1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn, đề xuất phương pháp xác định thiệt hại dân sự do ô nhiễm, suy thoái môi trường gây ra trên một số dòng sông ở Việt Nam

150 859 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 150
Dung lượng 2,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT AHC Phương pháp nguồn vốn con người điều chỉnh APPS Hệ thống mô phỏng ô nhiễm nông nghiệp BOD5 Nhu cầu oxy sinh hóa tính trong 5 ngày BTNMT Bộ Tài nguyên và Môi

Trang 1

NGHIÊN CỨU CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN,

ĐỀ XUẤT PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH THIỆT HẠI DÂN SỰ DO Ô NHIỄM, SUY THOÁI MÔI TRƯỜNG GÂY RA TRÊN MỘT SỐ DÒNG SÔNG Ở VIỆT NAM

BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

VIỆN CHIẾN LƯỢC, CHÍNH SÁCH TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

BÁO CÁO TỔNG KẾT KHOA HỌC

Trang 3

MỤC LỤC

DANH SÁCH NHỮNG NGƯỜI THAM GIA THỰC HIỆN ĐỀ TÀI

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

MỞ ĐẦU 1

PHẦN I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ XÁC ĐỊNH THIỆT HẠI DÂN DỰ DO Ô NHIỄM, SUY THOÁI MÔI TRƯỜNG 4

1.1 Cơ sở lý luận về xác định thiệt hại dân sự do ô nhiễm, suy thoái môi trường 4

1.1.1 Thiệt hại dân sự do ô nhiễm, suy thoái môi trường 4

1.1.2 Các phương pháp xác định thiệt hại dân sự do ô nhiễm, suy thoái môi trường 7

1.1.3 Phương pháp tính toán tải lượng ô nhiễm 16

1.2 Kinh nghiệm quốc tế về xác định thiệt hại dân sự do ô nhiễm môi trường 26

1.2.1 Nhật Bản 26

1.2.2 Trung Quốc 29

1.2.3 Thái Lan 36

1.2.4 Ấn Độ 41

1.2.5 Indonesia 42

1.2.6 Hoa Kỳ 44

1.2.7 Một số quốc gia Châu Âu 45

1.2.8 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 48

PHẦN II: THỰC TRẠNG Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG TRÊN MỘT SỐ LƯU VỰC SÔNG VÀ THỰC TIỄN XÁC ĐỊNH THIỆT DÂN SỰ DO Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG TẠI VIỆT NAM 52

2.1 Tổng quan hiện trạng ô nhiễm môi trường trên một số lưu vực sông 52

2.1.1 Hiện trạng môi trường lưu vực sông Cầu 55

2.1.2 Hiện trạng môi trường lưu vực sông Nhuệ - Đáy 60

2.1.3 Hiện trạng môi trường lưu vực sông Đồng Nai 67

2.1.4 Thiệt hại dân sự phát sinh do ô nhiễm, suy thoái môi trường tại các lưu vực sông73 2.2 Tổng quan về các quy định pháp luật liên quan đến thiệt hại dân sự do ô nhiễm, suy thoái môi trường 75

2.2.1 Các quy định trong lĩnh vực bảo vệ môi trường 77

2.2.2 Quy định trong pháp luật dân sự 80

Trang 4

2.2.3 Đánh giá chung về các quy định pháp luật liên quan đến thiệt hại dân sự do ô

nhiễm, suy thoái môi trường .83

2.3 Một số nghiên cứu trong nước liên quan đến xác định thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường 84

2.3.1 Nghiên cứu về ảnh hưởng đến sức khỏe tại lưu vực sông Nhuệ - Đáy, tỉnh Hà Nam 84 2.3.2 Xác định vi phạm, mức độ ảnh hưởng do hành vi gây ô nhiễm của Công ty Cổ phần hữu hạn Vedan Việt Nam 86

2.3.3 Nhận xét và đánh giá 90

PHẦN III: ĐỀ XUẤT PHƯƠNG PHÁP VÀ THỬ NGHIỆM TÍNH TOÁN THIỆT HẠI DÂN SỰ DO Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG 91

3.1 Đề xuất phương pháp xác định thiệt hại dân sự do ô nhiễm, suy thoái môi trường 91 3.1.1 Tính toán giá trị thiệt hại về tài sản 91

3.1.2 Tính toán giá trị thiệt hại đối với sức khỏe cộng đồng 95

3.2 Thử nghiệm tính toán thiệt hại dân sự do ô nhiễm môi trường 97

3.2.1 Tổng quan về khu vực và phương pháp nghiên cứu 97

3.2.2 Điều kiện địa lý tự nhiên, kinh tế - xã hội lưu vực rạch Bà Chèo 98

3.2.3 Các nguồn gây ô nhiễm đối với lưu vực rạch Bà Chèo 99

3.2.4 Chất lượng nước mặt rạch Bà Chèo 103

3.2.5 Xác định vùng ô nhiễm 104

3.2.6 Tính toán thiệt hại do ô nhiễm nguồn nước rạch Bà Chèo 105

3.2.7 Đánh giá kết quả thử nghiệm 113

PHẦN IV: ĐỀ XUẤT NGUYÊN TẮC, QUY TRÌNH XÁC ĐỊNH THIỆT HẠI DÂN SỰ DO Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG 114

4 1 Đề xuất nguyên tắc tính toán, xác định thiệt hại dân sự do ô nhiễm 114

4.2 Đề xuất quy trình xác định thiệt hại 115

PHẦN V: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 128

5.1 Kết luận 128

5.2 Kiến nghị 129

TÀI LIỆU THAM KHẢO 139

Trang 5

DANH MỤC HÌNH VÀ BẢNG

Hình 1 Minh họa phương pháp đánh giá nhanh để ước tính tải lượng ô nhiễm

nguồn nước 17

Hình 2 Qui trình xác định thiệt hại do ô nhiễm nước bằng phương pháp liều lượng đáp ứng tại Trung Quốc 31

Hình 3 Mô hình tính thiệt hại kinh tế do ô nhiễm nước 34

Hình 4 Bản đồ các lưu vực sông chính ở Việt Nam 54

Hình 5 Diễn biến hàm lượng BOD5 năm 2007-2009 dọc theo lưu vực sông Cầu 55

Hình 7 Tổng lượng nhu cầu sử dụng nước phân theo ngành 60

Hình 8 Diễn biến hàm lượng N-NH4+ năm 2007-2009 trên sông Nhuệ 61

Hình 9 Giá trị 75% của COD trên sông Nhuệ qua các năm 63

Hình 10 Giá trị 75% của COD sông Đáy qua các năm 63

Hình 11 Giá trị 75% của BOD5 các sông khác qua các năm 64

Hình 12 Diễn biến hàm lượng BOD5 năm 2006-2009 dọc sông Sài Gòn 69

Hình 13 Phân bố lưu lượng nước thải theo lưu vực 71

Hình 14 Phân bố tải lượng BOD5 theo lưu vực 71

Hình 15 Sơ đồ vị trí rạch Bà Chèo 98

Hình 16 Quy trình công nghệ xử lý nước thải của KCN Long Thành 100

Hình 17 Bản đồ phân vùng ô nhiễm rạch Bà Chèo 104

Hình 18 Sơ đồ quy trình xác định thiệt hại dân sự do ô nhiễm, suy thoái môi trường116 Bảng 1 Các loại thiệt hại dân sự do ô nhiễm, suy thoái môi trường 5

Bảng 2 Tải lượng ô nhiễm do nước thải trong một năm (kg/1000 nhân viên) của một số ngành công nghiệp theo IPPS 18

