Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3 Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn nghiên cứu ứng dụng B2C vào một số giao dịch thương mại điện tử thông qua mạng máy tính trong công tác dạy học
Trang 12 Lê Hữu Toản Ủy viên
4 Trần Thị Ngọc Dung Ủy viên
Nam Định, 2012
Trang 21 Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn nghiên cứu ứng dụng B2C
vào một số giao dịch thương mại điện tử thông qua mạng máy
tính trong công tác dạy học tại các trường cao đẳng và đại học ở
Việt Nam
6
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 61.2 Cơ sở lý luận ứng dụng B2C vào một số giao dịch thương mại điện tử thông qua mạng máy tính để xây dựng bài giảng
14
1.2.1 Một số khái niệm cơ bản 141.2.2 Đặc điểm của Thương mại điện tử 341.3 Cơ sở pháp lý về Thương mại điện tử 361.4 Cơ sở thực tiễn ứng dụng B2C vào một số giao dịch thương mại điện tử thông qua mạng máy tính trong dạy học tại các trường cao đẳng, đại học ở Việt Nam
37
1.4.1 Thực trạng TMĐT theo mô hình B2C tại Việt Nam 371.4.2 Thực trạng ứng dụng B2C vào một số giao dịch TMĐT thông qua mạng máy tính trong công tác dạy học tại các trường cao đẳng, đại học ở Việt Nam
40
Trang 3Kết luận chương 1 45
Chương 2: Nghiên cứu ứng dụng B2C vào một số giao dịch thương mại điện tử thông qua mạng máy tính xây dựng bài giảng cho sinh viên cao đẳng ngành Kinh tế trường Cao đẳng Công nghiệp Nam Định
47
2.2.1 Một số website thương mại điện tử 472.2.2 Website http://123.30.19.73/cdnd/ 522.3 Quy trình phát triển bài giảng thương mại điện tử theo mô hình B2C cho SV cao đẳng ngành Kinh tế trường Cao đẳng Công nghiệp Nam Định
70
2.3.1 Quy trình phát triển bài giảng TMĐT theo mô hình B2C 702.3.2 Phát triển bài giảng 71
3.1 Khái quát quá trình thử nghiệm 753.1.1 Mục đích thử nghiệm 753.1.2 Nội dung thử nghiệm 75
Trang 43.2 Kết quả thử nghiệm 78
Trang 5Bảng 1.1 Thống kê hoạt động các sàn giao dịch TMĐT đã được xác
2011
10
Biểu đồ 1.3 Thị phần doanh thu của các sàn giao dịch TMĐT năm 2011 10
Sơ đồ 2.1 Quy trình phát triển bài giảng TMĐT theo mô hình B2C 70
Trang 6Hình 2.2 Trang chủ website amazon.com 50
Hình 2.12 Giao diện danh sách giáo trình, bài giảng trong trang quản
trị
61
Hình 2.21 Giao diện danh sách các giáo trình, bài giảng hiển thị dạng
Trang 7CNTT công nghệ thông tin
CNTT-TT công nghệ thông tin-truyền thông CĐCNNĐ Cao đẳng Công nghiệp Nam Định
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu
Phát triển TMĐT là xu hướng tất yếu của thời đại trên phạm vi toàn cầu Triển khai ứng dụng TMĐT ở nước ta đã được xác định theo Quyết định số 1073/QĐ-TTg ngày 12 tháng 7 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt
Kế hoạch tổng thể phát triển TMĐT giai đoạn 2011-2015 Trong đó, nội dung nhấn mạnh phát triển nguồn nhân lực về TMĐT có vị trí, ý nghĩa đặc biệt
quan trọng đối với các trường đào tạo
Lợi ích lớn nhất mà TMĐT đem lại chính là sự tiết kiệm chi phí và tạo thuận lợi cho các bên giao dịch Giao dịch bằng phương tiện điện tử nhanh hơn so với giao dịch truyền thống, ví dụ gửi fax hay thư điện tử thì nội dung thông tin đến tay người nhận nhanh hơn gửi thư Các giao dịch qua Internet
có chi phí rất rẻ, một doanh nghiệp có thể gửi thư tiếp thị, chào hàng đến hàng loạt khách hàng chỉ với chi phí giống như gửi cho một khách hàng Với TMĐT, các bên có thể tiến hành giao dịch khi ở cách xa nhau, giữa thành phố với nông thôn, từ nước này sang nước kia, hay nói cách khác là không bị giới hạn bởi không gian địa lý Điều này cho phép các doanh nghiệp tiết kiệm chi phí đi lại, thời gian gặp mặt trong khi mua bán Với người tiêu dùng, họ có thể ngồi tại nhà để đặt hàng, mua sắm nhiều loại hàng hóa, dịch vụ thật nhanh chóng Những lợi ích như trên chỉ có được với những doanh nghiệp thực sự nhận thức được giá trị của TMĐT Vì vậy, TMĐT góp phần thúc đẩy sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp để thu được nhiều lợi ích nhất Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, khi các doanh nghiệp trong nước phải cạnh tranh một cách bình đẳng với các doanh nghiệp nước ngoài
Hiện nay, TMĐT ở Việt Nam được tận dụng phục vụ việc marketing, bán hàng cho doanh nghiệp là chính Các mô hình B2B, B2C, C2C được dùng
Trang 9phổ biến nhất Trong đó, mô hình B2C (Business to Consumer) là mô hình
mà doanh nghiệp sử dụng các phương tiện điện tử để bán hàng hóa tới người tiêu dùng Mô hình này đã mang lại nhiều lợi ích đối với người tiêu dùng như: Đối với việc mua sắm online, người tiêu dùng có thể sở hữu mọi thứ thông qua các cú click chuột chứ không cần phải đến tận trung tâm thương mại để mua hàng Sau khi vào trang web bán hàng, chọn sản phẩm, người tiêu dùng chỉ cần đặt hàng (order) người bán sẽ mang sản phẩm đến tận nhà người tiêu dùng
Vừa ngồi nhà mua sắm thoải mái, người tiêu dùng còn tiết kiệm đáng kể thời gian và chi phí đi lại so với việc phải tự mình tìm đến cửa hàng
Mua sắm online cho phép người tiêu dùng mua hàng bất cứ khi nào người tiêu dùng muốn Các “gian hàng” trên mạng không bao giờ “đóng cửa”, bạn có thể mua sắm 24/24 giờ và 7 ngày trong tuần
Các trang web bán hàng ngày càng phát triển cả về số lượng và chủng loại sản phẩm Người tiêu dùng không cần chạy vòng quanh trung tâm thương mại hay siêu thị để mua đủ các sản phẩm Thay vào đó, những cú click chuột
sẽ “làm” giúp người tiêu dùng
Khi mua sắm ở các chợ, trung tâm thương mại hay cửa hàng, người tiêu dùng khó có thể so sánh đặc điểm và giá của sản phẩm với nhau “Đi chợ” online, người tiêu dùng dễ dàng so sánh và đưa ra lựa chọn sản phẩm phù hợp nhất
Đôi khi người tiêu dùng gặp phải những người bán hàng không được dễ chịu tại một số địa điểm bán hàng Mua sắm online thì người tiêu dùng chẳng phải để ý đến chuyện người nào bán hàng
Thực tế cho thấy, để khai thác ưu điểm của TMĐT nói chung, TMĐT theo mô hình B2C nói riêng, vấn đề trình độ nguồn nhân lực quản lý và sử dụng là một vấn đề mang tính cấp thiết Để làm tốt vấn đề này nhiệm vụ đối
Trang 10các trường đào tạo cần phát triển chương trình, bài giảng, tổ chức giảng dạy
để đáp ứng chất lượng nguồn nhân lực
