm/mặt hàng tính toán, phân tích, công
bố lên 33 nhóm (15 nhóm/mặt hàng xuất khẩu, 18 nhóm/mặt hàng nhập khẩu)
- Hoàn thiện nội dung thông chỉ số giá xuất nhập khẩu thương mại để trở thành 1 chỉ tiêu Thống kê ngành Công Thương với tên gọi là “Giá và biến động giá hàng hoá xuất nhập khẩu” (năm 2011, Vụ Kế hoạch không được cấp kinh phí lên không thực hiện, chuyển sang năm 2012)
- Nâng cao trình độ cán bộ, nhân viên để thực thực hiện tốt các nhiệm vụ
do lãnh đạo Trung tâm, Bộ Công Thương giao
3.2.4 - Đối với đề án “Phát triển mạng lưới thông tin thị trường nội địa phục
Trang 22- Thực hiện các báo cáo “Diễn biến thị trường giá cả trong tháng và dự
báo trong thời gian tới” gửi Lãnh đạo Bộ và thành viên Tổ điều hành thị
trường trong nước
- Thực hiện báo cáo “Thông tin thị trường và dự báo” gửi cho các doanh
nghiệp và các cơ quan quản lý Nhà nước
Hàng năm Trung tâm thực hiện khoảng 52 Báo cáo tuần và 12 Báo cáo tháng “Diễn biến giá cả một số mặt hàng trong tuần, tháng và dự báo” của 45 chỉ tiêu mặt hàng (gồm 09 chỉ tiêu mặt hàng nhập khẩu; 07 chỉ tiêu mặt hàng nhập khẩu; 06 chỉ tiêu hàng thế giới; 23 chỉ tiêu mặt hàng thiết yếu dân sinh) Ngoài ra hàng tháng đã cũng đã đưa ra dự báo chỉ số giá CPI Kết quả dự báo CPI trong báo cáo khá sát với thực tế (hơn 95%)
3.2.5 - Đề án “Thông tin Thương mại biên giới phục vụ quản lý Nhà nước”
Sản phẩm ngày càng được nâng cao chất lượng chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ biên tập viên, hệ thống cộng tác viên đều được đào tạo để nâng cao chất lượng nội dung các báo cáo, đảm bảo thực hiện đúng tiến độ về phát
cửa khẩu khu vực biên giới Chất lượng các Báo cáo được Lãnh đạo Chính
phủ, Lãnh đạo Bộ Công Thương và các cơ quan quản lý Nhà nước trong lĩnh vực thương mại biên giới đánh giá cao
3.2.6 - Nhiệm vụ: “Nghiên cứu, phân tích, dự báo và cung cấp thông tin về thị trường xuất/nhập khẩu, ngành hàng xuất/nhập khẩu; Dự báo ngắn hạn, cảnh báo những mặt hàng nhạy cảm; Tình hình kinh tế thế giới; Tình hình tài chính tiền tệ trong nước”
Mặc dù dự toán của nhiệm vụ chưa được phế duyệt nhưng Trung tâm vẫn tiến hành triển khai nhiệm vụ, với sản phẩm đầu ra là các báo cáo đạt chất lượng cao và được gửi đều đặn tới Lãnh đạo Bộ Công Thương, các Vụ chức năng thuộc Bộ và các Bộ, ban ngành liên quan
Nhìn chung, các nhiệm vụ được Trung tâm triển khai, thực hiện tốt, theo đúng kế hoạch Bên cạnh việc tăng cường cập nhật cơ sở dữ liệu về chuyên môn, luật cũng như sự thay đổi các chính sách, quy định của Chính phủ, Trung tâm còn tập trung nâng cao kiến thức chung cho đội ngũ chuyên viên thực hiện các nhiệm vụ Ngân sách, xây dựng và kiện toàn Quy chế chi tiêu
Trang 23nội bộ để trình Bộ xem xét, làm cơ sở cho việc giải ngân và thực hiện các nhiệm vụ
3.3 - Kết luận và đánh giá
Qua khảo sát tình hình triển khai các dự án, đề tài ứng dụng Công nghệ thông tin của Bộ Công thương và Trung tâm Thông tin Công nghiệp và Thương mại, chúng tôi nhận định Bộ và Trung tâm hoàn toàn có khả năng triển khai tốt các dự án, đề tài ứng dụng Công nghệ thông tin do Trung tâm là một đơn vị rất mạnh trong việc nắm bắt diễn biến tình hình Kinh tế, Công nghiệp, Thương mại; Phân tích, dự báo, tham mưu, đề xuất các giải pháp điều hành kinh tế, QLNN theo chức năng, nhiệm vụ được giao
Trên tinh thần quán triệt cao các Nghị Quyết, Quyết định, Chỉ thị của Chính phủ và Bộ Công Thương, đặc biệt là Nghị quyết số 02/NQ-CP và Nghị quyết số 11/NQ-CP; Trong năm 2011, Trung tâm đã và đang thực hiện một lượng lớn các báo cáo (khoảng trên 100 báo cáo) cung cấp thông tin dự báo, cảnh báo, kiến nghị đề xuất các giải pháp, biện pháp điều hành, quản lý nhà nước (QLNN) về tình hình kinh tế và các vấn đề liên quan; về xuất, nhập khẩu, lạm phát, tình hình thị trường, giá cả trong và ngoài nước cho Văn phòng Trung ương Đảng, Văn phòng Chính phủ, Văn phòng Quốc hội; Lãnh đạo Bộ Công Thương, Lãnh đạo các Bộ, ngành liên quan và góp phần định hướng hoạt động sản xuất, kinh doanh cho các doanh nghiệp
Các báo cáo đã được Lãnh đạo Bộ Công Thương, Lãnh đạo các Bộ, ngành liên quan, Văn phòng Chính phủ và các cơ quan quản lý nhà nước khác đánh giá cao tính hiệu quả, cần thiết, hữu ích của nguồn thông tin
Sau một năm thực hiện, đánh giá về tính xác thực và hiệu quả của công tác dự báo, và các đề xuất kiến nghị của Trung tâm (về kinh tế thế giới, kinh tế trong nước, đặc biệt là về thị trường nội địa và CPI, XNK, tài chính tiền tệ), cho thấy kết quả dự báo và các đề xuất kiến nghị khá sát với diễn biến và thực tế trong năm 2011 (Trung tâm đã có báo cáo chi tiết, cụ thể theo công văn số
9771 và gửi Văn phòng Bộ ngày 14/11/2011)
Các bản tin, tạp chí thuộc Trung tâm đã bám sát chủ trương, chính sách
của Đảng và Nhà nước, nội dung của Nghị quyết số 02/NQ-CP, nghị quyết số 11/NQ-CP và chương trình hành động này tổ chức triển khai thông tin, tuyên truyền đầy đủ, kịp thời, nhất là các nội dung nhằm thực hiện mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội Các bản tin, tạp chí đã đăng tải nhiều bài viết phản ánh, phân tích hoạt động sản xuất, xuất/nhập khẩu, tài chính tiền
tệ, giá cả theo đúng định hướng của nghị quyết; tuyên truyền các chính sách
an sinh xã hội
Trang 244 – Hệ thống văn bản pháp luật của Việt Nam cho đầu tư và phát triển ngành cơ khí
4.1 - Văn bản pháp luật số 1:
- Số hiệu văn bản: 183-CP
- Ngày ban hành: 2/11/1961
