1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu xây dựng một số giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước đối với các cơ sở bán buôn, bán lẻ chủ yếu ở nước ta

128 475 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 128
Dung lượng 2,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy, hy vọng rằng việc thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ “Nghiên cứu xây dựng một số giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước đối với các cơ sở bán buôn, bán lẻ chủ yếu ở

Trang 1

BỘ CÔNG THƯƠNG

VỤ THỊ TRƯỜNG TRONG NƯỚC

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP BỘ

Mã số: 239.10.RD

NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC CƠ SỞ BÁN BUÔN, BÁN LẺ

CHỦ YẾU Ở NƯỚC TA

Cơ quan chủ quản : Bộ Công Thương

Đơn vị chủ trì đề tài : Vụ Thị trường trong nước

Chủ nhiệm đề tài : Thạc sỹ Trần Nguyên Năm

Thành viên đề tài :

PGS Tiến sỹ Hoàng Thọ Xuân

TS Lâm Việt Dũng ThS Trần Nguyên Năm

CN Nguyễn Lộc An

CN Trần Huyền Trang

CN Phạm Thị Minh Hà

CN Hoàng Thị Quỳnh Anh

CN Hoàng Minh Ngọc Hương

CN Nguyễn Thị Kim Anh

CN Nguyễn Phương Dung

CN Nguyễn Thị Hồng Anh

CN Lưu Cẩm Vân

9624

Hà Nội, 2012

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU 4

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 8

DANH MỤC BẢNG BIỂU 9

CHƯƠNG 1 11

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC CƠ SỞ BÁN BUÔN, BÁN LẺ 11

1.1 Dịch vụ bán buôn, bán lẻ và các cơ sở bán buôn, bán lẻ 11

1.1.1 Khái niệm dịch vụ bán buôn, bán lẻ 11

1.1.2 Một số loại hình cơ sở bán buôn, cơ sở bán lẻ chủ yếu 13

1.1.3 Vai trò của dịch vụ bán buôn, bán lẻ và các cơ sở bán buôn, bán lẻ 20

1.1.4 Quá trình và xu hướng phát triển các cơ sở bán buôn, bán lẻ 22

1.1.5 Một số nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động và phát triển của các cơ sở

bán buôn, bán lẻ 24

1.2 Quản lý nhà nước đối với các cơ sở bán buôn, bán lẻ 26

1.2.1 Mục đích, yêu cầu quản lý nhà nước đối với các cơ sở bán buôn, bán lẻ 27

1.2.2 Nội dung, phương thức quản lý nhà nước đối với các cơ sở bán buôn,

bán lẻ 28

1.3 Kinh nghiệm của một số nước về quản lý nhà nước đối với các cơ sở bán buôn, bán lẻ chủ yếu và bài học cho Việt Nam 34

1.3.1 Kinh nghiệm của Hàn Quốc 34

1.3.2 Kinh nghiệm của Thái Lan 36

1.3.3 Kinh nghiệm của Trung Quốc 39

1.3.4 Kinh nghiệm của Nhật Bản 40

1.3.5 Những bài học kinh nghiệm có thể áp dụng cho Việt Nam 41

CHƯƠNG 2 44

THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC CƠ SỞ BÁN BUÔN, BÁN LẺ CHỦ YẾU Ở NƯỚC TA 44

2.1 Thực trạng hoạt động của một số cơ sở bán buôn, bán lẻ chủ yếu ở nước ta 44

2.1.1 Khái quát quá trình hình thành và phát triển của các cơ sở bán buôn, bán lẻ ở nước ta 44

2.1.2 Thực trạng hoạt động của một số cơ sở bán buôn, bán lẻ chủ yếu ở nước ta.50 2.1.3 Đánh giá chung 61

Trang 3

2.2 Thực trạng quản lý nhà nước đối với các cơ sở bán buôn, bán lẻ chủ yếu ở

nước ta 63

2.2.1 Chính sách của Nhà nước về phát triển các cơ sở bán buôn, bán lẻ 63

2.2.2 Hệ thống cơ quan chức năng của nhà nước tham gia quản lý các cơ sở bán buôn, bán lẻ chủ yếu 76

2.2.3 Cơ chế quản lý đối với các cơ sở bán buôn, bán lẻ chủ yếu 78

2.2.4 Tác động của việc thực thi các cam kết gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới về mở cửa dịch vụ phân phối đến quản lý nhà nước đối với các cơ sở bán buôn, bán lẻ chủ yếu 81

2.3.5 Đánh giá chung 88

CHƯƠNG 3 Error! Bookmark not defined MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC CƠ SỞ BÁN BUÔN, BÁN LẺ CHỦ YẾU Ở NƯỚC TA TỪ NAY ĐẾN NĂM 2020 90

3.1 Định hướng hoàn thiện quản lý nhà nước đối với các cơ sở bán buôn, bán lẻ chủ yếu 90

3.1.1 Bối cảnh quốc tế và trong nước 90

3.1.2 Mục tiêu phát triển 92

3.1.3 Quan điểm phát triển 93

3.1.4 Định hướng phát triển 95

3.2 Một số giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước đối với các cơ sở bán buôn, bán lẻ chủ yếu ở nước ta từ nay đến năm 2020 98

3.2.1 Hoàn thiện hệ thống pháp luật điều chỉnh về bán buôn, bán lẻ 98

3.2.2 Nâng cao năng lực quản lý vĩ mô của Nhà nước về thương mại 102

3.2.3 Giải pháp hỗ trợ phát triển các cơ sở bán buôn, bán lẻ chủ yếu 103

3.3 Một số kiến nghị 108

3.3.1 Đối với các bộ, ngành 108

3.3.2 Đối với Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố 111

3.3.4 Đối với các doanh nghiệp 112

KẾT LUẬN 114

TÀI LIỆU THAM KHẢO 115

PHỤ LỤC 118

Trang 4

LỜI NÓI ĐẦU

1 Sự cần thiết nghiên cứu của đề tài

Sau hơn 5 năm Việt Nam là thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới, lĩnh vực phân phối nói chung và dịch vụ bán buôn, bán lẻ nói riêng tại Việt Nam đã

có nhiều bước chuyển biến tích cực Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của các cơ sở, doanh nghiệp bán buôn, bán lẻ ở nước ta, hàng năm dịch vụ bán buôn và bán lẻ đóng góp đáng kể vào GDP của đất nước, tạo ra nhiều công ăn việc, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân

Trong lĩnh vực bán lẻ, thị trường Việt Nam được đánh giá là đầy triển vọng,

có sức hút lớn đối với các doanh nghiệp, nhà đầu tư trong và ngoài nước Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá thực tế tăng trưởng đều qua các năm Năm 2007 đạt 746,16 nghìn tỷ đồng, tăng 25,1% so với năm trước; năm 2008 đạt 1.007,2 nghìn tỷ đồng, tăng 34,9%; năm 2009 đạt 1.238,1 nghìn tỷ đồng, tăng 22,9%; năm 2010 đạt 1.614 nghìn tỷ đồng, tăng 30,37%; năm

2011 ước tính đạt 2.004,4 nghìn tỷ đồng (tương đương khoảng 95 tỷ USD), tăng 24,2 % so với cùng kỳ năm trước Số lượng các cơ sở bán lẻ ngày càng tăng nhanh

về số lượng và đa dạng về loại hình Tính đến cuối năm 2011, tổng số chợ trên cả nước (chợ trong quy hoạch) có khoảng 8.730 chợ; tổng số người tham gia buôn bán tại các chợ này khoảng trên 2 triệu người Về các loại hình cơ sở bán lẻ hiện đại, nếu như năm 2005 Việt Nam mới có khoảng trên 200 siêu thị, 30 trung tâm thương mại tại 30/64 tỉnh thành thì đến hết năm 2011, con số này đã là 638 siêu thị, 117 trung tâm thương mại Ngoài ra, còn hàng nghìn cửa hàng chuyên doanh và cửa hàng tiện lợi phân bố rộng khắp 63 tỉnh và thành phố…

Trong lĩnh vực bán buôn, các cơ sở bán buôn truyền thống vẫn chiếm tỷ trọng lớn Các cơ sở bán buôn chủ yếu kinh doanh các mặt hàng thiết yếu như lương thực thực phẩm, vật liệu xây dựng, xăng, khí dầu mỏ hóa lỏng, phân bón…

đã và đang nhận được sự quan tâm, chỉ đạo và hỗ trợ của các cơ quan quản lý nhà nước từ trung ương đến địa phương Hiện nay, các địa phương đã xây dựng và hình thành một số chợ đầu mối bán buôn, trung tâm bán buôn, tổng kho bán buôn cash

& carry văn minh, tiến bộ hơn trước đây Cả nước có khoảng 50 chợ đầu mối nông sản cấp vùng và cấp tỉnh, 16 tổng kho bán buôn cash & carry, 2 Sở giao dịch hàng hóa…

Tuy nhiên, thực tiễn công tác quản lý nhà nước đối với các cơ sở bán buôn, bán lẻ tại Việt Nam cho thấy một số bất cập trong chính sách phát triển các cơ sở bán buôn, bán lẻ và trong hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực

Trang 5

phân phối Một số doanh nghiệp đã lợi dụng các kẽ hở về mặt luật pháp để không tuân thủ các quy định về quản lý phân phối, tạo ra các thiệt hại về mặt lợi ích xã hội

và cạnh tranh không bình đẳng với các doanh nghiệp trong cùng lĩnh vực Nhiều quy định đã trở nên lạc hậu, không còn phù hợp với những yêu cầu quản lý của thời

kỳ hậu WTO nhưng lại chưa được điều chỉnh và sửa đổi cho phù hợp với đòi hỏi của thực tiễn Đồng thời, một số quy định mới được ban hành nhưng chưa tạo được

cơ sở rõ ràng cho việc thực thi cam kết bao gồm cả việc kiểm tra nhu cầu kinh tế (Economic Need Test – ENT) khi mở thêm cơ sở bán lẻ ngoài cơ sở bán lẻ thứ nhất…

Việt Nam đã thực hiện những bước cần thiết để đảm bảo chính sách và pháp luật trong nước hài hòa với các cam kết khi gia nhập WTO nhưng vẫn còn tồn tại nhiều khác biệt, khó khăn như trong vấn đề thực thi luật và quy định theo cam kết

Vì thế, Việt Nam phải triển khai những biện pháp mở cửa thị trường phù hợp với WTO và tăng cường chất lượng quản lý trong ngành phân phối nói chung và dịch

vụ bán buôn, bán lẻ nói riêng; cải cách hệ thống các quy định để đảm bảo loại bỏ những rào cản không cần thiết đối với cạnh tranh, đồng thời đáp ứng được các mục tiêu chính sách công cần thiết, hài hòa lợi ích của các nhóm đối tượng có liên quan

Trong thời gian tới, Việt Nam tiếp tục thực hiện đàm phán một số Hiệp định quan trọng như Hiệp định Đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương, Hiệp định mậu dịch tự do Việt Nam – EU… Kết quả sau đàm phán chắc chắn sẽ có ảnh hưởng không nhỏ đến nhiều lĩnh vực, trong đó dịch vụ phân phối của Việt Nam vì các đối tác đàm phán luôn yêu cầu chúng ta phải mở cửa dịch vụ và đầu tư nhiều hơn so với các cam kết hiện tại trong WTO Vì vậy, việc nghiên cứu thực trạng quản lý nhà nước đối với các cơ sở bán buôn, bán lẻ chủ yếu ở nước ta và đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước đối với các cơ sở này từ nay đến năm

2020, nhất là trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu và rộng của Việt Nam là rất thiết thực cho công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực phân phối hiện nay

2 Tình hình nghiên cứu

- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ “Hoàn thiện môi trường kinh doanh nhằm phát triển dịch vụ bán buôn, bán lẻ của Việt Nam” do Viện Nghiên cứu Thương mại thực hiện năm 2009

- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ “Một số giải pháp phát triển hệ thống siêu thị trên địa bàn Hà Nội” do Trường Đại học Thương mại thực hiện năm 2006

Trang 6

- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ “Nghiên cứu các dịch vụ bán buôn, bán

lẻ của một số nước và khả năng vận dụng vào Việt Nam” do Viện Nghiên cứu Thương mại thực hiện năm 2006

- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ “Thực trạng và giải pháp phát triển hệ thống siêu thị ở nước ta trong giai đoạn hiện nay” do Viện Nghiên cứu Thương mại thực hiện năm 2005

- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ “Giải pháp phát triển cửa hàng tiện lợi vận doanh theo chuỗi ở Việt Nam đến năm 2010” do Trường Cán bộ Thương mại Trung ương thực hiện năm 2005

- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ “Các giải pháp phát triển hệ thống phân phối hàng hoá Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế" do Viện Nghiên cứu Thương mại thực hiện năm 2003

- Báo cáo “Rà soát khuôn khổ pháp lý về dịch vụ phân phối ở Việt Nam và những khuyến nghị về sự phù hợp của các quy định chuyên ngành với cam kết WTO” do Dự án EU – Việt Nam Mutrap III tài trợ thực hiện năm 2009

Hiện nay, đã có một số công trình nghiên cứu về các nội dung có liên quan nhưng chưa có nghiên cứu chuyên sâu nào đánh giá một cách toàn diện về thực trạng quản lý nhà nước đối với các cơ sở bán buôn, bán lẻ chủ yếu hiện nay và đề xuất những giải pháp hữu ích giúp cơ quan quản lý nhà nước có cơ sở xây dựng chính sách, pháp luật đảm bảo hài hòa mục tiêu và lợi ích của các nhóm đối tượng hữu quan Vì vậy, hy vọng rằng việc thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ

“Nghiên cứu xây dựng một số giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước đối với các cơ sở bán buôn, bán lẻ chủ yếu ở nước ta” sẽ góp một phần nhỏ trong việc giải

quyết những tồn tại, bất cập trong việc phát triển và quản lý các cơ sở bán buôn, bán lẻ chủ yếu; đảm bảo sự ổn định và phát triển thị trường phân phối trong nước; duy trì cạnh tranh lành mạnh; nâng cao vai trò điều tiết vĩ mô của Nhà nước trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế

3 Mục đích nghiên cứu

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với các cơ sở bán buôn, bán lẻ;

- Nghiên cứu kinh nghiệm quản lý nhà nước của một số nước đối với các cơ

sở bán buôn, bán lẻ chủ yếu và rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam;

- Đánh giá thực trạng hoạt động của các cơ sở bán buôn, bán lẻ chủ yếu và thực trạng quản lý nhà nước đối với các cơ sở này, từ đó xác định những thành tựu đạt được, những hạn chế, nguyên nhân và những vấn đề đặt ra cần giải quyết;

Trang 7

- Đề xuất một số giải pháp có tính khả thi để hoàn thiện quản lý nhà nước đối với các cơ sở bán buôn, bán lẻ chủ yếu ở nước ta từ nay đến năm 2020