Do vậy, để đáp ứng xu thế phát triển của TMĐT theo mô hình B2C trong giai đoạn hiện nay, đó chính là vấn đề đào tạo nguồn nhân lực Trong đó, phát triển bài giảng TMĐT theo mô hình B2C đáp ứng nguồn nhân lực có trình độ TMĐT phù hợp có tính cấp thiết trong thời đại hiện nay Xuất phát từ những
lý do nêu trên, nhóm nghiên cứu chọn đề tài:
“Nghiên cứu ứng dụng B2C vào một số giao dịch thương mại điện tử thông qua mạng máy tính”
2 Mục đích nghiên cứu
Xây dựng bài giảng ứng dụng mô hình B2C vào một số giao dịch TMĐT thông qua mạng máy tính trong công tác đào tạo SV cao đẳng khoa Kinh tế ở trường CĐCNNĐ
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể:
Ứng dụng mô hình B2C vào một số giao dịch TMĐT thông qua mạng máy tính trong công tác đào tạo SV cao đẳng khoa Kinh tế ở trường CĐCNNĐ
3.2 Đối tượng:
Quá trình dạy học ứng dụng mô hình B2C vào một số giao dịch TMĐT thông qua mạng máy tính trong công tác đào tạo SV cao đẳng khoa Kinh tế ở trường CĐCNNĐ
4 Giả thuyết khoa học
Xây dựng bài giảng ứng dụng mô hình B2C vào một số giao dịch TMĐT thông qua mạng máy tính sẽ nâng cao chất lượng đào tạo SV cao đẳng khoa Kinh tế ở trường CĐCNNĐ
Trang 115 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Đánh giá thực trạng và xu thế phát triển của đào tạo chuyên ngành TMĐT tại Việt Nam, tại các trường cao đẳng, đại học ở Việt Nam
5.2 Phân tích đánh giá một số mô hình giao dịch TMĐT trong giai đoạn hiện nay
5.3 Đề xuất một số ứng dụng B2C, nghiên cứu xây dựng hệ thống bài giảng cho SV cao đẳng ngành Kinh tế tại trường CĐCNNĐ
5.4 Phân tích chương trình giáo dục đại học, trình độ cao đẳng ngành Kinh tế trường CĐCNNĐ có nội dung ứng dụng mô hình B2C
5.5 Lựa chọn Website TMĐT theo mô hình B2C dạy học cho SV ngành Kinh tế bậc cao đẳng trường CĐCNNĐ
Tổ chức TNSP tiến hành tại trường CĐCNNĐ
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp luận: Phương pháp tiếp cận hệ thống
7.2 Phương pháp nghiên cứu: Đề tài sử dụng phối hợp các phương pháp:
7.2.1 Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận
Nghiên cứu các văn kiện, nghị quyết của Đảng và Nhà nước, của các Bộ, Ngành có liên quan đến đề tài
Nghiên cứu lý luận về ứng dụng mô hình B2C vào một số giao dịch TMĐT thông qua mạng máy tính
Trang 12Nghiên cứu các tài liệu lý luận dạy học, phát triển chương trình, giáo trình, bài giảng ứng dụng mô hình B2C vào một số giao dịch TMĐT thông qua mạng máy tính trong dạy học
7.2.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Phương pháp điều tra, khảo sát: Ứng dụng mô hình B2C vào một số
giao dịch TMĐT thông qua mạng máy tính trong dạy học ở một số trường cao đẳng và đại học ở Việt Nam
7.2.3 Phương pháp chuyên gia
Xin ý kiến của các chuyên gia về các phương pháp xây dựng nội dung bài giảng và nội dung bài giảng; kết quả thử nghiệm sư phạm
8 Dự kiến cấu trúc đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, cấu trúc đề tài bao gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn nghiên cứu ứng dụng B2C vào một số
giao dịch thương mại điện tử thông qua mạng máy tính trong dạy học tại các trường cao đẳng và đại học ở Việt Nam
Chương 2: Nghiên cứu ứng dụng B2C vào một số giao dịch thương mại điện
tử thông qua mạng máy tính xây dựng bài giảng cho sinh viên
cao đẳng ngành Kinh tế trường Cao đẳng Công nghiệp Nam Định Chương 3: Thử nghiệm sư phạm
Trang 13CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG B2C VÀO MỘT SỐ GIAO DỊCH THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ THÔNG QUA MẠNG MÁY TÍNH TRONG DẠY HỌC TẠI CÁC TRƯỜNG CAO VÀ ĐẠI HỌC Ở VIỆT NAM
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Từ khi World Wide Web (thường gọi tắt là Web) ra đời, các tổ chức, các doanh nghiệp, cá nhân nhận thấy Web giúp họ rất nhiều trong việc trưng bày, cung cấp, chia sẻ thông tin, liên lạc với đối tác một cách nhanh chóng, tiện lợi, kinh tế Từ đó, doanh nghiệp, cá nhân trên toàn cầu đã tích cực khai thác thế mạnh của Internet, Web để phục vụ việc kinh doanh, hình thành nên khái niệm TMĐT Internet và Web là công cụ quan trọng nhất của TMĐT, giúp cho TMĐT phát triển và hoạt động hiệu quả Với Internet và TMĐT, việc kinh doanh trên thế giới theo cách thức truyền thống trước đây đã ít nhiều thay đổi, người mua có thể mua dễ dàng, tiện lợi hơn, với giá thấp hơn, có thể
so sánh giá cả một cách nhanh chóng, và mua từ bất kỳ nhà cung cấp nào trên khắp thế giới, đặc biệt là khi mua sản phẩm điện tử download được (downloadable electronic products) hay dịch vụ cung cấp qua mạng Internet tạo điều kiện cho doanh nghiệp duy trì mối quan hệ một-đến-một (one-to-one) với số lượng người tiêu dùng rất lớn mà không phải tốn nhiều nhân lực và chi phí Người mua có thể tìm hiểu, nghiên cứu các thông số về sản phẩm, dịch
vụ kèm theo qua mạng trước khi quyết định mua Người mua có thể dễ dàng đưa ra những yêu cầu đặc biệt của riêng mình để nhà cung cấp đáp ứng, ví dụ như mua CD chọn các bài hát ưa thích, mua nữ trang tự thiết kế kiểu, mua máy tính theo cấu hình riêng
Người mua có thể được hưởng lợi từ việc doanh nghiệp cắt chi phí dành cho quảng cáo trên các phương tiện truyền thông, thay vào đó, giảm giá hay
Trang 14khuyến mãi trực tiếp cho người mua qua mạng Internet Người mua có thể tham gia đấu giá trên phạm vi toàn cầu, có thể cùng nhau tham gia mua một nhóm hàng hóa nào đó với số lượng lớn để được hưởng ưu đãi giảm giá khi mua nhiều
Doanh nghiệp có thể tương tác, tìm người tiêu dùng nhanh chóng hơn, tiện lợi hơn, với chi phí thấp hơn nhiều trong thương mại truyền thống Những trung gian trên Internet cung cấp thông tin hữu ích, lợi ích kinh tế (giảm giá, chọn lựa giá tốt nhất ) cho người mua hơn là những trung gian trong thương mại truyền thống Cạnh tranh toàn cầu và sự tiện lợi trong việc
so sánh giá cả khiến cho những người bán lẻ sẽ hưởng chênh lệch giá ít hơn Nhà cung cấp hàng hóa trên mạng có thể dùng chương trình giới thiệu tự động những mặt hàng khác hay mặt hàng liên quan cho người tiêu dùng của mình, dựa trên những thông tin đã thu thập được về thói quen mua sắm, món hàng đã mua của người tiêu dùng
