1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu xây dựng và cải tiến chế độ báo cáo thống kê doanh nghiệp

203 397 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 203
Dung lượng 4,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

6 Chế độ báo cáo thống kê định kỳ hoạt động xuất, nhập khẩu áp dụng đối với công ty trách nhiệm hữu hạn tư nhân, công ty cổ phần ngoài công ty cổ phần nhà nước, công ty hợp danh, doanh n

Trang 1

TỔNG CỤC THỐNG KÊ

BÁO CÁO TỔNG HỢP KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG VÀ CẢI TIẾN CHẾ ĐỘ BÁO CÁO THỐNG KÊ DOANH NGHIỆP

CNĐT : TRẦN TUẤN HƯNG

9511

HÀ NỘI – 2012

Trang 2

MỤC LỤC

DANH MỤC BẢNG, SƠ ĐỒ

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ PHÁP LÝ, KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC BAN HÀNH CHẾ ĐỘ BÁO CÁO THỐNG KÊ DOANH NGHIỆP 3

1.1 Cơ sở pháp lý 3

1.1.1 Luật Thống kê năm 2003 3

1.1.2 Luật Doanh nghiệp 5

1.1.3 Luật Đầu tư 6

1.1.4 Các văn bản pháp quy hiện hành còn hiệu lực liên quan đến xây dựng chế độ báo cáo thống kê doanh nghiệp 9

1.2 Cơ sở khoa học và thực tiễn 9

1.2.1 Cơ sở khoa học 9

1.2.2 Cơ sở thực tiễn 11

CHƯƠNG 2.THỰC TRẠNG CHẾ ĐỘ BÁO CÁO THỐNG KÊ DOANH NGHIỆP 15

2.1 Tổng quan về chế độ báo cáo thống kê áp dụng đối với doanh nghiệp 15

2.2 Thực trạng chế độ báo cáo thống kê áp dụng đối với tổng công ty,

doanh nghiệp nhà nước 15

2.2.1 Giới thiệu lịch sử việc thực hiện chế độ báo cáo thống kê áp dụng đối với Tổng công ty và doanh nghiệp nhà nước 15

2.2.2 Một số nét khái quát về đối tượng thực hiện, đặc điểm của các đối tượng 21

2.2.3 Hiện trạng việc thực hiện chế độ báo cáo thống kê áp dụng đối với Tổng công ty và Doanh nghiệp nhà nước 24

2.2.4 Ưu điểm, hạn chế, bất cập của chế độ báo cáo thống kê áp dụng đối với tổng công ty và doanh nghiệp nhà nước 32

2.3 Thực trạng chế độ báo cáo thống kê áp dụng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 35

Trang 3

2.3.1 Quá trình thực hiện chế độ báo cáo thống kê áp dụng đối với doanh

nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 35

2.3.2 Khái quát đối tượng báo cáo thống kê áp dụng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 38

2.3.3 Hiện trạng việc thực hiện chế độ báo cáo thống kê áp dụng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 41

2.3.4 Mức độ đáp ứng của chế độ báo cáo 43

2.3.5 Đánh giá ưu, nhược điểm của chế độ báo cáo thống kê áp dụng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và đề xuất nội dung cần cải tiến 43

CHƯƠNG 3 ĐỀ XUẤT CHẾ ĐỘ BÁO CÁO THỐNG KÊ ÁP DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP 47

3.1 Những vấn đề chung 47

3.1.1 Hình thức ban hành 47

3.1.2 Nguyên tắc xây dựng 48

3.1.3 Nội dung cải tiến 50

3.2 Biều mẫu và giải thích biểu mẫu 54

3.3 Giải thích biểu mẫu 121

3.3.1 Giải thích chung 121

3.3.2 Giải thích biễu mẫu cụ thể 123

Trang 4

DANH MỤC BẢNG, SƠ ĐỒ

SƠ ĐỒ 1 TỔNG LƯỢC ĐỒ THU THẬP THÔNG TIN THỐNG KÊ: 11 BẢNG 1: TỔNG HỢP SỐ LƯỢNG DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC GỬI BÁO CÁO THEO QUYẾT ĐỊNH SỐ 62/2003 29

Trang 5

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lý do lựa chọn đề tài:

Chế độ báo cáo thống kê định kỳ áp dụng đối với các tổng công ty chính thức được đưa vào thực hiện ngày 10 tháng 9 năm 1996 sau Quyết định số 373/TCTK-PPCĐ của Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê Chế độ báo cáo thống kê định kỳ doanh nghiệp nhà nước cũng được đưa vào thực hiện từ ngày 27/1/2003 theo Quyết định số 62/2003/BKH của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Quyết định số 156/2003/QĐ-TCTK của Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê Ngày 31/3/1997, Bộ

kế hoạch và đầu tư và Tổng cục Thống kê đã ban hành Thông tư Liên bộ số 01/LB về việc hướng dẫn công tác thống kê đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và bên nước ngoài tham gia Hợp đồng hợp tác kinh doanh

Cùng với sự phát triển kinh tế Việt Nam trong hơn 10 năm trở lại đây, chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức, hình thức và quy mô hoạt động, lĩnh vực hoạt động của các tổng công ty, doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có nhiều thay đổi Bên cạnh đó còn xuất hiện nhiều loại hình doanh nghiệp mới như mô hình tập đoàn kinh tế, các tổng công ty mẹ con, dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài…Trong khi đó nhu cầu thu thập thông tin từ các loại hình doanh nghiệp này phục vụ cho việc quản lý, điều hành kinh tế - xã hội của Đảng, Nhà nước

và nhu cầu thông tin của các tổ chức, các nhân trong và ngoài nước ngày càng tăng Ngoài ra, các chế độ báo cáo thống kê hiện hành đã bộc lộ những hạn chée, bất cập nhất định như: Văn bản pháp lý về chế độ báoc áo doanh nghiệp đã lạc hậu, đối tượng là doanh nghiệp đã có những thay đổi về bản chất, nhu cầu thông tin về doanh nghiệp phục vụ quản lý điều hành của Đảng, Nhà nước và nhu cầu thông tin của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước ngày càng tăng với chất lượng cao…

Trước bối cảnh trên thì việc sửa đổi, bổ sung chế độ báo cáo thống kê áp dụng đối với các tổng công ty, doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp và dự án có vốn đầu

tư trực tiếp nước ngoài (Sau đâu gọi tắt là chế độ báo cáo thống kê doanh nghiệp) là

một yêu cầu tất yếu

2 Mục đích nghiên cứu:

Thứ nhất, nghiên cứu cơ sở pháp lý, cơ sở thực tế việc thực hiện chế độ báo cáo thống kê nhằm đề xuất mô hình và chế độ báo cáo thống kê cơ sở (biểu mẫu và giải thích) áp dụng đối với Tổng công ty, tập đoàn, công ty mẹ - con và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phù hợp với quy định của Luật Thống kê, Luật Doanh nghiệp

và Luật Đầu tư

Thứ hai, cải tiến chế độ báo cáo thống kê doanh nghiệp

Trang 6

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

Đối tượng là Tổng công ty, tập đoàn, công ty mẹ - con, doanh nghiệp nhà nước

và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

4 Phương pháp nghiên cứu:

Thu thập, nghiên cứu tài liệu thống kê từ các nguồn: Điều tra thống kê và Chế

độ báo cáo thống kê Sử dụng phương pháp thống kê mô tả

5 Kết cấu của đề tài:

Trong phạm vi nghiên cứu của Đề tài, chúng tôi tập trung vào các nội dung chủ yếu sau:

Chương 1 Cơ sở pháp lý, khoa học và cơ sở thực tiễn của việc ban hành chế độ báo cáo thống kê doanh nghiệp

Chương 2 Thực trạng chế độ báo cáo thống kê doanh nghiệp

Chương 3 Đề xuất chế độ báo cáo thống kê áp dụng đối với doanh nghiệp

Trang 7

1.1.1 Luật Thống kê năm 2003

Luật Thống kê đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 17/6/2003, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/1/2004 và Nghị định số 40/2004/NĐ-CP ngày 13/02/2004 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thống kê Đây là những văn bản pháp lý cao nhất về lĩnh vực thống kê Và chế độ báo cáo thống kê được quy định như sau:

(1) Báo cáo thống kê

Báo cáo thống kê là hình thức thu thập thông tin thống kê theo chế độ báo cáo thống kê do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành Báo cáo thống kê bao gồm báo cáo thống kê cơ sở và báo cáo thống kê tổng hợp

(2) Đối tượng thực hiện chế độ báo cáo thống kê cơ sở

Đối tượng thực hiện chế độ báo cáo thống kê cơ sở bao gồm:

a) Doanh nghiệp nhà nước hạch toán độc lập;

b) Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài;

c) Cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị- xã hội, tổ chức chính trị xã hội- nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội- nghề nghiệp

(3) Nơi nhận báo cáo thống kê doanh nghiệp

a) Cục Thống kê tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, nơi doanh nghiệp đóng trụ sở chính;

b) Cơ quan chủ quản hay cơ quan quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực;

c) Cơ quan khác được quy định trong chế độ báo cáo thống kê doanh nghiệp

Trang 8

Chế độ báo cáo thống kê doanh nghiệp bao gồm các quy định về đối tượng thực hiện, phạm vi, nội dung báo cáo, kỳ hạn, thời hạn thực hiện, nơi nhận báo cáo do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành để thu thập thông tin thống kê từ các chứng

từ, sổ ghi chép số liệu ban đầu

(5) Việc xây dựng và ban hành chế độ báo cáo thống kê doanh nghiệp

a) Việc xây dựng chế độ báo cáo thống kê doanh nghiệp

- Căn cứ vào hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia được phân công

- Bảo đảm các yêu cầu sau:

+ Không được trùng lặp về nội dung, kỳ báo cáo giữa các chế độ báo cáo;

+ Đáp ứng yêu cầu của chế độ báo cáo thống kê tổng hợp và yêu cầu quản lý ngành, lĩnh vực

+ Bảo đảm tính khả thi

b) Việc ban hành

- Tổng cục Thống kê xây dựng trình Thủ tướng Chính phủ ban hành chế độ báo cáo thống kê doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài để thu nhập thông tin thống kê đối với những chỉ tiêu thống kê quốc gia do Tổng cục Thống

kê được phân công thực hiện

- Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ ban hành chế độ báo cáo thống kê doanh nghiệp đối với những chỉ tiêu thống kê quốc gia được phân công thực hiện và các chỉ tiêu thống kê thuộc ngành, lĩnh vực phụ trách ngoài các chỉ tiêu do Tổng cục Thống kê xây dựng trình Thủ tướng Chính phủ ban hành

(6) Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp thực hiện chế độ báo cáo thống kê doanh nghiệp

a Không được từ chối hoặc cản trở việc thực hiện chế độ báo cáo thống kê doanh nghiệp do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành

- Ghi chép, tổng hợp số liệu, lập và nộp báo cáo theo quy định của chế độ báo cáo thống kê doanh nghiệp

