Một số bài học về đầu tư cơ sở vật chất trang thiết bị kỹ thuật của các tổ chức nghiên cứu, đào tạo KHXH của một số nước trên thế giới 63 Phần thứ hai: CƠ SỞ VẬT CHẤT TRANG THIẾT BỊ KỸ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
CỤC CƠ SỞ VẬT CHẤT, THIẾT BỊ TRƯỜNG HỌC VÀ ĐỒ CHƠI
TRẺ EM
BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI
TĂNG CƯỜNG ĐẦU TƯ CƠ SỞ VẬT CHẤT, TRANG THIẾT BỊ
KỸ THUẬT CHO CÁC TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
XÃ HỘI, ĐÀO TẠO CÁN BỘ TRẺ VỀ KHOA HỌC XÃ HỘI
CNĐT : NGUYỄN BÁ CẦN
9582
HÀ NỘI – 2012
Trang 2Phần thứ nhất NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA CƠ SỞ VẬT
CHẤT TRANG THIẾT BỊ KỸ THUẬT VÀ ĐẦU TƯ CƠ SỞ
VẬT CHẤT TRANG THIẾT BỊ KỸ THUẬT CHO CÁC TỔ
CHỨC NGHIÊN CỨU KHOA HỌC, ĐÀO TẠO CÁN BỘ TRẺ
VỀ KHOA HỌC XÃ HỘI
15
I.1 TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ
TRẺ VỀ KHOA HỌC XÃ HỘI Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
I.2 ĐẦU TƯ CƠ SỞ VẬT CHẤT, TRANG THIẾT BỊ KỸ THUẬT
CHO CÁC TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO CÁN BỘ VỀ
KHOA HỌC XÃ HỘI
29
I.2.1 Cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật của các tổ chức nghiên cứu
khoa học, đào tạo cán bộ trẻ về khoa học xã hội
29
I.2.2 Đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật cho tổ chức nghiên
cứu, đào tạo cán bộ trẻ về khoa học xã hội
33
I.3 ĐẦU TƯ CƠ SỞ VẬT CHẤT TRANG THIẾT BỊ KỸ THUẬT
CHO TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU KHOA HỌC, ĐÀO TẠO CÁN
BỘ TRẺ VỀ KHOA HỌC XÃ HỘI CỦA MỘT SỐ NƯỚC
TRÊN THẾ GIỚI
54
I.3.1 Cơ sở vật chất trang thiết bị kỹ thuật của các tổ chức nghiên cứu,
đào tạo KHXH của một số nước trên thế giới
54
I.3.2 Đầu tư cơ sở vật chất trang thiết bị kỹ thuật của các tổ chức
nghiên cứu, đào tạo cán bộ trẻ về khoa học xã hội của một số
nước
59
Trang 3I.3.3 Một số bài học về đầu tư cơ sở vật chất trang thiết bị kỹ thuật của
các tổ chức nghiên cứu, đào tạo KHXH của một số nước trên thế
giới
63
Phần thứ hai: CƠ SỞ VẬT CHẤT TRANG THIẾT BỊ KỸ
THUẬT CỦA CÁC TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO
CÁN BỘ TRẺ VỀ KHOA HỌC XÃ HỘI NƯỚC TA HIỆN
NAY
66
II.1 THỰC TRẠNG CƠ SỞ VẬT CHẤT TRANG THIẾT BỊ KỸ
THUẬT CỦA CÁC TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO
CÁN BỘ TRẺ KHOA HỌC XÃ HỘI
66
II.1.1 Mức độ đáp ứng cơ sở vật chất trang thiết bị kỹ thuật cho các tổ
chức nghiên cứu, đào tạo cán bộ trẻ về khoa học xã hội
66
II.1.2 Đầu tư cơ sở vật chất trang thiết bị kỹ thuật của các tổ chức
nghiên cứu, đào tạo cán bộ về khoa học xã hội
81
II.2 QUẢN LÝ ĐẦU TƯ VÀ QUẢN TRỊ CƠ SỞ VẬT CHẤT
TRANG THIẾT BỊ KỸ THUẬT CỦA CÁC TỔ CHỨC
NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO CÁN BỘ KHOA HỌC XÃ HỘI
90
II.2.1 Quản lý đầu tư cơ sở vật chất trang thiết bị kỹ thuật cho các tổ
chức đào tạo và nghiên cứu khoa học xã hội
90
II.2.2 Quản trị, khai thác sử dụng cơ sở vật chất trang thiết bị kỹ thuật
cho các tổ chức nghiên cứu, đào tạo cán bộ về khoa học xã hội
100
II.2.3 Đội ngũ cán bộ làm công tác cơ sở vật chất và trang thiết bị kỹ
thuật cho các tổ chức nghiên cứu, đào tạo cán bộ về khoa học xã
hội
107
II.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG ĐẦU TƯ CƠ SỞ VẬT CHẤT TRANG
THIẾT BỊ KỸ THUẬT CHO CÁC TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU,
ĐÀO TẠO CÁN BỘ TRẺ VỀ KHOA HỌC XÃ HỘI NHỮNG
NĂM VỪA QUA
109
II.3.1 Điểm mạnh của công tác đầu tư cơ sở vật chất trang thiết bị kỹ
thuật cho các tổ chức nghiên cứu, đào tạo cán bộ trẻ về khoa học
xã hội trong những năm vừa qua
109
II.3.2 Điểm yếu và bất cập của công tác đầu tư cơ sở vật chất trang thiết
bị kỹ thuật cho các tổ chức nghiên cứu, đào tạo cán bộ trẻ về
khoa học xã hội trong những năm vừa qua
111
II.3.3 Nguyên nhân của yếu kém và bất cập 114
Trang 4Phần thứ ba: TĂNG CƯỜNG CƠ SỞ VẬT CHẤT TRANG
THIẾT BỊ CHO CÁC TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO
CÁN BỘ TRẺ VỀ KHOA HỌC XÃ HỘI GIAI ĐOẠN
2011-2020
119
III.1 BỐI CẢNH VÀ SỰ CẦN THIẾT TĂNG CƯỜNG CƠ SỞ VẬT
CHẤT TRANG THIẾT BỊ CHO CÁC TỔ CHỨC NGHIÊN
CỨU, ĐÀO TẠO CÁN BỘ TRẺ VỀ KHOA HỌC XÃ HỘI
GIAI ĐOẠN 2011-2020
119
III.1.1 Bối cảnh của việc đầu tư cơ sở vật chất trang thiết bị kỹ thuật cho
các tổ chức nghiên cứu, đào tạo cán bộ trẻ về khoa học xã hội giai
đoạn 2011-2020
119
III.1.2 Sự cần thiết tăng cường cơ sở vật chất trang thiết bị kỹ thuật cho
các tổ chức nghiên cứu, đào tạo cán bộ trẻ về khoa học xã hội giai
đoạn 2011-2020
123
III.2 QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU VÀ ĐỊNH HƯỚNG TĂNG CƯỜNG
CƠ SỞ VẬT CHẤT TRANG THIẾT BỊ CHO CÁC TỔ CHỨC
NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO CÁN BỘ TRẺ VỀ KHOA HỌC XÃ
HỘI GIAI ĐOẠN 2011-2020
127
III.2.1 Quan điểm tăng cường cơ sở vật chất trang thiết bị kỹ thuật cho
các tổ chức nghiên cứu, đào tạo cán bộ trẻ về khoa học xã hội giai
đoạn 2011-2020
127
III.2.2 Mục tiêu đầu tư tăng cường cơ sở vật chất trang thiết bị kỹ thuật
cho các tổ chức nghiên cứu, đào tạo cán bộ trẻ về khoa học xã hội
giai đoạn 2011-2020
129
III.2.3 Chỉ tiêu phát triển cơ sở vật chất trang thiết bị kỹ thuật cho các tổ
chức nghiên cứu, đào tạo cán bộ trẻ về khoa học xã hội giai đoạn
2011-2020
131
III.2.4 Định hướng tăng cường cơ sở vật chất trang thiết bị kỹ thuật cho
các tổ chức nghiên cứu, đào tạo cán bộ trẻ về khoa học xã hội giai
đoạn 2011-2020
133
III.3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG CƠ SỞ VẬT CHẤT
TRANG THIẾT BỊ CHO CÁC TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU,
ĐÀO TẠO CÁN BỘ TRẺ VỀ KHOA HỌC XÃ HỘI GIAI
ĐOẠN 2011-2020
136
Trang 5III.3.1 Chấn chỉnh công tác chỉ đạo, điều hành nhiệm vụ đầu tư cơ sở vật
chất trang thiết bị kỹ thuật cho các tổ chức nghiên cứu, đào tạo
cán bộ trẻ về khoa học xã hội
136
III.3.2 Rà soát sửa đổi, bổ sung cơ chế, chính sách đầu tư cơ sở vật chất
trang thiết bị kỹ thuật cho các tổ chức nghiên cứu, đào tạo cán bộ
trẻ về khoa học xã hội
138
III.3.3 Mở rộng các kênh huy động nguồn lực đầu tư cơ sở vật chất trang
thiết bị kỹ thuật cho các tổ chức nghiên cứu, đào tạo cán bộ trẻ về
khoa học xã hội
141
III.3.4 Nâng cao hiệu quả đầu tư cơ sở vật chất trang thiết bị kỹ thuật
cho các tổ chức nghiên cứu, đào tạo cán bộ trẻ về khoa học xã hội
143
III.3.5 Nâng cao hiệu suất khai thác, sử dụng cơ sở vật chất trang thiết bị
kỹ thuật của các tổ chức nghiên cứu, đào tạo cán bộ trẻ về khoa
học xã hội
146
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 149 Danh mục tài liệu tham khảo 155 Phụ lục 1: Danh sách tổ chức nghiên cứu, đào tạo cán bộ trẻ về
khoa học xã hội gửi phiếu khảo sát
162
Phụ lục 2: Danh sách các tổ chức nghiên cứu, đào tạo cán bộ trẻ
về khoa học xã hội đã tham gia tọa đàm, trao đổi
169
Phụ lục 3: Phiếu khảo sát thực trạng CSVCTTBKT của tổ chức
nghiên cứu, đào tạo cán bộ trẻ về KHXH (phiếu hỏi số 1)
170
Phụ lục 4: Phiếu khảo sát thực trạng CSVCTTBKT của tổ chức
nghiên cứu, đào tạo cán bộ trẻ về KHXH (phiếu hỏi số 2)
184
Phụ lục 5: Phiếu khảo sát thực trạng CSVCTTBKT của tổ chức
nghiên cứu, đào tạo cán bộ trẻ về KHXH (phiếu hỏi số 3)
191
Phụ lục 6: Phiếu khảo sát thực trạng CSVCTTBKT của tổ chức
nghiên cứu, đào tạo cán bộ trẻ về KHXH (phiếu hỏi số 4)
196
Trang 6Đại học Quốc gia Hà Nội: ĐHQGHN
Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh: ĐHQGTPHCM
Tổ chức văn hóa, khoa học
Trang 7DANH MỤC BẢNG SỐ LIỆU
Bảng 1: Tỷ lệ % GDP đầu tư cho giáo dục đại học ở một số nước trên thế
giới;
Bảng 2 Diện tích đất trung bình cho 1 sinh viên đại học, cao đẳng;
Bảng 3 Tình hình lập quy hoạch xây dựng của các tổ chức nghiên cứu
KHXH và đòa tạo cán bộ về KHXH;
Bảng 4 Diện tích phòng học tính bình quân/1 sinh viên;
Bảng 5: Các chỉ tiêu đánh giá chung về khả năng phục vụ sinh viên trong
sinh hoạt tại trường;
Bảng 6: Mức độ đáp ứng của phòng thí nghiệm, phòng thực hành
và cơ sở thí nghiệm hiện có của các đơn vị;
Bảng 7 Tình hình những loại thiết bị, phương tiện hiện có của đơn vị và mức độ cần bổ sung;
Bảng 8 Một số chỉ tiêu đánh giá thư viện truyền thống;
Bảng 9 Một số chỉ tiêu đánh giá thư viện điện tử;
Bảng 10: Một số chỉ tiêu cơ sở vật chất về công nghệ thông tin;
Bảng 11: Một số nhóm ngành KHXH đang được triển khai nghiên cứu
và đào tạo tại 74 đơn vị khảo sát;
Bảng 12 Phát triển quy mô đào tạo của một số trường đại học có hoạt
động nghiên cứu KHXH và đào tạo cán bộ về KHXH giai đoạn 1975-2010;
Bảng 13 Cơ cấu thu về đầu tư CSVCTTBKT của tổ chức nghiên cứu
KHXH và đào tạo cán bộ KHXH trong 3 năm 2007-2009;
Bảng 14 Mức trần học phí đại học tại trường công lập từ năm học 2010 -
2011 đến năm học 2014 – 2015;
Bảng 15: Các yếu tố và mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến công tác
xây dựng chiến lược, quy hoạch kế hoạch đầu tư CSVCTTBKT của các đơn vị;
Bảng 16 Một số chỉ tiêu đánh giá cán bộ thư viện điện tử
Trang 8DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 1: Cơ cấu diện tích đất sử dụng hiện có của các đơn vị;
Hình 2: Mức độ đáp ứng về thư viện hiện có so với yêu cầu nhiệm vụ của các đơn vị;
Hình 3 Thu về đầu tư CSVCTTBKT của đơn vị trung ương quản lý và địa phương quản lý trong 3 năm (2007-2009);
Hình 4 Thu đầu tư CSVCTTBKT của tổ chức nghiên cứu KHXH và đào tạo cán bộ KHXH trong 3 năm 2007-2009 theo vùng miền;
Hình 5: Nguồn kinh phí chính để đầu tư CSVCTTBKT các tổ chức nghiên cứu, đào tạo cán bộ về KHXH trong 3 năm (2007-2009);
Hình 6 Đầu tư NSNN cho các bộ, ngành và địa phương 2001-2005;
Hình 7 Phân bổ kinh phí cho các bộ, ngành 2001-2005;
Hình 8: Tình hình lập chiến lược, quy hoạch, kế hoạch về đầu tư CSVC và trang thiết bị kỹ thuật của các đơn vị;
Hình 9: Ý kiến đánh giá về thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch đầu
tư CSVC và trang thiết bị kỹ thuật của các đơn vị;
Hình 10: Nguồn kinh phí đầu tư CSVC và trang thiết bị kỹ thuật;
Hình 11: Những bất cập về chính sách, cơ chế phân bổ, cấp phát và quản
lý nguồn kinh phí đầu tư CSVC và trang thiết bị kỹ thuật của các đơn vị
Trang 9DANH MỤC SƠ ĐỐ
Sơ đồ 1: Quy trình quản lý và sử dụng NSNN đầu tư cho KH&CN hiện nay;
Sơ đồ 2: Quy trình phân bổ NSNN cho GDĐH hiện nay;
Sơ đồ 3 Cơ cấu phân bổ chi NSNN cho KHCN hiện nay
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Bối cảnh hình thành và mục đích của nhiệm vụ nghiên cứu
Ngày 24/7/2007 Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 928/QĐ-TTg phê
duyệt đề án "Nghiên cứu khoa học xã hội (KHXH), tổng kết thực tiễn, xây dựng
luận cứ khoa học cho các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, nhằm đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa (CNH), hiện đại hóa (HĐH) đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa" (gọi tắt là Đề án 928-mã số 928/06-10) và giao
Viện Khoa học Xã hội Việt Nam chủ trì tổ chức triển khai
Cục Cơ sở Vật chất và Thiết bị trường học, Đồ chơi Trẻ em thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo được Viện Khoa học Xã hội Việt Nam giao thực hiện nhiệm vụ
nghiên cứu “Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất và trang thiết bị kỹ thuật
(CSVCTTBKT) cho các tổ chức nghiên cứu, đào tạo cán bộ trẻ về KHXH”
mang mã số 06, gọi tắt là nhiệm vụ khung số 06 tại Quyết định số KHXH ngày 2/12/2008 của Chủ tịch Viện Khoa học Xã hội Việt Nam
1476/QĐ-Nhiệm vụ khung 06 là một trong 9 nhiệm vụ của đề án 928/06-10 Mục đích và yêu cầu nghiên cứu là:
i) Phân tích thực trạng về đầu tư CSVCTTBKT của các tổ chức nghiên cứu, đào tạo cán bộ trẻ về KHXH Việt Nam giai đoạn 2001-2010, trong đó trọng tâm là giai đoạn 2006-2010;
ii) Đánh giá về cơ chế và cơ cấu đầu tư, quản lý nhà nước về đầu tư, hiệu quả sử dụng CSVCTTBKT tại các tổ chức nghiên cứu, đào tạo cán bộ trẻ về KHXH giai đoạn 2001-2010;
iii) Đề xuất các giải pháp tăng cường đầu tư CSVCTTBKT cho các tổ chức nghiên cứu, đào tạo cán bộ trẻ về KHXH Việt Nam giai đoạn 2011-2020 nhằm khuyến khích lao động sáng tạo, phát huy tài năng phục vụ sự nghiệp đổi mới đất nước; và,
Trang 11iv) Đề xuất cơ chế, chính sách khuyến khích đầu tư, khai thác và sử dụng hiệu quả hệ thống CSVCTTBKT của các tổ chức nghiên cứu, đào tạo cán bộ trẻ
về KHXH giai đoạn 2011-2020
2 Sự cần thiết của nhiệm vụ nghiên cứu
Thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội của nhiều nước trên thế giới trong những năm qua cho thấy, khoa học xã hội đóng một vai trò quan trọng không chỉ trong việc đáp ứng các nhu cầu về đời sống tinh thần của người dân, mà còn thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đảm bảo an ninh quốc gia… Những nước có nền KHXH phát triển cũng là những nước có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao; ổn định và đảm bảo an sinh xã hội; phát huy nhân cách, năng lực của con người bằng việc thực thi các cơ chế khuyến khích nhân tài, những phương pháp và cách thức đảm bảo sự hòa hợp giữa các tầng lớp nhân dân… Ngay cả chủ quyền quốc gia-vấn đề không chỉ của quốc phòng, an ninh, ngoại giao mà còn có vai trò trước hết và đặc biệt quan trọng của KHXH
Các yếu tố tạo tiền đề cho một nền KHXH phát triển bao gồm nhiều thành
tố khác nhau, trong đó các điều kiện đảm bảo về kết cấu hạ tầng kỹ thuật và cơ
sở vật chất như đất đai, nhà cửa, tài liệu, sách vở, phương tiện làm việc cho các các hoạt động nghiên cứu và đào tạo đội ngũ cán bộ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng
Tại Việt Nam, trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã có sự quan tâm đáng kể giành cho các tổ chức nghiên cứu khoa học xã hội, đào tạo cán bộ trẻ về khoa học xã hội Tuy nhiên, việc tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật cho hoạt động đào tạo và nghiên cứu KHXH vẫn còn những bất cập như chưa được đầu tư đúng tầm, đầu tư còn dàn trải, thiếu trọng tâm hoặc chưa kịp thời theo yêu cầu của thực tế, chưa có tiêu chuẩn, định mức rõ ràng về
cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật cho các tổ chức nghiên cứu, đào tạo cán bộ trẻ về KHXH Vì vậy, việc tăng cường đầu tư, hiện đại hóa CSVCTTBKT cho các tổ chức nghiên cứu, đào tạo cán bộ KHXH, đặc biệt cho các tổ chức nghiên cứu, đào tạo cán bộ trẻ về KHXH và đầu tư hiệu quả, cũng như quản lý tốt CSVCTTBKT sau đầu tư đang là những vấn đề hết sức quan trọng, nhận được
sự quan tâm của cộng đồng xã hội và các tổ chức nghiên cứu, đào tạo cán bộ về
Trang 12KHXH Nghiên cứu “tăng cường đầu tư CSVCTTBKT cho các tổ chức nghiên cứu, đào tạo cán bộ trẻ về KHXH” có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn sâu sắc, giải quyết vấn đề khó và đang đặt ra bức thiết hiện nay
3 Tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của nhiệm vụ khung số 6
Cho đến nay, cả ở trong nước và ngoài nước, chưa có công trình nghiên cứu độc lập, chuyên sâu và toàn diện về đầu tư CSVCTTBKT cho các tổ chức nghiên cứu, đào tạo cán bộ KHXH của nước ta nói chung, nghiên cứu và đào tạo cán bộ trẻ về KHXH của nước ta nói riêng Một số bài viết chuyên khảo về hoạt động nghiên cứu KHXH và giáo dục đại học đăng trên các tạp chí trong nước có đề cập đến điều kiện CSVCTTBKT của các viện nghiên cứu và trường
ĐH, CĐ nhưng ở mức độ nhất định, thảo luận có tính khái quát về sự bất cập giữa thực trạng và nhu cầu, hoặc một khía cạnh nhất định về cơ chế và chính sách đầu tư Mặt khác, phần lớn các tác giả đều tập trung đề cập đến khoa học
và công nghệ nói chung Những vấn đề về chính sách và cơ chế đầu tư CSVCTTBKT được nhắc đến trong các bài đăng tải trên các báo, tạp chí chuyên ngành và một số sách chuyên khảo bị hạn chế cả về dung lượng, phạm
vi, nội dung và phương pháp tiếp cận Hầu như các bài viết chỉ dừng lại ở góc
độ tranh luận, nêu quan điểm hay khai thác thông tin nên chưa góp phần hệ thống hóa thành cơ sở lý luận và thực tiễn đặt nền móng cho việc xây dựng và hoàn thiện chính sách đầu tư CSVCTTBKT cho các tổ chức nghiên cứu, đào tạo cán bộ trẻ về KHXH trước yêu cầu và nhiệm vụ được đặt ra trong những năm sắp tới
4 Đối tượng, phạm vi và giới hạn vấn đề của nhiệm vụ nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của nhiệm vụ khung số 6 là các trường ĐH, CĐ và viện nghiên cứu khoa học có hoạt động nghiên cứu, đào tạo cán bộ trẻ về KHXH Phạm vi nghiên cứu tiến hành ở cả 63 tỉnh, thành phố của cả nước Thời gian nghiên cứu là giai đoạn 2001-2010, trọng tâm trong 3 năm từ năm
2007 đến năm 2010 KHXH trong nghiên cứu này bao hàm cả khoa học nhân văn (KHNV)
Trang 13Kết quả nghiên cứu của nhiệm vụ khung số 6 sẽ là cơ sở để rà soát bổ sung, sửa đổi những chủ trương, chính sách hiện hành và khuyến nghị với Đảng
và Nhà nước những lựa chọn chiến lược về đầu tư CSVCTTBKT cho các tổ chức nghiên cứu, đào tạo cán bộ trẻ về KHXH trong 10 năm tới Những đề xuất, khuyến nghị chủ yếu mang tính định hướng mà không đi vào chi tiết, bởi
vì cùng với nghiên cứu này, trong khuôn khổ đề án 928, còn có các nhiệm vụ nghiên cứu chuyên sâu như: nghiên cứu sắp xếp lại hệ thống các tổ chức nghiên cứu và đào tạo về KHXH (nhiệm vụ số 3); đổi mới cơ chế quản lý nhà nước nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của KHXH trong giai đoạn đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước (nhiệm vụ số 4); chính sách đãi ngộ, khen thưởng, trọng dụng và tôn vinh các cán bộ KHXH (nhiệm vụ số 5); đổi mới cơ chế và chính sách tài chính cho KHXH, khuyến khích lao động sáng tạo, phát huy tài năng phục vụ
sự nghiệp đổi mới đất nước (nhiệm vụ sô 7); kết hợp nghiên cứu với đào tạo giữa các viện nghiên cứu KHXH và cơ sở giáo dục ĐH (nhiệm vụ số 8); hợp tác quốc tế về KHXH trong chiến lược hợp tác quốc tế về KH&CN đến năm 2015
và định hướng đến năm 2020 (nhiệm vụ số 9)
5 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
Các nội dung và giải pháp đề xuất và khuyến nghị tăng cường đầu tư CSVCTTBKT cho các tổ chức nghiên cứu, đào tạo cán bộ trẻ về KHXH đưa ra trong nghiên cứu này có chọn lọc, tập trung vào khắc phục những bất cập, hạn chế có tính phổ biến và đang gây những cản trở không nhỏ đến chất lượng, tâm huyết và đạo đức trong hoạt động nghiên cứu và đào tạo cán bộ trẻ về KHXH; đồng thời ảnh hưởng không tốt đến hiệu quả hoạt động của các tổ chức nghiên cứu, đào tạo cán bộ trẻ về KHXH xét dưới góc độ đầu tư ngân sách và đầu tư xã hội, mà trước hết, của khối những nhà KHXH hoạt động trong lĩnh vực KHXH cho phát triển KHXH, cho đường lối chủ trương, chính sách phát triển kinh tế-
xã hội của đất nước Ngoài ra, những đề xuất và khuyến nghị còn tính đến bối cảnh của KHXH trong dài hạn, khi mà chủ trương đẩy mạnh CNH và HĐH cũng như phát triển kinh tế-xã hội đặt ra cho KHXH những nhiệm vụ mới, hết sức quan trọng trong trào lưu thế giới ngày càng đề cao vai trò của KHXH
Trang 14Phân tích thực trạng về CSVCTTBKT của các viện nghiên cứu, trường
ĐH và CĐ hiện nay, trên cơ sở đó tìm ra những nguyên nhân của sự bất cập và hạn chế, kết hợp với những bài học kinh nghiệm về đầu tư CSVCTTBKT cho các tổ chức đào tạo và nghiên cứu KHXH của nước ngoài, đồng thời vận dụng cách tiếp cận quản trị hiệu quả theo hướng phân cấp và phân quyền trong quản
lý đầu tư được xem là một trong các phương pháp nghiên cứu chủ đạo được lựa chọn để giải quyết nhiệm vụ Phương pháp chuyên gia thông qua trao đổi, thảo luận ý kiến tại hội thảo khoa học, hoặc tham vấn bằng cách lấy ý kiến trực tiếp cán bộ quản lý và lãnh đạo các tổ chức nghiên cứu, đào tạo cán bộ trẻ về KHXH như hiệu trưởng/viện trưởng, hiệu phó/viện phó hay lãnh đạo các phòng ban, đặc biệt phòng quản trị thiết bị được sử dụng để kiếm tra tính thực tiễn của những đề xuất liên quan đến nội dung và giải pháp tăng cường đầu tư CSVCTTBKT cho các tổ chức nghiên cứu, đào tạo cán bộ trẻ về KHXH giai đoạn 2011-2020
Khảo sát thực tế được coi là một phương pháp quan trọng trong thực thi nhiệm vụ nghiên cứu này Cục Cơ sở Vật chất và Thiết bị trường học, Đồ chơi Trẻ em (CSVCTBTHĐCTE) đã thành lập Nhóm cán bộ nghiên cứu, phối hợp với các cơ quan chức năng và các đơn vị nghiên cứu, đào tạo tiến hành cuộc khảo sát 160 tổ chức nghiên cứu, đào tạo cán bộ trẻ về KHXH trên phạm vi toàn quốc nhằm thu thập dữ liệu liên quan đến thực trạng hoạt động nghiên cứu, đào tạo, điều kiện CSVCTTBKT; hoạt động đầu tư, chi phí và tài trợ CSVCTTBKT của các đơn vị Đây là cuộc khảo sát đầu tiên về CSVCTTBKT của riêng các tổ chức nghiên cứu, đào tạo cán bộ trẻ về KHXH của cả nước Cuộc khảo sát đã thu thập được những thông tin quý báu về quy mô đào tạo; đội ngũ cán bộ nghiên cứu, cán bộ giảng dạy, cán bộ quản lý CSVCTTBKT; tình trạng thực tế về diện tích đất đai, trang thiết bị thí nghiệm và thực hành; cơ sở thực tập; thư viện; tình hình đầu tư, sử dụng CSVCTTBKT của các tổ chức nghiên cứu KHXH và đào tạo cán bộ trẻ về KHXH nước ta trong những năm vừa qua
Một số phương pháp nghiên cứu khác được sử dụng gồm có: phân tích số liệu thống kê, các kết quả nghiên cứu của các cuộc điều tra, khảo sát đã được công bố; phân tích hệ thống văn bản quy định hiện hành của Nhà nước về các
Trang 15mặt: kế hoạch hóa, đầu tư và phân bổ nguồn lực, quản lý, khai thác và sử dụng tài nguyên trong lĩnh vực GD&ĐT và KH&CN, đặc biệt trong lĩnh vực GDĐH; nghiên cứu các tài liệu báo cáo và tổng kết của các cơ quan quản lý GD&ĐT và KH&CN các cấp, các bài viết đăng trong kỷ yếu hội thảo, bài viết trên các tạp chí, thông tin từ các trang website, các diễn đàn, các đề tài nghiên cứu cấp bộ, cấp cơ sở, luận án nghiên cứu có liên quan đến KHXH; phân tích đối chiếu các tài liệu, văn kiện của Đảng và Nhà nước về định hướng phát triển KHXH, CNH-HĐH và các mục tiêu phát triển đất nước trong thời gian tới Hội thảo lấy
ý kiến chuyên gia, học tập kinh nghiệm và nghiên cứu tài liệu nước ngoài cũng
là những phương pháp được sử dụng trong nghiên cứu
6 Bố cục của báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu
Ngoài các mục lời nói đầu, kết luận và kiến nghị, báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu nhiệm vụ khung số 6 tăng cường đầu tư CSVCTTBKT cho các tổ chức nghiên cứu, đào tạo cán bộ trẻ về KHXH được chia làm 3 phần chính:
- Phần thứ nhất, thảo luận những vấn đề cơ bản của CSVCTTBKT và đầu
tư CSVCTTBKT của tổ chức nghiên cứu, đào tạo cán bộ trẻ về KHXH, đồng thời trình bày xu hướng và bức tranh tổng thể về CSVCTTBKT và đầu tư CSVCTTBKT của tổ chức nghiên cứu, đào tạo cán bộ trẻ về KHXH ở một số nước trên thế giới
- Phần thứ hai, phân tích thực trạng đầu tư CSVCTTBKT của các tổ chức nghiên cứu, đào tạo cán bộ trẻ về KHXH hiện nay thông qua hệ thống các dữ liệu và số liệu thu thập được từ các cuộc khảo sát, báo cáo thống kê, cũng như
hệ thống các văn bản, tài liệu liên quan đến chính sách và cơ chế hiện hành trong từng điều kiện cụ thể
- Phần thứ ba, trình bày các đề xuất về biện pháp tăng cường đầu tư CSVCTTBKT cho các tổ chức nghiên cứu, đào tạo cán bộ trẻ về KHXH trong những năm từ 2011 đến năm 2020
Trang 16PHẦN THỨ NHẤT
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA CƠ SỞ VẬT CHẤT TRANG THIẾT BỊ KỸ THUẬT VÀ ĐẦU TƯ CƠ SỞ VẬT CHẤT TRANG THIẾT BỊ KỸ THUẬT CHO CÁC TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO CÁN BỘ TRẺ VỀ KHOA HỌC XÃ HỘI
I.1 TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ
TRẺ VỀ KHOA HỌC XÃ HỘI Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
I.1.1 Khoa học xã hội và hoạt động nghiên cứu, đào tạo khoa học xã
hội
I.1.1.1 KHXH và sự khác nhau giữa KHXH với các khoa học khác
Thuật ngữ KHXH, một cách tổng quát, dùng để chỉ các môn khoa học
nghiên cứu các phương diện con người của thế giới, bao gồm các ngành nhân
chủng học, truyền tin học, văn hóa học, kinh tế học, giáo dục học, địa lý học
nhân văn, sử học, ngôn ngữ học, chính trị học, tâm lý học, chính sách xã hội học,
phát triển học, thư viện học và xã hội học KHXH cùng với khoa học nhân văn
(KHNV), khoa học tự nhiên (KHTN) và khoa học công nghệ (KHCN) hợp thành
nền tảng tri thức, sức mạnh kỹ thuật và tiềm lực kinh tế của mỗi một quốc gia
Sản phẩm nghiên cứu của KHXH đóng góp cơ sở lý luận và thực tiễn cho các cơ
quan quyền lực nhà nước hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách và thẩm
định các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội KHXH gắn rất chặt với
đời sống xã hội và thường bị chi phối bởi thể chế chính trị, ý thức hệ, quan điểm,
chủ thuyết, chính sách cụ thể của bộ máy điều hành đất nước
Trong bối cảnh của thời đại ngày nay, khi mà hầu hết các quốc gia trên thế
giới, một mặt, đặt ra yêu cầu giữ vững sự ổn định chính trị, đẩy nhanh quá trình
hiện đại hóa, thúc đẩy sự liên minh, hợp tác song phương, khu vực và toàn cầu
về kinh tế-chính trị-an ninh và quốc phòng; mặt khác, phải đối mặt với các nguy
cơ tiềm ẩn ngày càng hiện hữu như sự sự gia tăng dân số, tốc độ đô thị hóa cao,
những diễn biến bất thường của thời tiết dẫn đến các thảm họa thiên nhiên do
Trang 17biến đổi khí hậu, cũng như sự bất bình đẳng về thu nhập kéo theo tình trạng nghèo đói gia tăng, sự bất ổn chính trị, hay các cuộc xung đột sắc tộc thường xuyên diễn ra , thì vai trò của KHXH càng trở lên quan trọng
Theo Karen O’Brien (2010), sự thay đổi khí hậu toàn cầu, sự đa dạng sinh học, tình trạng cạn kiệt nguồn nước và sa mạc hóa hay sự thay đổi của hệ sinh thái biển, cũng như hệ sinh thái nói chung có liên quan chặt chẽ với các hoạt động của con người và không thể hiểu hoặc giải quyết những vấn đề này nếu không có sự kết hợp chặt chẽ giữa KHTN và KHXH Maurice Aymard và Ali Kazancigil (2007) cùng đồng ý rằng, trên cả hai phương diện lý luận và thực tiễn
ở mọi thời đại, KHXH có vai trò đặc biệt hữu hiệu trong việc giải quyết các vấn
đề xã hội nảy sinh bằng việc giúp đỡ các chính trị gia hay các cơ quan chức năng tránh một cách nhìn “hời hợt và cục bộ” về thực trạng xã hội Giáo sư Peter Wagner, khi đặt vấn đề một cách cụ thể liên quan đến vai trò của KHXH trong thế kỷ 20 thì nhận định, theo thời gian, KHXH ngày càng có vị trí quan trọng hơn bởi giá trị phổ biến của việc đưa ra các quyết sách xã hội Theo ông, cùng với dòng chảy lịch sử, vị thế của KHXH trong mối quan hệ giữa thể chế, trí thức
và chính trị sẽ làm bệ đỡ cho sự phát triển của một xã hội mà lợi ích của nó chính là các kết quả nghiên cứu được những người điều hành đất nước tham khảo để hoạch định các chính sách phù hợp với thực tế khách quan Còn theo Albertto Martinelli (2010), tầm quan trọng của KHXH được quyết định bởi chính các nhiệm vụ cụ thể của nó Đó là:
i) Giáo dục các công dân và nhà lãnh đạo tương lai của đất nước; đào tạo đội ngũ các nhà nghiên cứu, các chuyên viên, viên chức, nhà quản lý, chuyên gia bằng việc trang bị cho họ sự hiểu biết, quyền và trách nhiệm trong xã hội dân chủ Theo quan điểm của Tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục của Liên hiệp quốc (UNESCO), hoạt động nghiên cứu và giảng dạy KHXH là một kênh thông qua người học truyền bá những ý tưởng, quan niệm và ghi dấu ấn xã hội vào mỗi thành viên xã hội Hiện nay, những nước tiên tiến đặc biệt coi trọng giáo dục nhân sinh quan, thế giới quan cho thế hệ trẻ Nhiều nước như Anh, Pháp, Phần Lan, Mỹ và Nhật Bản, trong khi nhấn mạnh việc giảng dạy những ngành KHTN và KHCN, họ không hề lơi lỏng việc dạy các môn KHXH cho thế hệ trẻ Một số nước còn đưa các môn KHXH như lịch sử, địa lý, giáo dục công dân và
Trang 18nghiên cứu xã hội vào dạy ngay từ những lớp đầu của cấp giáo dục trung học
Ở trình độ đại học, KHXH tách thành các ngành độc lập và thu hút bình quân khoảng 1/3 tổng số sinh viên theo học Trong nhiều trường hợp, thi đầu vào của các sinh viên ngành KHTN và KHCN bắt buộc phải thi một môn KHXH Không
ít các công ty Nhật Bản khi phỏng vấn tuyển dụng người lao động vào làm việc thường đưa ra các câu hỏi liên quan đến kiến thức KHXH;
ii) Xây dựng hệ thống các quan niệm chính thống, mô hình phân tích và những sản phẩm kiến thức tin cậy cho xã hội Các nhà nghiên cứu, đội ngũ giảng viên KHXH có mối liên hệ chặt chẽ với các xã hội mà họ đang sống Một mặt,
họ thuộc về các xã hội đó, mặt khác họ quan sát sự phát triển xã hội đó và đóng góp vào sự tạo lập ra xã hội đó Chính những mối liên hệ qua lại chặt chẽ này quyết định vai trò của các nhà nghiên cứu, các giảng viên KHXH tham gia vào việc giữ gìn sự ổn định xã hội ở những mức độ khác nhau với tư cách là những người truyền tải kiến thức, chuyên gia, nhà quan sát hiện tượng xã hội hay các nhà tư tưởng phê phán;
iii) Lượng hóa những vấn đề ưu tiên của các kế hoạch (hoặc chương trình) công cộng và bảo vệ chân lý, sự thật trong sự đối mặt với quyền lực Trên thực tế, có những chính sách của chính quyền đưa ra không phải cho tất cả mọi người mà chỉ phục vụ cho một nhóm lợi ích nào đó Trong những trường hợp như vậy, thông qua các công trình nghiên cứu khoa học và khách quan, ý kiến phản biện của các nhà KHXH thường đi ngược lại với những quyết định chính sách và không được nhà cầm quyền ủng hộ; và
iv) Cung cấp đội ngũ chuyên gia cho nhiệm vụ xây dựng chính sách và quản lý những vấn đề khó khăn nhất của xã hội Theo Daniel Tarschys và Guy Lachapelle (2010), rất nhiều các nhà KHXH có thể tham gia vào quá trình hoạch định chính sách như các nhà giáo dục, nhà lý thuyết, nhà phân tích, nhà báo, nhà
tư vấn, quan chức chính phủ, đội ngũ luật sư, người thực hiện, người đánh giá, phê phán và phản biện Trong đội ngũ đó có một bộ phận sẽ trở thành nhà giáo (từ phổ thông đến đại học) Họ có nhiệm vụ truyền đạt những tinh hoa của dân tộc, qua đó giáo dục nhiều thế hệ tiếp nối có phẩm chất, có kiến thức vững chắc
để gánh vác công việc của đất nước
Trang 19Người ta thường phân biệt KHXH với KHNV, tuy nhiên sự khác nhau giữa KHXH và KHNV không phải bao giờ cũng rõ ràng Cũng như KHXH, KHNV bao gồm các bộ môn như triết học, văn học, tâm lý học, đạo đức học, ngôn ngữ học…cũng nghiên cứu về phương diện con người, nhưng ở những khía cạnh liên quan đến đời sống tinh thần, đặc điểm cá tính, hoạt động cá nhân, cách hành xử, đạo đức, trí tuệ, thẩm mỹ, tư tưởng, tình cảm…Trong thế giới thực tại, phương diện con người của thế giới và phương diện con người của đời sống tinh thần không có sự tách rời mà luôn có mối liên hệ mật thiết, bổ sung lẫn nhau Vì vậy, việc phân biệt KHXH và KHNV chỉ mang tính tương đối, đặc biệt trong xu thế các môn khoa học đang có sự phát triển giao thoa, thâm nhập và đan xen lẫn nhau
Có sự khác nhau đáng kể giữa KHXH với KHTN, KHCN và KHKT Không giống như KHXH, KHTN nghiên cứu về giới tự nhiên thông qua các quy luật hoặc định luật về trật tự thiên nhiên Đối tượng của KHTN là các dạng vật chất và những hình thức vận động của vật chất Vai trò của KHTN là tạo nền tảng phát triển cho các khoa học ứng dụng KHCN nghiên cứu về phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ hay phương tiện để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm đáp ứng nhu cầu con người Nó thể hiện kiến thức của con người trong giải quyết các vấn đề thực tế để tạo ra các dụng cụ, máy móc, nguyên liệu hoặc quy trình tiêu chuẩn để sản xuất ra của cải vật chất hoặc cải tạo điều kiện tự nhiên KHKT nghiên cứu phát triển và ứng dụng các dụng cụ, máy móc, nguyên liệu và quy trình để giải quyết những vấn đề của con người về các khả năng thực hành công việc một cách hữu hiệu, hay một phương pháp được sử dụng để đạt một kết quả nhất định bao gồm toàn bộ những phương tiện lao động và nhưng phương pháp tạo ra cơ sở vật chất
So với KHXH, mối liện hệ của KHTN, KHCN và KHKT với các vấn đề
về chính trị, tư tưởng và lợi ích giai cấp của bộ máy cầm quyền lỏng lẻo hơn Sản phẩm nghiên cứu của KHTN, KHCN và KHKT lúc nào cũng là cụ thể và nhằm đến một giá trị thực tế Ngược lại, sản phẩm của KHXH hầu như không đưa lại hiệu quả kinh tế trực tiếp và nhanh chóng, mà thường thông qua hiệu quả kinh tê-xã hội có ý nghĩa rộng lớn, được thể hiện bằng nhiều dạng hoạt động thực tiễn khác nhau và nhiều khi phải sau một thời gian nhất định, thậm chí lâu
Trang 20dài mới cho thấy đầy đủ Về phương pháp để đạt mục tiêu, trong khi KHXH nghiên cứu các hiện tượng xã hội không tồn tại độc lập mà thường gắn với những hoạt động cụ thể của con người và hoạt động của con người lại bị chi phối bởi các yếu tố tâm, sinh lý liên quan đến nhận thức, tình cảm, nguyên vọng…và những yếu tố này thường hay thay đổi theo thời gian và không gian, thì KHTN phát triển tri thức mới thường dựa trên các quy luật tự nhiên được khám phá qua những thí nghiệm có kiểm chứng bằng những phương pháp khoa học, còn KHCN và KHKT tạo ra những qui trình công nghệ, dây chuyền sản xuất, mẫu thiết kế hay những phát minh kỹ thuật thường thông qua sự tìm tòi môi trường hình thành, hệ thống dữ liệu, mô hình hay mô phỏng Về thành quả, KHXH có khả năng dự báo tương lai, xây dựng xã hội mới; nó tác động đến hệ tư tưởng, thế giới quan, nhân sainh quan của toàn xã hội, định hướng cho tư duy, lối sống, hành vi của các thành viên trong cộng đồng, trong khi KHTN, KHCN và KHKT cung cấp luận cứ cho sự hình thành những chủ trương, biện pháp điều chỉnh hoạt động của con người, đảm bảo sự hài hòa trong mối quan hệ giữa con người với
tự nhiên
Tuy có sự khác biệt nhưng KHXH, KHTN, KHCN và KHKT có mối quan
hệ thúc đẩy qua lại với nhau, đặc biệt trong thời đại bùng nổ của CNTT, cách mạng KH&CN và sự hình thành nền kinh tế tri thức Trong mối quan hệ đó, KHTN, KHCN và KHKT cung cấp cơ sở và phương tiện cho sự khái quát tri thức KHXH&NV Ngược lại KHXH&NV cung cấp công cụ nhận thức, định hướng, mở đường cho KHTN, KHCN và KHKT phát triển Trong nền văn minh hậu công nghiệp, nếu chỉ tập trung, chú trọng đến phát triển KHTN, KHCN và KHKT mà bỏ qua KHXH, hoặc KHXH không được quan tâm, coi trọng đúng mức, đồng nghĩa với việc triệt tiêu động lực cho sự phát triển bền vững, toàn diện của xã hội
I.1.1.2 Tính đặc thù của hoạt động nghiên cứu, đào tạo KHXH
KHXH là một bộ phận trong hệ thống hoạt động KH&CN Vì vậy, hoạt động nghiên cứu và giảng dạy KHXH có đặc điểm giống với hoạt động nghiên cứu và giảng dạy KH&CN nói chung, song có những đặc điểm riêng được biểu hiện cụ thể dưới các khía cạnh khác nhau
Trang 21i) Giảng dạy và nghiên cứu KHXH vừa là giảng dạy và nghiên cứu cơ bản, vừa là giảng dạy và nghiên cứu ứng dụng Đặc điểm này xuất phát từ nhiệm
vụ của KHXH với tư cách là ngành khoa học nghiên cứu và truyền bá, phát triển những mối liên hệ phổ biến về những quan hệ giữa con người và con người trong đời sống kinh tế, chính trị, văn hoá và xã hội Để làm được điều đó, KHXH, một mặt, thực hiện những nghiên cứu cơ bản, toàn diện về xã hội và con người, bao hàm các vấn đề lý luận cơ bản trực tiếp phục vụ quan điểm chính trị, đường lối, chính sách của bộ máy nhà nước và các vấn đề liên quan đến nhiệm vụ quản lý kinh tế-xã hội gắn liền với lợi ích chính trị và lợi ích giai cấp của nhà nước đó; mặt khác, tiến hành các nghiên cứu ứng dụng, bao gồm các cuộc điều tra, thẩm định, đánh giá các chương trình, dự án phát triển để cung cấp luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chính sách xây dựng và phát triển quốc gia, dân tộc Hoạt động đào tạo KHXH chính là phương tiện truyền tải những kết quả nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng trong lĩnh vực KHXH đến các tầng lớp nhân dân trong xã hội, đặc biệt các thế hệ kế tiếp đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững; đồng thời là cách hiện thực hóa tốt nhất các kết quả nghiên cứu, cũng như bảo đảm lợi ích của hoạt động nghiên cứu KHXH Với đặc điểm nghiên cứu, đào tạo KHXH vừa là khoa học lý thuyết vừa là khoa học ứng dụng, vấn đề
kỹ năng (hay theo một nghĩa nhất định là phương pháp) trở thành yêu cầu cấp thiết, nhất là ở bậc đào tạo đại học
ii) Giảng dạy và nghiên cứu KHXH là quá trình tiếp cận, tiếp nhận, xử lý, trao đổi, truyền tải và phổ biến thông tin Tư duy sáng tạo trong nghiên cứu và đào tạo KHXH được thể hiện cả trong quá trình nghiên cứu tư liệu, khảo sát thực tiễn, tìm phương pháp tiếp cận thích hợp, trao đổi học thuật, kỹ thuật tranh luận, lập luận trình bày, phân tích các quan điểm, cũng như trình bày kết quả nghiên cứu Nghiên cứu và đào tạo KHXH không thể chỉ thuần tuý thông qua đọc sách,
mà phải gắn kết với nghiên cứu phân tích thực tiễn để đánh giá xác nhận bản chất hiện tượng, sự vật và diễn biến các tình huống, vận dụng lý luận và tri thức kinh nghiệm để phân tích tổng hợp, làm cơ sở cho tư duy sáng tạo Điều kiện vật chất đảm bảo cho hoạt động nghiên cứu và đào tạo KHXH phải bao gồm cho cả các khâu: nghiên cứu tài liệu, tiếp nhận kế thừa các kết quả nghiên cứu đã có, điều tra nghiên cứu khảo sát phân tích thực tiễn, trao đổi hội thảo khoa học, tiếp
Trang 22xúc với khoa học thế giới, đúc kết đưa thành những phân tích diễn giải kết luận, luận điểm
iii) Đào tạo và nghiên cứu KHXH ít mang tính phát minh, sáng chế như đào tạo đội ngũ kỹ sư giữ vai trò canh tân công nghệ, mà chủ yếu mang tính phát hiện, sáng tạo và đào tạo đội ngũ nhân lực quản lý điều hành kinh tế-xã hội Chi phí đầu tư cho lao động sống, trực tiếp cho con người trong nghiên cứu và đào tạo KHXH chiếm tỷ trọng chủ yếu, lớn hơn nhiều so với lao động vật hoá Hoạt động nghiên cứu và giảng dạy các ngành KHXH ít tiến hành các thực nghiệm trong phòng thí nghiệm, mà chủ yếu dựa trên các tài liệu lưu trữ, kết quả điều tra, khảo sát, nghiên cứu thực tiễn, trao đổi học thuật, tranh luận, lập luận trình bày, phân tích các quan điểm, cũng như trình bày kết quả nghiên cứu để tổng kết, đúc rút, khái quát, phát hiện ra các quy luật từ đó nêu lên các luận điểm, luận cứ và các kết luận khoa học Hoạt động điều tra, nghiên cứu, khảo sát, phân tích, đánh giá thực tiễn thường được triển khai trên bình diện rộng, qui mô lớn, qua nhiều bước thực hiện với quy trình phức tạp đòi hỏi Vì vậy, chi phí nghiên cứu thường phải cao và đầu tư chi phí cho lao động sống, trực tiếp cho con người chiếm tỷ trọng chủ yếu
iv) Nghiên cứu và đào tạo KHXH thường khó đánh giá về chất lượng Về
cơ bản, chất lượng nghiên cứu và đào tạo KHXH là kết quả của những quá trình suy nghĩ, nghiền ngẫm về những ý tưởng đề xuất được xã hội thừa nhận, sự thành thạo của người học được giới chuyên môn đánh giá cao Tuy vậy, đó vẫn chỉ là những đánh giá mang tính ước lệ, tuỳ thuộc vào nhãn quan của người đánh giá và thời điểm lịch sử của những điều kiện chính trị-xã hội qui định Trên thực
tế, có những đề xuất kiến nghị không được đánh giá tốt của ngày hôm nay (vì chưa vận dụng được) nhưng lại là những đề xuất kiến nghị rất có giá trị cho những thời kỳ phát triển tiếp theo Hoặc giả trong một số trường hợp, người tốt nghiệp được đào tạo một cách cẩn thận nhưng thiếu môi trường làm việc cạnh tranh và khuyến khích sáng tạo nên không phát huy hết năng lực và khả năng
Vì vậy, đánh giá công trình KHXH hoặc cán bộ KHXH tốt nghiệp ra trường không nên đánh gía theo thời điểm mà phải chờ thực tiễn kiểm nghiệm Trong trường hợp lựa chọn đánh giá theo thời điểm, tiêu chí đánh giá phải đảm bảo tính
Trang 23logic, hợp quy luật, sát thực tiễn và được đông đảo giới học thuật khoa học xã hội thừa nhận
I.1.1.3 Khoa học xã hội, nghiên cứu, đào tạo cán bộ trẻ về KHXH ở Việt Nam
KHXH của nước ta so với một số nước khác còn non trẻ, nhưng đã sớm khẳng định được vị trí, vai trò quan trọng trong đời sống chính trị-xã hội và đã đạt được bước tiến dài đóng góp vào sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước
Nó đã cung cấp được những luận cứ khoa học làm cơ sở cho việc hoạch định nhiều chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, góp phần xây dựng những nghị quyết của Đảng cả trong chiến tranh và hòa bình Nhờ đó, nhân tố con người được phát huy như một động lực chủ yếu trong sự nghiệp bảo vệ và xây dựng Tổ quốc Đặc biệt từ sau Đại hội lần thứ VI của Đảng (1986), KHXH đã góp phần thúc đẩy tiến trình hội nhập quốc tế, tiếp nhận tinh hoa của văn minh nhân loại; tuyên truyền và quảng bá truyền thống văn hóa, hình ảnh đất nước, con người và những thành tựu khoa học, kinh tế của Việt Nam ra bên ngoài KHXH đã góp phần đáng kể vào việc tạo ra những tiền đề cho sự cất cánh của đất nước Các sản phẩm nghiên cứu KHXH đã cung cấp những luận cứ khoa học cho đường lối đổi mới toàn diện đất nước; đồng thời từng bước làm sáng tỏ những vấn đề về lý luận và thực tiễn nẩy sinh trong quá trình đổi mới, nâng cao nhận thức của nhân dân về con đường lựa chọn để phát triển đất nước; trên cơ sở
đó tạo sự đồng thuận cao trong xã hội Nhiều kết luận của các công trình nghiên cứu KHXH đã được dùng làm cơ sở để soạn thảo và hoạch định các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, bao gồm chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá, con người, môi trường, quốc phòng
và an ninh qua các giai đoạn Những tri thức KHXH hiện đại đã bước đầu được vận dụng vào công tác quản lý kinh tế - xã hội, khắc phục lối tư duy siêu hình, duy ý chí, mở rộng tầm nhìn, góp phần giáo dục lòng yêu nước, đạo đức, lối sống của người Việt Nam
Hoạt động nghiên cứu, đào tạo về KHXH trong hơn 10 năm trở lại đây có bước phát triển vượt bậc Tại thời điểm tháng 9 năm 2010, cả nước có 148 tổ chức nghiên cứu KHXH bao gồm 21 viện nghiên cứu và 127 trường đại học, học
Trang 24viện (so với năm 2006 tăng 119 đơn vị) và 259 cơ sở đào tạo cán bộ trẻ về KHXH, bao gồm 21 viện, 127 trường đại học, học viện và 111 trường cao đẳng (so với năm 2006 tăng 74 cơ sở)
So sánh năm 2010 với năm 2003, trong 7 năm số chỉ tiêu đào tạo nghiên cứu sinh (NCS) của các Viện nghiên cứu thuộc Viện KHXH Việt Nam tăng hơn
2 lần (từ 105 năm 2003 tăng lên 215 năm 2010) và số chỉ tiêu đào tạo thạc sỹ tăng xấp xỉ 1,7 lần (từ 100 năm 2003 tăng lên 168 năm 2010) Năm 2003 có 1 trường đại học có đào tạo KHXH thuộc quyền quản lý của ủy ban nhân dân cấp tỉnh/thành phố, đến năm 2010 đã tăng lên 15 trường Số lượng cơ sở đào tạo đại học và cao đẳng ngoài công lập cũng tăng lên đáng kể Năm 2003 cả nước có 15 trường đại học ngoài công lập đào tạo KHXH, đến năm 2010 số lượng này là 32 trường Số trường cao đẳng có đào tạo KHXH cũng tăng từ 1 trường năm 2003 lên 22 trường năm 2010 Hầu hết các viện nghiên cứu, cơ sở đào tạo, độ ngũ cán
bộ nghiên cứu, cán bộ giảng dạy và sinh viên KHXH tập trung ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh
Các cơ sở nghiên cứu và đào tạo về KHXH uy tín nhất nước phải kể đến là Viện Khoa học Xã hội Việt Nam (KHXHVN) với 27 đơn vị nghiên cứu trực thuộc, 3 đơn vị dịch vụ KH&CN, 15 cơ sở đào tạo sau đại học và gần 1.400 cán
bộ khoa học, trong đó có 543 thạc sĩ, tiến sĩ và tiến sĩ khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội (ĐHQGHN), Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh (ĐHQGTPHCM) và các đại học: Thái Nguyên, Huế và Đà Nẵng (mỗi đại học có
ít nhất 1 trường thành viên chuyên đào tạo các ngành KHXH) Các trường đại học: Kinh tế Quốc dân Hà Nội, Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh, Sư phạm Hà Nội, Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh Ngoài ra, còn có các trường đại học dân lập, tư thục Bên cạnh các ngành đào tạo có tính truyền thống như lịch sử, văn học, ngôn ngữ, triết học, báo chí, luật,… các cơ sở còn mở nhiều ngành mới như Phương Đông học, Quốc tế học, khoa học chính trị, quản lý xã hội, du lịch v.v… Hàng năm, các cơ sở đã cho ra trường hàng ngàn cử nhân KHXH phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Tại đây đang có hàng trăm giáo sư, phó giáo sư, tiến sỹ khoa học và tiến sỹ làm công tác nghiên cứu và giảng dạy Nhiều cơ sở đã thu hút được ngày càng nhiều hơn sinh viên nước ngoài đến học tập và nghiên cứu về Việt Nam, đồng thời là trung tâm nghiên cứu có uy tín về
Trang 25những vấn đề Việt Nam, qua đó phối hợp với các tổ chức nước ngoài trong việc nghiên cứu và phát triển ngành Việt Nam học
Theo dự báo trong những năm sắp tới, quy mô sinh viên, đội ngũ cán bộ giảng dạy, các nhà nghiên cứu KHXH vẫn tiếp tục tăng do xã hội có nhu cầu Kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới, đặc biệt ở các nước phát triển chỉ ra rằng, khi trở thành nước CNH và đạt các tiêu chí của HĐH, với sự hội nhập ngày càng mở rộng hơn và sâu sắc hơn với các nước trong khu vực và quốc tế, các quốc gia đều có nhu cầu gia tăng đội ngũ cán bộ trẻ về KHXH Lúc đó, xã hội,
bộ máy quyền lực nhà nước và nền kinh tế của đất nước cần có đội ngũ các nhà KHXH được trang bị những kiến thức và kỹ năng đủ để xác định, phân tích và giải mã cơ cấu, những thay đổi, cũng như tìm kiếm các giải pháp để giải quyết những thách thức như sự nghèo đói và bất công, biến đổi khí hậu hay khủng hoảng lương thực , đặc biệt nâng đỡ và nuôi dưỡng những hạt giống của sự thay đổi trong tương lai Nói cách khác, một số lớn các học giả, chuyên viên, nhà quản lý, chuyên gia và các nhà lãnh đạo cần được đào tạo kiến thức KHXH
Mặc dù đã có được những thành tích trên đây, song trên thực tế so với yêu cầu và thực tiễn đời sống xã hội, hoạt động nghiên cứu KHXH và đào tạo cán
bộ về KHXH của nước ta đang có nguy cơ tụt hậu so với các nước trong khu vực
và trên thế giới Những bất cập và khiếm khuyết bộc lộ rõ trên các phương diện trí lực và nhân lực: cán bộ nghiên cứu và giảng dạy các môn KHXH ít có điều kiện cập nhật, mở rộng và tiếp cận kiến thức, phương pháp nghiên cứu và giảng dạy mới trên thế giới Đội ngũ cán bộ KHXH hiện đang có sự hụt hẫng về kiến thức cơ bản và năng lực thực hành, trong đó trình độ ngoại ngữ yếu và tình trạng thiếu thốn các phương tiện, thiết bị, sách vở và tài liệu đang là những lực cản chính Phương pháp tiến hành hoạt động nghiên cứu và đào tạo các ngành KHXH mặc dù đã phát triển khá phong phú so với trước, song còn khác xa so với quốc tế; còn nhiều bất cập từ khâu đề xuất ý tưởng, chuyển tải kiến thức và
kỹ năng cho đến khâu xác lập các luận cứ, minh chứng, thực nghiệm, kiểm chứng các kết quả nghiên cứu khoa học và thể nghiệm năng lực thực hành của người học Nếu không có những cải tiến kịp thời nghiên cứu và đào tạo KHXH nước ta sẽ ngày càng xa rời các chuẩn mực quốc tế
Trang 26I.1.2 Tổ chức nghiên cứu, đào tạo cán bộ trẻ về khoa học xã hội ở nước ta hiện nay
I.1.2.1 Tổ chức nghiên cứu, đào tạo cán bộ về KHXH
Theo quy định của Luật KH&CN (2000), Luật Giáo dục (2005) và Luật sửa đổi Luật Giáo dục (2009), đơn vị được công nhận là tổ chức nghiên cứu, đào tạo cán bộ KHXH hiện nay ở nước ta gồm có:
- Cơ sở nghiên cứu, đào tạo được tổ chức dưới các hình thức viện nghiên cứu, viện nghiên cứu và phát triển, trung tâm nghiên cứu và phát triển và cơ sở nghiên cứu và phát triển khác
- Trường đại học, học viện, trường cao đẳng (gọi chung là trường đại học)
có nhiệm vụ tiến hành nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, kết hợp đào tạo với nghiên cứu khoa học và sản xuất, dịch vụ khoa học và công nghệ; thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu cơ bản, nhiệm vụ khoa học và công nghệ ưu tiên, trọng điểm của Nhà nước và nghiên cứu khoa học về giáo dục
- Tổ chức dịch vụ khoa học và công nghệ có nhiệm vụ tiến hành các hoạt động phục vụ việc nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; các hoạt động liên quan đến sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ; các dịch vụ về thông tin, tư vấn, đào tạo, bồi dưỡng, phổ biến và ứng dụng tri thức khoa học và công nghệ và kinh nghiệm thực tiễn
Mạng lưới các tổ chức nghiên cứu KHXH được phân chia thành các cấp
độ khác nhau: Cấp quốc gia do Chính phủ quyết định thành lập (Viện KHXHVN), cấp bộ (các tổ chức nghiên cứu trực thuộc các bộ, cơ quan ngang
bộ, cơ quan thuộc Chính phủ) do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập hoặc uỷ quyền quyết định thành lập; cấp tỉnh (tổ chức nghiên cứu của các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương); tổ chức nghiên cứu và phát triển của cơ quan khác của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương do
cơ quan, tổ chức đó quyết định thành lập và cấp cơ sở được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật
Trang 27Các tổ chức đào tạo cán bộ về KHXH gồm có: Đại học quốc gia (có các trường ĐH thành viên) do Chính phủ quyết định thành lập; đại học (có trường thành viên) và trường ĐH/Học viện trực thuộc trung ương (các bộ/ngành quản lý) do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập; trường ĐH/Học viện địa phương (Ủy ban nhân dân các tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương quản lý) do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập; trường ĐH tư thục (tổ chức xã hội,
tổ chức xã hội nghề nghiệp, tổ chức kinh tế hoặc cá nhân thành lập, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và bảo đảm kinh phí hoạt động bằng vốn ngoài ngân sách nhà nước) do Thủ tướng Chính phủ cho phép thành lập; Viện nghiên cứu khoa học khi được Thủ tướng Chính phủ cho phép đào tạo và các trường CĐ do Bộ trưởng Bộ Giáo dục cho phép thành lập
Tổ chức nghiên cứu KHXH công lập được hoạt động theo cơ chế tự chủ tự chịu trách nhiệm theo quy định tại Nghị định số 115/2005/NĐ-CP của Chính phủ
và Thông tư số 12/2006/TTLT/BKHCN-BTC-BNV ngày 5/6/2006 của Liên Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ hướng dẫn thực hiện Nghị định số 115/2005/NĐ-CP ngày 05/9/2005 của Chính phủ quy định cơ chế tự chủ,
tự chịu trách nhiệm của các tổ chức khoa học và công nghệ công lập Theo đó, các tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, tổ chức dịch vụ khoa học và công nghệ phải thực hiện việc chuyển đổi tổ chức và hoạt động theo một trong hai hình thức là:
i) Tổ chức khoa học và công nghệ tự trang trải kinh phí, và
ii) Doanh nghiệp khoa học và công nghệ
Cũng theo quy định tại các văn bản thì các tổ chức nghiên cứu KHXH được quyền tự xác định nhiệm vụ khoa học và công nghệ và biện pháp tổ chức thực hiện; được tham gia tuyển chọn, đấu thầu thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ của Nhà nước và tự xác định biện pháp tổ chức thực hiện; được tự quyết định biện pháp tổ chức thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ do các cơ quan nhà nước giao hoặc đặt hàng, đảm bảo chất lượng và tiến độ theo yêu cầu Ngoài ra, các tổ chức khoa học và công nghệ được quyền ký hợp đồng thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ, dịch vụ khoa học và công nghệ với các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước; hợp tác với các tổ chức, cá nhân
Trang 28trong và ngoài nước để thực hiện các nhiệm vụ của tổ chức khoa học và công nghệ; Quyết định việc đầu tư phát triển, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất từ nguồn vốn vay, vốn huy động của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước, từ quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp của tổ chức khoa học và công nghệ
Tổ chức đào tạo cán bộ về KHXH công lập được hoạt động theo cơ chế quy định tại Nghị định số 43/2006/NĐ-CP, ngày 25/4/2006 của Chính phủ Theo
đó, các trường được giao các các quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm trong việc
tổ chức thực hiện nhiệm vụ chuyên môn, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính; được chủ động quyết định các biện pháp thực hiện đối với nhiệm vụ nhà nước giao hoặc đặt hàng, được quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tổ chức hoạt động dịch vụ phù hợp với lĩnh vực chuyên môn, quyết định mua sắm tài sản, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất từ quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp, vốn huy động, theo quy hoạch được cấp có thẩm quyền phê duyệt
Tổ chức nghiên cứu KHXH ngoài công lập hoạt động theo quy định của Nghị định số 80/2007/NĐ-CP của Chính phủ về doanh nghiệp khoa học và công nghệ, trong đó có quy định doanh nghiệp khoa học và công nghệ được hưởng một số ưu đãi như được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền xem xét, giao quyền sử dụng hoặc sở hữu các kết quả khoa học và công nghệ thuộc sở hữu nhà nước; được hưởng các dịch vụ tư vấn, đào tạo miễn phí của các cơ sở ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp do các cơ quan nhà nước thành lập Tổ chức đào tạo cán bộ về KHXH ngoài công lập hoạt động theo nội dung quy định của Nghị định số 69/2008/NĐ-CP ngày 30/05/2008 của Chính phủ về chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường Trong đó cơ sở xã hội hoá được Nhà nước giao đất, cho thuê đất đã hoàn thành giải phóng mặt bằng phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; có chính sách hỗ trợ kinh phí bồi thường, giải phóng mặt bằng đối với các dự án đầu tư trong lĩnh vực xã hội hóa đã tự thực hiện công tác đền bù, giải phóng mặt bằng; được Nhà nước áp dụng mức ưu đãi
về thuế thu nhập doanh nghiệp cho cơ sở thực hiện xã hội hóa để khuyến khích đầu tư tăng cường cơ sở vật chất, nâng cao chất lượng dịch vụ; Nhà nước thực hiện chính sách hỗ trợ cho các đối tượng chính sách xã hội khi thụ hưởng các dịch vụ do cơ sở thực hiện xã hội hóa cung cấp (phương thức hỗ trợ do Thủ
Trang 29tướng Chính phủ quyết định)
I.1.2.2 Tổ chức nghiên cứu, đào tạo cán bộ trẻ về KHXH
Sự phân biệt giữa tổ chức nghiên cứu, đào tạo cán bộ trẻ về KHXH và tổ chức nghiên cứu, đào tạo cán bộ về KHXH nói chung chỉ mang tính ước lệ Theo cách hiểu thông thường, cũng như tổ chức nghiên cứu, đào tạo cán bộ về KHXH nói chung, tổ chức nghiên cứu, đào tạo cán bộ trẻ về KHXH phải là tổ chức thực hiện đồng thời cả 2 nhiệm vụ nghiên cứu và đào tạo Phù hợp với quy định của Luật KH&CN (năm 2000), nghiên cứu khoa học được hiểu là hoạt động phát hiện, tìm hiểu các hiện tượng, sự vật, quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy; sáng tạo các giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn Vì vậy, không thể dựa vào nhiệm vụ nghiên cứu để phân biệt sự khác nhau giữa tổ chức nghiên cứu, đào tạo cán bộ trẻ về KHXH và tổ chức nghiên cứu, đào tạo cán bộ về KHXH nói chung Việc phân biệt có lẽ chỉ dựa trên đối tượng đào tạo
Đào tạo đội ngũ cán bộ trẻ về KHXH có thể được hiểu là đào tạo những người đang ở lứa tuổi thanh niên- lớp người hăng hái, tích cực năng động, nhạy bén với cái mới, nhưng hiểu biết lý thuyết cơ bản, kiến thức chuyên môn, trình
độ nghề nghiệp và kỹ năng làm việc về KHXH còn thiếu, kinh nghiệm còn ít, vì chưa được trải nghiệm nhiều trong hoạt động thực tiễn Như một kết quả, tổ chức nghiên cứu, đào tạo cán bộ trẻ về KHXH là tổ chức đào tạo những người đang trong độ tuổi thanh niên ở các trình độ cao đẳng, đại học, thạc sĩ tiến sĩ Phù hợp với quy định của Luật KH&CN (năm 2000), Luật Giáo dục năm 2005 và Luật Giáo dục sửa đổi (năm 2009), đó là:
i) Các trường cao đẳng đào tạo trình độ cao đẳng;
ii) Các đại học quốc gia, đại học, trường đại học và học viện đào tạo trình
độ cao đẳng, trình độ đại học; đào tạo trình độ thạc sĩ, trình độ tiến sĩ khi được Thủ tướng Chính phủ giao; và
iii) Viện nghiên cứu khoa học đào tạo trình độ tiến sĩ, phối hợp với trường đại học đào tạo trình độ thạc sĩ khi được Thủ tướng Chính phủ giao
Trang 30I.2 ĐẦU TƯ CƠ SỞ VẬT CHẤT, TRANG THIẾT BỊ KỸ THUẬT CHO CÁC TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO CÁN BỘ TRẺ VỀ KHOA HỌC XÃ HỘI
I.2.1 Cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật của các tổ chức nghiên cứu, đào tạo cán bộ trẻ về khoa học xã hội
Hoạt động nghiên cứu và giảng dạy KHXH trong các viện nghiên cứu khoa học và trường ĐH, CĐ cũng giống như tất cả các tổ chức nghiên cứu và đào tạo khoa học công nghệ nói chung, được cấu thành bởi nhiều thành tố có sự liên quan chặt chẽ và tương tác lẫn nhau, bao gồm:
i) Mục tiêu, nội dung và phương pháp nghiên cứu, học tập và giảng dạy; ii) Đội ngũ giảng viên, cán bộ nghiên cứu và sinh viên; và
iii) Môi trường đảm bảo cho các hoạt động học tập và nghiên cứu mà trong đó có một khối lượng CSVCTTBKT nhất định
Thuật ngữ CSVCTTBKT của các viện nghiên cứu KHXH và trường ĐH,
CĐ có hoạt động nghiên cứu và đào tạo về KHXH có thể được hiểu như là một
hệ thống các phương tiện vật chất và kỹ thuật khác nhau được sử dụng để phục
vụ việc nghiên cứu khoa học và giảng dạy, học tập, thực hành và thực tập Nó giúp cho việc tổ chức và tiến hành hợp lý, có hiệu quả quá trình nghiên cứu, giảng dạy và học tập; đồng thời là nguồn tri thức, là phương tiện chứa đựng và truyền tải thông tin, không chỉ làm tăng giá trị lượng tin tức, mà còn giúp cho quá trình trao đổi thông tin nhanh, nhiều và hiệu quả hơn Nó là yếu tố quan trọng có vai trò quyết định đến năng suất và chất lượng lao động của mỗi cán bộ nghiên cứu, giảng viên và sinh viên và phản ánh trình độ nghiên cứu và chất lượng đào tạo của viện và trường trong các thời đại CSVCTTBKT của viên nghiên cứu, trường ĐH và CĐ có quan hệ mật thiết với các yếu tố con người, bao gồm những người sử dụng và quản lý như các nhà nghiên cứu, người dạy và người học Nó hỗ trợ cho quá trình đa dạng hóa cách thức dạy học và là một bộ phận trong cấu trúc nội dung chương trình và phương pháp tổ chức các hoạt động nghiên cứu, giảng dạy và học tập
Trang 31Một trong những chức năng cơ bản của CSVCTTBKT trong các viện và trường là hỗ trợ nhà nghiên cứu, cán bộ quản lý, cán bộ giảng dạy và sinh viên trong việc quản trị hoạt động của tổ chức, tìm hiểu, khám phá hoặc truyền thụ, tiếp nhận tri thức; phát triển tính độc lập trong nhận thức và hình thành các kỹ năng, kỹ xảo chuyên môn của mỗi cá nhân, và cuối cùng nâng cao hiệu quả của
cả quá trình hoạt động nghiên cứu, giảng dạy và học tập Theo V I Lênin,
CSVCTTBKT chính là cầu nối“từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và
từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn, đó là con đường biện chứng của sự nhận thức chân lý, của sự nhận thức thực tại khách quan” Nếu coi các hoạt động nghiên
cứu và đào tạo như là một quá trình sản xuất thì theo kinh tế chính trị học của chủ nghĩa Mác, CSVCTTBKT của các viện và trường nghiên cứu và đào tạo cán
bộ về KHXH chính là những tư liệu sản xuất với tư cách là những công cụ lao động (hay công cụ sản xuất) và là kết cấu hạ tầng của sản xuất Trình độ công nghệ của chúng là những dấu hiệu đặc trưng tiêu biểu cho một khả năng NCKH
và thước đo chất lượng đào tạo cụ thể C Mác viết: “những thời đại kinh tế khác
nhau không phải là ở chỗ chúng sản xuất ra cái gì, mà là ở chỗ chúng sản xuất bằng cách nào, với tư liệu lao động nào”
Dưới góc độ kinh tế học, CSVCTTBKT của tổ chức nghiên cứu KHXH và đào tạo cán bộ KHXH được xác định như là những tài sản cố định quan trọng nhất thuộc sở hữu của mỗi viện và trường Chúng là một bộ phận của tài sản cố định của xã hội thực hiện chức năng tiêu dùng nhưng không tham gia vào quá trình sản xuất của cải vật chất, vì vậy giá trị của chúng không chuyển vào sản phẩm lao động được sáng tạo ra trong ngành sản xuất vật chất
CSVCTTBKT của các viện và trường nghiên cứu và đào tạo về KHXH rất phong phú và đa dạng, bao gồm những đồ vật, của cải vật chất và khung cảnh tự nhiên xung quanh viện nghiên cứu và cơ sở đào tạo như diện tích đất đai, hạ tầng
kỹ thuật (điện chiếu sáng, cấp thoát nước và đường giao thông, hạ tầng công nghệ thông tin (CNTT), phương tiện thông tin liên lạc ); các khối nhà, công trình (hội trường, giảng đường, phòng học, phòng hội thảo, phòng họp, phòng làm việc, phòng thí nghiệm, thực tập và thực hành, ký túc xá ); diện tích mặt bằng, công trình tiện ích (sân chơi, sân vận động, bệnh viện, nhà ăn ); các phương tiện, thiết bị phục vụ nghiên cứu, giảng dạy và học tập (bàn ghế, bảng,
Trang 32thư viện truyền thống, thư viện điện tử, computer, sách, báo, tạp chí và các ấn phẩm, phần mềm mô phỏng, phim ảnh, máy quay phim, chụp ảnh, các loại đèn
và máy chiếu, máy ghi âm, đầu video, dụng cụ thu phát âm thanh và hình ảnh, các loại đĩa CDROOM, dụng cụ thí nghiệm, thực tập và thực hành ); và các loại thiết bị, dụng cụ và các trang thiết bị khác phục vụ công tác quản lý, quản trị và điều hành (vận tải, văn phòng )
Hệ thống các phương tiện vật chất và kỹ thuật này có thể được trang bị trực tiếp cho mỗi cơ sở nghiên cứu và đào tạo; hoặc có thể đi thuê, mượn của các nhà máy, xí nghiệp; thư viện, nhà văn hóa, nhà truyền thống, câu lạc bộ, sân bãi thể dục thể thao của địa phương để phục vụ cho mục tiêu nghiên cứu và đào tạo trong quá trình hoạt động của các đơn vị Sự đáp ứng về số lượng, tính hữu dụng và sự phù hợp về chủng loại, chất lượng của CSVCTTBKT cho thực hiện công việc ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng và hiệu quả của mỗi cán bộ nghiên cứu, giảng viên và sinh viên trong nghiên cứu, giảng dạy và học tập
Người ta thường phân loại trang thiết bị kỹ thuật (TTBKT) của các viện nghiên cứu và trường đào tạo KHXH theo những tiêu chí khác nhau:
- Dựa vào cấu tạo, nguyên lý và chức năng hỗ trợ nghiên cứu, giảng dạy
và học tập, TTBKT của các viện và trường được phân chia thành 2 nhóm “cứng”
và “mềm” Nhóm “cứng” bao gồm các loại công cụ, phương tiện hỗ trợ hành động thực hiện hoặc mô tả chủ đề nghiên cứu, nội dung bài giảng (như các loại máy chiếu phim và ảnh, máy thu thanh (radio), tivi, computer, phương tiện truyền thông, hạ tầng CNTT ) Nhóm “mềm” bao gồm các công trình nghiên cứu được lưu giữ dưới dạng các chương trình môn học, tạp chí, báo, tài liệu giáo khoa, sách, hình ảnh và âm thanh trên băng, đĩa và những loại ấn phẩm, tài liệu
đã được xuất bản; hoặc các tư liệu, tài liệu và các ấn phẩm chưa/không được xuất bản
- Dựa vào mục đích sử dụng, TTBKT của các viện, trường nghiên cứu và
đào tạo cán bộ về KHXH được chia ra:
i) TTBKT trực tiếp sử dụng trong nghiên cứu, giảng dạy, học tập bao gồm những máy móc, thiết bị và dụng cụ được cán bộ nghiên cứu và giảng viên sử
Trang 33dụng để tìm hiểu, khám phá hoặc trình bày kiến thức, rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo cho sinh viên phù hợp với chương trình đào tạo (các loại máy, đèn chiếu phim dương bản, phim âm bản, máy quay phim, ghi âm, quay đĩa, thu thanh, thu hình, phân tích và trắc nghiệm ngôn ngữ, máy tính cá nhân ; các loại tài liệu và ấn phẩm như giáo trình, sách tham khảo, chuyên khảo, các tài liệu chép tay, sổ tay tra cứu, sách bài tập, chương trình môn học ) Các phương tiện mang tin thính giác, thị giác và hỗn hợp (băng ghi âm, đĩa ghi âm, các chương trình phát thanh, tranh vẽ, biểu bảng, bản đồ, đồ thị, ảnh, phim dương bản, phim cuộn, buổi truyền hình ) Các vật mẫu, mô hình, tranh lắp ghép, phương tiện và vật liệu thí nghiệm, máy luyện tập, các phương tiện sản xuất
ii) TTBKT gián tiếp hỗ trợ, điều khiển quá trình nghiên cứu và giảng dạy, học tập là những phương tiện được sử dụng để tạo ra một môi trường nghiên cứu
và học tập thuận lợi, có hiệu quả và liên tục Phương tiện hỗ trợ bao gồm các loại bảng viết, các giá di động hoặc cố định, bàn thí nghiệm, thiết bị điều khiển âm thanh, ánh sáng TTBKT hỗ trợ bao gồm các loại sổ sách, tài liệu ghi chép về tiến trình học tập, về thành tích học tập của học sinh
- Dựa vào cấu tạo có thể phân chia TTBKT của tổ chức nghiên cứu
KHXH và đào tạo cán bộ trẻ về KHXH thành 2 loại: các TTBKT nghiên cứu và giảng dạy truyền thống và các TTBKT nghe nhìn hiện đại
Tương tự như TTBKT, các thành tố cấu thành cơ sở vật chất (CSVC) của
tổ chức nghiên cứu KHXH và đào tạo cán bộ trẻ về KHXH bao gồm nhiều thành phần Mỗi thành phần có những chức năng và ý nghĩa nhất định đối với việc tạo
ra và thực hiện các chương trình nghiên cứu, đào tạo và có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng các hoạt động nghiên cứu và đào tạo Chẳng hạn, hệ thống đường
xá, thông tin liên lạc, các công trình cung cấp điện, nước có vai trò đặc biệt trong việc ứng dụng CNTT vào giảng dạy và nghiên cứu, cũng như đáp ứng các yêu cầu dịch vụ cho sinh viên Hệ thống CSVC bao gồm giảng đường, phòng học, phòng thí nghiệm, thực hành, ký túc xá, nhà làm việc ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển quy mô và trình độ công nghệ của các hoạt động nghiên cứu và đào tạo Việc triển khai các chương trình nghiên cứu chuyên sâu và đào tạo trình độ/chất lượng cao đòi hỏi phải có một hệ thống các cơ sở, công trình đặc biệt…
Trang 34CSVCTTBKT của các viện và trường nghiên cứu, đào tạo cán bộ về KHXH chịu tác động và có quan hệ nhân-quả với thành tựu của khoa học-kỹ thuật và công nghệ Tiến bộ khoa học-kỹ thuật, tốc độ phát triển công nghệ và những thay đổi nhanh chóng của sản xuất và đời sống xã hội trong xã hội hiện đại hậu công nghiệp toàn cầu hóa cùng với sự cạnh tranh quốc tế gay gắt làm cho nhu cầu học tập và tích lũy khối lượng kiến thức cần thiết của mỗi cá nhân ngày càng tăng lên, đồng thời cho ra đời ngày càng nhiều chủng loại TTBKT nghiên cứu và giảng dạy KHXH mới Điều này đặt ra yêu cầu thường xuyên đổi mới mục tiêu, nội dung, phương pháp giảng dạy và nghiên cứu KHXH Như một kết quả, một mặt, nhu cầu sử dụng CSVCTTBKT có chất lượng và kỹ thuật cao của các cơ sở nghiên cứu KHXH và đào tạo cán bộ KHXH ngày một tăng theo, và mặt khác, nhiệm vụ đổi mới TTBKT ở các viện và trường trở thành hoạt động thường xuyên hơn Sự thiếu hụt hoặc không đáp ứng về CSVCTTBKT của các
cơ sở nghiên cứu và đào tạo KHXH có thể sẽ trở thành mối đe dọa hàng đầu cho
sự thành công của các công trình nghiên cứu KHXH và chất lượng của đội ngũ cán bộ trẻ về KHXH-sản phẩm của giáo dục đại học (GDĐH)
I.2.2 Đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật cho tổ chức nghiên cứu, đào tạo cán bộ trẻ về khoa học xã hội
I.2.2.1 Nội dung đầu tư CSVCTTBKT cho tổ chức nghiên cứu, đào tạo cán bộ trẻ về KHXH
Đầu tư CSVCTTBKT cho các tổ chức nghiên cứu KHXH và tổ chức đào tạo cán bộ về KHXH là hành động tích lũy tài sản cố định cho các viện và trường Nói theo cách khác, đó là sự tăng/giảm về tài sản cố định của các tổ chức, đơn vị trong quá trình thực hiện nhiệm vụ và sứ mạng nghiên cứu, đào tạo (do xây dựng mới, mua sắm bổ sung, hoặc được biếu, tặng hay do loại bỏ, bán thanh lý ) Đầu tư CSVCTTBKT cho các tổ chức nghiên cứu KHXH và tổ chức đào tạo cán bộ về KHXH là nhu cầu có tính thường xuyên do CSVCTTBKT thường bị lạc hậu theo thời gian, kéo theo sự giảm sút cả về giá trị và giá trị sử dụng, cũng như hiệu quả và hiệu năng sử dụng, khai thác Mức độ và phạm vi đầu tư có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng các sản phẩm nghiên cứu và đào tạo cán bộ KHXH Theo Edward J Hackett (2010), sự tiến bộ của tri thức trong
Trang 35KHXH phụ thuộc một phần đáng kể vào việc tài trợ để hỗ trợ thu thập số liệu, phân tích, đào tạo sinh viên và phát triển các công nghệ mới
Đầu tư CSVCTTBKT cho các tổ chức nghiên cứu KHXH và tổ chức đào tạo cán bộ trẻ về KHXH là một trong các nội dung đầu tư thuộc chi phí đầu vào, được thể hiện bằng nhiều yếu tố khác nhau như cán bộ nghiên cứu, giảng viên, thiết bị, nhà cửa Chi phí đầu vào có thể được biểu hiện bằng hiện vật (như là số lượng nghiên cứu viên, giảng viên, số giờ giảng của cán bộ giảng dạy, số lượng sách giáo trình, tài liệu tham khảo, diện tích các phòng học…) và bằng giá trị (khoản chi tiêu mua sắm các hiện vật) Để có thể dự kiến các khoản kinh phí bằng tiền theo các yếu tố phục vụ cho mục đích lập dự án đầu tư, người ta cần phải phân tích được các mặt cung và cầu của các yếu tố này Kinh phí đầu tư có thể được biểu hiện theo giá trị danh nghĩa (tức là tính theo giá hiện hành) hoặc theo giá trị thực tế (tức là giá cố định được điều chỉnh theo lạm phát) Để bảo đảm tính hiệu quả, kinh phí đầu tư cần phải gắn liền với các định mức, tiêu chuẩn định lượng và định tính Theo Luật giáo dục năm 2005 (sửa đổi năm 2009) và Luật Khoa học và Công nghệ (năm 2000), đầu tư CSVCTTBKT cho các tổ chức nghiên cứu KHXH và tổ chức đào tạo cán bộ trẻ về KHXH là đầu tư phát triển Nhà nước ưu tiên đầu tư cho tổ chức nghiên cứu KHXH và tổ chức đào tạo KHXH Ngân sách nhà nước giữ vai trò chủ yếu trong tổng nguồn lực đầu tư
Đầu tư CSVCTTBKT cho các tổ chức nghiên cứu KHXH và tổ chức đào tạo KHXH phải phù hợp với những đặc trưng của hoạt động nghiên cứu và giảng dạy các ngành KHXH
Nội dung đầu tư CSVCTTBKT cho tổ chức nghiên cứu KHXH và tổ chức đào tạo KHXH bao gồm:
i) Quy hoạch, xây dựng cảnh quan các công trình nhà cửa của viện và trường phù hợp với môi trường hoạt động nghiên cứu và đào tạo Đây được xem
là yếu tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng nghiên cứu và đào tạo Theo quan điểm sư phạm học tương tác, chất lượng đào tạo không chỉ dừng lại ở việc xác định đúng các yếu tố tham gia hoạt động dạy và học, chức năng riêng biệt của từng yếu tố và quan hệ giữa chúng, mà còn là sự tác động tương hỗ giữa
Trang 36các yếu tố tạo thành một tập hợp liên kết chặt chẽ, trong đó yếu tố cảnh quan, môi trường sư phạm có ý nghĩa quan trọng Yêu cầu đặt ra là địa điểm xây dựng trường, viện phải ở nơi bảo đảm an toàn cho người học, người dạy và người lao động nói chung Diện tích đất đai, khuôn phải đủ để quy hoạch và xây dựng gắn kết với cảnh quan tự nhiên, cây xanh sinh thái và các giải pháp tổ chức loại hình văn hóa-giáo dục-khoa học để tạo nên các không gian phù hợp với môi trường đào tạo và nghiên cứu khoa học
ii) Xây dựng hệ thống giảng đường, hội trường, phòng họp, phòng hội thảo để bất kỳ ai, cán bộ giảng dạy, sinh viên hay cán bộ nghiên cứu đến học tập, làm việc và nghiên cứu đều có cảm giác thoải mái, tiện ích và tự tin để bắt đầu một kế hoạch công việc hoàn hảo của cá nhân Các công trình này phải được thiết kế phù hợp các phương pháp dạy học để cuốn hút sinh viên vào không gian
và môi trường học tập, nghiên cứu; đồng thời giúp cho sinh viên xây dựng phong cách làm việc chuyên nghiệp, năng động và qua từng buổi học, trở nên gần gũi hơn với môi trường làm việc tại các đơn vị, công ty, tập đoàn kinh tế cả trong và ngoài nước sau này
iii) Đầu tư các phòng thực nghiệm, thực hành đối với các bộ môn khoa học về kinh tế, tài chính, ngân hàng (ngân hàng ảo, phòng giao dịch chứng khoán
ảo, hệ thống các cơ sở dữ liệu), tâm lý (phòng trắc nghiệm tâm lý), văn hóa (bảo tàng), sư phạm (trường thực nghiệm/thực hành sư phạm), ngôn ngữ (phòng thẩm
âm và luyện âm), lịch sử (phòng dựng phim và chiếu phim), báo chí-tuyên truyền (phòng truyền thông đa phương tiện)
iv) Xây dựng hệ thống lưu trữ thông tin-tư liệu bằng việc củng cố và nâng cấp thư viện tuyền thống và thiết lập thư viện điện tử Khi xây dựng hệ thống thư viện, khả năng truy cập thông tin phải được xem là tiêu chí quan trọng nhất Thư viện của các viện và trường phải đáp ứng được tất cả các dịch vụ học thuật và cung cấp dễ dàng đến độc giả nhờ vào các dải băng tần truyền thông tin Điều kiện này đặc biệt cần thiết vì cùng với việc ngày càng mở rộng ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT), internet và các dạng thông tin điện tử khác đang làm thay đổi các thư viện học thuật và khiến các thư viện này có chất lượng phục vụ cao hơn Nếu trước đây thư viện là nơi chứa sách và tạp chí thì ngày nay internet