Ngành ngân hàng, giáo dục, tư vấn, thiết kế, marketing và những dịch vụ tương tự đã, đang và sẽ thay đổi rất nhiều về chất lượng dịch vụ, cách thức phục vụ người tiêu dùng dựa vào Internet và TMĐT
Internet giúp giảm chi phí cho các hoạt động thương mại như thông tin liên lạc, marketing, tài liệu, nhân sự, mặt bằng Liên lạc giữa đối tác ở các quốc gia khác nhau sẽ nhanh chóng, kinh tế hơn nhiều
Chính vì vậy, TMĐT tạo điều kiện cho doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp
ở các nước đang phát triển có thể cạnh tranh với các doanh nghiệp lớn
Theo thống kê của Cục TMĐT và CNTT, đến hết năm 2011, Cục đã xác nhận đăng ký cho 35 website sàn giao dịch Các website đã đăng ký có mô hình hoạt động khá đa dạng, tuy nhiên có thể xếp chung thành một số nhóm sau:
- Các sàn giao dịch điện tử được tổ chức theo mô hình trung tâm thương mại hoặc chợ điện tử, nơi các thành viên được mở “gian hàng ảo” và có quyền
Trang 15quản lý, cập nhật thông tin, hình ảnh trên các gian hàng đó (ví dụ chodientu, enbac, vatgia, 123mua, v.v…)
- Các website cung cấp dịch vụ kinh doanh theo nhóm, nơi nhiều doanh nghiệp có thể thông qua website tiến hành hoạt động truyền thông, tiếp thị và trực tiếp bán hàng hóa, dịch vụ cho khách hàng (muachung, muare, v.v…)
- Các website rao vặt, diễn đàn, nơi thành viên có thể đăng ký tài khoản
và đưa thông tin về nhu cầu mua bán ở dạng đơn giản như tin rao vặt hay chủ
đề thảo luận (ví dụ rongbay, nhavadat, v.v…)
Từ 35 sàn giao dịch đã đăng ký, đến cuối năm 2011, Cục TMĐT và CNTT đã thống kê được lưu lượng giao dịch trực tuyến rất khả quan, với hơn 1,5 triệu giao dịch được ghi nhận trên 30 sàn, đạt tổng trị giá giao dịch hơn 4.130 tỷ đồng Bản thân các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ sàn giao dịch TMĐT cũng đã có doanh thu: 15 trên 30 doanh nghiệp được khảo sát báo cáo phát sinh doanh thu trong năm 2011, với tổng doanh thu đạt gần 111 tỷ đồng
Bảng 1.1 Thống kê hoạt động các sàn giao dịch TMĐT đã được xác
Số giao dịch thành công
Tổng giá trị giao dịch thành công
Tổng doanh thu
thành viên
1.501.000 giao dịch
4.130 tỷ đồng
111 tỷ đồng Trong tổng doanh thu của những doanh nghiệp cung cấp dịch vụ sàn giao dịch TMĐT, phí thu từ các thành viên tham gia sàn chiếm tới 84% nguồn doanh thu, phí thu được từ các hoạt động quảng cáo là 10% và 6% là từ các
Trang 16hoạt động khác như doanh thu bán hàng trực tiếp, phí đào tạo, phí tính trên giá trị giao dịch của thành viên…
Biểu đồ 1.1 Nguồn doanh thu của các sàn giao dịch TMĐT năm 2011
Trong số 30 sàn giao dịch được thống kê, nếu xếp theo quy mô doanh thu thì riêng 5 sàn giao dịch hàng đầu đã chiếm thị phần áp đảo, với giá trị giao dịch cộng gộp trên 5 sàn này chiếm 94% tổng giá trị giao dịch thành công và doanh thu cộng gộp chiếm 86% tổng doanh thu của toàn bộ 30 sàn Năm sàn giao dịch TMĐT đó là: vatgia.com, enbac.com, muachung.vn, chodientu.vn và 123mua.vn (Biểu đồ 1.2; 1.3)
Trang 17Biểu đồ 1.2 Thị phần tổng giá trị giao dịch của các sàn TMĐT năm 2011
Biểu đồ 1.3 Thị phần doanh thu của các sàn TMĐT năm 2011
(Nguồn: Báo cáo TMĐT Việt Nam 2011)
11%
89%
Trang 18Hiện nay có nhiều loại hình thức giao dịch TMĐT, trong đó hình thức giao dịch theo đối tượng tham gia diễn ra bên trong và giữa ba nhóm chủ thể tham gia chủ yếu là: Chính phủ (G) doanh nghiệp (B), và người tiêu dùng (C) Dựa vào các chủ thể tham gia giao dịch TMĐT, người ta phân thành các loại
mô hình giao dịch TMĐT như sau:
+ Doanh nghiệp sử dụng các phương tiện điện tử để bán hàng hóa, dịch
vụ tới người tiêu dùng (thiết lập website, hình thành cơ sở dữ liệu về hàng hoá, dịch vụ; tiến hành các quy trình tiếp thị, quảng cáo, phân phối trực tiếp tới người tiêu dùng)
+ Người tiêu dùng thông qua các phương tiện điện tử để lựa chọn, mặc
cả, đặt hàng, thanh toán, nhận hàng
+ Giao dịch B2C tuy chiếm tỷ trọng ít (khoảng 10%) trong TMĐT nhưng có phạm vi ảnh hưởng rộng
* B2C đem lại lợi ích cho cả doanh nghiệp lẫn người tiêu dùng:
+ Doanh nghiệp tiết kiệm nhiều chi phí bán hàng do không cần phòng trưng bày hay thuê người giới thiệu bán hàng, chi phí quản lý cũng giảm hơn + Người tiêu dùng sẽ cảm thấy thuận tiện vì không phải tới tận cửa hàng,
họ có khả năng lựa chọn và so sánh nhiều mặt hàng cùng một lúc
Hiện nay, TMĐT ở Việt Nam được tận dụng phục vụ việc marketing, bán hàng cho doanh nghiệp là chính Ngoài ra, một số website sàn giao dịch B2B, siêu thị điện tử B2C, website C2C như rao vặt, đấu giá , website thông
Trang 19tin (tin tức là chính) đã được xây dựng và đưa vào hoạt động Việc thanh toán qua mạng trong và ngoài nước vẫn còn rất ít và bất tiện Doanh số từ mô hình B2B ở Việt Nam rất nhỏ, trong khi doanh số B2B xấp xỉ 80-90% tổng giá trị giao dịch TMĐT trên toàn cầu Trong giai đoạn 2006-2015, xu hướng phát triển TMĐT ở Việt Nam sẽ đi theo ba nhóm:
- Các doanh nghiệp tận dụng TMĐT phục vụ marketing, bán hàng, hỗ trợ khách hàng, mở rộng thị trường, xuất khẩu
- Các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực TMĐT với những website TMĐT;
- Doanh nghiệp bắt đầu tận dụng TMĐT B2B để mua sắm nguyên vật liệu phục vụ việc kinh doanh sản xuất một cách tự động hoặc bán tự động
Các yếu tố thúc đẩy ứng dụng mô hình B2C nói riêng và TMĐT Việt Nam phát triển cần được xem xét trên bảy yếu tố chủ yếu sau:
- Cơ sở hạ tầng công nghệ;
- Số người truy cập Internet, chi phí truy cập Internet;
- Nhân lực chuyên môn;
- Kiến thức TMĐT về phương diện kinh doanh, chiến lược, và nhận thức của nhà đầu tư;
- Nhận thức của cộng đồng;
- Vai trò lãnh đạo của nhà nước;
- Luật
Các yếu tố được khảo sát và được xếp hạng như sau: thang điểm từ 0 đến
9 (0 là hầu như chưa có gì, 9 là mức cao nhất thúc đẩy sự phát triển TMĐT)
Trang 20Bảng 1.2 Xếp hạng các yếu tố thúc đẩy sự phát triển TMĐT ở Việt Nam
(0-9)
Số người truy cập Internet, chi phí truy cập Internet 7
Cơ sở hạ tầng công nghệ 6
Vai trò lãnh đạo của nhà nước 5
Kiến thức TMĐT về phương diện kinh doanh, chiến
lược, và nhận thức của nhà đầu tư
4
Nhận thức của cộng đồng 2
Luật 1
Theo thang điểm xếp hạng các yếu tố thúc đẩy sự phát triển TMĐT ở