- Lập báo cáo thống kê doanh nghiệp trung thực, chính xác, đầy đủ trên cơ sở các chứng từ và sổ ghi chép số liệu ban đầu; tính toán, tổng hợp các chỉ tiêu đúng nội dung và phương pháp theo quy định của chế độ báo cáo doanh nghiệp

b Khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó vi phạm quy định của pháp luật về chế độ báo cáo thống kê doanh nghiệp

Ngoài Luật Thống kê là Luật trực tiếp điều chỉnh các hoạt động thống kê trong toàn bộ nền kinh tế nói chung và doanh nghiệp nói riêng Liên quan đến doanh nghiệp nói chung và hoạt động thống kê ở doanh nghiệp nói riêng, còn cần nghiên cứu các

Trang 9

văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan đến hoạt động thống kê của doanh nghiệp như Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư,

1.1.2 Luật Doanh nghiệp

Luật Doanh nghiệp được Quốc hội khoá XI nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 29/11/2005 Luật Doanh nghiệp quy định về việc thành lập,

tổ chức quản lý và hoạt động của công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công

ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân thuộc mọi thành phần kinh tế (sau đây gọi chung là doanh nghiệp); quy định về nhóm công ty

(1) Những khái niệm liên quan đến doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế

* Khoản 1 Điều 4 Luật Doanh nghiệp đã quy định: “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”

* Khoản 15 Điều 4 Luật Doanh nghiệp quy định:

“Một công ty được coi là công ty mẹ của công ty khác nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

- Sở hữu trên 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần phổ thông đã phát hành của công ty đó;

- Có quyền trực tiếp hoặc gián tiếp bổ nhiệm đa số hoặc tất cả thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc của công ty đó;

- Có quyền quyết định việc sửa đổi, bổ sung Điều lệ của công ty đó”

* Khoản 22 Điều 4 Luật Doanh nghiệp quy định: “Doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp trong đó Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ.”

* Điều 26 Nghị định số 139/2007/NĐ-CP ngày 5/9/2007 của Chính phủ hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật Doanh nghiệp quy định về khái niệm Tập đoàn kinh tế như sau:

- Tập đoàn kinh tế bao gồm nhóm các công ty có tư cách pháp nhân độc lập, được hình thành trên cơ sở tập hợp, liên kết thông qua đầu tư, góp vốn, sáp nhập, mua lại, tổ chức lại hoặc các hình thức liên kết khác; gắn bó lâu dài với nhau về lợi ích kinh tế, công nghệ, thị trường và các dịch vụ kinh doanh khác tạo thành tổ hợp kinh doanh có từ hai cấp doanh nghiệp trở lên dưới hình thức công ty mẹ-công ty con

- Tập đoàn kinh tế không có tư cách pháp nhân, không phải đăng ký kinh doanh theo quy định của Luật Doanh nghiệp Việc tổ chức hoạt động của tập đoàn do các công ty lập thành tập đoàn tự thoả thuận quyết định

- Công ty mẹ được tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn, đáp ứng điều kiện nêu tại khoản 15 Điều 4 của Luật Doanh nghiệp

Trang 10

Công ty con được tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn theo quy định của Luật Doanh nghiệp hoặc của pháp luật liên quan

Công ty mẹ, công ty con và các công ty khác hợp thành tập đoàn kinh tế có các quyền, nghĩa vụ, cơ cấu tổ chức quản lý và hoạt động phù hợp với hình thức tổ chức doanh nghiệp theo quy định của Luật Doanh nghiệp, pháp luật liên quan và Điều lệ công ty

- Cụm từ “ tập đoàn” có thể sử dụng như một thành tố phụ trợ cấu thành tên riêng của công ty mẹ, phù hợp với các quy định từ Điều 31 đến Điều 34 của Luật Doanh nghiệp và đặt tên doanh nghiệp

- Bộ Tài chính hướng dẫn chế độ báo cáo tài chính hợp nhất, giám sát hoạt động tài chính của tập đoàn kinh tế, các nhóm công ty mẹ-công ty con thuộc tập đoàn kinh

tế

- Bộ Công thương hướng dẫn việc giám sát các tập đoàn kinh tế, nhóm công ty mẹ-công ty con thuộc tập đoàn kinh tế thực hiện các quy định về hạn chế cạnh tranh, chống lạm dụng vị thế thống lĩnh thị trường hoặc lạm dụng vị trí độc quyền.”

(2) Nghĩa vụ của doanh nghiệp có liên quan đến công tác thống kê

* Điều 9 Luật Doanh nghiệp đã quy định:

- Tổ chức công tác kế toán, lập và nộp báo cáo tài chính trung thực, chính xác, đúng thời hạn theo quy định của pháp luật về kế toán

- Thực hiện chế độ thống kê theo quy định của pháp luật về thống kê, định kỳ báo cáo đầy đủ các thông tin về doanh nghiệp, tình hình tài chính của doanh nghiệp với cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo mẫu quy định; khi phát hiện các thông tin

đã kê khai hoặc báo cáo thiếu chính xác, chưa đầy đủ phải kịp thời sửa đổi, bổ sung các thông tin đó.”

1.1.3 Luật Đầu tư

Luật Đầu tư quy định về hoạt động đầu tư nhằm mục đích kinh doanh; quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư; bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư; khuyến khích và ưu đãi đầu tư; quản lý nhà nước về đầu tư tại Việt Nam và đầu tư từ Việt Nam ra nước ngoài Điều 2 Luật Đầu tư quy định về đối tượng áp dụng áp dụng như sau:

- Nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài thực hiện hoạt động đầu tư trên lãnh thổ Việt Nam và đầu tư từ Việt Nam ra nước ngoài

- Tổ chức, cá nhân liên quan đến hoạt động đầu tư.”

Và theo quy định của Điều 3 Luật Đầu tư thì:

“Nhà đầu tư là tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động đầu tư theo quy định của pháp luật Việt Nam, bao gồm:

Trang 11

- Doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế thành lập theo Luật doanh nghiệp;

- Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã thành lập theo Luật hợp tác xã;

- Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được thành lập trước khi Luật này có hiệu lực;

- Hộ kinh doanh, cá nhân;

- Tổ chức, cá nhân nước ngoài; người Việt Nam định cư ở nước ngoài; người nước ngoài thường trú ở Việt Nam;

- Các tổ chức khác theo quy định của pháp luật Việt Nam”

Theo các quy định của Luật Đầu tư thì doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài bao gồm (i) doanh nghiệp do nhà đầu tư nước ngoài thành lập để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam; và (ii) doanh nghiệp Việt Nam do nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, sáp nhập, mua lại Như vậy, Luật Đầu tư 2005 đã mở rộng khái niệm doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, bên cạnh các doanh nghiệp do nhà đầu tư nước ngoài thành lập, các doanh nghiệp Việt Nam có sự tham gia của nhà đầu tư nước ngoài cũng được coi là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và là đối tượng báo cáo theo Thông tư liên bộ 01 về chế độ báo cáo thống kê áp dụng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Các đặc trưng của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo quy định của Luật Đầu tư nước ngoài cũng đã thay đổi, cụ thể:

(1) Không có quy định về tỷ lệ sở hữu tối thiểu của nhà đầu tư nước ngoài trong doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Việc không quy định ngưỡng sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài để phân định hoạt động đầu tư trong nước và nước ngoài là khó khăn lớn nhất cho công tác quản lý nhà nước nói chung và công tác thống kê nói riêng hiện nay

(2) Khái niệm vốn pháp định của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài như quy định trước đây không còn

Vốn pháp định theo quy định của Luật Doanh nghiệp số 60/2005/QH11 ngày 29

tháng 11 năm 2005 (sau đây gọi là Luật Doanh nghiệp 2005) là mức vốn tổi thiểu

phải có theo quy định của pháp luật để thành lập doanh nghiệp Chỉ doanh nghiệp hoạt động trong một số lĩnh vực, ngành nghề nhất định mới cần phải có vốn pháp định

Theo quy định của Luật Doanh nghiệp 2005, vốn điều lệ của doanh nghiệp là số vốn do các thành viên, cổ đông góp hoặc cam kết góp trong một thời hạn nhất định và được ghi vào Điều lệ công ty

Trang 12

Hiện không có quy định về mối liên hệ giữa vốn điều lệ của doanh nghiệp và vốn đầu tư của dự án do doanh nghiệp thực hiện hoặc tham gia thực hiện như quy định tương ứng nêu tại đặc trưng thứ 2 ở trên

(3) Loại hình doanh nghiệp

Theo quy định của Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư 2005, nhà đầu tư nước ngoài được thành lập doanh nghiệp theo tất cả các hình thức quy định tại Luật Doanh nghiệp, gồm: công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân

Ngoài ra, nhà đầu tư nước ngoài còn được thành lập tổ chức tín dụng, doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm, quỹ đầu tư và các tổ chức tài chính khác theo quy định của pháp luật; cơ sở dịch vụ y tế, giáo dục, khoa học, văn hóa, thể thao và các cơ sở dịch vụ khác có hoạt động đầu tư sinh lợi và các tổ chức kinh tế khác

(4) Tư cách pháp nhân

Các doanh nghiệp do nhà đầu tư nước ngoài thành lập theo các hình thức quy định tại Luật Doanh nghiệp đều có tư cách pháp nhân, trừ doanh nghiệp tư nhân

(5) Bên nước ngoài tham gia Hợp đồng hợp tác kinh doanh

Về cơ bản, đối tượng này theo quy định của Luật Đầu tư 2005 không thay đổi nhiều so với quy định trước đây của Luật Đầu tư nước ngoài

Luật Đầu tư quy định về nghĩa vụ của nhà đầu tư như sau:

- Tuân thủ quy định của pháp luật về thủ tục đầu tư; thực hiện hoạt động đầu tư theo đúng nội dung đăng ký đầu tư, nội dung quy định tại Giấy chứng nhận đầu tư Nhà đầu tư phải chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực của nội dung đăng ký đầu tư, hồ sơ dự án đầu tư và tính hợp pháp của các văn bản xác nhận

- Thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật

- Thực hiện quy định của pháp luật về kế toán, kiểm toán và thống kê

- Thực hiện nghĩa vụ theo quy định của pháp luật về bảo hiểm, lao động; tôn trọng danh dự, nhân phẩm, bảo đảm quyền lợi hợp pháp của người lao động

- Tôn trọng, tạo điều kiện thuận lợi để người lao động thành lập, tham gia tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội

- Thực hiện quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường

- Thực hiện các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật

Trang 13

1.1.4 Các văn bản pháp quy hiện hành còn hiệu lực liên quan đến xây dựng chế độ báo cáo thống kê doanh nghiệp

(1) Chế độ báo cáo thống kê đối với Tổng công ty do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập theo Quyết định số 373/QĐ-TCTK ngày 10/9/1996 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê

(2) Chế độ báo cáo thống kê đối với Tổng công ty do Bộ trưởng quyết định thành lập theo Quyết định số 373/QĐ-TCTK ngày 10/9/1996 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê

(3) Chế độ báo cáo thống kê đối với Tổng công ty do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh quyết định thành lập theo Quyết định số 373/QĐ-TCTK ngày 10/9/1996 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê

(4) Chế độ báo cáo thống kê đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo Thông tư Liên bộ số 01/LB-TCTK-BKHĐT ngày 31/3/1997 giữa Tổng cục Thống kê và Bộ Kế hoạch và Đầu tư

(5) Chế độ báo cáo thống kê đối với doanh nghiệp nhà nước theo Quyết định số 156/2003/QĐ-TCTK ngày 13/3/2003 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê

(6) Chế độ báo cáo thống kê định kỳ hoạt động xuất, nhập khẩu áp dụng đối với công ty trách nhiệm hữu hạn tư nhân, công ty cổ phần (ngoài công ty cổ phần nhà nước), công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân và đơn vị kinh tế tập thể, ban hành theo Quyết định 63/2003/QĐ-BKH của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Quyết định số 158/2003/QĐ-TCTK của Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê

(7) Chế độ báo cáo thống kê tổng hợp áp dụng đối với các Bộ, ngành ban hành theo Quyết định 111/2008/QĐ-TTg ngày 15 tháng 8 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ

1.2 Cơ sở khoa học và thực tiễn

1.2.1 Cơ sở khoa học

Cơ sở khoa học của việc ban hành chế độ báo cáo thống kê doanh nghiệp xuất phát từ tính tất yếu về lý luận và phương pháp luận của thống kê học

Theo lý luận và phương pháp luận của thống kê học, quá trình nghiên cứu thống

kê được chia thành ba giai đoạn:

(1) Giai đoạn thứ nhất: thu nhập thông tin thống kê;

(2) Giai đoạn thứ hai: tổng hợp thống kê;

(3) Giai đoạn thứ ba: phân tích thống kê

Trong giai đoạn thứ nhất, việc thu nhập thông tin thống kê được tiến hành bằng nhiều hình thức và phương pháp khác nhau, trong đó có báo cáo thống kê và điều tra

Trang 14

thống kê Báo cáo thống kê bao gồm báo cáo thống kê cơ sở và báo cáo thống kê tổng hợp Trong báo cáo thống kê cơ sở có báo cáo thống kê doanh nghiệp, trong đó có báo cáo thống kê áp dụng đối với doanh nghiệp nhà nước; báo cáo thống kê áp dụng đối với các Tập đoàn, Tổng công ty, công ty mẹ-con; báo cáo thống kê áp dụng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Như vậy, báo cáo thống kê áp dụng đối với doanh nghiệp nằm trong giai đoạn thứ nhất

Trang 15

HuyÖn uû,

Uû ban Nh©n d©n cÊp

huyÖn

Phòng thống kê cấp huyện

Hé gia

có vốn ĐTNN

DN vµ c¬

së kinh

tÕ ngoµi NN

Báo cáo thống kê tổng hợp

Báo cáo thống kê cơ sở

Điều tra

Điều tra

Báo cáo thống kê tổng hợp

Báo cáo thống kê tổng hợp

Báo cáo

thống kê

tổng hợp

Báo cáo thống kê tổng hợp

Báo cáo hành chính

Báo cáo thống kê

Trang 16

Như vậy, báo cáo thống kê của doanh nghiệp nhà nước, Tập đoàn, Tổng công

ty, Công ty mẹ - con và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được hình thành như sau:

Cơ sở lập báo cáo gửi:

- Phòng thống kê cấp huyện, phòng ban chuyên môn ở cấp huyện, nếu đơn vị thuộc huyện

- Cục Thống kê tỉnh, thành phố, Sở, ngành ở cấp tỉnh, nếu đơn vị thuộc cấp tỉnh;

- TCTK, Bộ, ngành ở TW, nếu đơn vị thuộc TW Riêng đối với ngành Thống kê quy định gửi Cục Thống kê địa phương

Ở đây có vấn đề đặt ra là phân thông tin theo địa bàn, đối tượng với những doanh nghiệp có trụ sở chính ở một tỉnh, thành phố (đầu), nhưng có các chi nhánh ở các tỉnh, thành phố khác (đuôi) Việc phân công này có thể được quy định như sau:

- Đối với “đầu”: Báo cáo được tổng hợp toàn đơn vị, bao gồm cả “đầu” và

“đuôi”, nhưng cục Thống kê tỉnh, thành phố mà doanh nghiệp có trụ sở chính chỉ báo cáo phần nằm trên tỉnh, thành phố, không tổng hợp các đơn vị thành viên, các chi nhánh nằm ở các tỉnh, thành phố khác để tránh trùng lặp số liệu khi tổng hợp toàn quốc;

- Đối với “đuôi”: nằm ở các tỉnh, thành phố khác vừa phải gửi thông tin cho

“đầu”, vừa phải gửi thông tin cho Cục Thống kê ở địa bàn tỉnh, thành phố mà “đuôi” đóng trụ sở

Như vậy, doanh nghiệp “đầu” thì vẫn phải tổng hợp tất cả, Cục Thống kê sẽ căn

cứ vào danh sách các đơn vị trong báo cáo để tách phần thuộc địa bàn

Riêng đối với những đơn vị quản lý toàn ngành mà Tổng cục Thống kê trực tiếp tính toán, tổng hợp thì Tổng cục cần phân bổ sớm theo các địa bàn Cách tốt nhất là các vụ chuyên ngành tách theo địa bàn và thông báo cho Cục Thống kê tỉnh, thành phố

1.2.2.2 Những vấn đề của thực tiễn hiện nay

Hiện tại, các doanh nghiệp nhà nước thực hiện chế độ báo cáo thống kê cơ sở do

Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư ban hành theo Quyết định số 62/2003/QĐ-BKH ngày 27 tháng 01 năm 2003 Ưu điểm của chế độ báo cáo thống kê này là đã được ban hành theo hướng tập trung thống nhất, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện của doanh nghiệp nhà nước Các Tổng công ty 90, 91 và các Tổng công ty thành lập theo Quyết định của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện chế độ báo cáo thống kê áp dụng đối với Tổng công ty theo Quyết định số 373/QĐ-TCTK ngày 10 tháng 9 năm 1996 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thực hiện chế độ báo cáo thống kê theo Thông tư Liên bộ số 01/LB-TCTK-BKHĐT ngày 31 tháng 3 năm1997 giữa Tổng

Trang 17

cục Thống kê và Bộ Kế hoạch và Đầu tư Việc thực hiện các chế độ báo thống kê nói trên

đã phát huy tác dụng, nhưng đồng thời còn nhiều hạn chế, bất cập vì các lý do sau:

- Những chế độ báo thống kê ban hành áp dụng đối với Tổng công ty, doanh

nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ban hành trước khi có Luật Thống kê và các Luật liên quan khác, do vậy có một số điểm chưa phù hợp với những quy định của Luật Thống kê cũng như các văn bản dưới Luật như:

- Thiếu chỉ tiêu, số liệu không nhất quán, thiếu tính khả thi; mặt khác các chế độ báo cáo thống kê này đã lạc hậu không phù hợp với thực tiễn hiện nay, dẫn đến việc tổng hợp chung của các cấp, các ngành rất khó khăn

- Cơ quan Tổng cục Thống kê trước đây là cơ quan thuộc Chính phủ, nay là cơ quan trực thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư, do vậy thẩm quyền quy định trong các chế

độ báo cáo thống kê trước đó đã thay đổi

- Do tình hình kinh tế-xã hội của đất nước biến động nhanh, phát sinh nhiều vấn

đề mới, một số loại hình xuất hiện như: Tập đoàn kinh tế, công ty mẹ-con nhà nước, công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên chưa được quy định trong chế

độ báo cáo thống kê tổng hợp và chế độ báo cáo thống kê cơ sở

- Hiện tượng một doanh nghiệp phải lập và gửi báo cáo cho nhiều cơ quan hay ngoài việc thực hiện chế độ báo cáo thống kê, các doanh nghiệp phải thực hiện các cuộc điều tra thống kê khác, gây trùng chéo, nặng nề và không thống nhất

- Có tình trạng vừa thừa, vừa thiếu thông tin thống kê Thừa đối với những chỉ tiêu chủ yếu thuộc thẩm quyền điều hành của doanh nghiệp, nhưng vẫn yêu cầu doanh nghiệp phải báo cáo Thiếu những chỉ tiêu phục vụ việc quản lý điều hành kinh

tế vĩ mô của nhà nước

- Việc tính toán số liệu theo địa bàn còn nhiều hạn chế, giữa các thống kê chuyên ngành và thống kê tài khoản quốc gia, giữa số liệu trên các địa bàn và số liệu tổng hợp của cả nước còn có sự khác nhau, gây nghi ngờ cho người sử dụng tin

- Việc áp dụng các bảng phân ngành kinh tế, phân loại sản phẩm, phân loại thành phần kinh tế giữa các địa phương, giữa địa phương và trung ương còn có sự khác biệt

- Thủ tục hành chính trong công tác quản lý nói chung và trong công tác thống

kê nói riêng đang trong quá trình cải cách nhằm giảm bớt các yêu cầu báo cáo thống

kê đối với doanh nghiệp

- Điều kiên ứng dụng công nghệ thông tin trong việc lập và gửi báo cáo thống kê ngày càng cải thiện hơn

- Nhân lực về thống kê doanh nghiệp hiện nay bị hạn chế, việc kiêm nhiệm công tác thống kê diễn ra hầu hết tại các doanh nghiệp, do vậy cần thiết phải tinh giản các biểu mẫu báo cáo thống kê cũng như các nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với cơ quan quản lý Nhà nước

Trang 19

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CHẾ ĐỘ BÁO CÁO THỐNG KÊ DOANH NGHIỆP 2.1 Tổng quan về chế độ báo cáo thống kê áp dụng đối với doanh nghiệp

Chế độ báo cáo thống kê định kỳ áp dụng đối với các tổng công ty chính thức được đưa vào thực hiện ngày 10 tháng 9 năm 1996 sau Quyết định số 373/TCTK-PPCĐ của Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê Chế độ báo cáo thống kê định kỳ doanh nghiệp nhà nước cũng được đưa vào thực hiện từ ngày 27/1/2003 theo Quyết định số 62/2003/BKH của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Quyết định số 156/2003/QĐ-TCTK của Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê Bên cạnh đó, để đánh giá kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, Bộ kế hoạch và đầu tư và Tổng cục Thống kê đã ban hành Thông tư Liên bộ số 01/LB ngày 31/3/1997 về hướng dẫn công tác thống kê đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và bên nước ngoài tham gia Hợp đồng hợp tác kinh doanh

Trong thời gian thực hiện Quyết định số 373/TCTK-PPCĐ và Quyết định số 62/2003/BKH, bên cạnh sự phát triển không ngừng của các đối tượng thống kê, Tổng cục Thống kê cũng chưa tiến hành cải tiến, bổ sung, sửa đổi các nội dung trong chế

