Tuy nhiên, các hoạt động KHCN trong lĩnh vực này ở Việt Nam vẫn thiếu các chiến lược hạn vừa và dài hạn, và chưa có đủ kinh phí cần thiết, nên đã gặp nhiều khó khăn trong việc thích ứng
Trang 1BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
VIỆN KHOA HỌC KHÍ TƯỢNG THỦY VĂN VÀ MÔI TRƯỜNG
Tác giả:
Bộ TNMT:
TS Nguyễn Thị Hiền Thuận, TS Trần Thục; TS Trần Hồng Thái,
TS Doãn Hà Phong, TS Nguyễn Lê Tâm
Bộ KHCN: TS Lê Quang Thành; TS Nghiêm Thị Minh Hòa
BÁO CÁO KẾT QUẢ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH KHOA HỌC CÔNG NGHỆ QUỐC GIA
VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
CƠ QUAN CHỦ TRÌ ĐỀ TÀI
(Ký tên và đóng dấu)
CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI
TS Nguyễn Thị Hiền Thuận
HÀ NỘI, 2011
Trang 2MỤC LỤC
Trang
TÓM TẮT 3
ABSTRACT 5
CÁC CHỮ VIẾT TẮT 6
1 GIỚI THIỆU CHUNG 7
1.1 Tính cấp thiết của nhiệm vụ 7
1.2 Các cơ quan tham gia thực hiện 9
1.3 Căn cứ pháp lý để xây dựng Nhiệm vụ 10
1.4 Mục tiêu của Nhiệm vụ 11
1.4.1 Mục tiêu tổng quát 11
1.4.2 Mục tiêu cụ thể 11
1.5 Cách tiếp cận và phương pháp sử dụng 11
2 TỔNG QUAN VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU 13
2.1 Nghiên cứu về biến đổi khí hậu trên thế giới 13
2.1.1 IPCC và các đánh giá về biến đổi khí hậu 13
2.1.2 Các kết quả nghiên cứu nổi bật về biến đổi khí hậu 15
2.1.3 Tác động của biến đổi khí hậu 23
2.1.4 Một số phương án thích ứng với biến đổi khí hậu 24
2.2 Nghiên cứu về biến đổi khí hậu ở Việt Nam 25
Thực trạng biến đổi khí hậu ở Việt Nam 31
2.2.2 Nhận định xu thế biến đổi khí hậu ở Việt Nam 33
2.2.3 Tác động tiềm tàng của biến đổi khí hậu đối với Việt Nam 34
2.2.4 Các giải pháp trong ứng phó với BĐKH 41
2.3 Một số Chương trình khoa học và công nghệ về BĐKH 41
2.3.1 Chương trình Biến đổi khí hậu của Châu Âu 41
2.3.2 Chương trình Khoa học Công nghệ về BĐKH của Hoa Kỳ 42
2.3.3 Hành động Khoa học Công nghệ về BĐKH của Trung Quốc 44
2.3.4 Kế hoạch hành động quốc gia về BĐKH ở Indonesia, Ấn Độ và Thái Lan 44
3 XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH KHCN QUỐC GIA VỀ BĐKH 47
3.1 Những yêu cầu đối với nhiệm vụ 47
3.2 Hội thảo và tư vấn chuyên gia 47
3.3 Đoàn khảo sát, học tập tại Hoa Kỳ 49
3.4 Dự thảo Chương trình KHCN quốc gia về BĐKH 52
3.4.1 Mục tiêu của Chương trình 52
3.4.2 Nội dung nghiên cứu chính 53
3.4.3 Sản phẩm khoa học công nghệ chính 58
3.4.4 Các chỉ tiêu đánh giá chương trình 58
3.4.5 Dự kiến nhu cầu kinh phí từ ngân sách nhà nước 59
3.5 Xác định danh mục đề tài thực hiện từ năm 2011 60
4 CƠ SỞ DỮ LIỆU METADATA 62
4.1 Giới thiệu chung về khung CSDL 62
4.2 Yêu cầu về nội dung của khung CSDL 63
4.3 Cấu trúc khung CSDL 64
4.3.1 Mô đun chung 65
Trang 34.3.2 Các mô đun chức năng 65
4.4 Mô tả CSDL MetaData trên nền Web 67
4.4.1 Lựa chọn công nghệ, phần mềm 68
4.4.2 Các chuyên mục 69
5 DỰ THẢO CÁC QUY CHẾ CỦA CHƯƠNG TRÌNH 74
5.1 Quy chế tổ chức, quản lý hoạt động Chương trình 74
5.2 Quy chế quản lý tài chính đối với Chương trình 87
KẾT LUẬN 93
TÀI LIỆU THAM KHẢO 95
PHẦN PHỤ LỤC 100
Trang 4TÓM TẮT
Biến đổi khí hậu (BĐKH) đang diễn ra trên quy mô toàn cầu, khu vực và
ở Việt Nam, là một trong những thách thức lớn nhất đối với nhân loại trong thế
kỷ 21 Thiên tai và các hiện tượng khí hậu cực đoan khác đang gia tăng ở hầu hết các nơi trên thế giới, nhiệt độ và mực nước biển trung bình toàn cầu tiếp tục tăng nhanh và đang là mối lo ngại của nhiều quốc gia
Được đánh giá là một trong số các nước sẽ bị ảnh hưởng nặng nề nhất của BĐKH và nước biển dâng, Việt Nam coi ứng phó với biến đổi khí hậu là vấn đề
có ý nghĩa sống còn BĐKH cũng mang lại nhiều cơ hội, mở ra thị trường mới
về công nghệ năng lượng, công nghệ thân thiện với môi trường, theo hướng phát triển ít các bon
Từ những năm 1990, BĐKH đã trở thành một chuyên ngành khoa học quan trọng hàng đầu Các nước phát triển đã đầu tư các nguồn lực tài chính rất lớn cho nghiên cứu liên quan đến BĐKH Các dự án KHCN liên quan đến BĐKH được hoàn thành ở Việt Nam đã hỗ trợ mạnh mẽ cho các vấn đề trong nước và ngoài nước trong lĩnh vực BĐKH Tuy nhiên, các hoạt động KHCN trong lĩnh vực này ở Việt Nam vẫn thiếu các chiến lược hạn vừa và dài hạn, và chưa có đủ kinh phí cần thiết, nên đã gặp nhiều khó khăn trong việc thích ứng với chính sự phát triển nhanh chóng trong khoa học BĐKH hoặc để đáp ứng những nhu cầu trong xây dựng và thực hiện các chính sách và hành động quốc gia liên quan đến BĐKH, và tham gia các cuộc đàm phán và hợp tác quốc tế Do
đó rất cần có sự tăng cường cấp bách để củng cố các hoạt động KHCN có liên quan đến BĐKH ở nước ta
Xây dựng và thực hiện Chương trình khoa học công nghệ quốc gia về BĐKH là một trong những nhiệm vụ quan trọng của Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Trong bối cảnh hiện nay, khi kiến thức của thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng về BĐKH còn nhiều hạn chế và vẫn còn tồn tại những quan điểm khác nhau, thậm chí đối lập nhau về BĐKH, khi các kịch bản BĐKH còn chứa đựng nhiều yếu tố chưa chắc chắn và có độ tin cậy chưa cao do vẫn còn nhiều điểm chưa chắc chắn trong việc xác định các kịch bản phát triển kinh tế - xã hội, kịch bản phát thải khí nhà kính, thì việc tiến hành nghiên cứu đồng bộ, liên ngành trong một chương trình tổng thể sẽ tạo cơ sở khoa học cho việc triển khai xây dựng và thực hiện kế hoạch hành động ứng phó với BĐKH ở các ngành, địa phương và ở quy
mô toàn quốc
Trang 5Nhiệm vụ đã tổng quan các vấn đề về biến đổi khí hậutrong đó nêu rõ thực trạng và xu thế biến đổi khí hậu trên thế giới, trong khu vực và ở Việt Nam Những nội dung liên quan đến tác động tiềm tàng của BĐKH đối với sự phát triển kinh tế-xã hội và tính dễ bị tổn thương với BĐKH, các phương pháp và các kinh nghiệm ứng phó với BĐKH được phân tích và tổng hợp góp phần làm rõ và định hướng cho những nội dung thực hiện của Chương trình
Để xây dựng và hoàn thiện các nội dung của Khung Chương trình, Nhóm soạn thảo đã tập hợp được nhiều ý kiến từ các chuyên gia, các nhà quản lý, các nhà khoa học từ các đơn vị, cơ quan cấp trung ương, địa phương, các tổ chức sự nghiệp, doanh nghiệp và các tổ chức phi chính phủ
Việc tham khảo các chương trình KHCN về BĐKH của các nước tiến tiến, và các nước trong khu vực đã giúp Nhóm soạn thảo có định hướng phù hợp với điều kiện của Việt Nam, đồng thời học tập được cách thức thiết kế và triển khai các hoạt động liên quan
Nhiệm vụ đã hoàn thành đầy đủ các mục tiêu, nội dung và sản phẩm theo quyết định phê duyệt Các sản phẩm cụ thể là:
1) Khung Chương trình khoa học công nghệ quốc gia về biến đổi khí hậu
từ năm 2010 đến năm 2015
2) Danh mục nhiệm vụ khoa học công nghệ cho Chương trình
3) Cơ sở dữ liệu phục vụ nghiên cứu biến đổi khí hậu
4) Quy chế tổ chức và hoạt động của Chương trình
Trang 6ABSTRACT
Climate change is one of the biggest challenges for humanity in the 21st century Natural disasters and extreme climate events increasingly take place in most parts of the world, global average temperature and sea level continue to rise rapidly and are a major concern of many countries
Being considered among countries particularly vulnerable to climate change and sea level rise, Vietnam recognizes response to climate change is crutial for survival On the other hand, climate change also brings opportunities, opening new markets for energy technology, environmental sound technology towards low carbon development
Development and implementation of a national science and technology program
on climate change is one of the important tasks clearly stated in the National Target Program to respond to climate change It is accepted that the knowledge of the world
in general and Vietnam in particular on climate change is still limited while different viewpoints remain Uncertainties of climate change projections exist as there are still many uncertainties in determination of socio-economic development scenarios, greenhouse gases emission scenarios Therefore, conducting synchronized studies, interdisciplinary master programs will provide scientific basis for the development of climate change action plans in sectors, locations and nationwide
In this project, an overview of the climate change problems has been carried out indicating the status and trends of climate change worldwide, in the region and in Vietnam Potential impacts of climate change on economic development and social vulnerability are synthezised; Methods and experiences of responding to climate change have been analyzed to guide further steps of the project Intensive consultation workshops, seminars and meetings were organized to obtain opinions and comments from experts, managers, scientists and stakeholders from various governmental and local agencies, institutions, businesses and non-governmental organizations Climate change science and technology programs of other countries, in the region were reviewed and thus helped design and implement related activities in Vietnam’s conditions
All the objectives of the projects together with its outputs have been completed The specific products include: 1/ Framework of the National Science and Technology Program on climate change; 2/ List of projects to be implemented since 2011; 3/ Web-Database on climate change; 4/ Draft regulations on the operation and on financial management of the program
Trang 7CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ADB Ngân hàng phát triển Châu Á
BĐKH Biến đổi khí hậu
CDM Cơ chế phát triển sạch
CTMTQG Chương trình Mục tiêu Quốc gia Ứng phó với Biến đổi khí hậu ĐBSCL Đồng bằng sông Cửu Long
GEF Quỹ môi trường toàn cầu