Bảng 3 Tải lượng ô nhiễm do nước thải trong một năm (kg/1000 nhân viên) của một số ngành công nghiệp theo IPPS 19

Bảng 4 Tải lượng ô nhiễm do nước thải (kg/1 triệu USD doanh thu) của một số ngành công nghiệp theo IPPS 20

Bảng 5 Tải lượng các thông số ô nhiễm từ nước thải sinh hoạt 57

xả vào lưu vực sông Cầu (2005) 57

Bảng 6 Phân bố lưu lượng nước thải sinh hoạt trên lưu vực sông Nhuệ-Đáy 65

Bảng 7 Phân bố tải lượng ô nhiễm do nước thải sinh hoạt trên lưu vực sông Nhuệ- Đáy.65 Bảng 8 Phân bố lưu lượng nước thải đô thị trên lưu vực hệ thống sông Đồng Nai 70

Bảng 9 Phân bố tải lượng ô nhiễm do nước thải đô thị trên lưu vực sông Đồng Nai 71

Bảng 10 Tổng hợp nguồn thải từ các KCN, KCX trong VKTTĐPN theo ranh giới lưu vực sông 72

Bảng 11 Dân số, thu nhập bình quân và tỉ lệ mắc bệnh tại tỉnh Hà Nam và Hưng Yên85 Bảng 12 Chi phí và tổn thất liên quan đến bệnh tiêu chảy 86

Bảng 13 Kết quả tính toán tổn thất kinh tế do mắc bệnh tiêu chảy 86

Trang 6

Bảng 14 Tỷ lệ gây ô nhiễm tính theo tải lượng các chất ô nhiễm của Công ty Vedan so

với tổng tải lượng ô nhiễm của tất cả các nguồn thải 90

Bảng 15 Tỷ lệ phần trăm trách nhiệm của Vedan do ô nhiễm 90

Bảng 16 Biểu mẫu tính toán thu nhập ròng đối với 01 vụ nuôi tôm sú công nghiệp 92

Bảng 17 Biểu mẫu thống kê thiệt hại đối với sức khỏe dân cư trong một năm 96

Bảng 18 Thống kê lưu lượng nước thải của KCN Long Thành 100

Bảng 19 Chất lượng nước thải sau xử lý tại đầu ra hồ hoàn thiện 101

Bảng 20 Hệ số ô nhiễm do mỗi người hàng ngày sinh hoạt đưa vào môi trường (nước thải sinh hoạt chưa qua xử lý) .101

Bảng 21 Tải lượng chất ô nhiễm sinh ra từ nước thải sinh hoạt (chưa qua xử lý)

tại lưu vực rạch Bà Chèo 102

Bảng 22 Nồng độ các chất ô nhiễm trong nước thải sinh hoạt 102

Bảng 23 Khối lượng phân bón và hoá chất BVTV sử dụng tại xã Tam An 103

Bảng 24 Chất lượng nước tại rạch tiếp nhận nước thải 104

Bảng 25 Diện tích các loại cây trồng bị thiệt hại do ô nhiễm rạch Bà Chèo 106

Bảng 26 Thiệt hại bình quân đối với các loại cây trồng 106

Bảng 27 Giá trị thiệt hại đối với ngành trồng trọt do ô nhiễm rạch Bà Chèo 107

Bảng 28 Số đàn gia cầm (N) bị thiệt hại hàng năm do ô nhiễm rạch Bà Chèo 108

Bảng 29 Thiệt hại bình quân đối với các loại gia cầm 108

Bảng 30 Giá trị thiệt hại đối với ngành chăn nuôi do ô nhiễm rạch Bà Chèo 109

Bảng 31 Tổng giá trị thiệt hại đối với hoạt động đánh bắt thủy sản do ô nhiễm rạch Bà Chèo 111

Bảng 32 Thiệt hại bình quân đối với ngành nuôi thủy sản 112

Bảng 33 Giá trị thiệt hại đối với nuôi thủy sản do ô nhiễm rạch Bà Chèo 112

Bảng 35 Tổng thiệt hại do ô nhiễm lưu vực rạch Bà Chèo 113

Bảng 36 Cơ chế sàng lọc giúp xác định nguồn gây ô nhiễm môi trường 117

Bảng 37 Các chứng cứ cần thu thập về nguồn gây ô nhiễm 118

Bảng 38 Các dạng thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường và đối tượng chịu thiệt hại trực tiếp 124

Bảng 39 Các thông tin cơ bản cần thu thập để hỗ trợ tính toán thiệt hại về kinh tế 125

Bảng 40 Một số yêu cầu cơ bản đối với việc điều tra, xác minh thiệt hại 127

Trang 7

DANH SÁCH NHỮNG NGƯỜI THAM GIA THỰC HIỆN ĐỀ TÀI

1 Ths Kim Thị Thúy Ngọc Viện Chiến lược, Chính sách tài nguyên và

4 TS Trần Thị Việt Nga Đại học Xây dựng Hà Nội

5 Ths Dương Thu Hằng Đại học Xây dựng Hà Nội

6 TS Đinh Đức Trường Đại học Kinh tế quốc dân

7 Ths Đặng Thị Phương Hà Viện Chiến lược, Chính sách tài nguyên và

Trang 8

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

AHC Phương pháp nguồn vốn con người điều chỉnh

APPS Hệ thống mô phỏng ô nhiễm nông nghiệp

BOD5 Nhu cầu oxy sinh hóa tính trong 5 ngày

BTNMT Bộ Tài nguyên và Môi trường

BVMT Bảo vệ môi trường

DALY Số năm trong cuộc đời bị mất do mắc bệnh

DC Phương pháp chi phí phòng ngừa

DPPS Hệ thống mô phỏng ô nhiễm từ sinh hoạt

EDCC Ủy ban giải quyết tranh chấp môi trường của Nhật Bản EMA Bộ luật quản lý môi trường

EOP Phương pháp xác định ảnh hưởng đối với sản lượng

GBD Gánh nặng bệnh tật toàn cầu

HC Phương pháp tiếp cận nguồn vốn con người

IPPS Hệ thống dự báo ô nhiễm công nghiệp

LVHTS Lưu vực hệ thống sông

NN&PTNT Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

PC Phương pháp thay đổi năng suất

QALY Số năm chất lượng cuộc sống điều chỉnh

QLTNN Quản lý tài nguyên nước

RC Phương pháp chi phí thay thế

SS Cặn lơ lửng

VKTTĐPN Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam

VLS Giá trị số năm sống thống kê

XLNT Xử lý nước thải

YLL Tổng số năm của cuộc sống tương lai bị mất đi

YLD Số năm sống mất đi vì mang bệnh hoặc thương tích WTP Sự sẵn lòng chi trả

WTA Sự sẵn lòng chấp nhận

WHO Tổ chức y tế thế giới

Trang 9

MỞ ĐẦU

Tốc độ phát triển kinh tế cao, bên cạnh việc mang lại những lợi ích to lớn như cải thiện mức sống của người dân và tiềm lực cho đất nước, cũng có tác động nặng nề đến chất lượng môi trường Trong đó, nước thải phát sinh từ các hoạt động sản xuất công nghiệp là một trong vấn đề nhức nhối nhất Ở Việt Nam hiện nay, phần lớn các nhà máy chỉ xử lý nước thải sơ bộ sau đó thải trực tiếp ra môi trường, gây ô nhiễm nghiêm trọng nguồn nước mặt, nước nguồn Năng lực xử lý nước thải của Việt Nam hiện nay đáp ứng ở mức rất thấp so với nhu cầu thực tế Theo một số nghiên cứu đánh giá đã thực hiện (Cục Kiểm soát ô nhiễm, 2009; 1 Ngân hàng Á Châu (ADB), 20092) thì năng lực xử lý nước thải ở các đô thị này hiện nay mới chỉ đáp ứng dưới 10% so với nhu cầu thực tế