độ cho phù hợp và đáp ứng nhu cầu của thời kỳ mới Đồng thời, cũng chưa tiến hành đánh giá nào về hiệu quả, tính khả thi và sự phù hợp của các chế độ này

Đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã thực hiện nghiêm túc các loại báo cáo theo quy định của Thông tư 01/LB đã có số liệu để các cơ quan quản

lý nhà nước tổng hợp, phân tích phản ánh đầy đủ, kịp thời tình hình thực hiện các dự

án có vốn đầu tư nước ngoài hàng tháng, quý, năm, làm cơ sở cho việc điều hành của Chính phủ cũng như việc xây dựng kế hoạch, chiến lược và định hướng phát triển kinh tế của cả nước, của từng địa phương, khu vực lãnh thổ

Tuy nhiên, đến nay do có nhiều sự thay đổi cả về mặt pháp lý như việc ban hành Luật Thống kê và thực trạng kinh tế xã hội có sự phát triển không ngừng, các chế độ báo cáo thống kê này đã bộc lộ nhiều bất cập, thậm chí nhiều chỉ tiêu có trong chế độ báo cáo thống kê này đến nay đã không thể sử dụng được nữa

2.2 Thực trạng chế độ báo cáo thống kê áp dụng đối với tổng công ty,

doanh nghiệp nhà nước

2.2.1 Giới thiệu lịch sử việc thực hiện chế độ báo cáo thống kê áp dụng đối với Tổng công ty và doanh nghiệp nhà nước

2.2.1.1 Chế độ báo cáo thống kê định kỳ áp dụng đối với Tổng công ty

Trước năm 1996, việc thực hiện báo cáo thống kê của các Tổng công ty được áp

Trang 20

- Quyết định số 647/TCTK ngày 7/12/1985 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê ban hành chế độ báo cáo thống kê kinh tế áp dụng đối với các Công ty Thương nghiệp địa phương, Công ty thương nghiệp trung ương và Tổng công ty hạch toán độc lập thuộc ngành nội thương

- Quyết định số 13/TCTK ngày 13/2/1986 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thống

kê ban hành chế độ báo cáo thống kê công nghiệp định kỳ áp dụng đối với các đơn vị hạch toán kinh tế độc lập

- Quyết định số 01/ TCTK-QĐ ngày 28/12/1990 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê ban hành chế độ báo cáo thống kê định kỳ về vận tải, bốc xép, áp dụng đối với các đơn vị cơ sở vận tải, bốc xếp quốc doanh và công ty hợp doanh thuộc các ngành đường bộ, đường sông, đường biển và đường biển pha sông, các liên hiệp xí nghiệp vận tải đường sắt, đường ô tô, đường sông, đường biển và đường biển pha sông, Tổng công ty vận tải hàng không Việt Nam, Tổng công ty Bưu chính viễn thông

- Quyết định số 30/TCTK ngày 8/3/1991 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thống

kê ban hành chế độ báo cáo thống kê định kỳ áp dụng đối với các đơn vị cơ sở kinh doanh du lịch hạch toán kinh tế độc lập, Tổng công ty du lịch, Bộ văn hoá thông tin, thể thao và du lịch

- Quyết định số 147 /TCTK-QĐ ngày 20/12/1994 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê ban hành chế độ báo cáo thống kê định kỳ áp dụng đối với các doanh nghiệp hoạt động Công nghiệp, khai thác mỏ, công nghiệp chế biến, sản xuất và phân phối điện, khí đốt và nước thuộc các loại hình doanh nghiệp nhà nước, hợp tác xã, doanh nghiệp tư nhân, Công ty trách nhiệm hữu hạn, Công ty cổ phần có hạch toán kinh tế độc lập

- Quyết định số 58 /TCTK-QĐ ngày 4/4/1995 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê ban hành chế độ báo cáo thống kê định kỳ về vốn đầu tư xây lắp và khảo sát thiết kế quy hoạch xây dựng áp dụng đối với các Bộ ngành và các Tổng công ty có

tổ chức hạch toán toàn ngành

- Quyết định số 287/ TCTK-QĐ ngày 27/10/1995 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê ban hành chế độ báo cáo thống kê định kỳ ngành lâm nghiệp áp dụng đối với các đơn vị hoạt động lâm nghiệp, ban quản lý dự án, doanh nghiệp nhà nước, hợp tác xã, Công ty trách nhiệm hữu hạn, Công ty cổ phần, liên hiệp, Tổng công ty, Chi cục kiểm lâm, Sở lâm nghiệp

Với hình thức thực hiện như thế, các Tổng công ty hoạt động đa ngành gặp nhiều khó khăn trong việc báo cáo thống kê do phải thực hiện nhiều chế độ báo cáo cùng một lúc Năm 1996, việc cải tiến và ban hành mới chế độ báo cáo thống kê cho

Trang 21

các Tổng công ty được đặt ra theo hướng chỉ ban hành một chế độ báo cáo cho tất cả các Tổng công ty, và sẽ có phần biểu mẫu báo cáo chung và phần biểu mẫu báo cáo riêng cho các hoạt động kinh tế riêng lẻ

Chế độ báo cáo thống kê định kỳ áp dụng đối với Tổng công ty hiện hành là chế

độ báo cáo thống kê được ban hành theo Quyết định số 373/TCTK-PPCĐ ngày 10/9/1996 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê

Chế độ báo cáo này áp dụng cho các Tổng công ty có tổ chức hoạt động theo Luật Doanh nghiệp nhà nước và Nghị định điều lệ mẫu số 39/CP ngày 27/6/1995 của Chính phủ Cụ thể, chế độ báo cáo này áp dụng cho 3 loại Tổng công ty sau đây được thành lập theo Quyết định 90/Ttg và 91/Ttg ngày 7/3/1994 của Thủ tướng Chính phủ:

- Tổng công ty do Thủ tướng quyết định thành lập;

- Tổng công ty do Bộ trưởng ngành kinh tế - kỹ thuật quyết định thành lập;

- Tổng công ty do Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định thành lập

Đặc điểm của chế độ báo cáo thống kê này áp dụng cho tất cả các Tổng công ty Nhà nước có ngành nghề kinh doanh và hoạt động kinh tế khác nhau

- Tổng công ty do Thủ tướng quyết định thành lập thực hiện 31 biểu;

- Tổng công ty do Bộ trưởng ngành kinh tế - kỹ thuật quyết định thành lập thực hiện 31 biểu;

- Tổng công ty do Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định thành lập thực hiện 22 biểu

Trong số 31 biểu có:

- 9 biểu áp dụng chung cho các Tổng công ty;

- 1 biểu áp dụng thêm cho các Tổng công ty có hoạt động nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản;

- 1 biểu áp dụng thêm cho các Tổng công ty có hoạt động công nghiệp;

- 4 biểu áp dụng thêm cho các Tổng công ty có hoạt động xây dựng và đầu tư xây dựng cơ bản;

- 2 biểu áp dụng thêm cho các Tổng công ty có hoạt động thương nghiệp, khách sạn, nhà hàng, du lịch và xuất nhập khẩu trực tiếp;

- 3 biểu áp dụng thêm cho các Tổng công ty có hoạt động sự nghiệp y tế, đào tạo;

- 5 biểu áp dụng thêm cho các Ngân hàng chuyên doanh Trung ương và các Tổng công ty có các định chế tài chính;

Trang 22

hoạt động bảo hiểm

2.2.1.2 Chế độ báo cáo thống kê định kỳ doanh nghiệp nhà nước

Trước năm 2003, việc thực hiện chế độ báo cáo thống kê định kỳ của các doanh nghiệp nhà nước được thực hiện theo những chế độ báo cáo sau:

- Quyết định số 512/TCTK ngày 22/11/1984 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê ban hành chế độ báo cáo định kỳ áp dụng đối với các khối sản xuất thông tin- bưu điện

- Quyết định số 353/TCTK-PPCĐ ngày 8/8/1985 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê ban hành hệ thống biểu mẫu chế độ báo cáo về kết quả sản xuất tiểu thủ công nghiệp của các đơn vị cơ sở và của các đơn vị tổng hợp

- Quyết định số 605/ TCTK ngày 20/11/1985 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê ban hành chế độ báo cáo thống kê định kỳ áp dụng cho các đơn vị cơ sở hạch toán kinh tế độc lập, thuộc ngành lương thực, các công ty lương thực quận, huyện, tỉnh, thành phố

- Quyết định số 647/TCTK ngày 7/12/1985 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê ban hành chế độ báo cáo thống kê kinh tế áp dụng đối với các Công ty Thương nghiệp địa phương, Công ty thương nghiệp TW và Tổng công ty hạch toán độc lập thuộc ngành nội thương

- Quyết định số 666/TCTK ngày 23/12/1985 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê ban hành chế độ thống kê kế toán định kỳ áp dung đối với các đơn vị cơ sở hạch toán kinh tế độc lập thuộc ngành du lịch

- Quyết định số 670/TCTK ngày 25/12/1985 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê ban hành hệ thống biểu mẫu báo cáo thống kê kế toán định kỳ của các đơn

vị xây lắp nhận thầu, đơn vị khảo sát thiết kế công trình xây dựng cơ bản, các ban quản lý công trình do Trung ương và địa phương quản lý

- Quyết định số 677/TCTK ngày 30/12/1985 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê ban hành chế độ báo cáo thống kê KT định kỳ áp dụng đối với các đơn vị

cơ sở hạch toán kinh tế độc lập thuộc ngành lâm nghiệp

- Quyết định số 13/TCTK ngày 13/2/1986 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê ban hành chế độ báo cáo thống kê công nghiệp định kỳ áp dụng đối với các đơn vị hạch toán kinh tế độc lập

- Quyết định số 236/TCTK ngày 2/9/1986 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thống

kê ban hành tạm thời chế độ báo cáo định kỳ về thống kê giao thông vận tải áp dụng đối với các đơn vị cơ sở quốc doanh và công tư hợp doanh vận tải ô tô có hạch toán kinh tế độc lập

Trang 23

- Quyết định số 237/TCTK ngày 12/9/1986 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê ban hành chế độ báo cáo thống kê định kỳ chính thức áp dụng đối với các đơn vị cơ sở ngành vận tải bốc xếp đường sông

- Quyết định số 238/TCTK ngày 12/9/1986 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê ban hành chế độ báo cáo thống kê định kỳ chính thức áp dụng đối với các đơn vị cơ sở ngành vận tải bốc xếp đường biển

- Quyết định số 355/TCTK ngày 25/12/1986 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê ban hành chế độ báo cáo thống kê kế toán định kỳ áp dụng đối với các đơn

vị cơ sở hạch toán kinh tế độc lập quốc doanh nông nghiệp

- Quyết định số 374/TCTKngày 7/11/1987 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê ban hành hệ thống chỉ tiêu biểu mẫu báo cáo định kỳ áp dụng đối với các cơ

sở công nghiệp quốc doanh và công tư hợp doanh hạch toán kinh tế độc lập

- Quyết định số 03/TCTK-PPCĐ ngày 26/12/1989 của Tổng cục trưởng Tổng cục Tổng cục Thống kê ban hành tạm thời chế độ báo cáo thống kê áp dụng đối với các đơn vị cơ sở thuộc liên hiệp hàng hải quản lý