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

a Đối tượng nghiên cứu: Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp hoàn

thiện quản lý nhà nước đối với các cơ sở bán buôn, bán lẻ chủ yếu ở nước ta (không phân tích sâu vào các ngành hàng, mặt hàng cụ thể), bao gồm:

- Một số cơ sở bán buôn chủ yếu: chợ đầu mối bán buôn, trung tâm bán buôn (theo quy hoạch) và tổng kho phân phối theo mô hình Cash & Carry

- Một số cơ sở bán lẻ chủ yếu: chợ bán lẻ, siêu thị, trung tâm thương mại, cửa hàng tiện lợi, chuỗi cửa hàng bán lẻ

b Phạm vi nghiên cứu:

- Về không gian: Trên phạm vi cả nước

- Về thời gian: Nghiên cứu, đánh giá thực trạng và đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước đối với các cơ sở bán buôn, bán lẻ chủ yếu trong giai đoạn từ nay đến năm 2020

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu;

- Phương pháp phân tích, so sánh, thống kê, tổng hợp;

- Phương pháp hội thảo, lấy ý kiến chuyên gia;

- Phương pháp kế thừa (các số liệu điều tra, khảo sát về các cơ sở bán buôn, bán lẻ chủ yếu )

- Phương pháp phân tích kinh tế khác

Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước đối với các cơ sở bán buôn, bán lẻ

chủ yếu ở nước ta

Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước đối với các

cơ sở bán buôn, bán lẻ chủ yếu ở nước ta từ nay đến năm 2020

Trang 8

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

STT Chữ viết tắt Nghĩa đầy đủ

1 ART Công ty Thương mại liên minh bán lẻ

2 Cash & Carry Hình thức bán buôn thanh toán ngay và tự chuyển

hàng đi

3 CPC Hệ thống phân loại sản phẩm của Liên hợp quốc

9 NESDB Ủy ban Phát triển kinh tế và xã hội quốc gia Thái Lan

10 OECD Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế

11 TNCs Các công ty xuyên quốc gia

12 TPP Hiệp định Đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương

14 Việt Nam - EU Mutrap

III

Dự án Hỗ trợ Thương mại đa biên giai đoạn III

Trang 9

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Danh mục các biểu đồ

Biểu đồ 1.1: Hiệu quả tổng thể của quy định quản lý về phân phối 27

Biểu đồ 2.1: Tăng trưởng các chỉ số kinh tế vĩ mô toàn cầu và tăng trưởng số lượng cửa hàng theo loại kênh toàn cầu 44

Biểu đồ 2.2: Doanh thu bán lẻ và doanh thu bán lẻ tạp phẩm của Việt Nam 45

Biểu đồ 2.3: So sánh mức doanh thu và số lượng cửa hàngmột số loại hình phân phối 47

Biểu đồ 2.4: So sánh tổng diện tích bán hàng với diện tích bán hàng trung bình của một số loại hình phân phối 48

Biểu đồ 2.5: Sự phát triển của cấu trúc bán lẻ Việt Nam 49

Biểu đồ 2.6: Top 5 nhà phân phối của Việt Nam năm 2010 50

Biểu đồ 2.7: Phân bố số lượng siêu thị trên cả nước năm 2010 52

Biểu đồ 2.8: Mạng lưới trung tâm thương mại theo các vùng kinh tế 57

Biểu đồ 2.9 : Phân bố chợ theo các vùng kinh tế 58

Biểu đồ 2.10: Các thương hiệu cửa hàng tiện lợi hàng đầu Việt Nam 59

Biểu đồ 2.11: Doanh thu và số lượng cửa hàng một số loại hình phân phối 62

giai đoạn 2005-2014 62

Biểu đồ 2.12: Lao động trong lĩnh vực phân phối giai đoạn 2004-2009 74

Trang 10

Danh mục các bảng

Bảng 1.1: Phân loại các cơ chế quản lý áp dụng đối với các nhà bán lẻ 30

xuyên quốc gia quy mô lớn (Transitional Companies – TNCs) 30

Bảng 1.2: Mục tiêu và một số loại quy định chính 32

đối với các doanh nghiệp bán buôn, bán lẻ 32

Bảng 2.1: Thị phần các công ty bán lẻ giai đoạn 2005-2009 51

Bảng 2.2: Tình hình phát triển hệ thống siêu thị giai đoạn 2005 – 2010 52

Bảng 2.3: Tỷ lệ hàng hóa Việt Nam trong một số siêu thị 54

Bảng 2.4: Tình hình phát triển trung tâm thương mại giai đoạn 2005-2010 55

Bảng 2.5: Quy mô và chủ đầu tư của các trung tâm thương mại 56

Việt Nam đến năm 2010 56

Bảng 2.6: Phân bố hệ thống chợ và một số chỉ tiêu cơ bản về chợ 57

trên cả nước đến năm 2010 57

Bảng 2.7: Tổng hợp tình hình đầu tư và phát triển 58

mạng lưới chợ trên toàn quốc 58

Trang 11

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC

ĐỐI VỚI CÁC CƠ SỞ BÁN BUÔN, BÁN LẺ

1.1 Dịch vụ bán buôn, bán lẻ và các cơ sở bán buôn, bán lẻ

1.1.1 Khái niệm dịch vụ bán buôn, bán lẻ

Phân phối là mắt xích liên kết chủ yếu giữa nhà sản xuất với người tiêu dùng cuối cùng, là quá trình đưa hàng hóa từ nơi sản xuất tới nơi tiêu dùng, qua đó tạo ra giá trị gia tăng cho hàng hóa Theo hệ thống phân loại sản phẩm của Liên hợp quốc năm 1998 (Central Product Classification – CPC), ngành phân phối bao gồm bốn phân ngành dịch vụ chính: dịch vụ đại lý hoa hồng, dịch vụ bán buôn, dịch vụ bán

lẻ và dịch vụ nhượng quyền Trong khuôn khổ đề tài này, nhóm tác giả chỉ tập trung nghiên cứu một phần về dịch vụ bán buôn và bán lẻ, cụ thể là đối với một số loại hình cơ sở bán buôn, bán lẻ chủ yếu

Theo hệ thống phân loại CPC, dịch vụ bán buôn là việc bán hàng cho các

nhà bán lẻ, cho người tiêu dùng công nghiệp, thương mại, tổ chức và các đối tượng kinh doanh khác, thậm chí cho cả các nhà bán buôn khác; dịch vụ bán lẻ là việc

bán hàng phục vụ cho mục đích tiêu dùng cá nhân hoặc hộ gia đình

Nghị định số 23/2007/NĐ-CP của Chính phủ ngày 12 tháng 02 năm 2007 quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hoá và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hoá của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (sau đây gọi tắt là Nghị định số 23/2007/NĐ-CP) có quy

định: Bán buôn là hoạt động bán hàng hoá cho thương nhân, tổ chức khác; không

bao gồm hoạt động bán hàng trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng Bán lẻ là hoạt động bán hàng hoá trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng

Quyết định số 337/QĐ-BKH của Bộ Kế hoạch và Đầu tư ngày 10 tháng 4 năm 2007 về việc ban hành Quy định nội dung Hệ thống ngành kinh tế của Việt

Nam có định nghĩa: Bán buôn là bán hàng hoá loại mới và loại đã qua sử dụng cho

người bán lẻ, người sản xuất kinh doanh (mà không làm thay đổi thành phần, tính chất, công dụng) như doanh nghiệp sản xuất công nghiệp, doanh nghiệp thương mại, cơ quan, tổ chức chuyên môn, hoặc bán lại cho người bán buôn khác, cho các đại lý, tổ chức môi giới mua bán hàng hoá Bán lẻ là bán lại (không làm biến đổi hàng hoá) những hàng hoá loại mới và hàng đã qua sử dụng chủ yếu cho cộng đồng để tiêu dùng cho cá nhân hoặc hộ gia đình, ở các cửa hàng, siêu thị, trung

Trang 12

tâm mua bán, quầy hàng, cửa hàng nhận đặt và trả hàng bằng đường bưu điện, bán tại chợ hoặc lưu động, hợp tác xã mua bán, nhà đấu giá

Đồng thời, các chuyên gia và nhà nghiên cứu trong lĩnh vực phân phối cũng giới thiệu nhiều khái niệm khác nhau về dịch vụ bán buôn, bán lẻ

Theo tài liệu nghiên cứu của nhóm chuyên gia Dự án EU-Việt Nam Mutrap

III năm 2010, dịch vụ bán buôn là hoạt động bán hàng hóa phục vụ nhu cầu sản

xuất, để bán lại hoặc tiêu dùng vì mục đích nghề nghiệp hoặc kinh doanh; dịch vụ bán lẻ là hoạt động bán hàng hóa cho người tiêu dùng cuối cùng phục vụ mục đích tiêu dùng cá nhân hoặc hộ gia đình

Theo một nghiên cứu khoa học của Tiến sĩ Phạm Hữu Thìn, Vụ Thị trường

trong nước, Bộ Công Thương: Dịch vụ bán buôn là các hoạt động liên quan đến

bán hàng hóa và dịch vụ cho những người mua hàng để bán lẻ hoặc để sử dụng cho kinh doanh Dịch vụ bán lẻ là hoạt động có nghiệp vụ chủ yếu là bán (có tính chất tiếp tục) hàng hóa cùng với dịch vụ kèm theo cho người tiêu dùng cuối cùng phục vụ mục đích tiêu dùng cá nhân hoặc hộ gia đình

Trên thực tế, ranh giới giữa hai ngành dịch vụ bán buôn, bán lẻ ngày càng

mờ nhạt, khó định nghĩa và định lượng chính xác một hoạt động bán hàng là bán buôn hay bán lẻ Ranh giới giữa sản xuất, bán buôn và bán lẻ liên tục thay đổi, phụ thuộc vào các điều kiện kinh tế tại từng thời điểm, các quyết định của cá nhân hay chiến lược của doanh nghiệp Tuy nhiên, chúng ta có thể áp dụng một số tiêu chí cơ bản để phân biệt giữa dịch vụ bán buôn và bán lẻ, cụ thể như sau:

- Tiêu chí về khối lượng hàng hóa bán ra: Bán buôn là bán với một số lượng hàng lớn, ngược lại bán lẻ là bán từng sản phẩm hay với số lượng nhỏ

- Tiêu chí về đối tượng bán hàng: Đối tượng của bán buôn là các đại lý, siêu thị, nhà phân phối sỉ, các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, các nhà bán lẻ còn đối tượng của bán lẻ là người tiêu dùng cuối cùng hay khách hàng dùng trực tiếp các sản phẩm đó

- Tiêu chí về giá thành: Thông thường bán buôn có giá thành trên từng sản phẩm thấp hơn bán lẻ

- Tiêu chí về mục đích: Mục đích hướng tới của bán buôn là để bán lại cho một chủ thể thứ ba hoặc để sử dụng cho hoạt động sản xuất kinh doanh (hay có thể hiểu là nhằm mục đích thương mại) còn mục đích của dịch vụ bán lẻ là để tiêu dùng trực tiếp

- Tiêu chí về tầm ảnh hưởng đến thị trường: Nhiều người cho rằng bán buôn

có tầm ảnh hưởng đến thị trường nhiều hơn bán lẻ Ví dụ khi một nhà bán buôn bán

Trang 13

một sản phẩm với khối lượng rất lớn với giá rất rẻ thì thị trường ở nơi đó sẽ phần nào bị ảnh hưởng về giá, trong khi đó một cửa hàng bán lẻ bán một sản phẩm đắt hơn các cửa hàng khác thì không ảnh hưởng nhiều đến thị trường Tuy nhiên tiêu chí này ngày nay đã không còn thật chính xác, nhiều nhà kinh tế và nghiên cứu đã nhận định rằng dịch vụ bán lẻ ngày càng tỏ rõ tầm quan trọng của mình, so với dịch bán buôn thì tầm ảnh hưởng có phần nào vượt trội hơn

Về vấn đề này, các chuyên gia nghiên cứu của Đức trong sách “Giải thích thuật ngữ trong thương mại và phân phối” tái bản lần thứ 5 năm 2007 nhận định rằng các tiêu chí về số lượng hay giá thành không phải là tiêu chí chính xác để phân biệt giữa dịch vụ bán buôn và bán lẻ Theo đó, tiêu chí về mục đích là thương mại hay tiêu dùng trực tiếp mới chính là yếu tố then chốt để phân biệt được hai loại hình dịch vụ này

1.1.2 Một số loại hình cơ sở bán buôn, cơ sở bán lẻ chủ yếu

1.1.2.1 Giải thích từ ngữ

Theo từ điển Tiếng Việt, “cơ sở” được định nghĩa là đơn vị ở cấp dưới cùng, nơi trực tiếp thực hiện các hoạt động như sản xuất, công tác của một hệ thống tổ chức, trong quan hệ với các bộ phận lãnh đạo cấp trên

Theo từ điển tiếng Anh, “cơ sở” hay “establishment” được hiểu là địa điểm kinh doanh (business premise) hay một công trình của nhà nước hoặc tư nhân bao gồm các tòa nhà và trang thiết bị cần thiết để tổ chức kinh doanh hay làm nơi cư trú (a public or private structure including buildings and equipment for business or residence)

Loại hình bán lẻ qua cơ sở bán hàng (gọi tắt là loại hình cơ sở bán lẻ) là loại

hình bán lẻ có không gian và địa điểm cố định cần thiết để trưng bày và bán hàng,

đồng thời người tiêu dùng hoàn thành việc mua hàng chủ yếu ở địa điểm này Loại

hình bán lẻ không qua cơ sở bán hàng là loại hình (hình thức) bán lẻ, theo đó hàng

hóa được chuyển trực tiếp từ nhà sản xuất/phân phối đến người tiêu dùng không thông qua cơ sở bán hàng như bán hàng trực tuyến qua Internet, bán hàng qua truyền hình/ti vi, bán hàng qua điện thoại, bán hàng qua bưu điện, bán hàng qua catalog, bán hàng tận cửa hay bán hàng lưu động

Nghị định số 23/2007/NĐ-CP định nghĩa cơ sở bán lẻ là đơn vị thuộc sở hữu

của doanh nghiệp để thực hiện việc bán lẻ mà không giải thích về cơ sở bán buôn

Với cách định nghĩa như vậy, cơ sở bán buôn có thể hiểu là đơn vị thuộc sở hữu

của doanh nghiệp để thực hiện việc bán buôn

Trang 14

Một nghiên cứu của các chuyên gia Dự án EU-Việt Nam Mutrap III trong

năm 2010 lại đưa ra các khái niệm như sau: Cơ sở bán lẻ là tên gọi chung cho các

loại hình chợ, cửa hàng, trung tâm thương mại, máy bán hàng tự động hay các hình

thức dưới tên gọi khác được tổ chức để thực hiện hoạt động bán lẻ Cơ sở bán buôn

là tên gọi chung cho các loại hình chợ, cửa hàng, trung tâm thương mại hay các hình thức dưới tên gọi khác được tổ chức để thực hiện hoạt động bán buôn