IPCC Ban Liên Chính phủ về Biến đổi khí hậu
KHCN Khoa học và Công nghệ
KP Nghị định thư Kyoto
NAPA Chương trình Hành động Quốc gia về thích ứng với BĐKH
TBQG1 Thông báo quốc gia đầu tiên của Việt Nam cho Công ước khung của
Liên hiệp quốc về biến đổi khí hậu TBQG2 Thông báo quốc gia lần thứ hai của Việt Nam cho Công ước khung
của Liên hiệp quốc về biến đổi khí hậu TNMT Tài nguyên và Môi trường
UNDP Chương trình Phát triển Liên hiệp quốc
UNEP Chương trình Môi trường Liên hiệp quốc
UNFCCC Công ước khung của Liên hiệp quốc về biến đổi khí hậu
Viện KTTVMT Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường
WB Ngân hàng Thế giới
WMO Tổ chức Khí tượng Thế giới
Trang 81 GIỚI THIỆU CHUNG
1.1 Tính cấp thiết của nhiệm vụ
Biến đổi khí hậu (BĐKH), mà trước hết là sự nóng lên toàn cầu và mực nước biển dâng, là một trong những thách thức lớn nhất đối với nhân loại trong thế kỷ 21 Thiên tai và các hiện tượng khí hậu cực đoan khác đang gia tăng ở hầu hết các nơi trên thế giới, nhiệt độ và mực nước biển trung bình toàn cầu tiếp tục tăng nhanh và đang là mối lo ngại của nhiều quốc gia
Ở Việt Nam, trong khoảng 50 năm qua, nhiệt độ trung bình năm đã tăng khoảng 0.5oC, mực nước biển đã dâng khoảng 20cm Hiện tượng El-Nino, La-Nina ngày càng tác động mạnh mẽ đến Việt Nam BĐKH thực sự đã làm cho các thiên tai, đặc biệt là bão, lũ, hạn hán ngày càng trở nên nghiêm trọng và khó
dự đoán [8]
Việt Nam được đánh giá là một trong số các nước sẽ bị ảnh hưởng nặng
nề của BĐKH và nước biển dâng, trong đó vùng đồng bằng sông Hồng và sông Cửu Long bị ngập chìm nặng nhất Các lĩnh vực, các vùng dễ bị tổn thương và chịu tác động mạnh mẽ nhất của biến đổi khí hậu là: tài nguyên nước, nông nghiệp và an ninh lương thực, sức khỏe; các vùng đồng bằng và dải ven biển [18, 22, 48]
Ngoài những tác động tiêu cực đến phát triển kinh tế - xã hội, BĐKH cũng mang lại nhiều cơ hội, đặc biệt cho việc phát triển công nghệ thân thiện với môi trường Việc ứng phó với BĐKH cũng tạo ra những cơ hội kinh doanh với các thị trường mới về công nghệ năng lượng, hàng hóa; dịch vụ tiêu thụ ít các-bon
sẽ được mở ra Đối với một nước đang phát triển như Việt Nam, cơ hội sử dụng Quỹ đa phương ứng phó với BĐKH và các nguồn vốn ứng phó khác của các nước, cơ hội về Cơ chế phát triển sạch (CDM) cũng cần được xem xét [5, 9] Nhận thức rõ ảnh hưởng tiêu cực cũng như những cơ hội tiềm năng do BĐKH mang lại, Chính phủ Việt Nam đã sớm tham gia và phê chuẩn Công ước Khung của Liên hợp quốc về BĐKH [6]và Nghị định thư Kyoto [7] Ngày 02 tháng 12 năm 2008, Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 158/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH [9], trong đó giao Bộ Tài nguyên và Môi trường cùng với Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với các Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Bộ Kế hoạch và Đầu tư,
và các Bộ, ngành và địa phương khác xây dựng và triển khai Chương trình khoa học công nghệ quốc gia về BĐKH (sau đây gọi tắt là Chương trình)
Trang 9Việc xây dựng Chương trình là cần thiết bởi vì kiến thức hiện nay của thế giới nói chung và Việt Nam về BĐKH còn nhiều hạn chế Trên thế giới vẫn còn tồn tại những quan điểm khác nhau, thậm chí đối lập nhau, về BĐKH [45] Điều này đã thể hiện qua những bế tắc trong các cuộc đàm phán về BĐKH tại Hội nghị các Bên tham gia Công ước khung Liên hợp quốc về BĐKH (gọi tắt là COP) lần thứ 15, 16 và gần đây nhất là lần thứ 17 tại Durban, Nam Phi Thực tế nêu trên, cùng với việc các kịch bản BĐKH cho thế giới và Việt Nam còn chứa đựng nhiều yếu tố chưa chắc chắn và có độ tin cậy chưa cao do vẫn còn nhiều điểm chưa chắc chắn trong việc xác định các kịch bản phát triển kinh tế - xã hội, kèm theo đó là lượng phát thải khí nhà kính trong tương lai, ảnh hưởng không nhỏ đến khả năng thích ứng của Việt Nam trước những tác động của BĐKH trong hiện tại cũng như trong tương lai
Các nghiên cứu về BĐKH ở Việt Nam được các cơ quan nhà nước, các viện nghiên cứu, tổ chức thuộc Liên hiệp hội Khoa học của Việt Nam, các tổ chức quốc tế và các tổ chức phi chính phủ thực hiện từ những năm 1990 cho đến nay có mức độ sâu và rộng khác nhau cho từng vùng, lĩnh vực riêng lẻ, chưa toàn diện, đầy đủ và thiếu tính tổng thể Việc xây dựng và triển khai thực hiện Chương trình sẽ làm cơ sở khoa học toàn diện, tổng thể phục vụ việc xây dựng các giải pháp thích ứng và giảm thiểu BĐKH, cũng như xây dựng và thực hiện các chương trình, kế hoạch và dự án phát triển kinh tế - xã hội của các Bộ, ngành và địa phương, có sự lồng ghép của nội dung BĐKH
Việt Nam rất coi trọng các vấn đề biến đổi khí hậu và đã thông qua nhiều biện pháp tích cực để ứng phó Các chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế -
xã hội, trong đó có chiến lược phát triển khoa học công nghệ đến năm 2020 và tầm nhìn đến 2030 đều nhấn mạnh biến đổi khí hậu là một thách thức lớn và rất cần được được quan tâm và ưu tiên
Để góp phần thực hiện các nhiệm vụ quan trọng đã được xác định trong Chương trình, cung cấp các cơ sở KHCN hỗ trợ Chương trình, phối hợp các nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ có liên quan đến BĐKH, và tăng cường các năng lực KHCN toàn diện nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu, rất cần
tổ chức các hoạt động KHCN của Việt Nam về BĐKH với các lý do sau đây: i) Biến đổi khí hậu là một vấn đề ngày càng nổi bật và mang lại những tác động sâu sắc và bất lợi đến xã hội loài người, đến các hệ sinh thái tự nhiên và các hệ thống kinh tế - xã hội của con người Sự biến đổi đã và đang đặt ra những thách thức quan trọng nhất đối với nhân loại trong những nỗ lực đẩy mạnh phát triển bền vững
Trang 10ii) Một hành động phù hợp với BĐKH sẽ liên quan rất nhiều đến phát triển kinh tế và xã hội của Việt Nam Trong 15-20 năm tới, Việt Nam sẽ tiếp tục phấn đấu tạo ra sự tăng trưởng kinh tế nhanh chóng nhưng cũng phải bảo đảm phát triển bền vững và bảo vệ môi trường Mặc dù mức tiêu thụ năng lượng của Việt Nam trên một đơn vị GDP và cường độ phát thải khí nhà kính chưa cao, một khó khăn sẽ gặp trong tương lai là làm thế nào để đảo ngược xu hướng tiêu thụ năng lượng tăng cao và giảm tổng phát thải khí nhà kính
iii) Tất cả các biện pháp ứng phó và hiệu quả của chúng phụ thuộc rất nhiều vào những tiến bộ trong KHCN Cần có những sự hỗ trợ mạnh mẽ của KHCN liên quan đến BĐKH để hiểu rõ hơn quá trình BĐKH, để xác định các tác động của nó, để phát triển các công nghệ thích ứng và giảm nhẹ, và xây dựng các chính sách và các biện pháp ứng phó phù hợp
Từ những năm 1990, BĐKH đã trở thành một chuyên ngành khoa học quan trọng hàng đầu Các nước phát triển đã đầu tư các nguồn lực tài chính rất lớn cho nghiên cứu liên quan đến BĐKH Các dự án KHCN liên quan đến BĐKH được hoàn thành ở Việt Nam đã cung cấp sự hỗ trợ mạnh mẽ cho các vấn đề trong nước và ngoài nước trong lĩnh vực BĐKH Tuy nhiên, các hoạt động KHCN trong lĩnh vực này ở Việt Nam vẫn thiếu các chiến lược hạn vừa
và dài hạn, và chưa có đủ kinh phí cần thiết, nên đã gặp nhiều khó khăn trong việc thích ứng với chính sự phát triển nhanh chóng trong khoa học BĐKH hoặc
để đáp ứng những nhu cầu trong xây dựng và thực hiện các chính sách và hành động quốc gia liên quan đến BĐKH, và tham gia các cuộc đàm phán và hợp tác quốc tế Do đó rất cần có sự tăng cường cấp bách để củng cố các hoạt động KHCN có liên quan đến BĐKH ở nước ta
Chương trình sau khi được phê duyệt sẽ tập trung nghiên cứu hiện tượng, bản chất khoa học và những điều chưa biết rõ về BĐKH; các tác động của BĐKH đến kinh tế - xã hội, môi trường; phân tích và đánh giá khía cạnh kinh tế của các hoạt động thích ứng với BĐKH; nghiên cứu phát triển/nghiên cứu ứng dụng công nghệ ứng phó với BĐKH; chuyển giao công nghệ ứng phó với BĐKH cho các ngành, địa phương để ứng dụng khi triển khai kế hoạch hành động ứng phó với BĐKH; triển khai các đề tài, đề án hợp tác quốc tế về BĐKH, nhận chuyển giao và ứng dụng các công nghệ thân thiện với khí hậu
1.2 Các cơ quan tham gia thực hiện
Cơ quan chủ quản: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Cơ quan chủ trì thực hiện: Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường
Trang 11Các cơ quan phối hợp thực hiện:
- Vụ Khoa học Công nghệ, Bộ Tài nguyên và Môi trường;
- Vụ Khoa học Xã hội và Tự Nhiên, Bộ Khoa học và Công nghệ;
- Các đơn vị khác thuộc Bộ KHCN, Bộ TNMT;
Ngoài ra, để thực hiện nhiệm vụ này, các chuyên gia thuộc nhiều chuyên ngành khác nhau đã được tham vấn qua các cuộc họp nhóm chuyên gia tư vấn, hội thảo tham vấn và các hội đồng tuyển chọn, xác định danh mục nhiệm vụ của Chương trình
1.3 Căn cứ pháp lý để xây dựng Nhiệm vụ
- Quyết định số 67/2006/QĐ-TTg ngày 21 tháng 3 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ về phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ KHCN chủ yếu giai đoạn 2006- 2010;
- Quyết định số 1870/2006/QĐ-BKHCN ngày 22 tháng 8 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ phê duyệt Danh mục các Chương trình Khoa học và Công nghệ cấp Nhà nước giai đoạn 2006-2010;
- Quyết định số 2026/QĐ-BKHCN ngày 13/9/2006 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ phê duyệt mục tiêu, nội dung và dự kiến sản phẩm của Chương trình KH&CN trọng điểm cấp Nhà nước giai đoạn 2006 - 2010 (dưới đây gọi là Quyết định Phê duyệt Chương trình của Bộ KH&CN);
- Quyết định số 18/2006/QĐ-BKHCN ngày 15/9/2006 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ về “Quy chế tổ chức hoạt động chương trình Khoa học Công nghệ trọng điểm cấp Nhà nước giai đoạn 2006 - 2010”;
- Quyết định số 23/2006/QĐ-BKHCN ngày 23/11/2006 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ về việc bổ sung một số điều của “Quy chế tổ chức quản
