Nhằm đánh giá được thực trạng sản xuất dừa và tình hình sử dụng giống, áp dụng tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất dừa, làm cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp kỹ thuật hướng tới nâng cao n
Trang 1BỘ CÔNG THƯƠNG VIỆN NGHIÊN CỨU DẦU VÀ CÂY CÓ DẦU
BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP CẢI TẠO CƠ CẤU ĐỂ TĂNG HIỆU QUẢ KINH TẾ VƯỜN DỪA
Thực hiện theo Hợp đồng đặt hàng sản xuất và cung cấp dịch vụ
sự nghiệp công nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ
số 167.RD/HĐ-KHCN ngày 05/04/2011 giữa Bộ Công Thương
và Viện Nghiên cứu Dầu và Cây có dầu
Chủ trì thực hiện: Ks Thái Nguyễn Quỳnh Thư
Tham gia thực hiện: Ks Phạm Phú Thịnh
Ks Lưu Quốc Thắng Ths Ngô Thị Kiều Dương
CN Nguyễn Thị Mai Phương
Ts Nguyễn Thị Bích Hồng
Ks Phạm Thị Lan
Trang 2
LỜI NÓI ĐẦU
Dừa là cây lấy dầu, cây công nghiệp lâu năm, có khả năng thích nghi rộng
và được trồng ở hầu hết các vùng sinh thái nông nghiệp nước ta Tuy nhiên, diện tích dừa tập trung chủ yếu ở các tỉnh vùng ven biển, nhất là vùng Duyên Hải Nam Trung bộ (DHNTB) (chiếm 12,82% diện tích) và Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) (chiếm 82,58% diện tích) (Phụ lục 1, Bộ NN&PTNT, 2009) Theo số liệu thống kê của FAO (2011) Trong giai đoạn từ năm 1990 đến nay, diện tích thu hoạch dừa ở nước ta theo xu hướng giảm mạnh, từ 212.300 ha (năm 1990) xuống còn 119.300 ha (năm 2007) và từ sau năm 2007 đến nay thì diện tích thu hoạch dừa bắt đầu có sự gia tăng trở lại Trái ngược với xu thế giảm diện tích trồng, thì năng suất dừa lại có sự gia tăng liện tục, từ 4,21 tấn/ha (1990) đến 9,59 tấn/ha (2010), tăng hơn hai lần so với 20 năm trước, đã đưa đến sản lượng dừa hiện nay đạt gần 1,2 triệu tấn năm, cao hơn so với sản lượng những năm của thập niên 90 khi diện tích dừa phát triển tối đa
Từ thực tế phát triển dừa hơn 2 thập niên qua cho thấy – bên cạnh phương thức canh tác dừa truyền thống theo hướng quảng canh, vai trò của tiến bộ kỹ thuật cũng từng bước được quan tâm và đầu tư nhằm hướng tới nâng cao năng suất và hiệu quả kinh tế của vườn dừa Đặc biệt, những năm gần đây một số giống dừa mới (Dứa, Lai, Sáp nuôi cấy phôi,… ) và tiến bộ kỹ thuật (mật độ khoảng cách trồng thích hợp, bón phân cho vườn dừa, sử dụng ong ký sinh để hạn chế những thiệt hại do bọ dừa gây ra, và các hình thức đa canh trong vườn dừa…) đã được khuyến cáo áp dụng trong sản xuất Tuy nhiên, do thói quen canh tác, điều kiện sản xuất và khả năng đầu tư thâm canh khác nhau giữa các vùng miền và địa phương đã đưa đến tình trạng và mức độ áp dụng tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất còn hạn chế Nhằm đánh giá được thực trạng sản xuất dừa
và tình hình sử dụng giống, áp dụng tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất dừa, làm cơ
sở cho việc đề xuất các giải pháp kỹ thuật hướng tới nâng cao năng suất và hiệu
quả kinh tế vườn dừa, đề tài “Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp cải
tạo cơ cấu để tăng hiệu quả kinh tế vườn dừa” đã được triển khai thực hiện tại
Bến Tre, Trà Vinh (vùng Đồng bằng sông Cửu Long) và Bình Định (vùng Duyên hải Nam Trung bộ) là những địa phương có truyền thống trồng dừa và có diện tích dừa tập trung ở nước ta
Trang 31.1 Tình hình nghiên cứu và sử dụng giống dừa trong sản xuất 21.2 Tình hình nghiên cứu và ứng dựng tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất 21.2.1 Về mật độ, khoảng cách trồng 2
1.2.3 Về bảo vệ thực vật 3
1.3 Hệ thống đa canh trong vườn dừa 4
1.3.1 Hệ thống trồng xen trong vườn dừa 41.3.2 Hệ thống nuôi xen trong vườn dừa 6
2.1 Vật liệu nghiên cứu 72.2 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 7
3.1 Điều tra và đánh giá thực trạng sử dụng giống và kỹ thuật canh tác dừa
3.1.1 Tình hình sản xuất dừa ở Bến Tre, Trà Vinh và Bình Định những năm gần đây 113.1.2 Một số thông tin chung về nông hộ trồng dừa 133.1.3 Nguồn gốc các giống dừa trong sản xuất dừa của nông hộ 163.1.4 Cơ cấu giống và năng suất của các giống dừa trong vườn của nông hộ 173.1.5 Đầu tư và thu nhập từ vườn dừa trong thời kỳ kiến thiết cơ bản 193.1.6 Đầu tư trồng dừa trong thời kỳ kinh doanh 203.1.7 Hình thức tiêu thụ dừa tại các địa phương 213.1.8 Nguồn thu nhập của nông dân trồng dừa 213.1.9 Tình hình vay vốn đầu tư cho vườn dừa của hộ gia đình 223.1.10 Những khó khăn, trở ngại đối với nông dân trồng dừa và những giải pháp của họ 243.1.11 Nguồn tiến bộ kỹ thuật đối với nông dân trồng dừa 273.1.12 Vai trò của các tổ chức CT - XH trong việc hỗ trợ nông dân trồng dừa 283.1.13 Nhu cầu kỹ thuật của nông dân trồng dừa và những đề xuất thúc đẩy phát
Trang 43.2 Đánh giá một số đặc điểm nông sinh học, chất lượng và tình hình sâu bệnh trên cây dừa ở Bến Tre, Trà Vinh và Bình Định 31
3.2.1 Đánh giá đặc điểm nông sinh học cơ bản của một số giống dừa mới và giống dừa địa phương ở Bến Tre, Trà Vinh và Bình Định 313.2.2 Đánh giá chỉ tiêu chất lượng của một số giống dừa mới và giống dừa địa phương ở Bến Tre, Trà Vinh và Bình Định 393.2.3 Khảo sát và đánh giá thực trạng sâu bệnh, biện pháp phòng trừ và áp dụng
kỹ thuật thâm canh vườn dừa ở Bến Tre, Trà Vinh và Bình Định 41
3.3 Đánh giá hiệu quả kinh tế mô hình vườn dừa áp dụng kỹ thuật thâm
3.3.1 Đánh giá hiệu quả kinh tế mô hình vườn dừa áp dụng kỹ thuật thâm canh
Trang 5DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1: Một số đặc điểm chung của hộ trồng dừa tại địa phương khảo sát 13
Bảng 3.2: Một số thông tin chung về vườn dừa tại các địa phương khảo sát 14
Bảng 3.3: Mục đích trồng dừa của hộ gia đình 15 Bảng 3.4: Các phương thức thâm canh được áp dụng cho vườn dừa 16
Bảng 3.5: Nguồn gốc giống dừa trong sản xuất dừa của nông 17
Bảng 3.6: Cơ cấu giống và năng suất của các giống dừa theo độ tuổi 18
Bảng 3.7: Đầu tư và thu nhập từ vườn dừa trong thời kỳ KTCB (5 năm đầu) 20
Bảng 3.8: Mức đầu tư cho các vườn dừa thời kỳ kinh doanh 21
Bảng 3.9: Các hình thức tiêu thụ dừa của nông dân tại các địa khảo sát 21
Bảng 3.10: Nguồn thu nhập trong năm của nông hộ trồng dừa 22
Bảng 3.11: Tình hình vay vốn đầu tư cho vườn dừa tại tại các địa phương 23
Bảng 3.12: Mục đích vay của hộ trồng dừa 23 Bảng 3.13: Những khó khăn khi vay vốn trồng dừa 24
Bảng 3.14: Những khó khăn đối với nông dân trồng dừa 25
Bảng 3.15: Những giải pháp cho những khó khăn 26
Bảng 3.16: Nguồn tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất dừa 27
Bảng 3.17: Khả năng tiếp cận cán bộ khuyến nông, cán bộ nông nghiệp 28
Bảng 3.18: Những tổ chức mà gia đình là thành viên 28
Bảng 3.19: Những việc mà gia đình nhận được từ các tổ chức 29
Bảng 3.20: Nhu cầu kỹ thuật của nông dân trồng dừa 30
Bảng 3.21: Những đề xuất thúc đẩy phát triển vườn dừa ở địa phương 31
Bảng 3.22: Các đặc điểm về thân của một số giống dừa lấy dầu 31
Bảng 3.23: Các đặc điểm về lá của một số giống dừa lấy dầu 32
Bảng 3.24: Các đặc điểm về hoa tự của một số giống dừa lấy dầu 33
Bảng 3.25: Các đặc điểm về thành phần quả của một số giống dừa lấy dầu 34
Bảng 3.26: Năng suất của một số giống dừa lấy dầu 35
Bảng 3.27: Các đặc điểm về thân của một số giống dừa uống nước 36
Bảng 3.28: Các đặc điểm về lá của một số giống dừa uống nước 37
Bảng 3.29: Các đặc điểm về hoa tự của một số giống dừa uống nước 37
Bảng 3.30: Các đặc điểm về thành phần quả của một số giống dừa uống nước 38
Bảng 3.31: Năng suất của một số giống dừa uống nước 38
Bảng 3.32: Hàm lượng dầu của các giống dừa lấy dầu Ta, Dâu, Lai, Sáp 39
Bảng 3.33: Thành phần acide béo của giống dừa lấy dầu 39
Bảng 3.34: Hàm lượng dinh dưỡng trong nước và cơm dừa (Xiêm, Dứa) 40
Bảng 3.35: Những khó khăn của hộ đối với vấn đề sâu bệnh hại 41
Bảng 3.36: Những đối tượng và loại sâu hại phổ biến trên cây dừa 42
Trang 6Bảng 3.38: Năng suất và hiệu quả kinh tế các vườn dừa thâm canh thời kỳ kinh
Bảng 3.39: Năng suất và hiệu quả kinh tế của mô hình nuôi trồng xen phổ biến
Bảng 3.40: Năng suất và hiệu quả kinh tế vườn dừa nuôi trồng xen thời kỳ kinh
Bảng 3.41: Năng suất và hiệu quả kinh tế của mô hình nuôi trồng xen phổ biến
Bảng 3.42: Năng suất và hiệu quả kinh tế vườn dừa trồng thuần thời kỳ kinh
Bảng 3.43: Năng suất và hiệu quả kinh tế vườn dừa thời kỳ kinh doanh tại tỉnh
Bình Định 51 Bảng 3.44: Năng suất và hiệu quả kinh tế của mô hình nuôi trồng xen phổ biến
tại Bình Định 52
Trang 7DANH MỤC KÝ HIỆU VÀ TỪ VIẾT TẮT
ĐBSCL: Đồng bằng sông Cửu Long
DHNTB: Duyên hải Nam Trung bộ
HQKT: Hiệu quả kinh tế
KTCB: Kiến thiết cơ bản
Bộ NN&PTNT: Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
TGST: Thời gian sinh trưởng
TKKD: Thời kỳ kinh doanh
Trang 8TÓM TẮT ĐỀ TÀI
Sau 1 năm thực hiện đề tài đã ghi nhận được các kết quả như sau:
1 Điều tra và đánh giá thực trạng sử dụng giống và kỹ thuật canh tác dừa ở Bến Tre, Trà Vinh và Bình Định
Quy mô trồng dừa trong nông hộ, trung bình 1,0-1,2 ha/hộ tại Bến Tre và Trà Vinh; 0,35 ha/hộ tại Bình Định Hầu hết nông dân trồng dừa với mục đích bán trái khô, một số ít hộ kết hợp bán trái khô và trái tươi, trồng dừa để bán trái Sáp chỉ có ở Trà Vinh Hệ thống cây trồng xen trong vườn dừa ở Bến Tre và Trà Vinh tương đối giống nhau, gồm ca cao, cây có múi, cây ăn trái và mía, … trong khi ở Bình Định chủ yếu là rau má, chuối, khoai mỳ và cỏ Hệ thống vật nuôi xen trong vườn dừa khá giống nhau, gồm có bò, heo, dê, gà và tôm cá
Các giống dừa phổ biến trong sản xuất là dừa Ta, dừa Dâu và dừa Xiêm, nhất là giống dừa Ta Gần đây, các giống dừa Dứa và dừa Lai được bổ sung vào
cơ cấu giống dừa của các địa phương, chủ yếu ở Trà Vinh và Bến Tre, nhưng diện tích còn rất hạn chế Giống dừa Sáp tập trung chủ yếu ở Trà Vinh – đây là giống dừa có chất lượng và giá trị cao
Về đầu tư, chủ yếu là phân bón và bồi bùn Bón phân cho dừa ở Bến Tre cao hơn so với Trà Vinh và Bình Định Bồi bùn chỉ được áp dụng cho vườn dừa tại Bến Tre và Trà Vinh
Tại Trà Vinh, cơ cấu giống dừa khá đa dạng, gồm các giống dừa Ta, Dâu, Xiêm, Dứa và Sáp Trong điều kiện thâm canh hoặc đa canh, năng suất các giống dừa Xiêm, dừa Dứa cao gấp hai lần so với các giống Ta, Dâu và Sáp và gấp 3 lần năng suất của các giống này ở điều kiện quảng canh
Nguồn đóng góp chính cho thu nhập của hộ trong năm là từ cây dừa tại Bến Tre và Trà Vinh (chiếm gần 50%), và từ các hoạt động làm thuê, làm công
ăn lương (chiếm trên 50%) Tại Bình Định cây dừa chỉ đóng góp gần 10% thu nhập của hộ trong năm Các nguồn thu nhập khác gồm: sản xuất lúa, nuôi trồng xen trong vườn dừa, mở dịch vụ, buôn bán nhỏ lẻ Tại Bình Định, còn có thêm thu nhập từ các hoạt động đánh bắt thủy sản và nghề tiểu thủ công nghiệp
2 Đánh giá một số đặc điểm nông sinh học, chất lượng, tình hình sâu bệnh trên cây dừa ở Bến Tre, Trà Vinh và Bình Định
Các giống dừa cao như dừa Ta, Dâu, Sáp, Lai có có gốc và thân cây to, tán
lá phân bố đều, khối lượng quả lớn, cơm dừa dày Giống dừa Lai có năng suất quả/cây cao hơn hẳn so với các giống dừa cao khác Các giống dừa lùn như dừa Xiêm, Dứa có gốc nhỏ, tăng trưởng chậm, sẹo lá khít, chiều cao cây thấp, quả
nhỏ, cơm dừa mỏng
Trong cơm dừa tươi của các giống dừa lấy dầu như Ta, Dâu, Lai, Sáp (trái không Sáp) có hàm lượng dầu cao, có sự hiện diện của các acid béo cơ bản đặc
Trang 9trưng cho dầu dừa trong đó acid Lauric bão hòa với 12 carbon chiếm hàm lượng cao nhất so với các acid béo khác (46,70-53,78%)
Trong nước dừa và cơm dừa tươi của hai giống dừa uống nước (Xiêm, Dứa), có sự hiện diện của Glucid, Canxi, Kali, Magnesium, Vitamin C và năng lượng, giúp tăng cường sực đề kháng và chống lão hóa cho cơ thể
Bọ dừa, đuông, kiến vương, chuột, sóc, thối ngọn và xì mủ thân là những đối tượng sâu bệnh chủ yếu Các biện pháp: không trồng dày, chăm sóc tốt, vệ sinh thông thoáng vườn dừa; đặt thuốc hóa học trên bó lá ngọn trong mùa nắng, rắc muối hột trên bó lá ngọn; thường xuyên đi kiểm tra vườn và bắt kiến thủ công; đặt bẫy dẫn dụ và tiêu diệt; đặt bẫy vòng thiếc, bả chuột, bắt chuột bằng tay, nuôi mèo; xử lý bằng vôi, thuốc trừ nấm,tiêu hủy nguồn bệnh, không tạo vết
thương cho bệnh xâm nhập
3 Đánh giá hiệu quả kinh tế mô hình vườn dừa áp dụng kỹ thuật thâm canh Bến Tre, Trà Vinh và Bình Định
Tại Bến Tre: Hiệu quả đồng vốn đầu tư cho vườn dừa khá cao, biến động
từ 2,67 đến 7,10 giữa các phương thức trồng và đầu tư thâm canh Trồng theo phương thức quảng canh có hiệu quả đồng vốn đầu tư cao trong ngắn hạn, nhưng thiếu bền vững (đất đai suy kiệt, ảnh hưởng tới sinh trưởng và năng suất của vườn dừa) Do vậy, để phát triển vườn dừa theo hướng ổn định, bền vững, cần đầu tư thâm canh theo hướng đa canh trong vườn dừa
Tại Trà Vinh: Hiệu quả đồng vốn đầu tư cho vườn dừa đa canh khá cao, biến động từ 2,80 đến 14,97 Thu nhập từ dừa trong điều kiện thâm canh cao hơn
so với trồng quảng canh Vườn dừa Xiêm có năng suất cao nên cho tổng thu cao nhất, kế đến là vườn dừa Dứa, cuối cùng là vườn dừa sử dụng các giống Ta, Dâu Chi phí đầu tư cho vườn dừa không có sự khác biệt nhiều giữa thâm canh và quảng canh Hiệu quả đồng vốn đầu tư cho vườn dừa Xiêm và dừa Sáp khá cao (9,23-10,11), các vườn dừa Ta, Dâu thấp hơn (2,82-3,10)
Tại Bình Định: Năng suất dừa ở khá thấp so với ở Bến Tre và Trà Vinh, nên thu nhập từ dừa ở Bình Định thấp hơn rõ rệt so với Bến Tre và Trà Vinh
4 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế vườn dừa vùng đồng bằng sông Cửu Long và Duyên hải Nam Trung bộ: Giải pháp về giống; các giải
pháp kỹ thuật; giải pháp tăng cường hoạt động khuyến nông và chuyển giao tiến
bộ kỹ thuật; giải pháp hỗ trợ đầu tư trồng mới, cải tạo vườn tạp
Trang 10MỞ ĐẦU
* Cơ sở pháp lý/xuất xứ của đề tài:
Đề tài được thực hiện theo hợp đồng số 167.RD/HĐ-KHCN ngày 11/4/2012 của Bộ Công Thương ký với Viện
* Tính cấp thiết của đề tài:
Hiện nay, do thói quen canh tác, điều kiện sản xuất và khả năng đầu tư thâm canh khác nhau giữa các vùng miền và địa phương đã đưa đến tình trạng và mức độ áp dụng tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất còn hạn chế Nhằm đánh giá được thực trạng sản xuất dừa và tình hình sử dụng giống, áp dụng tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất dừa, làm cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp kỹ thuật
hướng tới nâng cao năng suất và hiệu quả kinh tế vườn dừa, đề tài “Nghiên cứu
thực trạng và đề xuất giải pháp cải tạo cơ cấu để tăng hiệu quả kinh tế vườn dừa” đã được thực hiện
* Mục tiêu nghiên cứu:
Đánh giá được sinh trưởng, năng suất và chất lượng một số giống dừa và
kỹ thuật thâm canh vườn dừa, thông qua đó đề xuất giải pháp cải tạo cơ cấu vườn dừa ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long (Bến Tre, Trà Vinh) và Duyên hải Nam Trung bộ (Bình Định)
* Nội dung nghiên cứu:
1 Điều tra và đánh giá thực trạng sử dụng giống và kỹ thuật canh tác dừa
Trang 11CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Tình hình nghiên cứu và sử dụng giống dừa trong sản xuất
Indonesia là nước trồng nhiều dừa nhất thế giới (3,7 triệu ha), trong đó giống dừa Lai PB121 (chiếm 250.000 ha) với năng suất cơ dừa khô đạt 2,5-3,0 tấn/ha, cao hơn hẳn so với năng suất các giống dừa thường (khoảng 1 tấn/ha) Ở Malaysia với khoảng 300.000 ha dừa trong đó chọn 2 giống dừa chủ đạo là PB121 và Matag để phục hồi nền công nghiệp dừa của đất nước này (Ngô Thị Lam Giang, 2005)
Theo Võ Văn Long (1993) trích dẫn bởi Ngô Thị Lam Giang (2005), Viện nghiên cứu Dầu và Cây có dầu (2005): các giống dừa được trồng phổ biến ở Việt Nam gồm: nhóm dừa cao cây có các giống Ta, Dâu, Lửa, Sáp…; nhóm dừa lùn
có các giống Xiêm, Tam quan, Ẻo, Núm, Dứa… Trong đó các giống dừa Ta, Dâu, Giấy, Xiêm, Tam Quan… có tiềm năng năng suất cao, có triển vọng sử dụng trong các chương trình lai tạo giống mới hoặc tuyển chọn cây mẹ tốt để chọn trái giống phục vụ trồng mới hoặc cải tạo vườn dừa già cỗi, năng suất thấp Những năm gần đây, các giống dừa có giá trị kinh tế cao như dừa Sáp và dừa Dứa, và các giống dừa Lai (PB121, JVA1 và JVA2) có tiềm năng năng suất cao
đã được quan tâm nhiều hơn trong các chương trình giống nhằm nhân nhanh và cung cấp nhu cầu giống tốt phục vụ sản xuất, góp phần đa dạng hóa cơ cấu giống dừa, nâng cao năng suất và thu nhập cho người trồng dừa
Đến nay, đã có 4 giống dừa được Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận chính thức, đó là dừa Ta, dừa Dâu, dừa Xiêm và dừa Ẻo, và 7 giống dừa được công nhận tạm thời là dừa Bung, dừa Tam Quan, dừa Sáp, dừa Dứa, các giống dừa Lai có PB121, JVA1 và JVA2 (Viện nghiên cứu Dầu và Cây có dầu, 2012) Bến Tre là tỉnh trồng nhiều dừa (trên 50.000 ha), các giống có năng suất cao, thích hợp cho chế biến công nghiệp, phù hợp với thị trường trong nước và xuất khẩu như giống Ta Xanh, Ta Vàng, Dâu Xanh, Dâu Vàng đã được khuyến cáo trong sản xuất (Phan Thị Thu Sương, 2012)
1.2 Tình hình nghiên cứu và ứng dựng tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất
1.2.1 Về mật độ, khoảng cách trồng
- Về mật độ trồng: tùy thuộc vào giống, điều kiện đất đai và kỹ thuật trồng, khoảng cách thích hợp đối với các giống dừa cao được khuyến cáo là hàng cách hàng 8m và cây cách cây 8m, tương ứng với mật độ 160 cây/ha Đối với các giống dừa lùn khoảng cách trồng thích hợp 7m x 7m, tương ứng với mật độ trồng 200 cây/ha Ở những vùng đất tốt, có thể trồng thưa hơn và ngược lại Nếu
có trồng xen, có thể trồng thưa hơn để đảm bảo điều kiện ánh sáng, dinh dưỡng cho các cây trồng xen dưới tán dừa (Viện nghiên cứu Dầu và Cây có dầu, 2012)
Trang 121.2.2 Về phân bón
Đa số các vùng đất trồng dừa là những vùng đất nghèo dinh dưỡng, nên không đủ khả năng cung cấp cho cây dừa cân bằng dinh dưỡng để sinh trưởng phát triển bình thường trong suốt chu kỳ sống Vì vậy, bón phân cho dừa là rất cần thiết Theo Tôn Thất Trình (1974), trong số các dưỡng chất cần thiết cho vườn dừa, thường thiếu các dưỡng chất sau: K, N, P, Mg, Na, Cl, Ca, Fe, Mn Do vậy, bón đúng liều lượng và cân đối các loại chất dinh dưỡng này sẽ giúp cây sinh trưởng, phát triển tốt, và cho năng suất cao
Ở Indonesia, đa số các vùng đất trồng dừa đều thiếu hụt N, K, Mg (Mahmud và Allorerung, 1988, theo trích dẫn bởi Magat.S.S, (1989), trên cơ sở các kết quả phân tích đất và lá, làm cơ sở cho việc xác định chế độ dinh dưỡng cho cây dừa
Ở Sri Lanka, việc bón phân cho cây dừa đã làm tăng năng suất từ 16 trái lên 72 trái/cây/năm (Jayasekera.K.S, 1988) Và ở Ấn Độ, các nghiên cứu về dinh dưỡng cho cây dừa trưởng thành ở vùng đất cát ven biển miền Tây trên các giống Lai đã làm tăng năng suất trái khoảng 50 trái/cây/năm
Theo Diệp Thị Mỹ Hạnh (1993), đạm ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển của dừa Lai PB121 trên vùng đất phèn Bến Lức, Long An và bón ở mức 1,5kg urê+2kg KCl cây/ năm cho năng suất trái cao (71 trái/cây/năm)
Bón phân cho giống dừa Ta và Dâu với lượng 70 kgN, 40 kgP2O5, và 110 kgK2O/ ha/ năm ở thời kỳ cho trái cho năng suất trái/ cây cao (80 trái/cây/năm), hàm lượng dầu đạt 66% và hiệu quả kinh tế tăng 1,6 lần so với kinh nghiệm trồng dừa của nông dân Và khi bón thay thế 25% lượng phân vô cơ và phân hữu
cơ vi sinh (Komix) thì năng suất quả/ cây và hiệu quả kinh tế của vườn dừa tăng gấp 2 lần so với kinh nghiệm trồng dừa của nông dân (Viện nghiên cứu Dầu và Cây có dầu, 2012)
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về chế độ dinh dưỡng đối với các giống dừa cao, sử dụng cho mục đích lấy dầu được thực hiện một cách hệ thống Riêng đối với các giống dừa lùn, sử dụng cho mục đích Lai tạo hoặc giải khát thì các kết quả nghiên cứu còn khiêm tốn
1.2.3 Về bảo vệ thực vật
Sử dụng chế phẩm MA (Metarrhizium anisopliea) với nồng độ 50mg/m2
phun trực tiếp vào các ổ sinh sản của kiến vương có tác dụng diệt được 94-96%
ấu trùng Sử dụng ong ký sinh (Acedodes hispinarum) trong phòng trừ bọ cánh cứng (Bontispa longgissima) hại dừa Các biện pháp này đã được chuyển giao và
khuyến các áp dụng trong sản xuất dừa (Viện nghiên cứu Dầu và Cây có dầu, 2012)
Trang 131.3 Hệ thống đa canh trong vườn dừa
Dừa là cây lâu năm, chiếm nhiều diện tích lớn, do đó nuôi, trồng xen trong vườn dừa là một biện pháp sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên, giúp gia tăng thu nhập trên một đơn vị diện tích đất
1.3.1 Hệ thống trồng xen trong vườn dừa
Theo Liyanage L.V.K (1987), cây thích nghi bóng râm bằng cách làm giảm mức hô hấp, làm giảm tỉ lệ mọc rễ/chồi và tăng tổng số lá/trọng lượng lá để tăng mức độ tiếp nhận ánh sáng và khả năng cạnh tranh của cây trồng xen Thực
tế, một số cây trồng có khả năng cho năng suất cao hơn khi được trồng dưới bóng râm (theo Paner, 1975; Canandang, 1977 được dẫn bởi PCA, 1987) Cũng theo Liyanage L.V.K (1987), tương tác giữa dừa và cây trồng xen có thể bao gồm: sự cộng lực - do cây trồng xen ảnh hưởng tốt trên cây dừa; sự giảm sự bốc hơi nước do có cây phủ đất; và tăng khả năng hoạt động của vi sinh vật trong vùng rễ dừa
Hệ thống rễ dừa thường tập trung trong vòng bán kính từ 1,8-2,0m cách gốc dừa (Rosario, 1983), trên vùng đất cát, rễ dừa hoạt động có thể xa hơn Trong vườn dừa chuyên canh, với khoảng cách 8 x 8m, thì diện tích dinh dưỡng khoảng 64 m2 Tuy nhiên, do vùng rễ hoạt động trong phạm vi hẹp, nên có thể
bố trí trồng xen các cây trồng khác Trung bình mỗi cây dừa cao có khoảng 30 lá kép, xếp theo hình xoắn ốc, theo một trật tự nhất định, sao cho các lá kế tiếp không bị che khuất hoàn toàn (Child, 1984) Lượng ánh sáng được truyền qua tán lá đạt mức cao nhất trong vườn dừa trồng mới, sau đó giảm dần và chỉ còn khoảng 20% ở vườn dừa 25 tuổi và sẽ tăng trở lại tới 80% ở vườn dừa lão (Nair
và Bala Krisnan, 1977)
Vấn đề cạnh tranh dinh dưỡng đất sẽ không nghiêm trọng nếu cây trồng xen được cung cấp đủ dưỡng chất Trồng xen trong vườn dừa không những làm gia tăng lợi tức nhờ cây trồng xen mà còn gia tăng năng suất dừa do lý tính đất được cải thiện qua cày xới, bón phân, làm cỏ Các thí nghiệm ở Tiaong, Quezon của Philippines cho thấy năng suất trung bình của các vườn dừa trồng xen cà phê
và cacao là 55 quả/cây/năm, trong khi vườn dừa chuyên canh chỉ đạt 40 trái/cây/năm
Cacao (Theobroma cocoa L.) là loại cây chịu bóng râm, thích hợp ở
những nơi có lượng mưa trung bình từ 1.500-2.000 mm/năm; ẩm độ từ 70-80%;
pH từ 5,0-6,5; nhiệt độ từ 30-320C Sản phẩm của cacao có giá trị dinh dưỡng cao và có tiềm năng xuất khẩu lớn, thị trường tiêu thụ ổn định (Phạm Hồng Đức Phước, 2005) Cacao được trồng ở nhiều nước có khí hậu nhiệt đới trên thế giới như Brasil, Indonesia, Malaysia
Kỹ thuật trồng xen cacao trong vườn dừa ở Malaysia bắt đầu từ những năm 1960 và phổ biến nhanh vì Malaysia có hơn 200.000 ha dừa từ 25-40 năm
Trang 14Malaysia đã nghiên cứu nhiều giống dừa Lai mới có thể trồng với mật độ dày hơn khoảng 150 -160 cây/ha thay vì 120 cây/ha như trước đây vì vậy cung cấp nhiều bóng râm hơn cho cacao và do đó việc trồng xen cacao trong vườn dừa cũng được phát triển thêm Hiện nay diện tích trồng xen cacao trong vườn dừa ở Malaysia có giảm do giá nhân công cao
Ở Philippines, mô hình cacao xen dừa được phát triển từ thời kỳ Philippines còn lệ thuộc Tây Ban Nha Cacao được xem là cây trồng phổ biến nhất trong vườn dừa Trong những năm 1970, mô hình cacao trồng xen trong vườn dừa trở nên rất phổ biến ở Philippines vì những lợi ích kinh tế và cân bằng sinh thái hệ thực vật và vi sinh vật trong đất mà nó mang lại Lượng chất hữu cơ
mà nó mang lại trong đất gia tăng do lá cacao rụng và phân hủy, tăng khả năng hoạt động của vi sinh vật cố định đạm và làm lân trở nên dễ Tan ở vùng rễ của cây dừa Lá cacao rụng định kỳ, do đó có thể che mát đất, giữ ẩm cho cây và tăng chất hữu cơ trong đất Những thí nghiệm trồng xen nhiều tầng sinh thái trên nền vườn dừa từ đó cũng bắt đầu bộc phát Đến những năm 1980, có nhiều mô hình hoàn chỉnh hơn được khuyến cáo, một trong những mô hình đó là dừa- cacao-tiêu-dứa có hiệu quả kinh tế cao với năng suất dừa tăng từ 55-100% so với trồng chuyên
Ở Việt Nam mô hình trồng xen cacao trong vườn dừa chỉ mới được phát triển từ những năm 1980, mô hình trồng xen trên nền vườn dừa ‘ba tầng sinh thái’ được khuyến cáo rộng rãi ở một số tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long cho thấy sự thích ứng của cây cacao trong mô hình trồng xen ‘dừa-dâu-cacao’ Tuy nhiên phong trào chỉ kéo dài một vài năm từ khoảng năm 1984-1986 Nguyên nhân chủ yếu là do thiếu thị trường tiêu thụ, năng suất của các giống cacao cũ thấp khoảng 800 kg/ha
Ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, hầu hết các vườn dừa được trồng trên mương liếp Người dân thường tận dụng diện tích mặt mương sẵn có để thu hoạch tôm cá tự nhiên, hoặc chỉ sử dụng 1-2 mương nhỏ cạnh nhà để thả cá, tạo thêm nguồn thực phẩm cải thiện bữa ăn hàng ngày trong gia đình Các loại cá được chọn để nuôi xen trong vườn dừa thường là những loại cá ăn tạp, dễ nuôi như: cá tra, cá rô phi, gần đây có thêm loài cá chim trắng Phân lân dạng tự nhiên sau 2 năm bón cho dừa ở giai đoạn trưởng thành ảnh hưởng đến sự tăng trưởng chu vi thân, tỉ lệ ra hoa cũng như hàm lượng dinh dưỡng tập trung trong lá (Nguyễn Thị Liên Hoa, 1989)
Theo Phạm Thị Lan (2005), ở các vùng trồng dừa tập trung của Việt Nam, dừa được trồng trong các hộ gia đình với quy mô nhỏ (0,3-0,5 ha) Nếu trồng thuần, thu nhập từ dừa không đủ trang trải cuộc sống của hộ gia đình Do vậy, kết hợp việc nuôi, trồng xen trong vườn dừa là rất cần thiết, góp phần sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên trong nông hộ, tạo công ăn việc làm, đa dạng hóa sản
Trang 15trường biến động, do vậy cải thiện thu nhập và đời sống của người trồng dừa Tuy nhiên, tùy điều kiện cụ thể của mỗi vùng mà có những hình thức đa canh trong vườn dừa khác nhau như: trên đất phù sa có quýt, cam, chanh, chuối, hoặc cacao trồng xen trong vườn dừa; nhưng trên đất phèn có Dứa hoặc khoai mì trong xen trong vườn dừa Và tùy thuộc vào cây trồng xen trong vườn dừa mà thu nhập cũng có sự thay đồi Chẳng hạn, ở vườn dừa trưởng thành, trồng xen chuối, chanh hoặc quýt có thể cho thu nhập cao hơn từ 1,6 đến 2,75 lần so với dừa trồng thuần
Theo định hướng của Bộ Nông nghiệp & PTNT (Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Bến Tre, 2006), sẽ tiếp tục phát triển diện tích cacao ở các tỉnh phía Nam khoảng 80.000 ha, năng suất bình quân từ 1,5-2 tấn/ha có thể đáp ứng đủ nhu cầu nguyên liệu sản xuất trong nước Đây là cơ hội rất thuận lợi để các tỉnh trồng dừa ở phía Nam mở rộng mô hình trồng xen ca cao trong vườn dừa
1.3.2 Hệ thống nuôi xen trong vườn dừa
Ở những nước có diện tích trồng dừa nhiều như Philipipines, Indonesia, và
Ấn Độ, dừa thường được trồng theo hình thức không đào mương lên liếp, với các đối tượng nuôi xen trong vườn dừa chủ yếu là bò, dê, và gà
Theo Mac Evoy (1974) được trích dẫn bởi Liyanage (1987), nuôi bò trong vườn dừa được áp dụng khá phổ biến ở Philippine bởi những lý do sau: sử dụng đất dừa hữu hiệu hơn; hạn chế cỏ dại mọc; cải thiện độ phì nhiêu cho đất nhờ phân trâu bò; tạo điều kiện tiểu khí hậu mát hơn, thích hợp cho vật nuôi phát triển; sử dụng hiệu quả hơn lực lượng lao động trong nông hộ và cải thiện thu nhập Do mang lại hiệu quả kinh tế, nên mô hình đã phát triển trên quy mô 400.000 ha ở Philippine, giúp quốc gia này có thêm nguồn thịt và sữa và giảm số lượng phải nhập
Một số loài cỏ lâu năm, thân bò, cho nhiều hạt và giai đoạn cây con phát triển mạnh; gia súc có thể ăn được; có thể chịu được bóng râm; không cạnh tranh dưỡng với cây dừa cũng có thể trồng trong vườn để cung cấp nguồn thức ăn
xanh cho trâu, bò, đó là những loài cỏ và cây họ đậu như: cỏ Guinea (Panicum
maximum), cỏ Para (Brachiaria mutica), và cỏ Alabang (Dichantium aristatum)
(Sở Nông nghiệp – PTNT tỉnh Bến Tre, 2002 và 2003)
Trang 16CHƯƠNG 2 THỰC NGHIỆM
2.1 Vật liệu nghiên cứu
Vật liệu nghiên cứu: các giống dừa được trồng phổ biến tại Bình Định, Bến Tre và Trà Vinh (Dừa Ta, Dâu, Xiêm, Ẻo, Dứa, Sáp, Lai)
2.2 Nội dung và phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Điều tra và đánh giá thực trạng sử dụng giống và kỹ thuật canh tác dừa ở vùng ĐBSCL (Bến Tre, Trà Vinh) và DHNTB (Bình Định)
* Thu thập số liệu về tình hình sản xuất dừa (diện tích, năng suất, sản lượng) của các địa phương nơi triển khai thực hiện điều tra tại Trà Vinh, Bến Tre và Bình Định
- Phương pháp: thu thập các báo cáo về sản xuất nông nghiệp của các xã, huyện nơi triển khai điều tra; Thu thập số liệu về diện tích, năng suất, sản lượng dừa của 1-2 huyện/ tỉnh nơi trồng dừa chính và tình hình chuyển giao, áp dụng các tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất dừa tại địa phương
* Điều tra thực trạng sử dụng giống và kỹ thuật canh tác dừa trong nông hộ tại các tỉnh Trà Vinh, Bến Tre và Bình Định
- Phương pháp: điều tra phỏng vấn trực tiếp nông dân theo phiếu điều tra soạn sẵn
- Phương pháp chọn mẫu (hộ) điều tra:
* Sử dụng phương pháp phân tầng để chọn xã đại diện cho vùng trồng dừa Theo phương pháp này – tại mỗi tỉnh chọn 1-2 huyện đại diện cho vùng trồng dừa của tỉnh Tại mỗi huyện, chọn xã đại diện cho địa phương trồng nhiều dừa để tiến hành thu thập thông tin có liên quan đến tình hình sản xuất dừa và kỹ thuật canh tác dừa Theo cách chọn này, các xã được chọn cho mục đích điều tra, bao gồm: xã Châu Bình, huyện Giồng Trôm và xã Vang Quới Tây, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre (gọi tắt là Bến Tre), xã Hòa Tân, huyện Cầu Kè và Mỹ Cẩm, huyện Càng Long , tỉnh Trà Vinh (gọi tắt là Trà Vinh), và xã các xã Hoài Thanh Tây, Hoài Hảo, và Tam Quan Nam, huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định (gọi tắt là Bình Định)
* Tại mỗi xã, phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên có hệ thống (systematic random sampling) (Church và cộng sự, 1984; SEAMEO, 1998) được sử dụng để xác định các
hộ cho mục đích điều tra, cụ thể như sau:
+ Tại xã được chọn, lập danh sách các hộ trồng dừa
+ Tính khoảng cách mẫu (k) theo công thức: k = N/n, trong đó: k là khoảng cách chọn mẫu, N là số cá thể của tổng thể nghiên cứu (tổng số hộ có trồng dừa của xã) và
n là số mẫu (hộ) được chọn cho việc điều tra thu thập thông tin
+ Khi xác định được khoảng cách k thì các cá thể mẫu (số hộ) sẽ lần lượt được rút
ra từ tổng thể nghiên cứu N (tổng số hộ) với khoảng cách k tương ứng
+ Tổng số mẫu cho cuộc điều tra là 300 hộ, mỗi tỉnh khoảng 100 hộ được tập
Trang 17trung cho các xã đại diện được xác định cho việc thu thập thông tin
* Số liệu cần thu thập bao gồm: Tình hình sử dụng giống dừa trong sản xuất, những kỹ thuật canh tác đang được áp dụng: kỹ thuật lên líp, mật độ khoảng cách trồng, bón phân, chăm sóc, các biện pháp phòng trừ sâu bệnh, v.v và hệ thống đa canh trong vườn dừa
2.2.2 Đánh giá đặc điểm nông sinh học cơ bản của một số giống dừa mới và dừa địa phương vùng ĐBSCL (Bến Tre, Trà Vinh) và DHNTB (Bình Định)
- Sử dụng phương pháp đo đếm chỉ tiêu theo Mạng lưới Tài nguyên Di truyền cây dừa Quốc tế (COGENT-IPGRI) và Viên Nghiên cứu Dầu và Cây có dầu Pháp
- Chọn vườn:
+ Chọn ngẫu nhiên các vườn dừa
+ Tuổi cây:
- Từ 15-25 năm đối với các giống dừa Ta, Dâu, Xiêm, Ẻo, Sáp
- Từ 8-10 năm đối với giống dừa Dứa
+ Vườn trồng tương đối thuần một giống
+ Vườn có từ 40 cây trở lên đối với vùng Bến Tre, Trà Vinh và từ 25 cây trở lên đối với vùng Bình Định
+ Điều kiện canh tác trung bình, không bị sâu bệnh phá hại nghiêm trọng
- Chọn cây:
+ Có cùng lứa tuổi
+ Cây có dạng quả giống nhau, cùng màu sắc
+ Cây được trồng ở giữa vườn
+ 50 cây cho mỗi điểm và mỗi giống
- Chỉ tiêu theo dõi:
* Các chỉ tiêu theo dõi về sinh trưởng dừa:
- Chu vi gốc (đo cách mặt đất 50 cm)
- Chu vi thân (đo cách mặt đất 100 cm)
- Chiều cao cây: được đo từ mặt đất đến lá xanh đầu tiên
- Dạng tán lá
- Tổng số lá xanh/cây
- Chiều dài lá (đo lá xanh gần nhất, lá chức năng)
- Tổng số lá chét 1bên
- Chiều dài, chiều rộng lá chét
- Số sẹo lá: được đếm từ giữa mét thứ nhất đến mét thứ 2
* Các chỉ tiêu theo dõi về năng suất dừa:
- Số gié/phát hoa (đếm toàn bộ số gié/phát hoa)
- Số hoa cái/phát hoa (đếm toàn bộ số hoa cái/phát hoa)
- Chiều dài phần cuống mang gié
Trang 18- Số quả/buồng
- Số buồng/cây
- Năng suất quả/cây
2.2.3 Đánh giá chỉ tiêu chất lượng của một số giống dừa mới và giống dừa địa phương vùng ĐBSCL (Bến Tre, Trà Vinh) và DHNTB (Bình Định)
- Sau khi khảo sát các đặc tính nông sinh học, thu quả chín để đánh giá chỉ tiêu chất lượng của các giống dừa
+ Đối với giống dừa lấy dầu: phân tích thành phần quả, hàm lượng dầu và thành phần acid béo trong cơm dừa
+ Đối với giống dừa uống nước: phân tích hàm lượng glucid, protid, lipid vitamin và các chất khoáng trong nước dừa, cơm dừa
- Cách chọn quả và lấy mẫu để phân tích:
+ Quả chín đầy đủ, không bị điếc, không bị tổn thương
+ Quả thu được ghi rõ ký hiệu giống của cây mẹ
+ Đối với giống dừa lấy dầu: mỗi điểm chọn 10 quả/cây, chọn quả chín cùng độ tuổi (trên vỏ quả vừa chuyển sang màu nâu, không chọn quả đã khô đen hoặc nảy mầm)
+ Đối với giống dừa uống nước: mỗi điểm chọn 10 quả/cây, chọn quả khoảng 8 tháng tuổi
- Hàm lượng dầu và thành phần acid béo được phân tích tại Bộ môn Hóa dầu béo
- Viện Nghiên cứu Dầu và Cây có dầu
+ Thành phần acid phân tích theo phương pháp AOCS Ce 1e-91
+ Độ ẩm phân tích theo phương pháp AOCS Ca 2c-93
+ Hàm lượng dầu phân tích theo phương pháp AOCS Aa4-38
- Hàm lượng glucid, protid, lipid vitamin và các chất khoáng phân tích tại Viện
Vệ sinh Y tế Công cộng Tp.HCM
+ Protid phân tích theo phương pháp FAO 1986, 14/7, P.221 (Phép thử này đã được công nhận phù hợp theo tiêu chuẩn ISO/IEC 17025:2005)
+ Glucid phân tích theo phương pháp TCVN 4074-2009
+ Lipid phân tích theo phương pháp AOAC 989.05-2010
+ Năng lượng phân tích theo phương pháp KNCL và TTVSATTP
+ Ca phân tích theo PP: HD.PP.11/TT.AAS-Ref.AOAC 975.03-2010
+ K phân tích theo PP: HD.PP.36/TT.AAS-Ref.AOAC 985.35-2010
+ Mg phân tích theo PP: HD.PP.09/TT.AAS-Ref.AOAC 975.03-2010 + Vitamin C phân tích theo phương pháp Ref.EN 14130:2003
2.2.4 Khảo sát và đánh giá thực trạng sâu bệnh, biện pháp phòng trừ và áp dụng kỹ thuật thâm canh vườn dừa vùng ĐBSCL (Bến Tre, Trà Vinh) và DHNTB (Bình Định)
- Đánh giá thực trạng sâu bệnh bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp thông qua
Trang 19+ Xác định thành phần sâu hại chính
+ Xác định thành phần bệnh hại chính
+ Xác định mức độ gây hại của chuột
+ Biện pháp phòng trừ sâu, bệnh và chuột (hóa học, sinh học, thủ công)
- Chỉ tiêu ghi nhận dịch hại:
+ Vị trí gây hại
+ Mức độ xuất hiện
+ Thời điểm gây hại
+ Tỷ lệ cây, cành, lá, quả bị hại (%)
- Mức độ xuất hiện được đánh giá theo tỷ lệ cây bị sâu hại:
- : Không xuất hiện
+: Xuất hiện ít, lẻ tẻ, 5% số cây bị hại
++: Xuất hiện thường xuyên, 6-25% cây bị hại
+++: Xuất hiện nhiều 26-50% trở lên số cây bị hại
++++: Xuất hiện rất nhiều, từ 51% trở lên số cây bị hại
- Biện pháp kỹ thuật thâm canh (Mật độ cây trồng, bón phân, làm cỏ, chăm sóc….)
2.2.5 Đánh giá hiệu quả kinh tế mô hình vườn dừa áp dụng kỹ thuật thâm canh vùng ĐBSCL (Bến Tre, Trà Vinh) và DHNTB (Bình Định)
Đánh giá hiệu quả kinh tế mô hình vườn dừa áp dụng kỹ thuật thâm canh vùng đồng bằng sông Cửu Long (Bến Tre, Trà Vinh) và Duyên hải Nam Trung
bộ (Bình Định) thông qua các chỉ tiêu: chi phí đầu tư sản xuất, thu nhập, lãi thuần
và hiệu quả đồng vốn đầu tư (Zandstra và cộng sự,1981; Banta và Jayasuriya, 1984; Phạm Chí Thành và cộng sự, 1993)
Chi phí sản xuất = chi (XDĐR + phân bón + BVTV + thu hoạch + Bồi bùn + chi khác);
Tổng thu = Sản lượng x giá + nguồn thu khác;
Lãi Thuần = Tổng thu – Tổng chi phí sản xuất;
Hiệu quả đồng vốn = Tổng thu/ Tổng chi
2.2.6 Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế vườn dừa vùng đồng bằng sông Cửu Long và Duyên hải Nam Trung bộ
Từ kết quả điều tra, kết quả nghiên cứu khoa học của đề tài, thông tin quy hoạch và định hướng phát triển dừa của địa phương đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế vườn dừa vùng đồng bằng sông Cửu Long và Duyên hải Nam Trung bộ
* Phương pháp tính toán và xử lý số liệu: theo phần mềm EXCEL và SPSS
Trang 20CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ BÌNH LUẬN
3.1 Điều tra và đánh giá thực trạng sử dụng giống và kỹ thuật canh tác dừa
ở Bến Tre, Trà Vinh và Bình Định
3.1.1 Tình hình sản xuất dừa ở Bến Tre, Trà Vinh và Bình Định những năm gần đây
3.1.1.1 Tình hình sản xuất dừa ở Bến Tre
Bến Tre là tỉnh có diện tích dừa lớn nhất nước ta và cũng là địa phương có thành tích cao trong thâm canh vườn dừa, đặc biệt là phát triển cây ca cao trong vườn dừa Trong thời gian từ năm 2000 đến 2010, diện tích dừa ở Bến Tre liên tục tăng từ 37.758 ha (2000) đến 51.560 ha (2010), tương tự thì diện tích thu hoạch cũng tăng từ 33.019 đến đến 41.535 ha, chiếm khoảng 33,75% diện tích thu hoạch dừa cả nước Các huyện trồng nhiều dừa cũng là những địa phương có diện tích dừa tăng mạnh trong khoảng thời gian này, đó là Mỏ Cày Nam, Mỏ Cày Bắc, Giồng Trôm và Bình Đại với tổng diện tích tăng trong thời gian này là 11.750 ha, chiếm trên 85% diện tích trồng dừa tăng trên địa bàn tỉnh Đồng thời với sự gia tăng diện tích trồng và diện tích thu hoạch thì năng suất và sản lượng dừa ở Bến Tre cũng liên tục gia tăng thời gian qua, cụ thể: từ năm 2000, năng suất dừa chỉ đạt 7,01 tấn/ha, đến 2010 năng suất đạt 10,11 tấn/ha, do sự gia tăng diện tích thu hoạch và năng suất đã đưa đến sự gia tăng sản lượng dừa rất rõ rệt,
từ 231.657 tấn (2000) đến 421.100 tấn (2010), tăng gần 100% so với năm 2000, trong đó sản lượng gia tăng của 4 huyện trồng nhiều dừa chiếm 77,72% sản lượng dừa toàn tỉnh (Bộ NN&PTNT, 2009 và Niên giám thống kê Bến Tre, 2011) Các huyện trồng nhiều dừa ở Bến Tre, đồng thời cũng là những huyện có năng suất dừa cao, năng suất dừa các địa phương này luôn bằng hoặc cao hơn so với năng suất bình quân chung toàn tỉnh Các huyện còn lại có năng suất dừa thấp hơn, có thể do điều kiện canh tác bất thuận hơn như đất đai, chế độ tưới và ảnh hưởng của xâm nhập mặn…
Tình hình phát triển ca cao trong vườn dừa cũng cho thấy – từ những năm đầu của thập niêm 2000, cây ca cao đã được quan tâm phát triển ở Bến Tre, nhưng đến năm 2005 thì diện tích chỉ đạt 1.183 ha với 36 ha cho thu hoạch với năng suất và sản lượng tương ứng là 0,49 tấn/ha và 17,64 tấn, đến năm 2010 thì diện tích ca cao trồng xen trong vườn dừa đã đạt 6.333 ha, trong đó có 2.615 ha cho thu hoạch với năng suất trung bình đạt 0,83 tấn/ha và sản lượng đạt 2.164 tấn (Niên giám thống kê Bến Tre, 2011) Phát triển ca cao trong vườn dừa là mô hình xen canh điển hình đã và đang mang lại hiệu quả kinh tế cho người trồng dừa ở Bến Tre, và hiện đang được khuyến cáo nhân rộng ở những địa phương có điều kiện
Trang 213.1.1.2 Tình hình sản xuất dừa ở Trà Vinh
Sau Bến Tre, Trà Vinh là tỉnh có diện tích trồng nhiều dừa ở ĐBSCL, hiện diện tích trồng dừa của tỉnh là 14.552 ha (2010), tăng gần 2.700 ha so với năm
2005 Các huyện có diện tích dừa tăng nhiều là Càng Long và Tiểu Cần với tổng diện tích tăng là 2.253 ha, chiếm 83,54% diện tích gia tăng Tương tự, diện tích thu hoạch của hai huyện này cũng gia tăng 2.144 ha, chiếm 74,81% diện tích gia tăng toàn tỉnh (Niên giám thống kê Trà Vinh, 2011)
Trên địa bàn tỉnh, các huyện trồng nhiều dừa có Càng Long (5.555 ha), Tiểu Cần (2.586 ha) và Châu Thành (2.084 ha) với tổng diện tích trồng là 10.225
ha, chiếm 70,27% và tổng diện tích thu hoạch là 9.112 ha, chiếm 70,40% diện tích thu hoạch toàn tỉnh
Trà Vinh là tỉnh có diện tích trồng dừa không nhiều như Bến Tre, nhưng năng suất dừa ở Trà Vinh khá cao, trung bình đạt gần 14,0 tấn/ha (2010), trong khi năng suất dừa ở Bến Tre chỉ đạt hơn 10,0 tấn/ha Những năm gần đây, năng suất dừa ở Trà Vinh cũng theo xu hướng tăng và các huyện trồng nhiều dừa cũng
là những huyện có năng suất dừa cao như Càng Long (15,78 tấn/ha), Châu Thành (15,99 tấn/ha), riêng huyện Tiểu Cần có diện tích trồng dừa nhiều nhưng năng suất chỉ đạt gần 10,0 tấn/ha
Sản lượng dừa tỉnh Trà Vinh năm 2010 đạt 178.393 tấn, tăng 54.971 tấn
so với năm 2005 Các huyện trồng nhiều dừa ở Trà Vinh cũng là những huyện có sản lượng dừa lớn, bao gồm Càng Long (73.644 tấn), Châu Thành (30.180 tấn),
và Tiểu Cần (25.552 tấn) với sản lượng là 129.376 tấn, chiếm 72,52% sản lượng dừa toàn tỉnh
3.1.1.3 Tình hình sản xuất dừa ở Bình Định
Bình Định là tỉnh có diện tích trồng dừa nhiều nhất vùng DHNTB, diện tích dừa năm 2009 của tỉnh là 10.790 ha, chiếm 60,41% diện tích dừa toàn vùng, với sản lượng đạt 97.360 tấn, chiếm 63,42% sản lượng toàn vùng (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2010)
Trên địa bàn tỉnh, các huyện trồng nhiều dừa có Hoài Nhơn (2.987 ha), Phù Mỹ (2.537 ha), Hoài Ân (1.700 ha) và Phù Cát (1.500 ha) với tổng diện tích
là 8.724 ha, chiếm 89,11%, các huyện còn lại diện tích trồng dừa không đáng kể Tương tự, các huyện trồng nhiều dừa cũng có sản lượng đạt 90.811 tấn, chiếm trên 90% sản lượng toàn vùng
Khác với các tỉnh Bến Tre và Trà Vinh, năng suất dừa luôn có xu hướng tăng trong những năm gần đây, thì năng suất dừa ở Bình Định lại có xu hướng tăng chậm hoặc tăng không đáng kể Năng suất dừa năm 2008 của tỉnh đạt 10,28 tấn/ha, tương đương với năng suất dừa tại Bến Tre và thấp hơn so với năng suất dừa tại Trà Vinh Các huyện trồng nhiều dừa ở Bình Định cũng là những huyện
có năng suất dừa cao như Phù Cát (11,05 tấn/ha), Hoài Ân (10,63 tấn/ha), Phù
Trang 22Nhận xét chung: Bến Tre, Trà Vinh và Bình Định là những địa phương
trồng dừa chính ở ĐBSCL và DHNTB, chiếm trên 95% diện tích dừa cả nước
Nhưng năm gần đây, tùy điều kiện cụ thể của mỗi địa phương mà tình hình sản
xuất dừa cũng có sự thay đổi, cụ thể: các tỉnh Bến Tre và Trà Vinh đều có xu
hướng tăng rõ rệt cả về diện tích, năng suất và sản lượng dừa, trong khi ở Bình
Định sự gia tăng này tương đối chậm Địa phương có năng suất dừa cao là Trà
Vinh (gần 14,0 tấn/ha), trong khi năng suất dừa tại Bến tre và Bình Định là
tương đương, khoảng 10,0 tấn/ha Diện tích và năng suất dừa tăng thời gian qua
có thể do nhu cầu thị trường đối với sản phẩm này và việc đầu tư thâm canh
trong sản xuất dừa ngày càng được quan tâm, nhất là đối với các địa phương
vùng ĐBSCL, nơi mà sản xuất dừa theo hướng tập trung, quy mô lớn và thu
nhập từ dừa đã và đang đóng vai trò quan trọng đối với thu nhập của hộ nông
dân trồng dừa
3.1.2 Một số thông tin chung về nông hộ trồng dừa
3.1.2.1 Một số đặc điểm chung của hộ trồng dừa
Các kết quả khảo sát cho thấy tuổi trung bình của chủ hộ khá cao và không
có sự khác biệt nhiều giữa các địa phương, biến động từ 55,6 tuổi (ở Bến Tre)
đến 58,8 tuổi (ở Bình Định) Đồng thời với tuổi trung bình cao thì các chủ hộ
cũng có số năm kinh nghiệm trồng dừa nhiều, nhất là ở Bình Định có trên 50
năm kinh nghiệm, kế đến là Bến Tre và Trà Vinh đều có trên 40 năm kinh
- Số lđ nông nghiệp và phi nn 0,26 0,26 0,13
5 Kinh nghiệm trồng dừa (năm) 45,0 42,8 51,3
Trái với tuổi trung bình và số năm kinh nghiệm của chủ hộ khá cao, thì
Trang 2370% số hộ có trình độ văn hóa cấp 1 và 2, đặc biệt ở Bình Định có tỷ lệ số hộ mù
chữ còn khá cao (4,5%) Bến Tre là địa phương có tỷ lệ chủ hộ có trình độ văn
hóa cấp 3 cao nhất (20,4%), theo sau là Bình Định (15,2%), và thấp nhất là Trà
Vinh (8,85%) Nhìn chung, tỷ lệ chủ hộ có trình độ trên cấp 3 không nhiều, cao
nhất là Bình Định (4,5%), kế đến là Bến Tre (2,7%) và thấp nhất là Trà Vinh
(1,8%)
Về tình hình nhân khẩu và lao động trong nông hộ cũng cho thấy: Bến Tre
và Trà Vinh là hai địa phương có số nhân khẩu trung bình trên hộ là 4,7 và 4,6
tương ứng, trong khi số nhân khẩu trung bình trên hộ ở Bình Định là 4,3 Các địa
phương có số nhân khẩu cao hơn thì cũng có số lao động nông nghiệp cao hơn,
khoảng 1,8 lao động nông nghiệp trên hộ ở Bến Tre và Trà Vinh, trong ở Bình
Định là 1,1 lao động trên hộ Bình Định là địa phương có số lao động nông
nghiệp thấp, nhưng lại có tỷ lệ hộ có số lao động phi nông nghiệp cao hơn,
khoảng 0,9 lao động phi nông nghiệp trên hộ Ở cả ba địa phương, tỷ lệ hộ có lao
động nông nghiệp và phi nông nghiệp không nhiều, biến động từ 0,1 đến 0,3 lao
động giữa các địa phương
Nhìn chung, với tuổi trung bình cao kết hợp với số năm kinh nghiệm nhiều
và trình độ văn hóa thấp của chủ hộ tại các địa phương khảo sát thấp có thể là
một trong những yếu tố hạn chế việc tiếp thu và ứng dụng có hiệu quả tiến bộ kỹ
thuật trong sản xuất dừa Do vậy, để người nông dân có thể thay đổi tập quán
canh tác truyền thống và tiếp thu, ứng dụng có hiệu quả tiến bộ kỹ thuật trong
sản xuất, cần phải tăng cường các họat động khuyến nông thông qua việc đào
tạo, tập huấn, xây dựng mô hình trình diễn và tổ chức thăm quan đánh giá và
nhân rộng mô hình hiệu quả
3.1.2.2 Một số thông tin chung về vườn dừa
Bảng 3.2: Một số thông tin chung về vườn dừa tại các địa phương khảo sát
TT Đặc điểm Bến Tre Trà Vinh Bình Định
1 Diện tích canh tác TB/hộ (ha) 1,19 1,05 0,35
3 Thời gian trồng đến ra trái (năm) 5,1 5,0 7,1
5 Tình hình sinh trưởng vườn dừa
Kết quả khảo sát ở Bảng 3.2 cho thấy: diện tích trồng dừa trong nông hộ
của các tỉnh Bến Tre và Trà Vinh (vùng ĐBSCL) có sự khác biệt khá rõ rệt so
với Bình Định (vùng DHNTB) Diện tích trồng dừa trong nông hộ tại Bến Tre và
Trang 24tại Bình Định chỉ 0,35 ha/hộ, điều này cho thấy quy mô vườn dừa tại Bình Định khá nhỏ so với vườn dừa tại Bến Tre và Trà Vinh
Về mật độ cây/ha cũng cho thấy có sự khác biệt rõ giữa các địa phương: tại Bến Tre, mật độ trung bình là 205 cây/ha, trong khi ở Trà Vinh là 220 cây/ha
và đặc biệt mật độ trồng ở Bình Định khá cao, tới 247 cây/ha Mật độ trồng khác nhau giữa các địa phương có thể do tập quán canh tác và trình độ thâm canh vườn dừa ở mỗi nơi khác nhau, nhưng cũng không thể loại trừ yếu tố đất đai Các tỉnh Bến Tre và Trà Vinh thuộc vùng đất phù sa ĐBSCL, đất đai màu mỡ hơn nên có xu hướng trồng ở mật độ thưa hơn so với Bình Định thuộc vùng DHNTB, nơi có điều kiện đất đai xấu hơn và nắng nóng nên nông dân ở đây trồng ở mật độ dày hơn nhằm tạo bóng mát cho vườn dừa Cũng do có điều kiện đất đai tốt hơn nên tình hình sinh trưởng của vườn dừa ở các tỉnh Bến Tre và Trà Vinh cũng tốt hơn so với vườn dừa ở Bình Định, có tới 100% số hộ ở Bến Tre và gần 100% số hộ ở Trà Vinh cho rằng vườn dừa của gia đình họ sinh trưởng tốt
và trung bình, trong khi có tới 90% số hộ ở Bình Định cho rằng vườn dừa của họ chỉ sinh trưởng ở mức trung bình Chỉ có 9% số hộ ở Bình Định cho rằng sinh trưởng của vườn dừa ở mức tốt, trong khi tại Trà Vinh là 22,12% và đặc biệt tại Bến Tre có tới 44,25% số hộ cho rằng vườn dừa của họ sinh trưởng tốt Và cũng
có thể do điều kiện đất đai tốt hơn nên thời gian từ trồng đến ra trái ở các tỉnh Bến Tre và Trà Vinh chỉ trong 5 năm, trong khi ở Bình Định là 7 năm Đối với chu kỳ khai thác thì tùy địa phương khác nhau cũng có sự đánh giá khác nhau, tuy nhiên việc đánh giá như vậy cũng chỉ có tính chất tương đối vì thực tế đa số các vườn dừa vẫn đang trong thời kỳ kinh doanh, thậm chí có những vườn dừa
cả trăm tuổi
3.1.2.3 Mục đích trồng dừa của hộ gia đình
Bảng 3.3: Mục đích trồng dừa của hộ gia đình
Bến Tre Trà Vinh Bình Định Mục đích trồng dừa
Số hộ % Số hộ % Số hộ %
- Chỉ bán trái tươi (% số hộ) 1 0,90 0 0,00 0 0,00
- Chỉ bán trái khô (% số hộ) 103 91,15 90 79,64 104 92,86
- Bán trái tươi và khô (% số hộ) 9 7,95 6 5,30 8 7,14
- Bán trái khô & trái sáp 0 0 17 15,04 0 0,00
Kết quả Bảng 3.3 cho thấy: hầu hết nông dân ở các địa phương khảo sát đều trồng dừa với mục đích bán trái khô, theo sau là trồng cho mục đích kết hợp vừa bán trái khô vừa bán trái tươi với số hộ biến động từ 5,3% (ở Trà Vinh), đến 7,14% (ở Bình Định) và 7,95% số hộ (ở Bến Tre) Số hộ trồng dừa để bán trái khô và trái Sáp chỉ có ở Trà Vinh (vì đây là địa phương duy nhất có trồng giống dừa Sáp) và trồng dừa chỉ để bán tươi hầu như không có
Trang 253.1.2.4 Một vài phương thức thâm canh được áp dụng cho các vườn dừa
Nhìn chung có hai xu hướng khác nhau trong phát triển vườn dừa, đó là trồng tập trung ở các tỉnh Bến Tre và Trà Vinh, chiếm tới trên 95% số hộ, trong khi tại Bình Định thì nông dân vừa trồng theo hướng tập trung vừa trồng theo hướng rải rác (phân tán) Tuy nhiên, để cải thiện thêm cho thu nhập gia đình, phần lớn nông dân trồng dừa đều kết hợp nuôi trồng xen trong vuờn dừa và xu hướng trồng xen nhiều hơn ở Bến Tre (gần 50% số hộ) và xu hướng nuôi xen nhiều hơn ở Trà Vinh và Bình Định (49,6-60,7% tương ứng)
Bảng 3.4: Các phương thức thâm canh được áp dụng cho vườn dừa
cụ thể: tại Bến Tre có bò, heo, dê, gà, và tôm cá; tại Trà Vinh có bò, heo, gà cá;
và tại Bình Định có bò, trâu, heo, gà, tôm
Bên cạnh xu hướng nuôi trồng đa canh trong vườn dừa thì các địa phương cũng quan tâm tới việc chăm sóc cho vườn dừa thông qua viêc bón phân, phòng trừ sâu bệnh hại, tuy nhiên thì kỹ thuật bồi bùn chỉ được áp dụng đối với các tỉnh vùng ĐBSCL như Bến Tre và Trà Vinh và chưa được áp dụng đối với vùng DHNTB như Bình Định Thực tế trên cho thấy: do có sự khác biệt về đất đai, điều kiện khí hậu và tập quán canh tác đã đưa đến sự khác biệt trong các phương thức đầu tư thâm canh cho vườn dừa
3.1.3 Nguồn gốc các giống dừa trong sản xuất dừa của nông hộ
Về nguồn gốc của các giống dừa cũng cho thấy: có hai nguồn cung cấp giống chủ yếu trong sản xuất, đó là tự nhân giống và mua từ các nhà vườn Những năm gần đây, thông qua các chương trình, dự án trồng dừa thì một số giống dừa đặc sản và giống dừa Lai với năng suất cao đã được các Trung tâm
Trang 26phương nhân để cung ứng cho nhu cầu giống trong sản xuất Tuy nhiên, nguồn cung cấp giống theo hướng này còn rất hạn chế, chỉ có trên địa bàn tỉnh Trà Vinh
và tập trung vào 3 giống, đó là dừa Dứa, dừa Sáp và dừa Lai (Bảng 3.5)
Bảng 3.5: Nguồn gốc giống dừa trong sản xuất dừa của nông
Tự nhân giống Mua của
nhà vườn
Mua của nhà nước
và ở Bình Định có từ 75 đến gần 100% số hộ tự nhân giống đối với các giống dừa Ta và dừa Dâu Khác với nguồn gốc giống của các giống dừa Ta và Dâu chủ yếu do nông hộ tự nhân thì đối với giống dừa Xiêm nguồn cung cấp giống chủ yếu từ hai nguồn, đó là tự nhân giống hoặc mua từ các nhà vườn khác
Thực tế trên cho thấy – nhu cầu giống dừa cho sản xuất là có, tuy nhiên nếu theo hướng tự nhân giống thì chất lượng vườn dừa sẽ không đồng đều, do đó
sẽ ảnh hưởng đến năng suất và thu nhập của người trồng dừa Do vậy, trong các giải pháp kỹ thuật phát triển vườn dừa cần quan tâm tới hệ thống nhân giống chất lượng cao phục vụ cho nhu cầu giống của người trồng dừa
3.1.4 Cơ cấu giống và năng suất của các giống dừa trong vườn của nông hộ
Theo kết quả điều tra ở Bảng 3.6 cho thấy: các giống dừa đang được trồng phổ biến trong sản xuất vẫn là các giống dừa Ta, dừa Dâu và dừa Xiêm, đặc biệt
là giống dừa Ta có 100% số hộ tại các địa phương khảo sát đều trồng giống dừa này Tuy nhiên, đối với giống dừa Dâu và dừa Xiêm thì tỷ lệ có sự thay đổi giữa các địa phương, cụ thể ở Bến Tre và Bình Định thì tỷ lệ hộ trồng giống dừa
Trang 273,6% Ngược lại, tại Trà Vinh thì tỷ lệ hộ trồng giống dừa Dâu khá cao (29,2%), trong khi số hộ trồng giống dừa Xiêm rất thấp (5,30%) Bên cạnh các giống dừa đang được trồng phổ biến trong sản xuất, những năm gần đây thông qua các chương trình, dự án dừa một vài giống dừa đã được bổ sung vào cơ cấu giống của các địa phương trong đó có Trà Vinh và Bến Tre như giống dừa Dứa và dừa Lai, tuy nhiên diện tích của các giống này còn rất hạn chế Và trong số 3 địa phương khảo sát, chỉ có Trà Vinh là địa phương duy nhất có truyền thống trồng giống dừa Sáp và diện tích tập trung chủ yếu tại xã Hòa Tân, huyện Cầu Kè, đây
là giống dừa có chất lượng và giá trị cao Mặc dù các điểm thực hiện điều tra tại Bến Tre, không xuất hiện các hộ trồng dừa Dứa và dừa Lai, nhưng thực tế tại Bến Tre cũng có mô hình thử nghiệm dừa Dứa và dừa Lai do Viện Nghiên cứu Dầu và Cây có dầu thực hiện Ngoài ra, tỉnh Bến Tre cũng đã thực hiện dự án phát triển diện tích dừa Dứa tại Bến Tre
Bảng 3.6: Cơ cấu giống và năng suất của các giống dừa theo độ tuổi
Năng suất (số trái/cây/năm)
(ha) năm 5-10
11-20 năm
>20 năm
(*): Năng suất cây dừa Sáp nghĩa là gồm cả trái Sáp và trái thường (trái Sáp chiếm khoảng 10% -20%)
Về năng suất cũng cho thấy: theo thời gian thì năng suất trái/cây của các giống đều theo xu hướng gia tăng và đạt năng suất cao khi tuổi cây từ 20 năm tuổi trở lên như các giống Ta, Dâu và dừa Dứa Riêng giống dừa Xiêm có tiềm năng năng suất khá cao, gấp 2 lần so với các giống dừa khác và năng suất cao có thể đạt được ngay trong thời gian đầu của thời kỳ kinh doanh (khoảng 110-120 trái/cây/năm) Đối với giống dừa Lai – do mới được khuyến cáo những năm gần đây nên chưa thấy được tiềm năng năng suất Tuy nhiên ngay trong thời gian đầu của thời kỳ kinh doanh thì năng suất của giống dừa Lai cũng khá cao, trung bình
Trang 28khoảng 73 trái/cây/năm, thấp hơn so với giống dừa Xiêm, nhưng cao hơn so với các giống dừa Ta, Dâu và dừa Sáp
So sánh năng suất của các giống giữa các địa phương cũng cho thấy, do có cùng điều kiện đất đai và khí hậu tương tự nên năng suất các giống dừa ở Bến Tre và Trà Vinh không khác nhau nhiều, nhưng so với Bình Định thì năng suất dừa ở các địa phương này cao gấp hơn hai lần Có thể có một vài nguyên nhân đưa đến năng suất dừa ở Bình Định thấp như đất đai xấu hơn hay điều kiện khí hậu khắc nghiệt hơn hoặc các biện pháp kỹ thuật chưa phù hợp như trồng mật độ quá dày hay đầu tư phân bón thấp… Do vậy, có thể thông qua các giải pháp kỹ thuật để hướng tới cải thiện năng suất dừa nói chung và tại Bình Định nói riêng
3.1.5 Đầu tư và thu nhập từ vườn dừa trong thời kỳ kiến thiết cơ bản
Kết quả khảo sát đầu tư và thu nhập từ vườn dừa trong thời kỳ kiến thiết
cơ bản ở Bảng 3.7 cho thấy: xu hướng trồng mới chủ yếu tại các tỉnh ĐBSCL, đặc biệt tại Trà Vinh, riêng tại Bình Định tỷ lệ hộ trồng mới không đáng kể Các
hộ trồng mới chủ yếu thông qua các phương thức cải tạo vườn tạp và trồng mới theo hướng mở rộng diện tích Tùy điều kiện cụ thể của mỗi địa phương và thời điểm đầu tư mà chi phí đầu tư cho thời kỳ kiến thiết cơ bản có khác nhau với tổng chi phí biến động từ 16,27 triệu đồng/ha (tại Bình Định) đến 24,58 triệu đồng/ha (tại Trà Vinh), và Bến Tre là địa phương có đầu tư cho vườn dừa thời kỳ KTCB cao hơn cả (34,74 triệu đồng/ha) Trong tổng chi phí đầu tư cho vườn dừa thời kỳ KTCB thì các chi phí xây dựng đồng ruộng, phân bón và chăm sóc vườn chiếm phần lớn, khoảng 77,58% (ở Bến Tre), 76,28%(ở Trà Vinh) và 63,68% (ở Bình Định), đặc biệt chi phí giống cho việc trồng mới tại Bình Định khá cao, trên 5,0 triệu đồng/ha
Do chi phí đầu tư trồng mới cao và trong thời gian dài không cho thu nhập nên các nhà vườn thường kết hợp nuôi trồng xen trong thời gian này để lấy ngắn nuôi dài Tuy nhiên, tùy điều kiện cụ thể của mỗi địa phương và loại cây, con được nuôi trồng xen trong thời kỳ KTCB mà thu nhập từ nguồn này cũng khác nhau, biến động từ 28,00 triệu đồng/ha (ở Bình Định), đến 37,08 triệu đồng/ha (ở Trà Vinh) và 82,50 triệu đồng/ha (ở Bến Tre) Như vậy, có thể thấy – tuy chi phí đầu tư trồng mới cao, nhưng với các hình thức nuôi trồng xen trong vườn dừa đã góp phần cải thiện đáng kể thu nhập của hộ trồng dừa Lãi thuần trong thời kỳ KTCB tại Bến Tre trên 50 triệu đồng/ha, trong khi tại Trà Vinh và Bình Định thu nhập từ nuôi trồng xen chỉ đủ bù đắp chi phí đầu tư Từ thực tế của Bến Tre, nên tổng kết và nhân rộng các mô hình nuôi trồng xen trong vườn dừa thời kỳ KTCB
để giảm bớt khó khăn cho những hộ có nhu cầu đầu tư trồng mới vườn dừa và nhà nước cũng cần có những chính sách phù hợp khuyến khích đầu tư thâm canh phát triển vườn dừa thời gian tới
Trang 29Bảng 3.7: Đầu tư và thu nhập từ vườn dừa trong thời kỳ KTCB (5 năm đầu)
Giống Phân Thuốc Chăm Sóc Bùn Bồi Tổng
Thu
từ nuôi trồng xen
3.1.6 Đầu tư trồng dừa trong thời kỳ kinh doanh
Trước đây, người nông dân trồng dừa chủ yếu theo lối quảng canh (đầu tư
rất thấp hoặc không đầu tư), những năm gần đây do thu nhập từ trồng dừa được
cải thiện, nhất là những năm dừa có giá và theo khuyến cáo của các nhà khoa học
thì nông dân ở các vùng trồng dừa cũng quan tâm hơn tới việc đầu tư cho vườn
dừa, nhất là bón phân Tuy nhiên, tùy điều kiện cụ thể của mỗi địa phương mà
mức độ đầu tư phân bón có khác nhau, trong số ba địa phương khảo sát thì nông
dân trồng dừa ở Bến Tre có xu hướng đầu tư phân bón cao hơn so với Trà Vinh
và Bình Định, cụ thể mức bón NPK ở Bến Tre là 73,4 kgN, 73,4 kg P2O5 và 55,0
kg K2O; tại Trà Vình là 46,8 kgN, 46,8 kg P2O5 và 35,1 kg K2O; và tại Bình
Định là 81,0 kgN, 26,0 kg P2O5 và 10,0 kg K2O/ha Thực tế trên cho thấy: lượng
đạm và lân bón cho vườn dừa tại Trà Vinh còn thấp so với mức bón tại Bến Tre;
đặc biệt mức bón lân và kali ở Bình Định còn rất thấp so với mức đầu tư tại Bến
Trang 30thể: tại Bến Tre trung bình mỗi năm bồi bùn một lần, trong khi tại Trà Vinh gần
hai năm bồi bùn một lần và tại Bình Định nông dân trồng dừa không áp dụng kỹ
thuật này Như vậy, lại một lần nữa thực tế sản xuất cho thấy mức độ đầu tư
thâm canh vườn dừa rất khác nhau giữa các địa phương, điều này sẽ ảnh hưởng
tới năng suất, hiệu quả và thu nhập của người trồng dừa
Bảng 3.8: Mức đầu tư cho các vườn dừa thời kỳ kinh doanh
3.1.7 Hình thức tiêu thụ dừa tại các địa phương
Do đặc thù của cây dừa là cây lâu năm với chiều cao cây khá cao nên việc
thu hoạch dừa khó khăn hơn so với thu hoạch các cây trồng khác Mặt khác việc
thu hoạch dừa cũng cần có kinh nghiệm và sức khỏe nên đã từ lâu nông dân
trồng dừa thường có thói quen bán dừa ngay tại vườn cho thương lái và họ đảm
nhiệm luôn cả khâu thu hoạch Và thực tế cho thấy hầu hết nông dân đều bán dừa
ngay tại vườn cho thương lái và số người bán tại chợ không đáng kể
Bảng 3.9: Các hình thức tiêu thụ dừa của nông dân tại các địa khảo sát
3.1.8 Nguồn thu nhập của nông dân trồng dừa
Nhìn chung, nguồn thu nhập trong năm của hộ nông dân trồng dừa ở các
địa phương rất đa dạng với tổng thu nhập trong năm khác nhau giữa các địa
phương Bến Tre là địa phương có tổng thu nhập trong năm của người trồng dừa
lớn hơn cả, khoảng 68 triệu đồng/hộ, kế đến là Trà Vinh khoảng 60 triệu
đồng/hộ và thấp nhất là Bình Định khoảng 50 triệu đồng/hộ Tại các tỉnh Bến
Tre và Trà Vinh, nguồn đóng góp chính cho thu nhập của nông hộ trong năm là
từ cây dừa, chiếm 48,64 (ở Bến Tre) và 45,48% (ở Trà Vinh), trong khi tại Bình
Đình cây dừa chỉ đóng góp khoảng 7,46% cho thu nhập của hộ trong năm Trong
khi nguồn thu nhập chính của hộ trồng dừa tại Bến Tre và Trà Vinh từ cây dừa,
thì nguồn thu nhập chính của nông hộ tại Bình Định lại từ các hoạt động làm
thuê, làm công ăn lương, chiếm tới 53,56% thu nhập trong năm của hộ và đây
cũng là một trong những nguyên nhân giải thích tại sao nông dân trồng dừa ở
Bình Định đầu tư thâm canh thấp hơn so với nông dân trồng dừa ở Bến Tre và
Trang 31nguồn thu nhập khác như thu nhập từ trồng lúa, nuôi trồng xen trong vườn dừa,
mở dịch vụ, buôn bán nhỏ lẻ ở nông thôn, làm công ăn lương và một số hộ có thêm thu nhập từ các chính sách xã hội (thương binh, người có công, …) Riêng tại Bình Định, nông hộ trồng dừa còn có thêm thu nhập từ các hoạt động đánh bắt (nuôi trồng) thủy sản và nghề tiểu thủ công nghiệp
Bảng 3.10: Nguồn thu nhập trong năm của nông hộ trồng dừa
Tr.đ/hộ/năm
Đóng góp (%)
Tr.đ/hộ/
năm
Đóng góp (%)
Thực tế trên cho thấy: thu nhập của nông dân trồng dừa không cao, nhất là
ở Bình Định do quy mô trồng dừa nhỏ, khả năng đầu tư thâm canh hạn chế nên thu nhập từ dừa ở đây rất thấp, chưa tới 10% thu nhập của hộ trong năm Nhưng cũng do có các hình thức đa canh và đa dạng hóa ngành nghề trong nông hộ nên thu nhập của nông dân trồng dừa nói chung, nông dân trồng dừa Bình Định nói riêng đã được cải thiện đáng kể Do vậy, trong chiến lược phát triển vườn dừa thời gian tới, bên cạnh việc đầu tư thâm canh cho vườn dừa, cần quan tâm tới các hình thức đa canh trong vườn dừa kết hợp với đa dạng hóa ngành nghề trong nông hộ để hướng tới cải thiện thu nhập và phát triển bền vững
3.1.9 Tình hình vay vốn đầu tư cho vườn dừa của hộ gia đình
Kết quả khảo sát cho thấy: hiện có khá nhiều nguồn vốn để nhà vườn có thể vay đầu tư phát triển vườn dừa như ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn, ngân hàng chính sách xã hội và các quỹ tín dụng như quỹ tín dụng nhân dân, hội phụ nữ và hội cựu chiến binh Nhưng thực tế cho thấy: số hộ vay không nhiều, cụ thể: chỉ có 1,8% số hộ ở Bến Tre, 4,5% hộ ở Trà Vinh, và 3,6%
Trang 3212 tháng và với lãi suất thay đổi theo nguồn vay – cao hơn từ các ngân hàng và
thấp hơn từ các tổ chức tín dụng Mức vay từ các quỹ tín dụng như của hội phụ
nữ, hội cựu chiến binh thường thấp và với mức lãi suất thấp hơn nhằm hỗ trợ cho
những phụ nữ hay hộ có hoàn cảnh khó khăn để tạo việc làm cho họ, thông qua
đó cải thiện thu nhập
Bảng 3.11: Tình hình vay vốn đầu tư cho vườn dừa tại tại các địa phương
Lãi suất (%/tháng)
Số tháng vay (tháng)
Tổng tiền lãi phải trả (tr.đồng)Ngân hàng
Về mục đích của việc vay cũng cho thấy: các hộ vay chủ yếu đầu tư cho
việc trồng mới như ở Bến Tre và Trà Vinh, hoặc cải tạo vườn tạp như ở Trà Vinh
và Bình Định Hầu như không có hộ trồng dừa nào vay để mua phân, thuốc bảo
vệ thực vật để đầu tư cho vườn dừa (Bảng 3.12)
Bảng 3.12: Mục đích vay của hộ trồng dừa
Trang 33* Một số khó khăn khi tiếp cận với các nguồn vốn:
Bảng 3.13: Những khó khăn khi vay vốn trồng dừa
có tài sản thế chấp và định mức vay quá thấp là những khó khăn hạn chế khả năng tiếp cận nguồn vốn của các hộ trồng dừa Trong các khó khăn nêu trên, có tới 50% đến hơn 60% số hộ cho rằng lãi suất cao là trở ngại đối với họ, kế đến là thủ tục phức tạp với 32% đến 40% số hộ, rồi không có tài sản thế chấp và định mức vay thấp
Từ thực tế nhu cầu đầu tư cho vườn dừa cũng có thể giải thích một phần tại sao hộ nông dân ở nhiều vùng trồng dừa ít đầu tư cho vườn dừa hoặc có đầu
tư cho vườn dừa nhưng chưa đúng mức và phù hợp với tình hình sinh trưởng phát triển của cây Do vậy, để khuyến khích đầu tư thâm canh, phát triển vườn dừa, bên cạnh các hoạt động khuyến nông và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, cần phải có những chính sách phù hợp, trong đó có chính sách tín dụng, bao gồm mức vay, thời gian vay hợp lý với mức lãi suất thấp, đặc biệt là thủ tục vay đơn giản hơn để người trồng dừa có thể tiếp cận
3.1.10 Những khó khăn, trở ngại đối với nông dân trồng dừa và những giải pháp của họ
3.1.10.1 Những khó khăn, trở ngại đối với nông dân trồng dừa
Kết quả khảo sát ở Bảng 3.14 cho thấy, có khá nhiều khó khăn, trở ngại
đối với người nông dân trồng dừa, nhất là các biện pháp kỹ thuật, bao gồm cả giống, kỹ thuật canh tác, sử dụng phân bón, phòng trừ sâu bệnh hại Bên cạnh những vấn đề liên quan đến kỹ thuật, còn có những vấn đề liên quan đến đất đai, nước tưới, vốn cho sản xuất, giá đầu tư và tiêu thụ sản phẩm Trong số rất nhiều khó khăn, trở ngại đối với sản xuất dừa thì giá vật tư cao và giá bán sản phẩm không ổn định luôn là trở ngại lớn nhất đối với người sản xuất dừa ở tất cả các địa phương nơi tiến hành khảo sát, kế đến là các biện pháp phòng trừ sâu bệnh hại dừa, biến động từ 69% hộ (ở Trà Vinh), đến 70,5% số hộ (ở Bình Định) và 91,2% số hộ (ở Bến Tre) Theo sau những biện pháp phòng trừ sâu bệnh hại là những khó khăn trở ngại liên quan đến kỹ thuật và vốn đầu tư sản xuất, tuy nhiên thì tỷ lệ hộ gặp khó khăn trở ngại cũng khác nhau giữa các địa phương Chẳng hạn, ở Trà Vinh có tỷ lệ hộ thiếu vốn cao hơn cả (19,5%), trong khi ở Bến Tre là
Trang 34kỹ thuật trồng và chăm sóc cây con, trong khi tỷ lệ cao hơn ở Bến Tre và Trà
Vinh đối với kỹ thuật sử dụng phân bón Đặc biệt, thiếu đất canh tác và thiếu
nước tưới đang là những khó khăn đối với nông dân trồng dừa ở Bình Định
(chiếm tới 66,1% và 18,8% số hộ tương ứng) Thiếu lao động và khả năng tiếp
cận vốn hạn chế cũng là những khó khăn đối với nông dân trồng dừa, tuy nhiên
với tỷ lệ hộ thấp hơn so với những khó khăn khác ở tất cả các địa phương khảo
5 Thu nhập thấp thời gian trồng mới 29 25,7 37 32,7 38 33,9
6 Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây con 13 11,5 21 18,6 40 35,7
7 Thiếu kỹ thuật canh tác tốt 21 18,6 24 21,2 32 28,6
8 Thiếu kỹ thuật sử dụng phân bón 26 23,0 34 30,1 14 12,5
9 Biện pháp phòng trừ sâu bệnh hại 103 91,2 78 69,0 79 70,5
12 Giá vật tư cao 113 100,0 113 100,0 112 100,0
13 Giá dừa đầu ra không ổn định 113 100,0 113 100,0 112 100,0
3.1.10.2 Giải pháp của nông dân trồng dừa đối với những khó khăn
Tìm hiểu những giải pháp của nông dân đối với những khó khăn của họ
cho thấy, để ổn định sản xuất dừa mỗi nông dân cũng tự tìm kiếm những giải
pháp phù hợp cho mình, tuy nhiên không phải giải pháp nào cũng mang tính tích
cực, mà cũng có những giải pháp mang tính tình thế, thậm chí tiêu cực (không
thúc đẩy sản xuất) Chẳng hạn, để giải quyết vấn đề vốn sản xuất, bên cạnh việc
vay ngân hàng, họ còn vay của bà con, họ hàng để đầu tư sản xuất, một số hộ
phải mua thiếu để đầu tư cho vườn dừa hoặc thậm chí hạn chế chăm sóc vườn
dừa để giảm bớt đầu tư trong lúc khó khăn Hoặc để giải quyết vấn đề thiếu lao
động chủ hộ đã có những giải pháp tích cực như thuê lao động thời vụ hoặc theo
hình thức đổi công, tuy nhiên cũng có hộ có những giải pháp kém tích cực hơn
như giảm bớt các hoạt động chăm sóc vườn dừa Hay các giải pháp tích cực khác
như nuôi trồng xen trong vườn dừa trồng mới để có thêm thu nhập hoặc đa dạng
hóa sản phẩm khi giá dừa không ổn định, hoặc tìm hiểu thêm về giống và kỹ
Trang 35cực này, cũng có những giải pháp còn hạn chế, chưa thúc đẩy pháp triển sản xuất
như mua giống trồng mới không rõ nguồn gốc; hạn chế đầu tư và chăm sóc khi
giải quyết vấn đề thiếu lao động, thiếu vốn sản xuất hay giá vật tư cao…
Bảng 3.15: Những giải pháp cho những khó khăn
Thiếu vốn, lãi
suất cao
Thuê lao động (bồi bùn,
Đổi công với hàng xóm 8 7,1 4 3,5 2 1,8
Thiếu lao động
Giá vật tư cao
Tìm kiếm thông tin qua
Giá dừa đầu ra
không ổn định
Chế biến các sản phẩm từ dừa (cơ sở chế biến, thu mua)
Thực tế trên cho thấy – trong sản xuất nông nghiệp nói chung, sản xuất
dừa nói riêng, người nông dân luôn phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, trở ngại
và để ổn định sản xuất họ luôn phải tìm cho mình những giải pháp để thích ứng
Trang 36đa dạng, trong đó có những giải pháp tích cực giúp phát triển sản xuất, cũng có những giải pháp mang tính tình thế, và cũng có những giải pháp thiếu bền vững
Do vậy, để góp phần giảm bớt những khó khăn trong quá trình sản xuất của người nông dân, rất cần có những chủ trương, chính sách sát với tình hình cụ thể của địa phương, sự quan tâm và hỗ trợ từ chính quyền, đoàn thể các cấp để họ có thể ổn định sản xuất và cuộc sống
3.1.11 Nguồn tiến bộ kỹ thuật đối với nông dân trồng dừa
Các kết quả khảo sát ở Bảng 3.16 cho thấy – có nhiều nguồn tiến bộ kỹ thuật khác nhau mà người nông dân có thể tiếp cận như kinh nghiệm sản xuất, học hỏi từ bà con, học từ các lớp huấn luyện khuyến nông, học từ sách báo, tài liệu và thông qua các phương tiện thông tin đại chúng như đài và tivi Tuy nhiên,
có thể do trình độ và khả năng tiếp cận với tiến bộ kỹ thuật hạn chế nên hầu hết nông dân đều tiếp cận với kỹ thuật sản xuất dừa thông qua kinh nghiệm sản xuất
và học hỏi từ bà con nông dân khác Tiếp nhận tiến bộ kỹ thuật thông qua các lớp huấn luyện khuyến nông đang có vị trí quan trọng đối với nông dân trồng dừa ở Bến Tre và Trà Vinh (chiếm tới 46,9% và 40,7% tương ứng), trong khi ở Bình Định, nguồn tiến bộ kỹ thuật này chỉ chiếm gần 20% số hộ phỏng vấn Bên cạnh nguồn thông tin tiến bộ kỹ thuật thông qua các lớp huấn luyện khuyến nông, thì nguồn thông tin tiến bộ kỹ thuật thông qua sách báo, tài liệu và các phương tiện thông tin đại chúng cũng góp phần quan trọng giúp người nông dân tiếp thu tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất dừa, chiếm 23% (ở Bến Tre), 17,6% (ở Trà Vinh), và 35,6% (ở Bình Định)
Bảng 3.16: Nguồn tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất dừa
2 Học hỏi từ nông dân khác 113 100 113 100 107 95,5
3 Học từ các lớp huấn luyện khuyến nông 53 46,9 46 40,7 22 19,6
4 Học từ sách báo, tài liệu khuyến nông 18 15,9 10 8,8 21 18,7
5 Học từ nguồn thông tin đại chúng (radio,
TV…)
8 7,1 10 8,8 19 16,9
Về khả năng tiếp cận với cán bộ kỹ thuật cũng cho thấy – hầu hết nông dân được phỏng vấn đều có cơ hội tiếp cận với cán bộ kỹ thuật (cán bộ nông nghiệp và cán bộ khuyến nông), trong đó số người có cơ hội tiếp xúc với cán bộ
kỹ thuật từ 3-5 lần trong năm biến động từ 41,6% (ở Bến Tre), đến 42,5% (ở Trà Vinh) và 51,4% (ở Bình Định) Số người có cơ hội tiếp xúc với cán bộ kỹ thuật
từ 1-3 lần trong năm cũng khá cao, 40,1% (ở Bình Định) và số người có cơ hội tiếp xúc nhiều hơn với cán bộ kỹ thuật (trên 5 lần trong năm) chủ yếu ở Bến Tre
Trang 37Bảng 3.17: Khả năng tiếp cận cán bộ khuyến nông, cán bộ nông nghiệp
* Các tổ chức chính trị - xã hội mà nông dân và gia đình họ là thành viên:
Qua kết quả khảo sát ở Bảng 3.18 cho thấy – có khá nhiều tổ chức chính trị - xã hội ở khu vực nông thôn mà người nông dân hay các thành viên trong gia đình họ là thành viên như: hội nông dân, hội phụ nữ, câu lạc bộ khuyến nông, các hợp tác xã, hội cựu chiến binh và hội người cao tuổi Trong số các tổ chức của người nông dân ở khu vực nông thôn có hội nông dân và hội phụ nữ chiếm
số đông nông dân tham gia (từ gần 40-60% số hộ) Bên cạnh hai tổ chức chiếm
số đông nông dân ở khu vực nông thôn, một bộ phận nông dân còn tham gia trong các tổ chức như các câu lạc bộ khuyến nông, hợp tác xã, hội cựu chiến binh và hội người cao tuổi
* Những hỗ trợ từ các tổ chức xã hội đối với người nông dân:
Nhìn chung, các tổ chức chính trị - xã hội ở khu vực nông thôn với chức năng và nhiệm vụ khác nhau nhưng đều có những hỗ trợ cụ thể đối với người nông dân và cộng đồng dân cư ở nông thôn, nhất là trong lĩnh vực phát triển sản xuất nông nghiệp Kết quả khảo sát cho thấy – những thông tin về tiến bộ kỹ thuật, về giống mới, về giao lưu học hỏi kinh nghiệm, hỗ trợ vốn vay phát triển sản xuất là những hỗ trợ từ các tổ chức chính trị - xã hội (hội nông dân, hội phụ
nữ, hội cựu chiến binh, hội người cao tuổi) hay những tổ chức nông dân (hợp tác
xã, câu lạc bộ khuyến nông) để giúp người nông dân phát triển sản xuất dừa tại địa phương Trong số các hoạt động hỗ trợ này thì vai trò của hội nông dân và
Trang 38nghiệm, các tổ chức như hội phụ nữ, hội cựu chiến binh còn hỗ trợ vốn vay với
lãi suất thấp cho các thành viên có hoàn cảnh khó khăn để tạo việc làm, phát
triển kinh tế hộ, cải thiện thu nhập
Bảng 3.19: Những việc mà gia đình nhận được từ các tổ chức
3.1.13 Nhu cầu kỹ thuật của nông dân trồng dừa và những đề xuất thúc đẩy
phát triển vườn dừa ở địa phương
* Nhu cầu kỹ thuật của nông dân trồng dừa:
Cũng như các cây trồng hoặc vật nuôi khác, kỹ thuật luôn là nhu cầu cần
thiết của nhiều nông dân trồng dừa nhằm hướng tới nâng cao năng suất và hiệu
quả sản xuất dừa Theo kết quả khảo sát cho thấy – trong số các nhu cầu về kỹ
thuật thì phòng trừ sâu bệnh hại dừa luôn được nhiều nông dân yêu cầu nhất (có
tới 53% nông dân ở Trà Vinh, 58,45 ở Bến Tre và 77,6% ở Bình Định yêu cầu),
điều này cho thấy sâu bệnh hại dừa luôn là vấn đề đối với họ Theo sau sâu bệnh
hại, thì kỹ thuật nuôi trồng xen trong vườn dừa cũng được nhiều nông dân quan
tâm nhằm giảm bớt rủi ro và góp phần cải thiện thu nhập Bên cạnh đó, để hướng
tới đầu tư thâm canh cho vườn dừa thì những thông tin về giống mới, kỹ thuật
Trang 39trồng, chăm sóc, và bón phân cho vườn dừa cũng được nhiều bà con nông dân ở các vùng trồng dừa yêu cầu (Bảng 3.20)
Bảng 3.20: Nhu cầu kỹ thuật của nông dân trồng dừa
1 Thông tin về giống dừa mới, năng suất cao 24 21,2 18 15,9 12 10,7
2 Kỹ thuật trồng mới với giống dừa năng
suất cao
29 25,6 20 17,7 25 22,3
3 Kỹ thuật chăm sóc tăng năng suất dừa 27 23,9 30 26,5 30 26,7
4 Kỹ thuật nuôi trồng xen trong vườn dừa,
tăng thu nhập
45 39,8 53 46,9 43 38,3
5 Kỹ thuật phòng trừ sâu bệnh hại dừa 66 58,4 60 53,0 87 77,6
6 Kỹ thuật bón phân cho cây dừa 24 21,2 32 28,3 44 39,2
* Những đề xuất thúc đẩy phát triển vườn dừa ở địa phương:
Từ thực tế sản xuất dừa trong nông hộ và những khó khăn trở ngại trong sản xuất, thông qua việc thăm dò những ý kiến, đề xuất của người trồng dừa cho thấy – để thúc đẩy phát triển vườn dừa theo hướng ổn định, bền vững, nông dân trồng dừa luôn cần có những chính sách hỗ trợ và ổn định giá dừa cũng như giá vật tư nông nghiệp Qua khảo sát cho thấy, có 100% nông dân ở Bến Tre và Trà Vinh quan tâm tới vấn đề này, tuy nhiên chỉ có 31,2% nông dân ở Bình Định quan tâm tới vấn đề này Điều này cho thấy, cũng giống như nhiều sản phẩm nông nghiệp khác, các sản phẩm từ dừa cũng phụ thuộc rất nhiều vào giá cả thị trường (cả đầu vào và đầu ra) và điều này sẽ tác động trực tiếp tới thu nhập của người trồng dừa, tới việc đầu tư thâm canh và phát triển bền vững vườn dừa Bên cạnh các chính sách hỗ trợ, cần phải quan tâm hỗ trợ về giống và kỹ thuật, trong
đó chú ý tới các biện pháp phòng trị bọ dừa hiệu quả Trong số nhiều nông dân ở Bến Tre và Trà Vinh đưa ra những ý kiến, đề xuất của mình nhằm thúc đẩy phát triển sản xuất dừa, thì vẫn còn 31,2% nông dân ở Bình Định không đưa ra ý kiến
gì
Trang 40Bảng 3.21: Những đề xuất thúc đẩy phát triển vườn dừa ở địa phương
3.2.1.1 Đối với giống dừa cao (Dừa lấy dầu)
Bảng 3.22: Các đặc điểm về thân của một số giống dừa lấy dầu
Giống
dừa
Tỉnh Tuổi
cây (năm)
Chiều cao thân (m)
Chu vi gốc cách mặt đất 20 cm (cm)
Chu vi thâncách mặt đất 150 cm (cm)
Hệ số phình gốc
Số sẹo lá trong khoảng cách từ 1-2 mét (sẹo)