- Quyết định số 183/TCTK-CN ngày 22/11/1990 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê ban hành chế độ báo cáo định kỳ áp dụng đối với các cơ sở công nghiệp quốc doanh và công tư hợp doanh kinh tế độc lập

- Quyết định số 214/TCTK ngày 20/12/1990 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê ban hành chế độ báo cáo thống kê định kỳ áp dụng đối với các đơn vị cơ sở kinh doanh thương nghiệp TW, địa phương (trừ ngành lương thực) có hạch toán kinh

tế độc lập

- Quyết đinh số 215/TCTK ngày 20/12/1990 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê ban hành chế độ báo cáo thống kê định kỳ áp dụng đối với các đơn vị cơ sở ngành lương thực hạch toán kinh tế độc lập do TƯ và địa phương quản lý

- Quyết định số 216/TCTK ngày 20/12/1990 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê ban hành chế độ báo cáo thống kê định kỳ áp dụng đối với các đơn vị cơ sở hợp tác xã mua bán TW và địa phương có hạch toán kinh tế độc lập

- Quyết định số 01/TCTK-QĐ ngày 28/12/1990 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê ban hành chế độ báo cáo thống kê định kỳ về vận tải, bốc xếp, áp dụng đối với các đơn vị cơ sở vận tải, bốc xếp quốc doanh và công ty hợp doanh thuộc các ngành đường bộ, đường sông, đường biển và đường biển pha sông, các liên hiệp xí nghiệp vận tải đường sắt, đường ôtô, đường sông, đường biển và đường biển pha sông, Tổng công ty vận tải hàng không Việt Nam, Tổng công ty Bưu chính viễn thông

- Quyết định số 30/TCTK ngày 8/3/1991 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thống

Trang 24

doanh du lịch hạch toán kinh tế độc lập, Tổng công ty du lịch, Bộ Văn hoá thông tin, thể thao và du lịch

- Quyết định số 04/TCTK ngày 22/8/1991 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thống

kê ban hành chế độ báo cáo thống kê định kỳ áp dụng đối với các xí nghiệp quốc doanh nông nghiệp TW và địa phương hạch toán kinh tế độc lập

- Quyết định số 35/ TCTK-QĐ ngày 1/4/1994 Tổng cục trưởng Tổng cục Thống

kê ban hành chế độ báo cáo thống kê đối với các doanh nghiệp, thương nghiệp, khách sạn, nhà hàng, dịch vụ thuộc các thành phần kinh tế Nhà nước, tập thể, tư nhân và hỗn hợp (trừ các đơn vị có vốn đầu tư nước ngoài), hạch toán kinh tế độc lập và các doanh nghiệp thuộc các ngành khác có kinh doanh, thương nghiệp, khách sạn, nhà hàng, dịch vụ có hạch toán riêng

- Quyết định số 109/ TCTK-QĐ ngày 15/9/1994 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê ban hành chế độ báo cáo thống kê kinh doanh du lịch, khách sạn thuộc các thành phần kinh tế Nhà nước tập thể, tư nhân, cá thể, hỗn hợp có hạch toán kinh tế độc lập

- Quyết định số 147/TCTK-QĐ ngày 20/12/1994 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê ban hành chế độ báo cáo thống kê định kỳ áp dụng đối với các doanh nghiệp hoạt động Công nghiệp, khai thác mỏ, công nghiệp chế biến, sản xuất và phân phối điện, khí đốt và nước thuộc các loại hình doanh nghiệp nhà nước, hợp tác xã, doanh nghiệp tư nhân, Công ty trách nhiệm hữu hạn, Công ty cổ phần có hạch toán kinh tế độc lập

- Quyết định số 01/ TCTK-QĐ ngày 5/1/1995 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê ban hành chế độ báo cáo thống kê định kỳ áp dụng đối với các doanh nghiệp có hoạt động vận tải và bưu điện hạch toán kinh tế độc lập thuộc các loại hình doanh nghiệp nhà nước, hợp tác xã, doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần

- Quyết định số 31/TCTK-QĐ ngày 2/3/1995 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê ban hành chế độ báo cáo thống kê XDCB định kỳ áp dụng đối với các chủ đầu tư, các đơn vị xây lắp nhận thầu, các đơn vị tư vấn khảo sát thiết kế, quy hoạch, xây dựng thuộc các doanh nghiệp Nhà nước, hợp tác xã, doanh nghiệp tư nhân, công

ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần có hạch toán kinh tế độc lập

Việc ban hành các chế độ báo cáo trên cũng theo hướng ban hành chế độ báo cáo theo ngành kinh tế Một doanh nghiệp có thể thực hiện nhiều chế độ báo cáo nếu hoạt động đa ngành Năm 2003, chế độ báo cáo thống kê cho doanh nghiệp nhà nước được cải tiến theo hướng ban hành chung 1 chế độ báo cáo cho doanh nghiệp bao gồm tất cả các biểu mẫu thu thập thông tin chuyên ngành của các ngành

Trang 25

Chế độ báo cáo thống kê định kỳ doanh nghiệp nhà nước được ban hành theo Quyết định số 62/2003/BKH của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Quyết định số 156/2003/QĐ-TCTK của Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê Mục đích của việc ban hành chế độ báo cáo này nhằm thu thập thông tin từ các doanh nghiệp nhà nước

để tổng hợp các chỉ tiêu kinh tế

Như vậy, chế độ báo cáo thống kê định kỳ doanh nghiệp nhà nước hiện hành đã được thiết kế gồm 17 biểu:

- Báo cáo tháng gồm 11 biểu, cụ thể:

+ 1 biểu cho doanh nghiệp có hoạt động sản xuát công nghiệp;

+ 1 biểu cho doanh nghiệp là chủ đầu tư;

+ 1 biểu cho doanh nghiệp có hoạt động xây dựng – khảo sát thiết kế và quy hoạch xây dựng;

+ 1 biểu cho doanh nghiệp có hoạt động thương nghiệp, khách sạn, nhà hang, du lịch (lữ hành) và dịch vụ;

+ 1 biểu cho doanh nghiệp có hoạt động xuất khẩu hang hoá;

+ 1 biểu cho doanh nghiệp có hoạt động nhập khẩu hàng hoá;

+ 1 biểu cho doanh nghiệp có hoạt động vận tải, bốc xếp, dịch vụ đại lý vận tải; + 1 biểu cho doanh nghiệp có hoạt động bưu chính viễn thông;

+ 1 biểu cho doanh nghiệp bảo hiểm;

+ 1 biểu cho doanh nghiệp môi giới bảo hiểm;

+ 1 biểu cho doanh nghiệp xổ số

- Báo cáo 6 tháng gồm 1 biểu:

+ 1 biểu cho tất cả các doanh nghiệp

- Báo cáo năm gồm 5 biểu, cụ thể:

+ 1 biểu cho tất cả các doanh nghiệp;

+ 1 biểu cho doanh nghiệp có hoạt động trồng cây lâu năm;

+ 1 biểu cho doanh nghiệp có hoạt động chăn nuôi;

+ 1 biểu cho doanh nghiệp có hoạt động xuất khẩu hàng hoá;

+ 1 biểu cho doanh nghiệp có hoạt động nhập khẩu hàng hoá

2.2.2 Một số nét khái quát về đối tượng thực hiện, đặc điểm của các đối tượng

2.2.2.1 Chế độ báo cáo thống kê định kỳ áp dụng đối với Tổng công ty theo

QĐ số 373/TCTK-PPCĐ ngày 10/9/1996

Trang 26

Chế độ báo cáo thống kê định kỳ Tổng công ty theo Quyết định số PPCĐ ngày 10/9/1996 áp dụng cho các Tổng công ty có tổ chức và hoạt động theo Luật doanh nghiệp Nhà nước và Nghị định số 39/CP ngày 27/6/1996 của Chính phủ

373/TCTK-về điều lệ mẫu và tổ chức hoạt động của Tổng công ty Nhà nước

Luật doanh nghiệp nhà nước năm 1995 quy định:

Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do nhà nước đầu tư vốn, thành lập và

tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội do Nhà nước giao

Doanh nghiệp nhà nước có tư cách pháp nhân, có quyền và nghĩa vụ dân sự, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động, kinh doanh trong phạm vi số vốn do doanh nghiệp quản lý

Tổng công ty nhà nước (gọi tắt là Tổng công ty) là doanh nghiệp nhà nước có quy mô lớn bao gồm các đơn vị thành viên có quan hệ gắn bó với nhau về lợi ích kinh

tế, tài chính, công nghệ, thông tin, đào tạo, nghiên cứu, tiếp thị, hoạt động trong một hoặc một số chuyên ngành kinh tế - kỹ thuật chính, do Nhà nước thành lập nhằm tăng cường tích tụ, tập trung, phân công chuyên môn hoá và hợp tác sản xuất để thực hiện nhiệm vụ Nhà nước giao, nâng cao khả năng và hiệu quả kinh doanh của các đơn vị thành viên và của toàn tổng công ty; đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế

Chế độ báo cáo thống kê này áp dụng cho 3 loại Tổng công ty sau được thành lập theo Quyết định số 90/TTg và 91/TTg ngày 7/3/1994 của Thủ tướng Chính phủ: + Tổng công ty do Thủ tướng quyết định thành lập

+ Tổng công ty do Bộ trưởng ngành kinh tế - kỹ thuật quyết định thành lập

+ Tổng công ty do Chủ tịch uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định thành lập

Tổng công ty có thể có các loại đơn vị thành viên sau:

+ Đơn vị hạch toán độc lập

+ Đơn vị hạch toán phụ thuộc

+ Đơn vị sự nghiệp

* Đặc điểm của đối tượng thực hiện

Tổng công ty là một thực thể kinh tế quan trọng do nhà nước thành lập nhằm thực hiện các nhiệm vụ của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ

Do vậy, tổng công ty có những đặc điểm sau:

Các đặc điểm về mặt pháp lý:

- Có tư cách pháp nhân theo quy định của pháp luật Việt Nam

- Có tên riêng, có trụ sở chính trong nước

Trang 27

- Có điều lệ tổ chức và hoạt động; có bộ máy quản lý và điều hành

- Có vốn và tài sản, chịu trách nhiệm đối với khoản nợ trong phạm vi số vốn do tổng công ty quản lý

- Có con dấu, được mở tài khoản tại Kho bạc nhà nước và Ngân hang trong và ngoài nước

- Bảng cân đối tài sản, các quỹ tập trung theo quy định của chính phủ và hướng dẫn của Bộ Tài chính

- Tổng công ty được quản lý bởi Hội đồng quản trị và được điều hành bởi Tổng giám đốc

- Tổng công ty chịu sự quản lý nhà nước của các Bộ, cơ quang ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ Uỷ ban nhân dân tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương với

tư cách là cơ quan quản lý nhà nước; đồng thời chịu sự quản lý của các cơ quan này với tư cách là cơ quan thực hiện quyền của chủ sở hữu đối với doanh nghiệp nhà nước theo quy định của pháp luật