Việt Nam, chúng ta nhận thấy yếu tố nhân lực chuyên môn đạt mức 3 Điều
này đặt ra cho các nhà quản lý đào tạo cần nâng cao hơn nữa chất lượng nhân
lực chuyên môn, trong việc chuẩn hóa nội dung đào tạo nguồn nhân lực
TMĐT trong các trường cao đẳng và đại học của nước ta
Có thể điểm qua một số công trình nghiên cứu ở Việt Nam đã đề cập
đến TMĐT như: Bùi Thị Thủy Vân với đề tài luận văn thạc sỹ: "Các giải pháp
nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động các dịch vụ hỗ trợ khách hàng trên website
Vietnamairlines.com.vn" Lê Thị Kim Hoa với đề tài luận văn thạc sỹ: “Xây
dựng website bán hàng qua mạng cho cơ sở sản xuất mây tre đan Tài Trí” Lê
Thanh Nhật Nam với đề tài luận văn thạc sỹ: “Xây dựng trang web TMĐT
FMC” Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước: “Nghiên cứu một số vấn đề
kỹ thuật và công nghệ chủ yếu trong TMĐT và triển khai thử nghiệm” Mã số
KC.01.05 Lê Thị Thanh Hòa với đề tài luận văn thạc sỹ: “Ứng dụng TMĐT
vào hoạt động kinh doanh của thương xá Tax”,
Trang 21Như vậy, nghiên cứu ứng dụng B2C vào một số giao dịch TMĐT thông qua mạng máy tính để xây dựng bài giảng phục vụ công tác đào tạo chưa được vận dụng nhiều tại các trường cao đẳng và đại học ở Việt Nam nói chung, trường CĐCNNĐ nói riêng
Từ lịch sử nghiên cứu vấn đề cho thấy các công trình chủ yếu mới chỉ tập trung nghiên cứu giải quyết các giải pháp bảo mật thông tin, một số vấn đề kỹ thuật chủ yếu trong TMĐT, ứng dụng TMĐT cho các công ty, doanh nghiệp, Chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu ứng dụng B2C vào một
số giao dịch TMĐT thông qua mạng máy tính để xây dựng bài giảng kết hợp website phục vụ công tác đào tạo cho SV các trường cao đẳng và đại học ở Việt Nam Do đó, đề tài của nhóm tác giả là một vấn đề mới có tính thực tiễn cao cần được nghiên cứu Cũng từ lịch sử nghiên cứu vấn đề cho thấy, nghiên cứu ứng dụng B2C vào một số giao dịch TMĐT thông qua mạng máy tính để xây dựng bài giảng, đổi mới nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học TMĐT còn nhiều vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện
1.2 Cơ sở lý luận ứng dụng B2C vào một số giao dịch thương mại điện tử thông qua mạng máy tính để xây dựng bài giảng
1.2.1 Một số khái niệm cơ bản
1.2.1.1 Lịch sử thương mại điện tử
Từ khi Tim Berners-Lee phát minh ra www vào năm 1990, các tổ chức,
cá nhân đã tích cực khai thác, phát triển thêm www, trong đó có các doanh nghiệp Mỹ Các doanh nghiệp nhận thấy www giúp họ rất nhiều trong việc trưng bày, cung cấp, chia sẻ thông tin, liên lạc với đối tác một cách nhanh chóng, tiện lợi, kinh tế Từ đó, doanh nghiệp, cá nhân trên toàn cầu đã tích cực khai thác thế mạnh của Internet, www để phục vụ việc kinh doanh, hình thành nên khái niệm TMĐT Chính Internet và web là công cụ quan trọng nhất của TMĐT, giúp cho TMĐT phát triển và hoạt động hiệu quả Mạng Internet được sử dụng rộng rãi từ năm 1994 Công ty Netsscape tung ra các
Trang 22phần mềm ứng dụng để khai thác thông tin trên Internet vào tháng 5 năm
1995 Công ty Amazon.com ra đời vào tháng 5 năm 1997 Công ty IBM tung
ra chiến dịch quảng cáo cho các mô hình kinh doanh điện tử năm 1997 TMĐT được chia ra thành nhiều cấp độ phát triển Cách phân chia thứ nhất: Sáu cấp độ phát triển TMĐT:
Cấp độ 1 Hiện diện trên mạng: Doanh nghiệp có website trên mạng Ở
mức độ này, website rất đơn giản, chỉ là cung cấp một thông tin về doanh nghiệp và sản phẩm mà không có các chức năng phức tạp khác
Cấp độ 2 Có website chuyên nghiệp: Website của doanh nghiệp có cấu
trúc phức tạp hơn, có nhiều chức năng tương tác với người xem, hỗ trợ người xem, người xem có thể liên lạc với doanh nghiệp một cách thuận tiện
Cấp độ 3 Chuẩn bị TMĐT: Doanh nghiệp bắt đầu triển khai bán hàng
hay dịch vụ qua mạng Tuy nhiên, doanh nghiệp chưa có hệ thống cơ sở dữ liệu nội bộ để phục vụ các giao dịch trên mạng Các giao dịch còn chậm và không an toàn
Cấp độ 4 Áp dụng TMĐT: Website của doanh nghiệp liên kết trực tiếp
với dữ liệu trong mạng nội bộ của doanh nghiệp, mọi hoạt động truyền dữ liệu được tự động hóa, hạn chế sự can thiệp của con người và vì thế làm giảm đáng kể chi phí hoạt động và tăng hiệu quả
Cấp độ 5 TMĐT không dây: Doanh nghiệp áp dụng TMĐT trên các
thiết bị không dây như điện thoại di động, Palm (máy tính bỏ túi) v.v… sử dụng giao thức truyền không dây WAP (Wireless Application Protocol)
Cấp độ 6 Cả thế giới trong một máy tính: Chỉ với một thiết bị điện tử,
người ta có thể truy cập vào một nguồn thông tin khổng lồ, mọi lúc, mọi nơi
và mọi loại thông tin (hình ảnh, âm thanh, phim, v.v…) và thực hiện các loại giao dịch
Trang 23Cách phân chia thứ hai: Ba cấp độ phát triển TMĐT:
Cấp độ 1 Thương mại thông tin (i-commerce, i=information: thông tin):
Doanh nghiệp có website trên mạng để cung cấp thông tin về sản phẩm, dịch vụ Các hoạt động mua bán vẫn thực hiện theo cách truyền thống
Cấp độ 2 Thương mại giao dịch (t-commerce, t=transaction: giao dịch):
Doanh nghiệp cho phép thực hiện giao dịch đặt hàng, mua hàng qua website trên mạng, có thể bao gồm cả thanh toán trực tuyến
Cấp độ 3 Thương mại tích hợp (c-business, c=colaborating, connecting:
tích hợp, kết nối): Website của doanh nghiệp liên kết trực tiếp với dữ liệu trong mạng nội bộ của doanh nghiệp, mọi hoạt động truyền dữ liệu được tự động hóa, hạn chế sự can thiệp của con người và vì thế làm giảm đáng kể chi phí hoạt động và tăng hiệu quả
1.2.1.2 Khái niệm Thương mại điện tử và Kinh doanh điện tử
* Khái niệm Thương mại điện tử
Cho đến hiện tại có nhiều định nghĩa khác nhau về TMĐT Các định nghĩa này xem xét theo các quan điểm, khía cạnh khác nhau Theo quan điểm truyền thông, TMĐT là khả năng phân phối sản phẩm, dịch vụ, thông tin hoặc thanh toán thông qua một mạng ví dụ Internet hay world wide web
Theo quan điểm giao tiếp: TMĐT liên quan đến nhiều hình thức trao
đổi thông tin giữa doanh nghiệp với nhau, giữa khách hàng với doanh nghiệp
và giữa khách hàng với khách hàng
Theo quan điểm quá trình kinh doanh: TMĐT bao gồm các hoạt động
được hỗ trợ trực tiếp bởi liên kết mạng