Trang 37là nơi cung cấp các phương tiện và công cụ cho mọi đối tượng có nhu cầu tiếp cận với hệ thống các cơ sở dữ liệu một cách dễ dàng và thuận lợi Các nhà khoa học dùng internet để thực hiện việc nghiên cứu, phân tích và phổ biến kết quả nghiên cứu Sinh viên và giảng viên không cần phải có mặt ở thư viện nhưng vẫn
có thể truy cập được những tư liệu cần thiết Nếu như trước kia, chất lượng phục
vụ của một thư viện được đánh giá bằng số lượng sách được mượn thì giờ đây tiêu chí này dựa trên số lượng thông tin đã được truy cập Yêu cầu đặt ra đối với một thư viện chất lượng cao là phải trang bị “các mạng lưới thông tin” riêng, ở
đó mọi người có thể nhận và chia sẻ thông tin với người khác Mạng lưới thông tin của các thư viện KHXH của các trường và viện không chỉ cần được kết nối với nhau, mà còn kết nối với các trường, viện ở châu Âu, châu Á, Bắc Mỹ và các nước khác
v) Đầu tư hạ tầng CNTT (hệ thống máy chủ, đường truyền, phần mềm truy cập, đặc biệt là các công cụ internet) hỗ trợ cho sinh viên chọn các chương trình học tập phù hợp với nhu cầu, mục đích, sở thích và giá trị cá nhân Các cơ
sở đào tạo và nghiên cứu sử dụng CNTT để thực hiện việc dạy trực tuyến nhiều chương trình cấp bằng cho sinh viên bên ngoài nhà trường, thậm chí bên ngoài biên giới quốc gia Hạ tầng CNTT là nhân tố quan trọng tác động đến quá trình đổi mới phương pháp dạy và học, cũng như việc quản lý GDĐH và quản trị trường đại học Với ưu điểm của tốc độ truyền thông nhanh, dễ dàng, bảo đảm
độ tin cậy và tính chính xác cao, CNTT cho phép liên kết các trường đại học và viện nghiên cứu trên toàn thế giới Nó còn cho phép các trường đại học, cơ sở nghiên cứu và các cơ sở đào tạo tạo lập hoặc đẩy mạnh những hoạt động hợp tác quốc tế; xây dựng các chương trình đào tạo đa quốc gia một cách thuận lợi Vì thế, việc đầu tư hạ tầng CNTT đang từng bước trở thành tâm điểm của môi trường học thuật toàn cầu trong thế kỷ XXI Trên thực tế, một trong những tiêu chí xếp loại các trường ĐH hiện nay là dựa trên kích cỡ dải truyền thông của mỗi trường Các trường ĐH có băng truyền tốc độ thấp sẽ không thể có chất lượng cạnh tranh với các trường ĐH có dải truyền thông tốc độ cao
vi) Đầu tư trang bị các thiết bị điện tử Trong thập kỷ vừa qua, đã có một cuộc cách mạng về tiêu chí chất lượng giáo dục đại học Ngày nay, một nền đại học chất lượng cao không chỉ dựa trên sách vở mà còn phải liên tục cập nhật
Trang 38thông tin từ các nguồn tài liệu in hoặc tài liệu điện tử Vì vậy, yêu cầu phải trang
bị các thiết bị điện tử trong lớp học, các khu nội trú, các thư viện, các phòng thí nghiệm, thực tập, thực hành khoa học và các phòng nghiên cứu Các sinh viên có thể truy cập thông tin ngay cả khi họ đang sống ở xa trường hoặc đang đi du lịch
Đầu tư CSVCTTBKT cho các tổ chức nghiên cứu KHXH và đào tạo cán
bộ trẻ về KHXH bao gồm đầu tư ban đầu, đầu tư chống xuống cấp và đầu tư duy trì sự hoạt động bền vững Trong đầu tư ban đầu, bên cạnh việc chú trọng đầu tư xây dựng mới CSVC, mua sắm và lắp đặt TTBKT, việc quan tâm đúng mức đến đầu tư nguồn nhân lực có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Việc đầu tư nguồn nhân lực không chỉ tập trung vào đội ngũ quản lý, quản trị và vận hành hệ thống CSVCTTBKT, mà còn cần một sự ưu tiên cao cho đội ngũ cán bộ nghiên cứu và giảng dạy, người trực tiếp sử dụng các loại CSVCTTBKT vào thực hiện các hoạt động nghiên cứu, bài giảng, bài thí nghiệm và thực hành Đầu tư chống xuống cấp không chỉ đảm bảo cho các hoạt động bảo dưỡng, bảo trì, mà còn bao hàm cung cấp kinh phí cho việc nâng cấp, bổ sung; đặc biệt đối với việc mua sắm sách vở, tài liệu, tư liệu của các thư viện, trung tâm thông tin tư liệu; hoạt động của các trường thực hành sư phạm (đối với giáo dục); các sản phẩm văn hóa vật thể và phi vật thể lưu trữ trong các phòng trưng bày và bảo tàng (văn hóa, chính trị, dân tộc và lịch sử…), các sản phẩm phim, ảnh sử dụng cho các bài giảng ngôn ngữ, văn hóa và lịch sử…, cũng như phần cứng và phần mềm CNTT cho các phòng thí nghiệm, thực tập và thực hành ảo (kinh tế và quản trị kinh doanh, phòng giao dịch chứng khoán ảo, ngân hàng ảo và các phần mềm thực hành trong lĩnh vực kinh tế, tài chính-ngân hàng, kế toán, kiểm toán…) Đầu tư duy trì
sự hoạt động bền vững của hệ thống CSVCTTBKT của các tổ chức nghiên cứu KHXH và đào tạo KHXH không chỉ hàm ý là những chi phí vận hành các loại dụng cụ, thiết bị tại chỗ (phòng học, giảng đường, phòng hội thảo khoa học, dụng cụ truyền thông, dụng cụ kỹ thuật sử dụng vào bài giảng trên lớp và thực tập, thực hành tại chỗ ) mà còn là các chi phí di chuyển thiết bị phục vụ cho các chuyến đi điền giã, cũng như các khoản chi phí cho các chuyến đi tìm hiểu và học tập thực tế, thực tập và thực hành của sinh viên…
Đầu tư CSVCTTBKT cho các tổ chức nghiên cứu KHXH và đào tạo cán
bộ trẻ về KHXH có thể áp dụng theo hình thức trực tiếp hoặc gián tiếp Đầu tư
Trang 39trực tiếp là hình thức người đầu tư vốn (chủ đầu tư) và người sử dụng vốn là 1 chủ thể Đầu tư gián tiếp là hình thức đầu tư không kèm theo việc tham gia vào các hoạt động quản lý và điều hành tổ chức nghiên cứu và đào tạo Đầu tư gián tiếp góp phần làm tăng nguồn vốn huy động và làm giảm chi phí vốn thông qua việc đa dạng hoá rủi ro; đồng thời thúc đẩy cải cách thể chế và nâng cao kỷ luật đối với các chính sách của chính phủ Nguồn vốn đầu tư bao gồm ngân sách nhà nước (NSNN), huy động từ khu vực tư nhân và học phí, trong đó vốn NSNN giữ vai trò chủ đạo Theo A Steve Butcher (2003), tài trợ cho NCKH và GDĐH thông thường được bắt đầu từ một khởi xướng của chính quyền trung ương hoặc
từ một trung tâm tài trợ để có được một khoản tài chính nào đó thông qua sự điều tiết của chính phủ Sự điều tiết của chính phủ, theo Van Vught (1989), là “những
nỗ lực của chính phủ hướng các quyết định và hành động của những người hoạt động xã hội cụ thể theo các mục tiêu mà chính phủ đã đề ra và sử dụng các công
cụ mà chính phủ có toàn quyền sử dụng” Sự bắt đầu này có những mục tiêu nhất định và cũng như với tất cả các sự tài trợ, người ta cũng mong đợi các hình thức hoàn trả khác nhau Các mục tiêu có thể tập trung vào các lĩnh vực quan trọng như tăng số lượng sinh viên, phát triển số lượng và chất lượng đội ngũ cán bộ giảng dạy và nghiên cứu, mua bán các trang thiết bị nghiên cứu, mua nhà mới hoặc trang bị thêm dụng cụ, đồ dùng cho hoạt động giảng dạy và học tập…Vốn đầu tư CSVCTTBKT từ NSNN cấp cho các trường và viện giống như các khoản cấp phát tài chính cho hoạt động giảng dạy và dưới hình thức các dự án đầu tư Trong một số trường hợp, kinh phí đầu tư CSVCTTBKT của các viện và trường được hình thành thông qua phát hành trái phiếu và sử dụng nguồn thu từ các khoản ủng hộ, quyên góp hoặc hiến tặng để hoàn trả
Đầu tư CSVCTTBKT cho các tổ chức nghiên cứu KHXH và đào tạo cán
bộ trẻ về KHXH chịu ảnh hưởng của một số các yếu tố Trước hết, đó là các yếu
tố liên quan đến thể chế Thể chế có ý nghĩa quan trong trong mọi lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội, đặc biệt trong đầu tư và đầu tư CSVCTTBKT Không
có hệ thống thể chế hoặc một hệ thống thể chế không hoàn chỉnh sẽ dẫn đến tình trạng thiếu các khuôn khổ pháp lý cho quy trình cấp phát kinh phí đầu tư, về các thủ tục hoạch định, thực hiện và giám sát ngân sách, thậm chí có thể tạo ra cơ chế và hành lang pháp lý lỏng lẻo trong việc kiểm toán nội bộ, cũng như xác định vai trò quyền hạn và lợi ích của các cơ quan và các cấp chính quyền Thứ
Trang 40hai, đó là hệ thống định mức và tiêu chuẩn xây dựng, bao gồm các quy định về chuẩn mực kỹ thuật, định mức kinh tế - kỹ thuật, trình tự thực hiện các công việc
kỹ thuật, các chỉ tiêu, các chỉ số kỹ thuật và các chỉ số môi trường tự nhiên được
cơ quan, tổ chức có thẩm quyền ban hành hoặc công nhận để áp dụng trong hoạt động xây dựng các công trình học tập, nghiên cứu, sinh hoạt và mua sắm tài sản, thiết bi Thứ ba là cách thức huy động và phân bổ nguồn lực Việc cấp phát NSNN đầu tư cho CSVCTTBKT có thể áp dụng bằng nhiều hình thức: công thức phân bổ, quỹ hỗ trợ cấp phát qua cạnh tranh để đáp ứng những đề xuất của các viện, trường hoặc cá nhân các giảng viên, cán bộ nghiên cứu thường nhằm mục đích khuyến khích nâng cao chất lượng hoặc cải tiến hoạt động nghiên cứu và giảng dạy Cuối cùng là cơ chế kiểm tra, giám sát và đánh giá hiệu quả
I.2.2.2 Nguồn vốn đầu tư CSVCTTBKT cho các tổ chức nghiên cứu, đào tạo cán bộ trẻ về KHXH
Hiện nay, các nguồn vốn cho đầu tư CSVCTTBKT cho các tổ chức nghiên cứu KHXH và đào tạo cán bộ trẻ về KHXH của nước ta chủ yếu dựa vào:
i) NSNN cấp hàng năm bao gồm vốn đầu tư xây dựng cơ bản, kinh phí mua sắm trang thiết bị, sửa chữa lớn tài sản cố định phục vụ hoạt động nghiên cứu khoa học và đào tạo của đơn vị theo dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt trong phạm vi dự toán được giao hàng năm; Vốn đối ứng thực hiện các dự
án có nguồn vốn nước ngoài được cấp có thẩm quyền phê duyệt; kinh phí thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ của Nhà nước do các cơ quan nhà nước giao, đặt hàng trực tiếp hoặc thông qua tuyển chọn, đấu thầu và được cấp theo phương thức khoán trên cơ sở hợp đồng thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ giữa cơ quan nhà nước và tổ chức khoa học và công nghệ Riêng đối với các tổ chức đào tạo và các nghiên cứu khoa học hoạt động trong lĩnh vực nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu chiến lược, chính sách phục vụ quản lý nhà nước được ngân sách nhà nước bảo đảm kinh phí hoạt động thường xuyên theo nhiệm vụ; kinh phí hoạt động thường xuyên hàng năm được cấp theo phương thức khoán tương ứng với chức năng, nhiệm vụ được giao
ii) Nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp của đơn vị, gồm: Phần được để lại
từ số thu phí, lệ phí thuộc ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật; Thu