* Về mặt tổ chức và công tác hạch toán kế toán

- Tổng công ty có các đơn vị thành viên là những doanh nghiệp nhà nước hạch toán độc lập, những đơn vị hạch toán phụ thuộc và những đơn vị sự nghiệp

- Do có bao gồm khối đơn vị thành viên hạch toán độc lập và phụ thuộc nên Tổng công ty thực hiện lập báo cáo tài chính cho công ty mẹ bao gồm văn phòng tổng công ty và khối đơn vị hạch toán phụ thuộc; và báo cáo tài chính hợp nhất cho cả khối hạch toán độc lập

* Về lĩnh vực hoạt động

Tổng công ty/tập đoàn hoạt động trong các lĩnh vực tùy theo nhiệm vụ nhà nước giao Tuy nhiên, hiện nay tất cả các tập đoàn/tổng công ty đều mở rộng hoạt động tham gia vào nhiều lĩnh vực từ hoạt động công nghiệp, nông nghiệp đến hoạt động dịch vụ các loại, đặc biệt là hoạt động tài chính

2.2.2.2 Chế độ báo cáo thống kê định kỳ áp dụng cho doanh nghiệp nhà nước

* Đối tượng thực hiện

- Các doanh nghiệp nhà nước bao gồm doanh nghiệp có hoạt động kinh doanh, hoạt động công ích, được tổ chức dưới hình thức doanh nghiệp độc lập hoặc doanh nghiệp thành viên có hạch toán độc lập của tổng công ty;

- Văn phòng Tổng công ty để báo cáo phần kết quả sản xuất kinh doanh do văn phòng thực hiện và các đơn vị hạch toán phụ thuộc Tổng công ty thực hiện

.Luật doanh nghiệp nhà nước năm 2003 quy định:

Trang 28

Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối, được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn

Trong đó:

- Công ty nhà nước là doanh nghiệp do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ, thành lập, tổ chức quản lý, đăng ký hoạt động theo quy định của Luật này Công ty nhà nước được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước độc lập, tổng công ty nhà nước

- Công ty cổ phần nhà nước là công ty cổ phần mà toàn bộ cổ đông là các công

ty nhà nước hoặc tổ chức được Nhà nước uỷ quyền góp vốn, được tổ chức và hoạt động theo quy định của Luật doanh nghiệp

- Công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên là công ty trách nhiệm hữu hạn do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ, được tổ chức quản lý và đăng ký hoạt động theo quy định của Luật doanh nghiệp

- Công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước có hai thành viên trở lên là công ty trách nhiệm hữu hạn trong đó tất cả các thành viên đều là công ty nhà nước hoặc có thành viên là công ty nhà nước và thành viên khác là tổ chức được Nhà nước uỷ quyền góp vốn, được tổ chức và hoạt động theo quy định của Luật doanh nghiệp

- Doanh nghiệp có cổ phần, vốn góp chi phối của Nhà nước là doanh nghiệp mà

cổ phần hoặc vốn góp của Nhà nước chiếm trên 50% vốn điều lệ, Nhà nước giữ quyền chi phối đối với doanh nghiệp đó

2.2.3 Hiện trạng việc thực hiện chế độ báo cáo thống kê áp dụng đối với Tổng công ty và Doanh nghiệp nhà nước

2.2.3.1 Thực trạng các đối tượng thực hiện chế độ báo cáo

a Các Tổng công ty

Chế độ báo cáo Tổng công ty áp dụng cho 3 loại Tổng công ty sau được thành lập theo Quyết định số 90/TTg và 91/TTg ngày 7/3/1994 của Thủ tướng Chính phủ: + Tổng công ty do Thủ tướng quyết định thành lập

+ Tổng công ty do Bộ trưởng ngành kinh tế - kỹ thuật quyết định thành lập

+ Tổng công ty do Chủ tịch uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định thành lập

Qua gần 15 năm, đến nay, đối tượng thực hiện của chế độ báo cáo này đã có nhiều thay đổi Một trong những sự thay đổi lớn đó là sự xuất hiện của các tập đoàn kinh tế nhà nước Lý do của sự ra đời các tập đoàn kinh tế nhà nước là yêu cầu về tích

tụ và tập trung vốn vào các hoạt động sản xuất kinh doanh tất yếu dẫn đến việc hình

Trang 29

thành Tập đoàn kinh tế hoạt động đa ngành, đa lĩnh vực trong phạm vi rộng lớn tầm quốc gia và quốc tế

Trên thực tế, ý tưởng xây dựng các Tập đoàn kinh tế ở nước ta đã manh nha từ năm 1994 với việc ban hành Quyết định số 91 của Thủ tướng Chính phủ Về vấn đề này, Nghị quyết Hội nghị TW lần 3 (Khoá IX) xác định rõ: “Hình thành một số Tập đoàn kinh tế mạnh trên cơ sở các tổng công ty nhà nước, có sự tham gia của các thành phần kinh tế, kinh doanh đa ngành, trong đó có ngành kinh doanh chính, chuyên môn hoá cao và giữ vao trò chi phối lớn trong nền kinh tế quốc dân, có quy mô rất lớn về vốn, hoạt động cả trong và ngoài nước, có trình độ công nghệ cao và quản lý hiện đại,

có sự gắn kết trực tiếp, chặt chẽ giữa khoa học công nghệ, đào tạo, nghiên cứu triển khai với sản xuất kinh doanh”

Có thể nói đây là những định hướng hết sức căn bản của việc hình thành các tập đoàn kinh tế trên cơ sở tổ chức lại các Tổng công ty Nhà nước

Thực hiện chủ trương của Đảng, từ năm 2005 đến nay, một số Tập đoàn kinh tế

đã được thành lập theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ như: Tập đoàn Bưu chính- Viễn thông, Tập đoàn Than- Khoáng sản, Tập đoàn Dầu khí, Tập đoàn Tài chính- Bảo hiểm Bảo Việt, Tập đoàn Dệt may, Tập đoàn Điện lực, Tập đoàn Công nghiệp Tàu thuỷ,…

Hiện nay, ở Tổng cục Thống kê cũng không có đơn vị nào quản lý và cập nhật những thay đổi của đối tượng là Tổng công ty Theo đánh giá không đầy đủ, hiện nay

có khoảng 7 tập đoàn kinh tế và 94 Tổng công ty nhà nước

Việc thay đổi về số lượng và hình thức các Tổng công ty nhà nước kể từ thời điểm ban hành Chế độ báo cáo Tổng công ty nhà nước năm 1996 chủ yếu do những

lý do sau:

- Thành lập mới các Tổng công ty;

- Chuyển đổi sang hình thức khác như tập đoàn kinh tế, cổ phần hóa ;

- Giải thể, sáp nhập với đơn vị khác;

- Không còn hoạt động

b Doanh nghiệp nhà nước

Cũng như các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác, các doanh nghiệp nhà nước cũng biến đổi không ngừng cả về số lượng, hình thức hoạt động, ngành nghề kinh doanh …

Thông qua rà soát, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (Tổng cục Thống kê) đã tổng hợp chung con số về các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp nhà nước nói riêng, được công nhận rộng rãi như sau:

Trang 30

Tổng số doanh nghiệp nhà nước tính đến thời điểm 1/1/2009: 3859 doanh nghiệp

Trong đó:

- Doanh nghiệp thực tế đang hoạt động: 3693 doanh nghiệp

- Doanh nghiệp đã đăng ký nhưng chưa hoạt động: 49 doanh nghiệp

- Doanh nghiệp tạm ngừng sản xuất: 84 doanh nghiệp

- Doanh nghiệp chưa tìm thấy: 33 doanh nghiệp

Nhìn chung, mặc dù có nhiều biến động nhưng đối tượng doanh nghiệp nhà nước được xác định khá rõ ràng cả về khái niệm, địa chỉ …thuận lợi cho việc thực hiện chế độ báo cáo

Tổng cục Thống kê hoàn toàn có thể lên danh sách các doanh nghiệp nhà nước

do vẫn tiến hành điều tra doanh nghiệp hàng năm

2.2.3.2 Đánh giá thực trạng

a. Chế độ báo cáo áp dụng đối với Tổng công ty theo Quyết định số PPCĐ ngày 10/9/1996

373/TCTK-* Thống kê thương mại, khách sạn, nhà hàng, dịch vụ trong nước:

Trong chế độ 373/TCTK-PPCĐ ban hành năm 1996, các Tổng công ty hoạt động kinh doanh thương mại phải thực hiện các biểu:

- Biểu số 01/TCT-C: báo cáo ước tính;

- Biểu số 16/TCT-TM: Bán hàng hóa và hoạt động dịch vụ (Báo cáo chính thức năm)

Tuy nhiên, Tổng cục Thống kê không thu thập được báo cáo của Tổng công ty Các công ty thành viên hạch toán độc lập của Tổng công ty đã thực hiện chế độ báo cáo theo Quyết định 62 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Quyết định số 156/QĐ-TCTK của TCTK đối với doanh nghiệp nhà nước

Nội dung biểu mẫu báo cáo theo Quyết định số 373 cũng không phù hợp và không đáp ứng được yêu cầu tổng hợp hiện nay, cụ thể:

- Du lịch: Nếu lấy số liệu như quy định trong phần giải thích sẽ bị trùng doanh thu khách sạn, vận tải, ăn uống

- Số lượt khách, ngày khách không tách riêng thông tin về khách quốc tế

Trang 31

- Biểu số 18/TCT-VT: Sản lượng và doanh thu vận tải: báo cáo chính thức năm Đối với Bộ Giao thông vận tải có 3 đơn vị Tổng công ty thường xuyên gửi báo cáo nhanh số liệu vận tải là Tổng công ty Hàng không Việt Nam, Tổng công ty Đường sắt và Tổng công ty Hàng hải Báo cáo nhanh gửi tương đối đầy đủ Tuy nhiên chỉ có Tổng công ty Đường sắt là gửi báo cáo kịp thời gian phục vụ báo cáo nhanh Còn các Tổng công ty khác thường gửi chậm sau tháng báo cáo 1 tháng vì vậy khi làm báo cáo nhanh của Tổng cục, số liệu báo cáo là chính thức của tháng trước, số liệu ước tháng báo cáo của các đơn vị này do Vụ Thương mại, dịch vụ giá cả tính Đối với Tổng công ty Đường sông Miền Nam, Tổng cục Thống kê nhận được báo cáo hàng tháng Tuy nhiên không được đều đặn và thường rất chậm so với kỳ báo cáo Còn đối với Tông công ty Đường sông Miền Bắc thì không nhận được báo cáo

* Thống kê xuất nhập khẩu hàng hóa

Trong chế độ báo cáo theo Quyết định số 373/TCTK-PPCĐ ban hành năm

1996, chỉ tiêu xuất nhập khẩu hàng hóa được qui định chung cho cả 3 loại Tổng công

ty theo biểu số 01/TCT-TM (tháng) và biểu số 17/TCT-TM (6 tháng, năm)

