LIÊN HIỆP CÁC HỘI KHOA HỌC VÀ KỸ THUẬT VIỆT NAM TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU MÔI TRƯỜNG VÀ CỘNG ĐỒNG Đề tài “Đánh giá thực trạng về sự tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản của đồng bào dân tộc t
Trang 1LIÊN HIỆP CÁC HỘI KHOA HỌC VÀ KỸ THUẬT VIỆT NAM
TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU MÔI TRƯỜNG VÀ CỘNG ĐỒNG
Đề tài “Đánh giá thực trạng về sự tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ
bản của đồng bào dân tộc thiểu số vùng trồng cây nguyên liệu
công nghiệp”
BÁO CÁO TỔNG KẾT
Chủ nhiệm đề tài: Nguyễn Ngọc Lý
Người thực hiện : Nguyễn Ngọc Lý
Hà Nội, 2012
Trang 2TÓM TẮT ĐỀ TÀI Tên đề tài:
Đánh giá thực trạng về sự tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản của đồng bào dân tộc thiểu số vùng trồng cây nguyên liệucông nghiệp
vùng Lìa, Hướng Hoá, Quảng Trị
điều kiện chuyển đổi từ nền sản xuất tự cung tự cấp sang mô hình sản xuất hàng hóa cây nguyên liệu công nghiệp
2 Nội dung chính
Đề tài này nhằm cung cấp cơ sở khoa học cho việc xây dựng các chính sách nhằm nâng cao sự tiếp cận các DVXHCB của đồng bào DTTS trong điều kiện chuyển đổi từ nền sản xuất tự cung tự cấp sang mô hình sản xuất hàng hóa cây nguyên liệu công nghiệp Nghiên cứu trường hợp vùng Lìa huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng là: phương pháp nghiên cứu tổng quan kết hợp với phương pháp thực địa (điều tra bảng hỏi, phỏng vấn sâu và các cuộc thảo luận nhóm tập trung) được tổ chức thực hiện tại 8 xã vùng Lìa huyện Hướng Hoá, Quảng Trị và phương pháp phân tích SWOT
3 Kết quả đạt được
Hướng Hoá, Quảng Trị và phân tích được các yếu tố anh hưởng liên quan đến dịch vụ
xã hội cơ bản thông qua các chuyên đề theo yêu cầu của đề cương
Trang 3- Báo cáo tổng kết đã tổng hợp và phân tích mọi mặt yếu tố tác động đến dịch vụ xã hội cơ bản Báo cáo là cơ sở để đƣa ra các khuyển nghị Và là cơ sở khoa học cho việc xây dựng các chính sách nhằm nâng cao sự tiếp cận các DVXHCB của đồng bào DTTS trong điều kiện chuyển đổi từ nền sản xuất tự cung tự cấp sang mô hình sản
Trang 4MỤC LỤC
TÓM TẮT ĐỀ TÀI 1
MỤC LỤC 3
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 5
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU 6
PHẦN 1: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ NGHIÊN CỨU 8
1.1 Giới thiệu: 8
1.2 Câu hỏi nghiên cứu 9
1.4 Cách tiếp cận nghiên cứu 10
1.5 Phương pháp nghiên cứu 12
1.6 Công tác triển khai thực hiện 14
PHẦN 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 17
2.1 Tổng quan một số lý luận về dịch vụ xã hội cơ bản 17
2.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu về DVXHCB trên thế giới 20
2.3 Tình hình nghiên cứu trong nước 23
2.4 Tổng quan về chính sách và thực hiện dịch vụ xã hội cơ bản ở Việt Nam 27
2.5 Tổng quan về dịch vụ xã hội cơ bản đối với vùng miền núi dân tộc thiểu số ở nước ta 29
2.6 Những nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận các DVXHCB của DTTS 31
2.6.1 Chính sách của nhà nước về DVXHCB 31
2.6.2 Các cơ sở DVXHCB 31
2.6.3 Người sử dụng DVXHCB 32
PHẦN 3 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VỀ SỰ TIẾP CẬN DỊCH VỤ XÃ HỘI CƠ BẢN VÙNG TRỒNG CÂY NGUYÊN LIỆU CÔNG NGHIỆP VÙNG LÌA, HƯỚNG HOÁ, QUẢNG TRỊ 34
3.1 Các đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hộ Vùng Lìa, Hướng Hóa, Quảng Trị 34
Trang 53.2 Đánh giá thực trạng về sự tiếp cận DVXHCB của đồng bào DTTS vùng Lìa,
Hướng Hoá, Quảng Trị 38
3.2.1 Dịch vụ Y tế 38
3.2.2 Dịch vụ giáo dục 47
3.2.3 Nước sạch 56
3.2.4 Dịch vụ Giải trí, Văn hoá, Thông tin 59
3.2.5 Cơ sở hạ tầng cơ bản (Điện, đường giao thông) 64
PHẦN 4 PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN THỰC TRẠNG SỰ TIẾP CẬN CÁC DỊCH VỤ XÃ HỘI CƠ BẢN CỦA DTTS VÙNG TRỒNG CÂY NGUYÊN LIỆU CÔNG NGHIỆP 70
4.1 Sự đầu tư của nhà nước 70
4.2 Các chính sách hỗ trợ giáo dục, y tế 71
4.3 Tác động của việc chuyển thành vùng chuyên canh tập trung cây sắn 72
4.4 Điểm mạnh 74
4.5 Điểm yếu 75
4.6 Cơ hội 76
4.7 Thách thức 77
PHẦN 5 ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO KHẢ NĂNG TIẾP CẬN DỊCH VỤ XÃ HỘI CƠ BẢN CỦA DÂN TỘC THIỂU SỐ VÙNG TRỒNG CÂY NGUYÊN LIỆU CÔNG NGHIỆP 78
5.1 Khuyến nghị về chính sách 78
5.2 Khuyến nghị về huy động nguồn lực 80
5.3 Khuyến nghị về tổ chức thực hiện 80
TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ASXH An sinh xã hội
BHXH Bảo hiểm xã hội
BHYT Bảo hiểm y tế
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1: Thu nhập bình quân năm 2010 của hộ
Bảng 2: Loại nhà ở của hộ gia đình
Bảng 3: Nguyện vọng của người dân về chất lượng cán bộ y tế
Bảng 4: Nguyện vọng của hộ gia đình đối với dịch vụ y tế xã
Bảng 5: Đánh giá về số lượng phòng học ở vùng Lìa
Bảng 6: Đánh giá về chất lượng phòng học ở vùng Lìa
Bảng 7: Nguyện vọng của người dân về giáo viên tại địa phương
Bảng 8: Cách tiếp cận giải quyết khi học sinh bỏ học
Bảng 9: Nguyện vọng của gia đình với viêc đi học của con em
Bảng 10: Tình hình chứa nước của các hộ gia đình
Bảng 11: Giải pháp để mỗi hộ gia đình đều có thể dung nước sạch
Bảng 12: Phương án nhằm đảm bảo chất lượng hệ thống cấp nước
Bảng 13: Tình hình sử dụng của nhà sinh hoạt cộng đồng thôn
Bảng 14: Tình hình sử dụng loại hình truyền thông của hộ gia đình
Bảng 15: Ngôn ngữ sử dụng khi tiếp cận truyền thông
Bảng 16: Nguyện vọng của nhân dân trong việc tiếp cận thông tin
Bảng 17: Đánh giá của người dân về chất lượng đường giao thông ở vùng Lìa qua các năm
Bảng 18: Tình hình sử dụng điện ở các hộ gia đình vùng Lìa
Biểu đồ 1: Nếu khám, chữa bệnh mất nhiều kinh phí, các hộ gia đình sẽ
Biểu đồ2: Tình hình đi học của học sinh vùng Lìa
Trang 8Biều đồ 3: Chất lượng phòng học (a) Bậc Mầm non; (b) Bậc Tiểu học: (c) Bậc THCS Biểu đồ 4: Nhận thức của hộ về sự cần thiết cho con đi học
Biểu đồ 5: Đối tượng chủ yếu quản lý bể chứa nước sạch ở địa phương
Hình 1: Thảo nhóm tập trung
Hình 2:Hội thảo tham vấn
Hình 3: Trường THCS xã Thuận đạt chuẩn quốc gia
Hình 4: Trường Mầm non xã Thuận
Trang 9PHẦN 1: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Giới thiệu:
Trong thập kỷ vừa qua, chương trình mục tiêu xóa đói giảm nghèo giai đoạn 1998 –
2000 và tiếp đó là chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn miền núi và vùng sâu, vùng xa (gọi tắt là Chương trình 135) cùng với hàng loạt các chính sách phát triển vùng đã tạo tiền đề cho sự phát triển kinh tế cũng như nâng cao chất lượng các dịch vụ cơ bản xã hội cho các vùng đồng bào dân tộc thiểu số Hàng loạt các biện pháp được thực hiện nhờ trợ giá trợ cước và hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm, chương trình giáo dục đào tạo, chương trình quốc gia về nước sạch và vệ sinh môi trường, cải thiện cơ sở hạ tầng và điều kiện dịch vụ y tế Tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản (y tế, giáo dục, văn hóa, điện, giao thông) là tiêu chí quan trọng để xác định chất lượng công tác xóa đói giảm nghèo và phát triển nông thôn các vùng dân tộc thiểu số
Đó cũng là những tiêu chí cơ bản trong chương trình mục tiêu quốc gia phát triển nông thôn mới 2010 – 2020 (1)
Với các vùng dân tộc thiểu số, do xuất phát điểm kinh tế xã hội còn thấp, một bộ phận người dân chưa được tiếp cận với các điều kiện phát triển, nhất là các dịch vụ xã hội
cơ bản, nên nghèo đói vẫn là vấn đề lớn và đầy thách thức Các vùng đồng bào dân tộc thường ở vùng núi sâu và xa, những nơi luôn tiềm ẩn yếu tố thiên tai, thiếu đất sản xuất và nhà ở, đường xá khó khăn, sự tiếp cận các dịch vụ xã hội luôn nan giải hơn các vùng khác (2)
Nỗ lực phát triển nông thôn, trong đó điều chỉnh phát triển cơ cấu kinh tế từ thuần nông sang công nghiệp hóa nông thôn là đường lối chủ trương của Đảng và Nhà nước đang có được những hướng đi khả quan, như việc hình thành nhiều vùng cây chuyên canh tập trung cung cấp nguyên liệu cho các ngành công nghiệp hoặc xuất khẩu Điều này đã giúp nông thôn tham gia vào kinh tế thị trường một cách hữu cơ Ảnh hưởng của kinh tế thị trường dẫn đến thay đổi về mặt quan hệ sản xuất, quan hệ xã hội, tạo một bộ mặt mới cho nông thôn Những thay đổi nhanh chóng về kinh tế cũng tạo ra sự phân hóa về thu nhập, tạo ra hoặc đào sâu về sự bất bình đẳng xã hội cũng như các rủi
ro khác Tính bất ổn và sự phụ thuộc vào sự phát triển công nghiệp thương mại cũng
Trang 10hàm chứa nhiều rủi ro tiềm ẩn về an sinh xã hội Tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản được nâng cao nhưng cũng đối mặt với nhiều thách thức mới
Nghiên cứu phân tích và đánh giá thực trạng về sự tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản của dân tộc thiểu số các vùng chuyên canh tập trung nguyên liệu công nghiệp sẽ giúp
có được sự hiểu biết sâu sắc hơn sự biến đổi năng động về kinh tế xã hội trong các khu vực này, nhận diện các cơ hội do sự thay đổi cơ cấu kinh tế, xác định những thách thức tiểm ẩn để giúp các cơ quan, các nhà quản lý địa phương ra chính sách, hoạch định và lên kế hoạch phát triển các dịch vụ xã hội cơ bản, đảm bảo sự bảo vệ phúc lợi tối thiểu cho người dân, đặc biệt là dân tộc thiểu số là công tác quan trọng nhằm đảm bảo hiệu quả bền vững cho công tác xóa đói giảm nghèo
Đó cũng là tiền đề để đẩy mạnh công nghiệp hóa nông thôn, từng bước đưa đời sống của nông dân thiểu số các vùng trồng cây công nghiệp chuyển sang mức sống trung lưu, thực hiện công tác xây dựng nông thôn mới của địa phương và của nhà nước
1.2 Câu hỏi nghiên cứu
Câu hỏi nghiên cứu chung
Câu hỏi 1: Thực trạng về sự tiếp cận DVXHCB của người DTTS vùng trồng cây
nguyên liệu công nghiệp như thế nào?