- Tên Văn bản: Nghị định quy định nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy
của Bộ Công nghiệp nặng
- Nội dung chính:
Bộ Công nghiệp nặng là cơ quan của Hội đồng Chính phủ có trách nhiệm quản lý các ngành công nghiệp cơ khí, khai khoáng, hóa chất, luyện kim thuộc phạm vi Bộ phụ trách theo đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; bảo đảm hoàn thành tốt nhiệm vụ và kế hoạch sản xuất và kiến thiết cơ bản của Bộ nhằm tăng cưòng cơ sở vật chất và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, bảo đảm thực hiện tái sản xuất mở rộng của các ngành kinh tế quốc dân, góp phần nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân, phục vụ quốc
phòng
4.2 - Văn bản pháp luật số 2:
- Số hiệu văn bản: 406-CP
- Ngày ban hành: 12/11/1979
- Tên Văn bản: Nghị định quy định nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy
của Bộ Cơ khí và Luyện Kim
Kế hoạch Nhà nước về kế hoạch sản xuất của toàn ngành cơ khí
2 Thực hiện đầy đủ chức năng thống nhất quản lý Nhà nước trong cả nước đối với các chuyên ngành cơ khí chế tạo phục vụ cho sự phát triển của ngành
3 Thống nhất quản lý trong cả nước ngành luyện kim
4 Chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ và chỉ tiêu kế hoạch được giao theo đường lối phát triển kinh tế của Đảng và luật pháp của Nhà nước
4.3 - Văn bản pháp luật số 3:
- Số hiệu văn bản: 186/2002/QĐ-TTg
Trang 25- Ngày ban hành: 26/12/2002
- Tên Văn bản: Quyết định về việc phê duyệt Chiến lược phát triển ngành cơ
khí Việt Nam đến năm 2010, tầm nhìn tới năm 2020
4.4 - Văn bản pháp luật số 4:
- Số hiệu văn bản: 01/2003/QĐ-CKTĐ
- Ngày ban hành: 15/12/2003
- Tên Văn bản: Ban hành Quy chế hoạt động của Ban Chỉ đạo Chương trình
sản phẩm cơ khí trọng điểm do Trưởng Ban chỉ đạo Chương trình sản phẩm
cơ khí trọng điểm ban hành
- Nội dung chính:
Sản phẩm cơ khí trọng điểm là các sản phẩm cơ khí được quy định tại
điểm a khoản 2 Điều 1 Quyết định số 186/2002/QĐ-TTg ngày 26 tháng 12 năm 2002 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển ngành
cơ khí Việt Nam đến năm 2010, tầm nhìn tới năm 2020
4.5 - Văn bản pháp luật số 5:
- Số hiệu văn bản: 87/2004/QĐ-BCN
- Ngày ban hành: 06/09/2004
- Tên Văn bản: Quyết định của Bộ Công nghiệp về việc phê duyệt Đề án
“Phát triển ngành cơ khí đến năm 2010 phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn“
- Nội dung chính:
Phát triển cơ khí phục vụ nông nghiệp, nông thôn phải phù hợp với
Chiến lược phát triển ngành cơ khí Việt Nam đến 2010, tầm nhìn đến 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt
4.6 - Văn bản pháp luật số 6:
- Số hiệu văn bản: 5275/CV-KHCN
- Ngày ban hành: 15/10/2004
- Tên Văn bản: việc xác nhận điều kiện kỹ thuật, năng lực, công nghệ sản
xuất và tỷ lệ nội địa hoá
- Nội dung chính: xác nhận điều kiện kỹ thuật, năng lực, công nghệ sản xuất
và tỷ lệ nội địa hoá
Trang 264.7 - Văn bản pháp luật số 7:
- Số hiệu văn bản: 5193/TC/TCHQ
- Ngày ban hành: 28/04/2005
- Tên Văn bản: Công văn 5193/TC/TCHQ của Bộ Tài chính về việc thực
hiện chính sách thuế theo tỷ lệ nội địa hoá sản phẩm, phụ tùng ngành cơ khí, điện,điện tử
- Nội dung chính:
Trường hợp doanh nghiệp nhập khẩu linh kiện, phụ tùng theo chính sách
ưu đãi thuế theo tỷ lệ nội địa hoá để sản xuất, lắp ráp trong nước, nếu tại thời điểm nhập khẩu doanh nghiệp chưa xuất trình được văn bản bảo đảm tính hợp pháp về sở hữu công nghiệp (chưa xuất trình được văn bản đảm bảo tính hợp pháp về sở hữu công nghiệp hoặc hồ sơ đăng ký về nhãn hiệu hàng hoá với
cơ quan có thẩm quyền), nhưng đáp ứng đầy đủ các điều kiện khác để đựơc
áp dụng chính sách thuế theo tỷ lệ nội địa hoá theo quy định tại Thông tư liên tịch số: 176/1998/TTLT-BTC-BCN-TCHQ và Thông tư liên tịch số:
120/2000/TTLT-BTC-BCN-TCHQ nêu trên và sau đó sản phẩm đăng ký thực hiện chính sách thuế theo tỷ lệ nội địa hoá của các doanh nghiệp đã được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận về tính hợp pháp về sở hữu công nghiệp, thì được áp dụng mức thuế nhập khẩu theo tỷ lệ nội địa hoá thực tế đạt được Nếu phát hiện doanh nghiệp có hành vi gian lận, trốn thuế sẽ bị xử
lý theo Luật định
4 8 - Văn bản pháp luật số 8:
- Số hiệu văn bản: 33/2005/QĐ-BTS
- Ngày ban hành: 23/12/2005
- Tên Văn bản: Quyết định phê duyệt Chương trình phát triển cơ khí ngành
thủy sản đến năm 2010 - định hướng đến năm 2020
- Nội dung chính:
Phát triển cơ khí thủy sản theo hướng sản xuất hàng hoá, trên cơ sở ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến đáp ứng nhu cầu phát triển trong nước, tạo sức cạnh tranh của từng loại sản phẩm, tiến tới xuất khẩu một số sản phẩm cơ khí đặc thù của nghề cá
4 9 - Văn bản pháp luật số 9:
- Số hiệu văn bản: 10887/QĐ-UBND
- Ngày ban hành: 25/12/2006
- Tên Văn bản: Về việc phê duyệt Quy hoạch phát triển ngành công nghiệp
cơ khí trên địa bàn tỉnh Đồng Nai đến năm 2010, có xét đến năm 2020
- Nội dung chính:
Trang 27Tiếp tục phát triển mạnh ngành công nghiệp cơ khí, trên cơ sở phát huy năng lực sản xuất các sản phẩm hiện có, đáp ứng thị trường trong nước và xuất khẩu, nâng cao khả năng cạnh tranh của ngành hàng trong tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới Đẩy mạnh thu hút đầu tư sản xuất các sản phẩm mới, công nghệ cao, hiện đại phát triển mạnh các sản phẩm công nghiệp phụ trợ, tạo điều kiện thúc đẩy ngành công nghiệp cơ khí phát triển thành một ngành công nghiệp then chốt của địa phương