- Về phương pháp: có sự khác biệt với chế độ báo cáo xuất nhập khẩu áp dụng cho doanh nghiệp theo chế độ 62, 63 ban hành năm 2003 Biểu Tổng công ty qui định chỉ báo cáo trị giá xuất nhập khẩu trực tiếp, biểu doanh nghiệp yêu cầu báo cáo cả trị giá xuất nhập khẩu trực tiếp, xuất nhập khẩu ủy thác và ủy thác xuất nhập khẩu, làm

cơ sở để Cục Thống kê tính trị giá xuất nhập khẩu của địa phương - bằng tổng trị giá xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp đóng trên địa bàn, trong đó trị giá xuất nhập khẩu của mỗi doanh nghiệp được tính theo công thứ

Trị giá XNK = XNK trực tiếp (-) XNK ủy thác (+) Uỷ thác XNK

của DN của DN cho DN khác ch o DN khác

Công thức này phản ánh đúng năng lực sản xuất, xuất khẩu của doanh nghiệp, từ

đó tính đúng được giá trị sản xuất của doanh nghiệp Biểu Tổng công ty chỉ tính phần trực tiếp, khi tính giá trị sản xuất của hoạt động này sẽ không chính xác nếu các doanh nghiệp thuộc Tổng công ty đó có hoạt động ủy thác XNK (cần cộng vào) và XNK ủy thác (chỉ tính phí ủy thác, không có trị giá mua bán)

- Về biểu mẫu: quy định về tháng báo cáo trong biểu Tổng công ty là tháng ước tính trong khi biểu doanh nghiệp là tháng thực hiện nên tuy nội dung các kỳ số liệu là giống nhau nhưng sẽ lệch nhau về tên kỳ báo cáo khi Tổng công ty tổng hợp báo cáo

từ các đơn vị thành viên Trong mẫu biểu cũng không qui định cột so sánh với cùng

kỳ, trong thực tế điều này không thuận tiện cho doanh nghiệp và cơ quan thống kê khi

sử dụng biểu mẫu

- Về chấp hành chế độ: ngoài một số Tổng công ty thực hiện khá tốt biểu

Trang 32

công ty Chè, Tổng công ty Dệt may ), nhìn chung các Tổng công ty không thực hiện hoặc thực hiện chưa tốt biểu này

Nguyên nhân: việc chấp hành chế độ báo cáo của các doanh nghiệp thành viên chưa đồng đều, nhiều Tổng công ty và doanh nghiệp không có cán bộ chuyên trách về thống kê mà thường kiêm nhiệm, khi có sự chuyển giao nhiệm vụ thì việc bàn giao giữa cán bộ mới và cũ không đầy đủ

*Thống kê xuất nhập khẩu dịch vụ

Từ năm 2004, do yêu cầu tổng hợp số liệu xuất nhập khẩu dịch vụ của Chính phủ, Tổng cục Thống kê đã làm việc với một số Tổng công ty để xây dựng biểu mẫu thu thập thông tin này Trong năm 2004 và 2005, biểu mẫu đã được ban hành tạm thời theo các công văn của Tổng cục Thống kê về việc bổ sung chỉ tiêu, biểu mẫu báo cáo ngoài các biểu đã ban hành theo chế độ 373 năm 1996, bao gồm: Bổ sung biểu XNK dịch vụ hàng qúy và năm cho Tổng công ty Hàng không, Tổng công ty Hàng hải, Tổng công ty Bưu chính viễn thông, 3 Tổng công ty Cụm cảng hàng không

Trừ Tổng công ty Hàng hải và 3 Tổng công ty Cụm cảng Hàng không thực hiện tương đối tốt (tuy còn chậm về mặt thời gian), các Tổng công ty khác thực hiện chưa tốt, đặc biệt đối với Tổng công ty Hàng không

Nguyên nhân là do biểu chưa được ban hành chính thức, Xuất nhập khẩu dịch

vụ là chỉ tiêu phức tạp, khó thu thập, chưa được qui định trong chế độ báo cáo/điều tra doanh nghiệp – là nguồn số liệu cho các Tổng công ty Một nguyên nhân quan trọng khác là ý thức chấp hành Luật Thống kê của các Tổng công ty này chưa cao Những nội dung đã bổ sung vào chế độ báo cáo Tổng công ty: Bổ sung biểu Xúât nhập khẩu dịch vụ (quý, năm): chỉ bổ sung cho 4 Tổng công ty mà hoạt động thu chi dịch vụ với nước ngoài của họ được hạch toán chung toàn Tổng công ty phù hợp với hoạt động chính, bao gồm:

- Tổng công ty Hàng không

- Tổng công ty Bưu chính

- Tổng công ty Viễn thông

- Tổng công ty Bảo hiểm

b. Đánh giá thực trạng chế độ báo cáo áp dụng đối với doanh nghiệp nhà nước (theo Quyết định số 62/2003/BKH của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Quyết định số 156/2003/QĐ-TCTK của Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê)

Về số lượng các đơn vị thực hiện chế độ báo cáo

Trang 33

BẢNG 1: TỔNG HỢP SỐ LƯỢNG DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC GỬI BÁO

CÁO THEO QUYẾT ĐỊNH SỐ 62/2003

Số lượng Stt Đơn vị báo cáo

DN gửi báo cáo Tổng số Tỷ lệ

Trang 35

Nhận xét:

- Chế độ báo cáo thống kê áp dụng đối với doanh nghiệp nhà nước (theo QĐ số 62/2003) được các doanh nghiệp thực hiện khá đầy đủ Tỷ lệ thực hiện tại các tỉnh chủ yếu dao động từ 70-100% Các báo cáo năm thường có tỷ lệ thực hiện cao hơn

- Nhìn chung, các Cục Thống kê cũng đánh giá các doanh nghiệp nhà nước, đơn

vị hành chính – sự nghiệp thực hiện các chế độ báo cáo theo quy định nghiêm túc hơn các doanh nghiệp khác

Về thời hạn nộp báo cáo

- Tỷ lệ các doanh nghiệp nộp báo cáo đúng hạn không cao Thông thường chậm

từ 1-5 ngày, các Cục Thống kê thường phải dùng nhiều biện pháp như gọi điện nhắc nhở, hoặc đến tận doanh nghiệp để thu thập báo cáo hoặc phải thu thập thông tin qua các cơ quan khác như các Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Công thương, Chi cục Hải quan

… Khó khăn nhất là đối với mảng báo cáo tháng, các doanh nghiệp thường nộp chậm

c Về chất lượng báo cáo

Nhìn chung, chất lượng báo cáo của các đơn vị thuộc doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp đảm bảo hơn so với nhóm doanh nghiệp còn lại

- Nhóm chỉ tiêu biểu mẫu thường thiếu thông tin hoặc chất lượng thông tin không cao là:

+ Biểu 01a/CS: Chỉ tiêu về giá trị sản xuất (theo giá cố định);

+ Biểu 01c/CS: Chỉ tiêu về giá trị sản xuất ngành xây dựng;

+ Các biểu 01e/CS, 01f/CS, 03d/CS, 03e/CS báo cáo về hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa yêu cầu doanh nghiệp báo cáo theo danh mục hàng háo xuất nhập khẩu việt Nam đến mã HS 8 số gây khó khăn và kém chất lượng (Cục Thống kê Hà Nội)

+ Bỏ biểu 03a/CS báo cáo năm hoạt động sản xuất kinh doanh do trùng lặp với cuộc điều tra doanh nghiệp hàng năm Trong thực tế, hầu hết các Cục Thống kê không thu thập và sử dụng biểu này mà thường dựa vào kết quả điều tra

+ Báo cáo về vốn đầu tư: Khó khăn về việc xác định nội dung chỉ tiêu vốn đầu

+ Báo cáo về lao động và thu nhập của người lao động

+ Các chỉ tiêu ước tính hàng tháng: Chất lượng các chỉ tiêu ước tính rất thấp, nhiều doanh nghiệp khi ước rất cao nhưng số thực hiện chính thức tháng trước lại rất thấp gây khó khăn cho công tác tổng hợp (Cục Thống kê Hà Giang) hoặc nhiều doanh

Trang 36

- Chất lượng báo cáo của các doanh nghiệp hoạt động vận tải, công nghiệp tương đối tốt, các doanh nghiệp hoạt động thương mại, dịch vụ thường không cao do

áp dụng cơ chế khoán, kết quả không sát với thực tế kinh doanh (Cục Thống kê Bắc Ninh)

2.2.4 Ưu điểm, hạn chế, bất cập của chế độ báo cáo thống kê áp dụng đối với tổng công ty và doanh nghiệp nhà nước

2.2.4.1 Ưu điểm

Chế độ báo cáo áp dụng đối với Tổng công ty theo QĐ số 373/TCTK-PPCĐ ra đời ngày 10/9/1996 góp phần cung cấp thông tin thống kê cho các cơ quan thực hiện chức năng quản lý Nhà nước đối với Tổng công ty, đồng thời qua đó giúp lãnh đạo và các bộ phận chức năng của Tổng công ty nắm tổng quát tình hình hoạt động để chỉ đạo và điều hành Ngoài ra những thông tin thống kê được thu thập từ chế độ báo cáo này còn góp phần cung cấp số liệu để tính toán các chỉ tiêu kinh tế - xã hội vĩ mô quan trọng khác

Chế độ báo cáo áp dụng đối với các doanh nghiệp nhà nước theo Quyết định số 62/2003/BKH của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Quyết định số 156/2003/QĐ-TCTK của Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê ra đời ngày 27/1/2003 là một trong những kênh thông tin quan trọng góp phần cung cấp thông tin thống kê cho các cơ quan thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước Thông tin thống kê thu thập từ chế độ báo cáo này cũng góp phần cung cấp số liệu để tính toán các chỉ tiêu kinh tế xã hội phục vụ cho quản lý ở cấp địa phương và Trung ương

373/TCTK-sự phát triển về mặt kinh tế - xã hội, 373/TCTK-sự thay đổi về hình thức tổ chức của các loại hình doanh nghiệp cũng như hệ thống pháp luật điều chỉnh các doanh nghiệp kèm theo

Cụ thể:

-Việc xác định đối tượng báo cáo gặp nhiều khó khăn, do:

Việc thực hiện chủ trương cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước dẫn đến một loạt các doanh nghiệp nhà nước, Tổng công ty nhà nước và các công ty con trực thuộc tổng công ty cũng đã, đang và sẽ tiến hành quá trình chuyển đổi vốn nhà nước từ hình thức sở hữu nhà nước sang hình thức cổ phần Kéo theo sự thay đổi về hình thức sở

Trang 37

hữu là những thay đổi về cơ cấu, tổ chức hoạt động, chế độ hạch toán kế toán (một số công ty con hạch toán phụ thuộc của Tổng công ty nhà nước được chuyển đổi thành công ty cổ phần hạch toán độc lập)