Câu hỏi 2: Sự chuyển vùng chuyên canh tập trung cây sắn tác động tới sử dụng và tiếp
cận DVXHCB như thế nào ở vùng Lìa, huyện Hướng Hoá, tỉnh Quảng Trị?
Câu hỏi 3: Cần có các chính sách và biện pháp cụ thể như thế nào để phát huy các
khía cạnh tích cực, giảm thiểu rủi ro, tối ưu hoá được sự tiếp cận DVXHCB của đồng bào DTTS vùng chuyên canh tập trung cây nguyên liệu công nghiệp?
Câu hỏi nghiên cứu cụ thể
Câu hỏi 1: Sự tiếp cận DVXHCB của người dân là gi?
Câu hỏi 2: Tác động của vùng chuyên canh tập trung cây công nghiệp vùng Lìa huyện
Hướng Hoá tỉnh Quảng Trị đến sự tiếp cận DVXHCB của người dân như thế nào?
Câu hỏi 3: Thực trạng sự tiếp cận các DVXHCB của người DTTS vùng Lìa huyện
Hướng Hóa tỉnh Quảng Trị là gi? (Đường giao thông, điện, trạm y tế, trường học, nước sạch, văn hoá thông tin)
Trang 11Câu hỏi 4: Các yếu tố ảnh hưởng tới sự tiếp cận các DVXHCB của người DTTS vùng
Lìa huyện Hướng Hóa tỉnh Quảng Trị là gì?
Câu hỏi 5 Những giải pháp nào nhằm nâng cao sự tiếp cận các DVXHCB của người
DTTS vùng Lìa, huyện Hướng Hoá,Quảng Trị
1.3 Mục tiêu chung của đề tài:
Mục tiêu chung của đề tài là nhằm cung cấp cơ sở khoa học cho việc xây dựng các chính sách nhằm nâng cao sự tiếp cận các DVXHCB của đồng bào DTTS trong điều kiện chuyển đổi từ nền sản xuất tự cung tự cấp sang mô hình chuyên canh tập trung cây công nghiệp thông qua nghiên cứu trường hợp vùng Lìa huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị
Các mục tiêu cụ thể của đề tài bao gồm đánh giá thực trạng sự tiếp cận DVXHcủa người dân và DTTS vùng Lìa, huyện Hướng Hóa tỉnh Quảng Trị, phân tích và xác định yếu tố liên quan đến thực trạng đó Trên cơ sở đó đề xuất giải pháp nhằm nâng cao sự tiếp cận DVXHCB của đồng bào DTTS trong điều kiện chuyển đổi từ nền sản xuất tự cung tự cấp sang mô hình vùng chuyên canh tập trung cây nguyên liệu công nghiệp
1.4 Cách tiếp cận nghiên cứu
Đề tài được thực hiện dựa trên lý luận về sàn ASXH của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) đảm bảo quyền cơ bản của con người, dựa vào lý thuyết về nhà nước và phúc lợi
xã hội và dựa vào lý thuyết tiêu dùng cá nhân và kinh tế học, cụ thể như sau:
Thứ nhất: Dựa trên lý luận về sàn ASXH của ILO cần có sự đảm bảo quyền cơ bản
của con người và quyền được tiếp cận tốt với DVXHCB của người dân Để đảm bảo
cơ hội hướng tới công bằng cho mọi người, cần chú trọng đặc biệt đến các nhóm yếu thế, người dân tộc thiểu số vùng khó khăn Cách tiếp cận này bao gồm nghiên cứu cần xác định được thu nhập cơ bản và quyền tiếp cận các dịch vụ xã hội cần thiết của người DTTS
Thứ hai: Theo thuyết nhà nước và phúc lợi xã hội, nghiên cứu sẽ dựa trên cách tiếp
cận vai trò của Nhà nước trong việc cung cấp dịch vụ theo mô hình quản lý công mới
Đó là, Nhà nước coi người dân là khách hàng trong việc cung cấp dịch vụ công và Nhà
Trang 12nước giữ vai trò chỉ đạo định hướng và quản lý đối với cung cấp DVXHCB Nhà nước
có thể chuyển dịch vụ cung cấp này cho khu vực tư nhân, tạo môi trường khuyến khích khu vực tư nhân cung cấp các DVXHCB nhằm huy động các nguồn lực của xã hội đáp ứng nhu cầu DVXHCB của người dân Với cách tiếp cận này, vấn đề đặt ra là cần làm thế nào đáp ứng được sự hài lòng cao nhất của người dân khi họ sử dụng DVXHCB
Đó là nhu cầu được sử dụng các DVXHCB một cách thuận tiện, chất lượng dịch vụ tốt, chi phí dịch vụ phù hợp và tuỳ từng loại DVXHCB cụ thể phụ thuộc vào thái độ phục vụ tận tình của người cung cấp dịch vụ Như vậy, theo cách tiếp cận này, nghiên cứu cần chỉ ra được những bất cập về thực trạng tiếp cận DVXHCB của người DTTS vùng trồng cây nguyên liệu công nghiệp, thông qua đánh giá thực trạng sự tiếp cận DVXHCB của người DTTS vùng Lìa huyện Hướng Hoá tỉnh Quảng Trị
Thứ ba: Dựa trên lý thuyết tiêu dùng cá nhân và kinh tế học, đối tượng tác động trực
tiếp đến hiệu quả chính sách về DVXHCB gồm ba nhóm: Nhóm xây dựng chính sách, nhóm thực thi chính sách và nhóm được hưởng lợi chính sách Nhóm xây dựng chính sách bao gồm các cơ quan ban hành chính sách Nhóm thực thi chính sách là nhóm tổ chức thực hiện chính sách (các cơ sở DVXHCB) Nhóm hưởng lợi từ chính sách là nhóm sử dụng dịch vụ (người dân nói chung và người DTTS)
Trong khuôn khổ đề tài, để đánh giá đúng thực trạng cũng như làm rõ nguyên nhân sự tiếp cận DVXHCB của người DTTS, vùng chuyên canh tập trung cây sắn vùng Lìa huyện Hướng Hoá tỉnh Quảng Trị được lựa chọn là địa bàn ghiên cứu Nhóm nghiên cứu sẽ tiếp cận bốn nhóm đối tượng liên quan
Nhóm thứ nhất: Nhóm xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách DVXHCB: Nghiên cứu tìm hiểu chính sách phát triển DVXHCB khi triển khai thực tế ở cấp huyện có bất cập gì? Chủ yếu tìm hiểu nội dung chính sách và quy trình thực hiện các chính sách có đảm bảo tính khả thi và hiệu quả không?
Nhóm thứ hai: Nhóm người thực hiện chính sách - các nhà cung cấp DVXHCB (Giáo dục, Y tế, Điện, Đường, Thông tin) các vấn đề liên quan đến chất lượng DVXHCB Nhóm thứ ba: Người sử dụng DVXHCB là người DTTS tại vùng Lìa, huyện Hướng Hoá, tỉnh Quảng trị Nghiên cứu điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội tác động như thế nào đến việc tiếp cận với DVXHCB của người dân ở đây như thế nào?
Trang 13Nhóm thứ tư: Các bên liên quan khác: Các doanh nghiệp liên quan đến sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm cây sắn trên địa bàn vùng Lìa huyện Hướng Hoá tỉnh Quảng Trị tác động như thế nào đến việc tiếp cận với DVXHCB của họ?