Theo Báo cáo môi trường quốc gia 2010, Bộ Tài nguyên và Môi trường, hàm lượng các chất hữu cơ trên hệ thống sông, kênh, rạch ở các đô thị ở mức cao và đều vượt tiêu chuẩn cho phép rất nhiều lần Các thông số amoni, COD, BOD5, Coliform đều vượt tiêu chuẩn cho phép từ vài chục lần, có nơi vượt đến vài trăm lần Các tỉnh thành bị ô nhiễm môi trường nước nhiều nhất được sắp xếp theo thứ tự sau: Hồ Chí Minh, Hà Nội, Bình Dương, Hải Phòng, Đồng Nai Bốn trong số 10 tỉnh có sự ô nhiễm nước lớn nhất thuộc lưu vực sông Sài Gòn-Đồng Nai Lưu vực sông Nhuệ-Đáy cũng bị ô nhiễm nặng tại nhiều nơi Đối với lưu vực sông Cầu, đoạn sông Cầu chảy qua thành phố Thái Nguyên bị ô nhiễm nặng Hàm lượng SS, BOD5 and COD vượt QCVN 08:2008/BTNMT (loại B1) nhiều lần, nước sông có chứa các hợp chất hữu cơ và dầu mỡ

Việt Nam đã ban hành các văn bản pháp luật liên quan đến bồi thường thiệt hại

do ô nhiễm, suy thoái môi trường, tạo hành lang pháp lý cho công tác bồi thường thiệt hại do các hoạt động ô nhiễm gây ra Tuy nhiên, hiện vẫn còn thiếu các văn bản hướng dẫn chi tiết việc xác định và bồi thường thiệt hại môi trường, đặc biệt liên quan đến thiệt hại về sức khỏe, tính mạng của con người, tài sản và lợi ích hợp pháp của tổ chức

cá nhân (thiệt hại dân sự) Hiện chưa có phương pháp hay cơ sở nào để tính toán các tổn thất dân sự gây ra do ô nhiễm và suy thoái môi trường, kết quả là rất khó đánh giá được tổng thiệt hại và xác định được các bên liên quan có trách nhiệm trong việc đền

bù cho người bị hại Việc xác định trách nhiệm đền bù thiệt hại do ô nhiễm môi trường

do đó rất khó thực hiện trong đa số các trường hợp đã xảy ra Do đó, việc xây dựng phương pháp xác định việc bồi thường thiệt hại dân sự do ô nhiễm môi trường là rất

1 Cục kiểm soát ô nhiễm, 2009, Điều tra, thống kê, phân loại nguồn thải, xác định tải lượng nước thải từ các thành phần làm cơ sở cho việc xây dựng Đề án “Kiểm soát ô nhiễm môi trường do nước thải tại Hà Nội, Hải Phòng và thành phố Hồ Chí Minh”

2 ADB, 2009, Báo cáo Dự án đánh giá ngành nước Việt Nam

Trang 10

cần thiết Đây cũng là cơ sở quan trọng để cung cấp các hướng dẫn cho địa phương trong việc xác định thiệt hại dân sự liên quan đến ô nhiễm môi trường

Trong bối cảnh đó, Viện Chiến lược, Chính sách tài nguyên và môi trường được

Bộ Tài nguyên và Môi trường giao thực hiện đề tài "Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn, đề xuất phương pháp xác định thiệt hại dân sự do ô nhiễm, suy thoái môi trường gây ra trên một số dòng sông ở Việt Nam" nhằm đưa ra một cơ sở lý luận và thực tiễn đầy đủ, toàn diện về xác định thiệt hại dân sự do ô nhiễm, suy thoái môi trường gây ra,

từ đó đề xuất phương pháp xác định thiệt hại dân sự do ô nhiễm và suy thoái môi trường gây ra

Mục tiêu tổng quát của đề tài là: góp phần giảm ô nhiễm, suy thoái môi trường

gây ra từ các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội trên một số dòng sông của Việt Nam

Mục tiêu cụ thể của đề tài bao gồm: (i) xây dựng được một cơ sở lý luận và

thực tiễn đầy đủ, toàn diện về xác định thiệt hại dân sự do ô nhiễm, suy thoái môi trường gây ra, tìm hiểu khả năng áp dụng ở Việt Nam; (ii) Đề xuất phương pháp xác định thiệt hại dân sự do ô nhiễm, suy thoái môi trường phù hợp với điều kiện của Việt Nam thông qua nghiên cứu, thử nghiệm phương pháp xác định thiệt hại dân sự do ô nhiễm và suy thoái môi trường và (iii) đề xuất các nguyên tắc và quy trình về xác định

thiệt hại dân sự do ô nhiễm, làm cơ sở cho việc xây dựng Nghị định xác định thiệt hại

dân sự do ô nhiễm, suy thoái môi trường

Phạm vi nghiên cứu của đề tài tập trung vào xác định các thiệt hại liên quan đến

tài sản, sức khỏe do ô nhiễm môi trường nước từ các hoạt động xả thải từ các nguồn gây ô nhiễm khác nhau, đặc biệt nhấn mạnh vào hoạt động xả thải công nghiệp vì đây

là nguyên nhân gây ra ô nhiễm, suy thoái môi trường lớn nhất ở Việt Nam hiện nay

Các phương pháp thực hiện của đề tài bao gồm:

- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Phương pháp này được sử dụng trên cơ sở các tài liệu, số liệu thu thập liên quan, gồm cơ sở dữ liệu sơ cấp và thứ cấp

- Phương pháp kế thừa các kết quả nghiên cứu đã thực hiện: Thực tế cho thấy lượng giá thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường đã có nhiều nghiên cứu từ trước tới nay của thế giới và trong nước, để đưa ra hướng nghiên cứu đúng và phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam, nhóm nghiên cứu đã học hỏi và kế thừa một phần các nghiên cứu trước đây

- Điều tra, khảo sát thực địa tại các địa phương: Để đảm bảo kết quả đưa ra có tính chính xác và sát với thực tiễn hiện trang ô nhiễm ở Việt Nam, nhóm nghiên cứu

đã tiến hành điều tra nghiên cứu tại một số địa phương đại diện để có một bức tranh nhìn nhận toàn diện

Trang 11

- Tổ chức hội thảo, tọa đàm: Hội thảo toạ đàm là phương pháp truyền thống được vận dụng trong quá trình thực hiện đề tài, từ việc xây dựng đề cương nghiên cứu đến thực hiện từng nội dung và kết quả cuối cùng Kết quả Hội thảo là cơ sở để chỉnh sửa, bổ sung và hoàn thiện đề tài

Báo cáo này là báo cáo tổng hợp của đề tài với các nội dung chính sau:

- Phần I Cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế về xác định thiệt hại dân sự do ô nhiễm, suy thoái môi trường

- Phần II Thực trạng ô nhiễm môi trường trên một số lưu vực sông và thực tiễn xác định thiệt hại do ô nhiễm môi trường nước tại Việt Nam

- Phần III Đề xuất phương pháp và thử nghiệm tính toán thiệt hại dân sự do ô nhiễm môi trường

- Phần IV: Đề xuất nguyên tắc, quy trình xác định thiệt hại dân sự do ô nhiễm môi trường