Theo quan điểm môi trường kinh doanh: TMĐT là một môi trường
cho phép có thể mua bán các sản phẩm, dịch vụ và thông tin trên Internet Sản phẩm có thể hữu hình hay vô hình
Theo quan điểm cấu trúc: TMĐT liên quan đến các phương tiện thông
tin để truyền: Văn bản, trang web, điện thoại Internet, video Internet
Trang 24Sau đây là một số định nghĩa khác về TMĐT:
Thương mại điện tử là tất cả các hình thức giao dịch được thực hiện
thông qua mạng máy tính có liên quan đến chuyển quyền sở hữu về sản phẩm hay dịch vụ
Theo Diễn đàn đối thoại xuyên Đại tây dương, TMĐT là các giao dịch
thương mại về hàng hoá và dịch vụ được thực hiện thông qua các phương tiện điện tử
Cục Thống kê Hoa kỳ định nghĩa TMĐT là việc hoàn thành bất kỳ
một giao dịch nào thông qua một mạng máy tính làm trung gian mà bao gồm việc chuyển giao quyền sở hữu hay quyền sử dụng hàng hoá và dịch vụ
Theo nghĩa rộng có nhiều định nghĩa khác về TMĐT như TMĐT là toàn
bộ chu trình và các hoạt động kinh doanh liên quan đến các tổ chức hay cá nhân hay TMĐT là việc tiến hành hoạt động thương mại sử dụng các phương tiện điện tử và công nghệ xử lý thông tin số hoá
UNCITAD định nghĩa về TMĐT bao gồm việc sản xuất, phân phối,
marketing, bán hay giao hàng hoá và dịch vụ bằng các phương tiện điện tử
Liên minh châu Âu định nghĩa TMĐT bao gồm các giao dịch thương
mại thông qua các mạng viễn thông và sử dụng các phương tiện điện tử Nó bao gồm TMĐT gián tiếp (trao đổi hàng hoá hữu hình) và TMĐT trực tiếp (trao đổi hàng hoá vô hình)
TMĐT cũng được hiểu là hoạt động kinh doanh điện tử, bao gồm: Mua bán điện tử hàng hoá, dịch vụ, giao hàng trực tiếp trên mạng với các nội dung
số hoá được; chuyển tiền điện tử - EFT (electronic fund transfer); mua bán cổ phiếu điện tử - EST (electronic share trading); vận đơn điện tử - EB/L (electronic bill of lading); đấu giá thương mại - Commercial auction; hợp tác thiết kế và sản xuất; tìm kiếm các nguồn lực trực tuyến; mua sắm trực tuyến - Online procurement; marketing trực tiếp, dịch vụ khách hàng sau khi bán
Trang 25UN đưa ra định nghĩa đầy đủ nhất để các nước có thể tham khảo làm
chuẩn, tạo cơ sở xây dựng chiến lược phát triển TMĐT phù hợp Định nghĩa này phản ánh các bước TMĐT, theo chiều ngang: “TMĐT là việc thực hiện toàn bộ hoạt động kinh doanh bao gồm marketing, bán hàng, phân phối và thanh toán (MSDP) thông qua các phương tiện điện tử”
Định của WTO TMĐT bao gồm việc sản xuất, quảng cáo, bán hàng và
phân phối sản phẩm được mua bán và thanh toán trên mạng Internet, nhưng được giao nhận có thể hữu hình hoặc giao nhận qua Internet dưới dạng số hoá
Định nghĩa của OECD (Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế):
TMĐT là việc làm kinh doanh thông qua mạng Internet, bán những hàng hoá
và dịch vụ có thể được phân phối không thông qua mạng hoặc những hàng hoá có thể mã hoá bằng kỹ thuật số và được phân phối thông qua mạng hoặc không thông qua mạng
Định nghĩa của AEC (Hiệp hội TMĐT): TMĐT là làm kinh doanh có
sử dụng các công cụ điện tử Định nghĩa này rộng, coi hầu hết các hoạt động kinh doanh từ đơn giản như một cú điện thoại giao dịch đến những trao đổi thông tin EDI phức tạp đều là TMĐT
Trong Luật mẫu về TMĐT, UNCITRAL (Ủy ban của LHQ về thương mại quốc tế) nêu định nghĩa để các nước tham khảo: TMĐT là việc trao đổi
thông tin thương mại thông qua các phương tiện điện tử, không cần phải in ra giấy bất cứ công đoạn nào của toàn bộ quá trình giao dịch
* Kinh doanh điện tử (ebusiness):
Kinh doanh điện tử cũng có nhiều quan điểm khác nhau, về cơ bản kinh doanh điện tử được hiểu theo góc độ quản trị kinh doanh, đó là việc ứng dụng CNTT và Internet vào các quy trình, hoạt động của doanh nghiệp
Trang 26Ngoài khái niệm ecommerce và ebusiness, đôi khi người ta còn sử dụng khái niệm M-commerce M-commerce (mobile commerce) là kinh doanh sử dụng mạng điện thoại di động
Ở đây “Thông tin” được hiểu là bất cứ thứ gì có thể truyền tải bằng kỹ thuật điện tử, bao gồm cả thư từ, các file văn bản, các cơ sở dữ liệu, các bản tính, các bản thiết kế, hình đồ hoạ, quảng cáo, hỏi hàng, đơn hàng, hoá đơn, bảng giá, hợp đồng, hình ảnh động, âm thanh
“Thương mại” được hiểu theo nghĩa rộng bao quát mọi vấn đề nảy sinh
từ mọi mối quan hệ mang tính thương mại, dù có hay không có hợp đồng Các mối quan hệ mang tính thương mại không chỉ bao gồm các giao dịch sau đây: Bất cứ giao dịch nào về cung cấp hoặc trao đổi hàng hoá hoặc dịch vụ; đại diện hoặc đại lý thương mại; uỷ thác hoa hồng; cho thuê dài hạn; xây dựng các công trình; tư vấn; kỹ thuật công trình; đầu tư cấp vốn; ngân hàng; bảo hiểm; thoả thuận khai thác hoặc tô nhượng; liên doanh và các hình thức khác
về hợp tác công nghiệp hoặc kinh doanh; chuyên chở hàng hoá hay hành khách bằng đường biển, đường không, đường sắt hoặc đường bộ
Mạng trong TMĐT được hiểu là bao gồm các máy tính, máy fax, điện thoại, TV… được kết nối với nhau để trao đổi thông tin dưới dạng điện tử
1.2.1.3 Các hình thức kinh doanh thương mại điện tử
Theo Uỷ ban châu Âu: "TMĐT được hiểu là việc thực hiện hoạt động kinh doanh qua các phương tiện điện tử Nó dựa trên việc xử lý và truyền dữ liệu điện tử dưới dạng text, âm thanh và hình ảnh" TMĐT được xem là sự mô phỏng của Thương mại truyền thống Theo đó, tham gia giao dịch thương mại sẽ có ít nhất hai bên tham gia, bao gồm: người bán và người mua
Căn cứ vào đối tượng tham gia, công nghệ kết nối mạng, hình thức dịch
vụ, mức độ phối hợp, chia sẻ và sử dụng thông tin qua mạng, có thể phân chia thành bốn hình thức TMĐT chủ yếu như sau:
Trang 279 Phân loại theo đối tượng tham gia: Chính phủ (G); doanh nghiệp (B), khách hàng cá nhân (C), Gồm các mô hình giao dịch sau: G2B, G2C, G2G, B2G, B2B, B2C, C2B, C2G, C2C
Bảng 1.3 Phân loại mô hình giao dịch TMĐT theo đối tượng tham gia
Người mua
Người bán
Doanh nghiệp (Bussiness)
Người tiêu dùng (Consumer)
Chính phủ (Government)
Doanh nghiệp
(Bussiness)
B2B (Bussiness to Bussiness)
B2C (Bussiness to Consumer)
C2C (Consumer to Consumer)
G2C (Government to Consumer)
G2G (Government to Government)