lý hoạt động chương trình khoa học công nghệ trọng điểm cấp Nhà nước giai đoạn 2006 - 2010”;
- Quyết định số 10/2007/QĐ-BKHCN ngày 11/05/2007 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ “Quy định tuyển chọn, xét chọn tổ chức cá nhân chủ trì thực hiện nhiệm vụ khoa học công nghệ cấp Nhà nước”;
- Quyết định số 158/2008/QĐ-TTg ngày 02 tháng 12 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu
Trang 121.4 Mục tiêu của Nhiệm vụ
1.4.1 Mục tiêu tổng quát
Chương trình Khoa học công nghệ quốc gia về BĐKH nhằm cung cấp cơ
sở khoa học cho việc xây dựng thể chế, chính sách và kế hoạch hành động ứng phó với BĐKH
1.4.2 Mục tiêu cụ thể
Mục tiêu 1: Xây dựng khung Chương trình khoa học công nghệ quốc gia
về BĐKH từ năm 2011 đến năm 2015;
Mục tiêu 2: Xác định danh mục nhiệm vụ khoa học công nghệ cho
Chương trình và bắt đầu triển khai thực hiện từ năm 2011;
Mục tiêu 3: Xây dựng cơ sở dữ liệu metadata phục vụ nghiên cứu BĐKH; Mục tiêu 4: Xây dựng quy chế tổ chức, quản lý hoạt động của Chương
trình
1.5 Cách tiếp cận và phương pháp sử dụng
Nhiệm vụ áp dụng các cách tiếp cận sau:
- Theo hướng tiếp cận đa ngành: có sự tham gia của các Bộ, ngành và địa phương liên quan;
- Hướng tiếp cận tổng hợp, dựa trên những kế hoạch và chương trình hiện
có, bao gồm các chiến lược, kế hoạch phát triển ngành và địa phương như: Chiến lược Quốc gia về xóa đói giảm nghèo, Chiến lược Quốc gia về bảo vệ sức khỏe cộng đồng, Chiến lược Quốc gia về bình đẳng giới, Chiến lược Quốc gia
về bảo vệ môi trường, Chiến lược Quốc gia về bảo vệ tài nguyên nước, Chiến lược Quốc gia về quản lý tổng hợp đới bờ, Chiến lược Quốc gia về phát triển nông nghiệp, Chiến lược Quốc gia về phát triển lâm nghiệp, Chiến lược Quốc gia về phát triển thủy sản, Chiến lược Quốc gia về phát triển giao thông vận tải, Chiến lược Quốc gia về phát triển năng lượng, Chiến lược Quốc gia về phát triển hạ tầng kỹ thuật, Chiến lược Quốc gia về phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai, và các quy hoạch, kế hoạch có liên quan khác;
- Hướng tiếp cận phát triển bền vững; bình đẳng giới;
- Hướng tiếp cận theo nhu cầu quốc gia;
- Quản lý môi trường hiệu quả; Hiệu quả về kinh tế;
- Đơn giản, và linh hoạt các thủ tục
Trang 13Việc xây dựng Chương trình dựa trên cơ sở các nghiên cứu hiện có và các nghiên cứu đang triển khai trong và ngoài nước, những thông tin, kiến thức kinh nghiệm truyền thống và lịch sử
Các phương pháp sử dụng trong đề tài:
• Phương pháp thu thập, thống kê, tổng hợp tài liệu
Phương pháp này được thực hiện trên cơ sở kế thừa, phân tích và tổng hợp các nguồn tài liệu, tư liệu, số liệu, thông tin có liên quan một cách có chọn lọc,
từ đó, đánh giá chúng theo yêu cầu và mục đích nghiên cứu
Ở giai đoạn đầu, nhiệm vụ tiến hành thống kê, thu thập các dữ liệu, các kết quả nghiên cứu của các chương trình, dự án đã được thực hiện có liên quan
• Phương pháp chuyên gia
Phương pháp chuyên gia được coi là một phương pháp quan trọng và hiệu quả Phương pháp này huy động được kinh nghiệm và hiểu biết của nhóm chuyên gia liên ngành về biến đổi khí hậu, tránh được những trùng lặp với những nghiên cứu đã có, đồng thời kế thừa các thành quả nghiên cứu đã đạt được Phương pháp này được thực hiện thông qua các buổi hội thảo, tham vấn ý kiến của các chuyên gia trong các lĩnh vực liên quan
• Phương pháp tham vấn cộng đồng
Trên cơ sở các phương án đề xuất, thực hiện tham vấn cộng đồng để thu thập ý kiến, hoàn thiện khung Chương trình
Trang 142 TỔNG QUAN VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
Biến đổi khí hậu (Climate Change): Sự thay đổi của khí hậu (định nghĩa
của Công ước khí hậu) được quy trực tiếp hay gián tiếp là do hoạt động của con người làm thay đổi thành phần của khí quyển toàn cầu và đóng góp thêm vào sự biến động khí hậu tự nhiên trong các thời gian có thể so sánh được Biến đổi khí hậu xác định sự khác biệt giữa các giá trị trung bình dài hạn của một tham số hay thống kê khí hậu Trong đó, trung bình được thực hiện trong một khoảng thời gian xác định, thường là vài thập kỷ [6]
Biến đổi khí hậu (BĐKH) tác động đến những yếu tố cơ bản của đời sống nhân loại trên phạm vi toàn cầu: nước, lương thực, sức khỏe và môi trường Hàng trăm triệu người có thể phải lâm vào nạn đói, thiếu nước và lụt lội tại vùng ven biển do trái đất nóng lên Sử dụng kết quả thu được từ các mô hình kinh tế, Nicholas Stern [53] tính toán rằng nếu chúng ta không hành động, tổng chi phí
và rủi ro, do BĐKH gây ra, tương đương với thiệt hại mỗi năm ít ra là 5% GDP toàn cầu kể từ nay trở đi Nếu xét đến rủi ro và tác động với biên độ rộng hơn thì thiệt hại hàng năm được ước tính vào khoảng 20% GDP hoặc lớn hơn Ngược lại, chi phí cho hành động giảm phát thải khí nhà kính, nhằm tránh những tác động xấu nhất của BĐKH, có thể chỉ giới hạn trong phạm vi 1% GDP hàng năm BĐKH sẽ tác động nghiêm trọng đến năng suất sản xuất, đời sống và môi trường trên phạm vi toàn thế giới Tất cả các quốc gia đều bị ảnh hưởng Những nạn nhân nhậy cảm nhất, bao gồm các quốc gia và các tầng lớp dân chúng nghèo nhất, sẽ phải hứng chịu sớm nhất và nặng nề nhất, mặc dù họ lại góp phần nhỏ nhất trong việc tạo ra các nguyên nhân BĐKH Những phí tổn do các hiện tượng thời tiết cực trị gây ra, trong đó phải kể đến lũ lụt, hạn hán, bão, đã bắt đầu gia tăng ngay cả đối với những nước giàu
2.1 Nghiên cứu về biến đổi khí hậu trên thế giới
2.1.1 IPCC và các đánh giá về biến đổi khí hậu
BĐKH bắt nguồn từ sự phát thải ngày càng nhiều của khí nhà kính (KNK) vào khí quyển Quy mô và thành tựu nghiên cứu BĐKH được ghi nhận thông qua hoạt động của Ban Liên Chính phủ về BĐKH (IPCC) trong từng giai đoạn
Ban Liên chính phủ về Biến đổi khí hậu (IPCC) do hai tổ chức thuộc Liên hợp quốc (LHQ) là Tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO) và Chương trình Môi trường Liên hợp quốc (UNEP) thành lập năm 1998 với nhiệm vụ chính là đánh giá các thông tin khoa học liên quan đến BĐKH, đánh giá tác động của BĐKH đến môi trường và kinh tế - xã hội và xây dựng các chiến lược ứng phó Hoạt
Trang 15và thúc đẩy việc thành lập IPCC
Từ khi thành lập đến nay, IPCC đã đưa ra các Báo cáo Đánh giá vào năm
1990 (bổ sung năm 1992), 1995, 2001 và 2007 [43, 45, 46] Hiện nay, IPCC đang chuẩn bị cho báo báo đánh giá thứ 5, dự tính sẽ đưa ra vào năm 2014 Bên cạnh đó IPCC còn có các báo báo chuyên biệt, hoặc phối hợp với các tổ chức (như WMO) xuất bản các văn bản kỹ thuật và các báo cáo về phương pháp luận,
hỗ trợ cho chính phủ các nước trong việc xây dựng và thực hiện các chính sách
về ứng phó với BĐKH với những luận cứ khoa học về biến đối khí hậu đáng tin cậy [42, 44 …] Mỗi Báo cáo đánh giá của IPCC gồm có 3 báo cáo riêng tương ứng với 3 nhóm làm việc của IPCC và một Báo cáo Tổng hợp
Các nhóm công tác (WG) của IPCC gồm có:
- WG1: Chuyên trách về các vấn đề khoa học của BĐKH;
- WG2: Chuyên trách về các vấn đề tác động của BĐKH;
- WG3: Chuyên trách về các vấn đề ứng phó với BĐKH;
Báo cáo đánh giá BĐKH thứ nhất của IPCC (1990) đã tổng hợp kết quả nghiên cứu của 3 nhóm: khẳng định cơ sở khoa học của hiện tượng nóng lên toàn cầu (WG1); khẳng định BĐKH ảnh hưởng đến xã hội loài người (WG2) và kiến nghị các chiến lược và giải pháp ứng phó với BĐKH (WG3)
Báo cáo đánh giá BĐKH thứ hai của IPCC (1995) đã tập hợp một cách đầy đủ và tương đối hoàn chỉnh về 4 lĩnh vực chủ yếu trong nghiên cứu BĐKH: bằng chứng về BĐKH; kịch bản BĐKH; tác động của BĐKH; ứng phó (giảm nhẹ và thích ứng) với BĐKH
Các báo cáo đánh giá BĐKH của IPCC lần thứ ba (TAR, 2001) và lần thứ
tư (AR4) đã có những bước tiến vượt bậc về mặt học thuật, bao trùm nhiều vấn
đề liên quan đến BĐKH và đạt trình độ cao hơn hẳn các giai đoạn trước [43, 45, 46]
Trang 16Ngoài các Báo cáo đánh giá đã nêu, IPCC còn xuất bản các báo cáo khác như Phương pháp đánh giá tác động của BĐKH; Xây dựng kịch bản BĐKH bằng mô hình hoàn lưu chung; Phương pháp kiểm kê KNK (3 tập, 1996),…
Một nghiên cứu trên quy mô châu lục được tiến hành trong 3 năm (Biến đổi khí hậu ở Châu Á, 1994) đã cho thấy một bực tranh tổng thể về hiện trạng BĐKH và các tác động của BĐKH ở Châu Á
Các công trình, dự án về BĐKH trong giai đoạn từ 1988 đến 1995 quan tâm đến các vấn đề về nguồn gốc của BĐKH; các bằng chứng BĐKH thể hiện qua sự thay đổi về nhiệt độ, băng tuyết và nước biển dâng; các vấn đề về kiểm
kê phát thải KNK, các bể hấp thụ KNK…; các tác động của BĐKH và phương pháp đánh giá tác động của BĐKH
Kể từ năm 1996 (sau khi IPCC công bố Báo cáo đánh giá thứ hai) đến nay, nghiên cứu về BĐKH được mở rộng và tiến hành ở nhiều nơi và thu hút sự quan tâm của toàn thế giới Các công trình nghiên cứu chủ yếu bao gồm: Hướng dẫn kiểm kê quốc gia KNK (IPCC, 2006]; Sổ tay hướng dẫn đánh giá tác động của BĐKH và thích ứng với BĐKH (UNEP, 1998); Báo cáo đánh giá thứ 3 (TAR, 2001); Báo cáo đánh giá thứ 4 (AR4, 2007); Những vẫn đề kinh tế của BĐKH (ADB, 2009; Stern, 2007); Hướng dẫn xây dựng luật pháp thích ứng với BĐKH (UNEP, 2011)
Nhiều Thông báo quốc gia cho UNFCCC đã đưa ra các vấn đề liên quan đến BĐKH như bằng chứng về BĐKH, kiểm kê quốc gia KNK, chiến lược giảm nhẹ BĐKH, chiến lược thích ứng với BĐKH [53]
Các công trình khoa học về BĐKH trong giai đoạn này có các đặc điểm nổi bật sau đây:
- Đặc biệt chú trọng bằng chứng về băng tan, nước biển dâng
- Đề cập cụ thể hơn về các biểu hiện của BĐKH trong các lớp khí quyển, đặc biệt là lớp đối lưu dưới
- Đánh giá toàn diện các lĩnh vực liên quan với BĐKH, trong đó đặc biệt chú ý đến quan hệ BĐKH - phát triển con người
2.1.2 Các kết quả nghiên cứu nổi bật về biến đổi khí hậu.
• Các bằng chứng về biến đổi khí hậu
Báo cáo đánh giá BĐKH thứ 4 của IPCC khẳng định những biểu hiện chính của BĐKH trong hơn 100 năm qua như sau:
Trang 17- Nhiệt độ trung bình toàn cầu tăng khoảng 0,740C trong thời kỳ
1906-2005, tốc độ tăng của nhiệt độ trong 50 năm gần đây gấp đôi so với 50 năm trước đó
- Từ năm 1990 đến năm 2005, lượng mưa tăng lên ở phần phía Đông của Bắc Mỹ và Nam Mỹ, Bắc Châu Âu, Bắc Á và Trung Á nhưng giảm đi ở Sahel, Địa Trung Hải, Nam Phi và nhiều nơi ở Nam Á
- Hạn hán xuất hiện thường xuyên hơn ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới kể
• Kết quả nghiên cứu khí nhà kính
Từ các nghiên cứu đầu tiên, đã xác định các KNK gây ra BĐKH hiện đại; đánh giá nồng độ KNK trong các thời kỳ, trước và sau thời kỳ tiền công nghiệp
và đề xuất kịch bản 4 cấp về KNK
Các nghiên cứu trong giai đoạn tiếp theo đã công bố tiềm năng nóng lên của các KNK; vai trò của son khí trong lĩnh vực hàng không và các CFC trong lĩnh vực điện lạnh; Hoàn thiện tài liệu hướng dẫn kiểm kê KNK bao gồm 3 phần: Cơ sở khoa học, sổ công tác và báo cáo kiểm kê; Công bố kịch bản 6 cấp
về phát thải KNK: Phát thải cao: IS92e, IS92g; Phát thải vừa: IS92a, IS92b; và Phát thải thấp: IS92c, IS92d
Trong giai đoạn gần đây nhất, IPCC đã công bố kịch bản 4 họ: A1, A2, B1, B2 và 6 kịch bản chính: Phát thải cao: A1FI, A2; Phát thải vừa: A1B, B2; Phát thải thấp: B1, A1T Các kịch bản phát thải KNK được xây dựng dựa chủ yếu vào: dân số thế giới, mức tăng trưởng kinh tế, nguồn nhiên liệu, trong đó có giá dầu thô, giá nhiên liệu tái tạo, hiệu lực của các công ước quốc tế, trong đó có Nghị định thư Montreal
Có thể nêu khái quát về các kịch bản phát thải của IPCC như sau:
Trang 18o A1: Tăng trưởng kinh tế rất nhanh, dân số thế giới đạt đỉnh cao vào giữa thế kỷ sau đó giảm xuống, xuất hiện nhanh chóng nhiều công nghệ hiệu quả
Họ kịch bản A1 chia thành 3 nhóm khác nhau về phương hướng thay đổi công nghệ trong hệ thống năng lượng:
- A1FI: Chủ yếu là năng lượng hóa thạch
- A1T: Chủ yếu là năng lượng phi hóa thạch
- A1B: Cân bằng các nguồn năng lượng
o A2: Dân số tăng đều, phát triển kinh tế chủ yếu theo khu vực, tăng trưởng kinh tế và thay đổi kỹ thuật chậm hơn các kịch bản khác
o B1: Dân số phát triển như A1, thay đổi nhanh hơn về cấu trúc, hướng tới nền kinh tế dịch vụ và thông tin, giảm cường độ vật liệu, đưa ra nhiều công nghệ sạch, hiệu quả Có nhiều giải pháp kinh tế, xã hội môi trường bền vững nhưng không có những sáng kiến mới về khí hậu
o B2: Chú trọng các giải pháp khu vực về kinh tế, xã hội và môi trường bền vững Dân số tăng đều nhưng chậm hơn A2, phát triển kinh tế vừa phải, tốc
độ chậm hơn nhưng thay đổi kỹ thuật nhiều hơn A1 và B1
Trên cơ sở các kịch bản phát thải KNK, các kịch bản về nhiệt độ và nước biển dâng đã đưa ra những ước lượng cụ thể như: Nhiệt độ vào khoảng năm 2090-2099 cao hơn khoảng năm 1980-1999 là 4,0oC (A1FI); 3,4oC (A2); 2,8oC (A1B); 2,40C (A1T, B2) và 1,80C (B1) Tương tự, mực nước biển dâng được dự tính theo thời gian trên là: 0,26-0,59m (A1FI); 0,23-0,51m (A2); 0,21-0,48 (A1B); 0,20-0,43m (B2); 0,20-0,45m (A1T) và 0,18-0,38m (B1)
• Kịch bản biến đổi khí hậu toàn cầu
Kể từ Báo cáo đầu tiên vào năm 1990 chỉ với kịch bản về nước biển dâng, đến kịch bản năm 2007 với các họ kịch bản khác nhau, đã có những thay đổi đáng kể mức tăng nhiệt độ và mực nước biển dâng
Theo kịch bản 2007, mức tăng nhiệt độ thấp nhất là 1,80C, cao nhất là 4,00C; mực nước biển dâng ít nhất: 0,28- 0,31m, cao nhất: 0,26 - 0,59m
Trang 19Ước lượng tốt nhất
Phạm vi thích hợp
Phạm vi dựa trên mô hình bao gồm cả tương lai thay đổi nhanh chóng của dòng
(Nguồn: Báo cáo Đánh giá thứ 4 của IPCC)
• Dao động và biến đổi khí hậu
Kể từ những năm 60 của thế kỷ trước, dao động và biến đổi khí hậu đã được coi như bản chất vốn có của khí hậu và được tập trung nghiên cứu với quy
mô ngày càng mạnh mẽ Các kết quả nghiên cứu dao động và biến đổi khí hậu trong khoảng 30 năm gần đây đã góp phần nâng cao đáng kể khả năng về mô tả, hiểu và mô hình hoá các cấu trúc thời gian và không gian, độ lớn và quy mô của dao động và biến đổi khí hậu
Các hội nghị, hội thảo và xê-mi-na quốc gia và quốc tế cũng như các diễn đàn khác nhau về dao động và biến đổi khí hậu đã tạo cơ sở cho việc xây dựng các khuyến nghị sau đây về nghiên cứu khí hậu trong tương lai Đó là:
- Các tiêu chuẩn phải được xác lập để đảm bảo rằng các biến khí hậu quan trọng sẽ được xác định và các quan sát được thực hiện sao cho có được cơ sở dữ
Trang 20liệu hữu ích nhất cho những nghiên cứu tương lai về biến thiên khí hậu trên quy
mô thời gian từ thập niên đến thế kỷ
- Việc nghiên cứu mô hình phải được duy trì một cách tích cực để cải thiện kỹ năng trong việc mô phỏng và dự báo các trạng thái khí hậu Việc sử dụng nhiều loại mô hình và các mối liên kết chặt chẽ giữa các mô hình và các nghiên cứu về quan trắc (chẳng hạn như đồng hóa dữ liệu) là rất cần thiết
- Những số liệu về biến đổi khí hậu trong quá khứ, đặc biệt là những số liệu phản ánh thời kỳ tiền công nghiệp, phải được đề cập mạnh mẽ như là một nguồn dữ liệu mới có giá trị về các thành phần tự nhiên của biến thiên khí hậu
Từ các kết quả nghiên cứu tổng quan các cách tiếp cận và phương pháp luận đánh giá dao động và biến đổi khí hậu của các tổ chức quốc tế (WMO, UNEP, IPCC), của các nước phát triển: ở Bắc Mỹ (Hoa Kỳ, Canada) ,ở Nam Mỹ (Brazil…), ở châu Âu (Anh, Đức, Ý, Hà Lan, Tây Ban Nha, Nga, Hungary, Bungary…) các nước Úc và Niu Di Lân, các nước châu Á (Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Indonexia, Thái Lan…), có thể rút ra những nội dung liên quan đến các cách tiếp cận và phương pháp luận về đánh giá dao động và biến đổi khí hậu được kiến nghị ưu tiên tiếp tục nghiên cứu như sau:
- Tái phân tích dữ liệu khí hậu lịch sử để đẩy mạnh các nghiên cứu về các thuộc tính và nguyên nhân của biến đổi;
- Dao động và biến đổi khí hậu;
- Các sự kiện cực đoan trong dữ liệu mô hình khí hậu;
- Ảnh hưởng biến đổi khí hậu đến các áp thấp nhiệt đới, bão;
- Các cực đoan thời tiết và khí hậu và mối liên kết với các hoàn lưu khí quyển quy mô lớn
- Mối quan hệ giữa các thiên tai lũ lụt/hạn hán và ENSO;
- Các mô hình khí hậu;
- Những biến đổi khí hậu thế kỷ và những mối liên kết toàn cầu;
• Nghiên cứu và đánh giá tính dễ bị tổn thương do BĐKH
Điều 4 của UNFCCC yêu cầu các nước phát triển hỗ trợ các nước đang phát triển - những quốc gia "đặc biệt dễ bị tổn thương" với biến đổi khí hậu trong việc đáp ứng các chi phí thích ứng với BĐKH Nhiều công trình nghiên cứu về tính dễ tổn thương với BĐKH đã góp phần xác định các khái niệm, các
Trang 21chỉ thị và chỉ số có cơ sở khoa học về tính dễ bị tổn thương với BĐKH và khả năng thích ứng đồng thời chỉ ra những ưu tiên hỗ trợ thích ứng từ quỹ thích ứng toàn cầu
Các công trình nghiên cứu về tính dễ bị tổn thương với BĐKH chú trọng các vấn đề sau đây:
- Đánh giá các khái niệm khác nhau của 'tính dễ bị tổn thương ', tập
trung vào hai giải thích chính của thuật ngữ này trong nghiên cứu BĐKH: tính
dễ bị tổn thương hậu quả (outcome vulnerability) và tính dễ bị tổn thương theo
bối cảnh/xã hội (contextual/social vulnerability);
- Đánh giá tổng hợp các chỉ số dễ bị tổn thương chính cấp quốc gia đối
với BĐKH; Xem xét và đánh giá các mối quan hệ giữa tính dễ bị tổn thương
tổng hợp quốc gia với biến đổi khí hậu và sự ưu tiên của các quốc gia đối với sự
hỗ trợ thích ứng quốc tế
- Xây dựng và phát triển một khái niệm dễ bị tổn thương với BĐKH nhằm, kết cấu các thông tin riêng biệt về tính dễ bị tổn thương của các nước với những phương thức phù hợp và cụ thể để thông báo các ưu tiên hỗ trợ thích ứng quốc tế
- Nghiên cứu và đánh giá định lượng về các yếu tố dễ bị tổn thương được lựa chọn cho các lĩnh vực khác nhau nhạy cảm với khí hậu, bao gồm cả các tác động tư pháp của BĐKH đối với các lĩnh vực khác nhau
- Đánh giá và xác định các lĩnh vực và vùng dễ bị tổn thương với BĐKH
và xác định các biện pháp ứng phó để phòng ngừa và giảm nhẹ mức độ tổn thương với BĐKH
Việc nghiên cứu và đánh giá tính dễ bị tổn thương với BĐKH yêu cầu phải tiến hành đánh giá và phân tích định lượng các chỉ số liên quan đến mức độ phơi nhiễm, khả năng thích ứng, độ nhạy của khí hậu và những tác động của BĐKH
Hiện nay các quốc gia đang nghiên cứu áp dụng 7 chỉ số dễ bị tổn thương xã hội cấp quốc gia với biến đổi khí hậu với trọng tâm đặc biệt về thảm họa tự nhiên: 1) Chỉ số phát triển con người (HDI); 2) Chỉ số an sinh con người (HWI); 3) Chỉ số dễ bị tổn thương thịnh hành (PVI); 4) Chỉ số dễ bị tổn thương
xã hội với biến đổi khí hậu (SVA); 5) Chỉ số tiên đoán tính dễ bị tổn thương (PIV); 6) Chỉ số rủi ro thiên tai (DRI); và 7) Chỉ số bền vững môi trường (ESI)
Trang 22• Lồng ghép các vấn đề BĐKH vào quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh
tế – xã hội và phòng chống thiên tai
Thích ứng với biến đổi khí hậu (BĐKH) là một thách thức lớn và ngày càng tăng, đặc biệt là đối với sự phát triển bền vững Tích hợp thích ứng với biến đổi khí hậu vào các chiến lược, quy hoạh và kế hoạch phát triển là cung cấp những cơ hội cần thiết để những đầu tư phát triển kinh tế xã hội bền vững hơn với khí hậu
Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (Organization of Economic Cooperation and Development - OECD), việc tích hợp thích ứng BĐKH vào chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội ở các cấp trung ương, ngành và địa phương có thể tiến hành theo 10 mođun sau đây: 1) Modun
1: Áp dụng các kịch bản khí hậu; 2) Modun 2: Giải thích dữ liệu khí hậu; Modun 3: Đánh giá tính dễ bị tổn thương; 4) Modun 4: Xác định các phương án
thích ứng; 5) Modun 5: Chọn các giải pháp thích ứng; 6) Modun 6: Xây dựng khung giám sát và đánh giá thích ứng; 7) Modun 7: Xây dựng năng lực thể chế;
8) Modun 8: Những căng thẳng (ức chế) của khí hậu ở địa phương, tính dễ bị
tổn thương và khả năng phục hồi; 9) Modun 9: Tiến hành các hành động tại địa phương; và 10) Modun 10: Tích hợp thích ứng vào các chiến lược, quy hoạch và
kế hoạch
Từ việc tìm hiểu nội dung 10 modun hướng dẫn tích hợp thích ứng với BĐKH vào các chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội do OECD đề xuất và đang được UNDP, USAID, OECD, WB và ADB áp dụng, có thể nhận thấy như sau:
1) Danh mục 10 modun do OECD đề xuất là cần thiết và hoàn toàn phù hợp với yêu cầu tích hợp BĐKH vào chiến lược phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam;
2) Việc biên soạn, bổ sung và cụ thể hoá các nội dung của 10 modun này
để phục vụ cho việc tích hợp thích ứng với BĐKH vào các chiến lược phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta là cần thiết và nên được thực hiện sớm
• Ứng dụng thông tin khí hậu ra quyết định
Để đảm bảo tích hợp có hiệu quả các nỗ lực thích ứng vào các chiến lược, chính sách và các kế hoạch phát triển của quốc gia, ngành và các địa phương, thông tin khí hậu là cần thiết để mô tả các rủi ro khí hậu và để thông báo việc ra quyết định quản lý hiệu quả các rủi ro
Trang 23Các nhóm công tác quốc gia tham gia nghiên cứu dễ bị tổn thương và thích ứng thường phân bổ nhiều nguồn thông tin nhất cho việc xây dựng và phát triển các kịch bản BĐKH và phân tích tác động, nhưng thường ít chú ý và quan tâm đến việc sử dụng các thông tin khí hậu để hỗ trợ hoạch định chính sách Sự cần thiết phải có sự hướng dẫn trong lĩnh vực này đã trở nên rõ ràng hơn thông qua nhiều hội thảo về truyền thông quốc gia và quốc tế được tổ chức trong nhiều năm qua
Mặc dù cộng đồng quốc tế đã dành sự chú ý đáng kể đến BĐKH, những tiến bộ hướng tới việc thực hiện các hành động còn bị hạn chế Đặc biệt, các biện pháp thích ứng với những tác động của BĐKH được đối với môi trường tự nhiên và xã hội vẫn đang ở giai đoạn đầu Trong số các hạn chế khác, sự thiếu hụt các thông tin khí hậu và khả năng truy cập để sử dụng đã được báo cáo như một rào cản đối với sự thích ứng [36, 52]
Điều đáng chú ý là BĐKH chỉ là một trong nhiều yếu tố góp phần vào tính dễ bị tổn thương của cộng đồng Những yếu tố phi khí hậu khác có thể quan trọng hơn rất nhiều Do đó trong quá trình quyết định thích ứng luôn luôn cần phải chú ý và cân nhắc các vấn đề liên quan đến dữ liệu và tính không chắc chắn
có dính líu đến các yếu tố phi khí hậu này
Hiện nay, nhiều nước đang tập trung biên soạn các tài liệu hướng dẫn áp dụng các thông tin khí hậu - BĐKH dành cho các chuyên gia tham gia vào đánh giá chính sách rủi ro khí hậu và các chuyên gia tư vấn thiết kế và thực hiện các chính sách thích ứng và các dự án ở các cấp quốc gia và khu vực Người sử dụng hướng dẫn này được kỳ vọng sẽ có một sự hiểu biết cơ bản về đánh giá rủi ro khí hậu, những lợi ích tiềm năng và hạn chế của thông tin khí hậu, và quá trình
ra quyết định thích ứng
Cho đến nay, một quy trình chung nhất được áp dụng cho quá trình ra quyết định thích ứng bằng thông tin khí hậu cần phải thực hiện các nội dung sau đây:
- Xác định các khuôn khổ quyết định thích ứng;
- Xác định vai trò của các thông tin khí hậu và các nhu cầu thông tin khí hậu đối với các hợp phần quan trọng của đánh giá rủi ro và lập kế hoạch thích ứng, bao gồm: i) Sàng lọc nguy cơ ban đầu, ii) Phân tích các rủi ro chi tiết, và iii) Đánh giá các phương án thích ứng
- Xem xét các thông tin khí hậu, bao gồm sự sẵn có và tính tin cậy của chúng, bao gồm: i) Xem xét và tổng hợp các thông tin khí hậu có sẵn; ii) Xem
Trang 242.1.3 Tác động của biến đổi khí hậu
Theo báo cáo lần thứ 4 của IPCC, đã có đầy đủ chứng cứ về tác động của BĐKH trên toàn bộ các lục địa và hầu hết các đại dương, đối với các hệ sinh thái
tự nhiên và lục địa Trong các thập kỷ sắp tới, với diễn biến và sự biến đổi của các yếu tố khí hậu, các tác động tiềm tàng chủ yếu BĐKH có thể được khái quát như sau:
- Vào giữa thế kỷ 21, dòng chảy của các sông tăng lên 10-40% ở các vĩ
độ cao và vùng nhiệt đới ẩm ướt và giảm đi 10-30% ở các vĩ độ trung bình và vùng nhiệt đới khô;
- Khoảng 20-30% loài cây và vật nuôi chịu nhiều rủi ro hơn do nhiệt độ tăng lên;
- Sản lượng cây trồng tăng lên chút ít ở các vùng vĩ độ cao và vĩ độ trung bình nhưng lại giảm đi ở các vùng vĩ độ thấp;
- Ngập lụt, xói lở tăng lên rõ rệt ở vùng ven biển;
- Cán cân giữa lợi nhuận và chi phí của các ngành công nghiệp càng thiên về giá trị âm;
- Tỷ lệ tử vong do bão tố, lũ lụt, hạn hán tăng lên, tỷ lệ người bệnh tật,
ốm đau nhiều lên;
- Cũng theo theo báo cáo lần thứ 4 của IPCC, năm 2050 các vùng Trung
Á, Nam và Đông Nam Á tài nguyên nước mặt các sông lớn sẽ giảm;
- Lũ lụt sẽ đe dọa nghiêm trọng các vùng châu thổ lớn ở Nam Á, Đông Nam Á;
- BĐKH kết hợp với đô thị hóa, công nghiệp hóa và phát triển kinh tế sẽ gây áp lực lớn đến các hệ sinh thái tự nhiên và môi trường khu vực này;
- BĐKH sẽ làm tăng các loại bệnh mới và số người tử vong do các bệnh
lạ xuất hiện kết hợp với thiếu lương thực và thiếu nước và khả năng phòng bệnh kém của các cơ sở y tế, đặc biệt là trẻ em và người già, người nghèo
Trang 25Vì những lý do nêu trên, IPCC đã khuyến cáo và thực hiện đánh giá tác động của BĐKH cho tất cả các lĩnh vực và vùng lãnh thổ, đặc biệt là 5 lĩnh vực
dễ bị tổn thương: tài nguyên nước, các hệ sinh thái, lương thực, các dải ven biển
và sức khỏe Một số hệ sinh thái, một số ngành, vùng chịu tác động của BĐKH đặc biệt là:
- Các bình nguyên và vùng núi cao sẽ bị ảnh hưởng của hiện tượng nóng lên;
- Rừng ngập mặn, các đầm lầy ven biển;
- Các dải san hô của tất cả các vùng biển;
- Tài nguyên nước ở các vùng nhiệt đới khô do lượng mưa giảm, bốc hơi tăng;
- Nông nghiệp ở một số vùng vĩ độ thấp do thiếu nước;
- Nước biển dâng đe dọa nghiêm trọng các vùng đồng bằng thấp
2.1.4 Một số phương án thích ứng với biến đổi khí hậu
Báo cáo của IPCC đặc biệt lưu ý đến việc xây dựng các chiến lược và đề xuất các giải pháp ứng phó với BĐKH Chiến lược ứng phó với BĐKH bao gồm
2 bộ phận chủ yếu: Giảm nhẹ BĐKH với nội dung chủ yếu là giảm phát thải KNK và chiến lựợc thích ứng với BĐKH, bao gồm nhiều giải pháp cụ thể ứng dụng trong các lĩnh vực chủ yếu: Tài nguyên nước, nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, năng lượng, công nghiệp, xây dựng, giao thông vận tải và y tế, sức khỏe con người Trong số các chiến lược và giải pháp nói trên, đáng chú hơn cả
là chiến lược ứng phó với mực nước biển dâng ở vùng bờ biển, hải đảo
IPCC giới thiệu một số phương án thích ứng với BĐKH chủ yếu cho các lĩnh vực chủ yếu sau đây:
• Tài nguyên nước: Phát triển kỹ thuật tưới tiêu, tưới tiêu có hiệu quả; Cải thiện quản lý nước
• Nông nghiệp: Điều chỉnh quy hoạch thời vụ và giống; Bảo vệ đất và chống xói mòn thông qua quy hoạch cây trồng
• Cơ sở hạ tầng (bao gồm đới bờ biển): Xây mới, gia cố đê điều phòng chống bão, lụt, nước biển dâng; Bảo vệ đê đập tự nhiên
• Sức khỏe: Xây dựng kế hoạch hành động về bảo vệ sức khỏe; tăng cường các dịch vụ y tế khẩn cấp; Cải thiện công tác quản lý dịch bệnh, bảo đảm nguồn nước an toàn; Cải thiện cơ sở điều dưỡng sức khỏe
Trang 26• Giao thông vận tải: Điều chỉnh lại mạng lưới giao thông; Điều chỉnh tiêu chuẩn thiết kế xây dựng cơ sở hạ tầng
• Năng lượng: Tăng cường và cải thiện hiệu suất năng lượng; Tăng cường
sử dụng năng lượng tái tạo; Giảm lệ thuộc vào nguồn năng lượng độc nhất, chẳng hạn nhà máy thủy điện lớn
Trong thời gian qua, nhiều quốc gia trên thế giới đã xây dựng “Chương
trình Hành động Quốc gia về thích ứng với BĐKH, NAPA” như: Bangladesh
(2005), Bhutan (2007), Burundi (2007), Cambodia (2006), Comoros (2006), Djibouti (2006), Eritrea (2007), Guinée (2007), Haiti (2006), Kiribati (2007), Lesotho (2007), Madagascar (2006), Malawi (2006), Mauritania (2004), Mali (2007), Niger (2006), Congo (2006), Rwanda (2006), Samoa (2005), Sénégal (2006), Sudan (2007), Tomé E Príncipe (2006), Tuvalu (2007), Tanzania (2007),
Zambia (2007) Trung Quốc đã xây dựng “Chương trình BĐKH” vào tháng 7
năm 2007 [50]
2.2 Nghiên cứu về biến đổi khí hậu ở Việt Nam
Đã có nhiều nghiên cứu về BĐKH ở Việt Nam về đối với các lĩnh vực kinh tế - xã hội và các địa phương Những nghiên cứu này do các cơ quan nhà nước, các viện nghiên cứu, tổ chức thuộc Liên hiệp hội Khoa học của Việt Nam, các tổ chức quốc tế và các tổ chức phi chính phủ thực hiện với các mức độ sâu
và rộng khác nhau Trong báo cáo này chỉ mới tập hợp được một số các nghiên cứu từ các dự án sau đây:
1) Dự án “BĐKH ở Châu Á: Việt Nam” (1992-1994) do Viện Quy hoạch
Thủy lợi - Bộ Thủy lợi và Viện KTTV - Tổng cục KTTV phối hợp với các cơ quan khác thực hiện với sự tài trợ của ADB Nội dung của dự án là: (1) Kiểm kê KNK dựa theo số liệu 1990, (2) Đánh giá tác động đối với các lĩnh vực nông nghiệp, tài nguyên nước, đới bờ, lâm nghiệp, sức khỏe cộng đồng và thiên tai; (3) Đề xuất các giải pháp giảm nhẹ đối với các lĩnh vực năng lượng, xây dựng, giao thông, nông nghiệp, lâm nghiệp và
sử dụng đất; (4) Đề xuất chính sách ứng phó với BĐKH đối với các lĩnh vực nêu trên
2) Dự án “Đánh giá tính dễ bị tổn thương của dải ven bờ Việt Nam - Giai
đoạn I” do Trung tâm KTTV Biển - Tổng cục KTTV thực hiện với sự hỗ
trợ của chính phủ Hà Lan Dự án đã đánh giá tính dễ tổn thương của toàn
