Các nghiên cứu chuyên sâu về giải pháp đối với rủi ro trong sản xuất cá tra từ việc quản lí và phân bổ sử dụng tài nguyên thiên nhiên đất, mặt nước, nguồn nước… hoặc các nghiên cứu về rủ
Trang 1i
Hà Nội, 2009
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
VIỆN CHÍNH SÁCH VÀ CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN
BÁO CÁO KẾT QUẢ ĐỀ TÀI
NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT CHÍNH SÁCH
QUẢN LÝ RỦI RO TRONG SẢN XUẤT CÁ TRA
Ở VIỆT NAM
Thư ký khoa học : ThS Phạm Thị Hồng Vân
Các thành viên : ThS Nguyễn Đình Chính
ThS Nguyễn Hải Anh ThS Nguyễn Trọng Khương PGS TS Nguyễn Đình Long
TS Trần Công Thắng ThS Lưu Đức Khải
TS Phạm Bảo Dương
Hà Nội, 2012
Trang 2DANH SÁCH THÀNH VIÊN THAM GIA NGHIÊN CỨU
1 ThS Phùng Giang Hải Viện Chính sách và Chiến lược PTNN NT –
Chủ nhiệm đề tài
2 ThS Phạm Thị Hồng Vân Viện Chính sách và Chiến lược PTNN NT –
Thư ký khoa học
3 ThS Nguyễn Đình Chính Viện Chính sách và Chiến lược PTNN NT
4 ThS Nguyễn Hải Anh Viện Chính sách và Chiến lược PTNN NT
5 ThS Nguyễn Trọng Khương Viện Chính sách và Chiến lược PTNN NT
6 PGS TS Nguyễn Đình
Long
Viện Chính sách và Chiến lược PTNN NT
7 TS Trần Công Thắng Viện Chính sách và Chiến lược PTNN NT
8 ThS Lưu Đức Khải Viện Quản lý kinh tế Trung ương
9 TS Lê Xuân Sinh Đại học Cần Thơ
10 TS Phạm Bảo Dương Đại học Nông nghiệp I
Trang 3TÓM TẮT
Sản phẩm cá tra đã và đang ngày càng khẳng định được tầm quan trọng của mình đóng góp cho sự phát triển chung của kinh tế quốc dân Việt Nam Tuy nhiên, trong bối cảnh kinh tế thế giới có nhiều bất ổn, đồng thời biến đổi khí hậu ngày càng có tác động rõ rệt hơn đối với sản xuất nông nghiệp nói chung của Việt Nam vì vậy các rủi ro đối với hoạt động nuôi cá tra của Việt Nam vốn đã cao nay lại càng có xu hướng trở nên trầm trọng hơn Các nỗ lực chính sách nhằm quản lý tốt hơn, giảm thiểu các rủi ro cũng như các thiệt hại nếu có trong sản xuất nông nghiệp nói chung và trong sản xuất cá tra nói riêng của Việt Nam vẫn chưa mang lại hiệu quả như mong muốn và người nuôi cá tra Việt Nam hiện vẫn đang đứng trước nhiều rủi ro Chính vì vậy, việc tiến hành nghiên cứu đề xuất chính sách quản lý rủi ro trong sản xuất cá tra ở Việt Nam thời gian tới trở nên rất bức thiết
Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát: Đề xuất chính sách quản lý rủi ro trong sản xuất
cá tra ở Việt Nam
- Đề xuất những nội dung của khung chính sách quản lý hữu hiệu rủi
ro trong sản xuất cá tra ở Việt Nam thời gian tới
Nội dung nghiên cứu
Cơ sở lý luận của chính sách quản lý rủi ro trong sản xuất cá tra;
Thực trạng triển khai chính sách quản lý rủi ro trong sản xuất cá tra ở Việt Nam hiện nay;
Đề xuất những nội dung của quản lý hữu hiệu rủi ro trong sản xuất cá tra ở Việt Nam thời gian tới và đề xuất khung chính sách quản lý hữu hiệu rủi
ro trong sản xuất cá tra tại Việt Nam
Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện các mục tiêu nghiên cứu đặt ra, nhóm nghiên cứu đã tiến hành tổng quan các tài liệu, chính sách liên quan đến việc quản lí rủi ro trong nông nghiệp của thế giới để rút ra bài học kinh nghiệm cho chính sách quản lí rủi ro trong ngành hàng cá tra của Việt Nam
Nhóm nghiên cứu đã thực hiện điều tra khảo sát tại 5 tỉnh Bến Tre,
Trang 4Đồng Tháp, An Giang, Cần Thơ và Hậu Giang để tiến hành các khảo sát thực địa, phỏng vấn các cơ sở nuôi cá tra, doanh nghiệp chế biến, người thu gom, các đại lí cung ứng các yếu tố đầu vào phục vụ nuôi cá tra, phỏng vấn và trao đổi, toạ đàm với các cán bộ làm công tác quản lý nhà nước, chính quyền địa phương, lãnh đạo các doanh nghiệp trên địa bàn 5 tỉnh này Nhóm nghiên cứu cũng đã tiến hành phỏng vấn các cán bộ quản lý Nhà nước thuộc các Bộ ngành liên quan, tham vấn ý kiến các chuyên gia
Đề tài đã sử dụng các phương pháp phân tích dữ liệu: phương pháp thống kê mô tả, phương pháp đánh giá rủi ro, phương pháp phân tích chính sách Số liệu được phân tích trên phần mềm Excel và Stata
Kết quả nghiên cứu
Nhóm nghiên cứu đã đưa ra cơ sở lý luận của chính sách quản lý rủi ro trong sản xuất cá tra Bao gồm các nội dung về: Một số khái niệm liên quan đến rủi ro, quản lý rủi ro, chính sách quản lý rủi ro Đưa ra được các cách phân loại rủi ro, các yếu tố gây rủi ro trong sản xuất nông nghiệp, nội dung và các tiêu chí đánh giá PTBV Đồng thời trong phần này, nhóm nghiên cứu đã đưa ra các phương pháp tiếp cận trong quản lý rủi ro, các đặc điểm của chính sách quản lý rủi ro trong sản xuất cá tra Nhóm nghiên cứu cũng đã đưa ra kinh nghiệm về quản lý rủi ro của một số nước (Thái Lan, Úc, Mỹ, New Zealand, Hà Lan, Nhật Bản, …) và đã rút ra được một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam về chính sách quản lý rủi ro trong sản xuất cá tra
Nhóm nghiên cứu cũng đã nghiên cứu đánh giá thực trạng sản xuất, rủi
ro và chính sách quản lý rủi ro trong sản xuất cá tra của Việt Nam Trong phần này, Báo cáo đã đánh giá chung về điều kiện cho phát triển sản xuất cá tra, thực trạng sản xuất cá tra thời kỳ 2006 – 2011, đặc điểm nuôi cá tra hộ gia đình Nhóm nghiên cứu đã phân tích và đánh giá được các rủi ro trong sản xuất cá tra nguyên liệu; phân tích và đánh giá được các mặt tích cực cũng như hạn chế của các chính sách quản lý rủi ro trong sản xuất cá tra nguyên liệu theo 5 nhóm yếu tố gây rủi ro; các nội dung quản lý rủi ro hiện hành trong sản xuất cá tra nguyên liệu Đây là cơ sở thực tiễn quan trọng để đề xuất khung chính sách quản lý rủi ro trong sản xuất cá tra
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu về cơ sở lý luận và thực tiễn về chính sách quản lý rủi ro nói chung và chính sách quản lý rủi ro trong nuôi cá tra nói riêng, nhóm nghiên cứu đã đề xuất khung chính sách quản lý rủi ro trong sản xuất cá tra Để có thêm cơ sở cho đề xuất khung chính sách, trong phần này, nhóm nghiên cứu đã đưa ra một số xu hướng phát triển sản xuất cá tra và những rủi ro có thể gặp phải trong thời gian tới Báo cáo cũng đã đề xuất được các nội dung của quản lý rủi ro trong sản xuất cá tra và đưa ra các quan điểm cho xây dựng khung chính sách quản lý rủi ro trong sản xuất cá tra
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BHNN Bảo hiểm nông nghiệp
CBXK Chế biến xuất khẩu
KNXK Kim ngạch xuất khẩu
NN&PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Trang 7
MỤC LỤC
DANH SÁCH THÀNH VIÊN THAM GIA NGHIÊN CỨU 2
TÓM TẮT 3
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 6
MỤC LỤC 7
DANH MỤC CÁC BẢNG 10
DANH MỤC CÁC HÌNH 11
MỞ ĐẦU 12
1 Tính cấp thiết của đề tài 12
2 Mục tiêu nghiên cứu 14
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 14
3.1 Đối tượng nghiên cứu 14
3.2 Phạm vi nghiên cứu 14
4 Phương pháp nghiên cứu 16
4.1 Phương pháp tiếp cận và khung phân tích 16
4.2 Chọn điểm nghiên cứu, chọn mẫu khảo sát, điều tra 18
4.3 Phương pháp phân tích 21
5 Kết cấu báo cáo đề tài 21
PHẦN 1 22
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ RỦI RO 22
TRONG SẢN XUẤT CÁ TRA 22
1.1 Một số khái niệm 22
1.2 Phân loại rủi ro và các yếu tố gây ra rủi ro trong nông nghiệp 24
1.3 Các phương pháp tiếp cận trong quản lý rủi ro 27
1.3.1 Tiếp cận tổng thể (toàn diện) (Holistic Approach) 27
1.3.2 Tiếp cận ngành hàng (Sector Chain Approach) trong chính sách quản lý rủi ro trong sản xuất cá tra 29
1.4 Nội dung của chính sách quản lý rủi ro trong nông nghiệp 30
1.5 Ý nghĩa của chính sách quản lý rủi ro 31
1.6 Đặc điểm của chính sách quản lý rủi ro trong sản xuất cá tra 32
1.7 Các nhân tố ảnh hưởng đến thực thi chính sách quản lý rủi ro trong sản xuất cá tra 33
Trang 81.8 Một số kinh nghiệm quốc tế về chính sách quản lý rủi ro trong sản
xuất nông nghiệp 35
1.8.1 Chính sách quản lý rủi ro trong sản xuất nông nghiệp của một số nước trên thế giới 35
1.8.2 Các bài học kinh nghiệm cho chính sách quản lý rủi ro trong sản xuất cá tra 42
PHẦN 2 44
THỰC TRẠNG SẢN XUẤT, RỦI RO VÀ CHÍNH SÁCH QL RỦI RO 44
TRONG SẢN XUẤT CÁ TRA CỦA VIỆT NAM 44
2.1 Đánh giá về điều kiện phát triển sản xuất cá tra 44
2.2 Thực trạng sản xuất, các rủi ro và quản lý rủi ro trong sản xuất cá tra 45 2.2.1 Thực trạng sản xuất cá tra 45
2.2.2 Rủi ro trong sản xuất cá tra nguyên liệu 59
2.2.3 Những nội dung chính sách quản lý rủi ro trong sản xuất cá tra nguyên liệu 77
2.3 Tổng quan chính sách quản lý rủi ro trong sản xuất cá tra ở Việt Nam81 2.3.1 Rà soát các chính sách quản lý rủi ro trong sản xuất cá tra 81
2.3.2 Hệ thống tổ chức quản lý thực hiện chính sách quản lý rủi ro trong sản xuất cá tra tại địa phương 88
2.3.3 Tác động tích cực và hạn chế của hệ thống chính sách quản lý rủi ro trong sản xuất cá tra 89
PHẦN 3 107
ĐỀ XUẤT KHUNG CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ RỦI RO 107
TRONG SẢN XUẤT CÁ TRA 107
3.1 Một số định hướng phát triển sản xuất cá tra và những rủi ro có thể gặp phải trong thời gian tới 107
3.1.1 Định hướng phát triển sản xuất cá tra 107
3.1.2 Những rủi ro chính cần quan tâm trong thời gian tới 108
3.2 Những nội dung của quản lý rủi ro trong sản xuất cá tra 111
3.2.1 Nội dung quản lý rủi ro theo các giai đoạn sản xuất cá tra nguyên liệu 111
3.2.2 Nội dung quản lý rủi ro theo các nhóm yếu tố gây rủi ro 112
3.3 Những quan điểm xây dựng khung chính sách quản lý rủi ro trong sản xuất cá tra 114
Trang 93.4.2 Nhóm chính sách về giá và xúc tiến thương mại 115
3.4.3 Nhóm chính sách về tài chính 117
3.4.4 Nhóm chính sách về KHKT 118
3.4.5 Nhóm chính sách về quản lý chất lượng sản phẩm 119
3.4.6 Nhóm chính sách về điều kiện cơ sở hạ tầng và dịch vụ 120
3.4.7 Nhóm chính sách về môi trường, dịch bệnh 120
3.4.8 Nhóm chính sách về thông tin 121
3.4.9 Nhóm chính sách về bảo hiểm và khắc phục rủi ro 121
3.5 Tổ chức thực hiện chính sách quản lý rủi ro 122
KẾT LUẬN 124
TÀI LIỆU THAM KHẢO 130
CÁC PHỤ LỤC 133
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.Tổng hợp số lượng mẫu khảo sát, điều tra 20
Bảng 2: Các loại rủi ro trong nông nghiệp và các yếu tố gây rủi ro 24
Bảng 3.Các chiến lược quản lý rủi ro trong nông nghiệp 30
Bảng 4: Tình hình nuôi cá tra giai đoạn 2006 - 2011 45
Bảng 5: Diện tích nuôi cá tra ở các tỉnh ĐBSCL giai đoạn 2007- 2011 46
Bảng 6: Sản lượng nuôi cá tra ở các tỉnh ĐBSCL giai đoạn 2007 - 2011 47
Bảng 7: Tình hình chung 49
Bảng 8: Mức và nguồn vốn đầu tư nuôi cá tra 51
Bảng 9: Kết quả sản xuất cá tra 52
Bảng 10: Các yếu tố gây rủi ro 60
Bảng 11: Biến động giá - lợi nhuận nuôi cá tra 62
Bảng 12: Mức độ tác động của các yếu tố gây rủi ro về thị trường 64
Bảng 13: Yếu tố gây rủi ro cho người nuôi cá tra 65
Bảng 14: Mức độ thiệt hại của người nuôi cá do bị DN thanh toán chậm 67
Bảng 15: Nhóm rủi ro về tài chính 68
Bảng 16: Nhóm rủi ro về cơ chế chính sách 68
Bảng 17: Đánh giá mức độ tác động của nhóm rủi ro về cơ chế chính sách 70 Bảng 18: Nhóm rủi ro về thiên tai, dịch bệnh 71
Bảng 19: Mức độ tác động của các rủi ro do thiên tai, dịch bệnh 73
Bảng 20: Đánh giá mức độ thiệt hại do chất lượng giống/dịch bệnh 73
Bảng 21: Các biện pháp đối phó với rủi ro của người nuôi cá tra 75
Bảng 22: Hiệu quả của các giải pháp chính đối phó với rủi ro của người nuôi cá 76
Bảng 23: Nội dung quản lý phòng ngừa rủi ro trong chu trình sản xuất cá tra 78
Bảng 24: Nội dung quản lý khắc phục rủi ro 80
Bảng 25: Đánh giá tác dụng của chính sách trong hạn chế rủi ro 92
Bảng 26: Các nguyên nhân làm cho việc nuôi cá tra nguyên liệu trở nên rủi ro nhất trong chuỗi sản xuất, chế biến, tiêu thụ 108
Bảng 27: Yếu tố gây rủi ro đáng lo ngại nhất trong thời gian tới 109
Trang 11DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1: Khung phân tích nghiên cứu quản lý rủi ro trong sản xuất cá tra
nguyên liệu 17
Hình 2: Khung phân tích chính sách 18
Hình 3: Tiếp cận tuyến tính trong quản lý rủi ro 28
Hình 4: Tiếp cận toàn diện trong quản lý rủi ro 28
Hình 5: Cơ cấu các loại chi phí nuôi cá tra 53
Hình 6: Cơ cấu thị trường xuất khẩu cá tra năm 2011 tính theo giá trị (triệu USD) 55
Hình 7: Giá trị và sản lượng cá tra xuất khẩu giai đoạn 2002 - 2011 56
Hình 8: Giá cá tra xuất khẩu giai đoạn 2000 - 2011 56
Hình 9: Giá cá giống và cá hương tại Đồng Tháp từ T1 – T12/2011 60
Hình 10: Giá cá tra nguyên liệu và giá thức ăn năm 2011 61
Hình 11: Giá cá tra thịt trắng nguyên liệu năm 2011 63
Hình 12: Đánh giá mức độ tác động của các chính sách đối với rủi ro trong nuôi cá tra 70
Hình 13: Sơ đồ tổ chức thực hiện chính sách quản lý rủi ro trong SX cá tra 89 Hình 14: Giá cá tra phile đông lạnh Việt Nam nhập khẩu vào Mỹ theo tháng, 2005 – 2011 (USD/kg) 110
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tổng sản lượng thủy sản năm 2010 đạt 5.195 ngàn tấn, tăng 7,2% so với năm 2009 và tăng 30% so với mục tiêu kế hoạch 5 năm 2006-2010, trong
đó, riêng sản lượng nuôi trồng thủy sản đạt 2.800 ngàn tấn, tăng 9% so với năm 20091 Năm 2011, tổng sản lượng thủy sản ước đạt 5.432 ngàn tấn, tăng 5,6% so với năm 2010; trong đó, sản lượng nuôi trồng đạt 2.930,4 ngàn tấn, tăng 7,4%, sản lượng khai thác đạt 2.502,5 ngàn tấn, tăng 3,6% Giá trị sản xuất thuỷ sản tăng 6,1% so với năm 20102 Sản xuất và chế biến xuất khẩu cá tra - là một trong những ngành hàng nông nghiệp trọng điểm, có tốc độ tăng trưởng mạnh trong những năm gần đây, đạt tốc độ tăng trưởng bình quân cao, đóng góp đáng kể cho sự phát triển chung của ngành thủy sản Sản lượng cá tra nuôi năm 2011 đạt gần 1,2 triệu tấn và giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt khoảng 1,8 tỷ USD.3
Thấy được vai trò quan trọng của sản xuất và chế biến cá tra trong nền kinh tế quốc dân nói chung, trong ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn nói riêng, Chính phủ và Bộ ngành đã ra các Quyết định phê duyệt Quy hoạch phát triển sản xuất và tiêu thụ cá tra vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến năm
2010, định hướng đến năm 2020 (Quyết định 102/2008/QĐ-BNN) và Đề án phát triển sản xuất và tiêu thụ cá tra đến năm 2020 (Quyết định 2033/QĐ-TTg, 2009) Trong Đề án, các mục tiêu của các năm như sau:
- Đến năm 2015 sản lượng cá nguyên liệu đạt 1,8 triệu tấn, sản phẩm xuất khẩu đạt 750 nghìn tấn, tiêu thụ nội địa 150 nghìn tấn; giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt 2,2 tỷ USD, tạo việc làm cho 23 vạn lao động
- Đến năm 2020 sản lượng cá nguyên liệu đạt 2,0 triệu tấn, sản phẩm xuất khẩu 900 nghìn tấn, tiêu thụ nội địa 200 nghìn tấn, giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt 3,0 tỷ USD, tạo việc làm cho 25 vạn lao động.4
Để thực hiện thắng lợi các mục tiêu đề ra của lĩnh vực sản xuất và tiêu thụ cá tra, vấn đề sản xuất đủ cá tra nguyên liệu có tính chất quyết định trong
cả chuỗi giá trị ngành hàng cá tra Mặc dù đã gặt hái được những kết quả đáng kể nhưng sản xuất cá tra nguyên liệu luôn đứng trước nguy cơ rủi ro lớn Sau một thời gian dài liên tục trong 3 năm 2008 - 2010, do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, nhu cầu thị trường sụt giảm, giá xuất
1 Báo cáo tổng kết thực hiện kế hoạch năm 2010; 5 năm 2006-2010 và triển khai kế hoạch năm 2011, 5 năm
2011-2015
2
Trang 13đủ vốn sản xuất… Những rủi ro luôn túc trực đối với người sản xuất cá tra khi chưa có các chính sách quản lý rủi ro một cách hữu hiệu
Rủi ro trong sản xuất cá tra được nhìn nhận là khá lớn và có tác động đáng kể đối với lợi nhuận của người sản xuất Trong suốt quá trình phát triển ngành hàng cá tra ở Việt Nam, người sản xuất đã cố gắng áp dụng nhiều biện pháp khác nhau để giảm thiểu rủi ro Đồng thời, Chính phủ, Bộ Nông nghiệp
và phát triển nông thôn (NN&PTNT) và các đơn vị chức năng cũng đã nỗ lực xây dựng các chính sách về quản lí chất lượng giống, thức ăn, thuốc thú y thủy sản hoặc hỗ trợ vốn tín dụng hay hỗ trợ công tác đào tạo, tập huấn phát triển khoa học kĩ thuật… nhằm quản lý tốt hơn và giảm thiểu các rủi ro cũng như các thiệt hại nếu có trong sản xuất nông nghiệp nói chung và trong sản xuất cá tra nói riêng Mới đây, Chính phủ Việt Nam đã đưa sản phẩm cá tra
vào nhóm sản phẩm chiến lược của Việt Nam (413/VPCP-KTN ngày
19/01/2010) nhằm tạo điều kiện phát triển ngành hàng cá tra một cách hiệu
quả và bền vững Tuy nhiên, cho đến nay mặc dù hầu hết các chính sách này đều đã phát huy được tác dụng và phần nào hỗ trợ được người sản xuất cá tra trong thời gian qua nhưng người nuôi cá tra hiện vẫn đang đứng trước quá nhiều rủi ro Bên cạnh đó, do việc ban hành và thực hiện các chính sách thiếu thống nhất nên khả năng giám sát quá trình thực hiện chính sách là tương đối khó khăn, làm giảm hiệu quả chính sách và gây lãng phí ngân sách quốc gia
Một vấn đề nữa là cho đến nay, việc quản lí rủi ro trong sản xuất cá tra nói riêng và nhiều ngành sản xuất khác nói chung ở Việt Nam còn rất thiếu bài bản, thực chất là chỉ mang tính đối phó ngắn hạn chứ chưa có hẳn một chiến lược về quản lí rủi ro để đảm bảo được mức lợi nhuận tối thiểu luôn có thể chấp nhận được trong mọi hoàn cảnh Do vậy, việc xây dựng được chiến lược quản lí rủi ro một cách toàn diện là rất cần thiết Nói cách khác, các giải pháp chính sách chừng nào còn chưa được xây dựng một cách đồng bộ, thống nhất thì sẽ khó phát huy được hết hiệu quả hỗ trợ cho sự phát triển bền vững của ngành sản xuất này Tuy nhiên để thực hiện việc này, các nghiên cứu,
5 Dẫn theo
http://www.vasep.com.vn/vasep/Dailynews.nsf/4669E87B75931D5E47256A2C000FE7C5/
Trang 14phân tích và dự báo các vấn đề có thể là nguyên nhân chính gây ra các rủi ro cho sản xuất cá tra là hiện lại rất thiếu vắng Các nghiên cứu chuyên sâu về giải pháp đối với rủi ro trong sản xuất cá tra từ việc quản lí và phân bổ sử dụng tài nguyên thiên nhiên (đất, mặt nước, nguồn nước…) hoặc các nghiên cứu về rủi ro có nguyên nhân từ môi trường thể chế (hình thức tổ chức sản xuất cá tra, liên kết, chính sách hỗ trợ…) hay các rủi ro có nguyên nhân từ thị trường (khả năng đàm phán, đặt giá của người sản xuất, sự phụ thuộc xuất khẩu…) đều khá phân tán, mờ nhạt hoặc thậm chí chưa được nghiên cứu
Chính vì vậy, việc tiến hành đề tài nghiên cứu “Nghiên cứu đề xuất
chính sách quản lý rủi ro trong sản xuất cá tra ở Việt Nam” là cần thiết và
cấp bách Đề tài nghiên cứu nếu thành công sẽ luận giải được cơ sở khoa học của nội dung chính sách quản lý rủi ro trong sản xuất cá tra; đánh giá được thực trạng rủi ro và chính sách quản lý rủi ro trong sản xuất cá tra ở Việt Nam hiện nay; đề xuất được những nội dung của chính sách quản lý rủi ro trong sản xuất cá tra ở Việt Nam thời gian tới
2 Mục tiêu nghiên cứu
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là: Chính sách và quy định quản
lý rủi ro trong sản xuất cá tra
Các đối tượng khảo sát gồm: Các nhà hoạch định chính sách, các cán bộ quản lý các cấp chính quyền, các doanh nghiệp, đại lí cung ứng đầu vào cho sản xuất cá tra, các tổ chức và hộ gia đình nuôi cá tra, các doanh nghiệp tiêu thụ cá tra
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về thời gian: Đề tài tập trung thực hiện nghiên cứu thực trạng rủi ro,
Trang 15- Về không gian: Đề tài nghiên cứu đề xuất chính sách quản lý rủi ro
trong sản xuất cá tra ở vùng ĐBSCL, lựa chọn 5 tỉnh đại diện để thực hiện khảo sát
- Về nội dung: với mục tiêu đề tài là đề xuất chính sách quản lý rủi ro
trong sản xuất cá tra ở Việt Nam, đề tài tập trung nghiên cứu các nội dung:
Cơ sở lý luận của chính sách quản lý rủi ro trong sản xuất cá tra - kinh nghiệm từ các chính sách quản lý rủi ro của thế giới; các rủi ro người sản xuất
cá tra gặp phải; thực trạng chính sách quản lý rủi ro trong sản xuất cá tra ở Việt Nam hiện nay; dự báo khả năng phát triển sản xuất cá tra và những rủi ro
có thể gặp phải trong thời gian tới; trên cơ sở đó đề xuất những nội dung của quản lý rủi ro và các chính sách quản lý rủi ro trong sản xuất cá tra ở Việt Nam thời gian tới
Cụm từ “sản xuất cá tra” có thể được hiểu theo hai cách: (1) Sản xuất
cá tra bao gồm cả 3 giai đoạn từ sản xuất giống đến nuôi (sản xuất cá tra nguyên liệu) và chế biến xuất khẩu cá tra, (2) Sản xuất cá tra chỉ là giai đoạn nuôi cá tra Trong các khâu của chuỗi ngành hàng cá tra thì sản xuất cá tra nguyên liệu là khâu chịu nhiều rủi ro nhất hiện nay, việc đảm bảo cho người nuôi cá tra không bị thua lỗ, ổn định nguồn cung cá tra nguyên liệu đang được
sự quan tâm của Chính phủ, Bộ ngành Trong khuôn khổ đề tài này, cụm từ
“sản xuất cá tra” được giới hạn là giai đoạn sản xuất cá tra nguyên liệu hay còn được gọi theo từ ngữ thông dụng là nuôi cá tra Như vậy các nội dung nghiên cứu sẽ chỉ tập trung vào vấn đề quản lý rủi ro trong khâu sản xuất cá tra nguyên liệu (từ lúc thả giống nuôi cho đến khi bán cá tra nguyên liệu) Mặc dù vậy, để nghiên cứu đề xuất chính sách quản lý rủi ro trong sản xuất cá tra nguyên liệu cũng không thể không xem xét đến các rủi ro của khâu sản xuất giống và chế biến xuất khẩu cá tra - là những nguyên nhân tiềm ẩn, gián tiếp gây nên rủi ro trong khâu sản xuất cá tra nguyên liệu
Hiện nay tham gia sản xuất cá tra nguyên liệu không chỉ có hộ nông dân mà còn có các doanh nghiệp chế biến nhưng sản lượng cá tra nguyên liệu
từ các hộ nông dân cung ứng hiện nay vẫn chiếm trên 50% sản lượng cá tra nguyên liệu và trong tương lai, vai trò của các hộ nông dân trong sản xuất cá tra nguyên liệu sẽ vẫn còn được duy trì; mặt khác, sản xuất cá tra nguyên liệu của hộ nông dân sẽ chịu nhiều loại rủi ro và mức độ rủi ro lớn hơn các doanh nghiệp có sản xuất cá tra nguyên liệu khi các doanh nghiệp đó thường khép kín quy trình sản xuất và có năng lực về vốn đầu tư lớn hơn nên chủ động về tiêu thụ sản phẩm; bên cạnh đó, do giới hạn về nguồn lực tài chính nên Đề tài này chỉ giới hạn việc nghiên cứu đề xuất chính sách quản lý rủi ro trong khâu sản xuất cá tra nguyên liệu của các hộ gia đình nuôi cá tra – đã được nêu trong mục đối tượng nghiên cứu của Thuyết minh tổng thể đề tài nghiên cứu
đã được phê duyệt
Trang 164 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp tiếp cận và khung phân tích
Phương pháp tiếp cận
Rủi ro trong sản xuất nông nghiệp nói chung, trong sản xuất cá tra nói riêng là rất lớn và chỉ có thể được hạn chế bằng sự nỗ lực của toàn xã hội, từ các cấp hoạch định chính sách, quy định quản lý đến cấp thực thi và đối tượng chịu tác động (doanh nghiệp và người nuôi cá tra) Những rủi ro này do rất nhiều tác nhân gây ra Việc phòng ngừa rủi ro là rất quan trọng, tuy nhiên cũng không thể xem nhẹ việc khắc phục các hậu quả khi rủi ro xảy ra để tạo điều kiện tiếp tục phát triển sản xuất Vì vậy, nghiên cứu này sẽ đồng thời sử dụng cách tiếp cận tiếp cận hệ thống và tiếp cận theo nhóm yếu tố gây rủi ro
1) Tiếp cận hệ thống và phân tích chính sách: để nhìn nhận và phân
tích vấn đề một cách tổng thể cũng như mối quan hệ giữa các tác nhân trong chu trình chính sách Cụ thể:
- Về cấp hoạch định chính sách và quy định quản lý: nghiên cứu ở các
cơ quan Cấp trung ương, Cấp tỉnh ban hành chính sách/quy định quản lý các yếu tố tiềm năng gây rủi ro
- Về cấp thực thi chính sách và các quy định quản lý: nghiên cứu ở các
cơ quan quản lý sản xuất và tiêu thụ cá tra từ Trung ương tới địa phương
- Về cấp chịu tác động của chính sách và các quy định quản lý: nghiên
cứu được triển khai theo chu trình của sản xuấtvà tiêu thụ cá tra nguyên liệu
từ các yếu tố đầu vào - sản xuất - tiêu thụ nhưng tập trung ở khâu sản xuất cá tra nguyên liệu
2) Tiếp cận theo nhóm yếu tố gây rủi ro: để nghiên cứu có tính logic
cao, các nhóm yếu tố gây rủi ro sẽ được nghiên cứu một cách hệ thống từ cơ
sở lý luận, đến thực trạng rủi ro trong sản xuất cá tra, đến các chính sách quản
lý rủi ro hiện hành và đề xuất chính sách quản lý rủi ro trong sản xuất cá tra
Khung phân tích
Để nghiên cứu đề xuất nội dung quản lý và khung chính sách hỗ trợ quản lý rủi ro trong sản xuất cá tra, với cách tiếp cận đã nêu ở trên, nghiên cứu sẽ được triển khai theo các nhóm đối tượng và yếu tố tác động đến rủi ro trong sản xuất cá tra nguyên liệu như sau:
Trang 17Hình 1: Khung phân tích nghiên cứu quản lý rủi ro trong sản xuất cá tra nguyên liệu
Với cách tiếp cận hệ thống, việc phân tích chính sách trong nghiên cứu
này sẽ được tiến hành theo sơ đồ dưới đây:
Các tổ chức thực thi các quy định quản lý rủi ro và chính sách hỗ trợ việc quản lý rủi ro (các cấp từ TƯ
đến ĐP - tỉnh, huyện, xã)
ĐỐI TƯỢNG CHỊU TÁC ĐỘNG CHÍNH CỦA CHÍNH SÁCH ĐỀ XUẤT
VÀ CÁC YẾU TỐ GÂY RỦI RO CHO SX THEO CHU TRÌNH SẢN
XUẤT CÁ TRA NGUYÊN LIỆU Người cung cấp đầu
vào cho SX cá tra
Người sản xuất cá tra Người tiêu thụ cá
tra nguyên liệu
Rủi ro biến động
giá/chất lượng nguyên
liệu chế biến thức ăn
Rủi ro biến động giá
đầu vào sản xuất giống
ra Rủi ro do biến động tài chính: lạm phát, lãi suất, nguồn vốn…
Rủi ro chính sách: sử dụng đất, thuế, tín dụng, môi trường, chất lượng VSATTP…
Rủi ro về con người:
trình độ KHKT, tổ chức SXKD…
Các rủi ro do kỹ thuật:
kỹ thuật lạc hậu…
Rủi ro do điều kiện tự nhiên và thiên tai: hạn hán, lũ lụt, dịch bệnh…
Rủi ro do biến động tài chính: lạm phát, lãi suất, nguồn vốn…
Rủi ro chính sách:
sử dụng đất, thuế, tín dụng, môi trường, chất lượng VSATTP…
Rủi ro về thị trường các yếu tố đầu vào
và đầu ra Các rủi ro do kỹ thuật: kỹ thuật lạc hậu…
Thị trường
Thông tin phản hồi
Các quy định quản lý rủi ro và Chính sách hỗ trợ việc quản lý rủi
ro (phòng ngừa và khắc phục)
Trang 18Hình 2: Khung phân tích chính sách
Các rủi ro có thể phát sinh trong quá trình nuôi cá tra và các yếu tố tác động gây ra các rủi ro này sẽ được mô tả dựa trên các kết quả khảo sát thực địa Các hạn chế của các chính sách hiện hành về quản lí rủi ro trong sản xuất
cá tra cũng được mô tả dựa trên tổng quan từ các tài liệu, số liệu thứ cấp và các phát hiện từ khảo sát thực địa Trên cơ sở các phân tích và đánh giá, nghiên cứu sẽ đề xuất các chính sách quản lí rủi ro, bao gồm cả chính sách quản lý phòng ngừa rủi ro và quản lý khắc phục hậu quả rủi ro, trong nuôi cá tra cùng với các giải pháp tổ chức thực hiện chính sách một cách phù hợp
4.2 Phương pháp thu thập thông tin
Tài liệu thứ cấp: Các thông tin, số liệu thứ cấp được thu thập ở các cơ quan
lưu trữ tư liệu, số liệu, các cơ quan quản lý Nhà nước có liên quan, các công trình nghiên cứu đã công bố và truy cập internet
Tài liệu sơ cấp: được thu thập thông qua:
+ Điều tra bằng bảng hỏi
+ Phỏng vấn sâu
+ Nghiên cứu có sự tham gia của cộng đồng (PRA)
+ Tổ chức các hội thảo
+ Tham vấn các chuyên gia
4.2 Chọn điểm nghiên cứu, chọn mẫu khảo sát, điều tra
4.2.1 Chọn địa điểm nghiên cứu
Trên thực tế, các loại hình rủi ro trong cả ngành sản xuất cá tra không khác biệt nhiều theo vùng địa lí do có môi trường chính sách đồng nhất (theo chính sách chung của quốc gia) về cả các yếu tố đầu vào và đầu ra của hoạt động sản xuất này cũng như các tác động vĩ mô (lạm phát, khủng hoảng…) sẽ
Trang 19nhiên, kinh tế xã hội theo địa bàn liên quan đến sự thuận lợi về nguồn nước, giao thông… Do đó, để đại diện cho các loại rủi ro mà sản xuất cá tra vùng ĐBSCL gặp phải, đề tài lựa chọn 5 tỉnh để khảo sát điều tra Trong đó có An Giang, Cần Thơ và Đồng Tháp - là 3 tỉnh trọng điểm nuôi cá tra (có quy mô sản xuất cá tra lớn, diện tích nuôi cá tra của 3 tỉnh này chiếm khoảng 70% tổng diện tích nuôi cá tra của cả vùng ĐBSCL)6 Hai tỉnh Bến Tre, Hậu Giang được lựa chọn để khảo sát do có điều kiện nuôi cá tra tương đối khó khăn hơn
và theo dự báo Hậu Giang sẽ là tỉnh sẽ chịu nhiều ảnh hưởng của hiện tượng nước biển dâng trong thời gian tới Tại mỗi tỉnh, với ý kiến tư vấn của Sở NNPTNT, đề tài đã lựa chọn 1 huyện và mỗi huyện chọn từ 1 - 2 xã/phường
để khảo sát, bao gồm: huyện Thốt Nốt (phường Tân Lộc, Thới Thuận) - Cần Thơ; huyện Châu Phú (xã Mỹ Phú, Mỹ Đức) - An Giang; huyện Châu Thành (xã An Nhơn) - Đồng Tháp; huyện Chợ Lách (xã Tân Thiềng, Vĩnh Bình) - Bến Tre; thị xã Ngã Bảy (xã Đại Thành, Tân Thành) - Hậu Giang
5 tỉnh trên được lựa chọn làm điểm nghiên cứu điển hình có các loại hình tổ chức sản xuất và liên kết thị trường khá đa dạng có thể đại diện được cho cả ngành sản xuất cá tra của Việt Nam và như vậy cũng bao gồm tất cả các loại hình rủi ro trong sản xuất cá tra để có thể nghiên cứu và đề xuất được chính sách quản lí rủi ro cho sản xuất cá tra một cách đầy đủ và toàn diện
4.2.2 Chọn mẫu khảo sát, điều tra
⇒ Đối với khối hoạch định chính sách và quy định quản lý rủi ro:
Nghiên cứu đã lựa chọn một số cơ quan trung ương có nhiệm vụ tham mưu xây dựng chính sách cho Chính phủ và trực tiếp hoạch định chính sách, quy định quản lý rủi ro như Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (NN&PTNT), Bộ Tài chính, Bộ Công Thương với đại diện là các Cục, Vụ, Viện có liên quan để thực hiện phỏng vấn sâu đối với 12 cán bộ
⇒ Đối với khối thực thi chính sách:
Tại các tỉnh được lựa chọn khảo sát đã thực hiện:
+ Tổ chức 5 cuộc tọa đàm với cán bộ quản lí cấp tỉnh tại Sở NN&PTNT của 5 tỉnh, thành phần gồm các đại diện của các Sở, ban, ngành liên quan như: Sở Tài chính, Sở Công Thương, hiệp hội nghề cá và đại diện các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu cá tra, doanh nghiệp chế biến thức ăn cho cá tra
+ Tổ chức 5 cuộc tọa đàm với các cán bộ quản lí cấp huyện tại UBND của 5 huyện được lựa chọn của 5 tỉnh, gồm đại diện các phòng ban liên quan đến quản lý rủi ro trong sản xuất cá tra
+ Thực hiện các phỏng vấn sâu đối với các cán bộ quản lí cấp tỉnh, huyện, xã của Sở NNPTNT, Sở Tài chính, Sở Công Thương, Phòng nông
6 Quy hoạch phát triển sản xuất và tiêu thụ cá tra vùng ĐBSCL đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020
Trang 20nghiệp huyện, cán bộ xã Tổng cộng đã có 52 cán bộ làm công tác trong lĩnh vực quản lý liên quan đến nuôi cá tra được phỏng vấn sâu
⇒ Đối với khối chịu tác động từ các chính sách quản lý rủi ro:
Tại các tỉnh lựa chọn khảo sát đã thực hiện phỏng vấn sâu đối với doanh nghiệp/đại lý sản xuất giống, thức ăn, thuốc và hóa chất, nuôi và chế biến cá tra; họp nhóm và phỏng vấn hộ gia đình nuôi cá tra bằng bảng hỏi
+ Tổng cộng đã có 40 nhà quản lý doanh nghiệp/đại lý liên quan đến nuôi cá tra được phỏng vấn sâu, trong đó có 14 doanh nghiệp vừa thu mua cá tra nguyên liệu vừa cung ứng thức ăn và nuôi cá tra
+ Họp nhóm người nuôi cá tra, gồm đại diện của các doanh nghiệp, hợp tác xã, trang trại, hộ gia đình Tổng cộng đã có 10 cuộc tọa đàm được thực hiện tại các xã
+ Thực hiện phỏng vấn sâu theo bảng hỏi 131 hộ gia đình nuôi cá tra Trong đó số hộ có quy mô nhỏ dưới 10.000 m2 là 100 hộ, số hộ nuôi quy mô
từ 10.000 m2 trở lên là 31 hộ Tại tỉnh Bến Tre, sang năm 2011, hầu như toàn
bộ diện tích nuôi cá tra đã được chuyển nhượng cho các doanh nghiệp, chỉ còn gặp được 02 hộ gia đình nuôi cá tra Số lượng mẫu đã được khảo sát tại các địa điểm nghiên cứu như sau:
Bảng 1.Tổng hợp số lượng mẫu khảo sát, điều tra
TT Đối tượng khảo sát,
điều tra ĐVT Lượng mẫu Địa bàn
1 Các nhà quản lý, nghiên cứu
2 Các nhà quản lý hoạt động
nuôi cá tra ở cấp địa phương
(tỉnh, huyện, xã)
Người 52 Thực hiện tại các đơn vị quản
lý Nhà nước ở địa phương được lựa chọn khảo sát
3 Người quản lý các doanh
nghiệp sản xuất và dịch vụ liên
quan đến nuôi cá tra
Người 40 Thực hiện tại các cơ sở chế
biến, sản xuất và cung ứng thức ăn, cung ứng giống, thuốc thú y ở địa phương được lựa chọn khảo sát
4 Hộ gia đình nuôi cá tra Người 131 Thực hiện tại các địa phương
được lựa chọn
Trang 214.3 Phương pháp phân tích
- Xử lí các số liệu thu thập được trên phần mềm EXCEL và Stata
- Phương pháp thống kê mô tả: Đây là phương pháp nghiên cứu các hiện tượng kinh tế xã hội bằng việc mô tả thông qua các số liệu thu thập được Phương pháp này được sử dụng để phân tích thực trạng phát triển của sản xuất cá tra nguyên liệu tại các địa phương Đồng thời cũng mô tả mức độ của các loại rủi ro mà người nuôi cá tra gặp phải Các chỉ tiêu tính toán chủ yếu lấy trị số trung bình, cực đại, cực tiểu và độ lệch chuẩn
- Phương pháp đánh giá rủi ro: Đánh giá rủi ro là việc dự định, đo lường và phán đoán về một loại rủi ro nào đó có khả năng phát sinh trên cơ sở nhận biết rủi ro Sử dụng phương pháp đánh giá rủi ro bằng phân tích bối cảnh để có thể mở rộng được khả năng phán đoán rủi ro, trên cơ sở đó đề ra được các chính sách, quy định quản lý rủi ro hữu hiệu
- Phương pháp phân tích chính sách: Bên cạnh các phương pháp phân tích chính sách như tổng quan chính sách, chuyên khảo, chuyên gia… phương pháp rà soát đánh giá tác động tích cực và hạn chế của các chính sách được sử dụng để làm rõ các điểm yếu và thiếu của chính sách, quy định quản lý rủi ro trong hoạt động sản xuất cá tra nguyên liệu
5 Kết cấu báo cáo đề tài
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận cùng với Danh mục tài liệu tham khảo
và các Phụ lục, Báo cáo gồm 3 phần chính như sau:
Phần 1: Cơ sở lý luận của chính sách quản lý rủi ro trong sản xuất cá
tra
Phần 2: Thực trạng chính sách quản lý rủi ro trong sản xuất cá tra Phần 3: Đề xuất khung chính sách quản lý rủi ro trong sản xuất cá tra
Trang 22PHẦN 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ RỦI RO
TRONG SẢN XUẤT CÁ TRA
1.1 Một số khái niệm
Khái niệm rủi ro
Cần phân biệt giữa hai khái niệm: rủi ro (risk) và sự không chắc chắn (uncertainty) Theo Knight (1921) và Frank Ellis (1993) rủi ro là tình trạng trong đó các biến cố có thể xảy ra và xác suất xảy ra các biến cố đó đã được biết Sự không chắc chắn là tình trạng xảy ra các biến cố mà xác suất xuất hiện biến cố không được biết trước Tuy nhiên, những học giả phê phán quan điểm này cho rằng sự phân biệt này chưa thỏa đáng bởi trong thực tế, xác suất xuất hiện các biến cố rất ít khi đo lường được, xác suất xuất hiện biến cố phụ thuộc vào kỳ vọng của từng cá nhân (Just and Jilberman, 1984; Moschini and Hennesy, 2001) Theo Hardaker và cộng sự (2004) sự không chắc chắn nhấn
mạnh “kiến thức không hoàn hảo” (imperfect knowledge) còn rủi ro là tình
trạng xảy ra các hậu quả kinh tế xấu không lường trước (exposures to
uncertain unfavourable economic consequences) Quan điểm này của Hardaker được đa số học giả tán thành Tuy vậy, rủi ro và không chắc chắn là hai thuật ngữ khó phân định rạch ròi bởi trong rủi ro cũng chứa đựng sự không chắc chắn và hầu như tất cả sự không chắc chắn đều hàm ý rủi ro Hiện
có một số quan điểm cho rằng rủi ro không chỉ mang lại những hậu quả xấu, bất lợi tuy nhiên, trong khuôn khổ nghiên cứu này, với mục tiêu giảm thiểu các thiệt hại cho quá trình sản xuất nên sẽ chỉ nghiên cứu những loại rủi ro với hàm ý mang tính bất lợi cho sản xuất cá tra Như vậy, rủi ro trong sản
xuất cá tra có thể được định nghĩa là: tình trạng xảy các biến cố gây hậu quả
xấu không lường trước trong sản xuất cá tra
Quản lý rủi ro
Theo Hardaker và các cộng sự (1997): “Quản lý rủi ro là sự áp dụng có
hệ thống các chính sách quản lý, các nguyên tắc và hành động trong định dạng, phân tích, đánh giá, xử lý và giám sát rủi ro nhằm giảm thiểu thiệt hại
và tối đa hóa các cơ hội.” tuy nhiên, nguyên tắc này không cố định và mang
tính thích ứng với từng trường hợp cụ thể OECD (2009) cho rằng: “Quản lý
rủi ro là hệ thống các biện pháp của các cá nhân và tổ chức nhằm giảm thiểu, hạn chế và kiểm soát rủi ro”
Cùng với khái niệm “quản lý rủi ro”, OECD (2009) đưa ra khái niệm
“hệ thống quản lý rủi ro” trong nông nghiệp bao gồm: quản lý các nguồn rủi
Trang 23Từ khái niệm về quản lý rủi ro trong nông nghiệp nói chung, quản lý
rủi ro trong sản xuất cá tra có thể được định nghĩa như sau: Quản lý rủi ro
trong sản xuất cá tra là hệ thống các chính sách quản lý, các biện pháp của Chính phủ, của các tổ chức và các cá nhân nhằm kiểm soát, giảm thiểu, khắc phục rủi ro trong sản xuất cá tra
Trong nghiên cứu này, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu nội dung quản lý rủi ro với nội hàm là các hành động của Chính phủ trong quản lý các nguồn gây rủi ro và ứng phó với rủi ro
Chính sách quản lí rủi ro
Theo James Anderson: “Chính sách là một quá trình hành động có
mục đích được theo đuổi bởi một hoặc nhiều chủ thể trong việc giải quyết các vấn đề mà họ quan tâm” Trong khuôn khổ nghiên cứu này chỉ đề cập đến các
chính sách công.“Chính sách công là thuật ngữ dùng để chỉ một chuỗi các
quyết định hoạt động của nhà nước nhằm giải quyết một vấn đề chung đang đặt ra trong đời sống kinh tế-xã hội theo mục tiêu xác định”7 Chính sách công gồm nhiều quyết định có liên quan đến nhau do các cơ quan có thẩm quyền, bao gồm: Quốc hội, Chính phủ, các Bộ, ngành, chính quyền địa phương các cấp ban hành
Từ khái niệm về quản lý rủi ro, chính sách, chính sách công, chính sách
quản lý rủi ro được hiểu như sau: “Chính sách quản lý rủi ro là tập hợp các
văn bản qui phạm pháp luật định rõ các quyết định hoạt động của Nhà nước nhằm kiểm soát, giảm thiểu, khắc phục rủi ro”
Tương tự như vậy, chính sách quản lý rủi ro trong sản xuất cá tra được
hiểu là tập hợp các văn bản qui phạm pháp luật định rõ các quyết định hoạt động của Nhà nước nhằm kiểm soát, giảm thiểu, khắc phục rủi ro trong sản xuất cá tra
Đề tài này sẽ chỉ đi sâu nghiên cứu và phân tích về chính sách quản lý rủi ro của Chính phủ trong quản lý rủi ro cho sản xuất cá tra Khung chính sách quản lý rủi ro đề xuất sẽ có nội hàm hỗ trợ các nội dung hoạt động quản
lý theo các nhóm yếu tố gây rủi ro trong quá trình nuôi cá tra nhưng ở mức độ tổng thể
Đối tượng hưởng lợi trực tiếp của chính sách quản lý rủi ro sẽ là người nuôi cá tra Các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu cá tra, các cơ sở cung ứng các yếu tố đầu vào, các đơn vị quản lý và người tiêu dùng sẽ là các đối tượng hưởng lợi gián tiếp từ các chính sách quản lý rủi ro trong sản xuất cá tra
7 Bộ Nội vụ, Học viện Hành chính quốc gia, Viện Nghiên cứu hành chính, Thuật ngữ hành chính, Hà Nội
2002
Trang 241.2 Phân loại rủi ro và các yếu tố gây ra rủi ro trong nông nghiệp
Theo phạm vi ảnh hưởng, OECD (2008) phân chia rủi ro thành 3 loại:
rủi ro riêng biệt, rủi ro tương quan, rủi ro hệ thống (bảng 2)
Bảng 2: Các loại rủi ro trong nông nghiệp và các yếu tố gây rủi ro
Loại rủi ro Rủi ro riêng biệt
(vi mô), tác động đến một cá nhân hoặc hộ
Rủi ro tương quan, ảnh hưởng đến nhóm hộ, cộng đồng
Rủi ro vĩ mô (rủi ro hệ thống) ảnh hưởng đến vùng hoặc quốc gia
Sản xuất Sương muối, bệnh
không truyền nhiễm, mưa đá, mất mát tài sản, rủi
ro về con người
Mưa lớn, lở đất, ô nhiễm
Bão lũ, hạn hán, dịch bệnh, côn trùng gây hại, công nghệ áp dụng hàng loạt
những đòi hỏi mới trong công nghiệp thực phẩm
Thay đổi giá đầu vào, đầu ra do các
cú sốc, do chính sách thương mại, thị trường mới được thành lập và các thay đổi nội sinh khác của thị trường
Tài chính Thay đổi thu nhập
từ nguồn khác (phi nông nghiệp)
sách lãi suất, tài sản tài chính, tiếp cận tín dụng
Thay đổi các chính sách quốc gia, các quy định pháp luật
về môi trường, các chương trình trong nông nghiệp
Nguồn: OECD, 2008
Theo mức độ thiệt hại, OECD (2008) chia rủi ro làm 3 loại: rủi ro
thông thường (normal risk), rủi ro có thể bảo hiểm (insurable risk) và rủi ro thảm khốc (catastrophic risk) Rủi ro thông thường là những rủi ro xảy ra thường xuyên nhưng không gây thiệt hại quá lớn cho các cá nhân như ốm đau, mất mát… các cá nhân cần có trách nhiệm tự quản lý các loại rủi ro này thông qua các chiến lược như đa dạng hóa nguồn thu nhập, đa dạng hóa sản xuất, tiết kiệm và tích lũy Rủi ro liên quan đến nhóm hộ, cộng đồng, vùng…
Trang 25chính sách hỗ trợ của Chính phủ Các rủi ro thảm khốc là các rủi ro mang hậu quả lớn, ảnh hưởng đến phạm vi của một vùng hay quốc gia rất phải cần có sự can thiệp của Chính phủ nhằm giảm bớt thiệt hại cho các cá nhân bị tổn thất
Theo thời gian phát sinh rủi ro, rủi ro có thể bao gồm: rủi ro chưa phát
sinh và rủi ro đã phát sinh Ứng với mỗi loại rủi ro khác nhau mà nông dân, Chính phủ có các chiến lược phù hợp để quản lý rủi ro Đối với rủi ro chưa phát sinh, các chiến lược của nông dân và Chính phủ đều hướng tới mục đích giảm thiểu xác suất xảy ra rủi ro hoặc giảm thiểu tác động của rủi ro Chẳng hạn, nông dân thường áp dụng các biện pháp như đa dạng hóa sản xuất, đa dạng hóa thu nhập hay sử dụng kỹ thuật hiện đại để phòng chống rủi ro Việc hoàn thiện hệ thống cơ sở hạ tầng, cung cấp dịch vụ khuyến ngư cho người sản xuất cá tra, ban hành các quy định quản lý chất lượng đầu vào cũng như đầu ra là các công cụ của Chính phủ nhằm giảm thiểu xác suất xảy ra các biến
cố gây bất lợi cho sản xuất và tác động xấu từ các biến cố Khi rủi ro xảy ra, các chiến lược quản lý rủi ro của người sản xuất cũng như Chính phủ đều nhằm mục đích giảm thiểu các tổn thất, ví dụ, người sản xuất có thể sẽ sử dụng các biện pháp như thu hẹp quy mô sản xuất, bán sớm sản phẩm còn Chính phủ có thể áp dụng các công cụ như di rời, cứu trợ nhân đạo, giảm thuế
để giúp đỡ các cá nhân bị tổn thất
Theo các giai đoạn của sản xuất, rủi ro trong sản xuất cá tra được
phân loại như sau:
Rủi ro trong khâu cung cấp đầu vào bao gồm: những thay đổi bất lợi về giá cả đầu vào (cá giống, thức ăn, thuốc thú y, thuê lao động.); chất lượng đầu vào kém chất lượng và sự khan hiếm của đầu vào - không có khả năng mua được từ thị trường hoặc không tự sản xuất được
Rủi ro trong quá trình nuôi bao gồm rủi ro do dịch bệnh, rủi ro do sử dụng kỹ thuật không phù hợp, rủi ro thị trường, rủi ro do thay đổi chính sách, rủi ro về chất lượng sản phẩm
Rủi ro trong tiêu thụ sản phẩm (cá tra nguyên liệu) bao gồm các rủi ro
về giá sản phẩm, rủi ro do thay đổi về công nghệ, về quy định, chính sách quản lý chế biến cá tra Rủi ro trong tiêu thụ có thể gồm rủi ro do đối tác không tuân thủ hợp đồng, rủi ro do thay đổi các chính sách của nhà nước, các quy định kiểm soát chất lượng sản phẩm thay đổi
Theo các nhóm yếu tố gây rủi ro, trên cơ sở hệ thống hóa các nghiên
cứu của Hardaker và cộng sự (1997), Baquet và cộng sự (1997), Hurne (2000), Musser và Patrick (2001), Ramaswami và cộng sự (2003), OECD (2008) và áp dụng trong điều kiện sản xuất cá tra tại Việt Nam, theo tính chất các yếu tố gây ra rủi ro, các rủi ro trong sản xuất cá tra được phân loại thành các nhóm như sau:
Trang 26Rủi ro thiên nhiên, môi trường: Rủi ro phát sinh do những tác động xấu
của thiên nhiên như lũ lụt, hạn hán, giông bão Trong đó, rủi ro do lũ lụt là rủi
ro thiên nhiên thường xuyên nhất mà người sản xuất cá tra ở ĐBSCL phải hứng chịu Do địa hình thấp hơn mực nước biển, ĐBSCL rất dễ bị ngập lụt do
lũ từ thượng nguồn sông Mekong đổ về và triều cường từ biển Đông tràn vào
hạ nguồn hệ thống sông Cửu Long Do đó, lũ lụt thường gây thiệt hại nặng nề cho sản xuất nông nghiệp nói chung, sản xuất cá tra ở ĐBSCL nói riêng đặc biệt là thời gian gần đây lũ lụt làm thay đổi môi trường nước và do đó cũng thường gây ra các rủi ro cho người nuôi cá Bên cạnh đó, nếu các chất thải sinh hoạt và sản xuất không được quản lý tốt, làm ô nhiễm môi trường sẽ là yếu tố thường xuyên đe dọa gây nên rủi ro cho người nuôi cá tra
Rủi ro dịch bệnh: Rủi ro phát sinh do những tác động xấu khi có dịch
bệnh phát sinh mà không lường trước được Sản xuất cá tra hiện thường
xuyên đối mặt với rủi ro dịch bệnh Dịch bệnh trên cá tra thường xuất hiện trong mùa lũ kéo dài cho đến đầu mùa khô Các loại dịch bệnh phổ biến là gan thận mủ, vàng da, xuất huyết, trắng mang thường lây lan nhanh và gây
tỉ lệ chết cao, thiệt hại kinh tế lớn cho người nuôi cá tra Năm 2010 hầu như
tất cả các vùng nuôi cá tra ĐBSCL đều xuất hiện bệnh dịch, tổn thất rất lớn8
Rủi ro thị trường: Rủi ro phát sinh do những thay đổi không biết trước
về cung cầu hàng hóa trên thị trường gây nên những biến động của giá cả, bao gồm cả giá cả đầu vào và giá cả đầu ra Ví dụ, những thay đổi về giá cá tra trên thị trường quốc tế sẽ gây ra những phản ứng dây chuyền đối với giá cá nguyên liệu trong nước Giá cá tra thế giới giảm sẽ làm giảm giá cá nguyên liệu trong nước và người sản xuất sẽ bị thiệt hại nếu giá cá nguyên liệu thấp hơn giá thành sản xuất Năm 2010, như đã phân tích ở trên, là một ví dụ điển hình về rủi ro giá cả đầu ra đối với sản xuất cá tra Rủi ro giá cả đầu vào liên quan đến sự thay đổi trong giá thức ăn cho cá, giá cá giống, giá xăng dầu… ví
dụ xu thế giá thức ăn tăng liên tục trong giai đoạn 2008-2011 vừa qua đã đẩy mức giá thành cá tra nuôi lên đáng kể, ảnh hưởng tới cả lợi nhuận của người sản xuất và khả năng cạnh tranh của sản phẩm Các rủi ro khác như việc đối tác phá vỡ hợp đồng mua/ bán cũng có thể gây thiệt hại cho cả người nuôi cá hoặc công ty chế biến cá nguyên liệu
Rủi ro kỹ thuật: hậu quả của việc áp dụng các tiến bộ kỹ thuật không
phù hợp Chẳng hạn, người gặp cá tra có thể gặp các rủi ro kỹ thuật như: việc
sử dụng nguồn cá giống chất lượng thấp có thể là nguyên nhân làm dịch bệnh phát sinh, giảm sản lượng; chuẩn bị ao nuôi không tốt, thả cá giống không đúng phương pháp, sử dụng thức ăn kém chất lượng, cho cá ăn không đúng phương pháp, quản lý ao nuôi không tốt đều có thể dẫn đến giảm năng suất
Trang 27Rủi ro tài chính và tín dụng: người sản xuất cá tra có thể gặp các rủi ro
về tài chính và tín dụng như hệ thống tín dụng bị khủng hoảng dẫn đến không vay được vốn, lãi suất tiền vay tăng; doanh nghiệp chế biến chậm thanh toán nên không thu hồi được nợ, không có khả năng trả nợ vay…
Rủi ro về con người đến từ trình độ tổ chức quản lý và kỹ thuật của
người nuôi cá, các hành vi mang tính cá nhân hoặc do sức khỏe bị ảnh hưởng bởi ốm đau, bệnh tật Thêm vào đó, việc thay đổi mục tiêu sản xuất của các cá nhân trong sản xuất kinh doanh cũng được coi là một loại rủi ro gắn với con người khi nó có các ảnh hưởng về lâu dài đối với toàn bộ kết quả và hiệu quả sản xuất kinh doanh Ngoài ra, rủi ro về con người còn bao gồm các rủi ro về mất mát tài sản do trộm cắp, cháy nổ, hoặc các thiệt hại về nhà cửa, vật nuôi gắn với yếu tố quản lý và sử dụng của con người
Rủi ro thể chế chính sách là các rủi ro do các thay đổi về thể chế chính
sách gây tác động xấu đến ngành sản xuất cá tra như thay đổi chính sách đất đai, lãi suất, tài sản tài chính, tiếp cận tín dụng, quản lý môi trường, các quy định về quản lý sản xuất và tiêu thụ cá tra… Ví dụ, sự kiện cá tra bị Quỹ quốc
tế và bảo vệ thiên nhiên (WWF) đưa cá tra vào “danh mục đỏ”- sản phẩm không nên sử dụng tại EU năm 2010-2011 có thể làm sụt giảm sản lượng xuất khẩu và ảnh hưởng đến uy tín ngành sản xuất cá tra của Việt Nam9; sự kiện cá tra xuất khẩu bị Bộ thương mại Hoa Kỳ (DOC) quyết định áp dụng mức thuế chống bán phá giá lên tới 130% trong giai đoạn từ 1/8/2008 đến 31/7/2009 vào tháng 9 năm 2010 có thể làm một số doanh nghiệp xuất khẩu bị thua lỗ10
Điều đáng lưu ý là một số loại rủi ro trên có liên quan đến nhau Ví dụ, rủi ro do thiên nhiên như lũ lụt có thể dẫn đến rủi ro do dịch bệnh vì lũ lụt sẽ làm cho bệnh dịch phát tán nhanh hơn; rủi ro thị trường có thể là một trong
các nguyên nhân gây ra rủi ro về tài chính tín dụng… Vì vậy, trong quản lý
rủi ro cần nhận dạng mối liên hệ giữa các loại rủi ro nhằm ngăn chặn tác động mang tính hệ thống, giảm thiểu thiệt hại
Đề tài đi sâu nghiên cứu các yếu tố gây ra rủi ro ở mức độ ảnh hưởng đến nhóm hộ/cộng đồng và ở mức vùng/quốc gia Các rủi ro được phân loại theo giai đoạn sản xuất - tập trung vào khâu sản xuất cá tra nguyên liệu và phân tích, đề xuất giải pháp quản lí rủi ro theo nhóm các yếu tố gây rủi ro
1.3 Các phương pháp tiếp cận trong quản lý rủi ro
1.3.1 Tiếp cận tổng thể (toàn diện) (Holistic Approach)
Tiếp cận tổng thể được OECD khuyến cáo sử dụng trong quản lý rủi ro của sản xuất nông nghiệp Theo OECD (2009), hệ thống quản lý rủi ro bao gồm 3 thành phần: nguồn rủi ro tác động tới sản xuất nông nghiệp, chiến lược
9 http://vneconomy.vn/20110419092037741P19C9931/ca-tra-viet-nam-lai-bi-choi-
10 nam-se-tim-dong-minh-tai-my.htm
Trang 28http://vneconomy.vn/20100923105747687P0C10/my-ap-thue-chong-ban-pha-gia-ca-tra-viet-quản lý rủi ro của nông dân và công cụ http://vneconomy.vn/20100923105747687P0C10/my-ap-thue-chong-ban-pha-gia-ca-tra-viet-quản lý rủi ro của Chính phủ Một tiếp cận phù hợp để phân tích, đánh giá các vấn đề quản lý rủi ro sẽ bao gồm 3 bước tuyến tính: 1) đo lường các rủi ro cần quản lý; 2) sử dụng thông tin thu thập được từ bước 2 để xác định các chiến lược quản lý rủi ro cho nông dân, 3) Chính phủ ra quyết định các chính sách phù hợp để hoàn thiện các chiến lược quản lý rủi ro của nông dân Đây là tiếp cận tuyến tính được biểu hiện bằng đường thẳng như Hình 3
Hình 3: Tiếp cận tuyến tính trong quản lý rủi ro
Tuy vậy, về bản chất, mối quan hệ giữa các yếu tố trên không phải là mối quan hệ tuyến tính mà là mối quan hệ đa chiều do vậyquản lý rủi ro không thể thực hiện tuần tự từng bước từ đánh giá nguồn rủi ro đến chiến lược của nông dân ứng phó với từng loại rủi ro rồi đến chính sách của Chính phủ trong quản lý rủi ro Các yếu tố trên có mối quan hệ đa chiều, được thể hiện qua Hình 4
Nguồn: OECD, 2009
Hình 4: Tiếp cận toàn diện trong quản lý rủi ro
Hệ thống quản lý rủi ro bao gồm các yếu tố có mối quan hệ đa chiều với nhau Chẳng hạn, chính sách của Chính phủ trong quản lý rủi ro sẽ tác động đến chiến lược của nông dân và tác động đến yếu tố gây rủi ro Ví dụ, các chính sách hữu hiệu của Chính phủ về bảo hiểm nông nghiệp có thể sẽ kích thích sự phát triển của thị trường bảo hiểm, kích thích người sản xuất sử dụng các dịch vụ bảo hiểm và khi rủi ro xảy ra thì tác động của chúng đến sản xuất sẽ bị giảm thiểu Mặt khác, chính sách quản lý rủi ro của Chính phủ bị tác động bởi chiến lược của nông dân và yếu tố gây rủi ro Dựa vào đánh giá
của Chính phủ
của nông dân
Chính sách của Chính phủ
Trang 29tố sẽ dẫn đến sự thay đổi của các yếu tố còn lại.Sự phản hồi giữa các yếu tố trong hệ thống sẽ dẫn đến sự điều chỉnh đồng thời của các yếu tố này Việc sử dụng các công cụ, các biện pháp quản lý rủi ro bị quyết định bởi cả hệ thống bao gồm bản chất của các loại rủi ro, mối liên quan giữa các loại rủi ro với nhau, hành động của nông dân, sự điều tiết của thị trường và hành động của
chính phủ Vì vậy, khi xây dựng chính sách quản lý rủi ro, không thể tách rời
chính sách của Chính phủ với chiến lược của nông dân và yếu tố gây rủi ro
mà phải xem xét chúng trong mối quan hệ tác động đan xen lẫn nhau
Tiếp cận tổng thể trong quản lý rủi ro trong sản xuất cá tra sẽ cho phép các nhà hoạch định chính sách về quản lý rủi ro nhìn nhận chính sách quản lý rủi
ro trong mối quan hệ đa chiều giữa chính sách của Chính phủ, chiến lược của nông dân và yếu tố gây rủi ro
1.3.2 Tiếp cận ngành hàng (Sector Chain Approach) trong chính sách quản lý rủi ro trong sản xuất cá tra
Mặc dù, sản xuất cá tra chỉ là một khâu trong tổng thể chuỗi ngành hàng cá tra tuy nhiên việc đề xuất chính sách cho khâu này không thể tách rời khỏi các tác động từ khâu cung ứng yếu tố đầu vào cũng như tiêu thụ sản phẩm đầu ra Chính vì vậy, tiếp cận ngành hàng trong quản lí rủi ro trong sản xuất cá tra vẫn là cách tiếp cận cần thiết
Có rất nhiều tác nhân tham gia vào chuỗi ngành hàng cá tra từ sản xuất, cung ứng đầu vào đến nuôi, chế biến, tiêu thụ, xuất khẩu cá tra Các rủi ro liên quan đến từng tác nhân, bao gồm cả nguồn gốc, tần suất phát sinh, mức độ thiệt hại cũng như các phản ứng hay các chiến lược đối phó là khác nhau Nếu một khâu trong mắt xích này quản lý rủi ro không tốt sẽ ảnh hưởng đến rủi ro của toàn bộ chuỗi Vì vậy, quản lý rủi ro trong sản xuất cá tra chỉ thực sự đạt hiệu quả khi tất cả các tác nhân tham gia vào chuỗi ngành hàng cá tra đều có chiến lược phù hợp để quản lý rủi ro Sử dụng tiếp cận ngành hàng trong chính sách quản lý rủi ro trong sản xuất cá tra sẽ cho phép các nhà hoạch định chính sách xem xét chiến lược quản lý rủi ro của từng tác nhân trong chuỗi ngành hàng (từ người cung cấp nguyên liệu đầu vào, người nuôi, các cơ sở chế biến, xuất khẩu) để phát hiện các mắt xích yếu và mối liên hệ đan xen giữa các chiến lược quản lý rủi ro của các tác nhân với nhau Đây chính là nguyên nhân giải thích tại sao khi xây dựng chính sách quản lí rủi ro trong sản xuất cá tra vẫn cần phải đề cập đến một số vấn đề thuộc các khâu khác trong chuỗi ngành hàng có liên quan trực tiếp đến nuôi cá tra như cung ứng giống, thức ăn hoặc tiêu thụ cá tra nguyên liệu Từ đó, Chính phủ có can thiệp phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả của chiến lược quản lý rủi ro của người sản xuất hoặc mở rộng phạm vi điều chỉnh của chính sách tới những tác nhân có liên quan trực tiếp đối với khâu sản xuất cá tra nguyên liệu
Trang 301.4 Nội dung của chính sách quản lý rủi ro trong nông nghiệp
Theo Newbery (1989): “chiến lược quản lý rủi ro là cách tiếp cận có
cấu trúc chặt chẽ và mang tính kế thừa trong xác định, đánh giá và quản lý rủi ro” Cùng quan điểm với Newbery nhưng ở phạm vi rộng hơn, Ngân hàng
thế giới (2000), Holzman và Jorgensen (2001), Anderson (2005) đã hệ thống
và sắp xếp các chiến lược quản lý rủi ro trong nông nghiệp theo thời điểm phát sinh của rủi ro, đối tượng áp dụng, cơ chế và công cụ quản lý rủi ro
Bảng 3.Các chiến lược quản lý rủi ro trong nông nghiệp
Cơ chế chính thống
Cơ chế phi chính thống (Chiến lược của nông
dân) Điều tiết bởi thị trường Can thiệp của Chính phủ
Đào tạo về quản lý rủi ro • Hệ thống khuyến
nông
• Cung cấp các yếu
tố đầu vào có chất lượng
• Các chương trình quản lý địch hại
• Xây dựng cơ sở hạ tầng
• Chia sẻ các trang thiết
bị đầu vào, nguồn nước…
• Thiết lập các nhóm hỗ trợ tự phát
• Hợp đồng sản xuất
• Hợp đồng giao sau
• Bảo hiểm
Thay đổi hệ thống thuế
Các chương trình phòng chống chu kỳ kinh tế
Bù đắp bằng thu nhập phi nông nghiệp
• Cứu trợ xã hội
• Dãn nợ, khoanh nợ
• BHNN
• Nới lỏng các quy định về thực phẩm
• Hỗ trợ nguyên liệu đầu vào
• Cấp tiền
Nguồn: Anderson, 2005
Chiến lược quản lý rủi ro đối với các rủi ro chưa phát sinh hướng đến việc giảm xác suất và giảm tác động của rủi ro bao gồm chiến lược chuyển
Trang 31ro và chính sách quản lý khắc phục rủi ro Nội dung chính sách quản lý rủi ro trong sản xuất nông nghiệp sẽ bao gồm các nhóm chính sách chính như sau:
a) Các nhóm chính sách phòng ngừa rủi ro:
- Chính sách bảo hiểm nông nghiệp
- Chính sách hỗ trợ vốn và nguyên liệu đầu vào
1.5 Ý nghĩa của chính sách quản lý rủi ro
Theo OECD (2009), Trần Đình Thao và cộng sự (2010), sự can thiệp
của chính phủ trong quản lý rủi ro là hết sức cần thiết khi các chiến lược quản lý rủi ro của cá nhân và thị trường không có hiệu quả hoặc không đáp ứng được Các chiến lược của nông dân trong quản lý rủi ro có thể giúp nông
dân đối phó được với các rủi ro thông thường - rủi ro xuất hiện với tần suất thường xuyên nhưng không gây thiệt hại lớn như rủi ro do con người, rủi ro
kỹ thuật Tuy vậy, khi thị trường bảo hiểm, thị trường đầu ra và thị trường đầu vào hoạt động không hiệu quả, người sản xuất thiếu thông tin về khả năng xảy
ra các biến cố, chi phí giao dịch cho việc được cung cấp thông tin lớn dẫn đến người sản xuất phải gánh chịu các rủi ro Bên cạnh đó, các chiến lược của nông dân cũng như sự điều tiết của thị trường đều có thể bị vô hiệu trước các rủi ro thảm khốc như thảm họa thiên nhiên, các rủi ro mang tính hệ thống như suy thoái kinh tế toàn cầu Trong trường hợp này, sự can thiệp của Chính phủ
là vô cùng quan trọng nhằm giảm thiểu nguy cơ xảy ra các rủi ro, giảm thiểu thiệt hại, hỗ trợ các cá nhân bị tổn thất, đảm bảo an sinh xã hội Chính vì vậy,
Trang 32các can thiệp của Chính phủ thường hướng đến các loại rủi ro gây tổn thất lớn
và có phạm vi ảnh hưởng rộng
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng sự can thiệp của nhà nước đối với vấn
đề quản lý rủi ro trong nông nghiệp nói chung trong sản xuất cá tra nói riêng
để phòng ngừa và giảm thiểu thiệt hại do rủi ro gây ra, là điều cần thiết thông qua đầu tư vào các hàng hóa công như: hệ thống kiểm soát an toàn
thực phẩm, hệ thống thu nhận thông tin và cảnh báo rủi ro, nhất là những rủi
ro liên quan đến sức khỏe con người (Anderson 1988, 1994, 2001), duy trì sự
ổn định giá cả (Gardener 1985, Quiggin và Anderson 1979), hỗ trợ tín dụng
và đầu tư xây dựng CSHT (Kimura và cộng sự, 2010), triển khai các chương trình bảo hiểm đối với thiên tai (Anderson và Hazell, 1994), hay cứu trợ nhân đạo cho các thảm họa (Kunreuther, 1978; Anderson và Hazell, 1997; Jalan và Ravallion 1999)
Chính phủ can thiệp vào quản lý rủi ro trong sản xuất cá tra thông qua việc ban hành hệ thống chính sách về quản lý rủi ro trong sản xuất cá tra Tuy vậy, trên thực tế, Việt Nam chưa có hệ thống chính sách riêng về quản lý rủi
ro, trong sản xuất cá tra Một số chính sách đã ban hành đề cập đến biện pháp ứng phó với một số rủi ro cụ thể của ngành nuôi trồng thủy sản nói chung mà chưa hướng tới các biện pháp quản lý cho hệ thống các rủi ro của ngành sản xuất cá tra Trong bối cảnh sản xuất cá tra - ngành sản xuất mũi nhọn của thủy sản đang phải đối mặt với không ít các rủi ro, việc ban hành một chính sách quản lý rủi ro trong sản xuất cá tra mang tính toàn diện, hệ thống trở nên hết sức cần thiết Chính sách được ban hành và thực thi sẽ góp phần kiểm soát rủi
ro, giảm thiểu các thiệt hại từ các biến cố cho người sản xuất, các đơn vị chế biến, xuất khẩu và các tác nhân khác tham gia ngành sản xuất cá tra, góp phần phát triển bền vững sản xuất cá tra
1.6 Đặc điểm của chính sách quản lý rủi ro trong sản xuất cá tra
Chính sách quản lý rủi ro trong sản xuất cá tra là chính sách công nên chính sách quản lý rủi ro trong sản xuất cá tra có những đặc điểm chung của chính sách công như: Chủ thể ban hành chính sách công là nhà nước, Chính sách công gồm nhiều quyết định có liên quan lẫn nhau, các quyết định này là những quyết định hành động, có nghĩa là chúng bao gồm cả những hành vi thực tiễn, Chính sách công tập trung giải quyết một vấn đề đang đặt ra trong đời sống kinh tế - xã hội theo những mục tiêu xác định, Chính sách công được nhà nước đề ra nhằm phục vụ lợi ích chung của cộng đồng hoặc của quốc gia11 Do những đặc điểm của hoạt động sản xuất cá tra, chính sách quản lý rủi ro trong sản xuất cá tra còn có một số đặc điểm riêng cơ bản như sau:
- Nguồn lực sử dụng trong thực thi chính sách quản lý rủi ro trong sản xuất cá tra là nguồn lực của Chính phủ, cộng đồng và xã hội Tuy nhiên do rủi
Trang 33- Đối tượng tác động của chính sách trong phạm vi rộng, bao gồm không chỉ người nuôi cá tra mà cả các cơ sở sản xuất kinh doanh các yếu tố đầu vào: giống, thức ăn, thuốc và hóa chất và các cơ sở chế biến xuất khẩu cá tra, các đơn vị quản lý
- Người hưởng lợi là các tác nhân tham gia ngành sản xuất cá tra: người cung cấp đầu vào, người nuôi, các cơ sở chế biến Nếu chính sách tốt sẽ góp phần phát triển ổn định và bền vững ngành hàng cá tra, nâng cao đời sống người nuôi cá, góp phần ổn định xã hội nông thôn
1.7 Các nhân tố ảnh hưởng đến thực thi chính sách quản lý rủi ro trong sản xuất cá tra
Các nhân tố ảnh hưởng đến thực thi chính sách quản lý rủi ro trong sản xuất cá tra cùng không nằm ngoài ba nhóm yếu tố: 1) Các yếu tố liên quan đến bản chất vấn đề và chất lượng hoạch định chính sách; 2) Các yếu tố liên quan đến khả năng thực thi chính sách; 3) Các yếu tố bên ngoài12
a) Các yếu tố liên quan đến bản chất vấn đề và chất lượng hoạch định chính sách bao gồm:
- Tính chất đa dạng của vấn đề chính sách: quản lý rủi ro trong sản xuất
cá tra là một vấn đề phức tạp liên quan đến nhiều tác nhân và cả yếu tố tự nhiên sẽ làm cho quá trình thực hiện chính sách cũng trở nên phức tạp hơn
- Các khó khăn kỹ thuật khi giải quyết vấn đề của chính sách: các quyết định về một vấn đề chính sách gắn liền với những khó khăn kỹ thuật ở các mức độ khác nhau trong quá trình thực hiện chính sách Đối với chính sách quản lý rủi ro trong sản xuất cá tra cần phải hiểu biết tổng hợp các kiến thức
về kinh tế, xã hội, kỹ thuật thì mới có thể xây dựng và tổ chức thực thi chính sách tốt
- Phạm vi đặc thù của các nhóm đối tượng chính sách: Các đối tượng
mà chính sách tác động đến cũng có ý nghía quyết định mức độ khó khăn của việc thực hiện chính sách Phạm vi đối tượng càng rộng thì càng khó điều tiết
vì nó liên quan đến nhiều người, nhiều lợi ích khác nhau Nhóm đối tượng chính sách ở đây tương đối rộng bao gồm từ người sản xuất - cung ứng - tiêu
12 Lê Chi Mai, Những vấn đề cơ bản về chính sách và quy trình chính sách, NXB Đại học quốc gia, Tp Hồ
Chí Minh, năm 2001
Trang 34thụ sản phẩm với quy mô và trình độ khác nhau đến các các tổ chức thực thi chính sách
- Tính rõ ràng và nhất quán của mục tiêu chính sách: Mục tiêu càng rõ ràng, nhất quán thì các tổ chức thực thi càng có phương hướng hoạt động đúng đắn và hiệu quả chính sách sẽ càng cao
- Quy mô của nhóm mục tiêu: Nhóm mục tiêu càng lớn, càng đa dạng thì càng khó tác động đến nhóm mục tiêu như mong muốn
b) Các yếu tố liên quan đến khả năng thực thi chính sách bao gồm:
- Sắp xếp các tổ chức có liên quan: Để thực thi chính sách phải định ra một hệ thống các tổ chức, phân công trách nhiệm và xác lập mối quan hệ giữa các bộ phận trong hệ thống tổ chức một cách hữu cơ và hợp lý thì mới có thể thực hiện tốt chính sách ban hành
- Quan hệ giữa các tổ chức cùng tham gia thực thi chính sách: Hiệu quả của việc thực hiện chính sách cũng phụ thuộc nhiều vào quan hệ giữa các tổ chức và nội bộ tổ chức liên quan đến quá trình thực thi chính sách
- Năng lực cơ quan thực thi chính sách: Thành công của một chính sách phụ thuộc rất lớn vào khă năng của cơ quan thực thi chính sách
- Kinh phí thực thi chính sách: Việc thực thi bất kỳ chính sách nào cũng đòi hỏi phải có một nguồn kinh phí nhất định Đủ kinh phí cho thực hiện chính sách cũng là một yếu tố quyết định sự thành công của chính sách
- Trình độ và năng lực của người phụ trách: Năng lực quản lý, kiến thức, kinh nghiệm của người phụ trách các tổ chức thực thi chính sách có vai trò quan trọng trong thành công của chính sách
- Cách ứng xử của các chủ thể thực thi: Các chủ thể thực thi chính sách cần phải thay đổi cách ứng xử và hành vi của mình theo yêu cầu của chính sách mới đảm bảo chính sách được thực thi tốt
- Thủ tục hành chính: Thủ tục hành chính tạo ra môi trường thực thi chính sách Các thủ tục hành chính cần tạo ra trình tự ổn định và rành mạch trong hoạt động quản lý để không cản trở hoạt động thực thi chính sách
c) Các yếu tố bên ngoài tác động vào quá trình thực thi chính sách gồm:
- Bối cảnh thực tế: Các yếu tố kinh tế, xã hội, chính trị, đièu kiện tự nhiên… thay đổi sẽ tác động quá trình thực thi chính sách, những tác động bên ngoài này đôi khi cũng có tính chất quyết định tới sự thành bại của một chính sách
- Công luận: Sự ủng hộ hay phản đối của công luận có tác động không nhỏ đến việc thực thi chính sách
Trang 35- Thái độ của các nhóm liên quan: Các nhóm liên quan đến chính sách
có thể tác động mạnh mẽ tới tiến trình thực hiện chính sách thông qua sự ủng
hộ hay phản đối chính sách thực thi
- Sự hỗ trợ của các nhà lãnh đạo cấp trên: Chính sách sẽ được thực thi thuận lợi hơn nếu có được sự hỗ trợ của các nhà lãnh đạo cấp trên
Trong quá trình xây dựng và tổ chức thực thi chính sách rất cần chú ý xem xét các yếu tố này để đảm bảo chính sách được thực thi tốt và mang lại hiệu quả cao
1.8 Một số kinh nghiệm quốc tế về chính sách quản lý rủi ro trong sản xuất nông nghiệp
1.8.1 Chính sách quản lý rủi ro trong sản xuất nông nghiệp của một số nước trên thế giới
Rủi ro trong sản xuất nông nghiệp được chia thành nhiều loại trong đó
có 2 loại chính thường xuyên xuất hiện và để lại nhiều hậu quả nặng nề trong lịch sử phát triển của ngành nông nghiệp trên toàn thế giới là rủi ro gây ra bởi các yếu tố thời tiết, dịch bệnh và rủi ro về tài chính Để đối phó với rủi ro, ngay từ xa xưa con người đã hình thành nên các phương thức để hạn chế rủi
ro như thay đổi giống cây trồng phù hợp với điều kiện tự nhiên, nuôi dưỡng
và phát triển các thiên địch để đối phó với dịch bệnh… Ngày nay, khi sản xuất nông nghiệp đã trở thành ngành sản xuất hàng hóa với năng suất cao và thị trường rộng nhưng vẫn phải đối phó với những rủi ro ngày càng nhiều hơn
do các biến động của thị trường, môi trường sinh thái, khí hậu nên việc đề phòng và đối phó với rủi ro ngày càng cần được chú trọng và chính sách quản
lý rủi ro là một công cụ không thể thiếu trong quá trình quản lý rủi ro Chính sách quản lý rủi ro ở một số nước tập trung vào các nhóm nội dung như sau:
a) Chính sách hỗ trợ xây dựng hệ thống theo dõi cảnh báo rủi ro
Tại Mỹ, cơ quan Khí tượng quốc gia thiết lập mạng lưới các trạm theo dõi thời tiết tại 3 bang bao gồm Alabana, Florida và Georgia với hệ thống dữ liệu lịch sử trong hơn 50 năm tập trung vào sự thay đổi của nhiệt độ cao nhất
và thấp nhất hàng tháng, thay đổi của lượng mưa,… Tất cả các thông tin này
sau đó sẽ được xử lý và cập nhật lên trang Web với tên gọi AgClimate Tại
trang này, các dự báo về loại đất trồng, thời vụ … cho từng loại cây trồng như: đậu, lúa mì, cà chua… được đưa ra Ngoài ra, các dự báo về sản lượng cho từng vùng và thị trường tiêu thụ cũng được đưa ra Từ đây, người sản xuất sẽ tự dự tính được các rủi ro và đưa ra phương hướng kế hoạch sản xuất cho từng vụ Thông qua hệ thống theo dõi này, nhiều người nông dân đã tìm
đượ cho mình hướng hạn chế rủi ro hiệu quả nhất Qua 1 cuộc khảo sát về
AgClimate, nhiều người đã phản hồi thông tin tích cực và đánh giá cao vai trò
của hệ thống theo dõi này trong việc giúp họ đưa ra các quyết định để đối phó
Trang 36với rủi ro Hiện tại, hệ thống này được chuyển giao cho từng bang quản lý để duy trì hoạt động trong lâu dài
b) Chính sách bảo hiểm nông nghiệp
Mỹ có chính sách trợ cấp cho các chương trình bảo hiểm nông nghiệp như chương trình bảo hiểm đa hiểm họa thông qua Chương trình bảo hiểm cây trồng liên bang Trong Chương trình này, chính phủ cung cấp miễn phí Hợp đồng bảo hiểm năng suất thiên tai cơ bản cho toàn bộ diện tích cây trồng Mức bồi thường của hợp đồng cơ bản này là phần tổn thất vượt quá 50% năng suất bình quân của 4 năm trước năm bị tổn thất và tỷ lệ bồi thường bằng 60% giá trị thị trường dự tính Nếu nông dân có thể mua thêm bảo hiểm với mức trách nhiệm cao, Chính phủ sẽ hỗ trợ 38% mức phí Tổng cộng cả phần bảo hiểm miễn phí và phần trợ cấp mua bảo hiểm ở mức trách nhiệm cao hơn, mức hỗ trợ phí bảo hiểm của Chính phủ cho cây trồng trên toàn liên bang lên tới 59% Ngoài khoản hỗ trợ phí bảo hiểm 59% nói trên, Chính phủ liên bang
Mỹ còn hỗ trợ chi phí quản lý cho các Công ty bảo hiểm tham gia vào Chương trình tương đương với 22% tổng phí bảo hiểm và Chính phủ cũng đảm nhận tái bảo hiểm cho các Công ty bảo hiểm
Tỷ lệ hỗ trợ cho bảo hiểm nông nghiệp của Chính phủ Mỹ ngày càng tăng, hiện nay trung bình Chính phủ chịu khoảng 70% còn nông dân chỉ chịu 30% tổng chi phí của Chương trình bảo hiểm Mặc dầu Chính phủ hỗ trợ mạnh như vậy, nhưng chỉ có 300.000 đến 400.000 trong tổng số 3 triệu nông dân toàn liên bang tham gia Chương trình này và chủ yếu là những nông dân
có quy mô sản xuất lớn, có học thức và có đầu tư lớn, còn phần lớn nông dân sản xuất quy mô nhỏ và nghèo hơn đều chưa tham gia
Các chính sách can thiệp của chính phủ Hà Lan cũng tập trung vào việc quản lý các rủi ro mang tính thảm họa bằng các trợ cấp về bảo hiểm, quản lý nước và phòng ngừa dịch bệnh trong sản xuất nông nghiệp Gần đây, các chính sách này được xây dựng theo hướng hỗ trợ sự phát triển của các công
cụ thị trường trong quản lý rủi ro thông qua mô hình hợp tác công-tư trong các chương trình bảo hiểm nông nghiệp và phân định rõ ràng trách nhiệm của chính phủ và trách nhiệm của những người sản xuất
Nhật Bản không có các công ty bảo hiểm tư nhân bởi vì không có một công ty tư nhân nào đủ mạnh về tài chính để chống chọi với sự tàn khốc của các thảm họa tự nhiên, mà chỉ có một chương trình bảo hiểm của Chính phủ Nhật Bản là nước duy nhất thành công trong việc phát triển một chương trình BHNN rộng khắp trên quy mô toàn quốc, với số lượng nông dân tham gia bảo hiểm lớn nhất thế giới (Kunihisa Yoshii,1999) Đây là mô hình bảo hiểm bắt buộc Hệ thống BHNN của Nhật gồm 3 cấp: (1) Cấp địa phương: Tất cả các địa phương đều phải có 1 Hội BHNN (AMRA) Bất cứ một nông dân nào
Trang 37còn lại có thể tái bảo hiểm với các Liên hiệp các Hội BHNN khu vực; (2) Liên hiệp các hội BHNN khu vực có thành viên là tất cả các Hội BHNN trong khu vực Liên hiệp ngoài việc thực hiện tái bảo hiểm cho các Hội, còn hướng dẫn các hội về việc kiểm soát dịch bệnh; (3) Cơ quan tái BHNN Trung ương thực hiện tái bảo hiểm cho các Liên hiệp Về chính sách, Chính phủ Nhật Bản quy định: Nếu khoản đền bù của một Liên hiệp trong một năm nào đó vượt một mức cụ thể nào đó, thì toàn bộ phần vượt trội được lấy từ tài khoản đặc biệt của quốc gia Nếu tài khoản đặc biệt không đủ, ngân sách nhà nước sẽ trực tiếp hỗ trợ khẩn cấp Nhờ sự tổ chức chặt chẽ đó mà Nhật Bản là nước duy nhất có vừa đủ tổng phí bảo hiểm để bồi thường Tuy nhiên Chính phủ Nhật Bản phải hỗ trợ rất nhiều không những phí bảo hiểm (50% trong những năm gần đây) mà còn hỗ trợ cả về chi phí quản lý (phần hỗ trợ này gấp 3,57 lần tổng phí bảo hiểm thu được) (World Bank, 2004).Tuy nhiên, hệ thống bảo hiểm này đang phải đối mặt với một số vấn đề, trong đó nổi bật là sự không thoả mãn về hệ thống của cả những người nông dân có quy mô sản xuất nhỏ và chỉ hoạt động nông nghiệp một phần thời gian với những người
có quy mô sản xuất lớn Những người nông dân có quy mô sản xuất nhỏ, cảm thấy bị miễn cưỡng khi tham gia và đóng tiền bảo hiểm cho chương trình bảo hiểm lúa gạo Còn những người có quy mô sản xuất lớn, thường là những người có kỹ năng sản xuất tốt, bởi vậy họ nghĩ rằng họ phải đóng tiền bảo hiểm cao hơn và nhận được khoản bồi thường ít hơn so với những nông dân
có quy mô sản xuất nhỏ
Mông Cổ thực hiện Bảo hiểm chăn nuôi theo chỉ số vì chăn nuôi là ngành sản xuất quan trọng trong nền kinh tế của nước này Hiện nay Mông
Cổ thực hiện hình thức bảo hiểm theo tỷ lệ chết của gia súc Về chính sách, Chính phủ quy định: (1) Tỷ lệ chết của súc vật dưới 7% thì người chăn nuôi
và Ngân hàng tự chịu; (2) Nếu tỷ lệ chết từ 7% đến dưới 30% thì các Công ty bảo hiểm, tái bảo hiểm thực hiện đền bù thông qua sản phẩm tái bảo hiểm cơ bản (BIP) Chính phủ Mông Cổ cam kết tái bảo hiểm không hạn chế cho các công ty bảo hiểm; (3) Nếu tỷ lệ chết từ 30%-100% thì Chính phủ tài trợ từ hệ thống an sinh xã hội với điều kiện người chăn nuôi có mua bảo hiểm Với loại hình bảo hiểm trên đây, Chính phủ Mông Cổ phải chịu rủi ro kép: Một là, chịu trách nhiệm tái bảo hiểm cho các Công ty bảo hiểm; Hai là, chịu toàn bộ phần tổn thất vượt quá mức 30% của các nông dân đã mua bảo hiểm
Chính phủ Thái Lan đã cung cấp một Chương trình BHNN cho nông dân vào năm 1978 nhưng đã thất bại vào năm 1981 vì không có sự tham gia của người dân Nguyên nhân của sự thất bại này là không có những nhận thức đúng đắn của người dân về BHNN, phí BHNN quá cao và cũng chưa có một khung pháp lý rõ ràng cho việc thực thi BHNN Sau thất bại đó, chính phủ Thái Lan đã đầu tư một cách thỏa đáng và có những chiến lược đúng đắn: Quỹ hỗ trợ nông nghiệp ra đời năm 1998 cùng với nhiều các biện pháp hiệu
Trang 38quả được đưa ra để chống lại các rủi ro cho nông dân Hiện tại Thái Lan đã gặt hái được nhiều thành công trong chương trình BHNN
Trung Quốc là nước đông dân nhất thế giới với hơn 1,3 tỷ dân, trong đó khoảng 328 triệu người là lao động nông nghiệp Giải quyết bảo hiểm trong nông nghiệp trở thành vấn đề nan giải của Nhà nước khi hàng năm có khoảng hơn 20% đất nông nghiệp bị ảnh hưởng bởi các thảm họa tự nhiên, ước tính thiệt hại khoảng 18 tỷ đô la năm 2004 (World Bank, 2007) Trung Quốc chưa
có Chương trình BHNN quốc gia Thị trường BHNN ở Trung Quốc còn rất non yếu Năm 2005, tổng phí BHNN do các doanh nghiệp kinh doanh BHNN thu được là 91 triệu USD (chỉ chiếm 0,6% tổng số phí bảo hiểm phi nhân thọ) Nhận thức được tầm quan trọng của BHNN, năm 2007 Chính phủ Trung quốc đã phân bổ 250 triệu USD để thực hiện thí điểm BHNN ở 6 tỉnh trong cả nước (World Bank, 2007)
Tại Ấn Độ, bên cạnh chương trình bảo hiểm của Chính phủ, một số Công ty bảo hiểm của Ấn Độ đã tiến hành bảo hiểm theo chỉ số lượng nước mưa, làm cho thị trường bảo hiểm phát triển rất nhanh Trong năm 2003 mới
có 230 hộ nông dân tham gia bảo hiểm lượng nước mưa cho hai loại cây trồng, nhưng đến năm 2004 đã có 20.000 hộ tham gia và tới năm 2005 đã có 250.000 hộ nông dân trên toàn quốc tham gia cho rất nhiều loại cây trồng Nguyên nhân chính cho sự phát triển của loại hình bảo hiểm chỉ số này là do tính minh bạch và hạn chế được việc trục lợi bảo hiểm cũng như lựa chọn đối
nghịch của người tham gia bảo hiểm [R.A.J Roberts, 2005]
c) Chính sách hỗ trợ về thuế và xây dựng quỹ dự phòng thông qua hệ thống thuế
Chính phủ Mỹ đã sử dụng các chính sách ưu đãi về thuế cho nông dân Hàng năm có 25% chủ trang trại được miễn giảm thuế thu nhập, 50% chủ trang trại được hưởng mức thuế thấp 15% Đồng thời tại Mỹ, có một hệ thống
hỗ trợ những người nông dân có nguồn thu nhập chủ yếu từ nông nghiệp
thông qua “Đạo luật cứu trợ người nộp thuế” năm 1997 Theo đó, họ có thể
lựa chọn chuyển từ việc đóng 1 loại thuế nông nghiệp theo quy định 3 năm một lând sang việc đóng một khoản thuế với tỷ giá thích hợp từng năm Qua
đó, người nông dân có thể chỉ phải trả ít thuế hơn việc đóng thuế thu nhập trung bình hàng năm nếu thuế suất cận biên thấp trong suốt 1 năm đó hoặc các năm tiếp theo (USDA ERS 1998b) Một hệ thống khác cũng được quốc hội Mỹ (USDA ERS, 1999a) sử dụng nhằm cho phép người nông dân gửi 20% thu nhập hợp pháp từ nông nghiệp của họ vào tài khoản đặc biệt với tên gọi “Quản lý rủi ro trang trại và chi nhánh” (FARRM) trong suốt những năm
họ có thu nhập cao Do vậy, người nông dân có một khoản dự trữ mà họ có thể rút ra trong những năm mà có mức thu nhập dưới mức bình thường Trong suốt những năm đóng tiền người nông dân sẽ được hoãn đóng các khoản thuế
Trang 39động đến chi tiêu của người nông dân vì còn giúp họ có được 1 khoản tích trữ tốt để phòng ngừa cho các rủi ro trong tương lai
Chính phủ New Zealand sử dụng công cụ thuế để giúp nông dân có thể
ổn định thu nhập Chương trình Công bằng hóa Thu nhập được cung cấp cho những nông dân có mức thu nhập từ các hoạt động nông nghiệp lớn hơn 50% tổng thu nhập của họ Theo đó, họ có thể gửi một phần thu nhập trong năm của họ vào một tài khoản đặc biệt (tài khoản công bằng hóa thu nhập) và số tiền gửi này được miễn thuế thu nhập khi nó vẫn nằm trong tài khoản này, và được hưởng mức lãi suất là 3%/năm với thời hạn gửi phải trên 12 tháng nhưng không được quá 5 năm Một chương trình tương tự cũng được áp dụng cho các trường hợp nông dân gặp các rủi ro Tuy nhiên, trong trường hợp gặp các rủi ro thì số tiền được gửi vào tài khoản dành cho các rủi ro này sẽ được hưởng mức lãi suất cao hơn nhiều, là 6,5%/năm nhưng thời hạn gửi không quá 12 tháng
Chính phủ Hà Lan cũng hỗ trợ nông dân trong việc giảm thiểu tác động tiêu cực của rủi ro qua các công cụ chính sách về thuế và các mạng an sinh xã hội, mặc dù các công cụ này cũng không hoàn toàn có mục tiêu vào lĩnh vực nông nghiệp
d) Chính sách hỗ trợ bán hàng và marketing sản phẩm
Các chính sách can thiệp của chính phủ New Zealand hướng đến mục tiêu là duy trì môi trường kinh tế cạnh tranh và tạo ra càng ít các trở ngại đối với điều chỉnh kinh tế càng tốt Trong khung pháp lý kinh tế vĩ mô ổn định và được định hướng thị trường, nông dân New Zealand có sự linh hoạt đáng kể trong việc thích nghi sản xuất của hộ thông qua việc tiếp cận dễ dàng với các thị trường
Dự án thử nghiệm phát triển một chương trình cung cấp tài chính và marketing sản phẩm để cung cấp dịch vụ bảo hiểm giá cả cho ngành ca cao ở Ghana nhằm giảm thiểu rủi ro giá cả cho nông dân trên thị trường quốc tế và tăng cường năng lực cho Công ty trách nhiệm hữu hạn Kuapa Kokoo (KKL) KKL phối hợp với Hiệp hội Nông dân Kuapa Kokoo, KKL hỗ trợ việc sản xuất và tiêu thụ của khoảng 30 đến 40 nghìn tấn ca cao (xấp xỉ 10% tổng sản lượng quốc gia) Chương trình này sẽ khống chế rủi ro cho nông dân sản xuất nhỏ và nhà xuất khẩu trong (i) thời kỳ chuyển dần sang tự do hoá (hiện tại 30% sản lượng có thể được tự do xuất khẩu) và (ii) sau khi ngành ca cao tự do hoá hoàn toàn Dự án thí điểm đầu tiên dự kiến sẽ áp dụng cho 30% sản lượng
ca cao mà Kuapa đã được cấp giấy phép xuất khẩu Dự án sẽ tập trung vào các thoả thuận tài chính trong thời vụ chính, từ tháng 10 năm trước tới tháng 2 năm sau, để bảo hiểm 10.000 tấn trong hai thời kỳ, từ tháng 9 tới tháng 11 và
từ tháng 12 đến tháng 3 Do giá sàn trong nước mà Tổng công ty Marketing Cacao (CMC) đưa ra vẫn tồn tại, nên chiến lược tối ưu là áp dụng bảo hiểm giá để bảo hiểm giá FOB hoặc lợi nhuận xuất khẩu Điều này là cần thiết vì
Trang 40với tư cách là một người mới gia nhập thị trường, lúc đầu KKL có thể phải chịu đối xử phân biệt kém hơn so với công ty giao hàng đã có tên tuổi là CMC Điều này cũng có nghĩa là KKL có thể gia nhập thị trường xuất khẩu
và tiếp cận nguồn tài chính ưu đãi hơn, giúp tăng lợi nhuận công ty và lợi ích sau thu hoạch cho nông dân Thử nghiệm này là một phần trong chiến dịch cải tổ toàn diện ngành ca cao của Ghana
Ban quản lý quốc gia cà phê và ca cao của Cameroon đã kết hợp với Reuter’s tại Abidjan, New York và London để cung cấp thông tin cơ bản về ngành hàng cà phê và ca cao để đưa thông tin tới người trồng cà phê ca cao thông qua đài báo và truyền hình Nhờ vậy mà các rủi ro cơ bản do thiếu thông tin về gia như thói quen tiêu dùng tại các thị trường trên thế giới, chênh lệch tỷ giá…
đ) Chính sách hỗ trợ xây dựng các tổ chức đại diện về quyền lợi cho người nông dân
Tại Cameroon, đã hình thành các công cụ chính để bảo vệ người sản xuất và hạn chế các rủi ro như sau: Hiệp hội Hợp tác xã của người nông dân vùng Tây Nam (SOWEFCU), Liên đoàn Liên hiệp sản xuất Ca cao của Mbam
và Inoubou (FUPROCAM) Các tổ chức này được coi như là đại diện của người nông dân trồng ca cao giúp người nông dân liên kết thành một khối có tính pháp lý và giảm thiểu các rủi ro khi hoạt động sản
e) Chính sách đưa thông tin giá cả và thị trường tới người nông dân
Chính phủ Mỹ đã đầu tư 196 triệu USD để nâng cấp mạng số hóa hệ thống internet cho nông dân
Chính phủ New Zealand có chính sách giải quyết các vấn đề do thông tin bất đối xứng gây ra thông qua các nghiên cứu, phân tích và dự báo thị trường và cung cấp/phổ biến thông tin
Chính phủ Hà Lan cũng quan tâm đến việc nghiên cứu rủi ro, cung cấp các thông tin và đào tạo nông dân để họ có thể nắm bắt và vận dụng có hiệu quả các công cụ quản lý rủi ro trong hoạt động nông nghiệp của mình
g) Chính sách cải tiến kỹ thuật sản xuất và xây dựng cơ sở hạ tầng, dịch vụ cho sản xuất
Chính phủ Mỹ thông qua các khoản đầu tư cho các dịch vụ, CSHT, các hoạt động nghiên cứu và triển khai trong nông nghiệp để giúp nông dân Mỹ quản lý rủi ro tốt hơn Mỹ đã sử dụng nguồn kinh phí rất lớn dành cho lĩnh vực nông nghiệp Năm 2004 tổng các dịch vụ và hạng mục đầu tư cho nông nghiệp khoảng 74 tỷ USD, trong đó chính phủ hỗ trợ 6,2 tỷ USD Để giúp nông dân tìm kiếm thị trường và thông tin nhanh nhạy