Trong đó, mô hình giao dịch B2B, B2C và C2C là các loại hình chiếm tỷ trọng lớn nhất và được đề cập nhiều nhất trong TMĐT Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, nhóm nghiên cứu chỉ giới thiệu một số mô hình giao dịch chủ
yếu, nội dung chính sẽ đi sâu nghiên cứu mô hình B2C (Business to Consumer)
Trang 28Sơ đồ 1.1 Mô hình giao dịch TMĐT B2B
Hạ tầng ảo là cấu trúc của B2B chủ yếu bao gồm những vấn đề sau:
• Hậu cần - Vận tải, nhà kho và phân phối;
• Cung cấp các dịch vụ ứng dụng - tiến hành, máy chủ và quản lý phần mềm trọn gói từ một trung tâm hỗ trợ (ví dụ Oracle và Linkshare);
• Các nguồn chức năng từ bên ngoài trong chu trình TMĐT như máy chủ trang web, bảo mật và giải pháp chăm sóc khách hàng;
• Các phần mềm giải pháp đấu giá cho việc điều hành và duy trì các hình thức đấu giá trên Internet;
• Phần mềm quản lý nội dung cho việc hỗ trợ quản lý và đưa ra nội dung trang web cho phép thương mại dựa trên web;
Phần lớn các ứng dụng B2B là trong lĩnh vực quản lý cung ứng (Đặc biệt chu trình đặt hàng mua hàng), quản lý kho hàng (Chu trình quản lý đặt hàng gửi hàng - vận đơn), quản lý phân phối (đặc biệt trong việc chuyển giao các chứng từ gửi hàng) và quản lý thanh toán (ví dụ hệ thống thanh toán điện tử hay EPS)
Tại Việt Nam có một số nhà cung cấp B2B trong lĩnh vực IT "khá nổi tiếng" là FPT, CMC, Tinh Vân với hàng loạt các dự án cung cấp phần mềm,
các trang web giá thành cao nhưng chất lượng kém Ngoài ra, các công ty này còn là nơi phân phối các phần mềm nhập ngoại
Thị trường mạng được định nghĩa đơn giản là những trang web nơi mà người mua, người bán trao đổi qua lại với nhau và thực hiện giao dịch
Trang 29Qua hai nội dung trên chúng ta có thể đưa ra vài nét tổng quan về các doanh nghiệp B2B:
o Là những nhà cung cấp hạ tầng trên mạng Internet cho các doanh nghiệp khác như máy chủ, hệ điều hành, phần mềm ứng dụng
o Là các doanh nghiệp chuyên cung cấp các giải pháp trên mạng Internet như cung cấp máy chủ, hosting (Dữ liệu trên mạng), tên miền, các dịch vụ thiết kế, bảo trì, website
o Là các doanh nghiệp cung cấp các phần mềm quản lý doanh nghiệp, kế toán doanh nghiệp, các phần mềm quản trị, các phần mềm ứng dụng khác cho doanh nghiệp
o Các doanh nghiệp là trung gian TMĐT trên mạng Internet
Tại Việt Nam, các trang web về B2B rất ít xuất hiện hoặc nó bị gán nhầm cho cái tên B2B thậm chí nhiều người không hiểu B2B là gì, cứ thấy có doanh nghiệp với doanh nghiệp là gán cho chữ B2B Chúng ta có thể ghé thăm các website được xếp hạng bên trong trang web của Bộ Công Thương Việt Nam:
Đơn giản hơn chúng ta có thể hiểu: TMĐT B2C là việc một doanh nghiệp dựa trên mạng Internet để trao đổi các hang hóa dịch vụ do mình tạo ra hoặc do mình phân phối
Trang 30Sơ đồ 1.2 Mô hình giao dịch TMĐT B2C
B2C là mô hình mà doanh nghiệp sử dụng các phương tiện điện tử để bán hàng hóa và dịch vụ tới người tiêu dùng; người tiêu dùng thông qua các phương tiện điện tử để lựa chọn, mặc cả, đặt hàng, thanh toán và nhận hàng
Mô hình B2C chủ yếu là mô hình bán lẻ qua mạng, qua đó doanh nghiệp thường thiết lập website, hình thái cơ sở dữ liệu về hàng hóa, dịch vụ, tiến hành các quy trình tiếp thị, quảng cáo và phân phối trực tiếp tới người tiêu dùng
Mô hình B2C đem lại lợi ích cho cả doanh nghiệp lẫn người tiêu dùng: Doanh nghiệp tiết kiệm nhiều chi phí bán hàng do không cần phòng trưng bày hay thuê người giới thiệu bán hàng, chi phí quản lý cũng giảm đáng kể Người tiêu dùng sẽ cảm thấy thuận tiện vì không phải tới tận cửa hàng, ngồi ở bất cứ nơi đâu, bất cứ khi nào cũng có khả năng lựa chọn và so sánh nhiều mặt hàng cùng lúc, cũng như tiến hành việc mua hàng Hiện nay, số lượng giao dịch theo mô hình TMĐT B2C rất lớn, tuy nhiên giá trị giao dịch từ hoạt động này chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng giá trị TMĐT ngày nay (chiếm khoảng 5%-10%)
Mô hình TMĐT B2C còn được gọi dưới cái tên khác đó là bán lẻ trực tuyến (e-tailing)
Do đối tượng tham gia mô hình giao dịch này gồm doanh nghiệp và người tiêu dùng nên TMĐT dạng B2C có sức lan tỏa mạnh và thường được
xã hội chú ý Đây cũng là phương thức thường được doanh nghiệp lựa chọn khi bước đầu triển khai ứng dụng TMĐT, đặc biệt với những doanh nghiệp
Trang 31vừa và nhỏ hướng tới phục vụ đối tượng người tiêu dùng Từ kinh nghiệm xây dựng và vận hành các website TMĐT B2C của một số doanh nghiệp đã tương đối thành công, có thể rút ra một số nhận định sau:
Điểm mấu chốt quyết định thành công của một website TMĐT B2C là khả năng thu hút và duy trì sự quan tâm của người tiêu dùng Để thu hút khách hàng mới, bên cạnh giao diện đẹp và thuận tiện cho việc sử dụng, thông tin trên website cũng cần phải hết sức phong phú Kinh nghiệm cho thấy khách hàng đặc biệt quan tâm tìm kiếm những thông tin mô tả và giá cả hàng hóa, dịch vụ trên mạng, qua đó so sánh, đối chiếu để dẫn đến quyết định mua hàng Việc đáp ứng một cách thuận tiện nhu cầu của người tiêu dùng về khảo sát giá cả cũng như sản phẩm là lợi thế nổi bật của phương thức tiếp thị trực tuyến mà các nhà kinh doanh cần khai thác triệt để Một khi khách hàng đã quan tâm đến website, dùng thử các dịch vụ trên đó và thấy thực sự hiệu quả thì xác suất quay lại sẽ là rất lớn Trong bối cảnh các website TMĐT của Việt Nam chưa nhiều, những doanh nghiệp quan tâm đầu tư làm TMĐT một cách bài bản sẽ có nhiều ưu thế trong việc xây dựng lượng khách hàng trung thành
để làm cơ sở cho giai đoạn cất cánh về sau
Phương thức mua hàng trên mạng có sức hút mạnh với đối tượng là cán
bộ công sở, SV, những người ít có thời gian mua sắm và thường xuyên sử dụng mạng Internet Do đó, khi triển khai các “cửa hàng trực tuyến”, doanh nghiệp cần lưu ý phân tích thói quen và tâm lý tiêu dùng của các nhóm đối tượng này để có chiến lược tiếp thị hoặc lựa chọn loại hàng hóa cho phù hợp
Mô hình kinh doanh TMĐT theo phương thức B2C phù hợp hơn với các doanh nghiệp thương mại dịch vụ Khi có nhu cầu mua sắm, người tiêu dùng muốn tìm được thông tin đa dạng về các loại hàng hóa và sản phẩm khác nhau ngay tại một chỗ Các doanh nghiệp trực tiếp sản xuất ra hàng hóa sẽ khó lòng đáp ứng nhu cầu này do mỗi doanh nghiệp chỉ tập trung sản xuất một vài sản phẩm nhất định Trong khi đó, doanh nghiệp thương mại dịch vụ, vốn chỉ
Trang 32đóng vai trò trung gian phân phối sản phẩm, sẽ có lợi thế hơn trong việc tập hợp các nguồn hàng khác nhau để có hàng hóa, sản phẩm trưng bày phong phú, tạo thuận lợi, đáp ứng tối đa nhu cầu của người mua hàng
Thách thức chính đối với TMĐT B2C là tập trung vào cá nhân hóa: Một mảng phần mềm rất sẵn có để giúp các trang TMĐT tạo lập các cửa hàng độc đáo hướng tới những khách hàng riêng Ví dụ, American Airlines đã cá nhân hóa trang web của mình để các khách hàng là doanh nhân xem hãng hàng không này là hãng hàng không kinh doanh và các khách du lịch coi trang web của hãng như một trang web chuyên về du lịch TMĐT đã chú trọng hơn vào việc làm hài lòng khách hàng và hoàn thành việc giao hàng Các công ty đã chi hàng tỷ đô la vào việc cải tiến các hệ thống hậu cần để đảm bảo giao hàng đúng giờ Để khách hàng hài lòng ngay lập tức không phải dễ dàng, tuy nhiên các công ty kinh doanh TMĐT B2C thành công nhận thấy rằng vấn đề của việc hoàn thành tốt công việc có thể được tháo gỡ nếu chú trọng và đầu tư nhiều hơn vào dây chuyền phân phối và các công nghệ hậu cần
Thành công của các công ty theo mô hình B2C là nhờ vào những thuận lợi trong việc mua hàng mà họ có thể cung cấp cho khách hàng Quá trình này
có phần tương tự với dịch vụ khách hàng kiểu cũ Các công ty như Amazon.com … đã thu hút được đông đảo khách hàng trực tuyến chủ yếu là nhờ vào việc đáp ứng một cách hoàn hảo nhu cầu của họ
Một kinh nghiệm đối với khách hàng trực tuyến chính là giao diện, được hiểu là từ ngữ và hình ảnh mà người mua hàng sẽ tiếp xúc, thay vì người bán hàng thực sự (mặc dù những công nghệ mới như VoIP có thể cho phép khách hàng đàm thoại trực tiếp với các nhân viên bán hàng khi họ thực hiện mua hàng) Nếu người mua hàng đưa các mục hàng vào một chiếc giỏ mua hàng
ảo và trình ra thẻ tín dụng, các công ty có thể đáp ứng các đơn đặt hàng mà hầu như không cần có sự tham gia xử lý của con người Cuối cùng, các hệ thống như màn hình trợ giúp theo tình huống (context-sensitive) và quảng cáo
Trang 33phù hợp với sở thích từng cá nhân đã ra đời Mặc dù, ban đầu công chúng có một số lo ngại về độ bảo mật của các giao dịch bằng thẻ tín dụng nhưng TMĐT B2C giờ đang bắt đầu bùng phát
Ngoài ra, các công ty theo mô hình B2C còn có những cách khác để thu lợi Họ có thể bán chỗ quảng cáo trên trang web của mình hoặc bán quyền truy cập tới một nội dung đặc biệt tính trên cơ sở trả tiền theo sử dụng (pay-per-use) hay trả tiền theo lần xem (pay-per-view) Với cách bán quyền truy cập, các công ty sẽ chia nhỏ thông tin trên trang web của mình và bán cho khách hàng của mình theo từng lần sử dụng hoặc là theo một khoảng thời gian
sử dụng nhất định Chẳng hạn, Nhật báo Wall Street (http://www.wsj.com cho phép khách hàng quyền truy cập có thời hạn một ngày tới một phiên bản báo trực tuyến của công ty với giá không đầy 50 cent)
Các trang web khá thành công với hình thức này trên thế giới phải kể đến www.Amazon.com; www.Drugstore.com; www.Beyond.com
Danh sách các website được đánh giá cao trong bảng xếp hạng của Bộ Công Thương Việt Nam
TMĐT khách hàng tới khách hàng C2C đơn giản là thương mại giữa các
cá nhân và người tiêu dùng
Loại hình TMĐT này được phân loại bởi sự tăng trưởng của thị trường điện tử và đấu giá trên mạng, đặc biệt với các ngành theo trục dọc nơi các
Trang 34công ty/doanh nghiệp có thể đấu thầu cho những cái họ muốn từ các nhà cung cấp khác nhau Có lẽ đây là tiềm năng lớn nhất cho việc phát triển các thị trường mới
Sơ đồ 1.3 Mô hình giao dịch TMĐT C2C Loại hình TMĐT này hướng tới theo ba dạng (Đấu giá trên một trang web xác định):
• Hệ thống hai đầu P2P, Forum, IRC, các phần mềm nói chuyện qua mạng như Yahoo, Skype,Window Messenger, AOL
• Quảng cáo phân loại tại một cổng (rao vặt)
• Giao dịch khách hàng tới doanh nghiệp C2B bao gồm đấu giá ngược, trong đó khách hàng là người điều khiển giao dịch
Tại các trang web của nước ngoài chúng ta có thể nhận ra ngay Ebay là website đứng đầu danh sách các website C2C trên thế giới Đây là một tượng đài về kinh doanh theo hình thức đấu giá mà các doanh nghiệp Việt Nam nào cũng muốn hướng tới
Tại Việt Nam, Bộ Công Thương đã xếp hạng và giới thiệu các website
để mọi người có cơ hội tham khảo sau:
♦ www.chodientu.com
♦ www.1001shoppings.com
♦ www.saigondaugia.com
♦ www.aha.com.vn
Trang 35- B2G (Business to Government):
TMĐT giữa doanh nghiệp với chính phủ (B2G) được định nghĩa chung
là thương mại giữa công ty và khối hành chính công Nó bao hàm việc sử dụng Internet cho mua bán công, thủ tục cấp phép và các hoạt động khác liên quan tới chính phủ Hình thái này của TMĐT có hai đặc tính: Thứ nhất, khu vực hành chính công có vai trò dẫn đầu trong việc thiết lập TMĐT Thứ hai, người ta cho rằng khu vực này có nhu cầu lớn nhất trong việc biến các hệ thống mua bán trở nên hiệu quả hơn
Các chính sách mua bán trên trang web tăng cường tính minh bạch của quá trình mua hàng và giảm rủi ro của việc không đúng quy cách Tuy nhiên, tới nay, kích cỡ của thị trường TMĐT B2G như là một thành tố của của tổng TMĐT thì không đáng kể, khi mà hệ thống mua bán của chính phủ còn chưa phát triển
- G2C(Government to Consumer):
Là loại hình giao dịch giữa cơ quan nhà nước với cá nhân Đây chủ yếu
là các giao dịch mang tính hành chính, nhưng có thể mang những yếu tố của TMĐT Ví dụ khi người dân đóng tiền thuế qua mạng, trả phí khi đăng ký hồ
sơ trực tuyến, v.v…
9 Phân loại theo công nghệ kết nối mạng: Thương mại hữu tuyến, thương
mại di động (vô tuyến)
9 Phân loại theo hình thức dịch vụ: Chính phủ điện tử, giáo dục điện
tử, ngân hàng điện tử…
9 Phân loại theo mức độ phối hợp, chia sẻ và sử dụng thông tin qua mạng: Thương mại thông tin, thương mại giao dịch, thương mại cộng
tác
1.2.1.4 Các ứng dụng chủ yếu của mô hình B2C
Là giải pháp TMĐT được xây dựng theo mô hình B2C (Business to Consumer) Giải pháp này nhằm hỗ trợ doanh nghiệp tham gia vào TMĐT,