Nhiều Tổng công ty đã chuyển sang một hình thức khác là Tập đoàn kinh tế Tuy nhiên, khung pháp lý cho hình thức doanh nghiệp này vẫn chưa được xác lập đầy

đủ, vẫn còn nhiều tranh cãi xung quanh về hình thức tổ chức này Luật Doanh nghiệp nhà nước năm 2005 cũng đã định nghĩa về Tập đoàn kinh tế nhà nước, tuy nhiên tới tận tháng 11/2009, Nghị định hướng dẫn về hình thức này mới được ban hành Theo

đó, Tập đoàn kinh tế nhà nước thí điểm thành lập theo Nghị định này là nhóm công ty

có quy mô lớn liên kết dưới hình thức công ty mẹ – công ty con và các hình thức khác, tạo thành tổ hợp các doanh nghiệp gắn bó chặt chẽ và lâu dài với nhau về lợi ích kinh tế, công nghệ, thị trường và các dịch vụ kinh doanh khác

- Có nhiều chỉ tiêu trong chế độ báo cáo quá lạc hậu cần phải thay đổi

- Một số chỉ tiêu không thống nhất về phương pháp tính và phạm vi tính toán với các chế độ báo cáo và các hướng dẫn thống kê khác

- Không đáp ứng được nhu cầu thông tin trong giai đoạn mới

b Đối với chế độ báo cáo áp dụng đối với các doanh nghiệp nhà nước theo Quyết định số 62/2003/BKH của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Quyết định số 156/2003/QĐ-TCTK của Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê

Các Quyết định ban hành các chế độ báo cáo đều thực hiện theo Pháp lệnh Kế toán Thống kê tuy nhiên Luật Thống kê được ra đời nên các văn bản này không còn hiệu lực

Mặt khác Hệ thống ngành kinh tế quốc dân đã thay đổi nhưng các chế độ báo cáo vẫn thực hiện theo các ngành kinh tế quốc dân cũ

Cụ thể:

- Việc xác định đối tượng áp dụng gặp nhiều khó khăn do những nguyên nhân sau:

+ Sự biến động về đối tượng lớn do nhiều doanh nghiệp nhà nước đã tiến hành

cổ phần hóa cho nên việc cập nhật danh sách đối tượng phải thực hiện gặp nhiều khó khăn;

+ Chưa có tiêu chí chuẩn để xác định đối tượng doanh nghiệp nhà nước Theo Luật Doanh nghiệp được ban hành năm 2005 thì doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp trong đó Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ Tuy nhiên theo yêu cầu của công văn số 231/TCTK/PPCĐ ngày 17/4/2002 của Tổng cục Thống kê thì doanh nghiệp thuộc kinh tế nhà nước có phạm vi rộng hơn, bao hàm cả công ty cổ phần trong đó Nhà nước là cổ động có cổ phần chi phối hoặc cổ phần đặc biệt Doanh

Trang 38

tuy vượt 50% nhưng cổ phần nhà nước ít nhất gấp 2 lần cổ phần của cổ đông lớn nhât khác và doanh nghiệp Nhà nước có cổ phần đặc biệt là doanh nghiệp mà Nhà nước không có cổ phần chi phối nhưng có quyết định một số vấn đề quan trọng của doanh nghiệp trong điều lệ doanh nghiệp

Do sự chưa rõ ràng về mặt tiêu chí này dẫn đến tình trạng một số doanh nghiệp không cho rằng mình là doanh nghiệp nhà nước và không muốn báo cáo theo chế độ này

- Đối với doanh nghiệp thuộc lĩnh vực công nghiệp còn tồn tại 2 loại báo cáo tháng theo QĐ 62 và QĐ 1288 về điều tra công nghiệp tháng, đối với doanh nghiệp xây dựng cũng theo 2 loại báo cáo theo QĐ 62 và QĐ 1320 do vậy xảy ra tình trạng vừa nặng nề vừa trùng lặp

- Khó khăn về nhân lực thống kê tại các doanh nghiệp

- Phần lớn các doanh nghiệp hoạt động đa ngành (các biểu lại rời rạc) do đó doanh nghiệp có xu hướng chỉ báo cáo những hoạt động chính, bỏ qua hoặc xem nhẹ các hoạt động khác và có nguy cơ trùng với hoạt động chính hoặc bỏ sót

Trang 39

2.3 Thực trạng chế độ báo cáo thống kê áp dụng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

2.3.1 Quá trình thực hiện chế độ báo cáo thống kê áp dụng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Luật Đầu tư nước ngoài được ban hành lần đầu tiên năm 1987 đã cụ thể hóa và tạo tiền đề cho việc thực hiện chính sách mở cửa thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam Các văn bản pháp lý liên quan cũng lần lượt được ban hành nhằm tạo khuôn khổ pháp lý chung cho việc thành lập và hoạt động của các doanh nghiệp, dự

án có vốn đầu tư nước ngoài Từ đó đến nay, đã có nhiều chế độ báo cáo thống kê được ban hành áp dụng đối với các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và bên nước ngoài tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh

(1) Quyết định số 698/HTĐT-VP ngày 29/8/1991 của Bộ trưởng Chủ nhiệm

Ủy ban nhà nước về Hợp tác và Đầu tư

(2) Thông tư số 362-PPCĐ/TCTK của Tổng cục Thống kê ngày 25 tháng 8 năm 1993 về việc hướng dẫn công tác thống kê đối với xí nghiệp có vốn đầu tư nước

có duy nhất báo cáo một số chỉ tiêu chủ yếu về kết quả sản xuất kinh doanh (biểu số 1/ĐTNN) thực hiện theo quý với độ trễ 15 ngày kể từ khi kết thúc niên độ báo cáo; các biểu còn lại về sản xuất, tiêu thụ và các khoản đã nộp Nhà nước Việt Nam (biểu

số 2/ĐTNN), xuất nhập khẩu (biểu số 3/ĐTNN), lao động và tiền lương (biểu số 4/ĐTNN) và vốn đầu tư và cơ sở kinh doanh (biểu số 5/ĐTNN) đều thực hiện theo chế độ báo cáo năm với độ trễ 90 ngày kể từ khi kết thúc niên độ báo cáo Nhìn chung, các biểu mẫu ban hành kèm theo Quyết định 127 đều đơn giản (1 trang) và rõ ràng, có các danh mục và bản giải thích cụ thể kèm theo

Tuy nhiên, do thời hạn báo cáo thưa (chỉ yêu cầu báo cáo quý) và độ trễ của báo cáo khá dài (15 ngày sau khi kết thúc quý; 90 ngày sau khi kết thúc năm) nên mặc dù phù hợp với việc thống kê, chế độ báo cáo ban hành kèm theo Quyết định 127 lại chưa phù hợp với nhu cầu quản lý nhà nước đối với dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại thời điểm này bắt đầu gia tăng mạnh mẽ và có những đóng góp tích cực cho quá trình chuyển đổi nền kinh tế của nước ta Chế độ báo cáo quý mới chỉ phục vụ nhu cầu thống kê, theo dõi tình hình hoạt động của khu vực các xí nghiệp có vốn

Trang 40

chưa tạo điều kiện cho công tác hoạch định kế hoạch huy động các nguồn vốn từ nước ngoài nói riêng và kế hoạch huy động vốn nói chung, trong khi vốn là một trong những nguồn lực quan trọng nhất để tăng trưởng, bên cạnh đổi mới cơ chế quản lý nền kinh tế

(4) Thông tư số 215/UB-LXT của Ủy ban nhà nước về Hợp tác và Đầu tư ngày 8 tháng 2 năm 1995 hướng dẫn hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam

Để khắc phục những nhược điểm của chế độ báo cáo ban hành tại Quyết định

127, nhằm thu thập thêm các thông tin cần thiết cho công tác quản lý nhà nước, Ủy ban Nhà nước về Hợp tác và Đầu tư đã ban hành chế độ báo cáo bổ sung áp dụng cho các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và bên nước ngoài tham gia Hợp đồng hợp tác kinh doanh tại Phụ lục 7 và Phụ lục 8 trong Thông tư số 215/UB-LXT Chế độ báo cáo bổ sung bao gồm:

- Báo cáo ước tình hình hoạt động 6 tháng đầu năm nộp định kỳ ngày 31/3 năm báo cáo;

- Báo cáo ước thực hiện cả năm nộp định kỳ vào ngày 30/9 năm báo cáo;

- Báo cáo chính thức tình hình thực hiện cả năm nộp định kỳ vào ngày 31/3 năm sau năm báo cáo; và

- Báo cáo quyết toán tài chính hàng năm theo quy định của Bộ Tài chính

Qua thực tế thu thập báo cáo theo Quyết định 127, một số thông tin thường gây hiểu lầm dẫn tới báo cáo không chính xác đã được hướng dẫn cụ thể hơn tại Phụ lục 8 Thông tư 215/UB-LXT như: hướng dẫn phân biệt vốn đăng ký và vốn thực hiện; số lao động (có doanh nghiệp chỉ báo cáo số lao động trực tiếp sản xuất, không báo cáo

số lao động quản lý hoặc lao động gián tiếp ), chỉ tiêu xuất khẩu và tiêu thụ nội địa Như vậy, tại thời điểm này, các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thực hiện chế độ báo cáo theo quy định tại 2 văn bản là Quyết định 127 cho chế độ báo cáo quý

và báo cáo năm; báo cáo ước thực hiện 6 tháng, ước cả năm và báo cáo thực hiện năm theo Thông tư 215

(5) Thông tư liên bộ số 01/LB ngày 31 tháng 3 năm 1997 của Tổng cục Thống kê và Bộ Kế hoạch và Đầu tư : về việc hướng dẫn công tác thống kê đối với

các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và bên nước ngoài tham gia Hợp đồng hợp tác kinh doanh: đây là chế độ báo cáo thống kê áp dụng với các doanh nghiệp và

dự án có vốn đầu tư nước ngoài hiện hành

Căn cứ luật đầu tư nước ngoài tại Việt nam ngày 12/11/1996; Pháp lệnh Kế toán

và Thống kê ngày 10/5/1998 và Nghị định số 12/CP ngày 18/2/1997 quy định chi tiết việc thi hành Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, Liên bộ Kế hoạch và Đầu tư và Tổng cục Thống kê đã ban hành Thông tư liên bộ số 01/LB hướng dẫn thực hiện công

Ngày đăng: 10/03/2015, 01:14

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

SƠ ĐỒ 1. TỔNG LƯỢC ĐỒ THU THẬP THÔNG TIN THỐNG KÊ: - Nghiên cứu xây dựng và cải tiến chế độ báo cáo thống kê doanh nghiệp
SƠ ĐỒ 1. TỔNG LƯỢC ĐỒ THU THẬP THÔNG TIN THỐNG KÊ: (Trang 15)
BẢNG 1: TỔNG HỢP SỐ LƯỢNG DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC GỬI BÁO - Nghiên cứu xây dựng và cải tiến chế độ báo cáo thống kê doanh nghiệp
BẢNG 1 TỔNG HỢP SỐ LƯỢNG DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC GỬI BÁO (Trang 33)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm