2.3.1 Tạo lập hệ thống chuyển giao công nghệ có hiệu quả với chi phí thấp nhằm tăng cường cơ hội ngặp nhau giữa người mua và người bán và làm giảm chi phí cho quá trình tìm kiếm đối tác
Trang 1CÔNG NGHỆ TẠI VIỆT NAM
HÀ NỘI - 2012
Trang 21.1 Những vấn đề chung về Sàn giao dịch công nghệ 4
1.4 Các yếu tố quyết định sự hình thành và phát triển của Sàn giao
dịch công nghệ
11
1.4.3 Mạng lưới tổ chức hỗ trợ, xúc tiến chuyển giao công nghệ 15
DỊCH CÔNG NGHỆ
20
2.1 Chính sách hỗ trợ và thực tiễn hoạt động của Sàn giao dịch công
nghệ tại Trung Quốc
2.2.3 Những bài học rút ra từ kinh nghiệm tổ chức và hoạt động của
Sàn giao dịch công nghệ Đài Loan
39
2.3 Chính sách hỗ trợ và thực tiễn hoạt động của Sàn giao dịch công
nghệ tại Hàn Quốc
39
Trang 32.3.1 Tạo lập hệ thống chuyển giao công nghệ có hiệu quả với chi phí
thấp nhằm tăng cường cơ hội ngặp nhau giữa người mua và người bán và làm giảm chi phí cho quá trình tìm kiếm đối tác và công nghệ
39
2.3.2 Tăng cường hệ thống chuyển giao công nghệ vùng để phát triển
các công viên trên toàn quốc như là đầu mối trung tâm công nghệ của vùng
2.4 Bài học kinh nghiệm từ quốc tế rút ra cho Việt Nam 43
NGHỆ TẠI VIỆT NAM
45
3.1 Một số cơ chế, chính sách phát triển sàn giao dịch công nghệ
hiện nay
45
3.1.1 Xác định phát triển thị trường công nghệ là nhiệm vụ quan
trọng, chủ yếu của hoạt động KH&CN
3.2 Thực trạng mua bán, giao dịch, chuyển giao công nghệ trên sàn
giao dịch công nghệ tại Việt Nam
50
3.2.1 Sự hình thành và phát triển các Sàn/Trung tâm giao dịch công
nghệ tại Việt Nam
50
3.2.2 Tình hình hoạt động của một số Sàn/Trung tâm giao dịch công
nghệ tại Việt Nam
Trang 44.3.3 Các nhóm giải pháp, đề xuất cụ thể trong việc xây dựng và phát
Trang 5LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam đã có hình thức mua bán công nghệ thông qua các kỳ hội chợ, triển lãm thương mại, đáng chú ý là Chợ công nghệ và thiết bị “Techmart” đã được tổ chức ở các quy mô khác nhau và với các chủ đề khác nhau trong thời gian gần mười năm qua Kết hợp với một số chương trình hỗ trợ thúc đẩy thương mại hóa sản phẩm khoa học công nghệ, Techmart là mô hình đã được nhân rộng trên cả nước với quy mô địa phương, vùng, quốc gia và mới đây được nâng lên tầm khu vực Tuy nhiên, thực tế cho thấy rằng mô hình này mới chỉ thực hiện được chức năng giới thiệu và kết nối giao dịch mua bán, chuyển giao công nghệ giữa bên cung và bên cầu theo định kỳ, không thường xuyên và đặc biệt còn thiếu các biện pháp hỗ trợ “hậu Techmart” để giúp các bên thực hiện các giao dịch trong thực tế Thực tế đòi hỏi cần phải có các hình thức, biện pháp khác bên cạnh việc tổ chức các kỳ Techmart để xây dựng được các “cầu nối” tin cậy và hấp dẫn các doanh nghiệp, viện, trường, nhà nghiên cứu và nhà đầu tư tham gia giao dịch trên thị trường công nghệ Trong số đó, Sàn giao dịch công nghệ (SGDCN) là một trong các phương thức tổ chức hoạt động đang được nhiều địa phương quan tâm và đầu tư xây dựng
Thời gian qua, đã có một số công trình nghiên cứu trong nước về vấn đề thị trường công nghệ và ít nhiều đề cập đến sàn giao dịch công nghệ như: Nghiên cứu cơ chế chính sách phát triển thị trường công nghệ ở Việt Nam, Bộ Khoa học và Công nghệ, Nghiên cứu luận cứ khoa học cho các chính sách
và giải pháp xây dựng, phát triển thị trường khoa học và công nghệ Việt Nam trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, y ban Khoa học và Công nghệ của Quốc Hội, 7 Quản lý tài sản trí tuệ tại các viện nghiên cứu và trường đại học công với việc phát triển thị trường công nghệ ở Việt Nam, Bộ Khoa học và Công nghệ năm Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về trung tâm giao dịch khoa học và công nghệ phù hợp với điều kiện Việt Nam, Bộ Khoa học và Công nghệ, Nghiên cứu hoạt động tư vấn, môi giới chuyển giao công nghệ ở Việt Nam, Bộ Khoa học và Công nghệ, Kinh nghiệm quốc tế về phát triển TTCNC, Đề án Chương trình phát triển TTCNC đến năm , Bộ Khoa học và Công nghệ 2009 Các công trình nói trên có đề cập đến sàn giao dịch công nghệ ở các góc độ khác nhau, nhưng nhìn chung mới dừng lại ở khái niệm mà chưa đi sâu nghiên cứu nội hàm của khái niệm này Một số công trình nghiên cứu về các khía cạnh pháp lý của thị trường công nghệ, các hình thức tổ chức và hoạt động của thị trường công nghệ theo kinh nghiệm của một số nước trong khu vực và trên thế giới, các giải pháp đề xuất để phát triển thị trường công nghệ của Việt Nam và thiết lập thí điểm sàn giao dịch công nghệ quốc gia Còn với các công trình nước ngoài được đề cập như: Enhancing the Competitiveness of SMEs: Subnational Innovation Systems and Technological Capacity-Building Policies, ESCAP 2007; Science, Technology and Innovation: Challenges and Opportunities for Implementing the Millennium Development
Trang 6Goals, UN 2004; Mechanism for Strengthening Technology Incubation System for SMEs in Asia and the Pacific, ESCAP 2001; Science, Technology and Innovation, Challenges and Opportunities for Implementing the Millennium Development Goals, UN 2004; Promotion of High-Tech SMEs through Clustering and Networking Cases from Malaysia MSC Cluster Technopreneurs Development Flagship programme; Policy System on Promoting SME Innovation & Entrepreneurship in China, National Workshop on Sub-national Innovations Systems and Technology Capacity Building Policies to Enhance Competitiveness of SMEs, Oct 2006, Beijing, China Nội dung của các công trình thì theo tìm hiểu thấy ít có công trình nghiên cứu sâu về vấn đề sàn giao dịch công nghệ Các công trình nghiên cứu quốc tế đề cập đến vấn đề sàn giao dịch công nghệ ở các góc độ khác nhau và chưa bao quát cho trường hợp chung Các lĩnh vực xuất phát từ những vấn đề riêng lẻ liên quan đến các khía cạnh khác nhau về sàn giao dịch công nghệ và chưa tập hợp thành hệ thống cho nên chưa có đủ thông tin cũng như cơ sở để cấu thành vấn đề cần nghiên cứu
Những công trình nghiên cứu đã có là những đóng góp quan trọng vào nghiên cứu chính sách hỗ trợ phát triển thị trường công nghệ cho Việt Nam Tuy nhiên, những vấn đề cụ thể liên quan đến sàn giao dịch công nghệ cho đến nay vẫn chưa được nghiên cứu một cách thấu đáo và toàn diện Nhiều vấn đề thực tiễn đang đặt ra nhưng chưa có câu trả lời có căn cứ khoa học lý luận và thực tiễn Xuất phát từ nhu cầu quản lý nhà nước về thị trường công nghệ, Cục Phát triển thị trường và doanh nghiệp khoa học và công nghệ đã đăng ký thực hiện đề
án “Nghiên cứu chính sách hỗ trợ phát triển sàn giao dịch công nghệ cho Việt Nam” nhằm tìm ra một số giải pháp tạm thời cho định hướng quy hoạch phát
triển cũng như xây dựng hành lang pháp lý cho tổ chức và hoạt động của SGDCN tại Việt Nam
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Mục tiêu nghiên cứu của Đề tài là xây dựng các căn cứ lý luận và thực tiễn
để làm cơ sở cho việc xây dựng chính sách hỗ trợ phát triển các sàn giao dịch công nghệ ở nước ta
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Nghiên cứu một số vấn đề lý luận về vai trò, đặc điểm, mô hình tổ chức
và hoạt động của sàn giao dịch công nghệ
- Nghiên cứu chính sách, pháp luật và bài học rút ra từ thực tiễn hoạt động phát triển sàn giao dịch công nghệ tại một số nước
- Nghiên cứu chính sách, pháp luật và đánh giá thực trạng hoạt động của các sàn giao dịch công nghệ trong nước
- Nhận dạng những yếu tố chính ảnh hưởng đến khả năng tồn tại và phát triển của sàn giao dịch công nghệ trên cơ sở thực tiễn của một số địa phương, đưa ra khuyến nghị giải pháp chính sách hỗ trợ phát triển sàn giao dịch công nghệ tại Việt Nam
Trang 74 Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Ngoài các phương pháp phân tích tài liệu, tổng hợp, quy nạp, tư duy logic, nghiên cứu so sánh, thu thập ý kiến chuyên gia… nhóm nghiên cứu đã chú ý vận dụng cách tiếp cận chủ đề nghiên cứu từ góc nhìn thực tế để xác định nội dung vấn đề cần giải quyết thuộc phạm vi nghiên cứu của đề án
Nhóm nghiên cứu cũng vận dụng lý luận, kinh nghiệm quốc tế và bài học
từ thực tiễn quá trình đổi mới cơ chế quản lý hoạt động khoa học và công nghệ trong nước thời gian qua để đưa ra các giải pháp cho các vấn đề đã được xác định
Cách tiếp cận hệ thống và liên ngành cũng được áp dụng để phân tích các vấn đề còn tồn tại và đề xuất giải pháp chính sách hỗ trợ phát triển sàn giao dịch công nghệ ở nước ta
5 Sản phẩm của đề tài
Theo Thuyết minh đề án đã được duyệt và theo Hợp đồng thực hiện đề án
đã được ký kết, sản phẩm của đề án bao gồm:
1 Báo cáo tổng hợp đề án; 2 Dự thảo quy định chính sách hỗ trợ phát triển sàn giao dịch công nghệ; 3 Quy chế tổ chức và hoạt động của SGDCN
6 Kết cấu của báo cáo tổng kết đề tài
Phù hợp với mục tiêu và phương pháp nghiên cứu trên, Báo cáo tổng kết
Đề tài được kết cấu làm 4 chương:
Chương 1: Tổng quan về sàn giao dịch công nghệ
Chương : Kinh nghiệm quốc tế về phát triển Sàn giao dịch công nghệChương : Thực trạng phát triển Sàn giao dịch công nghệ tại Việt Nam Chương 4: Đánh giá tiềm năng thành lập và đề xuất, kiến nghị chính sách
hỗ trợ phát triển Sàn giao dịch công nghệ tại Việt Nam
Mặc dù có nhiều cố gắng, chắc chắn công trình nghiên cứu không tránh khỏi những thiếu sót Nhóm thực hiện đề án xin tiếp thu và trân trọng mọi ý kiến đóng góp để hoàn thiện báo cáo này
Trang 8Chương 1 TỔNG QUAN VỀ SÀN GIAO DỊCH CÔNG NGHỆ 1.1 Những vấn đề chung về Sàn giao dịch công nghệ
1.1.1 Một số khái niệm
a) Sàn giao dịch công nghệ:
Một cách khái quát, Sàn giao dịch công nghệ (SGDCN) được hiểu như một
mô hình hay phương thức tổ chức hoạt động thường xuyên của thị trường công nghệ, nơi có đủ phương tiện vật chất và kỹ thuật để cung cấp thông tin, dịch vụ chuyên nghiệp và hỗ trợ các bên chào bán, chào mua, đàm phán ký kết và thực hiện các hợp đồng mua bán, chuyển giao công nghệ theo quy luật cung cầu, quy luật giá trị và các quy luật khác của nền kinh tế thị trường