Phân chia nhóm đối tượng là cơ sở cho nhóm nghiên cứu khảo sát thực tế tại địa phương, mỗi nhóm người này có tác động đến các khía cạnh khác nhau của vấn đề tiếp cận DVXHCB của người DTTS vùng trồng cây nguyên liệu công nghiệp vùng Lìa huyện Hướng Hoá tỉnh Quảng Trị Trên cơ sở đó chúng tôi tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến thực trạng sự tiếp cận DVXHCB của người DTTS vùng Lìa
1.5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu tổng quan tài liệu
- Tổng quan các tài liệu đã có về cơ sở lý luận và các nghiên cứu liên quan đến DVXHCB, đến vùng phát triển cây nguyên liệu công nghiệp trong nước cũng như các nước khác trên thế giới
- Nghiên cứu các tài liệu về điều kiện tự nhiên, phát triển kinh tế, xã hội, thực trạng về DVXHCB các năm gần đây của vùng Lìa huyện Hướng Hoá và tỉnh Quảng Trị
- Nghiên cứu các văn bản pháp luât liên quan đến sự phát triển kinh tế, xã hội cũng như DVXHCB vùng Lìa, huyện Hướng Hoá, tỉnh Quảng Trị của các cơ quan chức năng
Các tài liệu được thu thập từ các cơ quan chức năng liên quan từ trung ương đến địa phương, ở các thư viện của các viện nghiên cứu, trường đại học, internet
Phương pháp thực địa
a) Phương pháp điều tra xã hội học
Quy mô mẫu: số mẫu được chọn phỏng vấn sâu là 60 người, phỏng vấn bảng hỏi là
400 hộ gia đình, và 25 cuộc thảo luận nhóm tập trung cho các nhóm đối tượng tại các
cơ sở địa phương
Phương pháp chọn mẫu
- Địa bàn khảo sát: Chọn 8 thôn từ 8 xã vùng Lìa huyện Hướng Hóa tỉnh Quảng Trị
- Nhóm đối tượng khảo sát:
Trang 14Lãnh đạo các xã vùng Lìa, cán bộ các phòng ban liên quan huyện Hướng hóa Đại diện nhà máy chế biến tinh bột sắn Các cơ sở DVXHCB như trạm y tế, trường học Các
hộ gia đình, các tổ chức cộng đồng.ở vùng Lìa, huyện Hoàng Hóa, tỉnh Quảng Trị
Cơ cấu mẫu:
- Phỏng vấn hộ gia đình bằng bộ bảng hỏi soạn sẵn 400 hộ (8 xã), 180 tổ chức ở xã, huyện
- Phỏng vấn sâu: 5 người x 8 thôn (cb 8 xã) = 40 người
- Phỏng vấn sâu nhóm các nhà hoạt động chính sách cấp tỉnh, huyện: 3 người
- Phỏng vấn sâu cán bộ các phòng ban huyện, tỉnh: 3 người
- Phỏng vấn sâu nhóm cung cấp DVCBXH (điện, đường, trường, trạm ): 8 người
- Phỏng vấn sâu nhóm các công ty, nhà máy/ dịch vụ: 6 người
- 8 cuộc thảo luận nhóm với các nhóm cung cấp DVXHCB ở 8 xã
- 1 cuộc thảo luận nhóm với các nhà máy sản xuất trong địa bàn
Các đối tượng tham gia
Đối tượng tham gia trong các buổi thảo luận cấp xã, thôn gồm: người dân, lãnh đạo xã,
và nhóm phụ trách DVXHCB Lãnh đạo cấp huyện, nhà máy chế biến tinh bột sắn Nội dung thảo luận
Trang 15Được thiết kế theo nội dung của nghiên cứu, tùy từng cấp, từng ngành có sự đánh giá
về thực trạng cũng như nhu cầu và các khuyến nghị nhằm tăng cường sự tiếp cận các DVXHCB của người dân, người DTTS trong điều kiện phát triển sản xuất theo hướng sản xuất hàng hóa Sử dụng phương pháp SWOT để phân tích điểm mạnh, điểm yếu,
cơ hội và thách thức của việc nâng cao sự tiếp cận các DVXH cơ bản cho người dân là DTTS vùng trồng cây nguuyên liệu công nghiệp nói chung và người dân vùng Lìa
huyện Hướng Hóa nói riêng
Phương pháp nghiên cứu khác
Các phương pháp nghiên cứu khác bao gồm: Phương pháp phân tích định tính, phương pháp phân tích định lượng Phương pháp đánh giá có sự tham gia Phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp phân tích logic, các kỹ thuật phân tích SWOT
Căn cứ trên các kết quả nghiên cứu tổng quan, các tài liệu và các công trình nghiên cứu này áp dụng cách tiếp cận mới coi hộ gia đình là đơn vị mẫu để phân tích Thay vì chỉ phân tích đơn thuần về nhu cầu DVXHCB, nghiên cứu sẽ tập trung vào phân tích sâu từ khía cạnh chức năng của các dịch vụ và các phương tiện giúp các gia đình tiếp cận được các chức năng đó Đây cũng là phương pháp „Kế hoạch Tổng thể về Tiếp cận
ở Nông thôn‟ (Integrated Rural Accessibility Planning IRAP) của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO)
1.6 Công tác triển khai thực hiện
Đề tài được triển khai từ quý 2 năm 2011 ngay sau khi đề cương chi tiết và kế hoạch thực hiện được phê duyệt Trong tháng 2 đến tháng 4 năm 2011, việc nghiên cứu tổng quan được triển khai thực hiện nhằm xác định hiện trạng các nghiên cứu và thông tin liên quan đến đề tài, đồng thời xây dựng công cụ cho việc điều tra
Trong quá trình thực hiện đề tài, 2 chuyên khảo sát thực địa, và 2 chuyến điều tra lấy thông tại vùng Lìa, Hướng Hoá, Quảng Trị đã được thực hiện Trong mỗi chuyến thực địa, điều tra, nhóm nghiên cứu đã nhận được sữ giúp đỡ nhiệt tình của lãnh đạo, cán bộ nhà máy sản xuất tinh bột sắn Hướng Hoá, của các lãnh đạo xã, thôn/ bản và của người dân Vân Kiều, Pa Kô
Trang 16Chuyến khảo sát thực địa đầu tiên đã được triển khai trong quý 1 năm 2011 nhằm xác định thực trạng của vùng, phạm vi nghiên cứu và xây dụng phương pháp nghiên cứu cho đề tài Trong chuyến thực địa đầu tiên, nhóm nghiên cứu đã xác định được phạm
vi nghiên cứu là 8 xã vùng Lìa, Hướng Hoá, Quảng Trị Dựa trên việc khảo sát sơ bộ, kết hợp với nghiên cứu tổng quan nhóm nghiên cứu đã xác định được phương pháp nghiên cứu phù hợp cho đề tài (đã được trình bày chi tiết ở mục phương pháp nghiên cứu)
Chuyến khảo sát thực địa thứ 2 được triển khai vào tháng 6 năm 2011 nhằm kiểm tra tính phù hợp của bộ công cụ đồng thời xây dựng phương án và chuẩn bị cho việc điều tra Trong chuyến thực địa này, nhóm nghiên cứu đã phỏng vấn thí điểm cán bộ ở các
xã vùng Lìa, người dân với sự hỗ trợ đi lại và phiên dịch tiếng địa phương của cán bộ nhà máy sắn Bằng thực hiện thử các mẫu hỏi dành cho bà con vùng Vân Kiều, Pa Kô, nhóm nghiên cứu đã điều chỉnh lại và hoàn thiện được bộ bảng hỏi phù hợp với trình
độ và thực tế của địa phương
Quá trình điều tra lấy thông tin được triển khai trong 2 đợt trong tháng 8 năm 2011 và tháng 3 năm 2012 Chuyến lấy thông tin đầu tiên được triển khai chủ yếu là việc điều tra dựa trên bộ mẫu phiểu hỏi dành cho 400 hộ gia đình trong 8 xã của vùng Lìa Để thực hiện cuộc điều tra này, nhóm nghiên cứu đã nhận được sự hỗ trợ từ các cán bộ khuyến nông nhà máy sản suất tinh bột sắn trong việc dẫn đường, và dịch sang tiếng Vân Kiều, Pa Kô cho những hộ gia đình không biết tiếng Kinh
Cuộc điều tra lấy thông tin lần 2 được triển khai thực hiện vào tháng 3 năm 2012 bao gồm: việc phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm tập trung và điều tra bảng hỏi còn lại theo đúng phương pháp nghiên cứu đã được đưa ra Với các cuộc phỏng vấn sâu, nhóm nghiên cứu đã tiến hành với các nhóm đối tưởng là cán bộ quản lý và phụ trách các cơ
sở DVXH, ở huyện Hướng Hoá, ở 8 xã vùng Lìa, đại diện các tổ chức kinh doanh, dịch vụ trong vùng và người dân Thảo luận nhóm tập trung được thực hiện theo phương pháp nghiên cứu đã đề ra, mỗi cuộc hội thảo nhóm tập trung đều được giúp đỡ của chính quyền địa phương, cán bộ nhà máy sắn trong việc lựa chọn và tập trung nguời dân tham gia hội thảo (hình 1), thông thường các buổi hội thảo nhóm cộng đồng được tổ chức tại nhà sinh hoạt cộng đồng thôn hoặc nhà trưởng thôn
Trang 17Hình 1: Thảo luận nhóm tập trung cho nhóm cộng đồng
Việc nhập thông tin và xử lý thông tin, số liệu được thực hiện trong suốt quý 2 năm
2012 Trong quý 3 năm 2011, quý 3, 4 năm 2012 các công việc phân tích số liệu xây dựng các chuyên đề Trong đó, nhóm nghiên cứu đã tổ chức được một hội thảo tham vấn vào ngày 18/10/2012 nhằm báo cáo những kết quả đã đạt được đồng thời lấy ý kiến đóng góp của các đại biểu cho nghiên cứu Tham dự cuộc hội thảo gồm có, các đại biểu đến từ 8 xã vùng Lìa, Hướng Hoá, Quảng Trị, cán bộ nhà máy sản xuất tinh bột sắn Hướng Hoá, các chuyên gia đến từ viện Lao động xã hội, Viện nghiên cứu chính sách dân tộc, viện, Phòng nghiên cứu chính sách kinh tế, Viện dân tộc học, Uỷ ban Dân tộc (Hình 2) Dựa trên những ý kiến đóng góp của các đại biểu, nhóm nghiên cứu đã tập hợp và hoàn thiện báo cáo và các sản phẩm của đề tài trong thời gian còn lại
Hình 2: Hội thảo tham vấn đề tài
Trang 18PHẦN 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1 Tổng quan một số lý luận về dịch vụ xã hội cơ bản
Giới thiệu Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự, Chính trị và Công ước Quốc tế
về các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa:
Hai công ước nêu trên được thông qua năm 1976 tại Liên Hiệp Quốc, xác định các quyền cơ bản của con người cho đến các cá nhân cụ thể bao gồm:
Quyền được hưởng an sinh xã hội, gồm cả bảo hiểm xã hội (Điều 9);
Quyền được thụ hưởng mức sống phù hợp, bao gồm các khía cạnh về ăn, mặc, ở và được "không ngừng cải thiện đời sống" (Điều 11);
Quyền được hưởng một "tiêu chuẩn sức khoẻ về thể chất và tinh thần ở mức cao nhất có thể" (Điều 12);
Quyền được giáo dục, bao gồm phổ cập giáo dục tiểu học miễn phí, giáo dục phổ thông đại trà và quyền có cơ hội tiếp cận bình đẳng các trường đại học Những quyền này nhắm tới mục tiêu "phát triển toàn diện nhân cách và ý thức về phẩm giá con người", và tạo điều kiện cho tất cả mọi người tham gia hiệu quả vào các hoạt động xã hội (Điều 13 và 14);
Quyền được tham gia vào đời sống văn hoá và hoạt động khoa học (Điều 15); Các quyền này hoàn toàn phù hợp với mục tiêu của các chính sách, chương trình xoá đói giảm nghèo của Việt Nam Các quyền này của người dân được thực hiện thông qua
sự tiếp cận DVXHCB và vì vậy tiếp cận DVXHCB chính là một trong các công cụ thực hiện quyền cơ bản của con người Hiện này các quốc gia thông qua cam kết tuân thủ các công ước quốc tế trên đảm bảo các quyền cơ bản được thực hiện
Một số khái niệm liên quan
Trong khuôn khổ đề tài này các khái niệm được sử dụng để nghiên cứu, phân tích theo cách tiếp cận quyền con người và tiếp cận DVXHCB được xác định như sau:
Dịch vụ công cộng
Trang 19Dịch vụ do khu vực công cung cấp được gọi là dịch vụ công cộng Khu vực công có chức năng phục vụ cộng đồng đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển quốc dân và
có tính đa dạng được phản ánh thông qua các chức năng mà nó thực hiện Các chức năng đó bao gồm các dịch vụ công cộng của Nhà nước (các bộ ngành), chức năng công cộng về lãnh thổ (UBND tỉnh, huyện, xã), chức năng công về y tế-sức khỏe, giáo dục, các doanh nghiệp dịch vụ và tổ chức công cộng Các doanh nghiệp và tổ chức công cộng cũng gồm nhiều loại hình khác nhau: doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp công ích, doanh nghiệp tư nhân hoạt động triển khai các công trình công cộng (xây dựng trường học, bệnh viện, cầu cống, trạm điện…)
Dịch vụ công cộng là một bộ phận của khu vực công, liên quan đến các hoạt động mà mục đích là cung cấp cho mọi công dân các loại dịch vụ phù hợp với lợi ích của cộng đồng, xã hội
Khái niệm dịch vụ xã hội (DVXH)
Theo từ điển Oxfort khái niệm dịch vụ là: Sự cung cấp dịch vụ của Chính phủ vì lợi
ích cộng đồng như giáo dục, chăm sóc sức khỏe và nhà ở
Theo website http business.com, dịch vụ xã hội giúp tạo ra sự thuận tiện và hưởng lợi của người sử dụng dịch vụ như giáo dục, trợ cấp thực phẩm, chăm sóc sức khỏe và trợ cấp nhà ở được chính phủ cung cấp để cải thiện đời sống và sinh hoạt
Khái niệm dịch vụ xã hội cơ bản (DVXHCB)
Nhằm làm rõ hơn về khái niệm này cần xác định thống nhất các nhu cầu cơ bản trong cuộc sống Một số quan điểm của các nhà khoa học về nhu cầu tối thiểu của con người trong cuộc sống được đưa ra như sau:
Theo quan niệm của Mác, “Nhu cầu là đòi hỏi khách quan của mỗi con người trong
những điều kiện nhất định, đảm bảo cho sự sống và phát triển của mình”
Theo quan điểm A.Maslow, nhu cầu được sắp xếp thành 5 tầng:
- Nhu cầu vật chất (sinh lý): thức ăn, không khí, nước uống
- Nhu cầu an toàn (bảo vệ): nhà ở, việc làm, sức khoẻ
- Nhu cầu giao tiếp xã hội : Tình thương yêu, được hoà nhập
Trang 20- Nhu cầu được tôn trọng: Được chấp nhận có một vị trí trong một nhóm người
- Nhu cầu tự khẳng định mình: Nhu cầu hoàn thiện, được thể hiện khả năng và tiềm lực của mình
DVXHCB được Liên hợp quốc định nghĩa như sau: “Dịch vụ xã hội cơ bản là các hoạt động dịch vụ cung cấp những nhu cầu cho các đối tượng nhằm đáp ứng những nhu cầu
tối thiểu của cuộc sống” (UN - Africa Spending Less on Basic Social Services)
Như vậy, DVXHCB có thể hiểu là:
“Hệ thống cung cấp dịch vụ nhằm đáp ứng những nhu cầu cơ bản của con người và
được xã hội đồng thuận”
Dịch vụ xã hội cơ bản được chia thành 4 loại chính
- Dịch vụ đáp ứng những nhu cầu vật chất cơ bản: Đáp ứng nhu cầu thực phẩm, nước
sạch, vệ sinh, chăm sóc, nhà ở cho mọi người, kể cả các đối tượng yếu thế như trẻ
em, người tàn tật mất khả năng lao động Các nhu cầu này cần thiết nhằm hỗ trợ phát triển về thể lực
- Dịch vụ y tế: Bao gồm các dịch vụ phòng khám chữa bệnh, điều dưỡng phục hồi
chức năng về thể chất cũng như tinh thần cho mọi người
- Dịch vụ giáo dục: Dịch vụ giáo dục, đào tạo kỹ năng sống, các hình thức giáo dục
hoà nhập, hội nhập và chuyên biệt
- Dịch vụ về giải trí, tham gia và thông tin: Đây là loại hình dịch vụ xã hội rất quan
trọng đối với các đối tượng thuộc nhóm đối tượng công tác xã hội, hoạt động giải trí như văn nghệ, thể thao, nâng cao sự tự tin, đẩy mạnh hoà nhập tốt hơn với cộng đồng, nâng cao sự hiểu biết, kiến thức cho đối tượng
Dịch vụ xã hội được thiết kế để cung cấp cơ hội đảm bảo phát triển con người Đặc biệt đảm bảo sự phát triển xã hội và kinh tế dân số ở khu vực có hoàn cảnh khó khăn, tạo điều kiện người dân sản xuất và tự chủ và thúc đẩy công bằng xã hội DVXHCB của chính phủ cũng bao gồm hỗ trợ tạo việc làm, phát triển các kỹ năng cần thiết cho con người
Tại Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về Phát triển xã hội ở Copenhagen, các nhà lãnh đạo thế giới đồng thuận rằng sự hỗ trợ quốc tế cần tập trung vào mục tiêu nâng cao các
Trang 21dịch vụ xã hội cơ bản như: chăm sóc sức khỏe ban đầu, giáo dục cơ bản, nước sạch và
vệ sinh thích hợp là những nhu cầu tối thiểu cho mọi người Ở Việt Nam, ngoài các DVXHCB trên, thì dịch vụ hạ tầng cơ sở như điện, đường, trường, trạm cũng là các DVXH
Sự tiếp cận
Là cụm từ chung dùng để miêu tả mức độ một sản phẩm, thiết bị, dịch vụ, hoặc môi trường có thể được sử dụng bởi càng nhiều người càng tốt Sự tiếp cận bao gồm khả
năng tiếp cận và khả năng hưởng lợi từ một hệ thống hay tổ chức (Wikipedia)
Khả năng tiếp cận là khả năng đến được và sử dụng dịch vụ của người có nhu cầu sử dụng dịch vụ
Nghiên cứu đánh giá thực trạng sự tiếp cận DVXHCB của người DTTS vùng
chuyên canh tập trung cây nguyên liệu công nghiệp là đánh giá khả năng sử dụng và
sự hưởng lợi của người DTTS chuyên canh tập trung cây nguyên liệu công nghiệp từ
hệ thống cơ sở DVXHCB
2.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu về DVXHCB trên thế giới
Trong lĩnh vực nghiên cứu về sự tiếp cận của người nghèo đến các dịch vụ xã hội cơ bản đã có nhiều nhà khoa học quan tâm cả từ khía cạnh lý thuyết đến khía cạnh thực hiện
Theo Ashoke K Sarkar và Dipak Ghosh (2000), tiếp cận khó khăn các dịch vụ xã hội
cơ bản là đặc điểm của nghèo khó Đó cũng là tiêu chí để đo mức độ đói nghèo và xác định khoảng cách về chất lượng cuộc sống giữa nông thôn và thành thị của một nước
Ở cấp vĩ mô, Ngân hàng Thế giới đã chỉ ra rằng tiếp cận nước sạch, điện, và mạng lưới
Trang 22giao thông liên quan tới GDP của một nước Tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản như y
tế, giáo dục, nước sạch và vệ sinh môi trường tuy không phản ánh trực tiếp vào sự tăng thu nhập của người dân, nhưng đó là một phần tạo nền tảng cho phát triển Tiếp cận với nguồn điện ảnh hưởng trực tiếp về hiệu quả cho các hoạt động kinh tế (3)
Ashoke cũng nêu lại hai khái niệm quan trọng trong lĩnh vực này là quyền thụ hưởng trao đổi (exchange entitlement) và quyền thụ hưởng thêm ra (extended entitlement) Quyền thụ hưởng trao đổi xác định quyền của con người cung cấp cái mình có để trao đổi lấy cái khác Điều đó có nghĩa người đó có quyền sở hữu cái họ có và có thể tham gia vào quan hệ trao đổi Ví dụ người nông dân sở hữu đất và với sự lao động của mình có quan hệ trao đổi với thiên nhiên để tạo ra nông sản
Quyền thụ hưởng thêm ra là quyền được bảo đảm bởi xã hội Ví dụ như xã hội quyết định mọi trẻ em đều được đến trường, có nghĩa là mọi trẻ em đều có quyền đến trường không phụ thuộc vào trạng thái xuất phát hoặc gia đình Các quyền hưởng thụ thêm bao gồm các quyền được hưởng các phúc lợi và dịch vụ xã hội cơ bản
Chiến lược xóa đói giảm nghèo thành công bền vững gắn liền với việc các quyền hưởng thụ thêm được bảo vệ và nâng cao về mặt lâu dài Tuy nhiên ở nhiều nước đang phát triển các quyền này hiện đang được sự bảo trợ của nhà nước dưới các hình thức trợ cấp hoặc mang tính từ thiện Việc này dẫn đến văn hóa phụ thuộc và khi văn hóa này phát triển, sẽ là cái bẫy khó thoát cho cả bên tài trợ và bên nhận Một chính sách xóa nghèo bền vững phải được xây dựng dựa trên chiến lược nâng cao các quyền thụ hưởng nhưng không phụ thuộc Có thể đạt được điều đó bằng cách tạo ra cơ hội và năng lực, nâng cao thể lực qua dịch vụ y tế và nâng cao năng lực tri thức bằng học tập
và đào tạo Với thể lực và năng lực của mình, các quyền hưởng thụ cũng được nâng lên
Sự tiếp cận các dịch vụ xã hội, về mặt cơ học phụ thuộc vào khả năng đến được nơi có dịch vụ và chất lượng dịch vụ đó Khả năng đến được của người dân phụ thuộc vào xe
cộ, tài chính, đường xá Chất lượng dịch vụ phụ thuộc vào hạ tầng cơ sở, kinh tế, chất lượng y tế, giải trí và các hoạt động tương tự Ở các vùng nông thôn, tiếp cận các dịch
vụ y tế, giáo dục phụ thuộc vào vị trí và hoàn cảnh cụ thể nơi ở
Trang 23Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), cách tiếp cận mới trong việc nâng cao khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản là coi mỗi gia đình là một đơn vị để phân tích thay vì trước đây coi việc đánh giá nhu cầu về dịch vụ đó Điều này thay đổi cơ bản khi nghiên cứu xây dựng chính sách Và điều này cũng dẫn đến sự thay đổi căn bản về việc đánh giá kết quả tiếp cận dịch vụ xã hội (3)
Nghiên cứu khuyến nghị về phát triển nông thôn Việt Nam của Jan Rudengre (2008)
đã nêu ra sự mất cân đối trong ưu tiên giữa thúc đẩy sản xuất kinh tế và các dịch vụ nông thôn như giáo dục, y tế và sự hạn chế trong việc huy động các nguồn lực tài chính địa phương Ông cũng nêu ra sự yếu kém của hệ thống quản lý tài chính cho sự phát triển nông thôn đã không coi người nông dân là trọng tâm (5)
Vấn đề tiếp cận dịch vụ xã hội ở nông thôn là vấn đề không riêng của các nước đang phát triển Pamela Friedman phân tích những trở ngại về mặt chính sách của Mỹ hiện nay trong việc nâng cao chất lượng dịch vụ xã hội ở nông thôn Mỹ Nghiên cứu chỉ ra rằng hợp tác và phối hợp giữa các cơ quan chức năng trong các quận nông thôn còn yếu và sự tham gia của người dân vào việc thiết kế các chương trình hưởng thụ còn thấp Đào tạo cán bộ về công tác dịch vụ xã hội cũng như triển khai các dịch vụ trực tuyến là những vấn đề cần được đề cập thúc đẩy Nghiên cứu cũng nêu ra cách tiếp cận tham gia cộng đồng hoặc tạo đối tác cộng đồng sẽ giúp giải quyết nhiều vấn đề ở địa phương thấu đáo hơn (6)
Diana Conyers (1993) thảo luận rằng để có thể tiến hành thực hiện được hiệu quả các dịch vụ xã hội cần có một quy trình làm kế hoạch xã hội Quy trình này được đề ra cho các nhà hoạch định địa phương sử dụng do quy trình xây dựng các kế hoạch kinh tế xã hội, các dịch vụ xã hội thường chìm đi mà nặng về số liệu kinh tế Kế hoạch xã hội bao gồm các kế hoạch về dịch vụ xã hội (y tế, giáo dục, nhà ở, phúc lợi xã hội), kế hoạch cụ thể về nâng cao chất lượng cuộc sống của dân cư hoặc các nhóm bộ phận dân
cư, đánh giá các tính chất xã hội người dân quan tâm khi thực hiện các chính sách cụ thể hay dự án cụ thể, đánh giá ảnh hưởng về văn hóa, kế hoạch nâng cao vị trí của các nhóm yếu thế (người già, người tàn tật, dân tộc thiểu số…) Có nhiều nghiên cứu điển hình về kế hoạch xã hội tại cấp quận huyện, hoặc các ngành cụ thể (7)
Ở Nam Phi, ảnh hưởng kinh tế và xã hội tại các vùng cây công nghiệp rất lớn Thu nhập bằng gia tăng đã làm cuộc sống ở đó trở nên đắt đỏ hơn vì vậy các dịch vụ cũng
Trang 24trở nên đắt đỏ Sự bấp bênh của thu hoạch, mùa màng, cạnh tranh không minh bạch trên thị trường làm đời sống của nông dân trong các vùng trồng cây công nghiệp hoàn toàn phụ thuộc vào giới chủ Các giá trị văn hóa cũng thay đổi, đặt đời sống của người dân đối mặt với nhiều thách thức lớn (8)
2.3 Tình hình nghiên cứu trong nước
Nghiên cứu về Sự Phát triển kinh tế của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam (2008) cho thấy hệ thống chính sách và các chương trình của Việt Nam hiện nay đều tập trung cải thiện nguồn lực của các hộ gia đình dân tộc thiểu số và các xã nơi họ sinh sống Rất ít chính sách và chương trình hướng vào giải quyết vấn đề hiệu quả thu nhập thấp từ các nguồn lực của các nhóm thiểu số Trong khi đó, các nước công nghiệp hóa và đang phát triển trên thế giới tập trung vào hai nhóm chính sách nhằm thu hẹp chênh lệch về hiệu quả thu nhập từ các nguồn như Luật tạo cơ hội ngang bằng và các chương trình hành động tích cực Ví dụ ở Cuba, luật tạo cơ hội ngang bằng đã được thực hiện song song với các chính sách kinh tế xã hội nên tới thập niên 80 đã gần như xóa bỏ chênh lệch mức sống giữa người da trắng và da đen Còn ở Malaysia, chính sách kinh tế đặt chỉ tiêu định lượng chủ sở hữu công ty và lãnh đạo trong các cơ quan hành chính là người thiểu số (4)
Quan điểm, chủ trương, chính sách phát triển kinh tế xã hội ở miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số của Đảng và Nhà nước được phản ánh qua nhiều văn bản, đặc biệt là Nghị quyết số 24-NQ/TW của Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành TW Đảng khóa IX
về công tác dân tộc (tháng 2-2003) với nhiệm vụ xóa đói giảm nghèo nâng cao dân trí, bảo tồn văn hóa, giữ vững an ninh chính trị đã được chính phủ thể chế hóa bằng nhiều
cơ chế, chính sách, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện tốt chính sách xã hội ở miền núi, vùng đồng bào thiểu số (1)
Chương trình phát triển văn hóa xã hội các vùng kinh tế đặc biệt khó khăn 2006 –
2010 vùng dân tộc miền núi (Chương trình 135 Giai đoạn 2) nhằm tạo sự chuyển biến nhanh về sản xuất; thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất gắn với thị trường; cải thiện và nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho người dân; giảm dần khoảng cách phát triển giữa các dân tộc và giữa các vùng trong cả nước; đến năm 2010 cơ bản không còn hộ đói, giảm hộ nghèo xuống còn dưới 30% Đối
Trang 25tượng được thụ hưởng Chương trình là các xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới, vùng đồng bào dân tộc thiểu số (bao gồm 1946 xã và 3149 thôn, bản đặc biệt khó khăn khăn
ở các xã khu vực II) (1)
Cụ thể hơn Chương trình giúp người dân nâng cao kỹ năng, xây dựng tập quán sản xuất mới; tạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp; tăng thu nhập; giảm nghèo bền vững; các xã trong diện đầu tư có cơ sở hạ tầng thiết yếu, nâng cao đời sống và phát triển sản xuất, tăng thu nhập cho người dân; nâng cao đời sống văn hoá xã hội cho nhân dân ở các xã ĐBKK miền núi, vùng đồng bào dân tộc nhằm thu hẹp khoảng cách giữa các vùng, giảm sự chênh lệch giữa các dân tộc
Các chỉ tiêu kinh tế chính bao gồm thu nhập bình quân, đường giao thông cấp xã, thôn, bản, công trình thủy lợi, giáo dục và y tế cơ bản Các chỉ tiêu xã hội gồm khả năng tiếp cận các dịch vụ nước sinh hoạt, điện sinh hoạt, điều kiện vệ sinh, dịch vụ y tế sức khỏe
và giáo dục
Công nghiệp hóa ở các vùng nông thôn là một trong các định hướng thực hiện chủ trương trên Rất nhiều các ngành công nghiệp chế biến và sản xuất nông sản ra đời Xây dựng các vùng chuyên canh tập trung nhằm chủ động nguồn nguyên liệu phục vụ sản xuất, giảm nhập khẩu, góp phần xóa đói, giảm nghèo cho nông dân vùng sâu, vùng
xa, đó là cách làm mới của nhiều tỉnh
Mô hình công ty gắn kết chặt chẽ với nông nghiệp, nông dân, nông thôn, hiệu quả mang lại từ chính sách quy hoạch và phát triển vùng chuyên canh tập trung Từ chỗ chập chững chuyển đổi ban đầu từ thuần nông sang chuyên canh cây công nghiệp, tiến tới cách làm có quy hoạch và áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới, nhiều vùng nông thôn đã từng bước xóa được đói nghèo và tiến tới mức sống nông thôn trung lưu Quyết định 80/2002/QÐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về "chính sách khuyến khích tiêu thụ hàng hóa nông sản thông qua hợp đồng” nhiều công ty đã chủ trương có những chính sách hỗ trợ, khuyến khích nông dân trồng cây nguyên liệu thông qua việc
ký kết hợp đồng đầu tư và bao tiêu sản phẩm với người nông dân với giá thu mua được công bố ngay từ đầu vụ, ứng trước cho bà con cây giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, than sấy nguyên liệu, cấp vốn không tính lãi cho các hộ trồng, sửa chữa hoặc xây
Trang 26mới lò sấy, mua máy bơm nước và các trang thiết bị khác phục vụ vùng trồng, sau đó thu hồi đầu tư bằng sản phẩm khi thu mua vào cuối vụ
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác giảm nghèo cho đồng bào các dân tộc thiểu số vẫn đang còn nhiều khó khăn, thách thức bởi kết quả giảm nghèo chưa
có tính bền vững, tỷ lệ hộ cận nghèo còn lớn, số hộ tái nghèo hàng năm còn cao Một
số công trình đầu tư ở miền núi hiệu quả thấp sau khi đưa vào khai thác sử dụng; cơ cấu đầu tư thiếu đồng bộ Giáo dục và y tế miền núi chưa đáp ứng yêu cầu nhất là xây dựng, nâng cao năng lực cho con người tại chỗ Đến nay, địa bàn dân tộc thiểu số tỷ lệ đói nghèo vẫn còn cao và chênh lệch lớn so với vùng đồng bằng Một số nơi còn phức tạp về an ninh chính trị - trật tự an toàn xã hội (khai thác vàng, ma túy, mại dâm, di dân tự do, vượt biên và hoạt động truyền đạo trái phép) Có những bất cập trong quá trình thực hiện chính sách tái định cư ở một số công trình thủy điện Tư tưởng bảo thủ, trông chờ vào sự giúp đỡ của nhà nước vẫn còn tồn tại trong cán bộ và đồng bào các dân tộc
Nguyên nhân của những tồn tại phần lớn là do điều kiện tự nhiên không thuận lợi, khí hậu khắc nghiệt, địa hình phức tạp, diện tích đất trồng ít và khó canh tác, kinh tế chưa phát triển, việc lồng ghép các chương trình, dự án liên quan đến giảm nghèo còn chồng chéo, thiếu đồng bộ, một số chính sách chưa thực sự phù hợp với thực tiễn địa phương do đó việc hỗ trợ để người nghèo thoát nghèo trong thời gian ngắn và đảm bảo tính bền vững là khó thực hiện
Bên cạnh những nguyên nhân khách quan, một nguyên nhân khác làm cản trở công cuộc xoá đói giảm nghèo vùng dân tộc thiểu số là do trình độ dân trí của người dân còn thấp Chính vì dân trí thấp nên người nghèo không nắm được kỹ thuật sản xuất, chi tiêu, phân bổ đồng vốn không hợp lý, kém hiệu quả Không ít gia đình được dự án
hỗ trợ cho vay tiền với lãi suất ưu đãi, nhưng không biết sử dụng vào sản xuất, kinh doanh nên cuối cùng vẫn không thoát được nghèo Do trình độ thấp, khả năng cạnh tranh để xin được công việc trong các nhà máy công ty của lao động thiểu số còn hạn chế.(9)
Do đó, muốn xoá đói, giảm nghèo thành công cho đồng bào các dân tộc thiểu số cần tập trung nâng cao trình độ dân trí, tiếp tục thực hiện và phát huy hiệu quả các chính
Trang 27đãi Tập trung hỗ trợ về sinh kế cho hộ nghèo thông qua trợ giúp các điều kiện và dịch
vụ sản xuất, đào tạo nghề để tạo việc làm, tăng thu nhập cho người nghèo Tiếp tục ưu tiên đầu tư cơ sở hạ tầng thiết yếu phục vụ sản xuất và đời sống dân sinh, nhất là đầu
tư cho các thôn, bản ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn để người dân được cải thiện đời sống Đặc biệt, cần đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền tạo sự thống nhất về nhận thức và đồng thuận cao trong cuộc chiến chống đói nghèo để mỗi người dân có ý thức vươn lên thoát nghèo và làm giàu chính đáng
Đối với nhà hoạch định chính sách ở địa phương do cách làm kế hoạch từ trên xuống, việc lên kế hoạch cho dịch vụ xã hội chưa được quan tâm và lồng ghép vào kế hoạch phát triển KT- XH của địa phương (10)
Đã có nhiều đề tài nghiên cứu về xóa đói giảm nghèo, các bài học và kinh nghiệm chương trình 135 vùng nông thôn và dân tộc thiểu số đề cập tới sự tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản cho vùng dân tộc thiểu số
Trong nghiên cứu “Chương trình 135 – các bài học về xóa đói giảm nghèo và các mô hình cho dân tộc thiểu số ở Việt Nam”, xác định những tiêu chí về dịch vụ cần tập trung cho DTTS Nghiên cứu về “Ảnh hưởng của việc tự do hóa các dịch vụ công cơ bản lên người nghèo và những người dễ bị tổn thương: Nghiên cứu điển hình lĩnh vực sức khỏe, giáo dục và điện tại Việt Nam” của Ngân hàng Thế giới nêu rõ mặc dù các dịch vụ cơ bản đã được cải thiện nhiều nhưng còn rất xa để đạt được các mục tiêu của nhà nước (8)
Nghiên cứu chuyển dịch cơ cấu lao động nông nghiệp – phi nông nghiệp và các yếu tố tác động do Viện Khoa học Lao động và Công tác Xã hội thực hiện xác định chuyển dịch cơ cấu việc làm từ khu vực nông nghiệp sang phi nông nghiệp là xu hướng tất yếu (11)
Báo cáo “Quan điểm định hướng về chính sách phát triển xã hội và quản lý phát triển
xã hội trong chiến lược kinh tế - xã hội giai đoạn 2010 – 2020” do Trường Đại học Lao động thực hiện xây dựng cơ sở lý luận và thực tiễn cũng như đánh giá tác động các chính sách phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội đến đời sống xã hội trong quá trình đổi mới (12)
Trang 28Hiện nay, có một số các nghiên cứu về an sinh xã hội, chủ yếu hướng tới bao phủ bảo hiểm y tế và bảo hiểm xã hội cho mọi tầng lớp nhân dân Các bảo hiểm này cũng có nhiều liên quan tới các dịch vụ xã hội cơ bản và trong thực tế có thể rất phù hợp với dân cư các vùng chuyên canh tập trung trồng cây nguyên liệu công nghiệp (13)
Phát triển cộng đồng là một phương pháp quan trọng trong xóa đói giảm nghèo Phát triển cộng đồng giúp sự tham gia trực tiếp của người dân vào việc đánh giá tình trạng của cộng đồng mình tham gia xây dựng kế hoạch và có tiếng nói trong quá quyết định đầu tư sẽ giúp người dân tự tin, nâng cao ý thức làm chủ, xóa dần văn hóa phụ thuộc, trông chờ vào trợ giúp của nhà nước (14)
Về các chủ trương chính sách liên quan đến chương trình 135, các thống kê thực hiện kết quả các dự án xây dựng điện đường trường trạm ở cấp trung ương và địa phương
đã có một số lượng rất lớn các báo cáo đã xuất bản (xem tài liệu tham khảo) Tuy nhiên chưa có nghiên cứu phân tích thực trạng cụ thể về tiếp cận dịch vụ cơ bản xã hội cho khu vực có chuyển đổi cơ cấu kinh tế từ thuần nông sang chuyên canh tập trung nguyên liệu công nghiệp vùng dân tộc thiểu số Cũng chưa có nghiên cứu áp dụng cách tiếp cận lấy hộ gia đình là tâm điểm phân tích hướng tới hiệu quả các dịch vụ xã hội cơ bản
2.4 Tổng quan về chính sách và thực hiện dịch vụ xã hội cơ bản ở Việt Nam
Một số nét khái quát về tình hình thực hiện chính sách đầu tư phát triển DVXHCB Việt Nam thực hiện nhiều chương trình dự án xây dựng cơ sở hạ tầng DVXHCB nhằm tạo cơ hội cho người dân nói chung và người DTTS vùng sâu, vùng xa tiếp cận tốt hơn với DVXHCB Ngân sách Trung ương chi cho đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng và phát triển DVXHCB rất lớn và tăng mạnh qua các năm cụ thể như:
- Chi cho xây dựng cơ sở hạ tầng: năm 2006 là 40.490 tỷ đồng, năm 2010 là 64.100
tỉ đồng; năm 2011 là 72.220 tỉ đồng; năm 2012 là 89.510 tỉ đồng
- Chi Ngân sách Trung ương cho giáo dục, đào tạo năm 2012 tăng hơn 50% so với năm 2006 Năm 2006 là 10.094 tỉ đồng; năm 2010 là 19.000 tỉ đồng ; năm 2011 là 22.600; năm 2012 dự kiến là 27.92 tỉ đồng
Trang 29- Chi cho y tế cũng tăng nhanh nhưng tốc độ chi ngân sách tăng không bằng chi cho giáo dục Năm 2006 là 4.294 tỉ đồng; năm 2010 là 12.000 tỉ đồng ; năm 2011 là 10.200; năm 2012 dự kiến là 12.240 tỉ đồng
- Chi cho văn hoá thông tin: Năm 2006 là 7.18 tỉ đồng; năm 2010 là 1510 tỉ đồng ; năm 2011 là 1970; năm 2012 dự kiến là 2410 tỉ đồng
- Ngoài ra còn có các nguồn ngân sách địa phương và các nguồn đầu tư vốn ODA cho các lĩnh vực này
Thông qua các nguồn vốn của nhà nước, cơ sở hạ tầng các DVXHCB ở Việt Nam trong những năm gần đây được cải thiện rõ rệt cụ thể như:
Lĩnh vực Y tế
Về cơ sở hạ tầng, tính đến năm 2010 trên toàn Việt Nam có 1.030 bệnh viện, 44 khu điều dưỡng phục hồi chức năng, 622 phòng khám đa khoa khu vực; với tổng số giường bệnh khoảng 246.300 giường Bên cạnh các cơ sở y tế Nhà nước đã bắt đầu hình thành một hệ thống y tế tư nhân bao gồm 19.895 cơ sở hành nghề y, 14.048 cơ sở hành nghề dược, 7.015 cơ sở hành nghề y học cổ truyền, 5 bệnh viện tư có vốn đầu tư nước ngoài
đã góp phần làm giảm bớt sự quá tải ở các bệnh viện Nhà nước
Hiện nay, đã có 80% số thôn bản có nhân viên y tế hoạt động, 100% số xã có trạm y tế trong đó gần 2/3 xã đạt chuẩn quốc gia, tuy nhiên sự phát triển chưa đồng đều ở mỗi cấp, vùng, miền Việc đổi mới cơ chế hoạt động, cơ chế tài chính và sự công bằng trong chăm sóc sức khoẻ người dân chưa đảm bảo
Về nguồn nhân lực trong y tế Việt Nam hiện có hệ thống các trường đại học Y, Dược phân bổ trên cả nước Mỗi năm có hàng nghìn bác sĩ và dược sĩ tốt nghiệp đại học ra trường Ngoài ra còn có hệ thống các trường đào tạo kỹ thuật viên trung học y, dược, nha tại các địa phương Hiện nay số lượng cán bộ nhân viên ngành y tế đã có 250.000 người, trong đó có 47.000 người có trình độ đại học các loại
Lĩnh vực Giáo dục
Hiện nay, trên cả nước có tổng số trên 500 trường đại học, cao đẳng trên cả nước Tổng số sinh viên bậc đại học hiện nay khoảng 1.700.000 người, số lượng tuyển sinh
Trang 30hằng năm trong những năm gần đây khoảng 500.000 người/kỳ thi Tuy nhiên đánh giá chung chất lượng đào tạo giáo dục bậc đại học ở Việt Nam còn thấp, chưa tạo được sự đồng hướng giữa người học, người dạy, nhà đầu tư cho giáo dục, người sử dụng lao động và xã hội Quản lý nhà nước về giáo dục đại học còn nhiều trì trệ là nguyên nhân
cơ bản của việc chất lượng giáo dục đại học Việt Nam ngày càng tụt hậu trước đòi hỏi của phát triển đất nước
Lĩnh vực Truyền thông
Truyền thông Việt Nam hiện có đủ bốn loại hình báo chí là báo in, báo nói, báo hình
và báo điện tử Việt Nam hòa mạng internet quốc tế vào năm 1997 và hơn 10 năm nay hàng loạt báo điện tử, trang tin điện tử đã ra đời
Thống kê đến tháng 7 năm 2010, tại Việt Nam có 706 cơ quan báo chí in, trong đó có
178 báo và 528 tạp chí Có 67 đài phát thanh - truyền hình, gồm 3 đài phát thanh truyền hình trung ương (VTV, VTC, VOV) và 64 đài phát thanh - truyền hình ở các địa phương Có 34 báo điện tử, 180 trang tin điện tử của các cơ quan tạp chí, báo, đài
và hàng ngàn trang thông tin điện tử
Lĩnh vực Giao thông
Hệ thống các đường giao thông củaViệt Nam gồm đường bộ, đường thuỷ, đường hàng không đều được cải thiện rõ rệt Hệ thống đường bộ gồm các quốc lộ, tỉnh lộ, huyện lộ và giao thông nông thôn có tổng chiều dài khoảng 222.000 km, phần lớn các tuyến đường quốc lộ và tỉnh lộ, đều được trải nhựa và bê tông hóa, chỉ có một số ít các tuyến đường huyện lộ tại các tỉnh vùng sâu, vùng xa đang còn là các con đường đất
2.5 Tổng quan về dịch vụ xã hội cơ bản đối với vùng miền núi dân tộc thiểu số ở nước ta
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc với những đặc điểm riêng mà nhiều quốc gia khác không có Hiện cả nước có 54 dân tộc anh em, trong đó dân tộc Kinh chiếm đa
số, còn các dân tộc thiểu số khác Địa bàn sinh sống của các dân tộc thiểu số thường ở vùng sâu, vùng xa, vùng cao, trình độ phát triển về kinh tế-xã hội của các dân tộc thiểu
số vì thế thường thấp hơn, khó khăn hơn so với dân tộc Kinh Bởi vậy, chính sách,
Trang 31pháp luật nhất quán của Đảng và Nhà nước đối với các dân tộc là: Đoàn kết, bình đẳng, thương yêu, tôn trọng giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc.Thực hiện đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước, nhiều chương trình mục tiêu quốc gia lớn dành
ưu tiên cho vùng đồng bào các dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa nhiều năm qua đem lại thành quả to lớn cho cuộc sống của đồng bào các dân tộc thiểu số Trong đó phải kể đến chương trình 134 hỗ trợ đất sản xuất, nhà ở; Chương trình 135 phát triển kinh tế-
xã hội các xã đặc biệt khó khăn, giúp đỡ đồng bào dân tộc ở vùng sâu, vùng xa; Nghị quyết 30a thực hiện giảm nghèo nhanh, bền vững cho 62 huyện nghèo trong toàn quốc, chủ yếu là vùng đồng bào các dân tộc thiểu số… (Chị H‟ Black, dân tộc Bana ở tỉnh Đắc Lắc, cho biết: “Đảng và Nhà nước hết sức quan tâm đến đồng bào các dân tộc thiểu số nói chung và đồng bào các dân tộc thiểu số Đắc Lắc nói riêng Ấn tượng nhất
là chính sách của Đảng và Nhà nước VN đã đem đến cho đồng bào những đổi thay, ví
dụ như là chương trình điện, đường, trường, trạm…,trồng cây công nghiệp như cà phê… Trước đây đồng bào chưa biết làm nhưng đến nay thậm chí còn áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất giống cây trồng, làm đổi thay bộ mặt nông thôn, đổi thay bộ mặt buôn làng”)
Cho đến nay, 100% số xã ở miền núi và vùng dân tộc thiểu số đã có trạm y tế, trường tiểu học Chính phủ đã ban hành quy định việc dạy học tiếng nói, chữ viết của dân tộc thiểu số trong các cơ sở giáo dục phổ thông và trung tâm giáo dục thường xuyên nhằm giữ gìn hệ ngôn ngữ của các DTTS Việc dạy tiếng dân tộc thiểu số đã được triển khai
ở hơn 7.000 Đặc biệt, nhà nước đã xây dựng hệ thống trường dân tộc nội trú tạo điều kiện cho các em ở xa có điều kiện tốt để tập trung học tập Mạng lưới điện và dịch vụ bưu chính-viễn thông đã có ở 100% số huyện và 95% số xã có đồng bào dân tộc thiểu
số Các chương trình phát thanh phủ sóng trên 90% và truyền hình phủ sóng gần 80% lãnh thổ quốc gia với các chương trình tiếng dân tộc thiểu số Những thành tựu trong việc nâng cao đời sống kinh tế, văn hóa, tinh thần cho đồng bào các dân tộc thiểu số khẳng định cơ chế đảm bảo quyền con người trong nhóm đồng bào các dân tộc thiểu
số và góp phần không nhỏ vào việc nâng cao thành tựu đảm bảo quyền con người ở
VN Ông Đặng Dũng Chí, Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu quyền con người, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, nhấn mạnh: “Quyền con người ở VN được bảo
vệ ngày càng đầy đủ hơn trên tất cả mọi lĩnh vực dân sự, chính trị, kinh tế xã hội và văn hóa Trên thực tế, Nhà nước không ngừng tổ chức, hoàn thiện bộ máy từ trung
Trang 32ương đến cơ sở để tất cả chính sách pháp luật phải được đảm bảo trên thực tế Như chúng ta đã thấy, nhà nước còn ban hành rất nhiều chương trình, mục tiêu quốc gia để thực hiện quyền con người cho tất cả mọi người dân VN cũng như các nhóm đối tượng
yếu thế trong xã hội”
2.6 Những nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận các DVXHCB của DTTS
Trong khuôn khổ của đề tài, dựa trên cách tiếp cận về quyền con người và tiếp cận DVXHCB các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận các DVXHCB của DTTS được xác định như sau: chính sách của nhà nước về DVXHCB; các cơ sở DVXHCB; đặc điểm người sử dụng DVXHCB
có tổ chức thực hiện tốt theo đúng chính sách hoặc ngược lại định hướng chính sách đúng, tổ chức thực hiện không tốt đều ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng phục vụ của các cơ sở DVXHCB Mặt khác, chính sách về phát triển DVXHCB tác động đến nhận thức của người dân nói chung và nhận thức của người DTTS nói riêng Qua đó ảnh hưởng tới sự tiếp cận với các DVXHCB của người dân nói chung cũng như người DTTS nói riêng
2.6.2 Các cơ sở DVXHCB
Các DVXHCB với vai trò là bên cung cấp trực tiếp DVXHCB Vì vậy, tất cả các yếu
tố liên quan đến sự thuận tiện, chất lượng DVXHCB, chi phí sử dụng DVXHCB cũng như thái độ người phục vụ của DVXHCB đều ảnh hưởng trực tiếp đến sự tiếp cận người sử dụng DVXHCB Trong khuôn khổ đề tài, những yếu tố đó ảnh hưởng trực tiếp đến sự tiếp cận người của người DTTS đó là:
Trang 33Những yếu tố liên quan đến sự thuận tiện của DVXHCB như: khoảng cách từ người sử dụng DVXHCB đến cơ sở DVXHCB, đường đi lại thuận tiên hay khó khăn Các yếu
tố về quy định về quy trình thủ tục liên quan đến việc sử dụng dịch vụ hay chi phí sử dụng dịch vụ Các yếu tố này đảm bảo thời gian đi đến cơ sở DVXHC cũng như việc người sử dụng DVXHCB nhanh, kịp thời hay không? có phù hợp với điều kiện kinh tế
và mong muốn của người DTTS về sử dụng DVXHCB hay không?
Những yếu tố liên quan đến chất lượng DVXHCB bao gồm: chất lượng cơ sở vật chất, trang thiết bị của cơ sở, số lượng và trình độ chuyên môn, kỹ năng của cán bộ nhân viên làm việc tại các cơ sở DVXHCB cũng như sự nhiệt tình và thái độ làm việc của cán bộ này đều ảnh hưởng đến chất lượng của dịch vụ Ngoài ra, chất lượng DVXHCB còn chịu ảnh hưởng của tần suất, nhu cầu và khả năng đáp ứng việc sử dụng DVXHCB đó Vì vây, những yếu tố liên quan đến chất lượng DVXHCB đều ảnh hưởng đến sự tiếp cận DVXHXB của người DTTS
Chi phí sử dụng DVXHXB là yếu tố mang tính chất quyết định đến khả năng chi trả và liên quan đến chất lượng việc sử dụng DVXHCB của người DTTS Nếu chi phí quá thấp người dân có thể tiếp cận DVXHCB một cách dễ dàng Tuy nhiên, chi phí cho sử dụng DVXHCB thấp sẽ ảnh hưởng đến nguồn thu và đảm bảo chi phí vận hành và khấu hao của cơ sở DVXHCB, ảnh hưởng đến chất lượng cũng như thái độ phục vụ của cán bộ nhân viên trong cơ sở Nếu chi phí sử dụng DVXHCB cao, người DTTS không có khả năng sử dụng DVXHCB đó, điều đó cản trở sự tiếp cận DVXHCB của
họ
2.6.3 Người sử dụng DVXHCB
Một nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng tiếp cận DVXHCB của người DTTS là chính bản thân họ - người sử dụng DVXHCB Những yếu tố của nhân tố này đó là: điều kiện tự nhiên nơi họ sinh sống, điều kiện kinh tế của gia đình, cũng như trình độ nhận thức của họ và thói quen truyền thống Điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế quyết định đến việc thuận tiện trong việc đến được DVXHCB thông qua việc đầu tư mua sắm đi lại và khả năng chi trả cho việc sử dụng dịch vụ Điều kiện tự nhiên nơi người DTTS sinh sống và điều kiện kinh tế của họ ảnh hưởng quyết định đến nhận thức của người dân nói chung và người DTTS nói riêng Có điều kiện kinh tế, người dân có thể cho con cái đi học, hay mua sắm phương tiện truyền thông cho gia đình,
Trang 34qua đó nâng cao nhận thức Tuy nhiên nhận thức của người dân còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như: phong tục, tập quán sinh hoạt, sản xuất, sự hiểu biết thông qua giáo dục cũng như năng lực nhận thức của người dân Ví dụ, thói quen chữa bệnh bằng các phương phát truyền thóng lạc hậu như nhờ thầy cúng, thầy mo, việc chuyển sang chữa bệnh ở các cơ sở y tế cũng sẽ khó khăn
Trên đây là các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận các DVXHCB của người dân nói chung và người DTTS nói riêng Mỗi nhân tố có nhiều yếu tố khác nhau tác động đến khả năng tiếp cận DVXHCB của người DTTS và các nhân tố này cũng tương tác với nhau, phụ thuộc vào nhau Để đánh giá thực trạng về sự tiếp cận DVXHCB của đồng bào DTTS vùng chuyên canh tập trung trồng cây nguyên liệu công nghiệp (trường hợp vùng Lìa huyện Hướng Hóa tỉnh Quảng Trị) chúng tôi tập trung phân tích sâu hơn những ảnh hưởng nhân tố này
Trang 35PHẦN 3 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VỀ SỰ TIẾP CẬN DỊCH VỤ XÃ HỘI CƠ BẢN VÙNG TRỒNG CÂY NGUYÊN LIỆU CÔNG NGHIỆP
VÙNG LÌA, HƯỚNG HOÁ, QUẢNG TRỊ
3.1 Các đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hộ Vùng Lìa, Hướng Hóa, Quảng Trị
Vài nét về tỉnh Quảng Trị:
Dân số trung bình năm 2010 có 601,672 người, chiếm 1,44% diện tích va 0,76% dân
thành phố Đông Hà, thị xã Quảng Trị và 08 huyện là Vĩnh Linh, Gio Linh, Cam Lộ, Triệu Phong, Hải Lăng, Hướng Hóa, Đakrong và huyện đảo Cồn Cỏ Thành phố Đông
Hà là trung tâm tỉnh lỵ của tỉnh
Vùng Lìa, huyện Hướng Hoá, tỉnh Quảng Trị
Huyện Hướng Hóa là một trong hai huyện miền núi của Quảng trị Vùng Lìa nằm ở phía tây huyện Hướng Hóa, là vùng cao biên giới giáp Lào Toàn vùng có 8 xã gồm xã
A Dơi, xã A Túc, xã Xinh, xã Thanh, xã Thuận, xã Pa Tầng, xã Xy và xã Hướng Lộc
Các đặc điểm kinh tế xã hội
Dân tộc chủ yếu là đồng bào Vân Kiều và Pa Kô chiếm tới trên 90%, Toàn vùng có khoảng 5000 hộ gia đình (theo thống kê năm 2010), khoảng 21,000 dân Trước đây, vùng Lìa là vùng có tỷ lệ hộ đói nghèo ở các xã đặc biệt khó khăn còn cao, thu nhập của vùng còn thấp so với trung bình của tỉnh Tỷ lệ nghèo năm 1998 chiếm tới 76%
Là vùng đất đai màu mỡ, con người cần cù chịu khó nhưng đói nghèo vẫn đeo bám người dân Hơn 10 năm trước nói đến vùng Lìa là ai cũng nghĩ đến một vùng sâu
Trang 36vùng xa, hạ tầng cơ sở nghèo nàn, dân trí còn thấp Về giao thông, cả vùng có con đường duy nhất dài 40km nối liền các xã được xây dựng từ lâu, bị xuống cấp trầm trọng Đường đi lại giữa bản này sang bản khác chủ yếu những con đường mòn, nhỏ,
đi lại hết sức khó khăn Trường học, trạm y tế cấp xã vừa thiếu về cơ sở vật chất, vừa xuống cấp nghiêm trọng Nước sinh hoạt của người dân là nước suối Điện lưới không
có Do địa bàn rộng với địa hình đặc thù vùng cao, mật độ dân thưa, việc đầu tư cơ sở
hạ tầng rất tốn kém
Thực hiện các chương trình quốc gia 134 hỗ trợ sản xuất đất ở, chương trình quốc gia
135 giai đoạn I và II phát triển kinh tế xã hội các xã đặc biệt khó khăn, trợ giúp đồng bào dân tộc ở vùng sâu, vùng xa, định hướng hình thành các vùng chuyên canh tập trung cho các cây công nghiệp, đặc biệt quan tâm đến công tác định canh định cư, xây dựng kinh tế mới, xóa đói giảm nghèo đã giúp vùng Lìa đã có những sự thay đổi đáng
kể trong thập niên qua
Với sự lựa chọn mô hình phát triển phù hợp, sau các thử nghiệm như trồng cà phê, xoài, chuối, vùng Lìa Hướng Hóa đã tập trung chuyên canh cây sắn thành công Ngoài sắn, các cây khác cũng được trồng như cao su Các mô hình chăn nuôi bò, nuôi lợn, nuôi gà hộ gia đình được triển khai Kinh tế của vùng Lìa đã có những thay đổi căn bản, đời sống người dân Pa Kô, Vân Kiều được cải thiện nâng cao rõ rệt Đất trồng trọt được tận dụng, đồng bào Pa Kô Vân Kiều thực hiện định canh định cư, công tác xóa đói giảm nghèo có được các thành tựu rõ ràng và cụ thể: Tỷ lệ nghèo của người DTTS vùng Lìa năm 1998 là 76%, năm 2008 là 56% năm 2011 là 36% Hiện nay, vùng Lìa vẫn còn 3/8 xã có tỷ lệ nghèo trên 50% (Phòng Dân tộc huyện Hướng Hóa)
Sự chuyển đổi mô hình sản xuất, đặc biệt là sự ra đời của Nhà máy chế biến tinh bột sắn Hướng Hoá (năm 2004) đã làm thay đổi toàn diện đời sống kinh tế, văn hóa và tinh thần của người dân vùng Lìa, đặc biệt đối với người DTTS Cây sắn trước đây được xem là cây lương thực chống đói cho đồng bào vùng cao Hiện nay cây sắn không còn là cây lương thực thông thường mà đã trở thành cây công nghiệp có giá trị Đất đai vùng Lìa rất phù hợp với cây sắn, là loại cây dễ trồng phù hợp với tập quán canh tác và trình độ thâm canh của bà con dân tộc ít người Cây sắn thực sự trở thành cây trồng xóa đói giảm nghèo nhanh chóng Nhiều hộ gia đình không chỉ thoát nghèo
mà còn vươn lên trở thành những hộ gia đình có mức thu nhập trung bình và trên trung
Trang 37(kết quả khảo sát các hộ gia đình vùng Lìa năm 2010) có 1% là hộ giàu, 16% hộ khá, 51.5% hộ trung bình và hộ nghèo chiếm 31.5%
Diện tích trồng sắn ngày một tăng lên, từ vài trăm ha sắn, đến nay diện tích trồng sắn
mở rộng lên 4500 ha do nhiều hộ gia đình ở 8 xã vùng Lìa (Hướng Hóa, Quảng Trị) trong đó chủ yếu là các hộ đồng bào DTTS đã đầu tư mở rộng diện tích và thâm canh cây sắn
Anh Lê Văn Thể, Phó giám đốc Nhà máy chế biến tinh bột sắn Hướng Hóa cho biết:
“Với việc chú trọng đầu tư phát triển cây sắn, cung cấp nguyên liệu cho nhà máy, giá trị hàng hoá từ cây sắn đã mang về cho vùng Lìa mỗi năm gần 100 tỷ đồng Nhiều hộ gia đình trồng 5 đến 7 ha sắn, mỗi năm cung cấp cho nhà máy trên 200 tấn sắn nguyên liệu như các hộ gia đình Ắm Lý ở A Túc, Kôn Vinh, Pả Hên ở A Dơi, Pả Dỏ ở xã Thanh…) Được sự hỗ trợ của nhà nước trong đầu tư xây dựng hạ tầng cơ sở điện, đường, trường, trạm, nước sạch, và hỗ trợ của doanh nghiệp trong tập huấn kỹ thuật thâm canh, phân vi sinh nhả chẩm, diện tích, nămg suất, sản lượng cây sắn nguyên liệu
ở vùng Lìa ngày càng cao”
Ông Pả Kỷ, trưởng bản 7, xã Thuận cho biết: “Toàn bản có 47 hộ nhưng chỉ còn 14 hộ nghèo, 95% hộ gia đình đã trồng sắn cao sản, nhà nào cũng trồng chuối, nuôi dê, nuôi
bò để tăng thu nhập Nhờ nguồn thu từ chuối, từ sắn, từ cà phê mà nhà nào cũng làm được nhà mới, sắm được xe máy, đầu thu kỹ thuật số Cũng là cây sắn nhưng cây sắn hiện nay là cây nguyên liệu công nghiệp chính mang lại thu nhập cao và khá ổn định cho người dân”
Song song với việc mở rộng diện tích và thâm canh cây sắn, vùng Lìa còn thực hiện chính sách đa dạng hóa cây trồng, các loại cây nguyên liệu công nghiệp khác như cao
su, chuối, cũng được triển khai, tăng thểm thu nhập cho người dân
Thu nhập của người dân theo kết quả khảo sát hộ gia đình tại vùng Lìa (bảng 1) cho thấy Trong số 400 hộ gia đình khảo sát có tới 3.5% số hộ có thu nhập trên 100triệu/năm tương đương khoảng gần 10 triệu đồng/ tháng Hộ có thu nhấp từ 70-100 triệu đồng/ năm chiếm tới 8.8% Chủ yếu các hộ thu nhập từ 25-50 triệu đồng/ năm Nhờ trồng sắn mà thu nhập của các hộ gia đình tăng nhiều Theo kết quả khảo sát số
hộ có thu nhập tăng chiếm tới 86,8%, số hộ có thu nhập không thay đổi là 11%, số hộ
có thu nhập giảm là 1%
Trang 38Bảng 1: Thu nhập bình quân năm 2010 của hộ gia đình
Thu nhập bình quân của hộ gia đình Phần trăm (%)
Bảng 2: Loại nhà ở của hộ gia đình
Trang 39tiến hơn Trước đây, thu nhập của người dân chủ yếu bằng sản phẩm nông nghiệp thì hiện nay người DTTS đã có thu nhập bằng tiền mặt, một yếu tố xã hội quan trọng thay đổi quan hệ sản xuất và thay đổi quan hệ xã hội trong vùng
Mô hình sản xuất mới tại vùng Lìa tác động đến mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần của người DTTS Tăng thu nhập và làm thay đổi tập quán sinh hoạt, sản xuất của người dân Nhận thức của người dân về kinh tế, xã hội được nâng cao Nhu cầu cũng như mong muốn của người DTTS ngày càng tăng
3.2 Đánh giá thực trạng về sự tiếp cận DVXHCB của đồng bào DTTS vùng Lìa, Hướng Hoá, Quảng Trị
Thực trạng các DVXHCB tại vùng Lìa phản ánh các tính đặc thù của địa hình khu vực, cũng như các yếu tố như sự phân bố (mạng lưới) cơ sở DVXHCB, chất lượng DVXHCB, chi phí DVXHCB Các yếu tố này tác động trực tiếp đến sự tiếp cận các DVXHCB của đồng bào DTTS
3.2.1 Dịch vụ Y tế
Dịch vụ y tế là một trong những DVXHCB quan trọng với người dân, đặc biệt đối với người DTTS vùng Lìa Dịch vụ y tế đảm bảo chăm sóc y tế cho người dân, đối với các
cơ sở y tế cấp xã, thôn ngoài nhiệm vụ chính là khám chữa bệnh cho người dân, cơ sở
y tế cấp xã, thôn có nhiệm vụ triển khai các Chương trình chăm sóc sức khỏe ban đầu cho người dân, đây là một trong quyền cơ bản của con người
Những năm gần đây, các cơ sở y tế cấp xã, huyện ở vùng Lìa, đã được nhiều người dân tới khám chữa bệnh khi bị ốm đau Kết quả khảo sát hộ gia đình cho thấy “mong muốn y, bác sỹ có trình độ” chiếm tỷ lệ cao nhất có tới 63.8% số người được phỏng vấn muốn y, bác sỹ có trình độ trung, sơ cấp trở lên chiễm 54.6%, trong khi đó tỷ lệ những người mong muốn thái độ ân cần, gần gũi với bà con 27,1% Số bệnh nhân chữa khỏi bệnh, không phải chuyển tuyến nhiều hơn; nhiều dịch bệnh trước kia xảy ra hàng năm hiện nay giảm nhiều Bác sỹ trạm trưởng Trạm y tế xã Ba Tầng cho biết:
“Năm 2011trạm y tế xã có 2 trường hợp chuyển viện, một trường hợp tự xin chuyển, một trường hợp khác trạm không xử lý được chuyển đi.” Trạm y tế xã A Dơi số người chuyển y tế lên tuyến trên cao hơn bình quân năm 2011 chuyển 7-8 người/ tháng do trạm xá không sơ cứu kịp thời, hoặc do bệnh quá nặng người dân mới đến trạm y tế
Trang 40Thực trạng về dịch vụ y tế của vùng Lìa hiện nay như sau:
Mạng lưới các cơ sở y tế ở vùng Lìa
Bệnh viện tuyến huyện ở Hướng Hóa nhận các bệnh nhân từ các trạm y tế xã đưa lên Các trạm y tế xã là cơ sở dịch vụ khám chữa bệnh (KCB) “hạt nhân” của mạng lưới y
tế vùng Lìa Có 8/8 (100%) xã có trạm y tế ở trung tâm xã Hiện vùng Lìa đã có mạng lưới y tế thôn, ở mỗi thôn bản của các xã đều có cán bộ y tế Đội ngũ cán bộ y tế thôn đóng vai trò tư vấn, tuyên truyền phòng chữa bệnh kịp thời tới người dân Do độ phủ của mạng lưới y tế tới cấp thôn và xã, công tác sức khỏe khám chữa bệnh đã có nhiều tiến bộ, một số bà con dân tộc đã thực sự sử dụng các dịch vụ y tế này Tuy nhiên có nhiều yếu tố mang tính đặc thù, công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu của người dân vùng Lìa vẫn còn nhiều khó khăn, hạn chế
Tiếp cận xử dụng bệnh viện huyện: Thách thức lớn nhất của khả năng tiếp cận dịch vụ
y tế chủ yếu vẫn do đặc điểm vị trí địa lý, khoảng cách đến các dịch vụ y tế xa và khó khăn Có xã vùng Lìa đến bệnh viện huyện Hướng Hoá xa tới 40 km, Trạm trưởng trạm y tế xã Ba Tầng cho biết: “Xã cách xa bệnh viện huyện và phòng khám của bệnh viện vùng Lìa, giao thông đi lại khó khăn, không có xe tuyến”
Hạn chế tiếp cận dịch vụ y tế cấp xã: Hàng năm mỗi trạm y tế xã tiếp nhận trung bình hàng nghìn lượt bệnh nhân Trạm y tế xã Ba Tầng tiếp nhận 1500 lượt bệnh nhân Xã
A Dơi bình quân 190 bênh nhân/ tháng nhưng tháng 5/2012 có tới 300 bệnh nhân Kết quả khảo sát hộ gia đình vùng Lìa cho thấy: khi bị ốm đau, người dân chủ yếu đến trạm y tế xã để khám chữa bệnh tỷ lệ là 89.2%; Chỉ số ít các trường hợp ốm đau gọi y
tá thôn có 3,1%; có tới 18,1% số hộ khi bị ốm đau tự chữa bệnh tại nhà và có tới 27.2% số hộ khi thành viên bị ốm đau đi đến nhà thầy lang (Câu 10 - điều tra sự tiếp cận dịch vụ y tế của hộ gia đình vùng Lìa, Phụ Lục)
Bệnh viện tuyến huyện ở Hướng Hóa nhận các bệnh nhân từ các trạm y tế xã đưa lên Các trạm y tế xã là cơ sở dịch vụ khám chữa bệnh (KCB) “hạt nhân” của mạng lưới y
tế vùng Lìa Có 8/8 (100%) xã có trạm y tế ở trung tâm xã Hiện vùng Lìa đã có mạng lưới y tế thôn, ở mỗi thôn bản của các xã đều có cán bộ y tế Đội ngũ cán bộ y tế thôn đóng vai trò tư vấn, tuyên truyền phòng chữa bệnh kịp thời tới người dân Do độ phủ của mạng lưới y tế tới cấp thôn và xã, công tác sức khỏe khám chữa bệnh đã có nhiều tiến bộ, một số bà con dân tộc đã thực sự sử dụng các dịch vụ y tế này Tuy nhiên có