tô, Cơ khí Chế tạo
4.11 - Văn bản pháp luật số 11:
- Số hiệu văn bản: 02/2008/QĐ-BCT
- Ngày ban hành: 21/01/2008
- Tên Văn bản: Về việc phê duyệt Quy hoạch phát triển công nghiệp sản
xuất máy động lực và máy nông nghiệp giai đoạn 2006-2015, có xét đến năm
2020
- Nội dung chính:
Mục tiêu tổng quát: đến năm 2020 đưa sản xuất máy động lực, máy nông nghiệp thành ngành sản xuất mạnh của Việt Nam và trong khu vực, góp phần đảm bảo thắng lợi của sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
4.12 - Văn bản pháp luật số 12:
- Số hiệu văn bản: 1827/QĐ-UBND
- Ngày ban hành: 25/04/2008
- Tên Văn bản:
Quyết định 1827/QĐ-UBND năm 2008 phê duyệt Quy hoạch phát triển
ngành công nghiệp cơ khí của thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2010, có tính đến năm 2020 do Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh ban hành
Trang 284.13 - Văn bản pháp luật số 13:
- Số hiệu văn bản: 10/2009/QĐ-TTg
- Ngày ban hành: 16/01/2009
- Tên Văn bản: Quyết định về cơ chế hỗ trợ phát triển sản xuất sản phẩm cơ
khí trọng điểm và Danh mục các sản phẩm cơ khí trọng điểm, Danh mục dự
án đầu tư sản xuất sản phẩm cơ khí trọng điểm giai đoạn từ năm 2009 đến năm 2015
- Tên Văn bản: Quyết định phê duyệt Quy hoạch phát triển ngành công
nghiệp cơ điện tử Việt Nam giai đoạn đến năm 2015, có xét đến năm 2025
- Nội dung chính:
Mục tiêu chung của qui hoạch là xây dựng công nghiệp cơ điện tử Việt Nam nhằm phục vụ đắc lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, quốc phòng, an ninh của đất nước
4.16 - Văn bản pháp luật số 16:
- Số hiệu văn bản: 583/QĐ-BCT
- Ngày ban hành: 13/02/2012
Trang 29- Tên Văn bản: Quyết định phê duyệt qui hoạch phát triển ngành đúc Việt
Nam giai đoạn 2009-2020, có xét đến năm 2025
- Nội dung chính:
Các mục tiêu:
+ Đến năm 2020, đáp ứng phần lớn nhu cầu sản phẩm đúc của thị trường nội địa đối với các ngành: khai thác mỏ, xây dựng, giao thông, cơ khí chế tạo, quốc phòng và có một phần xuất khẩu
+ Đến năm 2025 sản xuất sản phẩm đúc chất lượng cao thay thế nhập khẩu và tiến tới xuất khẩu
4.17 - Văn bản pháp luật số 17:
- Số hiệu văn bản: 06/2012/QĐ-UBND
- Ngày ban hành: 14/02/2012
- Tên Văn bản: Quyết định về việc phê duyệt quy hoạch phát triển công
nghiệp hỗ trợ Tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu giai đoạn 2011-2020, xét đến năm 2025
- Nội dung chính:
Giai đoạn 2011 - 2015 sẽ tập trung thu hút đầu tư vào các lĩnh vực, đặc biệt là CNHT ngành cơ khí chế tạo, giai đoạn này tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất công nghiệp ngành CNHT ước đạt trên 44 %/năm Đây là giai đoạn đột phá quan trọng, đưa Bà Rịa - Vũng Tàu thành tỉnh có thế mạnh về công nghiệp cơ bản
5 - Thực trạng đầu tư,sản xuất kinh doanh của ngành cơ khí Việt Nam
5.1 - Quá trình phát triển của ngành Cơ khí Việt Nam
-Giai đoạn trước năm 1975: ở giai đoạn này, ngành cơ khí ở Miền Bắc
chủ yếu được hình thành và phát triển từ thời kỳ chống Pháp và được trang
bị thêm một số máy móc thiết bị của các nước XHCN Ngành cơ khí thời kỳ này tuy nhỏ bé nhưng đã có nhiều đóng góp cho nhu cầu của việc xây dựng CNXH ở Miền Bắc và nhu cầu của công nghiệp quốc phòng phục vụ công cuộc thống nhất đất nước
-Giai đoạn từ 1975-1986: đây là thời kỳ trước đổi mới, năng lực của
ngành cơ khí cả nước chủ yếu tập trung vào khoảng 610 đơn vị quốc doanh Các tổ chức kinh tế tư nhân… trong ngành cơ khí chiếm vai trò thứ yếu do chưa có cơ hội phát triển
-Giai đoạn từ 1986-2002: đây là thời kỳ đổi mới, chuyển từ chế độ bao
cấp sang cơ chế thị trường Trong giai đoạn này, ngành cơ khí bị thả nổi, tự lo
về mọi mặt Đầu tư mới trong giai đoạn này của ngành không đáng kể Trong
5 năm (1990 - 1995) toàn ngành (không kể vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài) chỉ được đầu tư mới thêm không quá 17 triệu USD
Trang 30- Giai đoạn từ năm 2002 đến nay: đây là giai đoạn đặc biệt quan trọng
đối với ngành cơ khí Việt Nam với việc Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số: 186/2002/QĐ-TTg ngày 26/12/2002 phê duyệt “ Chiến lược phát triển ngành cơ khí Việt Nam đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020” Trong đó ưu tiên phát triển 08 chuyên ngành, sản phẩm cơ khí trọng điểm, gồm: thiết bị toàn bộ; máy động lực; cơ khí phục vụ nông-lâm-ngư nghiệp và công nghiệp chế biến; máy công cụ; cơ khí xây dựng; cơ khí đóng tàu; thiết bị
kỹ thuật điện-điện tử; cơ khí ô tô-cơ khí giao thông vận tải
Trải qua hơn 5 năm triển khai thực hiện Chiến lược phát triển ngành cơkhí Việt Nam, toàn ngành đã có những thành tựu đáng kể
Về xuất khẩu: nếu như khi Bộ Công nghiệp (nay là Bộ Công Thương)
xây dựng Chiến lược phát triển ngành cơ khí Việt Nam đến năm 2010, tầm nhìn 2020, nhiều người cho rằng ngành cơ khí Việt Nam khó có thể xuất khẩu được khoảng 1,0 tỷ USD/năm thì đến nay chúng ta đã có cơ sở để khẳng định
2 rằng ngành cơ khí hoàn toàn có thể đạt được giá trị đó Theo số liệu của Bộ Công Thương và Tổng cục Thống kê, năm 2006 giá trị xuất khẩu toàn ngành
cơ khí đạt 1,174 tỷ USD Năm 2007, chỉ tính riêng 9 tháng đầu năm giá trị xuất khẩu toàn ngành đạt 1,918 tỷ USD Nếu tính cả mặt hàng dây và cáp điện thì giá trị xuất khẩu của ngành cơ khí năm 2007 ước đạt 2,8 tỷ USD Điều đó cho thấy ngành cơ khí đang trở thành một trong những ngành xuất khẩu quan trọng của nước ta
Về phát triển các sản phẩm cơ khí trọng điểm, chúng ta đã đạt được những thành tựu như sau:
- Công nghiệp đóng tầu: chúng ta đã chế tạo được các loại tàu có chất
lượng, đạt tiêu chuẩn quốc tế như tàu chở hàng tải trọng từ 6.500 tấn đến 53.000 tấn, các loại tàu cao tốc phục vụ cho an ninh, quốc phòng, các loại tàu chở hàng conteiner, tàu chở dầu thô cỡ 13.500 tấn Hiện ngành đóng tầu đã
có thể hoàn toàn thoả mãn nhu cầu trong nước và đã ký được nhiều Hợp đồng đóng tàu xuất khẩu cho các nước khu vực châu Âu và Nhật Bản, Hàn Quốc
- Thiết bị toàn bộ: ngành cơ khí cũng đã đạt được nhiều thành tích mới:
Tổng công ty LILAMA đã trở thành nhà Tổng thầu EPC đầu tiên của Việt Nam khi trúng thầu các gói thầu số 2 và 3 của nhà máy lọc dầu Dung Quất, tiếp đến là chế tạo và lắp đặt phần lớn các thiết bị chính của nhà máy nhiệt điện Na Dương, nhà máy nhiệt điện Phú Mý 3,4; Tổng công ty cũng đã được Thủ tướng Chính phủ giao làm nhà Tổng thầu EPC dự án nhà máy nhiệt điện Uông Bí mở rộng công suất 300MW với tổng vốn đầu tư lên tới 300 triệu USD, nhà máy điện Cà Mau công suất 750 MW,
- Công nghiệp ôtô-xe máy: chúng ta đang thực hiện Quy hoạch phát triển
ngành công nghiệp ôtô Việt Nam đến năm 2010, tầm nhìn 2020 Hiện nay ngành công nghiệp ôtô trong nước đã có thể thỏa mãn nhu cầu trong nước
Trang 31về các loại xe buýt với tỷ lệ NĐH khoảng 40%, các loại xe tải nhẹ công suất dưới 5 tấn Ngành công nghiệp xe gắn máy đã có những tiến bộ vượt bậc trong khoảng 05 năm trở lại đây: không những thoả mãn nhu cầu trong nước
mà còn xuất khẩu khoảng 100.000 xe/năm ; tỷ lệ nội địa hoá các loại xe gắn máy do trong nước sản xuất đạt khoảng 85-90% Bước đầu đã xuất khẩu xe buýt và xe bán tải đi các nước khác
- Thiết bị cơ khí thuỷ công: Đối với các nhà máy thuỷ điện có công suất
đến 300MW, trước đây chúng ta vẫn phải nhập khẩu cả các thiết bịcơ khí thuỷ công thì nay toàn bộ phần này có thể do cơ khí trong nước đảm nhận Hiện nay các doanh nghiệp trong nước đã làm chủ công tác thiết kế-chế tạo thiết bị cơ khí thuỷ công cho các công trình thuỷ điện với nhiều quy mô công suất, kể cả Nhà máy thuỷ điện Sơn La công suất 2.400 MW
- Các ngành sản xuất cơ khí khác: như sản xuất động cơ Diesel các loại,
sản xuất xe đạp, máy bơm nước, các loại cần trục, cầu trục, cơ khí xây dựng v.v đều đạt được những thành tích đáng kể Ngành xe đạp với năng lực sản xuất trong nước khoảng trên 3,0 triệu xe/năm đã xuất khẩu sang thị trường 3 châu Âu trong giai đoạn 2001-2005 các sản phẩm với giá trị khoảng 760 triệu USD; Chúng ta đã có sản phẩm động cơ Diesel nhỏ xuất khẩu sang các nước Trung Đông, các nước ASEAN v.v Xí nghiệp cơ khí Quang Trung (Ninh Bình) tuy là một doanh nghiệp tư nhân nhưng đã tích cực đầu tư, đi sâu vào nghiên cứu thiết kế các loại cầu trục, cổng trục, thiết bị nâng chuyển và đã chế tạo thành công cầu trục có sức nâng đến 450 tấn trước đây vẫn phải nhập ngoại
5.2 - Tình hình đầu tư, phát triển, sản xuất kinh doanh của ngành cơ khí Việt
Nam
Mặc dù đã tạo dựng được một chỗ đứng trong ngành Công nghiệp, thế nhưng lĩnh vực cơ khí vẫn cần một điểm tựa để phát triển toàn diện Đó chính
là sự tập trung đầu tư chuyên sâu cả về nhân lực lẫn vật lực
- Hiện trạng ngành cơ khí Việt Nam
Thực trạng ngành cơ khí Bước vào thời kỳ đổi mới, đặc biệt là khi
chuyển sang cơ chế thị trường, cũng như các ngành khác, ngành cơ khí bị thả nổi, tự lo về mọi mặt Đầu tư mới trong giai đoạn này không đáng kể Trong
5 năm (1990 - 1995) toàn ngành, không kể vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, chỉ được đầu tư mới thêm không quá 17 triệu USD, có ngành như cơ khí đóng tàu thủy không được đầu tư mới thêm trong giai đoạn này
Trong 10 năm đầu của thời kỳ đổi mới (1986 - 1996) ngành cơ khí do đặc thù của mình là cần đầu tư ban đầu lớn, chu kỳ sản xuất dài, vòng quay vốn chậm, lợi nhuận thấp hơn các ngành khác và thu hồi vốn lâu, lại đòi hỏi
Trang 32tổ chức chuyên môn hóa, hợp tác hóa cao, nên khi chuyển sang cơ chế thị trường, ngành cơ khí đã không kịp thời chuyển đổi Thêm vào đó lại thiếu các chính sách để hỗ trợ phát triển và bảo vệ thị trường trong nước, nên ngành cơ khí không đáp ứng được nhu cầu của đất nước, thị phần bị thu hẹp do bị hàng nhập lậu chèn ép, kể cả các sản phẩm hàng chục năm trước từng là thế mạnh như: máy công cụ, máy động lực nhỏ, máy kéo nhỏ, xe đạp, quạt điện, máy bơm nước v.v
Thấy rõ yếu kém và bất cập trong phát triển của ngành cơ khí, Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ 8 đã nhấn mạnh: "Đổi mới thiết bị và công nghệ để hiện đại hóa một bước các nhà máy cơ khí hiện có Kết hợp chế tạo trong nước với nhập khẩu để trang bị một phần máy móc, các dây chuyền, thiết bị cho nền kinh tế và có sản phẩm xuất khẩu Trước mắt, hướng vào sản xuất thiết bị toàn bộ cho công nghiệp chế biến nông sản, các loại phương tiện vận tải, thiết bị sản xuất xi măng lò đứng, thiết bị sản xuất gạch ngói, các phụ tùng, phụ kiện thay thế Phát triển mạnh công nghiệp đóng và sửa chữa tàu biển, lắp ráp và chế tạo ô tô, xe máy, chế tạo thiết bị điện trung và hạ thế Bắt đầu chế tạo thiết bị cao áp, động cơ công suất lớn, động cơ cho tàu thủy hoạt động xa bờ Đáp ứng nhu cầu công cụ cầm tay Tăng năng lực sửa chữa, phục hồi máy móc thiết bị và phát triển dịch vụ sau khi bán sản phẩm "
Năm 2011 nhiều doanh nghiệp gặp rất nhiều khó khăn do ảnh hưởng của kinh tế khó khăn, giá nguyên liệu đầu vào liên tục tăng cao, vượt nhiều so giá lúc ký hợp đồng, vốn tín dụng bị thắt chặt, cắt giảm đầu tư công Tuy nhiên, vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, các doanh nghiệp vẫn giữ vững sản xuất
và tiêu thụ nhiều sản phẩm đúc-luyện kim phục vụ ngành xi-măng, nhiệt điện
mà thị trường có nhu cầu lớn và ổn định; sản phẩm nhôm thanh định hình chất lượng cao phục vụ làm các loại cửa, trang trí nội thất được tiêu thụ tốt Việc đầu tư được nghiên cứu kỹ, có trọng điểm và mang lại hiệu quả cao, góp phần tích lũy nguồn vốn, giúp nhiều doanh nghiệp thanh toán các khoản vay đúng hạn với ngân hàng Nhằm đa dạng hóa, nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh cho sản phẩm, các doanh nghiệp luôn ưu tiên tập trung đầu tư công tác nghiên cứu khoa học kỹ thuật, nhất là xây dựng Trung tâm nghiên cứu và phát triển cơ khí xây dựng (RD) trở thành nơi tập trung trí tuệ nghiên cứu, ứng dụng những sản phẩm mới Các đơn vị đã mạnh dạn chế tạo các thiết bị
cơ khí lớn có độ phức tạp cao, đáp ứng kịp thời cho công trình trên cả nước Năm 2012, xác định tình hình sản xuất kinh doanh tiếp tục gặp nhiều khó khăn do chính sách tiền tệ thắt chặt, lãi suất vay ngân hàng còn cao, giảm sút đầu tư các dự án đầu tư xi-măng, than, ảnh hưởng trực tiếp thị trường tiêu thụ sản phẩm Do đó, nhiều doanh nghiệp nỗ lực tập trung đầu tư chiều sâu để nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm đến mức thấp nhất tỷ lệ sản phẩm hỏng,
rà soát lại tất cả các khâu, định mức tiêu hao ở các công đoạn để giảm chi phí
Trang 33đầu vào; nghiên cứu khoa học chế thử sản phẩm mới theo hướng đa dạng hóa sản phẩm trên cơ sở coi trọng, ưu tiên các sản phẩm có hiệu quả kinh tế cao;
tổ chức mua bán vật tư, thuê gia công, cung cấp dịch vụ với bên ngoài theo hình thức đấu thầu hay chào giá cạnh tranh đối với những hợp đồng lớn để có điều kiện giảm chi phí đầu vào Tăng cường công tác thị trường, thường xuyên phân tích, đánh giá tổng kết, phân đoạn thị trường theo từng khu vực, từng nhóm mặt hàng để có đối sách cụ thể Tăng cường quảng bá sản phẩm giàn không gian ra thị trường nước ngoài Bán hàng theo hướng "bảo toàn vốn", tìm hiểu kỹ khả năng tài chính của khách hàng để có phương thức thanh toán phù hợp Linh hoạt thay đổi cơ cấu mặt hàng theo hướng có lợi về giá cả
và lợi nhuận
- Đầu tư, phát triển ngành Cơ khí Việt Nam
Với tốc độ phát triển bình quân trên 40,7%/năm, ngành cơ khí đang có nhiều triển vọng phát triển trong thời gian tới Tuy nhiên, sản phẩm cơ khí của ta vẫn chưa mang dáng dấp của một thương hiệu riêng nên chưa chiếm được nhiều thị phần trong nước và xuất khẩu Nếu không khắc phục được những yếu tố mang tính chất nội tại thì liệu đến năm 2010, ngành cơ khí có đáp ứng được từ 45- 50% nhu cầu sản phẩm cơ khí của cả nước, trong đó xuất khẩu đạt 30% giá trị sản xuất?
Mỗi năm, chúng ta cần nhập khẩu một lượng máy móc thiết bị phục vụ phát triển kinh tế trị giá khoảng 7-8 tỷ USD Nếu ngành Cơ khí phát triển, giành thị phần này thì doanh thu rất lớn Đó là chưa kể sẽ tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động Theo kế hoạch phát triển ngành cơ khí trọng điểm,
từ nay đến năm 2010, nước ta phải đáp ứng tối thiểu 45%-50% nhu cầu sản phẩm cơ khí trong nước và xuất khẩu 30% giá trị sản lượng, doanh số đạt bình quân từ 3,5-4 tỷ USD Mục tiêu của Chương trình cơ khí trọng điểm đến năm 2010 và tầm nhìn tới 2020 là, tập trung vào 8 nhóm chuyên ngành cơ khí lớn như máy động lực, máy kéo và máy nông nghiệp, máy công cụ, thiết bị toàn bộ, cơ khí xây dựng, cơ khí tàu thủy, cơ khí ô tô và cơ khí giao thông vận tải, thiết bị điện…
Từ khi Chương trình cơ khí được triển khai, đến nay, ngành cơ khí trọng điểm đã có sự phát triển đáng kể như cơ khí đóng tàu đã gia công đóng tàu từ 53.000 đến 100.000 tấn…; cơ khí ô tô đóng được xe buýt, xe tải nhẹ, xe tải nặng và lắp ráp xe hơi 4 chỗ cao cấp; ngành cơ khí chế tạo máy công cụ đã số hóa được các máy tiện vạn năng cỡ vừa và lớn, sản xuất các máy cắt thép theo chương trình tự động; ngành cơ khí phục vụ nông nghiệp đã sản xuất được nhiều thiết bị phục vụ sản xuất và chế biến nông sản thực phẩm… Một thực tế cho thấy, ngành cơ khí đang phát triển với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế, trong đó nhiều doanh nghiệp tư nhân đang nổi lên
Trang 34như là các nhân tố tích cực Nhiều doanh nghiệp bắt đầu hướng tới đầu tư vốn cho sản xuất và nội địa hóa các các sản phẩm phụ trợ
Tuy nhiên, ngành cơ khí ở nước ta hiện nay chưa được đầu tư đúng mức
để hướng đến một sản phẩm mang thương hiệu riêng, chủ yếu là gia công những công đoạn thông thường Cụ thể, hai lĩnh vực đóng tàu và ô tô tuy đạt mức tăng trưởng cao nhưng chỉ dừng lại ở khâu đóng khung và các phần nội thất đơn giản Còn các máy móc và những thiết bị phức tạp đều phải nhập ngoại Lực lượng nghiên cứu phát triển, từ tư vấn, thiết kế công nghệ và thiết
kế chế tạo, đến các chuyên gia đầu ngành với vai trò công trình sư, tổng công trình sư và lực lượng công nhân lành nghề còn thiếu và yếu về năng lực Chất lượng đào tạo kỹ sư cơ khí chưa đáp ứng yêu cầu thực tế Bên cạnh đó, nguồn vốn cho đầu tư phát triển thiếu, chưa có chiến lược thị trường, sản phẩm, trình độ quản trị doanh nghiệp thấp Quản lý thị trường yếu kém để hàng cơ khí chất lượng thấp, giá rẻ tràn vào thị trường trong nước, gây nên tình trạng cạnh tranh không lành mạnh cho các doanh nghiệp làm sản phẩm cơ khí chính xác Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế, các hàng rào bảo hộ bị bãi bỏ thì ngành cơ khí sẽ gặp nhiều khó khăn
Tình hình trên không sớm được cải thiện thì trong tương lai Việt Nam vẫn mãi là người thợ làm thuê cơ khí cho các nước đầu tư trực tiếp hoặc chỉ dừng lại ở vai trò là một nước chuyên gia công cơ khí cho thế giới
- Vai trò của Nhà nước góp phần thúc đẩy cơ khí phát triển
Ngành Cơ khí Việt Nam nếu muốn phát triển nhanh, vững chắc cần có sự
ưu tiên đầu tư và bảo hộ của Nhà nước, tránh sự đầu tư dàn trải không đem lại hiệu quả chung cho toàn Ngành Các doanh nghiệp cần được vay vốn từ Quỹ
Hỗ trợ đầu tư để phát triển một số lĩnh vực như sản xuất động cơ đốt trong cho ô tô, xe máy, tàu sông/biển hoặc sản xuất các chi tiết, cụm cho lắp ráp ô
tô xe máy Tuy nhiên, hiện tại do thủ tục kéo dài, thời gian xét duyệt khoảng
1 năm nên Chính phủ cần cải tiến các thủ tục phê duyệt, giúp doanh nghiệp
có thể nhanh chóng đầu tư, nắm bắt được cơ hội kinh doanh Doanh nghiệp sản xuất cơ khí cần có mục tiêu phấn đấu xây dựng khả năng cạnh tranh sản phẩm của mình ở thị trường trong và ngoài nước, có thể phát triển đa ngành nhưng cần đảm bảo yếu tố “nhất nghệ tinh” theo khu vực ASEAN Đặc biệt, nếu sản phẩm của doanh nghiệp có sức cạnh tranh với sản phẩm của Trung Quốc thì sản phẩm đó đã có sức cạnh tranh khá cao, có thể tạm yên tâm khi hội nhập ASEAN Ngành Cơ khí cần tranh thủ các cơ hội phát triển, trước hết
là các cơ hội trong khu vực khi hội nhập đẩy đủ trong ASEAN…
Riêng đối với các dự án cơ khí mới có độ phức tạp cao hay sản phẩm siêu trường, siêu trọng, đòi hỏi phải đầu tư dây chuyền thiết bị và công nghệ hiện đại Các dự án này có thời gian thu hồi vốn dài, tỷ suất lợi nhuận không cao,
Trang 35nên cần được hỗ trợ ưu đãi đặc biệt khi Việt Nam đã là thành viên WTO Tuy nhiên, ngành cơ khí vẫn cần hỗ trợ trong việc mua bản quyền, tiếp nhận chuyển giao công nghệ, thiết kế chế tạo, đào tạo
- Sản xuất kinh doanh ngành Cơ khí Việt Nam
Từ năm 2011 ngành cơ khí gặp nhiều khó khăn, thách thức Thị trường tài chính nhiều biến động, lãi suất ngân hàng và giá cả hàng hóa nguyên vật liệu tăng cao…càng tăng sức ép lên các doanh nghiệp Trên 20% doanh nghiệp vừa và nhỏ phá sản, nhiều doanh nghiệp cũng đang trên bờ vực này… Trước thực trạng trên, Hiệp hội doanh nghiệp cơ khí nói riêng và cộng đồng doanh nghiệp cơ khí nói chung đã có nhiều giải pháp tích cực để trụ vững và phát
triển
Mục tiêu của Chiến lược phát triển ngành Cơ khí đến năm 2010, tầm nhìn
2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt là đáp ứng 45-50% nhu cầu sản phẩm cơ khí của cả nước và xuất khẩu đạt 30% sản lượng Trên thực tế, xét về quy mô, với khoảng nửa triệu lao động, gần 2 vạn cán bộ kỹ thuật được đào tạo chính quy có trình độ khá, 12 viện nghiên cứu khoa học, nghiên cứu thiết kế về cơ khí và các Tổng công ty cơ khí đang phát triển hùng hậu, ngành Cơ khí hoàn toàn có khả năng đạt được mục tiêu đã đề ra…
Sau khi Chiến lược phát triển ngành được Chính phủ phê duyệt, đã có sự vươn lên rầm rộ của cơ khí đóng tàu, cơ khí chế tạo và cung cấp thiết bị toàn
bộ, cơ khí xây dựng, cơ khí giao thông, cơ khí nông nghiệp, cơ khí năng lượng mỏ, cơ khí chế tạo thiết bị và vật liệu điện Nhiều doanh nghiệp sản xuất cơ khí đã từng bước đổi mới, nâng cao khả năng thiết kế, năng lực thiết
bị và công nghệ, trình độ quản lý và điều hành nên đã đảm nhiệm vai trò tổng thầu EPC, đóng mới tàu biển, ô tô chở khách, chế tạo nhiều chủng loại thiết
bị cung cấp cho các dự án lớn, trọng điểm như thủy điện, xi măng, giấy, mía đường… Tuy nhiên, ngành Cơ khí vẫn chưa phát triển xứng tầm là một trong những ngành công nghiệp nền tảng, có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế
Ngành Cơ khí vẫn dừng lại ở trình độ gia công, lắp ráp hoặc chế tạo các thiết bị, máy móc cỡ nhỏ, giá trị gia tăng rất thấp; chưa có các cơ sở công nghiệp có thiết bị công nghệ tiên tiến đủ khả năng thiết kế, chế tạo máy, thiết
bị công nghệ cao để cạnh tranh với thị trường trong nước và quốc tế Do đầu
tư phân tán, nhỏ lẻ, khép kín trong các doanh nghiệp, đặc biệt là tình trạng khó hợp tác trong các tập đoàn và tổng công ty lớn, dẫn đến chi phí cho sản xuất sản phẩm cao, khó cạnh tranh Đầu tư cho công nghiệp phụ trợ và sản xuất các phôi đúc rèn chưa có chính sách cụ thể, lại không có đầu ra, nên tỷ lệ nội địa hóa cho công nghiệp chế tạo cơ khí còn rất thấp Đa phần các doanh nghiệp cơ khí đầu tư nhỏ lẻ vào khâu chế tạo, gia công kim loại, kết cấu thép
Trang 36và những ngành hàng cần vốn đầu tư không lớn có thị trường đầu ra nhưng đạt giá trị gia tăng rất thấp Hàng năm, ngành vẫn phải nhập khẩu các thiết bị, sản phẩm cơ khí từ 10-18 tỷ USD/năm, trong đó, chủ yếu nhập khẩu thiết bị dây chuyền công nghệ cho các dự án đầu tư trong nước, một phần cho cơ khí tiêu dùng, phụ tùng, phụ kiện…
Bên cạnh những yếu kém được chỉ ra ở trên, ngành Cơ khí chưa có môi trường phát triển thuận lợi Được hưởng chính sách ưu đãi của Nhà nước chưa được bao lâu, các doanh nghiệp trong ngành đã phải “ngậm ngùi” chia tay do nước ta bước vào hội nhập, nên chính sách này không còn nữa Lại thêm chính sách mới về đấu thầu, khiến cho nhiều doanh nghiệp trong nước phải chịu thua thiệt trước các doanh nghiệp nước ngoài Nhiều dự án đã rơi vào tay của nhà thầu nước ngoài, trong đó có không ít dự án doanh nghiệp trong nước có thể làm được…
Có một nghịch lý là, khi làm cho dự án nước ngoài, doanh nghiệp được
áp dụng mức thuế 0%, trong khi làm dự án trong nước lại phải chịu thuế VAT Điều đó lý giải vì sao, các doanh nghiệp cơ khí trong nước thường bỏ giá thầu cao và khó trúng thầu hơn doanh nghiệp nước ngoài Thế nên mới xẩy ra tình trạng doanh nghiệp thắng thầu ở nước ngoài, nhưng lại thua ngay trên sân nhà
Để ngành Cơ khí có đủ nội lực hội nhập quốc tế và nhất là thực hiện được mục tiêu đáp ứng nhu cầu 45-50% sản phẩm cơ khí của cả nước và xuất khẩu đạt 30% sản lượng, Nhà nước cần tạo đơn hàng và có chính sách bảo hộ cho các doanh nghiệp trong nước như một số nước có nền công nghiệp phát triển
đã áp dụng Nhà nước cần tiếp tục chọn lựa một số sản phẩm cơ khí chế tạo trong 8 nhóm sản phẩm cơ khí trọng điểm để tập trung đầu tư; dành vốn hoặc bảo lãnh cho vay nước ngoài để đầu tư cho một số nhà máy quan trọng, có công nghệ tiên tiến, chế tạo thiết bị đồng bộ để đáp ứng nhu cầu phát triển công nghiệp, nông nghiệp và xuất khẩu
Do không có nguồn vốn, dẫn đến khó cạnh tranh nên ngành Cơ khí rất cần được Chính phủ giúp đỡ xây dựng cơ sở dữ liệu của ngành; sắp xếp lại khối các doanh nghiệp cơ khí thuộc sở hữu nhà nước để tạo sức mạnh liên kết, hợp tác đầu tư Để tạo bước phát triển mạnh và hiệu quả, đề nghị cần xây dựng một trung tâm cơ khí nặng tại miền Bắc và xây dựng một nhà máy cơ khí lớn ở miền Nam để đảm nhiệm nhiệm vụ quốc phòng và phát triển kinh
tế
5.3 - Định hướng phát triển cơ khí Việt Nam
-Quan điểm phát triển ngành cơ khí Việt Nam
- Cơ khí là một trong những ngành công nghiệp nền tảng, có vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế, củng cố an ninh, quốc phòng của đất nước
Trang 37- Tập trung phát triển ngành cơ khí một cách có hiệu quả, bền vững trên
cơ sở phát huy mọi nguồn lực trong nước kết hợp với nguồn lực bên ngoài Khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia phát triển ngành cơ khí một cách có tổ chức, phân công và hợp tác hợp lý, đồng thời tiếp tục đổi mới, sắp xếp phát triển và củng cố doanh nghiệp nhà nước về cơ khí đủ mạnh để giữ vai trò nòng cốt, là lực lượng chủ lực của ngành
- Tập trung phát triển một số chuyên ngành, sản phẩm cơ khí trọng điểm nhằm khai thác, phát huy tốt nhất tiềm năng (tài nguyên, nguồn nhân lực) để đáp ứng các yêu cầu cơ bản của công cuộc phát triển đất nước
- Tăng cường năng lực tự nghiên cứu, chế tạo, đồng thời đẩy mạnh việc tiếp thu, ứng dụng khoa học, công nghệ tiên tiến nhằm đạt trình độ công nghệ trung bình tiên tiến của châu Á, tạo thêm nhiều sản phẩm cơ khí có khả năng cạnh tranh cao
- Nâng cao khả năng chuyên môn hóa và hợp tác hóa, nâng cao năng lực của ngành cơ khí, tạo tiền đề phát triển các ngành công nghiệp khác của đất nước
Định hướng chiến lược phát triển một số chuyên ngành và nhóm sản phẩm cơ khí quan trọng:
1 - Thiết bị toàn bộ
Nâng cao năng lực chế tạo thiết bị toàn bộ với công nghệ tiên tiến Sản xuất được thiết bị có độ phức tạp cao để thay thế sản phẩm nhập khẩu và từng bước xuất khẩu Nâng cao năng lực thiết kế thiết bị toàn bộ, gắn kết có hiệu quả với công nghệ của từng ngành công nghiệp
Đầu tư có trọng điểm thiết bị và công nghệ vào các khâu cơ bản, như đúc, rèn, tạo phôi lớn để đồng bộ về thiết bị và công nghệ đáp ứng yêu cầu chế tạo chi tiết, cụm chi tiết lớn, phức tạp
Tận dụng năng lực thiết bị của các doanh nghiệp cơ khí trong cả nước, tăng cường sự phối hợp trong việc phân công và hợp tác sản xuất thiết bị toàn bộ Phấn đấu đáp ứng 40% nhu cầu thiết bị toàn bộ trong nước vào năm 2010 Trước mắt tập trung cho các lĩnh vực sau: sản xuất bột giấy và giấy, sản xuất
xi măng và vật liệu xây dựng, sản xuất điện và dầu khí, cấp nước sạch, công nghiệp chế biến
2 - Máy động lực
Phát triển ngành chế tạo máy động lực trở thành lĩnh vực công nghiệp mạnh của Việt Nam, thông qua các chương trình, dự án đầu tư chiều sâu, hiện đại hoá thiết bị và công nghệ, nâng cao năng lực chế tạo máy động lực, nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm
Trang 38Đến năm 2010 đáp ứng 60 - 70% nhu cầu trong nước về máy động lực cỡ trung và cỡ nhỏ, sản xuất được động cơ thủy 400 mã lực trở lên với tỷ lệ nội địa hóa 35 - 40%
3 - Máy kéo và máy nông nghiệp
Máy kéo:Đầu tư sản xuất đáp ứng đủ nhu cầu trong nước về máy kéo 2 bánh có công suất 6 - 8 - 12 mã lực.Sản xuất máy kéo 4 bánh có công suất 18
- 20 - 25 mã lực, từng bước sản xuất máy kéo 4 bánh công suất tới 30 mã lực.Đến năm 2010 sản xuất được máy kéo 4 bánh cỡ trung công suất 50 - 80
mã lực
Máy nông nghiệp:Tập trung đầu tư, xây dựng chuyên ngành chế tạo máy nông nghiệp đủ mạnh, bao gồm máy canh tác, máy chế biến và thiết bị bảo quản các sản phẩm nông nghiệp, nhằm đáp ứng nhu cầu trong nước, từng bước xuất khẩu
Khuyến khích các cơ sở sản xuất vừa và nhỏ, cơ khí các địa phương tham gia chế tạo thiết bị máy móc phục vụ nông nghiệp và công nghiệp chế biến một cách có tổ chức, phân công và hợp tác hợp lý với các doanh nghiệp cơ khí trong và ngoài địa phương
4 - Máy công cụ:Ưu tiên phát triển ngành chế tạo máy công cụ nhằm đáp ứng nhu cầu của các ngành công nghiệp
Nghiên cứu thiết kế, chế tạo các mẫu máy hiện đại (ứng dụng công nghệ PLC, CNC) và các thiết bị gia công đặc biệt
Đẩy mạnh chương trình hiện đại hóa theo hướng điện tử - tin học hóa (CNC) dàn máy công cụ hiện có trong các cơ sở công nghiệp