SGDCN thường được thiết lập khi có đầy đủ điều kiện về cơ sở vật chất kỹ thuật, nhân viên được trang bị kiến thức, kỹ năng để tập hợp và cung cấp thông tin công nghệ (công nghệ chào bán, công nghệ tìm mua, thông tin về kết quả nghiên cứu, sáng chế, giải pháp hữu ích, thiết bị và quy trình công nghệ được thương mại hóa), cung cấp dịch vụ môi giới, tư vấn, chuyển giao công nghệ (tư vấn lựa chọn công nghệ, hỗ trợ đàm phán chuyển giao công nghệ, tư vấn và dịch
vụ thực hiện thủ tục pháp lý, soạn thảo hợp đồng chuyển giao công nghệ) và hỗ trợ các bên thực hiện các giao dịch công nghệ (xúc tiến ký kết, giám sát và hỗ trợ thực hiện hợp đồng, trung gian hòa giải và hỗ trợ giải quyết tranh chấp, kết nối với tổ chức cung cấp dịch vụ đánh giá, định giá, thực hiện thủ tục đăng ký và chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ)
SGDCN được tổ chức và hoạt động theo quy chế chặt chẽ, trong đó có quy định về điều kiện, chế tài đảm bảo cho các bên tham gia giao dịch công nghệ được cung cấp thông tin trung thực, kịp thời SGDCN cũng được trang bị các phương tiện đảm bảo cung cấp dịch vụ tìm kiếm thông tin cung cầu công nghệ, sẵn có đội ngũ chuyên gia tư vấn, hỗ trợ đàm phán, ký kết và thực hiện hợp đồng chuyển giao, cấp phép li-xăng quyền sở hữu trí tuệ, hợp đồng mua bán công nghệ, kể cả có hoặc không kèm theo thiết bị.1
Trang 9+ SGDCN ảo: giao dịch online qua mạng Internet
d) Phương thức giao dịch qua SGDCN:
+ Giao dịch trực tiếp (các bên gặp gỡ, đàm phán, ký kết hợp đồng)
+ Giao dịch gián tiếp (qua trung gian, môi giới)
+ Giao dịch trực tuyến (qua mạng Internet)
1.1.2 Những yếu tố cơ bản cần thiết để hình thành Sàn giao dịch công nghệ
a) Hàng hóa công nghệ:
+ Công nghệ dưới dạng vô hình có thể chuyển giao, đặc biệt là các sáng chế, giải pháp hữu ích về quy trình, phần mềm, công thức, bí quyết kỹ thuật, thông tin công nghệ và các tài liệu công nghệ có giá trị thương mại như bản mô
tả quy trình chế tác, bản vẽ thiết kế kỹ thuật, công thức pha chế…
+ Công nghệ ở dạng dịch vụ kỹ thuật, bao gồm dịch vụ đo kiểm, lắp đặt,
tư vấn, quản trị, vận hành, đào tạo, nghiên cứu, huấn luyện, điều chỉnh, cải tiến công nghệ (KHCN) theo yêu cầu
+ Công nghệ ở dạng máy móc, thiết bị, hệ thống thiết bị
Tùy theo hình thức tồn tại và đặc điểm kỹ thuật của từng loại hàng hóa công nghệ để lựa chọn cách thức đưa lên SGDCN Có thể trình bày dưới dạng thông tin mô tả chi tiết, hình ảnh, mô hình, sản phẩm mẫu trưng bày, giới thiệu tại SGDCN thực hoặc SGDCN ảo
b) Cơ sở hạ tầng phục vụ giao dịch công nghệ:
+ Cơ sở hạ tầng bao gồm: văn phòng, địa điểm giao dịch, các bộ phận hỗ trợ, địa điểm và phương tiện trưng bày, giới thiệu hàng hóa công nghệ, nơi tổ chức các phiên đấu giá, phiên chợ công nghệ, tổ chức sự kiện giới thiệu công nghệ theo từng chuyên ngành
+ Hạ tầng cơ sở về tin học (mạng Internet, máy tính, phần mềm quản trị) + Cơ sở dữ liệu thông tin liên quan đến hàng hóa công nghệ và các chủ thể tham gia vào giao dịch mua bán công nghệ (bên cung, bên cầu)
Trang 10c) Các chủ thể tham gia quá trình giao dịch công nghệ: Các chủ thể này
có thể bao gồm bốn loại chính sau:
+ Các tổ chức và cá nhân cung cấp hàng hóa công nghệ
+ Các tổ chức và cá nhân nhu cầu tìm mua hàng hóa công nghệ
+ Các tổ chức và cá nhân hỗ trợ, trung gian, tư vấn công nghệ
+ Các tổ chức quản trị sàn giao dịch
d) Văn bản pháp luật, điều lệ tổ chức hoạt động, quy chế điều hành, thể
lệ, quy định về trình tự, thủ tục và trách nhiệm các bên tham gia giao dịch công nghệ tại Sàn giao dịch công nghệ: Bộ luật dân sự, Luật khoa học và công nghệ,
Luật chuyển giao công nghệ, Luật Sở hữu trí tuệ và các văn bản hướng dẫn liên quan, Điều lệ SGDCN, quy chế thực hiện giao dịch tại SGDCN
1.2 Chức năng, vai trò của Sàn giao dịch công nghệ
1.2.1 Chức năng
- SGDCN là cách thức tổ chức hoạt động của thị trường công nghệ một cách tập trung, chuyên nghiệp và thường xuyên với quy mô, phạm vi hoạt động rộng rãi
- SGDCN được xây dựng tại nơi tập trung các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp và tổ chức nghiên cứu phát triển, có chức năng làm cầu nối thúc đẩy mối liên kết giữa các chủ thể chính tham gia thị trường công nghệ, gồm các trường đại học, viện nghiên cứu và các doanh nghiệp trong thương mại hóa sản phẩm nghiên cứu
SGDCN được thành lập khi xuất hiện nhu cầu cao về thương mại hóa các kết quả nghiên cứu khoa học và công nghệ và tổ chức đảm trách nhiệm vụ vận hành có đủ các điều kiện cần thiết về cơ sở hạ tầng kỹ thuật và đội ngũ chuyên gia có đủ năng lực để thực hiện các dịch vụ hỗ trợ và đảm bảo cho bên tiến hành các giao dịch công nghệ
SGDCN thường được Nhà nước đầu tư lớn ban đầu và hỗ trợ thường xuyên
để đảm bảo duy trì hoạt động
- Quy mô và tần suất tham gia giao dịch công nghệ của các chủ thể dẫn đến
nhu cầu khách quan cần thiết hình thành nên sàn giao dịch với chức năng chuyên biệt về xúc tiến, hỗ trợ, thúc đẩy quá trình chuyển giao, mua bán công nghệ, đảm bảo lợi ích của các bên và hạn chế rủi ro
1.2.2 Vai trò
Trang 11- Đảm bảo cho quá trình thương mại hóa kết quả nghiên cứu KH&CN và thực hiện chuyển giao công nghệ được tiến hành thuận lợi Tiến tới xây dựng hệ thống mạng lưới tổ chức liên kết hỗ trợ chuyển giao công nghệ với các biện pháp đồng bộ
- Bảo vệ được lợi ích của các bên tham gia giao dịch công nghệ thông qua sàn vì cơ chế hoạt động minh bạch, bài bản và có sự hỗ trợ và quản lý của Nhà nước, đồng thời cũng là cơ sở thực tiễn cho việc xây dựng và hoàn thiện các chủ trương chính sách, cơ chế thích hợp cho phát triển thị trường công nghệ theo từng giai đoạn2
1.3 Đặc điểm của Sàn giao dịch công nghệ
Nghiên cứu thực tiễn tổ chức và hoạt động của các mô hình tổ chức SGDCN của các nước có thể rút ra một số đặc điểm chính của SGDCN như sau:
- SGDCN là mô hình hoạt động của thị trường công nghệ theo phương thức tập trung, thường xuyên, có sự hỗ trợ mạnh mẽ từ các cơ quan nhà nước và gắn kết chặt chẽ với các tổ chức dịch vụ trung gian
- Khác với việc thực hiện giao dịch thông qua các tổ chức môi giới, tư vấn, dịch vụ hoặc hình thức tổ chức hoạt động không thường xuyên như hội chợ, triển lãm công nghệ, chương trình quảng bá, giới thiệu công nghệ, SGDCN là hình thức tổ chức hoạt động chuyên nghiệp theo phương thức niêm yết tập trung các sản phẩm, quy trình công nghệ; thông số kỹ thuật; tình trạng bảo hộ quyền
sở hữu trí tuệ, giá trị thương mại của công nghệ; nhu cầu, năng lực các bên chào bán, chào mua; tập hợp các giao dịch SGDCN đã và đang được thực hiện thông qua SGDCN Bên cạnh đó, SGDCN có khả năng cung cấp hệ thống các gói dịch
vụ chuyên nghiệp như tư vấn lựa chọn công nghệ; giới thiệu đối tác và xúc tiến giao dịch; dịch vụ đánh giá, định giá công nghệ; dịch vụ đăng ký, chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ; hỗ trợ phân tích thị trường, quản lý rủi ro, đàm phán, ký kết và thực hiện giao dịch công nghệ
- Thực tế có rất nhiều mô hình, phương thức khác nhau để hỗ trợ thúc đẩy giao dịch công nghệ Tùy theo điều kiện cụ thể, mỗi quốc gia, vùng, địa phương
có thể lựa chọn áp dụng một hoặc kết hợp một số phương thức, giải pháp tổ chức và hoạt động khác nhau để phát triển thị trường công nghệ Không nhất thiết nước nào, khu vực, địa phương nào có nhu cầu và mong muốn phát triển thị trường công nghệ thì đều cần phải thành lập SGDCN Mặt khác, việc thành lập nhiều SGDCN không đương nhiên dẫn đến sự tăng trưởng của thị trường công nghệ
2 Lập SGDCN thời điểm chín muồi – pcworld.com.vn
Trang 12- Khác với các loại sàn giao dịch khác có đối tượng là các loại hàng hóa
thông thường trong thương mại, đầu tư, tài chính như: vàng, bất động sản, chứng khoán, Nhà nước cần có vai trò chủ động hơn và đầu tư lớn hơn trong xây dựng, duy trì và đảm bảo hoạt động của SGDCN, vì sự phát triển bền vững của cộng đồng doanh nghiệp trong nước
- Do công nghệ là một loại hàng hóa đặc biệt, điểm khác biệt cơ bản thể hiện ở vai trò của công nghệ không phải là hàng hóa có khả năng tiêu dùng trực tiếp mà là công cụ, phương tiện để sản xuất ra hàng hóa khác Bản chất của công nghệ mang tính mới, tính bí mật và tính chuyên môn kỹ thuật sâu Giá trị thương mại của công nghệ phụ thuộc nhiều vào khả năng bảo mật, tình trạng bảo hộ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ, khả năng bị sao chép, phổ biến và lợi thế so sánh của các bên trong đàm phán giao dịch
Xuất phát từ những điểm đặc thù của hàng hóa công nghệ, trong quá trình xây dựng, vận hành, quản lý SGDCN cần chú ý một số đặc điểm của SGDCN, trong mối quan hệ so sánh với các sàn giao dịch khác, như sau:
* Những điểm chung:
- Sàn giao dịch là tổ chức độc lập, có tư cách pháp nhân
- Chức năng: nơi diễn ra các hoạt động mua bán, trao đổi các loại hàng hóa khác nhau
- Quá trình giao dịch mua bán, chuyển nhượng diễn ra quy mô, có tổ chức trên cơ sở hệ thống quy định chung của sàn giao dịch
- Giá cả thay đổi theo biến động của thị trường và được cập nhật thường xuyên, liên tục trên sàn giao dịch
- Những biến động của các hoạt động mua, bán trên sàn giao dịch đều có tác động nhất định đến nền kinh tế chung của quốc gia đó
- Các sàn giao dịch đều phải có địa điểm, có tổ chức, quy chế hoạt động rõ ràng nhằm đảm bảo cho các bên tham gia giao dịch thuận tiện, minh bạch và an toàn
* Những điểm khác biệt: Thể hiện trong Bảng 1 dưới đây
Bảng 1: So sánh những điểm khác biệt giữa các Sàn giao dịch
- Hình thành khi có nhu cầu cao về thương mại hóa công nghệ, sản phẩm nghiên cứu của các trường, viện, doanh nghiệp
Trang 13- SGDBĐS phải đảm bảo hoạt
động công khai, minh bạch và
- Sàn GDCK cung cấp các dịch vụ
hỗ trợ việc mua bán chứng khoán, dịch vụ lưu ký chứng khoán; thực hiện đăng ký chứng khoán
- Nhà nước thành lập SGDCN để hỗ trợ các doanh nghiệp, viện, trường, nhà khoa học thực hiện giao dịch mua bán, chuyển giao công nghệ
- Cơ quan quản lý nhà nước về KH&CN có trách nhiệm đảm bảo các điều kiện cần thiết cho SGDCN, chịu trách nhiệm về hiệu quả hoạt động của SGDCN
Chức
năng, vai
trò
- Minh bạch thông tin, tạo cơ
hội tiếp cận hàng hoá bất động
sản như nhau cho mọi người,
góp phần lành mạnh thị trường
bất động sản
- Chuyên nghiệp hoá giao dịch,
hạn chế rủi ro và thiệt hại cho
các bên tham gia giao dịch
- Phương tiện hoàn thiện cơ cấu
của thị trường và hỗ trợ thị
trường phát triển
- Đầu mối nghiên cứu thị trường
- Hỗ trợ quản lý và thu ngân sách
từ kinh doanh bất động sản
- Huy động các khoản tiết kiệm từ xã hội để đầu tư cho sản xuất kinh doanh
- Thu hút vốn tái đầu tư để tạo thuận lợi cho doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh
- Tăng cường hợp tác, liên kết trong quản lý và phát triển sản xuất kinh doanh
- Tạo các cơ hội đầu tư cho các nhà đầu tư nhỏ
- Giúp Chính phủ huy động nguồn vốn xã hội hóa cho những dự án phát triển
- Được coi là thước đo tăng trưởng của doanh nghiệp và nền kinh tế
- Thúc đẩy thương mại hóa tài sản trí tuệ, kết quả nghiên cứu
- Gắn kết hoạt động nghiên cứu khoa học với phát triển công nghệ và sản xuất, kinh doanh
- Tạo mối liên kết giữa các trường, viện, nhà nghiên cứu với doanh nghiệp, nhà đầu tư
- Tư vấn, xúc tiến, hỗ trợ mua bán, chuyển giao công nghệ
- Được coi là thước đo giá trị thương mại của kết quả nghiên cứu và hiệu quả của đầu tư cho nghiên cứu phát triển
+ Giao dịch mua bán, chuyển
nhượng, thuê, thuê mua bất động
- Giá cả đối tượng giao dịch có sự
biến động theo thị trường nhưng
thời gian diễn ra biến động tương
đối dài (theo ngày, tuần, tháng)
- Thực hiện giao dịch chứng khoán
và cung cấp các dịch vụ hỗ trợ mua bán chứng khoán
- Cung cấp các dịch vụ cho việc phát hành và thu hồi chứng khoán, chi trả lợi tức và cổ tức
- Chứng khoán được giao dịch gồm:
cổ phiếu, trái phiếu, các loại chứng khoán phái sinh
- Giá cả đối tượng giao dịch có sự biến động nhanh theo thị trường với biên
độ thay đổi liên tục, diễn ra trong khoảng thời gian ngắn (có thể theo giây, phút, giờ)
- Thực hiện giao dịch công nghệ và cung cấp các dịch
vụ hỗ trợ chuyển giao công nghệ
- Giới thiệu, tư vấn mua bán, chuyển giao công nghệ
- Môi giới, xúc tiến giao dịch công nghệ, chuyển giao li-xăng quyền sở hữu trí tuệ
- Giá cả đối tượng giao dịch
ít có sự biến động Có thể không được niêm yết giá Giá niêm yết chỉ thay đổi khi
có thông báo của bên liên quan
Phương
thức hoạt
- Thực hiện giao dịch thông qua văn
phòng tư vấn, dịch vụ, người môi
- Thực hiện giao dịch mua bán chứng khoán thông qua Internet và
- Thực hiện giao dịch mua, bán các bí quyết, sáng chế,
Trang 14động giới và Internet
- Người không đăng ký thành viên
có thể tham gia giao dịch
hệ thống tài khoản ngân hàng
- Yêu cầu phải đăng ký là thành viên mới được phép giao dịch
giải pháp hữu ích chủ yếu qua tổ chức dịch vụ hỗ trợ hoặc đàm phán trực tiếp, ít khi thực hiện qua Internet
- Có quy chế ràng buộc trách nhiệm của các bên, đặc biệt bên bán công nghệ
- Người không đăng ký thành viên cũng có thể tham gia giao dịch
- Các cá nhân, tổ chức có nhu cầu
mua bán, chuyển nhượng bất động
sản
Các công ty có nhu cầu huy động vốn phát hành cổ phiếu, trái phiếu và được niêm yết trên SGDCK
- Các nhà đầu tư chứng khoán (cá nhân, tổ chức)
- Cổ đông của công ty và được chia cổ tức
- Thu các loại phí, lệ phí đối với các hoạt động: sử dụng hệ thống thiết
bị tại sàn; giao dịch từng loại chứng khoán; niêm yết chứng khoán lưu
ký chứng khoán…
- Việc thu phí nhằm tạo ra doanh thu và lợi nhuận cho chủ đầu tư SGDCK và các tổ chức dịch vụ thực hiện giao dịch chứng khoán
Các doanh nghiệp, tổ chức nghiên cứu phát triển, các nhà khoa học, trường đại học, viện nghiên cứu và các tổ chức tư vấn, dịch vụ công nghệ, các trung tâm ứng dụng và chuyển giao công nghệ
- Việc thu phí nhằm tạo ra
doanh thu và lợi nhuận cho chủ
hỗ trợ kinh phí hoạt động
- Việc thu phí, nếu có, chỉ nhằm tăng trách nhiệm cảu các bên tham gia và bù đắp một phần chi phí cho dịch
vụ do sàn cung cấp
- Các điểm giao dịch hay các trung tâm tư vấn, môi giới công nghệ có thu phí nhằm tạo ra lợi nhuận
Hỗ trợ và
quản lý
của Nhà
nước
- Nhà nước quản lý hoạt động
của SGDBĐS theo Luật Kinh
- Nhà nước hỗ trợ và quản
lý hoạt động của SGDCN theo Luật KH&CN, Luật
Sở hữu trí tuệ, Luật Chuyển giao công nghệ
Những điểm khác biệt của SGDCN được quyết định bởi chính tính chất đặc biệt của loại hàng hóa công nghệ, đặc điểm của giao dịch công nghệ và thành phần chủ thể tham gia giao dịch công nghệ
Do có sự khác biệt về mục tiêu, mô hình, phương thức tổ chức và hoạt động của SGDCN so với các loại sàn giao dịch khác, Nhà nước cần có cơ chế, chính sách, biện pháp quản lý và hỗ trợ phù hợp để thúc đẩy và đảm bảo hoạt động của SGDCN phục vụ mục tiêu gia tăng nhanh giá trị giao dịch công nghệ
và phát triển thị trường công nghệ trong nước
Nhà nước cần có hệ thống chính sách phù hợp để đảm bảo chất lượng, số lượng “đầu vào”, “đầu ra” và khả năng thương mại hóa của các sản phẩm tạo ra
từ các chương trình, đề án nghiên cứu Đồng thời, cần có quy định bắt buộc đưa
Trang 15các sản phẩm nghiên cứu ra SGDCN Khả năng thương mại hóa sản phẩm nghiên cứu được đánh giá thông qua SGDCN cần được coi là một điều kiện để các tổ chức nghiên cứu phát triển tiếp tục nhận được các đề án nghiên cứu tiếp theo
Nhà nước cũng cần phải quan tâm đến lợi ích của các chủ thể đóng vai trò quyết định đến sự tồn tại và phát triển của SGDCN Cần có biện pháp khuyến khích và thu hút các bên tham gia giao dịch qua SGDCN, đặc biệt là chính sách
ưu đãi dành cho bên mua công nghệ và tổ chức dịch vụ trung gian
Ngoài việc Chính phủ đầu tư xây dựng một số SGDCN hoạt động phi lợi nhuận tại các khu vực trọng điểm, chính quyền các địa phương cần đầu tư, hỗ trợ hoặc liên kết với các nhà đầu tư, doanh nghiệp để thiết lập mạng lưới các trung tâm hay điểm giao dịch công nghệ tại các khu vực, địa phương khác nhau phục vụ nhu cầu công nghệ trong một số lĩnh vực cụ thể thuộc thế mạnh của các doanh nghiệp tại địa phương
1.4 Các yếu tố quyết định sự hình thành và phát triển của Sàn giao dịch công nghệ
1.4.1 Bên cung công nghệ
Thị trường công nghệ không thể tồn tại nếu không có những nhà cung cấp Nhà cung cấp công nghệ có thể là doanh nghiệp, các tổ chức KH&CN (viện nghiên cứu, trường đại học…) và các nhà sáng chế độc lập
- Các tổ chức KH&CN (viện nghiên cứu, trường đại học, tổ chức KH&CN khác): Sản phẩm chủ yếu của các tổ chức KH&CN là những công nghệ ở dạng
chưa hoàn chỉnh, những ý tưởng mới hoặc giải pháp mới, có thể là sáng chế được cấp văn bằng bảo hộ hoặc không được cấp văn bằng bảo hộ nhưng có giá trị ứng dụng và khai thác thương mại
Trong bối cảnh thị trường công nghệ còn sơ khai thì công nghệ ở dạng chưa hoàn chỉnh của các tổ chức KH&CN rất khó có khả năng thương mại hóa Quyền sở hữu trí tuệ đối với công nghệ tạo ra từ các tổ chức KH&CN, đặc biệt
là các tổ chức KH&CN công lập là vấn đề có ảnh hưởng lớn tới hoạt động của SGDCN
Các tổ chức KH&CN thường thực hiện các dự án nghiên cứu và tạo ra công nghệ từ nhiều nguồn kinh phí khác nhau, trong đó đa số các dự án được Nhà nước hỗ trợ hoặc đầu tư kinh phí Việc xác định rõ chủ thể quyền sở hữu trí tuệ đối với công nghệ được tạo ra, định ra cơ chế phân chia lợi ích hợp lý giữa các bên liên quan trong thương mại hóa công nghệ là những vấn đề quan trọng cần
Trang 16chú ý để tạo động lực thúc đẩy các tổ chức KH&CN đưa kết quả nghiên cứu của
họ ra SGDCN
- Doanh nghiệp: Đóng vai trò vừa là bên cầu công nghệ, vừa là bên cung
công nghệ Hoạt động nghiên cứu tại doanh nghiệp thường tập trung vào nghiên cứu ứng dụng và triển khai thực nghiệm, nhằm mục tiêu phát triển công nghệ giúp nâng cao năng lực sản xuất, duy trì vị thế cạnh tranh của công ty
Những công ty lớn có tiềm lực đầu tư cho nghiên cứu phát triển thường là nguồn cung cấp hàng hóa công nghệ để bán hoặc chuyển giao li-xăng Các tập đoàn lớn, các công ty đa quốc gia thường có các trung tâm nghiên cứu và phát triển (R&D) riêng, được trang bị cơ sở vật chất đầy đủ, có nguồn kinh phí hoạt động dồi dào và thu hút được sự phục vụ của nhiều nhà khoa học và kỹ sư tài năng
Đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ, mặc dù không có tiềm lực như các doanh nghiệp lớn để thực hiện R&D, trong thực tế họ vẫn là nguồn cung cấp số lượng lớn sáng chế, đặc biệt là các sáng chế nhỏ, giải pháp hữu ích, sáng kiến cải tiến
kỹ thuật có ý nghĩa thiết thực trong sản xuất, kinh doanh
Do tính chất năng động, dễ thay đổi chiến lược kinh doanh và có thể phản ứng nhanh với nhu cầu thị trường, các doanh nghiệp SMEs có khả năng tạo ra các sản phẩm sáng tạo, giải pháp công nghệ phù hợp với nhu cầu của các doanh nghiệp lớn trong đổi mới sản phẩm để khai thác các thị trường mới Tuy nhiên,
do các doanh nghiệp SMEs thiếu tiềm lực để chuyển những ý tưởng, giải pháp mới của họ thành công nghệ hoàn chỉnh nên nếu không có sự hợp tác đầu tư hoặc hỗ trợ cần thiết, những ý tưởng, giải pháp đó chỉ có thể phát triển thành các
mô hình, mẫu sản phẩm thử nghiệm chứ ít có khả năng áp dụng và khai thác ở quy mô thương mại
Hàng hóa công nghệ do doanh nghiệp cung cấp có thể ở dạng chưa hoàn chỉnh (dạng mẫu thử prototype) hoặc ở dạng hoàn chỉnh (đã được khẳng định về mặt kỹ thuật và thương mại) Đa phần công nghệ do các doanh nghiệp lớn cung cấp là ở dạng hoàn chỉnh, người mua công nghệ có thể nhanh chóng đưa vào áp dụng, tiến hành sản xuất sản phẩm mới và đưa ra thị trường trong một thời gian ngắn Đây cũng là điểm khác về nguồn cung công nghệ từ doanh nghiệp so với nguồn cung công nghệ từ các tổ chức KH&CN
- Các nhà sáng chế độc lập: Họ có thể là các giáo sư, các nhà khoa học
được đào tạo cơ bản, hoặc cũng có thể chỉ là những người nông dân, công nhân chưa qua trường lớp đào tạo nào Sáng kiến của các nhà sáng chế độc lập tiềm
ẩn nhiều giá trị lý thuyết cũng như giá trị thực tế Số lượng sản phẩm khoa học công nghệ của các nhà sáng chế độc lập tuy không lớn nhưng có giá trị thực tiễn
Trang 17Môi trường vi mô (tổ chức KH&CN, nơi các nhà khoa học làm việc và sáng tạo) thường quan trọng hơn môi trường vĩ mô, nhất là đối với các tổ chức nghiên cứu ứng dụng Cùng một môi trường vĩ mô (môi trường luật pháp, môi trường kinh tế xã hội) nhưng vẫn có nhà khoa học tạo ra được nhiều kết quả nghiên cứu có khả năng ứng dụng và có giá trị thương mại cao hơn những đồng nghiệp ở các tổ chức KH&CN khác trong cùng lĩnh vực
Đặc điểm trên cho thấy các giải pháp về chính sách hỗ trợ cần tạo ra tác động tích cực cả đối với môi trường vĩ mô và vi mô cho các nhà sáng chế để tạo điều kiện gia tăng số và chất lượng của nguồn cung công nghệ cho SGDCN
1.4.2 Bên cầu công nghệ
Bao gồm các doanh nghiệp, Chính phủ và các hộ nông dân
- Doanh nghiệp: Doanh nghiệp là chủ thể chủ yếu để phát triển kinh tế - xã
hội của một quốc gia, tạo ra các sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ phục vụ nhu cầu tiêu dung của cả xã hội Do vậy, nhu cầu đổi mới, nâng cao, phát triển công nghệ là rất lớn Doanh nghiệp có thể mua công nghệ trong nước hoặc nhập khẩu
từ nước ngoài dưới dạng hữu hình hoặc vô hình Nhu cầu công nghệ của doanh nghiệp cũng phụ thuộc vào năng lực hiện thời của doanh nghiệp và hướng phát triển mà doanh nghiệp muốn vươn tới trong tương lai
Phụ thuộc vào chiến lược phát triển, điều kiện đầu tư tài chính, hạ tầng kỹ thuật, nguồn nhân lực chuyên môn của doanh nghiệp, nhu cầu về mua bán, chuyển giao công nghệ của các doanh nghiệp là rất khác nhau Ngay khi có nhu cầu và năng lực tiếp thu công nghệ, các doanh nghiệp có các cách tiếp cận khác nhau trong tìm kiếm, lựa chọn, tiếp thu công nghệ Thực tế hiện nay nhu cầu công nghệ của các doanh nghiệp trong nước chủ yếu tập trung vào việc mua bán, lắp đặt trang thiết bị, máy móc và dây chuyền toàn bộ
Nhu cầu của doanh nghiệp về tiếp thu công nghệ và khai thác sáng chế, giải pháp hữu ích là rất hạn chế Trong nhiều năm qua, số lượng doanh nghiệp Việt Nam có nhu cầu và năng lực đổi mới công nghệ là rất ít Trong khi đó, nhu cầu công nghệ của doanh nghiệp ở các nước trong khu vực có tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế cao như Hàn Quốc, Trung Quốc đang có sự chuyển hướng
Trang 18mạnh mẽ nhằm nâng cao tỷ trọng giá trị “phần mềm” trong mua bán và chuyển giao công nghệ
Những hạn chế về nhu cầu công nghệ của doanh nghiệp bị tác động bởi tốc
độ phát triển nhanh của công nghệ, năng lực tiếp thu và làm chủ công nghệ của doanh nghiệp, khả năng đầu tư cho nghiên cứu phát triển, kỹ năng quản lý doanh nghiệp yếu kém, hạn chế trong việc tiếp cận thông tin công nghệ Từ thực tiễn này, Chính phủ cần có chính sách thực sự khuyến khích và/hoặc bắt buộc doanh nghiệp trong nước đầu tư cho đổi mới công nghệ Đây cũng là cách tiếp cận phổ
biến của các nước mới phát triển trong khu vực châu Á
- Chính phủ: Một chủ thể đặc biệt tham gia vào bên cầu công nghệ đó là
Chính phủ Sở dĩ đây là một chủ thể đặc biệt vì Chính phủ mua công nghệ không chỉ phục vụ tiêu dùng cho bộ máy hành chính của Chính phủ, mà còn phục vụ tiêu dùng xã hội hay phục vụ tiêu dùng cho các chủ thể khác Để vận hành bộ máy nhà nước phải cần đến công nghệ Để đáp ứng hàng hóa công như
an ninh, quốc phòng cũng cần đến công nghệ
Ngoài ra, khi thị trường công nghệ thất bại do những nguyên nhân mang tính cơ cấu như: nông dân nghèo, hoạt động phân tán, các doanh nghiệp vừa và nhỏ không có khả năng mua công nghệ, thì Chính phủ có thể vì lợi ích xã hội cần đứng ra mua công nghệ rồi chuyển giao lại theo những cơ chế phù hợp Trong hoạt động mua sắm công và trong quá trình thực hiện các dự án vì lợi ích công cộng, Chính phủ cần ưu tiên mua công nghệ của các tổ chức KH&CN, doanh nghiệp trong nước được đưa lên SGDCN Các công nghệ sử dụng cho các
dự án công cộng này thường là giải pháp để giải quyết những vấn đề mang tính
xã hội như vấn đề bảo vệ môi trường, giáo dục cộng đồng, an toàn vệ sinh thực phẩm, phòng chống thiên tai, dịch bệnh, giải pháp chống ùn tắc giao thông công cộng, tiêu thoát nước, xử lý rác thải
Để xử lý các vấn đề phục vụ lợi ích cộng đồng, nhu cầu công nghệ của Chính phủ là rất đa dạng, nảy sinh trong nhiều hoàn cảnh khác nhau Để hỗ trợ
và khuyến khích phát triển SGDCN, Chính phủ cần trở thành người sử dụng dẫn đầu (lead user) và khách hàng tiềm năng của SGDCN Chính phủ cũng cần có quy định ràng buộc trách nhiệm của chính quyền địa phương, các cơ quan thuộc Chính phủ phải mua hoặc nhận li-xăng công nghệ từ SGDCN trong thực hiện
các dự án mua sắm chính phủ và dự án công cộng
- Hộ nông dân: Cùng với sự phát triển không ngừng của khoa học kỹ thuật,
sự phát triển nền kinh tế thị trường với xu hướng chuyên môn hóa, sản xuất trên quy mô lớn, nhu cầu ứng dụng khoa học và công nghệ trong nông nghiệp hiện đại đang ngày càng gia tăng Việc tạo ra các giống cây, giống con có năng suất,
Trang 19chất lượng cao, ứng dụng các máy móc hiện đại thay thế sức lao động chân tay, ứng dụng công nghệ chế biến nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm đóng vai trò quan trọng đối với việc nâng cao sức cạnh tranh trong việc phát triển nông nghiệp
Tuy nhiên, việc ứng dụng và chuyển giao các thành tựu nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ trong nông nghiệp hiện nay còn hạn chế bởi trình độ cũng như năng lực tài chính của các hộ nông dân Nhà nước cần có chính sách khuyến khích và hỗ trợ hoặc ưu đãi đối với các hộ nông dân mua hoặc nhận li-xăng công nghệ từ SGDCN
1.4.3 Mạng lưới tổ chức hỗ trợ, xúc tiến chuyển giao công nghệ
1.4.3.1 Các tổ chức dịch vụ trung gian như môi giới, tư vấn, đánh giá, định giá công nghệ
Sự cần thiết và vai trò của tổ chức dịch vụ trung gian trong hỗ trợ SGDCN:
(i) Tính chất đặc biệt của hàng hóa công nghệ
Do đặc điểm công nghệ đa phần tồn tại ở dạng vô hình, mang tính chất thông tin hơn là hiện vật, việc thực hiện các giao dịch công nghệ gặp nhiều cản trở Sự bất bình đẳng về thông tin giữa người bán và người mua công nghệ là đặc thù của mua bán công nghệ có thể làm hạn chế thị trường Vấn đề xác định quyền sở hữu đối với công nghệ cũng hoàn toàn không đơn giản và có thể phải cần đến những biện pháp quản lý phù hợp Công việc tư vấn để người mua và người bán công nghệ gặp nhau trong quá trình đàm phán cũng không hề dễ dàng Mặt khác, nếu thiếu sự hỗ trợ của những tổ chức đánh giá, định giá công nghệ, quản lý rủi ro thì giao dịch mua bán công nghệ cũng không thể tiến hành thuận lợi
(ii) Sự bất bình đẳng thông tin giữa người bán và người mua
Trong giao dịch mua bán công nghệ, sự bình đẳng thông tin giữa người mua – người bán là yếu tố quan trọng đảm bảo giao dịch thực hiện thành công, công bằng, đảm bảo quyền lợi hợp pháp của các bên Tuy nhiên đảm bảo sự bình đẳng thông tin trong giao dịch mua bán là điều rất khó Khi có sự bất bình đẳng thông tin giữa người mua và người bán, hay không có cơ chế phân biệt chất lượng, đặc điểm hàng hóa giao dịch thì việc giao dịch khó đảm bảo đạt sự công bằng, đảm bảo quyền lợi hợp pháp của các bên Sự bất bình đẳng thông tin giữa người mua và người bán có thể khiến giao dịch lâm vào thế bế tắc, mặc dù
người mua và người bán đều mong muốn thực hiện giao dịch
Khác với những hàng hóa thông thường, với nhiều nội dung mang bản chất thông tin, phi hiện vật, cơ hội cho người mua và người bán công nghệ gặp được
Trang 20nhau không hề dễ dàng Do đặc thù của công nghệ, giao dịch mua bán loại hàng hóa này rất dễ lâm vào thế bế tắc do sự bất bình đẳng thông tin giữa người mua
và người bán Tuy nhiên, trong rất nhiều trường hợp sự bất bình đẳng thông tin
là không thể tránh khỏi, thậm chí nếu có sự đảm bảo bình đẳng thông tin thì lại chẳng còn gì để bán Tình trạng bế tắc trên có thể được giải quyết phần nào nhờ các cơ chế gây dựng lòng tin hay thông qua các tổ chức trung gian có uy tín
đứng ra bảo lãnh hay cung cấp thông tin, các dịch vụ giám định, đánh giá
Việc tiếp xúc thương lượng giữa người mua và người bán một công nghệ ở dạng sáng chế chưa đăng ký có thể dẫn đến những phiền phức liên quan đến vấn
đề quyền sở hữu Do vậy, sự tham gia của các tổ chức trung gian cung cấp thông tin, đánh giá về mặt kỹ thuật, thương mại, khả năng ứng dụng của công nghệ giúp bên mua và bán dễ dàng tiếp xúc, thương lượng, tăng khả năng thành công
cho giao dịch
(iii) Khó xác định giá trị hàng hóa công nghệ
Hàng hóa công nghệ thường không sản xuất với khối lượng lớn mà sản xuất cá biệt và lao động khoa học công nghệ là một loại lao động phức tạp mà tính sáng tạo, rủi ro và tính không xác định của nó là rất lớn Hơn nữa việc xác định giá trị hàng hóa công nghệ lại còn căn cứ vào nhu cầu tiếp nhận của thị trường Điều đó làm cho giá trị của hàng hóa công nghệ khó xác định Do đó, thỏa thuận giữa các bên giao dịch rất dễ không thành công khi tranh chấp về giá
(iv) Đầu tư mua công nghệ chứa đựng nhiều rủi ro
Bất cứ một hoạt động đầu tư nào cũng chứa đựng yếu tố rủi ro Khi mà lợi nhuận hứa hẹn đem lại càng lớn thì khả năng rủi ro càng cao Đầu tư mua công nghệ chứa đựng khả năng rủi ro rất lớn cho nhà đầu tư Công nghệ mua được có thể không đáp ứng điều kiện thực tế cho quá trình đổi mới công nghệ của doanh nghiệp (quá lạc hậu hoặc quá tiên tiến, ngoài khả năng ứng dụng của doanh nghiệp ), có thể được giao dịch không đúng với giá trị thực của công nghệ, hoặc không có khả năng mua bán ngoài thị trường vì nhiều lý do Do vậy người mua rất cần tới các thể chế hỗ trợ việc tư vấn, đánh giá, định giá công nghệ để đảm bảo mua được những công nghệ phù hợp với yêu cầu với giá cả sát với giá
trị của công nghệ đó
Tất cả những đặc trưng trên của giao dịch công nghệ cho thấy sự cần thiết phải có hoạt động của các tổ chức chuyên nghiệp môi giới, tư vấn, xúc tiến giao dịch, hỗ trợ các bên trong quá trình chuyển giao công nghệ Nghiên cứu của Ngân hàng thế giới và nhiều tổ chức quốc tế khác đã đề cao vai trò của các tổ chức trung gian công nghệ, đặc biệt đối với các quốc gia đang phát triển và các nền kinh tế chuyển đổi nhằm khắc phục những bất cập thông tin, tiếp thị, quản
Trang 21lý kinh doanh, năng lực công nghệ và tài chính trong quá trình chuyển giao và đổi mới công nghệ Đối với các quốc gia này, trung gian công nghệ đóng vai trò quan trọng trong quá trình xây dựng và phát triển hệ thống đổi mới quốc gia và
cơ sở hạ tầng về khoa học và công nghệ Nghiên cứu thực tiễn quốc tế cho thấy ngay cả đối với các nước tiên tiến, nơi mà trình độ công nghệ vừa và nhỏ thường quan tâm nhiều đến các dịch vụ hỗ trợ thị trường, tài chính và lập kế hoạch kinh doanh Gần đây, tăng cường mạng lưới liên kết giữa các tổ chức trung gian công nghệ được đề cập đến như một giải pháp hữu hiệu nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức này cũng như lợi ích của các doanh nghiệp với tư cách là người sử dụng các dịch vụ đó
Thị trường công nghệ hiện đại là sự kết hợp giữa hạ tầng và thông tin, hay nói cách khác hoạt động dịch vụ trung gian đã trở thành một phần hữu cơ của thị trường, giúp người mua – người bán gặp gỡ, dàn xếp giá cả, bảo lãnh tính chân thực của những mô tả liên quan tới công nghệ chào bán Các thể chế xúc tiến là rất cần thiết cho sự vận hành của thị trường Với những đặc trưng của việc giao dịch trên sàn (đòi hỏi sự minh bạch và chính xác thông tin về công nghệ, khắc phục và giảm thiểu tối đa rủi ro có thể xảy ra cho các bên trong quá trình giao dịch), SGDCN muốn hoạt động hiệu quả không thể không có mạng lưới các tổ chức dịch vụ trung gian hỗ trợ
1.4.3 2 Các tổ chức hỗ trợ tài chính
Với mọi loại hình sàn giao dịch dù ở hình thức nào (sàn giao dịch bất động sản, sàn giao dịch chứng khoán, sàn giao dịch hàng hóa, sàn giao dịch công nghệ, sàn giao dịch việc làm ) thì muốn hoạt động sản xuất kinh doanh được đều phải có lượng vốn nhất định Đây là điều kiện tiên quyết, quan trọng nhất cho sự ra đời tồn tại và phát triển của các sàn giao dịch Tuỳ theo loại hình hoạt động, kinh doanh mà luật quy định các sàn giao dịch phải có số vốn pháp định nhất định, đảm bảo đủ kinh phí cho các hoạt động theo đúng chức năng của sàn Có nguồn vốn các sàn giao dịch mới có điều kiện để trang bị các thiết bị, cơ
sở vật chất cần thiết cho hoạt động giao dịch, kinh doanh, cung cấp các dịch vụ trung gian, như văn phòng, phương tiện hoạt động, chi trả lương cho nhân viên, chi phí thuê chuyên gia,…Vốn cũng quyết định đến khả năng đổi mới phương pháp quản lý, cung cấp quy trình thanh toán, cung cấp dịch vụ trung gian, đổi mới thiết bị, công nghệ,…của sàn giao dịch trong suốt quá trình hoạt động
Theo các chuyên gia, thời gian trước đây, nhiều sàn giao dịch tại các địa phương ra đời với mục đích là gắn kết giữa cung và cầu của doanh nghiệp, đặc biệt là sàn giao dịch việc làm, sàn giao dịch hàng hóa xuất nhập khẩu…, nhưng đa
số đều không có hiệu quả như mong đợi Lý do là các sàn này phần lớn được đầu
tư ban đầu với số vốn lớn nhưng lại không mang tính chất dài hạn Bên cạnh đó,
Trang 22nhiều doanh nghiệp không mấy mặn mà với các sàn giao dịch này do không thấy được lợi ích khi tham gia Do vậy, để thành công, SGDCN phải chứng minh cho các doanh nghiệp thấy được những lợi ích mà họ sẽ đạt được khi giao dịch tại đây
và các ngành chức năng phải có chiến lược đầu tư dài hạn cho sàn
Số lượng nguồn vốn của SGDCN lớn hay nhỏ là một trong những tiêu chí quan trọng để thu hút các doanh nghiệp tham gia giao dịch công nghệ trên sàn, cũng như sử dụng các dịch vụ hỗ trợ do sàn cung cấp Giá trị của hàng hóa công nghệ giao dịch trên Sàn lớn hay nhỏ cũng phụ thuộc một phần vào số lượng nguồn vốn của SGDCN Ngoài ra nguồn vốn của các sàn giao dịch công nghệ còn quyết định đến quy mô thị trường và khả năng mở rộng thị trường của các SGDCN
1.4.3.3 Các cơ quan quản lý nhà nước, trung tâm ứng dụng công nghệ tại địa phương
Giống như các loại sàn giao dịch khác, các bộ phận cấu thành của sàn giao dịch công nghệ bao gồm: người bán (bên cung công nghệ), người mua (bên cầu công nghệ) và các nhà cung cấp dịch vụ (các tổ chức dịch vụ trung gian) Tuy nhiên, điểm khác biệt của SGDCN đòi hỏi có sự hỗ trợ đồng bộ của các cơ quan quản lý nhà nước (về nhận dạng, nhu cầu, giá cả,…) SGDCN sẽ khó có thể duy trì và phát triển nếu thiếu sự tác động và đảm bảo hoạt động từ chính sách hỗ trợ của Nhà nước về đầu tư, thuế, phí, dịch vụ tài chính, xây dựng trật tự thị trường, lưu thông và mở cửa thị trường, cung cấp thông tin, khuyến khích phát triển các
tổ chức trung gian…
Đảng và Nhà nước ta chủ trương phát triển thị trường công nghệ trên cơ
sở đổi mới cơ chế, chính sách để các sản phẩm KH&CN trở thành hàng hoá Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách và văn bản quy phạm pháp luật nhằm
hỗ trợ các hoạt động KH&CN theo cơ chế thị trường, thông tin rộng rãi và tạo môi trường cạnh tranh để các sản phẩm KH&CN được mua bán thuận lợi; khuyến khích gắn kết hoạt động nghiên cứu và ứng dụng công nghệ, phát triển quan hệ hợp đồng giữa doanh nghiệp với các cơ sở nghiên cứu; khuyến khích các hoạt động tư vấn, ứng dụng, chuyển giao công nghệ
Hoạt động biểu diễn công nghệ, kết nối cung - cầu công nghệ giữa các Trung tâm ứng dụng công nghệ tại các địa phương thực chất cũng là một hoạt động hỗ trợ hoạt động của SGDCN thông qua việc cung cấp thông tin về thị trường công nghệ Việc tổ chức hội chợ, triển lãm, techmart thực, techmart ảo và các hội thảo giới thiệu sản phẩm nghiên cứu của các trường, viện, nhà sáng chế độc lập, nhóm nghiên cứu tiềm năng cũng là những nguồn cung và cầu quan trọng cho SGDCN Thời gian qua, một loạt techmart quốc gia đã được tổ chức tại Hà Nội (2003), thành phố Hồ Chí Minh ( ), Đà Nẵng ( 7) đặc biệt là
Trang 23Techmart Vietnam ASEAN+ được tổ chức tại Hà Nội trong tháng 9/2012 vừa qua đã đạt tổng giá trị giao dịch gần 2.000 tỷ đồng và gần 30 phiên techmart khu vực và địa phương Giao dịch mua bán công nghệ, năm sau luôn cao hơn năm trước Bên cạnh đó, techmart ảo quốc gia và các sàn giao dịch điện tử tại thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đồng Nai, Hải Phòng cũng đã được đưa vào hoạt động, thu hút sự tham gia của đông đảo các nhà đầu tư công nghệ trong và ngoài
nước như Hàn Quốc, Trung Quốc, Hoa Kỳ, Nga, Israel
Trang 24Chương 2 KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ PHÁT TRIỂN SÀN GIAO DỊCH CÔNG
NGHỆ 2.1 Chính sách hỗ trợ và thực tiễn hoạt động của Sàn giao dịch công nghệ tại Trung Quốc
2.1.1 Tổng quan thị trường công nghệ Trung Quốc
Trong hơn hai thập kỷ qua, dưới dự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc với đường lối cải cách, nền kinh tế Trung Quốc đã có những phát triển vượt bậc, đưa nước này trở thành một trong những nước có tổng khối lượng GDP cao nhất thế giới Đảng Cộng sản Trung Quốc đã chủ trương đổi mới, tự chủ, sáng tạo trong lĩnh vực KH&CN để đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước và khắc phục tình trạng chậm tiến về KH&CN so với các nước tiên tiến
Trong nội dung quyết định về cải cách thể chế khoa học kỹ thuật do Trung Quốc ban hành năm 1 đã nhấn mạnh phải mở cửa thị trường công nghệ, tiến hành thương mại hóa thành quả khoa học kỹ thuật Qua hơn năm phát triển, thị trường công nghệ Trung Quốc đã bước đầu hình thành: thể chế thị trường được cấu thành từ hệ thống pháp luật, pháp quy, điều lệ của các bộ ngành; hệ thống quản lý thị trường từ sự hợp tác chỉ đạo giữa các đơn vị hành chính và hệ thống dịch vụ do sự tham gia của cá thể trong xã hội
Hiện trạng thị trường công nghệ Trung Quốc:
- Đầu tiên, hệ thống thể chế thị trường công nghệ đang từng bước hoàn thiện, môi trường chuyển giao công nghệ không ngừng tốt lên
Tới thời điểm hiện nay đã sơ bộ hình thành hệ thống pháp luật và thể chế quản lý hợp đồng công nghệ, đã quy định phạm vi của chủ thể cũng như hoạt động trong giao dịch công nghệ Những văn bản pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp và thúc đẩy chuyển hóa thành quả khoa học kỹ thuật (KHKT) cấu thành nên chế độ ưu đãi và khuyến khích đối với hoạt động chuyển hóa thành quả KHKT và giao dịch công nghệ
- Kế tiếp là hệ thống quản lý thị trường công nghệ đã được thiết lập và trở thành bộ phận cấu thành quan trọng của hệ thống sáng tạo quốc gia
Các tỉnh thành đang liên tục thành lập cơ cấu quản lý thị trường công nghệ chuyên môn, cũng như các quy phạm trong công tác quản lý thị trường công nghệ Hiện nay, cả nước đã có 1 phòng chức năng trong cơ cấu quản lý thị trường công nghệ
Bắt đầu từ năm 6, Bộ KH&CN đã tiến hành mở rộng hệ thống đăng
Trang 25ký chứng nhận hợp đồng công nghệ trên mạng Internet và hiện nay việc đăng ký có thể thực hiện hoàn toàn trên mạng, cả nước hiện có văn phòng nhận đăng ký chứng nhận hợp đồng công nghệ với khoảng nhân viên
Thị trường công nghệ đã sản sinh ra đội ngũ những môi giới công nghệ đầu tiên Năm 1 , Thẩm Dương và Vũ Hán là nơi đầu tiên đã thành lập
cơ cấu môi giới thị trường công nghệ, hiện nay con số đã lên tới 1 điểm môi giới giao dịch công nghệ và có gần nhân viên làm việc
Năm 7, Bộ KH&CN, Bộ Giáo dục và Liên hợp các Viện nghiên cứu, trường đại học và cao đẳng đã tuyên bố “Phương án thực thi hành động xúc tiến chuyển giao công nghệ quốc gia”, tổ chức thí điểm phát triển chuyển giao công nghệ trên cả nước Theo phê chuẩn của Bộ Kinh tế và Bộ KH&CN thì hiện có 1 4 điểm thử nghiệm chuyển giao công nghệ ở tầm quốc gia, và
sự thành công của 1 4 điểm này đã thúc đẩy phát triển 71 dự án chuyển giao và chuyển hóa công nghệ ở cấp quốc gia và địa phương, kim ngạch giao dịch thành công đạt hơn , tỷ tệ (tương đương triệu USD)
- Thứ ba là quy mô giao dịch công nghệ không ngừng được khuyếch đại, vì
sự phát triến kinh tế xã hội khu vực cung cấp những hỗ trợ về KHKT
Hơn năm trở lại đây mức độ linh hoạt cũng như độ bao phủ của thị trường Trung Quốc không ngừng mở rộng Biên độ tăng trưởng bình quân tổng kim ngạch giao dịch thành công hàng năm của thị trường công nghệ đều vượt quá 1 %, từ 7 triệu nhân dân tệ vào năm 1 4 tăng lên tỷ vào năm (tăng hơn 4 lần)
Thị trường công nghệ Trung Quốc đã trở thành sợi dây gắn kết nền kinh tế với khoa học kỹ thuật Nó đã phát huy được tác dụng mang tính nền tảng không thể thay thế đối với: việc thay đổi căn bản diện mạo của sự sáng tạo KHKT quốc gia, phát huy tác dụng phát triển kinh tế thúc đẩy KHKT, điều chỉnh kết cấu kinh
tế quốc gia và xúc tiến chuyển biến phương thức tăng trưởng kinh tế
Những thành công trong quá trình phát triển thị trường khoa học và công nghệ ở Trung Quốc nói trên bắt nguồn từ những thay đổi về nhận thức, tư duy
và cách thức quản lý của nhà nước, được thể hiện trong điểm:
- Nhà nước chuyển từ vai trò người chỉ huy và tham gia trực tiếp sang vai trò người tạo môi trường thuận lợi và khuyến khích các hoạt động khoa học và công nghệ
Trang 26- Nhà nước Trung Quốc đã nhận thức một cách kịp thời vài trò động lực của KH&CN, tầm quan trọng của sự gắn kết mật thiết giữa KH&CN với phát triển kinh tế
- Từ việc nhận thức được vai trò động lực của KH&CN, Nhà nước Trung Quốc đã rất thành công trong việc thẩm thấu và biến những nhận thức đó trở thành định hướng cho việc ban hành và thực thi chính sách ở hầu hết các địa phương và các bộ ngành
2 1 2 Các ch nh ách hỗ trợ
* Tạo hành lang pháp lý:
Trung Quốc đã xây dựng một hệ thống thể chế thị trường công nghệ từng bước hoàn chỉnh, môi trường chuyển giao công nghệ không ngừng tốt lên phục
vụ việc phát triển thị trường khoa học và công nghệ Tới thời điểm hiện nay đã
sơ bộ hình thành hệ thống pháp luật và thể chế quản lý thị trường công nghệ như: Luật hợp đồng công nghệ (1987); Luật tiến bộ khoa học và công nghệ (1993); Luật chất lượng sản phẩm (1993); Luật Sáng chế (1993); Luật nhãn hiệu hàng hóa (1993); Luật bản quyền (1993); Luật thúc đẩy chuyển hóa thành quả khoa học và công nghệ (1 6) Điều lệ quản lý thị trường công nghệ (1986); Biện pháp quản lý hội chợ giao dịch công nghệ (2000)
Nhà nước quản lý, bảo hộ các sáng chế, bản quyền công nghệ bằng các loại hợp đồng công nghệ:
- đồng hát triển công nghệ: Là hợp đồng được ký kết giữa các bên về
vấn đề nghiên cứu phát triển công nghệ mới, sản phẩm mới, quy trình mới, vật liệu mới và những nghiên cứu phát triển mang tính hệ thống Bao gồm hợp đồng
ủy thác phát triển và hợp đồng hợp tác phát triển
- đồng chuyển như ng công nghệ: Bao gồm hợp đồng chuyển nhượng
quyền phát minh sáng chế, hợp đồng chuyển nhượng quyền xin bản quyền phát minh sáng chế, hợp đồng cho phép thực hiện phát minh sáng chế, hợp đồng chuyển nhượng bí mật công nghệ
- đồng tư vấn công nghệ: Gồm hợp đồng về những hạng mục công nghệ
cụ thể cung cấp luận chứng mang tính khả thi, dự báo công nghệ, điều tra công nghệ, chuyên đề, báo cáo phân tích đánh giá
- đồng ịch vụ công nghệ: Là hợp đồng được ký kết trên cơ sở lấy kiến
thức công nghệ để giải quyết các vấn đề công nghệ cụ thể Nó không bao gồm hợp đồng công trình xây dựng và hợp đồng nhận thầu
* Khuyến khích, hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ:
Trang 27Trung Quốc đã tạo điều kiện cần thiết để doanh nghiệp trở thành chủ thể chính trên thị trường công nghệ Vì doanh nghiệp không chỉ là bên mua trên thị trường mà còn là bên bán Trong năm , khu vực doanh nghiệp đã ký kết 73.390 hợp đồng, tăng 7,7% so với năm Tổng doanh thu do các hợp đồng công nghệ này mang lại là 51,87 tỉ nhân dân tệ, chiếm 47% so với tổng doanh thu từ hợp đồng công nghệ trên cả nước Số đơn đăng ký phát minh sáng chế khu vực doanh nghiệp chiếm 64,7% trong tổng số đơn đăng ký và số văn bằng được cấp chiếm 46,5% trong tổng số văn bằng được cấp trên cả nước (2002) Chi tiêu cho nghiên cứu và triển khai của các doanh nghiệp chiếm tỷ trọng lớn nhất (61, % năm ) trong tổng chi cho nghiên cứu và triển khai trên cả nước 40% cán bộ nghiên cứu khoa học và công nghệ của Trung Quốc làm việc tại các doanh nghiệp vừa và lớn Trung Quốc đã tạo dựng được môi trường buộc doanh nghiệp phải chú trọng đến việc nâng cao công nghệ mặt khác Chính phủ ban hành nhiều chính sách hỗ trợ doanh nghiệp để đạt được mục tiêu này Các doanh nghiệp Trung Quốc đã ý thức được rất rõ về sức mạnh của khoa học và công nghệ trong quá trình cạnh tranh trên thị trường và khoa học công nghệ đã trở thành động lực thực tế trong phát triển doanh nghiệp3
Bên cạnh đó, Nhà nước Trung Quốc đã hỗ trợ và khuyến khích rất hiệu quả các doanh nghiệp thông qua ban hành và thực hiện nhiều chính sách về thuế và tín dụng Ví dụ: Chính phủ trung ương khuyến khích các doanh nghiệp chú ý hơn tới nghiên cứu và triển khai và do đó quy định chi phí cho nghiên cứu và triển khai, chi phí cho các thiết bị quan trọng có giá trị dưới 100.000 nhân dân tệ được hạch toán vào chi phí gián tiếp, nhập khẩu thiết bị sử dụng trực tiếp cho nghiên cứu và triển khai được miễn thuế giá trị gia tăng Để khuyến khích doanh nghiệp phát triển các sản phẩm mới và nâng cấp sản phẩm, Chính phủ lập một quỹ đặc biệt để tài trợ cho việc phát triển những sản phẩm mới quan trọng Các doanh nghiệp công nghệ cao trong các khu công nghệ cao được giảm 85% thuế thu nhập và được miễn trong năm đầu Chính phủ trung ương thực hiện các chương trình cho vay đặc biệt đối với các doanh nghiệp để nâng cấp công nghệ
và trang thiết bị
* Nhà nước tăng cường đầu tư cho KH&CN
Ngày 09/2/2006 tại Bắc Kinh, Hội đồng Nhà nước Trung Quốc đã ban hành Định hướng Quốc gia về Chương trình phát triển KH&CN trung và dài hạn (2006-2020) Kế hoạch trung và dài hạn này đặt ra viễn cảnh đưa Trung Quốc trở thành một “Xã hội định hướng đổi mới” vào năm , và trở thành một nước dẫn đầu thế giới về KH&CN vào năm , và trở thành một nước dẫn
3
Chính sách chuyển giao công nghệ tại Trung Quốc, Ngô Thọ Nhân, 2011
Trang 28đầu KH&CN vào năm Điểm nổi bật của kế hoạch là coi đổi mới như một chiến lược quốc gia và đầu tư cho nghiên cứu phát triển của Trung Quốc sẽ đạt mức % GDP vào năm 1 và , % GDP vào năm , đồng thời tỷ lệ đóng góp của tiến bộ KH&CN cho tăng trưởng kinh tế sẽ là hơn 6 %
Theo Kế hoạch phát triển KH&CN, đầu tư cho nghiên cứu phát triển của Trung Quốc đạt mức 360 tỷ NDT vào năm 1 và sẽ đạt mức 900 tỷ NDT vào năm , tương đương % GDP vào năm 1 và , % GDP vào năm Đầu tư xã hội cho KH&CN đạt 730 tỷ NDT vào năm 1 và sẽ đạt 1800 tỷ
Trung Quốc tiến hành xây dựng thị trường công nghệ ở quy mô khu vực
nhằm tập hợp và phát tán có hiệu quả tài nguyên công nghệ mới đến các doanh nghiệp Đồng thời, thiết lập các cấp chuyển giao công nghệ trong nước, bao gồm:
- Chuyển giao công nghệ ở cơ sở: cấp tỉnh
- Trung tâm dịch vụ sáng tạo công nghệ mới: cấp thành phố thuộc tỉnh
- Trung tâm chuyển tiếp sáng tạo: cấp thành phố thuộc tỉnh, cấp huyện
- Hội viên: cấp tỉnh, cấp thành phố thuộc tỉnh, cấp thị trấn
Các biện pháp chủ yếu thực hiện chuyển giao công nghệ trong nước nhằm mục đích quảng bá, chuyển hóa, vận dụng KHKT vào thực tiễn sản xuất, thúc đẩy phát triển nền kinh tế, gồm:
- Chuyển giao công nghệ theo định hướng nhu cầu
- Chuyển giao công nghệ theo định hướng cung
- Chuyển giao công nghệ kết hợp cung và cầu
- Phát triển chuyển giao công nghệ theo lĩnh vực chuyên ngành
2 1 Thực tiễn h ạt động của S n gia ịch c ng nghệ Tr ng ốc
Ngày 13/08/2009, tại Công viên KH&CN Trung Quan Thôn (Thủ đô Bắc Kinh) đã diễn ra Lễ khai trương Sàn giao dịch Công nghệ Trung Quốc (China Technology Exchange - CTEX) Đây là sàn giao dịch công nghệ cấp quốc gia đầu tiên được thiết lập với số vốn đăng ký hơn triệu Nhân dân tệ
Các hoạt động chủ yếu của sàn gồm: tổ chức triển lãm, hội chợ, hội nghị, hội thảo, cung cấp thông tin KH&CN, Hội viên của sàn là các đơn vị có tư
4
Chuyển giao công nghệ và thị trường công nghệ Trung Quốc, Triệu Huệ Lâm
Trang 29- Hoạt động sự nghiệp: thực hiện nhiệm vụ của Nhà nước
- Hoạt động như một doanh nghiệp: vận hành theo cơ chế thị trường (có hội đồng cổ đông, hội đồng quản trị, ban điều hành, v.v…)
Nhân lực: Sàn gồm có người và đội ngũ cộng tác viên (làm việc ngoài
giờ)
Hình thức hoạt động: Sàn hoạt động chủ yếu thông qua trực tuyến trên
mạng internet Văn phòng chỉ là nơi giao dịch và có một số thiết bị máy tính để giúp khách hàng tra cứu thông tin trên sàn online Sàn có thu phí trung gian khi
có giao dịch thành công Sàn hoạt động dựa vào ngân sách nhà nước là chủ yếu, nhà nước cấp kinh phí để duy trì sàn ảo, tổ chức bộ máy và trả lương cho cán bộ công nhân viên Nguồn ngân sách được cấp là 22.400 vạn nhân dân tệ/ năm và
số tiền này được tăng thêm hàng năm theo nhiệm vụ được giao
Sàn có cơ sở dữ liệu công nghệ: Nguồn cung cấp các thông tin về sản phẩm
công nghệ đưa lên sàn do doanh nghiệp cung cấp; các công nghệ, thiết bị quảng cáo được miễn phí hoàn toàn, khi có giao dịch thành công thì mới phải trả phí Việc tra cứu thông tin trên sàn hoàn toàn miễn phí
Mạng lưới thẩm định, định giá công nghệ: Sàn thiết lập mạng lưới cung
cấp dịch vụ đánh giá, giám định, định giá công nghệ dưới hình thức cộng tác viên với các chuyên gia đánh giá, định giá bên ngoài
Đối tượng tham gia giao dịch chủ yếu là: Các viện nghiên cứu, các trường đại học và một số doanh nghiệp Hàng năm các doanh nghiệp đặt hàng công nghệ với SGDCN và sàn làm đầu mối đưa nhu cầu cho các Trường, Viện Khi doanh nghiệp áp dụng được công nghệ chuyển giao qua SGDCN, sẽ được hưởng ưu đãi
về thuế Giá trị công nghệ thường do các bên thỏa thuận, ngoài ra có thể đấu giá Các kết quả đánh giá, định giá công nghệ do chuyên gia thực hiện làm cơ sở cho các bên mua bán công nghệ thực hiện Đối với các dự án lớn thực hiện vốn Nhà Nước để mua công nghệ thì kết quả này phải được Chính phủ (Bộ KH&CN) phê duyệt
Trang 30Hàng năm số lượng các giao dịch thực hiện qua sàn đạt khoảng 4 triệu giao dịch; tỉ lệ thành công của các giao dịch này là: 1 ,6% Năm 11, giá trị giao dịch thành công tại sàn đạt 100 tỷ nhân dân tệ5
Trong các mô hình xúc tiến chuyển giao công nghệ xuất sắc của Trung Quốc, phải kể đến mô hình các sàn giao dịch công nghệ, mà tiêu biểu là mô hình Sàn giao dịch Thượng Hải (Shanghai Technology Transfer Exchange - STTE) -
mô hình được đánh giá là thành công nhất ở châu Á trong những năm qua STTE là sàn giao dịch công nghệ đầu tiên và lớn nhất của Trung Quốc, được Chính quyền thành phố Thượng Hải và Bộ KH&CN Trung Quốc thành lập năm
1 Đây là đơn vị công ích, phi lợi nhuận của Nhà nước, hoạt động theo mô hình tương tự như một đơn vị sự nghiệp có thu ở Việt Nam STTE có chức năng cung cấp các giải pháp công nghệ cho các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ tư vấn về quyền sở hữu trí tuệ; cung cấp các dịch vụ tài chính cho phát triển công nghệ; tổ chức triển lãm và hội nghị về công nghệ, tạo ra những nền tảng để chia sẻ các thông tin về công nghệ
Mô hình tổ chức kinh doanh của STTE bao gồm: Phòng khảo sát chuyển giao công nghệ (quản lý mạng lưới chuyển giao công nghệ tại Thượng Hải); Phòng chuyển giao công nghệ dân sự (quản lý mạng lưới chuyển giao công nghệ thị trường nội địa của Trung Quốc); Phòng chuyển giao công nghệ quốc tế (quản
lý mạng lưới chuyển giao công nghệ quốc tế); Phòng dịch vụ và thương mại công nghệ (quản lý cơ sở dữ liệu chuyển giao công nghệ)
Các hoạt động tư vấn và đánh giá của STTE thực hiện ở các góc độ: Nghiên cứu thị trường; liên kết các đối tác; dịch vụ đầu tư tài chính theo đuổi các mục đích đầu tư Tất cả các hoạt động trên được thực hiện bởi một đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp, có trình độ cao, các nhà môi giới công nghệ và chuyên gia.6
Sàn giao dịch công nghệ Thượng Hải đã tận dụng được nguồn tài nguyên khoa học kỹ thuật trong toàn quốc và toàn cầu, mỗi năm đều xúc tiến thành công một lượng giao dịch công nghệ đáng kể Trong năm: , và 1 , kết nối thành công 1 dự án phát triển công nghệ Các dịch vụ chuyển giao công nghệ của sàn giao dịch công nghệ Thượng Hải phủ khắp 25 tỉnh thành trong cả nước, gần 20 thủ phủ cấp tỉnh, 50 thành phố cấp 2 và 20 thị trấn cấp huyện.7
5 Báo cáo đoàn công tác Bộ KH&CN đi Trung Quốc 2012
6 Mô hình xúc tiến chuyển giao công nghệ: Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho VN-Nguyễn Vân Anh,
Lê Vũ Toàn
7
Dự án hợp tác nghiên cứu Nghị định thư giữa Việt Nam – Trung Quốc 2011
Trang 312.1.4 Những bài học rút ra từ kinh nghiệm tổ chức và hoạt động của thị trường công nghệ Trung Quốc
- Thứ nhất, Nhà nước cần định hướng, xác định và thực thi một hệ thống
các giải há đồng bộ nhằm phát triển thị trường công nghệ:
Để xây dựng và phát triển thị trường công nghệ thành công, thị trường cần được tổ chức dưới sự chỉ đạo của Chính phủ, khuyến khích doanh nghiệp sáng tạo công nghệ, lấy giao dịch công nghệ làm cầu nối liên kết doanh nghiệp – tổ chức R&D – các định chế trung gian,… Các định hướng, giải pháp cơ bản mà Nhà nước cần xác định, thực hiện nhằm phát triển thị trường công nghệ:
+ Thúc đẩy đổi mới và nâng cao năng lực công nghệ của khu vực doanh nghiệp
+ Tăng cường hiệu lực pháp luật
+ Phát triển hệ thống thông tin công nghệ và các tổ chức trung gian
+ Đổi mới quản lý nhà nước và chính sách đầu tư cho khoa học công nghệ
- Thứ hai, xây dựng SGDCN với quy mô khu vực, hoạt động theo mô hình
phi lợi nhuận và thiết lập hệ thống các điểm giao dịch trên toàn quốc để thu thập thông tin
- Thứ ba, phát triển hệ thống đội ngũ môi giới công nghệ thông qua những
khóa đào tạo, những chuyến đi học tập kinh nghiệm nước ngoài,… để bồi dưỡng
kỹ năng tư vấn, đánh giá, định giá, đánh giá, giám định công nghệ
- Thứ tư, hình thành mối liên kết chặt chẽ giữa các bộ ngành, Viện/Trường
nhằm xây dựng hệ thống xúc tiến chuyển giao công nghệ quốc gia, xây dựng mạng lưới cung cấp thông tin cho hoạt động của sàn GDCN
- Thứ năm, tạo quyền tự chủ kinh doanh các tổ chức khoa học và công nghệ
giúp các nhà khoa học tăng cường động lực nghiên cứu, thương mại hóa sản phẩm, công nghệ mới
2.2 Chính sách hỗ trợ và thực tiễn hoạt động của Sàn giao dịch công nghệ
Đ i L an
2.2.1 Mô hình hoạt động và kết quả đạt được của Sàn giao dịch công nghệ
Đ i L an
* Sự ra đời của Sàn giao dịch công nghệ tại Đài Loan:
Nhằm gia tăng tốc độ lưu thông các sáng chế và công nghệ, thúc đẩy sự phát triển của thị trường công nghệ, Văn phòng Phát triển Công nghiệp (IDB) thuộc Bộ Quản lý Kinh tế (MOEA) đã thành lập Sàn Giao dịch công nghệ Đài
Trang 32Loan và hệ thống thông tin của Sàn vào tháng 11 năm 1 Sàn giao dịch công nghệ Đài Loan có tên tiếng Anh là Taiwan Technology Marketplace (TWTM) là Sàn giao dịch công nghệ duy nhất tại vùng lãnh thổ này tính đến thời điểm hiện nay
Sàn giao dịch công nghệ Đài Loan ra đời được kỳ vọng có thể giúp giải quyết các khiếm khuyết của "việc cung cấp các chức năng dịch vụ hoàn chỉnh" trên thị trường giao dịch công nghệ trong nước và tình thế tiến thoái lưỡng nan của "việc lưu thông không hiệu quả các tài sản trí tuệ." Sàn cũng sẽ cung cấp các dịch vụ tư vấn hiệu quả thông qua các trung tâm dịch vụ tổng hợp kết hợp với dịch vụ công nghệ bổ sung từ các thành viên
* Tổ chức và hoạt động của Sàn giao dịch công nghệ Đài Loan:
Trên hình 1 mô tả mô hình tổ chức và hoạt động của Sàn giao dịch công nghệ Đài Loan Theo đó, Sàn đóng vai trò trung gian, chịu sự quản lý trực tiếp của Văn phòng Phát triển Công nghiệp Sàn có mối quan hệ với các tổ chức nghiên cứu và phát triển, các cá nhân nghiên cứu sáng tạo; với mạng lưới đối tác trong và ngoài nước; và với các doanh nghiệp sử dụng công nghệ
Sàn giao dịch công nghệ Đài Loan đang thực hiện các chức năng sau đây8:
- Tư vấn về thương mại hóa: Bao gồm các hoạt động như đánh giá giá trị gia tăng của công nghệ, phương án phát triển công nghệ, đánh giá công nghệ và phát triển sản phẩm
- Thực hiện các dịch vụ phù hợp về giao dịch mua bán các công nghệ và sáng chế
- Giải quyết việc tư vấn đăng ký công nghệ IP & RD của Văn phòng phát triển công nghiệp Đài Loan (IDP)
8
Nguồn: http://www.twtm.com.tw/english
Trang 33- Trợ giúp trong việc thu thập các bằng sáng chế cho phía cầu
- Bảo trợ cho các hoạt động thúc đẩy và đa dạng hóa chuyển giao công nghệ như các cuộc trình diễn thương mại hay các cuộc đàm phán tài trợ
- Thúc đẩy các hoạt động chuyển giao công nghệ và hợp tác trao đổi quốc
tế
Hệ thống thông tin thuộc Sàn cung cấp các dịch vụ như:9
- Cung cấp danh sách các sáng chế (có cả video) có thể thương mại hóa
- Thu thập các công nghệ và sáng chế có thể mua bán ở trong và ngoài nước cũng như các thông tin liên quan về sự kết hợp các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ
- Cung cấp “Phần mềm đánh giá online về sáng chế” và “Hệ thống có chức năng tìm kiếm công nghệ toàn cầu”
- Cung cấp cơ sở dữ liệu nhân tài chuyên nghiệp trong chuyển giao công nghệ nội địa
- Các quy tắc về đăng ký năng lực hoạt động và công bố về các cơ sở có đủ điều kiện đăng ký
- Thông báo rộng rãi về các cuộc họp và trình bày giao dịch kinh doanh công nghệ, các sự kiện chuyển giao công nghệ, các chương trình đào tạo đặc biệt có liên quan
- Cung cấp tin tức mới nhất về tài sản trí tuệ, mục, luật và thảo luận khu vực
Mạng lưới đối tác đóng vai trò hết sức quan trọng giúp nâng cao hiệu quả hoạt động của Sàn giao dịch công nghệ Đài Loan Với một mạng lưới trải rộng trên phạm vi toàn cầu, trong đó có những quốc gia phát triển mạnh về công nghệ
và sáng chế như Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc, đã giúp cho Sàn
mở rộng được nguồn cung – cầu công nghệ, đa dạng hóa môi trường và phương thức hoạt động Hoạt động hợp tác với các đối tác quốc tế của Sàn giao dịch và công nghệ Đài Loan tập trung vào 05 nội dung chính như sau:
- Thiết lập thỏa thuận hợp tác có thể giúp truyền bá các thông tin về cung cầu đối với các sáng chế/công nghệ chung, giúp làm cho thuận lợi hơn việc chuyển giao hiệu quả các sáng chế/công nghệ
- Mời các viện nghiên cứu tham gia bảo trợ cho các khóa tọa đàm, hội thảo
9
Nguồn: http://www.twtm.com.tw/english
Trang 34* Các kết quả đã đạt đư c:
Có thể khẳng định, Sàn giao dịch công nghệ Đài Loan đã từng bước hoàn thành tốt sứ mạng của mình kể từ khi thành lập, hỗ trợ hiệu quả cho việc lưu thông các tài sản trí tuệ, góp phần nâng cao tính cạnh tranh của các doanh nghiệp nói riêng và của cả nền kinh tế vùng lãnh thổ này nói chung Hoạt động của Sàn đã phát huy hiệu quả của nguồn tài nguyên tri thức – các tài sản trí tuệ – giúp chúng đến nhanh và đúng địa chỉ để có thể sử dụng và phát huy hiệu quả Cho đến nay, Sàn giao dịch công nghệ Đài Loan đã tiếp nhận hiệu quả hơn 25.000 bằng sáng chế từ các ngành công nghiệp và giới nghiên cứu của nước này Cùng với đó, khoảng hơn sáng chế của 60 nhà cung cấp công nghệ từ khu vực công nghiệp và viện/trường đã được tiến hành đánh giá giá trị bởi “liên minh dịch vụ quyền sở hữu trí tuệ" – được tạo bởi hơn 1 trung tâm dịch vụ công nghệ Sàn còn tài trợ cho 02 cuộc chuyển giao công nghệ trên phạm vi cả nước và về các hoạt động đấu thầu chuyên ngành về giấy phép sử dụng, nhiều cuộc đàm phán kinh doanh có chủ đề chính về sáng chế/công nghệ và các “Hội chợ trình diễn quốc tế về sáng chế” hàng năm tại Đài Loan
Hội chợ năm 1 được tổ chức từ đến tháng năm 1 11 Đã có tổng cộng 170 viện từ khu vực công nghiệp, giới chức chính phủ và nghiên cứu trong nước cũng như từ các nước Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Xin-ga-po, và Hungary được mời tham gia Tại Hội chợ, hơn 1 mặt hàng sáng chế/công nghệ được giới thiệu Cùng với đó, khoảng 14 bài thuyết trình về công nghệ và kinh doanh cũng như các cuộc đàm phán kinh doanh được tổ chức; có khoảng
6 lượt khách tham dự với khoảng trường hợp về các cơ hội kinh doanh
10 Tynax là một Sàn giao dich công nghệ và sáng chế toàn cấu của Hoa Kỳ ( http://www.tynax.com ) Trụ
sở chính của công ty đặt tại thung lũng Silicon, tiểu bang California Tynax hiện có hơn 1 nghìn bằng công nghệ và các tài sản công nghệ để bán online
11
Thông tin tại website: http://www.inventaipei.com.tw/
Trang 35Ngoài ra, Sàn cũng đã trực tiếp tạo ra nhiều kết quả như phát triển phần mềm đánh giá sáng chế trực tuyến giúp mọi người có thể tiến hành tham khảo sơ
bộ mỗi khi cần đánh giá một sáng chế
Các hình dưới đây phân loại sơ bộ các sáng chế mà Sàn giao dịch công nghệ Đài Loan đã tiếp nhận từ năm 4 đến tháng 12/2011
2.2.2 Các chính sách hỗ trợ tác động đến Sàn giao dịch công nghệ Đ i Loan
Trang 36Trong nhóm các chính sách thúc đẩy phát triển khoa học và công nghệ để nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, Đài Loan đã ưu tiên và kiên trì thực hiện xây dựng các công viên khoa học trong nhiều năm và đã có sự thành công rất đáng kể Các công viên khoa học đã chứng minh vai trò đầu tàu trong việc phát triển các sản phẩm công nghệ mới, công nghệ cao thúc đẩy quá trình đổi mới công nghệ là nơi được đầu tư tập trung của chính phủ cũng như các tổ chức khác nhằm sử dụng hiệu quả nhất nguồn vốn cho phát triển khoa học và công nghệ
Có ba công viên khoa học lớn được thành lập theo “Statute for the Establishment of Science Parks” (Quy chế thành lập công viên khoa học) trực thuộc sự quản lý của Hội đồng khoa học quốc gia là: Hsinchu Science Park, Central Taiwan Science Park và Southern Taiwan Science Park.13 Ngoài ra còn
có nhiều công viên khoa học khác như là Biomedical Park, Jhunan Park, Kaohsiung Science Park, Longtan Park, Tainan Science Park, Tongluo Park, Yilan Park, Nankang Software Park,…
Việc đầu tư hỗ trợ cho hoạt động nghiên cứu phát triển cũng được thực hiện mạnh mẽ Hàng năm, Bộ Quản lý Kinh tế Đài Loan cấp ngân sách cho các
dự án R&D theo "Quy chế Hỗ trợ phát triển sản phẩm mới tiên tiến” (Regulations for Assisting the Development of Leading New Products) và
“Chương trình trợ giúp phát triển các ngành công nghiệp truyền thống” (Traditional Industry Technology Development Assistance Program)
Trang 37Kết quả thực hiện “Chương trình trợ giúp phát triển các ngành công nghiệp truyền thống” để nâng cấp khả năng R&D trong các ngành công nghiệp truyền thống rất đáng ghi nhận Từ năm 1 cho đến năm , tổng cộng trợ cấp R&D của chính phủ là 720 triệu NT14, trong khi tổng quỹ đầu tư cho R&D của
453 nhà sản xuất được trợ cấp đạt 1,08 tỷ NT, và có hơn nhân viên tham gia trong các dự án R&D Các lợi ích kinh tế từ việc thực hiện dự án này bao gồm: tăng 1 ,6 tỷ NT về giá trị sản lượng, tăng 1, 7 tỷ NT vốn đầu tư, và giảm 1,26 tỷ NT chi phí sản xuất
Chính phủ Đài Loan cũng huy động các viện nghiên cứu và các trường đại học lớn từ cả khu vực công và tư nhân tham gia vào các hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ và tạo ra nguồn cung công nghệ quan trọng Ngoài việc khuyến khích phát triển các tổ chức R&D trong nước, chính phủ Đài Loan còn có chính sách đặc biệt để kêu gọi các tập đoàn và công ty lớn của nước ngoài thành lập các trung tâm nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ tại vùng lãnh thổ này Đây là chính sách rất có ý nghĩa giúp Đài Loan sớm tiếp cận được nguồn công nghệ cao, công nghệ mới từ các nước phát triển trên thế giới Chương trình “Multinational Innovative R&D Centers in Taiwan” được khởi động từ năm là một trong những biện pháp của đảo quốc này để thực hiện chủ trương nói trên Nhờ đó, hiện nay nhiều tập đoàn đa quốc gia lớn như HP, Becker, Sony, Dell, IBM, Microsoft, Intel, DuPont, Wyeth, Phoenix, AIXTRON, Fujitsu, Motorola, Nokia, Pfizer, JSR, GM, Matsushita and Broadcom đã thành lập trung tâm R&D tại Đài Loan15
* Các chính sách ưu đãi hát triển:
Để hỗ trợ hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, Đài Loan đã thực thi liên tục các đạo luật có tính kế thừa ổn định và phù hợp với ưu tiên cho từng thời kỳ “Đạo luật nâng cấp công nghệ” (Statute for Upgrading Industries) được thực thi từ ngày /1 /1 , và được sửa đổi lần cuối vào ngày 6/ / Đạo luật này đưa ra nhiều chính sách ưu đãi hỗ trợ các hoạt động đổi mới công nghệ trong tất cả các lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp và dịch
vụ Chương của đạo luật này nói về các ưu đãi thuế, theo đó có một số điểm đáng chú ý như:
- Một công ty có thể được khấu trừ đến 35% các khoản đầu tư cho R&D và đào tạo nhân viên vào thuế thu nhập hàng năm của doanh nghiệp này trong vòng
14
NT = New Taiwan Dollar, được phát hành ra lần đầu từ 07/2000 (Nguồn: Ngân hàng Trung ương Đài Loan tại địa chỉ website http://www.cbc.gov.tw/ct.asp?xItem=944&CtNode=503&mp=2 ) Tỷ giả trao đổi giai đoạn 2001 – 2003 xấp xỉ 34 NT cho 1 USD ( http://www.forecast-chart.com/usd-taiwan-dollar.html )
15 2010 Industrial Development in Taiwan, R.O.C., pp 25 Bản PDF tải về từ địa chỉ website:
http://www.moeaidb.gov.tw/external/ctlr?lang=1&PRO=publication.PublicationView&id=1372
Trang 38năm từ năm hiện tại; nếu các khoản chi tiêu cho R&D của năm hiện tại lớn hơn mức chung bình của hai năm kế trước hay các chi phí đào tạo nhân viên của năm hiện tại lớn hơn mức trung bình của hai năm kế trước thì 50% giá trị của khoản chênh lệch cũng sẽ được khấu trừ vào thuế thu nhập của doanh nghiệp trong năm hiện tại (Điều 6)
- Một công dân Đài Loan có sáng chế bán cho một một doanh nghiệp Đài Loan (là người sử dụng cuối cùng của sáng chế) thì được miễn thuế thu nhập của 50% giá trị tiền mà công ty mua trả cho người đó (Điều 11)
- Các hoạt động R&D do chính phủ tài trợ cho các doanh nghiệp sẽ được miễn thuế doanh nghiệp (Điều 20)
Chương của đạo luật này quy định về việc thành lập và sử dụng các Quỹ phát triển, theo đó Chính phủ Đài Loan có trách nhiệm thành lập một Quỹ và sử dụng nó để tài trợ cho các hoạt động trong đó có R&D
Các Quỹ đầu tư mạo hiểm để hỗ trợ các bước khởi nghiệp của các doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng được đạo luật đề cập như là trách nhiệm của Chính phủ phải hướng dẫn và trợ giúp việc thành lập các Quỹ này (điều 7 , chương 6) Ngay sau khi “Đạo luật nâng cấp công nghệ” hết hiệu lực vào cuối năm , Đài Loan đã thông qua “Đạo luật đổi mới công nghệ” (Statute for Industrial Innovation) được thực thi từ ngày 1 / / 1 Đạo luật thay thế này đưa ra những chính sách mới phù hợp với điều kiện phát triển trong thời kỳ mới của vùng lãnh thổ này Điều quy định chính quyền trung ương phải có trách nhiệm cung cấp các khoản tài trợ hoặc hướng dẫn cho các mục đích:
(1) Khuyến khích đổi mới công nghiệp hoặc R&D
(2) Cung cấp các hướng dẫn liên quan đến công nghệ trong công nghiệp và nâng cấp công nghệ
(3) Khuyến khích các doanh nghiệp thành lập các trung tâm đổi mới sáng tạo và R&D
(4) Hỗ trợ thành lập các tổ chức đổi mới sáng tạo hoặc R&D
(5) Tăng cường sự hợp tác giữa các ngành kinh doanh, trường đại học, và các tổ chức nghiên cứu
(6) Khuyến khích các doanh nghiệp tham gia vào đào tạo nguồn nhân lực từ các trường đại học
(7) Đảm bảo có nguồn cung nhân lực đầy đủ cho nền kinh tế
(8) Giúp ngành công nghiệp địa phương để đổi mới
(9) Các vấn đề khác liên quan đến thúc đẩy phát triển công nghệ và R&D
Để khuyến khích đầu tư cho đổi mới công nghệ, các doanh nghiệp được khấu trừ lên đến 15% tổng chi tiêu cho R&D trong năm vào thuế thu nhập doanh
Trang 39nghiệp năm đó (điều 1 ) Đạo luật cũng yêu cầu chính phủ Đài Loan thành lập Quỹ phát triển quốc gia (National Development Fund) (điều 29) với ngân sách được cấp từ Dự trữ quốc gia (National Treasury) (điều 1) và được sử dụng cho những mục đích sau (điều 30):
(1) Đầu tư vào đổi mới công nghệ, phát triển công nghệ cao, năng lượng và tài nguyên có thể tái chế, tái tạo, các ngành công nghiệp “năng lượng xanh ", giới thiệu công nghệ và các nhiệm vụ/dự án quan trọng khác mà
có thể mở rộng tính hiệu quả của các ngành công nghiệp hoặc cải tiến cấu trúc công nghiệp phù hợp với chiến lược phát triển công nghiệp quốc gia
(2) Cung cấp phương tiện tài chính hỗ trợ cho các dự án liên quan đến phát triển bền vững các ngành công nghiệp, phòng chống ô nhiễm, bảo tồn năng lượng, giảm thiểu hiệu ứng nhà kính và các lĩnh vực khác mà có thể nâng cao hiệu quả của các ngành công nghiệp hoặc cải thiện cơ cấu công nghiệp, phù hợp với chiến lược phát triển công nghiệp quốc gia
(3) Hỗ trợ các cơ quan trung ương chịu trách nhiệm cuối cùng về các doanh nghiệp trong việc xử lý đầu tư, tài chính hoặc chi tiêu hợp tác công nghệ của các dự án có liên quan
(4) Hỗ trợ các cơ quan trung ương có liên quan chịu trách nhiệm cuối cùng
về các doanh nghiệp trong các khoản chi tiêu cần thiết cho các dự án thực hiện nhằm phát triển kinh tế, phát triển công nghệ trong nông nghiệp, phát triển xã hội, phát triển văn hóa và sáng tạo, giới thiệu công nghệ, nâng cao chất lượng R&D, phát triển thương hiệu riêng, nâng cao nguồn lực con người, cải thiện cơ cấu công nghiệp và các vấn đề có liên quan
(5) Các vấn đề khác được chấp thuận bởi Chính phủ trên cơ sở từng trường hợp cụ thể
Để thúc đẩy phát triển công nghiệp, nâng cấp công nghệ và duy trì tăng trưởng kinh tế liên tục, Quỹ Phát triển (Development Fund) của Chính phủ Đài Loan đã thiết lập một quỹ đặc biệt để hợp tác với các ngân hàng nhằm cung cấp các khoản vay đa dạng có lãi suất thấp đặc biệt Các khoản vay này dành cho hoạt động R&D; tiền mua sắm máy móc và thiết bị tự động kiểm soát ô nhiễm
và tiết kiệm năng lượng; hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ; và cho các ngành công nghiệp truyền thống Chính phủ cũng cung cấp tài chính trung và dài hạn cho các dự án đầu tư lớn từ 100 triệu NT trở lên của các doanh nghiệp tư nhân Đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs) đã bị từ chối cho vay do thiếu tài sản đảm bảo đầy đủ, Quỹ bảo lãnh tín dụng doanh nghiệp vừa và nhỏ (Small and Medium Business Credit Guarantee Fund), một tổ chức phi lợi nhuận
Trang 40Các chính sách hỗ trợ về đất đai cho các doanh nghiệp hoạt động trong các khu công nghiệp hay các công viên khoa học được Bộ Quản lý Kinh tế Đài Loan thực hiện như các chương trình -66-88 (the 00-66- Program) và chương trình 789 (the 789 program)
Chương trình -66- được thực hiện từ ngày 1/ / , theo đó các doanh nghiệp đủ điều kiện khi thuê đất sẽ được miễn tiền thuê trong năm đầu tiên (00), trả 6 % cho năm tiếp theo (66) và % cho năm thứ năm và thứ 6 (88) Doanh nghiệp phải trả đầy đủ tiền thuê đất cho các khu công nghiệp từ năm thứ bảy trở đi
Chương trình 7 9 giúp giảm giá mua đất cho các nhà sản xuất có nhu cầu mua đất tại các khu công nghiệp cụ thể như sau:
- Giảm giá 30% tại Changhua Costal Industrial Park, Tainan Technology Industrial Park, và Hualien Hoping Industrial Park
- Giảm giá 20% tại Douliu Industrial Park và Yunlin Technology Industrial Park
- Giảm giá 10% tại Yilan Litzer Industrial Park
* Các chính sách về hỗ tr phát triển nhân lực:
Nhằm đáp ứng cho một nền kinh tế năng động phát triển theo hướng kinh
tế tri thức, trong đó khoa học và công nghệ giữ vai trò động lực, Đài Loan đã có những chính sách phù hợp và hiệu quả để xây dựng cho mình một nguồn nhân lực đa dạng có trình độ cao Những thành tựu kinh tế của vùng lãnh thổ này được giữ ổn định nhờ một phần nguyên nhân quan trọng là dựa vào nền tảng nguồn nhân lực chất lượng cao ở những lĩnh vực then chốt
16
2010 Industrial Development in Taiwan, R.O.C., pp 15