Nhóm tác giả thực hiện đề tài

Trang 12

PHẦN I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ XÁC ĐỊNH THIỆT HẠI DÂN DỰ DO Ô NHIỄM, SUY THOÁI MÔI TRƯỜNG

1.1 Cơ sở lý luận về xác định thiệt hại dân sự do ô nhiễm, suy thoái môi trường 1.1.1 Thiệt hại dân sự do ô nhiễm, suy thoái môi trường

Điều 130 của Luật Bảo vệ môi trường 2005 quy định các loại thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường bao gồm:

1 Suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường;

2 Thiệt hại về sức khoẻ, tính mạng của con người, tài sản và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân do hậu quả của việc suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường gây ra

Trong 2 loại thiệt hại kể trên, loại thiệt hại thứ 2 theo quy định của điều 130, Luật BVMT thuộc về thiệt hại dân sự, còn trường hợp đầu là những thiệt hại liên quan đến chức năng, tính hữu ích của môi trường tự nhiên, như môi trường nước, đất, hệ sinh thái, v v

Ðối với thiệt hại dân sự, việc lượng giá hướng tới những chi phí và những lợi ích kinh tế mà bên chịu thiệt hại bị mất đi do hậu quả của ô nhiễm, suy thoái môi trường Các khoản chi phí bị mất đi có thể kể đến bao gồm chi phí chữa trị và thu nhập

bị giảm do sức khoẻ người lao động bị suy giảm do ô nhiễm, suy thoái, chi phí tăng thêm để tìm nguồn nước sinh hoạt hay nguồn nước sản xuất thay thế do nguồn nước cũ

bị ô nhiễm suy thoái, chi phí tăng thêm để sửa chữa lại công trình xây dựng hay hạ tầng cơ sở bị hư hỏng do ô nhiễm, suy thoái, Các lợi ích kinh tế bị mất đi có thể kể đến bao gồm suy giảm sản lượng cây trồng và vật nuôi, suy giảm thu nhập từ kinh doanh du lịch, suy giảm giá trị bất động sản,

Tùy theo từng trường hợp ô nhiễm, suy thoái môi trường cụ thể sẽ có các dạng tổn thất, thiệt hại tương ứng kèm theo như được trình bày trong Bảng 1

Trang 13

Dạng tổn thất, thiệt hại tiêu biểu Đối tượng chịu thiệt hại trực tiếp

- Các hộ gia đình, cơ sở sản xuất – kinh doanh – dịch vụ trực tiếp khai thác nguồn nước mặt bị ô nhiễm để làm nguồn cung cấp nước cho sinh hoạt, sản xuất

• Thiệt hại đối với các hoạt động nuôi trồng thủy sản

- Các hộ nuôi trồng thủy sản trong khu vực bị ảnh hưởng của nguồn nước ô nhiễm

• Thiệt hại đối với các hoạt động nông nghiệp (trồng trọt và chăn nuôi)

nhiễm để tưới hoặc chăn nuôi gia súc, gia cầm

lân cận nguồn nước bị ô nhiễm

• Gia tăng chi phí xử lý nước cấp

- Các nhà máy nước, trạm cấp nước

- Các hộ gia đình, cơ sở sản xuất – kinh doanh – dịch vụ trực tiếp khai thác nguồn nước ngầm bị ô nhiễm để làm nguồn cung cấp nước cho sinh hoạt, sản xuất

• Gia tăng bệnh tật và các chi phí khám, chữa bệnh

- Cộng đồng dân cư sinh sống trong khu vực bị ảnh hưởng bởi nguồn gây ô nhiễm không khí và tiếng ồn

trường không khí

Trang 14

Dạng tổn thất, thiệt hại tiêu biểu Đối tượng chịu thiệt hại trực tiếp

các tài sản cố định nguồn gây ô nhiễm không khí

bị ảnh hưởng bởi nguồn gây ô nhiễm không khí

bởi nguồn gây ô nhiễm không khí và tiếng ồn

• Gia tăng bệnh tật và các chi phí khám, chữa bệnh

- Cộng đồng dân cư sinh sống trong khu vực bị ảnh hưởng bởi nguồn gây ô nhiễm

• Xúc phạm đến giá trị thiêng liêng của con người

• Nguy hiểm đối với tính mạng con người

• Gia tăng bệnh tật và các chi phí khám, chữa bệnh

- Cộng đồng dân cư sinh sống trong khu vực bị ảnh hưởng bởi nguồn gây ô nhiễm

Nguồn: Viện Môi trường và Tài nguyên, 2010

Trang 15

1.1.2 Các phương pháp xác định thiệt hại dân sự do ô nhiễm, suy thoái môi trường

1.1.2.1 Các phương pháp xác định thiệt hại liên quan đến sức khỏe và tính mạng a) Ước lượng giá trị cuộc sống thống kê VOSL / VLS (value of statistical life)

Giá trị của cuộc sống thống kê thường được sử dụng để ước lượng lợi ích của việc giảm thiểu rủi ro tử vong và đây là một ước lượng giá trị tài chính đối với xã hội trong việc giảm số lượng người tử vong trung bình Một khái niệm liên quan là giá trị

số năm sống thống kê (VLS), ước tính giá trị xã hội đối với việc giảm nguy cơ tử vong

sớm, biểu lộ về mặt tiết kiệm một năm sống thống kê Giá trị cuộc sống thống kê là phương pháp thích hợp nhất (trong số nhiều phương pháp) để đo lường xã hội bằng lòng chi trả bao nhiêu nhằm giảm nguy cơ tử vong

Cách tiếp cận này liên quan đến xây dựng mô hình đánh giá ngẫu nhiên (CVM)

để ước lượng mức sẵn lòng chi trả (WTP – willingness to pay) và sẵn lòng chấp nhận (WTA – willingness to accept) mà mỗi cá nhân sẽ bỏ ra hoặc chấp nhận bồi thường để tiến hành thay đổi tình trạng môi trường hiện tại nhằm giảm bớt rủi ro về sức khỏe (WTP) hay sẽ chấp nhận những rủi ro xảy ra và chi trả tiền để khắc phục nó để không ảnh hưởng tới lợi ích hiện tại của họ (WTA)

Việc ước lượng WTP và WTA được thực hiện thông qua các phỏng vấn trên diện rộng với nhiều nhóm đối tượng xã hội ở các độ tuổi khác nhau Trong đó, các đối tượng phỏng vấn sẽ được giới thiệu về các mức rủi ro nền do ô nhiễm nước gây ra gồm có mức độ ô nhiễm hiện tại, các loại bệnh do ô nhiễm nước gây ra cho cộng đồng (các bệnh phổ biến và cả tử vong) Sau đó họ được giảng giải kỹ về những lợi ích mà các chương trình cải thiện chất lượng nước sẽ tạo ra, gồm cả lợi ích về giảm rủi ro mắc bệnh và rủi ro tử vong, đồng thời được hỏi về mức sẵn sàng chi trả một phần ngân sách của mình để giảm các rủi ro trên Các kết quả ước lượng WTP sau đó được suy rộng cho tổng thể và cộng đồng để phản ánh lợi ích kinh tế của các chương trình cải thiện chất lượng nước Đồng thời cũng được sử dụng để tính toán VSL là mức chi trả của xã hội để giảm lượng người tử vong trong cộng đồng do ô nhiễm nước gây ra VSL là chỉ số rất quan trọng trong tính toán thiệt hại sức khỏe vì cho biết giá trị của một mạng sống đối với cộng đồng đáng giá bao nhiêu

Khi sở thích của cá nhân được coi là một cơ sở hợp lý nhằm thực hiện đánh giá

sự thay đổi phúc lợi con người, sẽ kéo theo thay đổi trong việc đánh giá thương tật và

tử vong của con người căn cứ theo WTP hoặc WTA của mỗi cá nhân trong vấn đề bồi thường cho những vấn đề tổn hại sức khỏe hay mối nguy cơ mà họ phải đối mặt WTP hay WTA không giống như định giá cuộc sống thực Thay vào đó, phương pháp này định giá sự thay đổi nhu cầu dự kiến của mỗi cá nhân ở mức độ rủi ro con người phải

đối mặt và sau đó tập hợp lại các thay đổi đó

Công thức xác định VOSL như sau:

Trang 16

Trong đó:

WTPi: là tổng WTP/WTA của các cá nhân đối với việc thay đổi nguy cơ trên tổng số N cá nhân

∆ri : Lượng thay đổi nguy cơ

N : Số lượng người tham dự vào nguy cơ

Σ∆ri: số lượng cuộc sống thống kê đã mất = N x ∆ri

Trong thực tế, VOSL được xác định thông qua Phương pháp chênh lệch mức

lương (wage differential approach) Phương pháp này sử dụng sự khác nhau giữa các

mức lương trên thị trường lao động nhằm đo lường mức yêu cầu bồi thường đối với nguy cơ tử vong hoặc mắc bệnh tật từ mối nguy hiểm nghề nghiệp đem lại Trong điều kiện thị trường là tự do cạnh tranh, công việc có tính chất rủi ro hơn sẽ được trả mức lương cao hơn khi số lượng công việc và người lao động không đổi Trên lý thuyết, thay đổi về nguy cơ tử vong trong công việc sẽ khiến cho tiền lương thay đổi dẫn đến

sự thay đổi về số lượng người lao động đồng ý làm công việc này (đồng ý với số tiền đền bù cho sự rủi ro) Nghĩa là, khi nguy cơ thay đổi kéo theo sự thay đổi trong mức WTP/WTA của người lao động chi trả cho việc giảm rủi ro Mức WTP/WTA của người lao động phụ thuộc vào mức thu nhập của người lao động, mức độ rủi ro của công việc và phụ thuộc cả về tuổi cũng như giới tính cũng như vai trò ảnh hưởng của công đoàn đối với người lao động

Ưu điểm của phương pháp CVM là có thể đánh giá nhiều giá trị khác nhau đối với nhiều loại hàng hoá môi trường CVM cũng không yêu cầu số lượng thông tin thu thập được phải quá lớn Tuy nhiên, do phương pháp này dựa trên việc trả lời phỏng vấn của người dân, vì thế, kết quả nhận được phụ thuộc rất nhiều vào cách thức và thời điểm phỏng vấn, đặc biệt là độ chính xác của câu hỏi đặt ra Trong khi đó, cùng một mục đích đánh giá có thể áp dụng nhiều giả thuyết khác nhau, do vậy kết quả ước lượng chệch (tồn tại sai số lớn) được xem là một khiểm khuyết đặc trưng của CVM

b) Phương pháp dựa vào chỉ số DALY (số năm trong cuộc đời bị mất do mắc bệnh)

Khái niệm về số năm trong cuộc đời bị mất do mắc bệnh DALY (disability adjusted life years) cung cấp một thước đo tiêu chuẩn gánh nặng bệnh tật để tính toán chi phí thiệt hại do việc mắc bệnh đem lại DALY bao gồm tổng số năm của cuộc sống tương lai bị mất đi YLL (years of life lost) do nguyên nhân tử vong sớm và số năm sống bị mất đi vì mang bệnh hoặc thương tích YLD (year of life disability)

DALY = YLL + YLD

* Tính tổng số năm của cuộc sống tương lai bị mất đi (YLL)

Trang 17

Tổng số năm của cuộc sống tương lai bị mất đi (YLL) tính bằng hiệu số giữa kỳ

vọng sống khi sinh và tuổi lúc chết Qui định thường lấy kỳ vọng sống của quốc gia có tuổi thọ cao nhất là Nhật Bản, nữ giới là 82,5 và nam giới là 80 tuổi Một trường hợp nam giới chết khi mới 20 tuổi nghĩa là anh ta mất 60 năm vì chết non Khi tính số năm mất đi vì chết non cho một cộng đồng, người ta dựa vào kỳ vọng sống khi sinh trung bình cho từng nhóm tuổi và theo hai giới (thường chia là 21 nhóm tuổi: dưới 1, 1-4, 5-9 95 +) và áp dụng công thức sau:

Trong đó L là kỳ vọng sống khi sinh trung bình của một nhóm tuổi, tính theo từng nhóm tuổi và theo hai giới được nhân với số mới chết trong từng nhóm tuổi để có YLL theo nguyên nhân và nhóm tuổi theo giới Trong công thức này đã tính đến mức khấu hao theo tuổi là 3% theo quy định chung của cách tính gánh nặng bệnh tật toàn cầu (GBD) Kỳ vọng sống khi sinh của một nhóm tuổi tính bằng bảng sống (life table) kết quả điều tra nhân khẩu

* Tính YLD (số năm sống mất đi vì mang bệnh hoặc thương tích)

Khi tính số năm sống mất đi vì mang bệnh hoặc thương tích của một cộng đồng người ta sử dụng công thức sau:

YLD = I x DW x L

Trong đó I là số trường hợp mới mắc trong một khoảng thời gian quy định; DW

là mức độ nặng nhẹ của bệnh, khi bệnh càng nặng hệ số này càng lớn và ngược lại,

DW có giới hạn từ 0 – 1 (0 là hoàn toàn khoẻ, 1 coi như là chết) L là thời gian mang bệnh trung bình

Hệ số DW được xác định bằng hai phương pháp; (1) dựa vào bảng tra sẵn và (2) dựa vào các định nghĩa về mức độ mất khả năng

Để tính YLD cần biết thời gian mang bệnh, cần biết hai thông số: thứ nhất là mức độ trầm trọng của bệnh, thứ hai là loại bệnh mắc phải ở các mức độ khác nhau

Mức độ trầm trọng của bệnh (DW) tính một cách tương đối dựa trên cách xử trí

- Mức 1: không phải dùng thuốc hoặc nếu dùng thì chỉ ở mức tự mua thuốc về chữa

- Mức 2: Cần đến thầy thuốc khám chữa bệnh ở tuyến xã hoặc thầy thuốc tư nhân trong xã

- Mức 3: phải khám chữa bệnh tại bệnh viện (từ huyện trở lên)

1

YLL = (1 - e -0,03L ) x số chết của từng khoảng

0,03

Trang 18

* Tính DALY

Việc tính DALY có thể dựa trên công thức sau:

DALY = YLL + YLD

Do không thể theo dõi tình hình mắc bệnh của tất cả mọi thành viên trong cộng đồng, việc tính gánh nặng bệnh tật cho một cộng đồng như trên chỉ có tính chất gần đúng

c) Phương pháp tính gánh nặng bệnh tật do môi trường (EBD)

Việc sử dụng gánh nặng bệnh tật giúp định lượng hóa tác động bệnh tật ở những cấp độ dân cư khác nhau Lý tưởng nhất là tính toán theo cách phù hợp và sử dụng những cách tính toán cơ bản vì điều này sẽ giúp cho việc so sánh số liệu bệnh tật

và các yếu tố nguy cơ ở các nghiên cứu khác nhau trở nên khả thi hơn Việc tính toán như vậy cũng giúp chúng ta có thể so sánh số liệu ở các nhóm dân cư khác nhau và những vùng miền địa lý khác nhau Vì lý do này người ta sử dụng chỉ số DALY để đo lường gánh nặng bệnh tật và gánh nặng bệnh tật do môi trường (EBD)

* Mô hình tính toán EBD

Phân bố phơi nhiễm trong cộng đồng

Quan hệ Phơi nhiễm-Ðáp

ứng

Tỷ số quy thuộc

Ước tính gánh nặng bệnh tật cho từng bệnh, hoặc dữ liệu dịch tễ

Gánh nặng bệnh tật quy thuộc theo nguy

Nguy

cơ tương đối hay tuyệt đối

Trang 19

Công thức tính EBD:

Trong đó:

‚ X = mức độ phơi nhiễm

‚ Pex = tỷ lệ hiện phơi nhiễm ở mức độ x

‚ RRx = Nguy cơ tương đối ở cấp độ x

‚ IF (Impact Fraction-tỷ phần tác động) hoặc AF (Attribute Fraction-tỷ phần quy thuộc) có thể được hiểu là tỷ lệ giảm đi các vấn đề sức khỏe hoặc tử vong do việc giảm yếu tố nguy cơ môi trường Nói cách khác nó là tỷ lệ của vấn đề sức khỏe hoặc tử vong trong cộng đồng do yếu tố nguy cơ môi trường

đó gây ra (Miettinen, 1974; Greenland, 1984)

EBD = Gánh nặng quy thuộc3 = Gánh nặng bệnh tật x Tỷ phần tác động

Công thức và quy trình tính toán trên cho thấy, để tính toán được gánh nặng bệnh tật do môi trường cần phải có thông tin về số mới mắc, tử vong, và DALY theo các nhóm tuổi và giới

* Tính gánh nặng bệnh tật môi trường do môi trường của bệnh tiêu chảy

Gánh nặng bệnh tật môi trường do nguồn nước sinh hoạt không hợp vệ sinh có liên quan nhiều nhất đến bệnh tiêu chảy Do vậy, để tính toán gánh nặng bệnh tật do môi trường nước ô nhiễm, nên cần tính gánh nặng bệnh tật do tiêu chảy

Kết quả tính toán nguy cơ quy thuộc của môi trường (IF hoặc AF) như đã tính ở trên được nhân với gánh nặng bệnh tật (tỷ lệ mới mắc, tỉ lệ tử vong hoặc DALY)

Gánh nặng bệnh tật của bệnh tiêu chảy (tỉ lệ mới mắc, số tử vong hoặc DALYs)

= Tỷ lệ quy thuộc × Tổng gánh nặng bệnh tật của bệnh tiêu chảy (tỉ lệ mới mắc, số tử vong hoặc DALYs)

d) Định giá thiệt hại thông qua đo lường tổn thất thu nhập

Phương pháp phí bệnh tật COI (Cost of Illness approach)

Phương pháp chi phí bệnh tật (COI) được sử dụng để tính toán thiệt hại thông qua đo lường tổn thất thu nhập Theo đó thiệt hại được xác định dựa trên mối quan hệ nguyên nhân – kết quả giữa mức độ ô nhiễm tác động đến sức khoẻ của con người Chi

3 Hay gọi đầy đủ là: Gánh nặng bệnh tật quy thuộc theo nguy cơ

Σ(Pe x • RR x ) - 1

Σ (Pe x • RR x )

IF =

Trang 20

phí bệnh tật bao gồm chi phí y tế (gồm cả chi phí tài chính cho việc chữa bệnh và phục hồi, chi phí thời gian…), chi phí tổn thất thu nhập do việc mắc bệnh đem lại Đây là phương pháp áp dụng tương đối dễ dàng, tuy nhiên lại gặp khó khăn trong việc tính toán nếu các căn bệnh là mãn tính khi các giai đoạn phát triển của bệnh kéo dài Do

đó, để áp dụng phương pháp một cách hiệu quả, điều quan trọng là phải lựa chọn các căn bệnh đặc trưng, cách đánh giá, xây dựng mối quan hệ nguyên nhân – kết quả phù hợp nhằm dễ dàng xác định các chi phí liên quan

Phương pháp tiếp cận nguồn vốn con người HC (Human Capital)

Ngoài ra, có thể áp dụng Phương pháp tiếp cận nguồn vốn con người (HC) để đánh giá thiệt hại thông qua đo lường tổn thất thu nhập Phương pháp HC coi mỗi cá nhân là một nguồn lực có thể sản xuất hàng hóa và dịch vụ cho xã hội Do vậy, giá trị của một cá nhân tạo ra trong thời gian sống của mình đo lường chính xác thu nhập của

cá nhân ấy Việc mắc bệnh (do ô nhiễm môi trường) sẽ ảnh hưởng đến tuổi thọ của cá nhân Trong phương pháp HC, việc xác định được thu nhập mất đi được coi là xác định giá trị của tuổi thọ của cá nhân đó Giá trị HC phụ thuộc vào độ tuổi tử vong, mức thu nhập, kỹ năng lao động và mức độ phát triển của quốc gia (giá trị tổng sản phẩm quốc nội GDP/người)

HC là một phương pháp đặc trưng và rất phù hợp cho việc lượng giá các giá trị của cuộc sống, như giá trị về sức khoẻ, tuổi thọ… Tuy nhiên, trong một số trường hợp, các tác động tới sức khoẻ là tương đối phức tạp và rất khó tách biệt cho tính toán

Ví dụ như ô nhiễm môi trường tác động đến các độ tuổi khác nhau thì khác nhau, trong

đó ảnh hưởng lớn nhất đến độ tuổi 65 và già hơn Khi đó phải tiến hành những phân chia khá phức tạp

Liều lượng-đáp ứng hay đánh giá tác động

Liều lượng – đáp ứng hay các phương pháp đánh giá tác động cung cấp ước tính các thiệt hại kinh tế do mức độ hiện tại của ô nhiễm Loại đánh giá này liên quan đến việc tính toán tác động của ô nhiễm lên sức khỏe con người và môi trường Điều này có thể được thực hiện bằng cách theo dõi mức độ tiếp xúc của cá nhân, ước tính thiệt hại về sản lượng, và/hoặc tỷ lệ ảnh hưởng thêm của bệnh tật và tử vong do suy thoái môi trường

Việc mất sản lượng tính theo ngày làm việc và mất thu nhập cũng tương tự như những ước tính chi phí cho giá trị thị trường trong đó tính toán sự suy giảm giá trị thị trường của một nguồn tài nguyên (rừng, ngư nghiệp) bằng cách ước tính thu nhập bị mất Sự khác biệt giữa liều lượng - đáp ứng và xác định giá trị thị trường là trong đo

lường thiệt hại kinh tế Thiệt hại kinh tế trong phương pháp liều lượng - đáp ứng là tổn thất thu nhập do ốm đau liên quan đến ô nhiễm, trong khi đó phương phá giá trị thị trường được tính dựa trên tổn thất thu nhập do ảnh hưởng của ô nhiễm lên thị trường, chứ không phải là sức khỏe con người Liều lượng - đáp ứng có thể được sử

Trang 21

dụng để ước tính tổn thất của các khoản thu nhập do ốm đau của con người hoặc tử vong gây ra do ô nhiễm nước

Để ước tính giá trị thiệt hại cho sức khỏe con người hay môi trường do ô nhiễm, cần xác định mối quan hệ giữa thay đổi chất lượng môi trường và sức khoẻ con người hoặc đối tượng khác bị ảnh hưởng bởi ô nhiễm (tòa nhà, các hệ sinh thái) Đây được gọi là các mối quan hệ liều lượng-đáp ứng, mối quan hệ giữa nồng độ chất ô nhiễm (liều lượng) và tác động vật lý (đáp ứng)

Liều lượng – đáp ứng:

1 Xác định được vấn đề ô nhiễm (ví dụ, không khí, nước, đất)

2 Thu thập dữ liệu y tế thích hợp, số liệu về sức khỏe con người và các biến số khác

3 Ước tính các mối quan hệ thống kê giữa tỷ lệ phần trăm tăng nồng độ chất ô nhiễm và ảnh hưởng đến sức khỏe con người

4 Xác định các loại tác động vật lý và các chi phí liên quan (ví dụ, chi phí y tế)

5 Ước tính tổng tiền tệ dựa trên chi phí của các tác động liên quan đến nồng độ các chất gây ô nhiễm

Đối với ước tính giá trị kinh tế của sức khỏe con người, dữ liệu sau đây là cần thiết

- Chi phí của các cơ sở y tế khác nhau trong cả nước,

- Dữ liệu về sức khỏe, tuổi thọ, nguyên nhân gây ra tử vong, phân phối tuổi,

- Thu nhập bình quân đầu người và biến số khác như điều kiện sinh hoạt, mô hình tiêu dùng, chi phí duy trì sức khỏe, vv

Phương pháp này có ưu điểm là xác định được mối liên hệ nhân quả giữa ô nhiễm môi trường và sức khỏe con người, làm cơ sở cho việc xác định thiệt hại Tuy nhiên, việc xác định mối quan hệ này tương đối khó khăn do sức khỏe con người phụ thuộc vào nhiều yếu tố (thể trạng, bệnh lý, v v)

1.1.2.2 Các phương pháp xác định thiệt hại liên quan đến tài sản

a) Phương pháp thay đổi năng suất (PC)

Phương pháp này chú trọng vào các tài nguyên thiên nhiên với tư cách là đầu vào của quá trình sản xuất hàng hoá và dịch vụ Khi đầu vào giảm thì sẽ dẫn đến giảm dịch vụ cung cấp cho sản xuất, kết quả làm giảm lợi ích của người sản xuất tính theo giá thị trường Tổng suy giảm lợi ích này là thiệt hại do sự cố môi trường đem lại Ví

dụ, nước ngọt là đầu vào của quá trình sản xuất nông nghiệp Nước bị ô nhiễm dẫn đến việc suy giảm năng suất cây trồng Năng suất suy giảm đó chính là thiệt hại của ô nhiễm nước gây ra

Phương pháp thay đổi năng suất thường được sử dụng để định giá thay đổi của sản xuất nông nghiệp Khi ô nhiễm nước xảy ra, nước ô nhiễm sẽ ảnh hưởng đến sản xuất hoặc năng suất Về mặt lý thuyết, phương pháp giả định rằng chất lượng

Trang 22

nước là một đầu vào của quá trình sản xuất Do đó, hàm sản xuất có thể được xây dựng như sau:

Đây là phương pháp lượng giá các tác động ít gây tranh cãi nhất so với các phương pháp khác Cơ sở áp dụng phương pháp này khá đơn giản, chi phí ít tốn kém (do dữ liệu thu thập dễ dàng), có thể dễ dàng giải thích và chứng minh được Phương pháp này sử dụng giá thị trường để đo lường tổn thất trong sản xuất hoặc chi phí đầu vào gia tăng Tuy nhiên, nhược điểm của phương pháp này là việc sử dụng giá thị trường có thể đem lại kết quả sai do sự can thiệp của chính phủ gây bóp méo thị trường như thuế, trợ cấp, bảo hộ nhập khẩu hoặc do độc quyền

b) Phương pháp định giá thị trường

Định giá thị trường liên quan đến việc tìm kiếm một thị trường trong đó hàng hóa hay dịch vụ bị ảnh hưởng bởi hàng hóa phi thị trường (ô nhiễm) và ước tính lượng giá trị thị trường đã giảm giá trị do của ô nhiễm

Các bước định giá thị trường

1 Xác định một chất gây ô nhiễm hoặc các chất ô nhiễm được biết là có tác động xấu đến môi trường

2 Xác định một thị trường bị ảnh hưởng tiêu cực bởi các chất gây ô nhiễm xác định (s)

3 Đo lường giá trị thị trường đã bị giảm theo một thời gian xác định

4 Đo lường mức độ chất gây ô nhiễm (s) đã tăng (hoặc giảm) trong cùng giai đoạn

5 Xác định mức độ của các chất gây ô nhiễm gây ra sự suy giảm giá trị thị trường và mức độ giá trị thị trường bị suy giảm

Một ví dụ cho việc định giá thị trường có thể áp dụng cho trường hợp của bất động sản Giá bất động sản có thể bị ảnh hưởng do ô nhiễm môi trường trong khu vực Chất lượng môi trường có thể ảnh hưởng đến quyết định mua một ngôi nhà cụ thể và giá nhà có thể bị ảnh hưởng một phần bởi các thuộc tính môi trường của bất động sản Các loại tài nguyên khác như thủy sản, rừng cũng có thể bị ảnh hưởng bởi ô nhiễm ở phạm vi giá thị trường hoặc thu nhập suy giảm Các suy thoái tài nguyên thiên nhiên

do ô nhiễm được phản ánh bởi giá trị thị trường chỉ khi ô nhiễm dẫn tới giảm giá trị thị

Trang 23

trường của các tài sản đó Phương pháp lượng giá này cho thấy sự suy thoái đã diễn ra đối với những nguồn tài nguyên có giá trị thị trường, và cũng cho thấy mức độ suy giảm mà suy thoái đã gây ra đối với các giá trị thị trường

Những thay đổi trong giá cả thị trường được ước tính theo những cách khác nhau, tùy theo thị trường Phương pháp phổ biến nhất là kiểm tra giá trị thị trường của

tài sản theo thời gian để xác định xem các giá trị đang giảm do hậu quả của ô nhiễm

Các phương pháp dựa trên thị trường (Market Base Methods) ước lượng các giá trị dựa trên những lựa chọn thực tế của con người Do đó, nhóm này thưòng được dùng với những giá trị được người ta nhận biết rõ và có giá trên thị trường, mà không thể áp dụng với các giá trị phi sử dụng

c) Phương pháp so sánh đối chứng

Phương pháp so sánh đối chứng thường được áp dụng để tính toán thiệt hại về tài sản, như tính tổng thiệt hại về cây trồng, vật nuôi tại khu vực bị ô nhiễm, đặc biệt trong trường hợp phạm vi ô nhiễm rộng, thiệt hại xảy ra đối với nhiều tổ chức, cá nhân

và không thể tính thiệt hại chi tiết đối với từng người Ðại lượng chính được so sánh là sản lượng cây trồng, vật nuôi trung bình hàng năm Các số liệu này thu thập từ các cơ quan thống kê địa phương, ban quản lý các hợp tác xã hoặc từ việc gặt, thu hoạch trên các mẫu điạ phương Có thể tiến hành so sánh đối chứng theo không gian hoặc theo thời gian:

- Theo thời gian: đối chứng giữa sản lượng cây trồng, vật nuôi trong (những) năm môi trường bị ô nhiễm với những năm trước đó Ðể đảm bảo độ chính xác, khách quan về những thiệt hại do ô nhiễm môi trường gây nên, cần loại trừ trước sản lượng suy giảm do các tác nhân gây hại khác như thời tiết, thiên tai, sâu bệnh;

- Theo không gian: Ðối chứng giữa sản lượng cây trồng, vật nuôi trong khu vực

bị ô nhiễm với ngoài khu vực đó Ðể đảm bảo độ chính xác, điều kiện bắt buộc là giữa các khu vực phải có sự tương đồng nhất định về các yếu tố địa hình tự nhiên, khí hậu, thổ nhưỡng và sinh kế địa phương