bộ dải ven bờ Việt Nam đối với tác động của mực nước biển dâng và phác thảo các bước đầu tiên cho việc quản lý tổng hợp dải ven bờ ở Việt Nam
Trang 27Các địa phương được chọn để nghiên cứu thí điểm là Nam Định, TP Huế
và Bà Rịa-Vũng Tàu Các biện pháp quản lý tổng hợp giải ven bờ đã được
đề xuất, trong đó cũng đã đề cập đến khả năng ảnh hưởng của BĐKH và nước biển dâng [23]
3) Dự án "UNDP/UNITAR/GEF - CC:TRAIN (giai đoạn 1)" (1994-1996) do
Viện KTTV chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan, tổ chức có liên quan thực hiện Mục tiêu của dự án là giúp các nước xây dựng chính sách về BĐKH để thực hiện UNFCCC Một số chương trình quốc gia nhằm thực hiện UNFCCC đã được xác định và những hoạt động cần thiết, biện pháp thực hiện đã được đưa ra
4) Dự án "Ảnh hưởng tiềm tàng về kinh tế - xã hội của BĐKH tại Việt Nam"
(1994) Dự án bao gồm một số hoạt động nghiên cứu tập trung vào việc đánh giá tác động tiềm tàng của dao động khí hậu đối với nông nghiệp, sức khỏe con người, sản xuất và sử dụng năng lượng, rừng ngập mặn và đánh cá vùng ven biển Dự án cũng đề cập đến vấn đề ảnh hưởng tiềm tàng của nhiệt độ cao đối với sâu, bệnh cây trồng
5) Dự án “Chiến lược giảm nhẹ khí nhà kính với chi phí thấp nhất ở châu Á”
(ALGAS) (1995-1997) do Viện KTTV - Tổng cục KTTV thực hiện với sự
hỗ trợ của UNDP và ADB Việt Nam là trong 12 nước tham gia dự án khu vực này Mục tiêu của dự án là nâng cao năng lực quốc gia trong việc kiểm kê lượng phát thải khí nhà kính, đánh giá các phương pháp giảm nhẹ, và bước đầu xây dựng chiến lược và kế hoạch hành động giảm khí nhà kính với chi phí thấp nhất [24]
6) Dự án “Kinh tế trong hạn chế phát thải khí nhà kính, Pha 1: Xây dựng
phương pháp luận cho việc đánh giá giảm nhẹ BĐKH” do Viện KTTV -
Tổng cục KTTV thực hiện với sự hỗ trợ của UNEP/GEF Nội dung của
dự án là phân tích việc giảm thiểu KNK và các giải pháp hiệu quả, chú trọng vào các vấn đề chính: (1) Kinh tế vĩ mô liên quan; (2) Sử dụng đất
và lâm nghiệp; (3) Nông nghiệp và năng lượng
7) Thông báo quốc gia đầu tiên (TBQG1) và Thông báo quốc gia thứ hai (TBQG2) của Việt Nam về BĐKH cho Công ước khung của liên hợp quốc
về BĐKH" (2003, 2011) với mục tiêu chính là giúp Việt Nam thực hiện
các cam kết và nghĩa vụ của mình theo Điều 4.1 và 12.1 của Công ước khung của liên hợp quốc về BĐKH
Nội dung chính của TBQG bao gồm: (1) Kết quả kiểm kê quốc gia các KNK năm 1994, 2000 cho các ngành có nguồn phát thải chính là năng
Trang 288) Bộ TNMT đã thực hiện dự án “Nghiên cứu chiến lược Quốc gia về cơ chế
phát triển sạnh (CDM)” Dự án do Viện KTTVMT chủ trì thực hiện với
sự tài trợ của AusAID và World Bank Báo cáo kết quả dự án đã đánh giá hiện trạng về chính sách CDM của Việt Nam, tiềm năng giảm phát thải KNK, cơ hội thị trường CDM, đề xuất cơ cấu tổ chức và các yêu cầu, các quy tắc trong quá trình phê duyệt Kết quả của dự dự án đã góp phần khẳng định là Việt Nam sẵn sàng tận dụng càng sớm càng tốt các cơ hội
do CDM đem lại trong bối cảnh các quá trình BĐKH đang diễn ra ngày càng rõ rệt [5]
9) Bộ TNMT đã thực hiện dự án "Tăng cường năng lực thực hiện Cơ chế
phát triển sạch tại Việt Nam" (2004) Dự án do Vụ Hợp tác quốc tế của
Bộ TNMT chủ trì điều phối thực hiện Mục tiêu dự án là: (1) Tăng cường hiểu biết và phổ biến các thông tin, tài liệu hướng dẫn nâng cao nhận thức
về BĐKH, CDM và các cơ hội, lợi ích do CDM mang lại; (2) Tăng cường năng lực cán bộ, hình thành khung pháp lý, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện các hoạt động CDM ở trong nước; (3) Nâng cao kỹ năng và năng lực nhằm xác định và xây dựng danh mục các dự án CDM tiềm năng tại Việt Nam và thiết lập thủ tục thích hợp xem xét, phê duyệt dự án CDM tại Việt Nam; và (4) Chia sẻ kinh nghiệm thực hiện CDM với các nước trên thế giới và trong khu vực
10) Bộ TNMT triển khai dự án "Tăng cường năng lực cho Cơ quan đầu mối
quốc gia về BĐKH" (2007-2008) Dự án do Vụ Hợp tác quốc tế của Bộ
Trang 29TNMT thực hiện với sự tài trợ của Đan Mạch Mục tiêu của Dự án là tăng cường năng lực về nhân lực, tổ chức, kỹ năng nghiệp vụ cho Vụ Hợp tác quốc tế thuộc Bộ TNMT để thực hiện tốt chức năng của cơ quan đầu mối quốc gia về BĐKH ở Việt Nam và hỗ trợ cơ quan này tiếp tục phát triển quan hệ hợp tác trong và ngoài nước trong việc lồng ghép vấn đề BĐKH vào kế hoạch, chương trình phát triển bền vững
11) Dự án "Hỗ trợ thực hiện các biện pháp tăng cường năng lực ứng phó với
BĐKH ở những lĩnh vực ưu tiên (Giai đoạn II)" do Vụ Hợp tác quốc tế -
Bộ TNMT chủ trì điều phối các hoạt động thực hiện dự án Dự án này là bước tiếp theo dự án xây dựng TBQG, giúp Việt Nam đẩy mạnh thêm các hoạt động đã được tiến hành trong giai đoạn chuẩn bị và thực hiện dự án xây dựng TBQG Mục tiêu cụ thể của dự án là: (1) Tăng cường năng lực
để xác định và phân tích các nhu cầu công nghệ ứng phó với BĐKH; (2) Tiếp cận thông tin về chuyển giao công nghệ và nâng cao nhận thức của công chúng về BĐKH; (3) Tăng cường năng lực chuẩn bị các chương trình về BĐKH, khuyến khích chuyển giao công nghệ ứng phó với BĐKH; (4) Tăng cường năng lực nâng cao chất lượng các hoạt động liên quan đến BĐKH Nhu cầu công nghệ bao gồm các công nghệ về giảm phát thải các KNK và các công nghệ về thích ứng với BĐKH ở Việt Nam trong các lĩnh vực công nghiệp, sản xuất điện, năng lượng, giao thông vận tải, nông nghiệp, lâm nghiệp, tài nguyên nước, quản lý vùng ven biển
12) Dự án “Xây dựng năng lực thích ứng với BĐKH ở miền Trung Việt Nam”
(2002 - 2005) do CECI thực hiện Mục tiêu của dự án là củng cố năng lực
để lập, xây dựng và thực hiện các chiến lược thích ứng cho cộng đồng thông qua việc phòng chống thiên tai, lồng ghép việc phòng và giảm thiểu rủi ro, thiệt hại vào kế hoạch phát triển địa phương
13) Roger Few và nnk (2006) đã nghiên cứu về mối quan hệ giữa thích ứng với BĐKH, quản lý rủi ro thiên tai và giảm nghèo ở Việt Nam trong báo
cáo “Linking Climate Change Adaptation and Disaster Risk Management
for Sustainable Poverty Reduction Vietnam Country Study” Báo cáo đã
xét đến (1) Nguy cơ của BĐKH, thiên tai và các tác động tiềm năng của BĐKH; (2) Cách tiếp cận trong quản lý rủi ro thiên tai; (3) Cách tiếp cận trong thích ứng với BĐKH; (4) Nghiên cứu điển hình ở Nam Định [52] 14) Peter Chaudhry và Greet Ruysschaert (2007) đã tập hợp các vấn đề về
BĐKH trong báo cáo điển hình “BĐKH và phát triển con người ở Việt
Nam” Báo cáo đã tổng quan các nội dung: (1) Nghèo, Thiên tai &
Trang 30BĐKH; (2) Các xu thế & dự báo về tính dễ tổn thương về vật lý trước BĐKH như: Đất đai và khí hậu; Những biến đổi về nhiệt độ và lượng mưa; Những biến đổi về lũ lụt và hạn hán; Thay đổi các hình thái bão; Mực nước biển dâng cao; Các tác động đến nông nghiệp; Nghề cá và nuôi trồng thuỷ sản; BĐKH và sức khỏe con người; (3) Tính dễ tổn thương của BĐKH trong bối cảnh kinh tế-xã hội đang thay đổi; (4) Chính sách ứng phó với BĐKH [41]
15) Trung tâm Khoa học Công nghệ Khí tượng Thuỷ văn và Môi trường
(2007) đã thực hiện dự án “Nâng cao nhận thức và tăng cường năng lực
cho địa phương trong việc thích ứng và giảm nhẹ BĐKH, góp phần thực hiện Công ước Khung của Liên hiệp quốc và Nghị định thư Kyoto về BĐKH” do Chương trình tài trợ các dự án nhỏ, Quỹ Môi trường toàn cầu
(GEF SGP) tài trợ Mục tiêu dự án là nâng cao nhận thức và hiểu biết về BĐKH và tăng cường năng lực quản lý của các địa phương tham gia dự
án (Lào Cai, Ninh Thuận và Bến Tre) trong việc xây dựng và thực hiện kế hoạch hành động thích ứng và giảm nhẹ BĐKH; tuyên truyền, phổ biến kiến thức về BĐKH trong cộng đồng các địa phương tham gia dự án, góp phần nâng cao nhận thức trong toàn xã hội
16) Dự án “Nghiên cứu BĐKH ở Đông Nam Á và đánh giá tác động, tổn hại
và biện pháp thích ứng đối với sản xuất lúa và tài nguyên nước” (2007) do Viện KTTVMT hợp tác với SEA START thực hiện Mục tiêu của dự án là xây dựng các kịch bản BĐKH cho khu vực Đông Nam Á và Việt Nam, đánh giá những tác động của BĐKH đến các yếu tố như nhiệt độ, mưa [33];
17) Dự án “Nghiên cứu tác động của BĐKH ở lưu vực sông Hương và chính
sách thích nghi ở huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế” (2006-2008) do
Viện KTTVMT thực hiện với sự tài trợ của Chương trình hỗ trợ nghiên cứu khí hậu Hà Lan (NCAP) Đây là một nghiên cứu thí điểm áp dụng, lồng ghép các thông tin về BĐKH vào kế hoạch phát triển Kinh tế - xã hội cho một vùng cụ thể để có các giải pháp thích nghi với BĐKH [31];
18) Dự án “Lợi ích của thích nghi với BĐKH từ các nhà máy thủy điện vừa và
nhỏ, đồng bộ với phát triển nông thôn” (2005-2007) do Viện KTTVMT
thực hiện với sự tài trợ của DANIDA Đan Mạch tài trợ [31] Mục tiêu tổng quát của dự án là xác định những lợi ích rõ rệt và nhiều mặt từ các nhà máy thuỷ điện vừa và nhỏ là phát triển nông thôn, thích nghi với BĐKH và giảm nhẹ BĐKH Mục tiêu cụ thể là: (1) Xác định được lợi ích
Trang 31của các nhà máy thuỷ điện vừa và nhỏ trong việc thích nghi với BĐKH; (2) Phân tích và xác định được lợi ích của thuỷ điện vừa và nhỏ đối với phát triển nông thôn trong vùng nghiên cứu thí điểm; (3) Kiến nghị được các biện pháp giảm thiểu tác động đến môi trường và đời sống của người dân do các nhà máy thuỷ điện vừa và nhỏ gây ra, đặc biệt đối với những cộng đồng dân nghèo [32];
19) Dự án “Tác động của nước biển dâng và các biện pháp thích ứng ở Việt
Nam” (2008-2009) do Viện KTTVMT thực hiện với sự tài trợ của
DANIDA - Đan Mạch Mục tiêu cụ thể của dự án là: (1) Nâng cao hiểu biết về các phương pháp đối phó với thiên tai do BĐKH và nước biển dâng ở Việt Nam; (2) Bảo vệ các cộng đồng ven biển, mà đa số thuộc nhóm người nghèo và dễ bị tổn thương đối với thiên tai, cũng như bảo vệ các ngành kinh tế ở vùng ven biển khỏi tác động tiêu cực của nước biển dâng; (3) Đề xuất với Chính phủ các chiến lược nhằm hướng tới việc sử dụng hợp lý tài nguyên vùng ven biển phục vụ cho phát triển kinh tế, đồng thời bảo vệ được môi trường tự nhiên và kinh tế - xã hội trong vùng [34];
20) Dự án “Tác động của BĐKH đến tài nguyên nước ở Việt Nam và các biện
pháp thích ứng” (2008-2009) do Viện KTTVMT thực hiện với sự tài trợ
của DANIDA Đan Mạch Mục tiêu cụ thể của dự án là: (1) Đánh giá tác động của BĐKH đến tài nguyên nước mặt tại một số lưu vực sông của Việt Nam; (2) Đề xuất các giải pháp thích ứng với sự thay đổi tài nguyên nước do BĐKH gây ra [35]
21) Đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của BĐKH đến các điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và đề xuất các giải pháp chiến lược phòng tránh, giảm nhẹ và thích nghi, phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội ở Việt Nam” (2008-2010) thuộc Chương trình khoa học Công nghệ trọng điểm KC08 Mục tiêu của đề tài là: (1) Làm rõ được những tác động của BĐKH đến các điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và kinh tế xã hội Việt Nam; và (2) Đề xuất được các giải pháp chiến lược nhằm thích ứng với BĐKH và giảm nhẹ tác động xấu do BĐKH gây ra [22]
22) Đề tài ”Nghiên cứu tác động của BĐKH toàn cầu đến các yếu tố và hiện tượng khí hậu cực đoan ở Việt Nam, khả năng dự báo và giải pháp chiến lược ứng phó” (2009-2010) thuộc Chương trình khoa học Công nghệ trọng điểm KC08 Mục tiêu của đề tài là: Nghiên cứu đánh giá những tác động của BĐKH toàn cầu đến các yếu tố và hiện tượng khí hậu cực đoan
ở Việt Nam, từ đó đề xuất các phương pháp để dự báo [21]
Trang 32- Các chính sách và kế hoạch hành động ứng phó với BĐKH được xây dựng và tích hợp trong các chương trình và chính sách phát triển của
bộ/ngành và địa phương, đặc biệt liên quan đến những nhiệm vụ của
CTMTQG (mục III số 6, 7, 8 và 9)
- Thông tin và khả năng nghiên cứu liên quan đến tính dễ bị tổn thương,
thích ứng và giảm nhẹ BĐKH được tăng cường, đặc biệt liên quan tới
các nhiệm vụ của CTMTQG (mục III 1, 2, 3 và 5)
- Năng lực xây dựng chính sách và triển khai thực hiện các biện pháp thích ứng và giảm nhẹ BĐKH được tăng cường, đặc biệt liên quan tới nhiệm vụ của CTMTQG (mục III 4)
Thực trạng biến đổi khí hậu ở Việt Nam
Kết quả phân tích các số liệu khí hậu cho thấy thực trạng biến đổi khí hậu ở Việt Nam như sau [10]:
Nhiệt độ: Trong khoảng 50 năm qua (1958 - 2007), nhiệt độ trung bình năm
ở Việt Nam đã tăng lên khoảng 0,5OC đến 0,7OC Nhiệt độ mùa đông tăng nhanh hơn nhiệt độ mùa hè và nhiệt độ ở các vùng khí hậu phía Bắc tăng nhanh hơn các vùng khí hậu phía Nam (Hình 2.1)
Nhiệt độ trung bình năm của 4 thập kỷ gần đây (1961 - 2000) cao hơn trung bình năm của 3 thập kỷ trước đó (1931- 1960) Nhiệt độ trung bình năm của thập kỷ 1991 - 2000 ở Hà Nội, Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh đều cao hơn trung bình của thập kỷ 1931 - 1940 lần lượt là 0,8; 0,4 và 0,6oC Năm 2007, nhiệt độ trung bình năm ở cả 3 nơi trên đều cao hơn trung bình của thập kỷ 1931
- 1940 là 0,8 - 1,3oC và cao hơn thập kỷ 1991 - 2000: 0,4 - 0,5oC
Lượng mưa: Trên từng địa điểm, xu thế biến đổi của lượng mưa trung bình
năm trong 9 thập kỷ vừa qua (1911- 2000) không rõ rệt theo các thời kỳ và trên các vùng khác nhau: có giai đoạn tăng lên và có giai đoạn giảm xuống Lượng mưa năm giảm ở các vùng khí hậu phía Bắc và tăng lên ở các vùng khí hậu phía Nam (Hình 2.2)
Trang 33102°E 104°E 106°E 108°E 110°E 112°E 114°E 8°N
10°N 12°N 14°N 16°N 18°N 20°N 22°N
Q§ Tr−ê
ng S a -2°C
-1°C -0.5°C 0°C 0.5°C 1°C 2°C
Hình 2.1: Mức tăng nhiệt độ trung bình năm
trong 50 năm qua ( o C)
Nguồn: Kịch bản BĐKH, NBD cho VN, 2009
102°E 104°E 106°E 108°E 110°E 112°E 114°E 8°N
10°N 12°N 14°N 16°N 18°N 20°N
Q§ Tr−ê ng S
a -40%
-20% 0% 20% 40%
Hình 2.2: Mức tăng lượng mưa năm
trong 50 năm qua
Nguồn: Kịch bản BĐKH, NBD cho VN, 2009
Tính trung bình trong cả nước,
lượng mưa năm đã giảm khoảng 2%
trong 50 năm qua (1958-2007)
- Không khí lạnh: Số đợt không
khí lạnh ảnh hưởng tới Việt Nam giảm
đi rõ rệt trong hai thập kỷ gần đây
(cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI) Một
biểu hiện dị thường gần đây nhất về
khí hậu trong bối cảnh BĐKH toàn
cầu là đợt không khí lạnh gây rét đậm,
rét hại kéo dài 38 ngày trong tháng 1
và tháng 2 năm 2008 gây thiệt hại lớn
cho sản xuất nông nghiệp
- Bão: Vào những năm gần đây,
số cơn bão có cường độ mạnh nhiều
hơn, quỹ đạo bão dịch chuyển dần về
các vĩ độ phía nam và mùa bão kết
thúc muộn hơn, nhiều cơn bão có quỹ
đạo di chuyển dị thường hơn
- Mưa phùn: Số ngày mưa phùn
trung bình năm ở Hà Nội giảm dần
trong thập kỷ 1981 - 1990 và chỉ còn
gần một nửa (15 ngày/năm) trong 10
năm gần đây
Mực nước biển: Số liệu quan trắc tại
các trạm hải văn dọc bờ biển Việt
Nam cho thấy tốc độ dâng lên của
mực nước biển trung bình của Việt
Nam hiện nay là khoảng 3 mm/năm
trong giai đoạn 1993-2008, tương
đương với tốc độ tăng trung bình trên
thế giới Trong khoảng 50 năm qua ở
các trạm Cửa Ông và Hòn Dấu, mực
nước biển đã dâng khoảng 20cm
Trang 342.2.2 Nhận định xu thế biến đổi khí hậu ở Việt Nam
Từ kết quả nghiên cứu mới nhất về Kịch bản BĐKH và nước biển dâng cho Việt Nam ( Dự thảo Kịch bản BĐKH, NBD cho Việt Nam, 2011)
• Về nhiệt độ:
- Theo kịch bản phát thải thấp: Đến cuối thế kỷ 21, nhiệt độ trung bình
năm tăng từ 1,6 đến 2,2oC trên phần lớn diện tích phía Bắc lãnh thổ và dưới 1,6oC
ở đại bộ phận diện tích phía Nam (từ Đà Nẵng trở vào)
- Theo kịch bản phát thải trung bình: Đến cuối thế kỷ 21, nhiệt độ trung
bình tăng 2-3oC trên phần lớn diện tích cả nước, riêng khu vực từ Hà Tĩnh đến Quảng Trị có nhiệt độ trung bình tăng nhanh hơn so với những nơi khác Nhiệt độ thấp nhất trung bình tăng từ 2,2-3,0oC, nhiệt độ cao nhất trung bình tăng từ 2,0-3,2oC Số ngày có nhiệt độ cao nhất trên 35oC tăng 10-20 ngày trên phần lớn diện tích cả nước
- Theo kịch bản phát thải cao: Đến cuối thế kỷ 21, nhiệt độ trung bình năm
có mức tăng phổ biến từ 2,5 đến trên 3,7oC trên hầu hết diện tích nước ta
• Về lượng mưa:
- Theo kịch bản phát thải thấp: Đến cuối thế kỷ 21, lượng mưa năm tăng
phổ biến khoảng trên 6%, riêng khu vực Tây Nguyên có mức tăng ít hơn, chỉ vào khoảng dưới 2%
- Theo kịch bản phát thải trung bình: Đến cuối thế kỷ 21, lượng mưa năm
tăng trên hầu khắp lãnh thổ Mức tăng phổ biến từ 2-7%, riêng Tây Nguyên, Nam Trung Bộ tăng ít hơn, dưới 3% Xu thế chung là lượng mưa mùa khô giảm
và lượng mưa mùa mưa tăng Lượng mưa ngày lớn nhất tăng thêm so với thời
kỳ 1980-1999 ở Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ và giảm ở Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Nam Bộ Tuy nhiên ở các khu vực khác nhau lại có thể xuất hiện ngày mưa dị thường với lượng mưa gấp đôi so với kỷ lục hiện nay
- Theo kịch bản phát thải cao: Lượng mưa năm vào cuối thế kỷ 21 tăng
trên hầu khắp lãnh thổ nước ta với mức tăng phổ biến khoảng 2-10%, riêng khu vực Tây Nguyên có mức tăng ít hơn, khoảng 1-4%
• Về một số yếu tố khí hậu khác:
- Khí áp tăng trên phạm vi toàn lãnh thổ Việt Nam, Biển Đông
- Độ ẩm tương đối giảm trên hầu khắp cả nước, nhất là phía Đông Bắc Bộ
và Nam Bộ
• Về nước biển dâng:
Trang 35- Theo kịch bản phát thải thấp (B1): Vào cuối thế kỷ 21, mực nước biển
dâng cao nhất ở khu vực từ Cà Mau đến Kiên Giang trong khoảng từ 54-72cm; thấp nhất ở khu vực Móng Cái trong khoảng từ 42-57cm Trung bình toàn Việt Nam, mực nước biển dâng trong khoảng từ 49-64cm
- Theo kịch bản phát thải trung bình (B2): Vào cuối thế kỷ 21, nước biển
dâng cao nhất ở khu vực từ Cà Mau đến Kiên Giang trong khoảng từ 62-82cm; thấp nhất ở khu vực Móng Cái trong khoảng từ 49-64cm Trung bình toàn Việt Nam, mực nước biển dâng trong khoảng từ 57-73cm
- Theo kịch bản phát thải cao (A1FI): Vào cuối thế kỷ 21, nước biển dâng
cao nhất ở khu vực từ Cà Mau đến Kiên Giang trong khoảng từ 85-105cm; thấp nhất ở khu vực Móng Cái trong khoảng từ 66-85cm Trung bình toàn Việt Nam, mực nước biển dâng trong khoảng từ 78-95cm
Nếu mực nước biển dâng 1m, sẽ có khoảng 39% diện tích đồng bằng sông Cửu Long, trên 10% diện tích vùng đồng bằng sông Hồng, Quảng Ninh, trên 2,5% diện tích thuộc các tỉnh ven biển miền Trung và trên 20% diện tích Thành phố Hồ Chí Minh có nguy cơ bị ngập; Gần 35% dân số thuộc các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long, trên 9% dân số vùng đồng bằng sông Hồng, Quảng Ninh, gần 9% dân số các tỉnh ven biển miền Trung và khoảng 7% dân số Thành phố Hồ Chí Minh bị ảnh hưởng trực tiếp; Trên 4% hệ thống đường sắt, trên 9% hệ thống quốc lộ và khoảng 12% hệ thống tỉnh lộ của Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng
2.2.3 Tác động tiềm tàng của biến đổi khí hậu đối với Việt Nam
Theo kết quả đánh giá cho toàn cầu của Ủy ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC) và những nghiên cứu sơ bộ ban đầu của các nhà khoa học Việt Nam, tác động tiềm tàng của BĐKH đối với nước ta là nghiêm trọng và cần
được nghiên cứu sâu thêm
Những tác động nghiêm trọng nhất của BĐKH đối với Việt Nam có thể được tóm tắt như sau:
• Tác động của nước biển dâng
Việt Nam có bờ biển dài 3.260km, hơn một triệu km2 lãnh hải và trên 3.000 hòn đảo gần bờ và hai quần đảo xa bờ, nhiều vùng đất thấp ven biển Những vùng này hàng năm phải chịu ngập lụt nặng nề trong mùa mưa và hạn hán, xâm nhập mặn trong mùa khô BĐKH và nước biển dâng sẽ làm trầm trọng thêm tình trạng nói trên, làm tăng diện tích ngập lụt, gây khó khăn cho thoát nước, tăng xói lở bờ biển và nhiễm mặn nguồn nước ảnh hưởng đến sản xuất
Trang 36nông nghiệp và nước sinh hoạt, gây rủi ro lớn đối với các công trình xây dựng ven biển như đê biển, đường giao thông, bến cảng, các nhà máy, các đô thị và khu dân cư ven biển Mực nước biển dâng và nhiệt độ nước biển tăng ảnh hưởng đến các hệ sinh thái biển và ven biển, gây nguy cơ đối với các rạn san hô và rừng ngập mặn, ảnh hưởng xấu đến nền tảng sinh học cho các hoạt động khai thác và nuôi trồng thủy sản ven biển Tất cả những điều trên đây đòi hỏi phải có đầu tư rất lớn để xây dựng và củng cố hệ thống đê biển, nhằm ứng phó với mực nước biển dâng, phát triển hạ tầng kỹ thuật, di dời và xây dựng các khu dân cư
và đô thị có khả năng thích ứng cao với nước biển dâng [27, 28, 37]
• Tác động của sự nóng lên toàn cầu
Nhiệt độ tăng lên ảnh hưởng đến các hệ sinh thái tự nhiên, làm dịch chuyển các ranh giới nhiệt của các hệ sinh thái lục địa và hệ sinh thái nước ngọt, làm thay đổi cơ cấu các loài thực vật và động vật ở một số vùng, một số loài có nguồn gốc ôn đới và á nhiệt đới có thể bị mất đi dẫn đến suy giảm tính đa dạng sinh học [2, 20]
Đối với sản xuất nông nghiệp, cơ cấu cây trồng, vật nuôi và mùa vụ có thể
bị thay đổi ở một số vùng, trong đó vụ đông ở miền Bắc có thể bị rút ngắn lại hoặc thậm chí không còn vụ đông; vụ mùa kéo dài hơn Điều đó đòi hỏi phải thay đổi kỹ thuật canh tác Nhiệt độ tăng và tính biến động của nhiệt độ lớn hơn,
kể cả các nhiệt độ cực đại và cực tiểu, cùng với biến động của các yếu tố thời tiết khác và thiên tai làm tăng khả năng phát triển sâu bệnh, dịch bệnh dẫn đến giảm năng suất và sản lượng, tăng nguy cơ và rủi ro đối với nông nghiệp và an ninh lương thực [15]
Nhiệt độ tăng, độ ẩm cao làm gia tăng sức ép về nhiệt đối với cơ thể con người, nhất là người già và trẻ em, làm tăng bệnh tật, đặc biệt là các bệnh nhiệt đới, bệnh truyền nhiễm thông qua sự phát triển của các loài vi khuẩn, các côn trùng và vật chủ mang bệnh, chế độ dinh dưỡng và vệ sinh môi trường suy giảm [12, 17]
Sự gia tăng của nhiệt độ còn ảnh hưởng đến các lĩnh vực khác như năng lượng, giao thông vận tải, công nghiệp, xây dựng, du lịch, thương mại,… liên quan đến chi phí gia tăng cho việc làm mát, thông gió, bảo quản và vận hành thiết bị, phương tiện, sức bền vật liệu [16]
• Tác động của các hiện tượng khí hậu cực đoan và thiên tai
Sự gia tăng của các hiện tượng khí hậu cực đoan và thiên tai, cả về tần số
và cường độ do BĐKH là mối đe dọa thường xuyên, trước mắt và lâu dài đối với
Trang 37tất cả các lĩnh vực, các vùng và các cộng đồng Bão, lũ lụt, hạn hán, mưa lớn, nắng nóng, tố lốc là thiên tai xảy ra hàng năm ở nhiều vùng trong cả nước, gây thiệt hại cho sản xuất và đời sống [12, 20]
BĐKH sẽ làm cho các thiên tai nói trên trở nên nghiêm trọng hơn và có thể trở thành thảm họa, gây rủi ro lớn cho phát triển kinh tế, xã hội hoặc xoá đi những thành quả phát triển nhiều năm, trong đó có những thành quả thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ Những vùng/khu vực được dự tính chịu tác động lớn nhất của các hiện tượng khí hậu cực đoan nói trên là dải ven biển Trung Bộ, vùng núi phía Bắc và Bắc Trung Bộ, vùng đồng bằng Bắc Bộ và đồng bằng sông Cửu Long [25, 27, 54]
Tác động tiềm tàng của biến đổi khí hậu đối với các lĩnh vực:
• Tác động của biến đổi khí hậu đối với tài nguyên nước
Tài nguyên nước đang chịu thêm nguy cơ suy giảm do hạn hán ngày một tăng ở một số vùng, mùa Khó khăn này sẽ ảnh hưởng đến nông nghiệp, cung cấp nước ở nông thôn, thành thị và sản xuất điện
Chế độ mưa thay đổi có thể gây lũ lụt nghiêm trọng vào mùa mưa, và hạn hán vào mùa khô, gây khó khăn cho việc cấp nước và tăng mâu thuẫn trong sử dụng nước Trên các sông lớn như sông Hồng và sông Cửu Long, xu hướng giảm nhiều hơn đối với dòng chảy năm và dòng chảy kiệt; xu thế tăng nhiều hơn đối với dòng chảy lũ [26, 35, 42]
• Tác động của biến đổi khí hậu đối với nông nghiệp và an ninh lương thực
BĐKH có tác động lớn đến sinh trưởng, năng suất cây trồng, thời vụ gieo trồng, làm tăng nguy cơ lây lan sâu bệnh hại cây trồng BĐKH ảnh hưởng đến sinh sản, sinh trưởng của gia súc, gia cầm, làm tăng khả năng sinh bệnh, truyền dịch của gia súc, gia cầm
Với sự nóng lên trên phạm vi toàn lãnh thổ, thời gian thích nghi của cây trồng nhiệt đới mở rộng và của cây trồng á nhiệt đới thu hẹp lại Ranh giới của cây trồng nhiệt đới dịch chuyển về phía vùng núi cao hơn và các vĩ độ phía Bắc Phạm vi thích nghi của cây trồng á nhiệt đới bị thu hẹp thêm Vào những năm
2070, cây á nhiệt đới ở vùng núi chỉ có thể sinh trưởng ở những độ cao trên 100
- 500m và lùi xa hơn về phía Bắc 100 - 200km so với hiện nay [ 1, 11]
BĐKH có khả năng làm tăng tần số, cường độ, tính biến động và tính cực đoan của các hiện tượng thời tiết nguy hiểm như bão, tố, lốc, các thiên tai liên quan đến nhiệt độ và mưa như thời tiết khô nóng, lũ lụt, ngập úng hay hạn hán,
Trang 38• Tác động của biến đổi khí hậu đối với lâm nghiệp
Do BĐKH, hệ sinh thái rừng bị ảnh hưởng theo các chiều hướng khác nhau:
- Ranh giới rừng nguyên sinh cũng như rừng thứ sinh có thể dịch chuyển Rừng cây họ dầu mở rộng lên phía Bắc và các dải cao hơn, rừng rụng lá với nhiều cây chịu hạn phát triển mạnh
- Nhiệt độ cao kết hợp với ánh sáng dồi dào thúc đẩy quá trình quang hợp dẫn đến tăng cường quá trình đồng hóa của cây xanh Tuy vậy, chỉ số tăng trưởng sinh khối của cây rừng có thể giảm do độ ẩm giảm
- Nguy cơ diệt chủng của động vật và thực vật gia tăng, một số loài động, thực vật quý hiếm có thể bị suy kiệt
- Nhiệt độ và mức độ khô hạn gia tăng làm tăng nguy cơ cháy rừng, phát triển sâu bệnh, dịch bệnh
• Tác động của biến đổi khí hậu đối với thủy sản
Hiện tượng nước biển dâng và ngập mặn gia tăng dẫn đến các hậu quả sau đây:
- Nước mặn lấn sâu vào nội địa, làm mất nơi sinh sống thích hợp của một
số loài thủy sản nước ngọt
- Rừng ngập mặn hiện có bị thu hẹp, ảnh hưởng đến nơi cư trú của một
số loài thủy sản
- Khả năng cố định chất hữu cơ của hệ sinh thái rong biển giảm, dẫn đến giảm nguồn cung cấp sản phẩm quang hợp và chất dinh dưỡng cho sinh vật đáy
Do vậy, chất lượng môi trường sống của nhiều loại thủy sản xấu đi
Nhiệt độ tăng cũng dẫn đến một số hậu quả:
- Gây ra hiện tượng phân tầng nhiệt độ rõ rệt trong thủy vực nước đứng, ảnh hưởng đến quá trình sinh sống của sinh vật
Trang 39Đối với nguồn lợi hải sản và nghề cá, BĐKH gây ra các tác động:
- Nước biển dâng làm cho chế độ thủy lý, thủy hóa và thủy sinh xấu đi Kết quả là các quần xã hiện hữu thay đổi cấu trúc và thành phần, trữ lượng giảm sút
- Nhiệt độ tăng làm cho nguồn thủy, hải sản bị phân tán Các loài cá cận nhiệt đới có giá trị kinh tế cao bị giảm đi hoặc mất hẳn Cá ở các rạn san hô đa phần bị tiêu diệt
- Các loài thực vật nổi, mắt xích đầu tiên của chuỗi thức ăn cho động vật nổi bị hủy diệt, làm giảm mạnh động vật nổi, do đó làm giảm nguồn thức ăn chủ yếu của các động vật tầng giữa và tầng trên
• Tác động của biến đổi khí hậu đối với năng lượng
Nước biển dâng gây các tác động sau đây:
- Ảnh hưởng tới hoạt động của các dàn khoan được xây dựng trên biển, hệ thống dẫn khí và các nhà máy điện chạy khí được xây dựng ven biển, làm tăng chi phí bảo dưỡng, duy tu, vận hành máy móc, phương tiện,
- Các trạm phân phối điện trên các dải ven biển phải tăng thêm năng lượng tiêu hao cho bơm tiêu nước ở các vùng thấp ven biển Mặt khác, dòng chảy các sông lớn có công trình thủy điện cũng chịu ảnh hưởng đáng kể
Nhiệt độ tăng cũng gây tác động đến ngành năng lượng:
- Tăng chi phí thông gió, làm mát hầm lò khai thác và làm giảm hiệu suất, sản lượng của các nhà máy điện
Trang 40Yêu cầu hạn chế tốc độ tăng phát thải khí nhà kính (KNK) cũng ảnh hưởng đến hoạt động của ngành năng lượng [16]
• Tác động của biến đổi khí hậu đối với giao thông vận tải
BĐKH có nhiều ảnh hưởng tiêu cực đến giao thông vận tải, một ngành tiêu thụ nhiều năng lượng và phát thải KNK không ngừng tăng lên trong tương lai nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển Kinh tế - xã hội trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa Việc kiểm soát và hạn chế tốc độ tăng phát thải KNK đòi hỏi ngành phải đổi mới và áp dụng các công nghệ ít chất thải và công nghệ sạch dẫn đến tăng chi phí lớn
Nhiệt độ tăng làm tiêu hao năng lượng của các động cơ, trong đó có các yêu cầu làm mát, thông gió trong các phương tiện giao thông cũng góp phần tăng chi phí trong ngành GTVT [22]
• Tác động của biến đổi khí hậu đối với công nghiệp và xây dựng
Công nghiệp là ngành kinh tế quan trọng, phát triển nhanh trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Các khu công nghiệp là các cơ sở kinh tế quan trọng của đất nước đang và sẽ được xây dựng nhiều ở vùng đồng bằng phải đối diện nhiều hơn với nguy cơ ngập lụt và thách thức trong thoát nước do nước lũ
từ sông và mực nước biển dâng Vấn đề này đòi hỏi các đánh giá và tăng đầu tư lớn trong xây dựng các khu công nghiệp và đô thị, các hệ thống đê biển, đê sông
để bảo vệ, hệ thống tiêu thoát nước, áp dụng các biện pháp nhằm hạn chế rủi ro, đặc biệt những khu công nghiệp có rác thải và hóa chất độc hại được xây dựng trên vùng đất thấp
BĐKH làm tăng khó khăn trong việc cung cấp nước và nguyên vật liệu cho các ngành công nghiệp và xây dựng như dệt may, chế tạo, khai thác và chế biến khoáng sản, nông, lâm, thủy, hải sản, xây dựng công nghiệp và dân dụng, công nghệ hạt nhân, thông tin, truyền thông, v.v Các điều kiện khí hậu cực đoan