5 - Cơ khí xây dựng:Đầu tư chiều sâu, đầu tư mới các cơ sở chế tạo máy xây dựng với thiết bị và công nghệ hiện đại, đáp ứng cơ bản nhu cầu sản xuất: vật liệu xây dựng, thi công xây lắp các công trình lớn, xây dựng đô thị và nông thôn.Phát huy lợi thế đối với lĩnh vực sản xuất kết cấu kim loại trong xây dựng và các dự án công nghiệp, tập trung chế tạo các thiết bị máy xây dựng có độ phức tạp cao, hiện đại mà thị trường trong nước và nước ngoài có nhu cầu
6 - Cơ khí tàu thủy: Phát triển ngành công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam theo hướng trở thành một chuyên ngành kinh tế kỹ thuật đồng bộ từ đào tạo, nghiên cứu, thiết kế đến sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, đáp ứng nhu cầu đổi mới cơ cấu đội tàu hoạt động trong nước và nước ngoài Phấn đấu đến năm
2010 Việt Nam thành quốc gia có nền công nghiệp tàu thủy phát triển vào loại trung bình tiên tiến trong khu vực, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã
Trang 39hội đất nước, góp phần củng cố an ninh, quốc phòng và từng bước xuất khẩu tàu thuỷ
Đến năm 2010 đủ năng lực đóng mới hầu hết các phương tiện thủy nội địa, tàu công trình, đánh bắt hải sản, tàu biển trọng tải dưới 15.000 DWT; đảm nhận 70 - 75% nhu cầu đóng tàu bách hóa 15.000 - 50.000 DWT và đóng được tàu dầu 100.000 DWT Sửa chữa đồng bộ tất cả các cấp tàu quốc gia trọng tải đến 400.000 DWT
Nhanh chóng hình thành và phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ, như sản xuất thép tấm đóng tàu, lắp ráp các động cơ thủy đến 6.000 mã lực và chế tạo lắp ráp các thiết bị trên boong, thiết bị điện, điện tử, nghi khí hàng hải, nhằm nâng tỷ lệ nội địa hóa lên 60% đối với sản phẩm tàu đóng mới, đến năm 2020 phấn đấu đạt tỷ lệ nội địa hóa 70%
7- Thiết bị điện:Xây dựng ngành sản xuất thiết bị điện hiện đại, đến năm
2020 đạt trình độ tiên tiến trong khu vực về công nghiệp thiết bị điện và vật liệu điện
Đầu tư mới, đầu tư chiều sâu thiết bị điện với công nghệ tiên tiến để nhanh chóng nâng cao năng lực chế tạo thiết bị điện, nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm, đáp ứng phần lớn nhu cầu trong nước, thay thế các thiết bị nhập khẩu, đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm ra thị trường khu vực và thế giới Trước mắt cần đầu tư chiều sâu và mở rộng sản xuất của các cơ sở hiện có để
có thể sản xuất được các loại biến áp lớn đến 125 MVA, điện áp 220 kV, các thiết bị phân phối, truyền dẫn cho ngành điện lực, thiết bị áp lực và các thiết
bị điện khác cho ngành công nghiệp và dân dụng
8 -Cơ khí ôtô và cơ khí giao thông vận tải
Về cơ khí ôtô:Phát triển ngành công nghiệp ôtô Việt Nam trên cơ sở tiếp thu và xứng dụng công nghệ tiên tiến của thế giới, kết hợp với khai thác và từng bước nâng cao công nghệ và thiết bị hiện có, đáp ứng phần lớn nhu cầu thị trường ôtô trong nước, hướng tới xuất khẩu ôtô và phụ tùng
Về loại xe thông dụng: đáp ứng 40 - 50% nhu cầu trong nước về số lượng
và đạt tỷ lệ nội địa hóa đến 40% vào năm 2005; đáp ứng trên 80% nhu cầu trong nước về số lượng và đạt tỷ lệ nội địa hóa 60% vào năm 2010 (riêng động cơ phấn đấu đạt tỷ lệ nội địa hóa 50% và hộp số đạt 90%)
Về loại xe chuyên dùng: đáp ứng 30% nhu cầu trong nước về số lượng và đạt
tỷ lệ nội địa hóa 40% vào năm 2005, tiến tới đáp ứng 60% nhu cầu trong nước về số lượng và đạt tỷ lệ nội địa hóa 60% vào năm 2010
Về các loại xe cao cấp: các loại xe du lịch do các liên doanh sản xuất phải đạt tỷ lệ nội địa hóa 20 - 25% vào năm 2005 và 40 - 45% vào năm 2010, đáp
Trang 40ứng 80% nhu cầu các loại xe tải, xe buýt cao cấp đạt tỷ lệ nội địa hóa 20% vào năm 2005 và 35 - 40% vào năm 2010
Về cơ khí giao thông vận tải:
Đầu tư chiều sâu, bổ sung công nghệ, thiết bị lắp ráp để sản xuất xe, máy công trình như trạm trộn bê tông nhựa nóng, máy rải thảm bê tông nhựa, xe lu các loại, trạm nghiền sàng đá công suất 100 - 300 tấn/giờ,
Đầu tư chiều sâu, đổi mới công nghệ sản xuất toa xe lửa cao cấp với tỷ lệ nội địa hóa trên 70% vào năm 2005 và đến 90% vào năm 2010
9 - Chính sách phát triển một số ngành công nghiệp hỗ trợ
- Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân trong
và ngoài nước đầu tư phát triển công nghiệp hỗ trợ
- Khuyến khích phát triển thị trường
+ Dự án sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ được quảng cáo, giới thiệu miễn phí sản phẩm trên Trang thông tin điện tử của Bộ Công Thương và các
Sở Công Thương
+ Dự án sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ được ưu tiên xem xét hỗ trợ nguồn kinh phí của các chương trình xúc tiến thương mại, xúc tiến đầu tư theo quy chế xây dựng, quản lý và thực hiện các chương trình đó
+Chủ đầu tư dự án sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ cho phát triển công nghiệp công nghệ cao được Nhà nước tạo điều kiện tham gia hình thành mạng lưới cung ứng sản phẩm, dịch vụ theo quy định của pháp luật về công nghệ cao,
lý cụm công nghiệp
+ Chủ đầu tư dự án sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ là doanh nghiệp nhỏ và vừa được hưởng các chính sách khuyến khích về mặt bằng sản xuất theo quy định tại Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30 tháng 6 năm
2009 của Chính phủ về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa
+ Các dự án sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ cho phát triển công nghiệp công nghệ cao được áp dụng chính sách khuyến khích về đất đai theo quy định của pháp luật về công nghệ cao