Trong khuôn khổ đề tài này, cơ sở bán buôn được coi là tên gọi chung cho

các đơn vị có không gian và địa điểm cố định cần thiết để trưng bày và bán hàng dưới hình thức bán buôn; cơ sở bán lẻ được coi là tên gọi chung cho các đơn vị có không gian và địa điểm cố định cần thiết để trưng bày và bán hàng dưới hình thức bán lẻ Như vậy, một doanh nghiệp hay tổ chức có thể có một hoặc nhiều cơ sở bán

1.1.2.2 Một số loại hình cơ sở bán buôn chủ yếu

Hiện nay ở nước ta, mạng lưới bán buôn đã hình thành và phát triển với các loại hình như: chợ đầu mối bán buôn, cơ sở bán buôn của các doanh nghiệp và các

cơ sở bán buôn hiện đại khác

- Chợ đầu mối bán buôn:

Chợ đầu mối bán buôn là nơi thu hút, tập trung lượng hàng hoá lớn từ các nguồn sản xuất, kinh doanh của khu vực kinh tế hoặc của ngành hàng để tiếp tục phân phối tới các chợ và các kênh lưu thông khác Tại Việt Nam, với việc chợ được phân loại thành chợ loại 1, 2 và loại 3, các chợ đầu mối bán buôn thường là chợ truyền thống có quy mô loại 1 và 2, được phân bố khắp cả nước và thường đặt tại các trung tâm kinh tế - xã hội của vùng, tỉnh, thành phố Các mặt hàng được kinh doanh ở đây tương đối đa dạng nhưng chủ yếu vẫn là các mặt hàng nông sản, hàng công nghiệp tiêu dùng với quy mô giao dịch nhỏ do hạn chế về cơ sở vật chất kỹ thuật cần thiết phục vụ cho hoạt động bán buôn như lưu kho, bảo quản, sơ chế, phân loại hàng hóa với số lượng lớn Với điều kiện như vậy, tại các chợ này thường thực hiện cả các giao dịch bán buôn và bán lẻ hàng hóa tổng hợp

Trang 15

- Các cơ sở bán buôn của các doanh nghiệp:

Do hạn chế về quy mô nên hầu hết các doanh nghiệp của nước ta chưa hình thành được mạng lưới cơ sở bán buôn riêng mà thường tổ chức hoạt động bán buôn thông qua mạng lưới chợ hoặc bán buôn ngay tại trụ sở của doanh nghiệp với các loại hình như cơ sở bán buôn chuyên doanh, cơ sở bán buôn tổng hợp Ngoài ra, cùng với sự xuất hiện của nhà đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực bán buôn, một số loại hình cơ sở phân phối bán buôn hiện đại cũng đã xuất hiện ở Việt Nam trong những năm gần đây

+ Các cơ sở bán buôn mặt hàng tổng hợp có xu hướng kinh doanh mặt hàng rộng và không sâu Chiều rộng của mặt hàng được hiểu là số lượng chủng loại sản phẩm còn chiều sâu là số phân lớp trong một loại hàng hóa có thể được mở rộng đến kích cỡ bao bì hoặc vị của sản phẩm

+ Các cơ sở bán buôn chuyên doanh có xu hướng kinh doanh mặt hàng hẹp

và sâu

+ Các cơ sở thương mại thu mua thường chuyên môn hóa vào việc thu mua (thu gom hàng hóa), phân loại và đóng gói, chủ yếu là các sản phẩm nông nghiệp (ví dụ như rau, quả, khoai tây, bông, ), cũng như tái phân phối hàng cũ và phế liệu cho người sử dụng (ví dụ: tái chế phế thải bằng sắt, giấy, thủy tinh, chất dẻo ) Đối với các sản phẩm nông nghiệp, thương mại thu mua thường tồn tại dưới hình thức các hợp tác xã (như hợp tác xã rau, hợp tác xã trái cây, hợp tác xã bò sữa )

+ Cơ sở thương mại bán buôn thanh toán ngay và tự chuyển hàng đi (bán buôn tự phục vụ) hay còn gọi là tổng kho phân phối theo mô hình Cash & Carry thường cung cấp khối lượng hàng hóa lớn với rất nhiều chủng loại hàng hóa như thực phẩm, đồ uống, hàng tiêu dùng Đặc điểm của loại hình người mua thanh toán ngay khi mua hàng, tự đóng gói và chuyển hàng đi Hiện nay trong số các doanh nghiệp bán buôn lớn ở Việt Nam, Tập đoàn Metro là nhà đầu tư nước ngoài đầu tiên phát triển mạng lưới phân phối bán buôn theo mô hình này với 9 cơ sở trên

cả nước, thường đặt ở các khu vực liền kề ngoại thành của các thành phố Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ, Đồng Nai và Thành phố Hồ Chí Minh

+ Các cơ sở thương mại bán buôn hàng tư liệu sản xuất chủ yếu thực hiện việc cung ứng hàng nguyên vật liệu cho các xí nghiệp, nhà máy sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp

- Các cơ sở bán buôn hiện đại khác: Các cơ sở bán buôn hiện đại ở nước ta mới ở trong giai đoạn hình thành và phát triển nên số lượng và loại hình còn ít Loại hình chủ yếu hiện nay là Sàn/ sở/ trung tâm giao dịch hàng hóa

Trang 16

Sàn /Sở giao dịch hàng hóa là loại thị trường đặc biệt, việc mua bán hàng thông qua những người môi giới do Sàn/Sở giao dịch chỉ định, giao dịch khối lượng lớn, tính chất đồng loại, phẩm chất có thể thay thế cho nhau Trong thời gian qua, ở nước ta đã có một số Sàn giao dịch hàng hóa được thành lập nhưng hiệu quả chưa cao, một số sàn đã phải dừng hoạt động Tới đây một số địa phương cũng có

kế hoạch xây dựng các trung tâm giao dịch nguyên phụ liệu và trung tâm giao dịch một số mặt hàng nông sản

Tại Việt Nam, nhiều cơ sở bán buôn còn lấy tên gọi là trung tâm bán buôn Trung tâm bán buôn cũng có nhiều loại hình và cách định nghĩa khác nhau

Theo quy hoạch phát triển ngành thương mại ở một số địa phương, trung tâm bán buôn là khu vực được quy hoạch làm nơi tập kết hàng hóa của các nhà sản xuất, các nhà phân phối, các nhà môi giới thương mại, các công ty bán buôn để giới thiệu, trưng bày triển lãm hàng mẫu, chuẩn bị hàng hóa phát luồng cho mạng lưới bán lẻ trên địa bàn một địa phương nhất định Ngoài ra, một số địa phương cũng có

kế hoạch xây dựng các trung tâm giao dịch nguyên phụ liệu và trung tâm giao dịch một số mặt hàng nông sản trong thời gian tới

Trên thực tế, nhiều cơ sở bán buôn không nằm trong quy hoạch cũng lấy tên gọi là trung tâm bán buôn, thường thuộc sở hữu của doanh nghiệp, có quy mô nhỏ, chuyên về một ngành hàng hay mặt hàng như máy tính, điện thoại, quần áo và thực hiện các giao dịch vừa bán buôn và bán lẻ Đặc biệt, tại Việt Nam đã xuất hiện một hình thức trung tâm bán buôn mới là Trung tâm Giao dịch Bán buôn Hà Nội do Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Sản phẩm Xanh Việt Nam và Hiệp hội Các nhà bán lẻ Việt Nam hợp tác xây dựng đặt tại 123 Hồ Tùng Mậu, Hà Nội với rất nhiều mặt hàng kinh doanh đa dạng nhằm giúp các doanh nghiệp phát triển mạng lưới phân phối và xúc tiến bán hàng vào thị trường Hà Nội và các tỉnh phía Bắc

Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, nhóm nghiên cứu chỉ tập trung vào

một số loại hình cơ sở bán buôn chủ yếu là chợ đầu mối bán buôn, trung tâm bán buôn (theo quy hoạch) và tổng kho phân phối theo mô hình Cash & Carry

1.1.2.3 Một số loại hình cơ sở bán lẻ chủ yếu

Các loại hình cơ sở bán lẻ được phân loại chủ yếu theo ngành hàng, mặt hàng, mức giá, phương thức phục vụ, diện tích (diện tích kinh doanh, diện tích bán hàng), địa điểm và được phân thành các loại hình bán lẻ truyền thống và hiện đại

- Cơ sở bán lẻ truyền thống: Các cơ sở này đã tồn tại và phát triển cùng với quá trình phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam, bao gồm các loại hình cơ bản như chợ truyền thống, cửa hàng, cửa hiệu, sạp hàng Hiện này ở nước ta, các loại

Trang 17

hình bán lẻ truyền thống tồn tại khá phổ biến, nhất là ở các vùng nông thôn miền núi

+ Chợ bán lẻ truyền thống: Chợ bán lẻ là một loại hình tổ chức thương mại tại một địa điểm nhất định, đáp ứng các nhu cầu mua bán, trao đổi hàng hóa và nhu cầu tiêu dùng của khu vực dân cư Hầu hết các chợ hiện nay trên lãnh thổ Việt Nam đều thực hiện chức năng bán lẻ hàng hóa trong đó có cả các chợ đầu mối bán buôn như đề cập tại phần trên

+ Các loại hình cửa hàng bán lẻ truyền thống: Các cơ sở này chủ yếu là các cửa hàng, cửa hiệu nhỏ do hộ gia đình, doanh nghiệp tư nhân tổ chức, sử dụng diện tích nhà ở hoặc thuê diện tích để mở cửa hàng, thường ở ven tuyến đường giao thông hay trong khu dân cư bán các mặt hàng thiết yếu hoặc đặt tại các khu phố buôn bán ở đô thị bán các mặt hàng thời trang, đồ lưu niệm Quy mô của các cơ sở này thường nhỏ, khoảng 3-10m2/cửa hàng, thời gian bán hàng khá linh hoạt

- Cơ sở bán lẻ hiện đại: Các cơ sở bán lẻ hiện đại gồm có nhiều loại hình như trung tâm mua sắm, trung tâm thương mại, đại siêu thị, siêu thị, siêu thị chuyên doanh, cửa hàng bách hoá, cửa hàng tiện lợi

+ Siêu thị (supermarket) là một cơ sở bán lẻ có diện tích bán hàng từ 400 m2

trở lên, bán các loại lương thực, thực phẩm, kể cả hàng tươi sống (hoa quả, rau, thịt, ) cũng như các hàng hóa khác phục vụ nhu cầu hàng ngày và tiêu dùng ngắn ngày của khách hàng ở các khu dân cư; hàng hóa được trưng bày trên giá, bán hàng theo phương thức tự phục vụ hoặc tự phục vụ là chủ yếu, tách biệt cửa ra và cửa vào, thực hiện thanh toán tập trung

Theo định nghĩa của Việt Nam, siêu thị là loại hình cửa hàng hiện đại; kinh doanh tổng hợp hoặc chuyên doanh; có cơ cấu chủng loại hàng hóa phong phú, đa dạng, bảo đảm chất lượng; đáp ứng các tiêu chuẩn về diện tích kinh doanh, trang bị

kỹ thuật và trình độ quản lý, tổ chức kinh doanh; có các phương thức phục vụ văn minh, thuận tiện nhằm thỏa mãn nhu cầu mua sắm hàng hóa của khách hàng

+ Đại siêu thị (hypermarket) là loại hình bán lẻ thỏa mãn mọi nhu cầu mua

sắm một lần của khách hàng, bao gồm các siêu thị và những cửa hàng tổng hợp và chuyên doanh, có kho hàng, bãi đỗ xe lớn; việc vận chuyển, xếp dỡ hàng hóa được tối ưu hóa Đây là loại hình bán lẻ có sức cạnh tranh mạnh về giá cả dựa vào tính kinh tế nhờ quy mô và hiện đại hóa Địa điểm kinh doanh thường ở khu vực ngoại

vi hoặc ở các khu trung tâm thương mại của thành phố

+ Cửa hàng tiện lợi (convenience store) là loại hình cơ sở bán lẻ hiện đại quy

mô nhỏ; hàng hóa, dịch vụ kinh doanh chủ yếu là những thứ gần gũi, thiết yếu với

Trang 18

+ Cửa hàng tạp hóa là cơ sở bán lẻ nhỏ bán nhiều nhóm hàng khác bánh kẹo, sách, tạp chí, báo, văn phòng phẩm, đồ chơi, tặng phẩm và đồ trang sức khác nhau Một dạng khác của cửa hàng tạp phẩm là tập hợp về không gian của các cửa hàng chuyên doanh và chuyên ngành độc lập với nhau (chủ yếu là cửa hàng thời trang quần áo, đồ trang sức, cửa hàng sách và tạp chí, băng đĩa, )

+ Cửa hàng chuyên bán hàng có thương hiệu hay thường được gọi là cửa

hàng bách hóa (department store) là loại hình cơ sở bán lẻ có diện tích lớn, thường

có nhiều tầng và bán đa dạng các mặt hàng với nhiều kích cỡ, chủng loại thuộc nhiều ngành hàng khác nhau, có yêu cầu phục vụ chu đáo và giá cao do chuyên cung cấp các mặt hàng, dịch vụ có thương hiệu Các cơ sở này thường được đặt ở nội thành hoặc ở các trung tâm mua sắm Mặt hàng thường là hàng phi thực phẩm (thuộc các ngành hàng như quần áo, đồ dệt, thể thao, dụng cụ gia đình, đồ gỗ, thiết

bị, mỹ phẩm, đồ trang sức, giải trí ) hay có thể bao gồm cả thực phẩm Ngoài ra, các cơ sở này còn cung ứng các dịch vụ như nhà hàng, môi giới du lịch, dịch vụ tài chính Điểm phân biệt cụ thể giữa loại hình cơ sở bán lẻ này so với siêu thị là siêu thị thì bán nhiều loại sản phẩm còn cửa hàng chuyên bán hàng có thương hiệu thì diện tích bán hàng được chia thành nhiều điểm bán hàng khác nhau và cho thuê theo từng nhãn hàng riêng

+ Trung tâm mua sắm (shopping center/mall) là cơ sở bán lẻ tập trung do

chủ đầu tư xây dựng theo quy hoạch, trong đó có bố trí nhiều loại hình cơ sở bán lẻ hàng hóa, dịch vụ ăn uống, giải trí, làm đẹp, ngân hàng, du lịch , có siêu thị hoặc cửa hàng bách hóa, đáp ứng nhu cầu đa dạng như mua sắm, vui chơi, giải trí, thể thao, làm đẹp của khách hàng

Được xây dựng theo quy hoạch, trung tâm mua sắm do chủ đầu tư hoặc người quản lý chuyên nghiệp vận hành quản lý Do đó, việc quản lý thường rất chuyên nghiệp với việc cung ứng nhiều dịch vụ về cơ sở hạ tầng, sắp xếp nơi bán hàng, trưng bày hàng hóa, xúc tiến và khuyếch trương, khuyến mại, thông tin, lao động, sử dụng chung các thiết bị, kiểm soát chất lượng hàng hóa, an ninh Căn cứ vào các tiêu chí như vị trí quy hoạch, phạm vi thị trường, quy mô diện tích và khách hàng, trung tâm mua sắm được phân loại thành một số loại hình cụ thể như trung tâm mua sắm ở khu trung tâm thương mại của thành phố, trung tâm mua sắm

ở trong khu dân cư hoặc gần khu dân cư, trung tâm mua sắm của vùng

+ Trung tâm thương mại

Các văn bản pháp quy của Việt Nam hiện chưa có định nghĩa chính thức về trung tâm mua sắm mà chỉ định nghĩa về trung tâm thương mại Theo đó, trung tâm thương mại là loại hình tổ chức kinh doanh thương mại hiện đại, đa chức năng, bao

Trang 19

gồm tổ hợp các loại hình cửa hàng, cơ sở hoạt động dịch vụ; hội trường, phòng họp, văn phòng cho thuê được bố trí tập trung, liên hoàn trong một hoặc một số công trình kiến trúc liền kề; đáp ứng các tiêu chuẩn về diện tích kinh doanh, trang

bị kỹ thuật và trình độ quản lý, tổ chức kinh doanh; có các phương thức phục vụ văn minh, thuận tiện đáp ứng nhu cần phát triển hoạt động kinh doanh của thương nhân và thoả mãn nhu cầu về hàng hoá, dịch vụ của khách hàng Ở nước ta, trung tâm thương mại vừa được hiểu là loại hình cửa hàng chuyên bán hàng có thương hiệu (department store) như Parkson, Diamond Plaza, Vincom, vừa được hiểu là

trung tâm mua sắm (shopping center/mall) nơi tập trung nhiều hoạt động thương

mại, dịch vụ và thường tập trung ở các thành phố lớn Tại các tỉnh, tên gọi trung tâm thương mại thường được đặt cho các khu vực chợ hạng 1 sau khi được đầu tư xây dựng hoặc sửa chữa để có cấu trúc hiện đại

+ Loại hình chuỗi cửa hàng bán lẻ là loại hình tổ chức bán lẻ triển khai nhiều

cửa hàng theo chuỗi Cửa hàng chuỗi (chain store) là một trong một loạt cửa hàng

giống nhau (thương hiệu, trang thiết bị, kiến trúc, công nghệ và hàng hóa) Chuỗi

cửa hàng bán lẻ (retail store chain/a chain of retail stores) là hệ thống cửa hàng

bán lẻ được tiêu chuẩn hóa và vận doanh có tính chất thống nhất, các chức năng quản lý chiến lược, chuẩn bị nguồn hàng, cung ứng hàng hóa, quyết định chính sách bán hàng - giá cả được tập trung vào doanh nghiệp điều hành, các cửa hàng chủ yếu chỉ thực hiện nhiệm vụ bán hàng

Tùy theo phương thức liên kết, các chuỗi cửa hàng được phân loại thành:

Chuỗi cửa hàng thông thường (regular chain) do một doanh nghiệp sở hữu

Thường chỉ những doanh nghiệp lớn có đủ sức mạnh về tài chính, kinh nghiệm và trình độ quản lý mới có thể xây dựng và sở hữu chuỗi của hàng;

Chuỗi cửa hàng nhượng quyền (franchise chain) là chuỗi cửa hàng, trong đó

doanh nghiệp chuỗi mẹ là bên nhượng quyền (franchisor) cấp quyền kinh doanh

cho cửa hàng nhận quyền hay cửa hàng mua quyền (franchisee) nhằm thu hút các

cửa hàng bán lẻ hoạt động độc lập ở các địa điểm khác nhau và thuộc các chủ sở hữu khác nhau trở thành cửa hàng thành viên của chuỗi;

Chuỗi cửa hàng tự nguyện (voluntary chain) được hình thành dựa trên sự

liên minh, hợp tác và tổ chức tự nguyện giữa nhiều cửa hàng bán lẻ độc lập trong việc sử dụng thương hiệu chung, cùng nhau mua hàng và sử dụng dịch vụ logistics

Với rất nhiều loại hình cơ sở bán lẻ như nêu trên, đề tài này giới hạn phạm vi

nghiên cứu đối với một số loại hình cơ sở bán lẻ chủ yếu là chợ bán lẻ truyền

thống, siêu thị, trung tâm thương mại, cửa hàng tiện lợi, chuỗi cửa hàng bán lẻ

Trang 20

1.1.3 Vai trò của dịch vụ bán buôn, bán lẻ và các cơ sở bán buôn, bán lẻ

Dịch vụ phân phối, nhất là dịch vụ bán buôn và bán lẻ, đóng một vai trò rất quan trọng đối với GDP của các quốc gia trên thế giới Tỉ trọng của đóng góp của lĩnh vực này so với GDP chiếm khoảng 8% đến 16% (Trung Quốc, Indonesia, Philippines), tương đương hoặc cao hơn ngành nông nghiệp Ở các nước phát triển như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Đức, Pháp, Anh, Italy, Canada, phân phối đóng góp vào GDP từ 8% - 15%, vào việc làm từ 11% - 19% Trong giai đoạn 1950–1983, các hoạt động bán buôn và bán lẻ đóng góp trung bình 13,5% vào GDP của một nhóm gồm 74 quốc gia Ở nhiều quốc gia, bán buôn và bán lẻ chỉ đứng thứ 2 sau hoạt động sản xuất nếu xét đến đóng góp vào GDP Tại Hoa Kỳ, mỗi năm bán lẻ chiếm

từ 50% - 60% tổng đóng góp của toàn bộ ngành phân phối vào GDP

Vai trò của hệ thống phân phối với mạng lưới các cơ sở bán buôn, bán lẻ phát triển ngày càng tác động, chi phối, thậm chí áp đặt cuộc chơi cho hệ thống sản xuất Mạng lưới cơ sở bán buôn, bán lẻ tạo ra sự kết nối sống còn giữa nhà sản xuất

và người tiêu dùng và tác động tích cực đến lợi ích của người tiêu dùng Đặc biệt,

hệ thống phân phối hiện đại trong khâu bán buôn và bán lẻ còn góp phần quan trọng trong phát triển kinh tế và nông nghiệp của các nước

1.1.3.1 Vai trò của dịch vụ bán buôn và các cơ sở bán buôn

Dịch vụ bán buôn là điều kiện quan trọng và cần thiết để phát triển sản xuất

và cung ứng cho người tiêu dùng Thông qua việc thực hiện các chức năng như hình thành danh mục hàng hóa, thực hiện các hoạt động hậu cần, đáp ứng thời gian giao hàng với số lượng lớn, kiểm tra và bảo đảm chất lượng hàng hóa và thực hiện các nhiệm vụ như mua hàng, kho bãi, quản lý chuỗi cung ứng hiệu quả bằng các giá trị được tăng thêm ở từng khâu mà dịch vụ bán buôn đảm bảo sự phân công, chuyên môn hóa và phối hợp giữa các khâu của quá trình cung ứng hàng hóa, từ

sản xuất, bán buôn đến bán lẻ Quá trình hiện đại hóa, toàn cầu hóa và mở cửa thị

trường đòi hỏi phải phân công một cách thích hợp các chức năng theo các lĩnh vực

để đảm bảo năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, điều đó phụ thuộc vào hoạt động hiệu quả của hệ thống bán buôn Có thể nói, sự phát triển của dịch vụ bán buôn là chìa khóa thúc đẩy sự tiến bộ của các ngành công, nông nghiệp và cung ứng hàng hóa

Ngoài ra, bán buôn giữ một vị trí quan trọng trong nền kinh tế của mỗi quốc gia Hệ thống bán buôn phát triển tốt sẽ giúp Chính phủ các nước thực hiện được chức năng kiểm soát và điều tiết thị trường hàng hóa như kiểm soát vệ sinh an toàn thực phẩm, điều tiết cung - cầu hàng hóa, kiểm soát giá cả thị trường Sự phát triển của hệ thống bán buôn sẽ mang đến nhiều việc làm mới trong rất nhiều ngành

Trang 21

nghề, góp phần tạo sự minh bạch trong việc hình thành giá cả trên thị trường, đảm bảo sự phân chia lợi ích hài hòa giữa người sản xuất và thương nhân Hệ thống bán buôn phát triển và hoạt động hiệu quả còn giúp cho các hệ thống phân phối bán lẻ

có được chủng loại hàng hoá đa dạng, giá rẻ, giúp các nhà bán lẻ giảm tối đa lượng hàng lưu kho và tận dụng tối đa nguồn vốn, qua đó hỗ trợ các nhà bán lẻ vừa và nhỏ nâng cao hiệu quả kinh doanh Thông qua các chức năng và nhiệm vụ của mình mà dịch vụ bán buôn dẫn dắt và chỉ đạo các chuỗi cung ứng hàng hóa hiệu quả, nhờ vậy tạo thêm giá trị gia tăng vào mỗi khâu của chuỗi giá trị sản phẩm, tạo

ra giá trị gia tăng đóng góp vào tăng trưởng kinh tế

Hiện nay, hầu như các hoạt động bán buôn đều được thực hiện thông qua các

cơ sở bán buôn Việc bán buôn không qua cơ sở bán buôn như bán buôn online (bán buôn trên mạng) chỉ chiếm tỷ trọng rất nhỏ, khoảng dưới 8% và phổ biến hơn tại các quốc gia phát triển hoặc các quốc gia mới nổi Cùng với sự phát triển của nền kinh tế các nước, các cơ sở bán buôn ngày càng giữ một vai trò quan trọng hơn

và được Chính phủ các nước quan tâm, đầu tư xây dựng Nhiều nước đã ban hành các cơ chế, chính sách để thúc đẩy quá trình xây mới, sửa chữa hạ tầng thương mại cho bán buôn và quan tâm hơn đến việc quản lý các cơ sở bán buôn hiệu quả (ban hành các quy định pháp luật về quản lý bán buôn, khuyến khích nhà nước, doanh nghiệp cùng quản lý, đầu tư nguồn lực để phát triển các cơ sở bán buôn ) Tại nhiều quốc gia đang phát triển mà sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn, các chợ bán buôn hay trung tâm là đầu mối tiêu thụ quan trọng cho các vùng sản xuất tập trung, đồng thời còn đầu mối phân phối tại các vùng tiêu thụ lớn, góp phần quan trọng trong quá trình lưu thông các mặt hàng nông sản trên cả nước

1.1.3 2 Vai trò của dịch vụ bán lẻ và các cơ sở bán lẻ

Dịch vụ bán lẻ là điều kiện cần thiết để hình thành cấu trúc kinh tế vững mạnh, bền vững trong môi trường toàn cầu hóa Dịch vụ bán lẻ góp phần tạo giá trị gia tăng và việc làm, chỉ đạo marketing cho liên kết chiều dọc của các chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị hàng hóa với giá trị gia tăng cao, góp phần vận hành nền kinh tế

có hiệu quả Ngoài ra, nhờ sự phát triển dịch vụ bán lẻ chuyên nghiệp, Nhà nước có thể thực hiện được hiệu quả các chức năng điều tiết và kiểm soát thị trường, như điều tiết cung – cầu hàng hóa, kiểm soát vệ sinh an toàn thực phẩm, chống buôn bán hàng giả, kém chất lượng, gian lận thương mại, kiểm soát giá cả thị trường

Hệ thống bán lẻ phát triển tốt còn góp phần giúp các nhà sản xuất trong nước nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường, qua đó có điều kiện để cạnh tranh ở thị trường thế giới Đối với người tiêu dùng, hệ thống bán lẻ hiệu quả sẽ đảm bảo cung ứng hàng hóa giá rẻ, góp phần làm giảm tỷ lệ chi tiêu, nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân

Trang 22

Các cơ sở bán lẻ nắm giữ một vai trò quan trọng trong sự phát triển của hệ thống bán lẻ, chiếm khoảng 80% tổng doanh số bán lẻ của mỗi quốc gia Theo Báo cáo đánh giá về các rào cản trong thương mại dịch vụ bán lẻ của OECD năm 2000, bán lẻ qua cơ sở bán lẻ ở một số quốc gia năm 1999 chiếm tỷ trọng rất lớn như Hàn Quốc 99,2%, Nhật Bản 79,8% Ngày nay, mặc dù hoạt động bán lẻ không qua các

cơ sở bán lẻ ngày càng phổ biến, tăng dần tỷ trọng trong doanh số bán lẻ chung của mỗi quốc gia nhờ sự tiến bộ của khoa học, công nghệ kỹ thuật nhưng các cơ sở bán

lẻ vẫn là ưu tiên hàng đầu mà Chính phủ các nước quan tâm và quản lý chặt chẽ Tầm ảnh hưởng của các cơ sở bán lẻ đối với nền kinh tế của một quốc gia là không thể phủ nhận Là nơi cung ứng hàng hóa nhanh chóng nhất đến tay người tiêu dùng, các cơ sở bán lẻ góp phần đáp ứng mọi nhu cầu đa dạng và trên mọi vùng miền của

cả nước, góp phần thúc đẩy sản xuất và lưu thông hàng hóa phát triển Đặc biệt, cơ

sở bán lẻ quy mô lớn hoặc các cơ sở bán lẻ được hình thành dưới dạng chuỗi có thể quyết định đến sự sống còn của nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa trong lĩnh vực bán

lẻ, buộc các đối thủ cạnh tranh phải liên kết lại với nhau hoặc chuyển đổi hình thức kinh doanh, thậm chí là phá sản Các quy định pháp luật quản lý các cơ sở bán buôn bán lẻ như mở cửa thị trường cho nhà đầu tư nước ngoài, các quy định về quy hoạch, về kiểm tra nhu cầu kinh tế hay quản lý hoạt động (giờ mở cửa, ngày được phép kinh doanh) vì thế được chính phủ của các nước đặc biệt nghiên cứu, xây dựng Tại nhiều quốc gia, việc quản lý các cơ sở bán buôn chưa được quan tâm đúng mức, thậm chí buông lỏng nhưng trong lĩnh vực bán lẻ thì các cơ sở bán lẻ luôn được điều chỉnh và quản lý một cách chặt chẽ Điều này cho thấy vai trò quan trong không thể thay thế của các cơ sở bán lẻ trong việc phát triển kinh tế, xã hội của một quốc gia nói riêng và trên bình diện toàn cầu nói chung

1.1.4 Quá trình và xu hướng phát triển các cơ sở bán buôn, bán lẻ

Trải qua từng thời kỳ, ở từng quốc gia cụ thể, quá trình vận động, phát triển của các cơ sở bán buôn, bán lẻ có những biến đổi khác nhau Hoa Kỳ, quốc gia đặt nền móng cho sự ra đời và phát triển của đại bộ phận các loại hình phân phối hiện đại, là một điển hình tiêu biểu cho quá trình và xu hướng phát triển của nhiều loại hình cơ sở bán lẻ ngày nay Ngay từ những năm 1860 - 1870, do nhu cầu mở rộng đối tượng phục vụ tại các thành phố, các cửa hàng bách hóa bán hàng giá rẻ với phương pháp kinh doanh hiện đại ra đời đã tác động mạnh đến những người bán hàng rong và cửa hàng tạp hóa truyền thống tại Hoa Kỳ Bước sang thập niên 1870

- 1880, trên cơ sở phát triển của mạng lưới đường sắt và chế độ bưu điện, hình thức đặt hàng qua đường bưu điện xuất hiện, đặc biệt đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của khu vực nông thôn Tiếp đó, hàng loạt các loại hình cơ sở bán lẻ mới ra đời xuất phát từ nhu cầu thực tế và xu hướng phát triển của các loại hình này, cụ thể: cửa hàng

Trang 23

chuỗi (chain store) 1910 – 1920; siêu thị (supermarket) 1930; cửa hàng giảm giá (discount store), trung tâm mua sắm (shopping center), cửa hàng tiện lợi (convenience store), chuỗi cửa hàng nhượng quyền (franchise chain) 1940 – 1950; cửa hàng bán sản phẩm của nhà sản xuất/phân phối (outlet store), cửa hàng hội viên dạng nhà kho (warehouse club) 1990-1999… Từ giữa thập niên 1990 trở lại đây, nhờ sự phát triển của Internet và các hình thức thanh toán hiện đại, việc mua hàng hoặc sử dụng dịch vụ không qua các cơ sở bản lẻ (như mua hàng qua mạng, qua tivi…) được thực hiện dễ dàng nên số lượng, danh mục hàng hóa, dịch vụ cung ứng

và doanh số bán lẻ đạt được không ngừng tăng lên

Quá trình phát triển các cơ sở bán buôn cũng đi từ các hình thức cơ sở bán buôn truyền thống đến hiện đại Hình thức sơ khai ban đầu là các chợ bán buôn được hình thành ở các khu vực đông dân cư, các vùng sản xuất, chế biến, đánh bắt, nuôi trồng tập trung Đánh giá được tầm quan trọng của chợ bán buôn, nhiều quốc gia trong đó có Nhật Bản và Trung Quốc đã ban hành các Luật quy định về bán buôn từ rất sớm và đến nay đã có một số lần sửa đổi Theo xu hướng truyền thống, các nhà bán buôn thiết lập hệ thống phân phối gồm các nhà buôn nhỏ, các nhà bán

lẻ và cung cung cấp hàng cho họ thông qua đơn đặt hàng với các hình thức thanh toán khác nhau như trả ngay, trả trước một phần tiền hàng, tín dụng ưu đãi… Xu hướng bán buôn hiện đại linh hoạt hơn nhờ bố trí mạng lưới các kho hàng theo khu vực, mở cửa liên tục, tập hợp nhiều chủng loại hàng hóa, các nhà buôn nhỏ không phải dự trữ hàng mà tùy huộc vào khả năng bán hàng của mình để đến kho hàng mua một số lượng hàng hóa thích hợp và trả tiền ngay như hình thức tổng kho phân phối theo mô hình cash & carry

Theo một số chuyên gia trong lĩnh vực phân phối, xu hướng phát triển của các cơ sở bán buôn, bán lẻ trong thời gian gần đây là:

- Có sự nuốt thị phần của các nhà bán lẻ, các nhà sản xuất vào hệ thống bán buôn truyền thống làm cho vai trò của hệ thống này bị suy giảm, đặc biệt là ở các mặt hàng tiêu dùng hàng ngày Hệ thống bán buôn truyền thống vẫn mạnh ở các lĩnh vực cung cấp hàng theo những đối tượng sử dụng đặc thù (bệnh viện, trường học…), những mặt hàng vật liệu truyền thống, mặt hàng có số lượng lớn

- Các cơ sở bán buôn truyền thống có xu hướng giảm về số lượng, tiếp tục xây dựng mới hoặc cải tạo mở rộng quy mô, cải tiến hoạt động theo hướng chuyên biệt và hiện đại hơn trước Các cơ sở bán buôn hiện đại ngày càng tăng về số lượng

và khối lượng hàng hóa giao dịch

- Do tập trung hóa hệ thống phân phối ngày càng cao đã và đang hình thành các doanh nghiệp lớn trong lĩnh vực bán buôn, bán lẻ; quan hệ giữa nhà sản xuất,

Trang 24

bán buôn và bán lẻ ngày càng mật thiết; mạng lưới các cơ sở bán buôn, bán lẻ ngày càng hiệu quả và rộng khắp; các loại hình cơ sở bán buôn, bán lẻ hiện đại phát triển dần bão hòa ở khu vực thành thị, thành phố lớn và đang chuyển dần hướng đến các khu vực nông thôn

- Trong bán lẻ, có sự thay thế các cửa hàng bán lẻ qui mô nhỏ, độc lập bằng

hệ thống siêu thị, cửa hàng bách hóa, trung tâm thương mại qui mô lớn hoặc hình thức chuỗi cửa hàng tiện lợi, chuỗi cửa hàng nhượng quyền Qui mô trung bình của các cơ sở bán lẻ như diện tích, doanh số, lao động tăng lên Phương thức kinh doanh nhượng quyền của các công ty lớn đã liên kết các cửa hàng có qui mô nhỏ trong cùng một hệ thống, tạo ra sức cạnh tranh cao hơn

- Bên cạnh sự cạnh tranh gay gắt từ các cơ sở bán buôn, bán lẻ hiện đại, sự xuất hiện và phát triển với tốc độ cao của phương thức bán hàng không qua cơ sở bán buôn, bán lẻ như bán hàng qua mạng, qua truyền hình… đã tác động không nhỏ đến các cơ sở bán buôn, bán lẻ truyền thống Cạnh tranh có hiệu quả hoặc phá sản hay chuyển đổi mô hình kinh doanh là một xu thế tất yếu mà các cơ sở bán buôn, bán lẻ truyền thống đang phải đối mặt

1.1.5 Một số nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động và phát triển của các cơ

sở bán buôn, bán lẻ

1.1.5.1 Điều kiện tự nhiên - xã hội và cơ sở hạ tầng, công nghệ

Các điều kiện tự nhiên - xã hội có tác động trực tiếp đến việc lựa chọn khu vực, xác định không gian và địa điểm cụ thể để thiết lập cơ sở của doanh nghiệp bán buôn bán lẻ, bao gồm điều kiện về địa hình, vị trí địa lý, điều kiện giao thông, nguồn cung cấp và thị trường tiêu thụ Khi điều kiện tự nhiên - xã hội của khu vực được lựa chọn để xây dựng cơ sở phân phối thuận lợi sẽ góp phần làm giảm chi phí đầu tư xây dựng (xây dựng đường giao thông, thiết lập hệ thống điện nước…) và chi phí hoạt động thường xuyên (vận chuyển hàng hóa, thuê nhân công…) Điều kiện tự nhiên - xã hội cũng tác động trực tiếp đến việc thu hút khách hàng Cơ sở bán lẻ càng gần khu dân cư đông đúc và ở đó tồn tại càng ít các đối thủ cạnh tranh thì cơ hội tăng doanh số bán và lợi nhuận cho chủ đầu tư xây dựng và vận doanh càng cao Ngoài ra, hiện trạng cơ sở hạ tầng phân phối và công nghệ, trong đó có công nghệ thông tin và khả năng áp dụng công nghệ trong bán buôn, bán lẻ cũng tác động một cách đáng kể tới sự phát triển, vận doanh và khả năng cạnh tranh của các cơ sở bán buôn, bán lẻ

1.1.5.2 Trình độ phát triển của tiêu dùng và sản xuất

Trình độ phát triển của tiêu dùng tác động đến sự phát triển của các cơ sở bán buôn, bán lẻ ở một số khía cạnh như ảnh hưởng đến: số lượng khách hàng,

Trang 25

doanh số bán, thời gian hoạt động của các cơ sở bán buôn, bán lẻ; quyết định cơ cấu, chất lượng và có trường hợp cả mức giá hàng hóa bán ra ở các cơ sở bán buôn, bán lẻ; việc tổ chức và thực hiện các hoạt động dịch vụ mang lại giá trị gia tăng cho khách hàng cũng như lợi ích của hệ thống phân phối; quy mô về diện tích kinh doanh và phạm vi thị trường của các cơ sở bán buôn, bán lẻ; việc bảo đảm nguồn hàng phù hợp với yêu cầu của từng loại hình phân phối này để có thể đáp ứng đủ về

số lượng với chất lượng cao, bảo đảm độ đồng đều và giá cả hợp lý…

1.1.5.3 Cạnh tranh

Cạnh tranh góp phần lựa chọn những cơ sở bán buôn, bán lẻ hiệu quả nhất để tồn tại và loại bỏ các cơ sở kém hiệu quả Ngay trong bản thân các cơ sở bán buôn, bán lẻ đã có sự cạnh tranh giữa các loại hình cơ sở phân phối khác nhau, giữa truyền thống và hiện đại, giữa hiện đại và hiện đại, giữa trong nước và nước ngoài

Cạnh tranh là động lực cho sự phát triển của hệ thống phân phối và quá trình

đa dạng hóa các loại hình cơ sở bán buôn, bán lẻ Cạnh tranh thúc đẩy sự tăng trưởng nhanh về số lượng cơ sở phân phối, thúc đẩy việc nâng cao năng lực vận doanh của các cơ sở, trình độ công nghệ, nâng cao năng suất lao động và hiệu quả

sử dụng các nguồn lực Yếu tố cạnh tranh tác động đến sự phát triển của các cơ sở bán buôn, bán lẻ được thể hiện trong việc tìm địa điểm mở cơ sở mới để phát triển chuỗi cửa hàng và tăng thị phần; trong việc tạo nguồn hàng, giảm chí phí vận doanh để có thể bán hàng với giá rẻ hơn nhằm duy trì và nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh; trong việc bảo đảm chất lượng hàng hóa bán ra cũng như trong cung cấp dịch vụ phục vụ khách hàng trước, trong và sau bán hàng nhằm thu hút và giữ chân khách hàng; và trong hoạt động xúc tiến bán hàng…

1.1.5.4 Chính sách, quy định của Nhà nước

Nhà nước tác động đến hiệu quả đầu tư xây dựng và vận doanh các loại hình

cơ sở bán buôn, bán lẻ thông qua việc ban hành và thực thi các chính sách phát triển và quy định pháp luật về quản lý các loại hình cơ sở này Các chính sách của Nhà nước và quy định của pháp luật có thể làm thay đổi cơ sở ra quyết định, điều kiện thực hiện đầu tư xây dựng và hiệu quả kinh doanh của các cơ sở bán buôn, bán

lẻ

1.1.5.5 Hội nhập kinh tế quốc tế

Hội nhập kinh tế quốc tế thông qua việc thực hiện các cam kết đa phương và song phương vừa có những tác động gián tiếp, vừa có những tác động trực tiếp đến

sự phát triển của hệ thống phân phối nói chung và các cơ sở bán buôn, bán lẻ nói riêng Khi có sự tham gia của các nhà đầu tư nước ngoài, vốn và công nghệ cho

Trang 26

đại hóa, chuyên nghiệp hóa trong lĩnh vực này Các tác động gián tiếp được biểu hiện thông qua ảnh hưởng của hội nhập kinh tế quốc tế đến cơ cấu sản xuất, trình

độ công nghệ, chất lượng sản phẩm cũng như thu nhập, nhu cầu tiêu dùng, cách thức mua sắm, tiêu dùng của dân cư và từ đó những yếu tố này lại tác động trực tiếp hay gián tiếp đến sự phát triển của mạng lưới và quá trình vận doanh của các

học…)

1.2 Quản lý nhà nước đối với các cơ sở bán buôn, bán lẻ

Quản lý nhà nước là một dạng quản lý đặc biệt, trong đó chủ thể quản lý là nhà nước được sử dụng các quyền lực nhà nước như lập pháp, hành pháp và tư pháp để quản lý mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Quản lý nhà nước xuất hiện cùng với sự xuất hiện của nhà nước, gắn với chức năng, vai trò của nhà nước trong xã hội có giai cấp

Quản lý nhà nước ở Việt Nam có các đặc điểm cơ bản như mang tính quyền lực, đặc biệt là tính tổ chức rất cao; có mục tiêu chiến lược, chương trình kế hoạch

để thực hiện mục tiêu; theo nguyên tắc tập trung dân chủ; không có sự tách biệt tuyệt đối giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý; bảo đảm tính liên tục và ổn định trong tổ chức

Quản lý nhà nước về kinh tế là sự tác động có tổ chức và bằng pháp quyền của nhà nước lên nền kinh tế quốc dân nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực kinh tế trong và ngoài nước, các cơ hội có thể có, để đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế đất nước đặt ra trong điều kiện hội nhập và mở rộng giao lưu quốc tế Theo nghĩa rộng, quản lý Nhà nước về kinh tế được thực hiện thông qua cả ba loại

cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp của Nhà nước Theo nghĩa hẹp, quản lý Nhà nước về kinh tế được hiểu như hoạt động quản lý có tính chất Nhà nước nhằm điều hành nền kinh tế, được thực hiện bởi cơ quan hành pháp (Chính phủ)

Trang 27

Phương pháp quản lý của Nhà nước về kinh tế là tổng thể những cách thức tác động có chủ đích và có thể có của Nhà nước lên nền kinh tế quốc dân và các bộ phận hợp thành của nó để thực hiện các mục tiêu quản lý kinh tế quốc dân (tăng trưởng kinh tế, ổn định kinh tế và công bằng kinh tế ) Các phương pháp quản lý kinh tế mang tính chất đa dạng và phong phú, thường xuyên thay đổi trong từng tình huống cụ thể, tuỳ thuộc vào đặc điểm của từng đối tượng cũng như năng lực và kinh nghiệm của Nhà nước và đội ngũ cán bộ, viên chức Nhà nước Các phương pháp quản lý chủ yếu của Nhà nước về kinh tế bao gồm các phương pháp hành chính mang tính bắt buộc và các phương pháp kinh tế mang tính định hướng, tác động lên đối tượng quản lý thông qua các lợi ích kinh tế

1.2.1 Mục đích, yêu cầu quản lý nhà nước đối với các cơ sở bán buôn, bán lẻ

Do mục đích bảo hộ nhóm lợi ích khác nhau (người tiêu dùng, người lao động hay doanh nghiệp) mà mục tiêu của chính sách và quản lý nhà nước đối với các cơ sở bán buôn, bán lẻ cũng có những điểm khác nhau Khi thực hiện các quy định hạn chế, kiểm soát các cơ sở bán buôn, bán lẻ theo mục tiêu bảo hộ nhóm lợi ích có thể dẫn đến tình trạng thị trường bán buôn, bán lẻ vận hành không hiệu quả, phát sinh thêm chi phí hay ảnh hưởng đến hiệu quả tổng thể của xã hội Hiệu quả tổng thể của xã hội phụ thuộc vào việc trong ngắn hạn các chính sách, quy định pháp luật về bán buôn, bán lẻ nhằm tăng lợi ích cho nhóm đối tượng nào, các lợi ích này có xu hướng đối nghịch nhau nhiều hơn là đồng thuận

Biểu đồ 1.1: Hiệu quả tổng thể của quy định quản lý về phân phối (bao gồm

cả bán buôn và bán lẻ)

Nguồn: Planet Retail Ltd 2010

Cạnh tranh là cơ chế tốt để nâng cao phúc lợi kinh tế, thúc đẩy các cơ sở bán buôn, bán lẻ hoàn thiện và đổi mới trong hoạt động sản xuất kinh doanh Khác với

Trang 28

cạnh tranh, quản lý nhà nước làm phát sinh chi phí xã hội, tác động suy giảm hiệu suất kinh tế và việc dỡ bỏ các quy định cũng tốn chi phí, công sức và thời gian đáng kể Tuy nhiên, cạnh tranh và quản lý đều hướng tới các mục tiêu chung là ngăn chặn những hoạt động sử dụng sức mạnh thị trường sai trái, đồng thời tạo thuận lợi cho việc phân bổ nguồn lực hiệu quả Trong trường hợp cạnh tranh không đáp ứng được mục tiêu nói trên, việc quản lý phải được thực hiện dưới hình thức nhất định với ý nghĩa là biện pháp thay thế cho cạnh tranh hay một biện pháp tạm thời áp dụng cho đến khi cạnh tranh lành mạnh được khôi phục Do đó, các chính sách quản lý và cạnh tranh cần được phối hợp để phát huy tính chất củng cố lẫn nhau và tối ưu hóa phúc lợi kinh tế

Như vậy, mục đích của quản lý nhà nước đối với các cơ sở bán buôn, bán lẻ

là tạo lợi ích tối đa cho người tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ tại các cơ sở bán buôn, bán lẻ, hài hòa hóa lợi ích của các đối tượng hữu quan khác, đồng thời tối ưu hóa hiệu quả xã hội do việc hạn chế hay quy định về phân phối (bán buôn, bán lẻ) đem lại Tương ứng với mục đích này, yêu cầu của quản lý nhà nước là duy trì một môi trường cạnh tranh công bằng, bảo đảm thị trường ổn định và phát triển bền vững, giảm thiểu các tác động tiêu cực tới không gian xung quanh và đời sống kinh tế xã hội của người dân

1.2.2 Nội dung, phương thức quản lý nhà nước đối với các cơ sở bán buôn, bán lẻ

Dịch vụ phân phối nói chung và dịch vụ bán buôn, bán lẻ nói riêng là ngành đem lại nhiều lợi nhuận, có tính cạnh tranh với nhiều rào cản thương mại, tỉ lệ gia nhập và thoái lui cao, nhiều đối thủ cạnh tranh cỡ vừa và nhỏ Các quy định ảnh hưởng đến hoạt động của các cơ sở bán buôn, bán lẻ chủ yếu bắt nguồn từ các tập quán mua bán truyền thống, các yếu tố văn hoá, thói quen và thị hiếu của người tiêu dùng Bên cạnh đó, các cơ sở bán buôn, bán lẻ còn là đối tượng của nhiều quy định có tác động hạn chế kinh doanh và hạn chế thương mại ở các cấp độ khác nhau, áp dụng cho cả cơ sở trong nước và nước ngoài hoặc chỉ áp dụng cho các cơ

sở của doanh nghiệp nước ngoài

Ngành bán buôn ở các nước phần nhiều bị quản lý bằng các biện pháp hạn chế thương mại Các nước thành viên WTO thường áp dụng biện pháp hạn chế việc cung cấp dịch vụ của chi nhánh hoặc doanh nghiệp nước ngoài, có quy định hạn chế tiếp cận thị trường dịch vụ bán buôn trong cơ chế đầu tư Bao gồm cả việc cấm doanh nghiệp bán buôn nước ngoài thiết lập hiện diện thương mại, các biện pháp này có phạm vi cụ thể và chỉ áp dụng đối với một số sản phẩm, lĩnh vực nhất định Bên cạnh đó, đầu tư trực tiếp của nước ngoài vào dịch vụ bán buôn thường bị hạn chế bởi yêu cầu phải có phê duyệt của cơ quan có thẩm quyền đối với việc lập cơ

Trang 29

sở mới hay mua lại doanh nghiệp trong nước đang hoạt động, hay hạn chế cổ phần hoặc vốn góp của nước ngoài Chính phủ cũng có thể áp dụng các biện pháp như hạn chế việc mở rộng hoạt động của doanh nghiệp có vốn nước ngoài sau khi đã thành lập Thông thường, các biện pháp này được thực hiện theo phán xét chủ quan của cơ quan quản lý nhà nước Cơ quan quản lý nhà nước có thể sử dụng các biện pháp như: kiểm tra nhu cầu kinh tế (ENT) hoặc đánh giá “lợi ích quốc gia” để quyết định phê duyệt hay không đối với dự án đầu tư Một số hạn chế khác liên quan đến hiện diện thương mại được nhiều nước áp dụng là yêu cầu hiện diện thương mại đầy đủ, việc doanh nghiệp nước ngoài phải chọn một trong những hình thức pháp lý nhất định hoặc phải liên doanh với nhà cung cấp dịch vụ trong nước… Bên cạnh đó, các hạn chế về yếu tố đầu vào như đất đai hoặc lao động… có ảnh hưởng đến việc thành lập hoặc hoạt động của một cơ sở bán buôn nước ngoài đã có hiện diện thương mại

Ngành bán lẻ có xu hướng chịu ảnh hưởng của các quy định hạn chế gia nhập và hạn chế thương mại nhiều hơn so với ngành bán buôn Tuy nhiên, do sự khác biệt giữa bán buôn với bán lẻ ngày càng mờ nhạt, các quy định tác động đến bán lẻ cũng ảnh hưởng đến bán buôn Trong lĩnh vực bán lẻ, các quy định có thể phân thành 6 nhóm lớn theo mục đích chính sách: (1) hạn chế về địa điểm (quy định về quy hoạch phân vùng và sử dụng đất để giảm thiểu các ảnh hưởng về không gian); (2) kiểm soát giá cả (để bảo vệ người tiêu dùng); (3) cơ cấu doanh nghiệp (bằng luật cạnh tranh để ngăn chặn độc quyền); (4) bảo đảm sự ổn định của thị trường (kiểm soát sự gia nhập của các công ty mới để tránh dư thừa công suất); (5) bảo vệ người tiêu dùng (quy định cấp phép / kiểm tra để đảm bảo an toàn cho người tiêu dùng) và (6) tiêu chuẩn của bản thân nhà phân phối (đặc biệt là tiêu chuẩn của các nhà bán lẻ thực phẩm) hiện đang được sử dụng phổ biến ở các nước phát triển Nhiều quy định về bán lẻ của các nước phát triển và đang phát triển ngày nay hình thành từ những quan ngại của công chúng về sự cạnh tranh giữa các cơ sở bán lẻ hiện đại và truyền thống hay mâu thuẫn giữa các cơ sở bán lẻ và các nhà cung cấp khi mô hình bán lẻ hiện đại ngày càng phổ biến và có thể gây tổn thất cho các nhà bán lẻ truyền thống

Cũng trong lĩnh vực bán lẻ, các cơ sở bán lẻ quy mô lớn là đối tượng chính của các quy định khắt khe do có khả năng tác động lớn đến cộng đồng và các cơ sở bán lẻ trung bình và nhỏ Đồng thời, cơ sở bán lẻ quy mô lớn thường cần đến diện tích mặt bằng sàn cho xây dựng khu bán hàng và khu để xe lớn, có thể gây lãng phí diện tích đất và không tạo ra nhiều việc làm cho cộng đồng Một số biện pháp quản

lý đối với các cơ sở bán lẻ xuyên quốc gia quy mô lớn tại các thành phố Đông Nam Á (Phụ lục )

Trang 30

Bảng 1.1: Phân loại các cơ chế quản lý áp dụng đối với các nhà bán lẻ xuyên

quốc gia quy mô lớn (Transitional Companies – TNCs)

Loại quy định

Giải thích

Chính sách đối với nhà

đầu tư nước ngoài

Luật đất đai và tài sản Luật Các luật chuyên ngành điều chỉnh các loại

hình sở hữu bất động sản Luật cạnh tranh Luật Các luật chuyên ngành nhằm thúc đẩy cạnh

tranh và ngăn chặn hành vi thương mại không lành mạnh trên thị trường, thường bao gồm luật chống độc quyền và luật bảo

vệ người tiêu dùng Luật và chính sách về

FDI

Quy định dưới luật

Các luật chuyên ngành và/hoặc các quy định điều chỉnh sự di chuyển vốn (khác với đầu tư gián tiếp) qua biên giới theo hướng cho phép các nhà đầu tư có quyền kiểm soát đối với các tài sản có được, do đó điều chỉnh cả hoạt động đầu tư mới, sáp nhập và mua lại

Yêu cầu mức vốn tối

thiểu

Quy định dưới luật

Yêu cầu về vốn tối thiểu đối với doanh nghiệp muốn tham gia thị trường bán lẻ

Trang 31

Thủ tục lập cơ sở mới Quy định

dưới luật

Yêu cầu vốn góp và các yêu cầu khác đối với doanh nghiệp muốn tham gia thị trường bán lẻ

Nghiên cứu tác động

kinh tế xã hội

Quy định dưới luật

Yêu cầu đánh giá trước rủi ro/tác động kinh

tế xã hội của dự án bán lẻ đối với các doanh nghiệp đang hoạt động và cộng đồng địa phương

Yêu cầu đánh giá tác động của dự án đối với sức khỏe và môi trường con người, rủi

ro về mặt sinh thái đối với những thay đổi

về môi trường và sức khỏe trong khu vực hoặc cộng đồng cụ thể

Quy hoạch phân vùng Quy định

dưới luật

Quy định về mục đích sử dụng đất ở các vùng đã được quy hoạch, phân tách cộng đồng này với cộng đồng khác

Yêu cầu về số dân

phục vụ

Quy định dưới luật

Yêu cầu ngưỡng quy mô dân số tối thiểu để cho phép lập cơ sở bán lẻ trong một cộng đồng nhất định

Tiêu chuẩn xây dựng

và tiêu chuẩn diện tích

cơ sở

Quy định dưới luật

Tiêu chuẩn về hình thức và diện tích xây dựng đối với cơ sở bán lẻ quy mô lớn và các trung tâm mua sắm, cấm một số hình thức và/hoặc giới hạn diện tích cụ thể ở một

số khu vực nhất định Thời gian mở cửa Quy định

dưới luật

Hạn chế thời gian hoạt động của các cơ sở bán lẻ quy mô lớn, cụ thể là thời gian mở cửa và/hoặc đóng cửa

dưới luật

Các quy định khác về lưu kho, quản lý và marketing, cung cấp dịch vụ bổ trợ

Nguồn: Mutebi, Alex M (2007): “Các biện pháp quản lý đối với các cơ sở bán lẻ

xuyên quốc gia quy mô lớn tại các thành phố Đông Nam Á”

Trang 32

Các nước thường áp dụng hai loại quy định sau đây trong lĩnh vực bán buôn, bán lẻ1: (1) Các quy định về điều kiện của nhà bán buôn/bán lẻ và số lượng nhà bán buôn/bán lẻ có thể gia nhập thị trường và (2) Các quy định về điều kiện hoạt động khi nhà bán buôn/bán lẻ đã hiện diện trên thị trường (các quy định về hoạt động) Bảng 2 dưới đây tóm tắt một số quy định chính được áp dụng trên thế giới

Bảng 1.2: Mục tiêu và một số loại quy định chính đối với các doanh nghiệp bán buôn, bán lẻ Các quy định hạn chế gia nhập thị

trường và lập cơ sở

Các quy định hạn chế hoạt động

Quy định hạn chế quyền sử dụng đất:

- Không cho phép mua/thuê đất

- Cho phép mua/thuê đất nhưng chỉ

trong diện tích nhất định

Quy định nhà bán buôn phải có giấy phép nhập khẩu và hạn chế số lượng giấy phép nhập khẩu cấp cho nhà bán buôn…

Quy định về đầu tư trực tiếp nước ngoài:

Hạn chế đầu tư trực tiếp nước ngoài

Yêu cầu nhà phân phối nước ngoài phải

có giấy phép đặc biệt

Quy định hạn chế xúc tiến hàng hóa (các doanh nghiệp không được phép/bị hạn chế quảng cáo hoặc xúc tiến các dịch vụ bán lẻ của mình

Quy định ảnh hưởng đến đầu tư: Các yêu

cầu phải thực hiện; Thẩm định của chính

phủ đối với đầu tư; Kiểm tra nhu cầu

kinh tế

Yêu cầu giấy phép đối với ban lãnh đạo, các cán bộ chủ chốt và/hoặc các giám đốc hoặc nhà quản lý

Quy định ảnh hưởng đến di chuyển của

thể nhân: việc nhập cảnh của các giám

đốc điều hành, quản lý cấp cao hoặc

nhân viên nước ngoài

Quy định về: Quy hoạch phân khu; Bảo

vệ môi trường; Hạn chế giờ mở cửa

Quy định buộc cơ sở phải đáp ứng yêu

cầu trong nước như: Sử dụng lao động

địa phương với tỷ lệ phần trăm nhất định

Hiện diện của doanh nghiệp độc quyền nhà nước (không cho phép các nhà phân phối trong nước hay nước ngoài được phân phối một số loại hàng hóa, dịch vụ nhất định)

1 Báo cáo của Boylaud và Nicoletti (2001)

Trang 33

Các quy định về ngày hoạt động, giờ

mở cửa…

Luật và chính sách cạnh tranh

Bảo vệ người tiêu dùng

Các quy định khác

Nguồn: Báo cáo về dịch vụ phân phối của Andras Lakatos, 2009 và tổng hợp nội

dung tại các biểu cam về trong bán buôn, bán lẻ của một số nước khi gia nhập

WTO

Nhìn chung, đặc điểm, phương thức quản lý vĩ mô của nhà nước đối với các

cơ sở bán buôn, bán lẻ là không phải bằng sự can thiệp trực tiếp vào hoạt động

phân phối của các cơ sở bán buôn, bán lẻ mà bằng các công cụ gián tiếp tác động

đến sự hình thành, phát triển và hoạt động của các cơ sở này Chỉ có trường hợp

ngoại lệ ở một vài quốc gia, chính phủ quản lý trực tiếp vì các lý do liên quan đến

chính sách y tế, sức khỏe, môi trường và các giá trị cộng đồng hoặc đối với một số

mặt hàng tiêu dùng nhất định như thuốc lá, đồ uống có cồn… Trên thực tế, các nhà

hoạch định chính sách phải vận dụng nhiều công cụ quản lý khác nhau nhằm cân

bằng được các mục tiêu mâu thuẫn nhau: đó là một mặt thúc đẩy cạnh tranh thương

mại; mặt khác là bảo vệ quyền lợi của các doanh nghiệp địa phương, các nhóm lợi

ích và người tiêu dùng Do đó, nội dung của quản lý nhà nước được thể hiện ở một

số khía cạnh chính sau đây:

- Xây dựng và thực thi hệ thống pháp luật hoàn chỉnh chi phối hoạt động của

các cơ sở bán buôn, bán lẻ nhằm đảm bảo môi trường pháp lý thuận lợi cho các cơ

sở này phát triển các hệ thống phân phối hàng hóa hiệu quả Hệ thống pháp luật

phải đảm bảo hàng hóa lưu thông thông suốt, chống các hành vi độc quyền, phản

cạnh tranh hay các hình thức phân phối bất hợp pháp khác

- Tác động đến sự hình thành, phát triển và hoạt động của các cơ sở bán

buôn, bán lẻ bằng các chiến lược, quy hoạch, chính sách để định hướng các dòng

chảy của hàng hóa và dịch vụ trên thị trường

- Tạo điều kiện cho sự hình thành và phát triển của các cơ sở bán buôn, bán

lẻ thông qua xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ cho hoạt động phân phối

lưu thông của toàn nền kinh tế (Đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông, đường xá, bến

cảng, kho bãi, xây dựng các kết cấu hạ tầng thương mại như chợ, trung tâm thương

mại và dịch vụ, trung tâm hội chợ triển lãm, trung tâm logistics…)

Trang 34

- Quản lý các cơ sở bán buôn, bán lẻ thông qua xây dựng bộ máy quản lý hành chính vĩ mô các hoạt động kinh doanh trên thị trường, đặc biệt là đối với hoạt động bán buôn, bán lẻ

- Chính phủ có chính sách và biện pháp chi phối trực tiếp đến sự hoạt động của các cơ sở bán buôn, bán lẻ như thúc đẩy thực hiện các qua hệ hợp đồng, quan

hệ đại lý, tạo cơ chế liên kết trong các hệ thống phân phối hàng hóa, xây dựng các

mô hình liên kết mới trong phân phối…

1.3 Kinh nghiệm của một số nước về quản lý nhà nước đối với các cơ sở bán buôn, bán lẻ chủ yếu và bài học cho Việt Nam

Trên thế giới, mỗi quốc gia đều có hệ thống phân phối mang đặc điểm riêng,

do đó con đường và cách thức quản lý nhà nước đối với các cơ sở phân phối nói chung và cơ sở bán buôn, bán lẻ nói riêng cũng khác nhau tùy thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội, chính trị riêng của từng nước Do đó, chúng ta không thể áp dụng máy móc các cách quản lý của nước này cho một nước khác, nhất là không có cùng trình độ phát triển về mặt kinh tế Tuy nhiên, trong bối cảnh toàn cầu hóa và để chủ động hội nhập kinh tế vào thị trường khu vực và toàn cầu, chúng ta cần nghiên cứu những kinh nghiệm của thế giới, đặc biệt là một vài nước có điều kiện tương đồng với Việt Nam để có thể rút ra những bài học kinh nghiệm phù hợp áp dụng cho

nước nhà

1.3.1 Kinh nghiệm của Hàn Quốc

Hàn Quốc đã đầu tư mạnh để phát triển thị trường bán buôn nội địa từ rất sớm Bên cạnh việc phát triển thị trường bán buôn tư nhân trong nước, Chính phủ xây dựng chương trình Phát triển Thị trường Bán buôn Nhà nước vào năm 1985 Chương trình hỗ trợ xây dựng 34 chợ bán buôn lớn tại các thành phố lớn với 70% chi phí tài chính từ Ngân sách Trung ương, 30% còn lại từ chính quyền địa phương Nhờ đó, chợ bán buôn Seoul bắt đầu hoạt động ngay năm 1985, tính đến năm 1999

đã có 21 chợ bán buôn được xây dựng và đến nay 11 chợ khác đang trong quá trình xây dựng Chính phủ cũng nới lỏng các quy định về đầu tư trong lĩnh vực bán buôn của các công ty có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (được phép bán buôn dược phẩm từ năm 1989, bán buôn thịt từ năm 2000) Đặc biệt, theo Kế hoạch Phát triển Giao thông vận tải 10 năm của Hàn Quốc, Chính phủ đang hướng tới xây dựng một mạng lưới phân phối lớn với thời gian chuyên chở nhanh giúp liên kết tất cả các trung tâm vận chuyển hàng hóa chủ chốt trên cả nước; đến hết năm 2011 dự kiến hình thành tổng cộng 39 trung tâm phân phối hàng hóa với các khu trung chuyển hàng hóa dành cho xe tải, kho chứa hàng, chợ bán buôn Các trung tâm này sẽ giúp quá trình vận chuyển hàng hóa một cách hệ thống với mức phí logistics thấp hơn

Trang 35

Theo các cam kết của Hàn Quốc trong WTO, Hàn Quốc không cam kết mở cửa dịch vụ bán buôn cho các mặt hàng gồm ngũ cốc, sữa nguyên liệu, nhân sâm đỏ, sản phẩm tinh bột và phân bón Ngoài ra, chính phủ cũng có quy định chặt chẽ về kiểm tra nhu cầu kinh tế trong lĩnh vực bán buôn với các doanh nghiệp FDI trong việc xây dựng chợ bán buôn có diện tích sàn từ 3.000 m2 trở lên, các trung tâm bán buôn, hoạt động bán buôn ô tô đã qua sử dụng, các sản phẩm nhiên liệu dạng khí hóa lỏng và các sản phẩm và dịch vụ thương mại nước ngoài có liên quan Hiện tại, tập đoàn bán buôn xuyên quốc gia Metro Cash & Carry cũng chưa mở cơ sở bán buôn tại thị trường Hàn Quốc mặc dù thị trường bán buôn ở đây nhiều tiềm năng với kết cấu hạ tầng thương mại cho bán buôn và bán lẻ khá phát triển

Trong lĩnh vực bán lẻ, hàng loạt các kế hoạch mở cửa thị trường cho doanh nghiệp nước ngoài đã được chính phủ Hàn Quốc đẩy mạnh thực hiện Năm 1981, nhà cung ứng nước ngoài được phép thành lập các cửa hàng bán một loại sản phẩm với diện tích sàn không quá 330 m2 Năm 1984, chính phủ bãi bỏ quy định này và

đề ra hạn chế về số lượng cửa hàng Bắt đầu từ năm 1988, chính phủ Hàn Quốc quyết định tự do hóa hơn nữa thị trường bán lẻ theo 3 giai đoạn:

Giai đoạn 1 (từ năm 1989) nới lỏng các quy định thành lập chi nhánh của các công ty nước ngoài và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; mở rộng diện cho phép nhập khẩu của chi nhánh công ty nước ngoài

Giai đoạn thứ hai (1991-1992) cho phép mỗi công ty có vốn đầu tư nước ngoài được mở tối đa 10 cửa hàng với diện tích sàn không quá 1.000 m2

Giai đoạn ba (từ năm 1993) nới lỏng hơn, cho phép mở tối đa 20 cửa hàng và không quá 3.000 m2 diện tích sàn Từ ngày 1 tháng 1 năm 1996, các nhà bán lẻ nước ngoài được gia nhập thị trường Hàn Quốc với tư cách độc lập hoặc liên doanh với đối tác Hàn Quốc Đồng thời, hạn chế về số lượng và quy mô của các công ty trong nước và nước ngoài được xóa bỏ, được phép thành lập các đại siêu thị, tự do hóa 5 lĩnh vực kinh doanh trong đó có bán lẻ thịt Năm 1997, Hàn Quốc tự do hóa

10 lĩnh vực kinh doanh gồm thương mại nói chung và bán lẻ ngũ cốc Năm 1998, xóa bỏ việc kiểm tra nhu cầu kinh tế đối với cửa hàng bách hóa (department stores)

và các trung tâm mua sắm (shopping centres)

Trong việc quản lý và phát triển các loại hình bán lẻ truyền thống như chợ bán lẻ, Hàn Quốc ban hành Luật về lưu thông các mặt hàng nông, thuỷ sản và bình

ổn giá các mặt hàng này, đồng thời vào năm 2005 thông qua một đạo luật đặc biệt

hỗ trợ việc hiện đại hóa các chợ truyền thống Tuy nhiên, thị trường bán lẻ truyền thống của Hàn Quốc đang mất dần đi ưu thế so với thị trường bán lẻ hiện đại, trong

Trang 36

7 năm từ 2003 đến 2010, số lượng chợ truyền thống phải đóng cửa là trên 180 chợ, tổng số chợ còn hoạt động năm 2010 chỉ còn khoảng 1500 chợ

Việc mở cửa ngành bán buôn, bán lẻ Hàn Quốc trong hai thập kỷ qua đã giúp các nhà bán buôn, bán lẻ của Hàn Quốc tiếp cận với các phương thức kinh doanh mới, biện pháp kết nối mới và các hoạt động có quy mô lớn hơn trên thị trường nội địa Chỉ xét riêng trong lĩnh vực bán lẻ, các thay đổi này đã tạo ra sự cạnh tranh ngày càng tăng, giúp các doanh nghiệp bán lẻ hiệu quả hơn, xây dựng cấu trúc liên kết theo tập đoàn hoặc phá sản, xóa bỏ các nhà bán lẻ độc lập, đồng thời giúp hình thành mới các hình thức phân phối hỗn hợp hoặc theo chuỗi bán lẻ hiện đại Đặc biệt, một loạt các công ty trong nước như Shinsegae, Lotte và GS Mart đã vươn lên, cạnh tranh thành công và đánh bật các tên tuổi lớn của thế giới khỏi thị trường Hàn Quốc (Carrefour và Wal-Mart rút khỏi thị trường năm 2006) Bốn tập đoàn lớn của Hàn Quốc trong năm 2000 chỉ chiếm 3% lực lượng lao động nhưng đóng góp đến 50% GDP của cả nước Đồng thời, các đại siêu thị phát triển mạnh mẽ ở Hàn Quốc, đã có tới 164 đại siêu thị năm 2000, trong đó 71% là của các công ty trong nước, 29% là của công ty nước ngoài Đặc biệt, xu hướng nổi bật trong thị trường phân phối của Hàn Quốc là sự phát triển nhanh chóng của các cửa hàng hạ giá, cửa hàng chiết khấu với tổng doanh thu của khu vực này năm 2007 đạt trên 30 tỷ USD, tăng khoảng 1,5 tỷ so với năm 2006

Mặc dù Hàn Quốc không có quy định về kiểm soát giờ mở cửa hay giá cả nhưng các cửa hàng quy mô lớn lại bị hạn chế bởi các quy định khác như giới hạn về xây dựng và tỷ lệ số lượng trên diện tích đất tại Luật quy hoạch đô thị và các sắc lệnh đi kèm Mức tối đa cho phép xây dựng các cửa hàng chiết khấu (discount store) có diện tích đến 10.000 m2 ở “các khu vực xanh tự nhiên” thuộc các quận đô thị tương ứng là 20% và 100% ở các khu vực này Ngoài ra, việc gia nhập thị trường còn phải đáp ứng các yêu cầu về quy hoạch và được kiểm soát thông qua áp dụng pháp luật cạnh tranh, bảo vệ người tiêu dùng và các tập quán thương mại, yêu cầu đánh giá tác động đối với giao thông, môi trường, phê duyệt về xây dựng…

1.3.2 Kinh nghiệm của Thái Lan

Theo công bố của Ủy ban Phát triển kinh tế và xã hội quốc gia Thái Lan (NESDB), với doanh số ước tính là 535.550 triệu Baht Cũng như nhiều nước đang phát triển, Thái đóng góp của ngành dịch vụ bán buôn, bán lẻ vào GDP của cả nước năm 2010 chiếm 13,3%, cung cấp việc làm cho 15,1% lực lượng lao động; chỉ xếp sau ngành sản xuất chế tạo và ngành dịch vụ gồm tài chính, du lịch, ăn uống Năm

2002, số cơ sở bán buôn, bán lẻ tại Thái Lan đã có trên 300.000 Lan đã thực hiện chính sách hiện đại hóa ngành phân phối thông qua thu hút đầu tư nước ngoài và

Trang 37

ban hành nhiều chính sách hỗ trợ thiết thực đối với các cơ sở bán buôn, bán lẻ trong nước Các chính sách của Thái Lan cũng có những ưu, nhược điểm nhất định, tạo nên những hiệu ứng tốt và xấu đan xen trong quá trình hình thành và phát triển của các cơ sở bán buôn, bán lẻ của các doanh nghiệp trong và ngoài nước Tuy nhiên, theo nhận định của nhiều chuyên gia trong lĩnh vực phân phối, Thái Lan là một điển hình của việc tự do và mở cửa quá mức trong lĩnh vực bán buôn, bán lẻ với 80% doanh số bán hàng qua loại hình phân phối hiện đại do các tập đoàn nước ngoài nắm giữ Mặc khác, việc chính phủ xây dựng cơ chế chính sách để hạn chế việc mở rộng thị phần ồ ạt của các công ty có vốn đầu tư nước ngoài, bảo hộ các nhà cơ sở bán buôn, bản lẻ nội địa với nguồn lực hạn chế là quá muộn

Để thúc đẩy phát triển các chợ đầu mối bán buôn hàng nông sản, năm 1991 Cục Nội thương thuộc Bộ Thương mại Thái lan đã ban hành “Qui định về việc thúc đẩy tổ chức chợ trung tâm hàng nông sản”, sau đó được sửa đổi vào các năm 1993,