Trang 36làm tăng năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp cũng như tạo ra những nguồn khách hàng mới không giới hạn về không gian và thời gian Các ứng dụng chủ yếu của mô hình B2C gồm:
- Khó khăn: Không có chuẩn để thu phí;
- Số lần click chuột, số lượng người truy cập, số lượng người dùng ít nên không thu thập được tiểu sử của khách hàng (demographic info) như: Địa chỉ, giới tính, mức thu nhập, nghề nghiệp, sở thích, tôn giáo…
- Người tìm việc (job seeker):
+ Trả lời các mẫu quảng cáo tuyển nhân viên;
+ Để lý lịch trên web và gửi thông điệp đến người tuyển dụng;
Trang 37+ Careerbuilder.com, mangvieclam.com
- Người tuyển dụng (recruiter):
+ Quảng cáo tuyển nhân viên trên các portal, báo điện tử, hoặc ngay trên website của công ty;
+ Tiến hành phỏng vấn và trắc nghiệm kiến thức trên web
- Môi giới việc làm (job agency):
+ Sử dụng Web để công bố việc làm;
+ Quảng cáo dịch vụ bằng email hay tại các trang web khác;
- Điệp viên cho người tìm việc (careershop.com)
+ Người dùng tạo hồ sơ xin việc;
+ Tìm kiếm công việc thích hợp trên các website hoặc cơ sở dữ liệu dựa vào hồ sơ xin việc;
+ Người tìm việc sẽ nhận được các tuyển dụng thông qua email
- Điệp viên cho người tuyển dụng (resumix.yahoo.com)
+ Xem các đơn xin việc;
- Sản phẩm là các tài liệu điện tử như:
+ Luận văn tiến sĩ, thạc sĩ;
+ Tin tức, báo, tập san chuyên ngành;
+ Công trình nghiên cứu
- Người truy cập được xem một phần, phần còn lại phải là thành viên (báo);
- Người truy cập được xem một phần, phần còn lại phải mua (tạp chí);
Trang 38- Người truy cập được xem các thông tin gần nhất (trong khoảng 30 ngày), với yêu cầu đăng ký là thành viên;
• Phí giao dịch:
- Công ty nhận được tiền hoa hồng dựa vào khối lượng giao dịch;
- Công ty môi giới, trung gian (intermediation) ;
- Ví dụ:
+ Đại lý du lịch;
+ Dịch vụ tài chính, ngân hàng;
+ Môi giới mua bán cổ phần chứng khoán, cổ phiếu;
+ Môi giới thế chấp, bất động sản, bảo hiểm
+ Mua và thuê với giá rẻ;
+ Cung cấp những thông tin bổ ích: Lời khuyên khi đi du lịch; Hướng dẫn, bản đồ,
• Dịch vụ tài chính, ngân hàng:
- Liên kết với các ngân hàng và cung cấp nhiều dịch vụ cho các tổ chức hoặc cá nhân như: Thanh toán các hóa đơn, kiểm tra tài khoản, tìm các khoản vay nợ
- Nhận tiền hoa hồng từ khách hàng
Giải pháp áp dụng toàn diện cho các loại doanh nghiệp sản xuất, xây dựng, dịch vụ hay thương mại với qui mô nhỏ, vừa và lớn
1.2.1.4 Thanh toán điện tử trong mô hình B2C
Thanh toán trong mô hình B2C thường qua các hình thức:
* Thanh toán điện tử bằng thẻ thông minh, ví dụ như:
Trang 39- Visa Cash: Visa Cash là một thẻ trả trước, dùng để thanh toán cho những giao dịch có giá trị nhỏ Card gắn vi mạch này có thể sử dụng trong giao dịch thông thường hoặc giao dịch trực tuyến Khi thanh toán, chi phí mua hàng sẽ được trừ vào giá trị tiền còn trên thẻ Thẻ này chỉ sử dụng được với những điểm chấp nhận thanh toán có logo Visa Cash hoặc bộ đọc thẻ Visa Cash kết nối với máy tính
- Visa Buxx: Là thẻ trả trước được thiết kế cho thanh niên Thẻ Visa Buxx trông giống thẻ thông thường, nhưng an toàn hơn vì nó có bộ nhớ không lớn Người dùng có thể sử dụng thẻ để mua sắm và có thể nạp tiền tự động hàng tháng
- Mondex: Là thẻ gắn bộ vi xử lý của MasterCard, có chức năng tương tự như Visa Cash Thẻ có thể được sử dụng để thanh toán tại bất cứ nơi nào có biểu tượng Mondex Hơn nữa, sử dụng thẻ Mondex có thể chuyển được tiền
từ tài khoản này sang tài khoản khác Không giống thẻ Visa Cash, thẻ Mondex có thể lưu tài khoản tiền của năm loại tiền khác nhau
* Thanh toán điện tử bằng ví điện tử
Một người mua hàng trên mạng có thể tiến hành mua nhiều hàng hóa tại nhiều website khác nhau Để đơn giản hóa việc nhập thông tin thẻ tín dụng và thông tin cá nhân để ghi hóa đơn hoặc gửi hàng người ta sử dụng phần mềm
“ví điện tử” Tuy nhiên, với mỗi người bán khác nhau thì người tiêu dùng cần lập một tài khoản ví điện tử khác nhau Ví điện tử là một phần mềm trong đó người sử dụng có thể lưu trữ số thẻ tín dụng và các thông tin cá nhân khác Khi mua hàng trên mạng, người mua hàng chỉ cần thao tác đơn giản là nhấp vào ví điện tử, phần mềm sẽ tự động điền các thông tin người tiêu dùng cần thiết để thực hiện việc mua hàng Hiện nay, Visa, MasterCard, Yahoo, AOL, Microsoft đều cung cấp dịch vụ ví điện tử
Cách thức vận hành của ví điện tử như sau:
- Người mua (người sử dụng ví điện tử) đặt hàng qua mạng
Trang 40- Phần xác minh/ đăng ký của ví điện tử tạo ra một cặp khóa Phần này
sẽ mã hóa một khóa với khóa công khai của người mua đi liền với ví điện tử
Ví điện tử cũng tạo ra một thông điệp (vé) gồm khóa thứ hai và tên người mua Vé sau đó được mã hóa cùng với khóa công cộng của người bán Cả hai phần mã hóa được gửi cho người mua cùng với thông điệp
- Người mua giải mã lần thứ nhất bằng cách sử dụng khóa bí mật của mình Sau đó, người mua tạo ra một thông điệp mới, bao gồm tên người mua,
và mã hóa thông điệp này bằng khóa thứ nhất và gửi thông điệp này cùng với
vé cho người bán
- Người bán giải mã vé sử dụng mã bí mật của mình, lấy được tên người mua và khóa thứ hai Sử dụng khóa này, người bán giải mã được thông điệp người mua gửi và có được tên người mua Nếu hai tên này trùng nhau, người bán sẽ biết người mua là đúng
Sau lần giao dịch đầu tiên thành công, từ lần thứ hai, người mua và người bán đó có thể thực hiện những giao dịch an toàn khác sử dụng các chìa khóa để mã hóa các liên lạc Toàn bộ quy trình chi thực hiện trong vài giây,
và hoàn toàn tự động với chi phí tối thiểu
* Thanh toán điện tử bằng thẻ mua hàng
Các nhà cung cấp dịch vụ thẻ hàng đầu hiện nay như Visa, MasterCard
và American Express đều đang đưa ra các thẻ mới sử dụng với các khoản mua hàng thường xuyên và có giá trị nhỏ của các doanh nghiệp là thẻ mua hàng Thẻ mua hàng là các loại thẻ đặc biệt dùng cho nhân viên các công ty, chỉ được dùng để mua các mặt hàng thông dụng như văn phòng phẩm, máy tính, bảo trì máy móc,…
Quy trình vận hành của thẻ mua hàng tương tự như các loại thẻ khác khi mua hàng trực tuyến hoặc thông thường Lợi ích chính của thẻ mua hàng là tính hiệu quả do doanh nghiệp không phải thanh toán cho từng giao dịch nhỏ