1995, 1998 Chính phủ Thái Lan rất chú trọng khuyến khích, hỗ trợ phát triển các chợ bán buôn hàng nông sản tư nhân Để hỗ trợ tư nhân xây dựng chợ bán buôn hàng nông sản, Chính phủ Thái Lan cho tư nhân vay với mức lãi xuất ưu đãi (3,5%/năm) với một lượng vốn nhất định không quá 20 triệu Baht/chợ, chỉ bằng 1/5 kinh phí xây 1 chợ hoàn chỉnh Nhà nước chỉ thu thuế thu nhập của chợ nếu chợ kinh doanh có lãi và không thu một khoản thuế nào khác Nhà nước cũng xây dựng các chương trình như đào tạo, cung ứng vật tư nông nghiệp, cung cấp thông tin thị trường hỗ trợ cả người mua, người bán và các đơn vị quản lý chợ Nhờ đó, số chợ bán buôn hàng nông sản tư nhân tăng nhanh chóng, cao gấp gần 3 lần chợ bán buôn hàng nông sản công cộng và hoạt động có hiệu quả Cũng trong lĩnh vực này, chính phủ thông qua Luật Doanh nghiệp nước ngoài năm 1999 quy định: một công ty nước ngoài hoặc công ty của Thái Lan với 50% cổ phần trở lên thuộc sở hữu của công dân nước ngoài hoặc công ty nước ngoài bị cấm không được tham gia hoạt động bán buôn trong đó vốn tối thiểu cho mỗi cửa hàng nhỏ hơn 100 triệu Baht trừ khi được cấp một Giấy phép Kinh doanh cho doanh nghiệp nước ngoài của Bộ Thương mại… Bên cạnh loại hình bán buôn truyền thống, các cơ sở bán buôn hiện đại cũng xuất hiện ở Thái Lan như tổng kho cash and carry, sở giao dịch kỳ hạn hàng nông sản

Ở Thái Lan tồn tại khá nhiều loại hình phân phối bán lẻ khác nhau cả truyền thống và hiện đại Các cơ sở bán lẻ hiện đại ở Thái Lan bắt đầu xuất hiện từ cuối thập kỷ 90 ngay sau cuộc khủng hoảng kinh tế châu Á - Thái Bình Dương cùng với

sự tham gia thị trường của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Tại những

vị trí chủ yếu ở Băng Cốc và các trung tâm đô thị lớn khác, các đại siêu thị nước ngoài và chuỗi cửa hàng giảm giá, cửa hàng tiện lợi phát triển nhanh chóng, gây

Trang 38

sức ép lên các siêu thị, các cửa hàng thuộc sở hữu gia đình của địa phương Chỉ trong hơn mười năm, số lượng các đại siêu thị tại Thái Lan đã tăng đáng kể, chỉ từ

5 cửa hàng lên tới 851 Đến đầu tháng 8 năm 2010, Thái Lan có tới 685 cửa hàng Tesco Lotus, 78 cửa hàng Big C, 41 cửa hàng Carrefour và 47 cửa hàng Makro cash & carry2 Trước sự cạnh tranh của các cơ sở bán lẻ hiện đại, để duy trì sự tồn tại của các loại hình chợ bán lẻ truyền thống, Thái Lan đã tiến hành nâng cấp, hiện đại hóa, xây dựng các loại chợ này thành các chợ lành mạnh (healthy market) theo

mô hình mẫu thống nhất và bảo đảm 3 yêu cầu quan trọng về sức khỏe, môi trường; an toàn thực phẩm và bảo vệ người tiêu dùng Hàng tuần, đại diện Bộ Y tế

và Văn phòng quản lý chợ tại địa phương trực tiếp đến chợ bán lẻ công cộng, chợ bán lẻ tư nhân lấy mẫu thực phẩm để kiểm nghiệm phân tích Chính phủ cũng khuyến khích thành lập các loại hình chợ bán lẻ khác như chợ cuối tuần, chợ đêm, chợ công sở…

Từ đầu năm 2003, Chính phủ đã khẩn trương xây dựng một số biện pháp nhằm bảo vệ các nhà bán lẻ địa phương như thành lập Công ty Thương mại liên minh bán lẻ (ART) làm cơ quan đầu mối giúp các nhà bán lẻ quy mô nhỏ trong việc môi giới đặt hàng và phân phối hàng hóa với giá cạnh tranh; thành lập Hiệp hội bán buôn và bán lẻ Thái Lan với các thành viên là những doanh nghiệp quy mô nhỏ nhằm giảm chi phí cho các thành viên thông qua việc đặt những lô hàng lớn;

hỗ trợ các chương trình đào tạo, thông tin thị trường, khuyến khích doanh nghiệp nâng cấp xây dựng thành các cơ sở bán lẻ nhỏ chuyển đổi theo mô hình hiện đại như chuỗi nhượng quyền thương mại và áp dụng hệ thống POS (hệ thống quản lý thông tin về thời điểm bán hàng)

Đặc biệt, Chính phủ thông qua Luật quy hoạch và phân vùng đô thị vào tháng 3 năm 2003 Theo đó, việc mở những cửa hàng mới có diện tích hơn 1.000

m2 phải cách trung tâm thành phố ít nhất 15 km, 30 % diện tích đất để trồng cây xanh và phải được sự đồng ý của Hội đồng gồm đại diện những người kinh doanh

và chính quyền địa phương Các quy định mới được áp dụng đối với 73 trong số

75 tỉnh của nước này và không áp dụng đối với Bangkok

Tuy nhiên, trước đó, để đề phòng với những hạn chế mà Chính phủ Thái Lan sẽ đưa ra như trên, ngay trong năm 2001 - 2002, các tập đoàn bán lẻ nội địa và nước ngoài ở Thái Lan đã tăng tốc độ thực hiện kế hoạch mở rộng phạm vi hoạt động Chuỗi đại siêu thị Tesco Lotus, Big C và Carrefour đều nhanh chóng mở rộng trước khi Chính phủ thực hiện các quy định quy hoạch mới hạn chế địa điểm

họ có thể xây dựng Đồng thời, các chuỗi này cũng xây dựng các hình thức bán lẻ

2  Petchanet Pratruangkrai, Báo The Nation, ngày 9 tháng 8 năm 2010.

Trang 39

mới, quy mô nhỏ hơn trong các khu dân cư địa phương Tesco Lotus giới thiệu hình thức bán lẻ là Cửa hàng Giá trị nhằm phục vụ thị trường trong nước và các siêu thị nhỏ trong các trạm xăng Công ty Big C Supercenter mở các cửa hàng Plc Compact, một phiên bản thu nhỏ của Big C ở các đô thị Kết quả là các siêu thị

và cửa hàng bán lẻ lại chịu ảnh hưởng nhiều hơn do cả việc giảm quy mô và tăng

số lượng cửa hàng của các tập đoàn lớn

Hiện quy định về lĩnh vực bán lẻ tại Thái Lan vẫn còn thiếu Mặc dù có một

số quy định như Luật Kế hoạch Đô thị và Luật Cạnh tranh Thương mại nhưng hầu hết các nhà bán lẻ nước ngoài có thể mở doanh nghiệp mới ở Thái Lan mà không

có trở ngại Trong năm 2005, Chính phủ đã giới thiệu một dự thảo mới "Luật bán

lẻ và bán buôn" để hạn chế việc phát triển của các mô hình bán buôn, bán lẻ lớn Tuy nhiên đến nay sau nhiều lần sửa đổi, dự thảo này vẫn chưa được ban hành Có thể nói, hành động của Chính phủ đã là quá trễ khi khi các cơ sở bán buôn, bán lẻ lớn của nước ngoài đã tràn ngập tại tất cả các thành phố chính của Thái Lan

1.3.3 Kinh nghiệm của Trung Quốc

Trung Quốc bắt đầu mở cửa thị trường bán buôn, bán lẻ một thời gian dài trước khi gia nhập WTO Song hành với quá trình tự do hóa để thu hút đầu tư nước ngoài và thực hiện theo cam kết quốc tế, Chính phủ Trung Quốc cũng xây dựng nhiều biện pháp hạn chế doanh nghiệp nước ngoài với lộ trình hợp lý nhằm bảo vệ các cơ sở bán buôn, bán lẻ trong nước

- Giai đoạn 1 (1992–1995): Các doanh nghiệp FDI bán lẻ được phép hoạt động theo chương trình thí điểm tại 6 thành phố (Bắc Kinh, Thượng Hải, Thiên Tân, Quảng Châu, Đại Liên và Thanh Đảo) và 5 đặc khu kinh tế (Thẩm Quyến, Chu Hải, Sán Đầu, Hạ Môn và Hải Nam) với một số hạn chế về tỷ lệ vốn nắm giữ, việc mở rộng các chuỗi bán lẻ và lượng hàng nhập khẩu từ nước ngoài Bên cạnh việc dành nhiều ưu đãi cho các doanh nghiệp kinh doanh siêu thị, trung tâm thương mại trên thị trường nội địa, Trung Quốc cũng khuyến khích hoạt động mua lại, sáp nhập, các doanh nghiệp nhỏ, các nhà kinh doanh siêu nhỏ, hình thành lên các cơ sở bán buôn, bán lẻ lớn để cạnh tranh trực tiếp với các doanh nghiệp FDI

- Giai đoạn 2 (1995–1999): Các nhà bán lẻ nước ngoài được phép xây dựng chuỗi bán lẻ tại Bắc Kinh dưới hình thức liên doanh với một đối tác Trung Quốc nắm giữ phần vốn chi phối Chính phủ cho phép các tập đoàn lớn của nước ngoài vào xây dựng các trung tâm bán buôn hiện đại theo phương thức cash & carry

- Giai đoạn 3 (1999–2004): Nhiều hạn chế quan trọng được bãi bỏ nhằm xúc tiến việc Trung Quốc gia nhập WTO như các công ty FDI bán lẻ được phép hoạt động ở tất cả các tỉnh lỵ hay được nắm giữ phần vốn chủ đạo trong liên doanh nếu

Trang 40

mua và xuất khẩu khối lượng lớn sản phẩm sản xuất tại Trung Quốc Năm 2001, Trung Quốc đã được chấp nhận là thành viên của WTO Sự kiện này buộc Trung Quốc phải dỡ bỏ toàn bộ các rào cản thương mại và mở cửa thị trường bán lẻ trong vòng 3 năm

- Giai đoạn 4 (2004 trở đi): Tuân thủ nghĩa vụ theo cam kết WTO, tháng 4 năm 2004, Trung Quốc đã dỡ bỏ tất cả các hạn chế còn lại Các nhà bán lẻ nước ngoài được phép (1) lập cơ sở kinh doanh, kể cả bán buôn và bán lẻ, tại bất cứ địa điểm ở Trung Quốc; (2) hoạt động với hình thức doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài hoặc liên doanh; và (3) bán hàng thông qua các kênh, bao gồm truyền hình, điện thoại, thư từ, mạng Internet, và máy bán hàng tự động

Rút kinh nghiệm từ một số nước phát triển đi trước, để làm nòng cốt trong việc tăng cường năng lực cạnh tranh trên thị trường nội địa, Chính phủ Trung Quốc

đã sớm chọn 20 doanh nghiệp thương mại trong nước có quy mô lớn nhận hỗ trợ từ Chính phủ Với sự hiểu biết về người tiêu dùng Trung Quốc, đồng thời có mối quan

hệ mật thiết với chính quyền trung ương và địa phương, các doanh nghiệp nội địa cũng dễ dàng có được những địa điểm thuận lợi, nhận những khoản vay ưu đãi của ngân hàng và đạt được sự hợp tác lâu dài với các nhà cung cấp địa phương Do đó, các nhà bán lẻ trong nước đã kịp phát triển lớn mạnh trước những nguy cơ cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài, duy trì được ưu thế ở thị trường trong nước, đặc biệt trong lĩnh vực bán lẻ thực phẩm

Trong lĩnh vực bán buôn, Quy định về quản lý chợ bán buôn được ban hành

và có hiệu lực từ ngày 15 tháng 12 năm 1994 đã tạo cơ sở cho việc quản lý có hiệu quả của Nhà nước, thúc đẩy hoạt động kinh doanh quy củ và đảm bảo chất lượng hàng hóa bán ra Đồng thời, chính phủ Trung Quốc đã đầu tư xây dựng 20 chợ bán buôn cấp trung ương và khuyến khích thành lập các Sở giao dịch hàng hóa nông sản Chính phủ cũng tiến hành quy hoạch lại mạng lưới chợ bán buôn hàng nông sản theo hướng chuyển ra khu vực ngoại ô các thành phố lớn, xây dựng, cải tạo với quy mô lớn và hiện đại hơn trước; khuyến khích chuyển từ các chợ bán buôn tổng hợp thành chợ bán buôn chuyên doanh và mua bán theo phương thức đấu giá Trong lĩnh vực bán lẻ, chính quyền địa phương đã đóng cửa nhiều chợ truyền thống

để thay thế hoặc chuyển đổi thành loại hình siêu thị hiện đại hoặc cửa hàng tiện lợi Năm 2004, Trung Quốc đã công bố kế hoạch 5 năm để đưa mô hình chuỗi siêu thị

và cửa hàng tiện lợi đến các vùng nông thôn

1.3.4 Kinh nghiệm của Nhật Bản

Ngay từ năm 1923, Chính phủ Nhật Bản đã ban hành Luật về chợ bán buôn trung tâm nhằm mục đích cung cấp ổn định những mặt hàng như rau quả, thủy sản

Ngày đăng: 09/03/2015, 23:21

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình sở hữu bất động sản - Nghiên cứu xây dựng một số giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước đối với các cơ sở bán buôn, bán lẻ chủ yếu ở nước ta
Hình s ở hữu bất động sản (Trang 30)
Bảng 2.3:  Tỷ lệ hàng hóa Việt Nam trong một số siêu thị - Nghiên cứu xây dựng một số giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước đối với các cơ sở bán buôn, bán lẻ chủ yếu ở nước ta
Bảng 2.3 Tỷ lệ hàng hóa Việt Nam trong một số siêu thị (Trang 54)
Bảng 2.4: Tình hình phát triển trung tâm thương mại giai đoạn 2005-2010 - Nghiên cứu xây dựng một số giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước đối với các cơ sở bán buôn, bán lẻ chủ yếu ở nước ta
Bảng 2.4 Tình hình phát triển trung tâm thương mại giai đoạn 2005-2010 (Trang 55)
Bảng 2.5: Quy mô và chủ đầu tư của các trung tâm thương mại - Nghiên cứu xây dựng một số giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước đối với các cơ sở bán buôn, bán lẻ chủ yếu ở nước ta
Bảng 2.5 Quy mô và chủ đầu tư của các trung tâm thương mại (Trang 56)
Bảng 2.6:  Phân bố hệ thống chợ và một số chỉ tiêu cơ bản về chợ - Nghiên cứu xây dựng một số giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước đối với các cơ sở bán buôn, bán lẻ chủ yếu ở nước ta
Bảng 2.6 Phân bố hệ thống chợ và một số chỉ tiêu cơ bản về chợ (Trang 57)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w