Ðối với những thiệt hại về tính mạng và sức khoẻ con người do ô nhiễm môi trường gây nên, cách tính thiệt hại phổ biến thường dựa trên chi phí khám, chữa bệnh

do các cơ sở y tế cung cấp Tuỳ thuộc vào mức độ ô nhiễm và thời gian gây ảnh hưởng

do ô nhiễm môi trường mà thiệt hại này có thể biểu hiện dưới các dạng: bệnh mãn tính (như rối loạn tiêu hoá do thường xuyên sử dụng nước có chất xyanua hay coliform ), bệnh cấp tính (như viêm phổi cấp do hoá chất độc hại gây nên), tử vong (do nhiễm chất phóng xạ) Thực tế, các loại bệnh mãn tính thường chiếm tỉ lệ cao nhất trong nhóm thiệt hại này

Ưu điểm của phương pháp này là so sánh được sự khác nhau theo thời gian và theo không gian giữa khu vực đối chứng và khu vực bị ô nhiễm Tuy nhiên, đối với so sánh đối chứng theo thời gian, cần xem xét những yếu tố khác dẫn đến sự thay đổi

Trang 24

(thời tiết, chênh lệch giá) Đối với đối chứng theo không gian, việc lựa chọn các khu vực có điều kiện tương đồng để so sánh là tương đối khó khăn trong nhiều trường hợp

1.1.3 Phương pháp tính toán tải lượng ô nhiễm

1.1.3.1 Xác định tải lượng ô nhiễm từ ô nhiễm công nghiệp

a) Các chương trình quan trắc nguồn thải

Quan trắc trực tiếp các nguồn thải thông qua lấy mẫu và phân tích là phương pháp được sử dụng rộng rãi và sớm nhất Phương pháp này là không thể thiếu được trong nhiều trường hợp, đặc biệt khi việc xả thải từ các nguồn trên quy mô lớn, đòi hỏi phải giám sát chặt chẽ, hoặc thẩm tra rõ ràng đối chiếu với tiêu chuẩn/quy chuẩn

xả thải

Ưu điểm chính của phương pháp quan trắc trực tiếp nguồn thải là có độ chính xác nhờ kết quả kiểm kê Tuy nhiên, phương pháp này có nhược điểm là tiêu tốn nhiều thời gian và cần nhiều nguồn lực và thậm chí là không thực tế đối với khu vực nghiên cứu rộng lớn và phức tạp Ví dụ, việc quan trắc đầu ra từ xí nghiệp thuộc da đòi hỏi phải lấy mẫu và phân tích cẩn thận để xác định nồng độ của một số chất ô nhiễm Khi khối lượng và thành phần đầu ra thay đổi đáng kể trong chu trình sản xuất hàng tuần, thì phải lấy nhiều mẫu đại diện cho tất cả các công đoạn sản xuất chính Điều này rõ ràng là đòi hỏi nhà máy/xí nghiệp phải chi phí thời gian và nguồn lực nhiều hơn

b) Mô hình hóa các nguồn ô nhiễm và các hệ thống kiểm soát

Việc sử dụng các mô hình toán để tái tạo các hoạt động/ảnh hưởng của các nguồn nhất định, là một trong những phương pháp tiến tiến nhất để đánh giá một cách tin cậy không chỉ cho các nguồn thải hiện thời, mà còn dự báo xu thế biến đổi khi vận hành trong tương lai

Nhược điểm của phương pháp mô hình là khó khăn trong việc phát triển từng

mô hình đối với từng nguồn và nhiều nguồn

Giá trị của các mô hình nhất định trong mỗi trường hợp thực tế thông qua các chương trình quan trắc nguồn cho phép thực hiện đo lường ở quy mô rộng

c) Quy trình đánh giá nhanh

Quy trình đánh giá nhanh cho phép đánh giá ô nhiễm môi trường nước do chất thải sinh ra từ các nguồn, hoặc các nhóm nguồn tương tự, trong khu vực nghiên cứu Phương pháp này dựa trên số liệu/tài liệu, kinh nghiệm về sự hình thành khối lượng các chất ô nhiễm từ mỗi loại nguồn, các hệ thống kiểm soát kết hợp và không kết hợp

để dự đoán tải lượng ô nhiễm từ các nguồn gây ô nhiễm

Trang 25

Hình 1 Minh họa phương pháp đánh giá nhanh để ước tính tải lượng ô nhiễm

nguồn nước

Ưu điểm của phương pháp đánh giá nhanh bao gồm sự tiện lợi trong việc sử dụng, có thể chỉ dẫn kiểm kê các nguồn ô nhiễm nước trong các tình huống rất phức tạp mà chỉ cần thời gian ngắn và với kinh phí khiêm tốn Hơn nữa, mặc dù phương pháp đơn giản, nhưng kết quả cuối cùng thường khá tin cậy

Nhược điểm chính của phương pháp đánh giá nhanh là giá trị thống kê của các

dự đoán liệt kê Việc dự đoán tải lượng ô nhiễm từ các nguồn thải khác nhau cần xem xét sự khác nhau đáng kể giữa các nguồn xả

d) Hệ thống dự báo ô nhiễm công nghiệp (Industrial Pollution Projection System IPPS)

Ngân hàng Thế giới (WB) đã đưa ra phương pháp ước tính tải lượng, tương ứng với các chỉ tiêu môi trường xác định, căn cứ vào các thông tin như: loại hình sản xuất, quy mô sản xuất và trình độ phát triển của các công nghệ khác nhau áp dụng trong quá

trình sản xuất của doanh nghiệp, gọi là hệ thống dự báo ô nhiễm công nghiệp

(Industrial Pollution Projection System -IPPS) 1.500 dạng sản phẩm, công nghệ sản xuất, hàng trăm chỉ tiêu ô nhiễm đã được đưa vào hệ thống IPPS Tải lượng các chất ô nhiễm được dự báo theo các loại: không khí, nước, chất thải rắn, và được kết hợp khi đánh giá các yếu tố rủi ro đối với con người và hệ sinh thái IPPS là hệ thống mô hình kết hợp dữ liệu từ các hoạt động sản xuất (như sản xuất và nhân công) với số lượng phát thải ô nhiễm để tính toán các yếu tố về tần suất (intensity) ô nhiễm (mức độ phát thải ô nhiễm trên một đơn vị sản phẩm của một hoạt động công nghiệp) IPPS đã được

sử dụng ở nhiều nước công nghiệp và đặc biệt được áp dụng tại các nước mà chưa triển khai các phương pháp mang tính hệ thống trong việc thống kê nguồn thải Bước đầu đối với mô hình này, tần suất (intensity) ô nhiễm/các hệ số ô nhiễm đã được tính toán với các số liệu có sẵn tại Mỹ từ điều tra các ngành sản xuất của Mỹ và của cơ quan bảo vệ môi trường Mỹ (EPA)

Tính toán cơ bản dựa trên thông tin của ngành sản xuất và giá trị đầu ra, lợi nhuận và nhân công Mức độ (intensity) ô nhiễm sau đó được tính là tổng lượng phát thải chia cho các chỉ số của các ngành công nghiệp (ví dụ: giá trị đầu ra, lợi nhuận hoặc nhân công) Trong trường hợp dựa trên chỉ số nhân công, số liệu về lượng kg ô nhiễm trên một đơn vị nhân công được sử dụng

Loại nguồn

Hệ số tải lượng xả thải thô

Quy mô hoạt động và các đầu vào nguồn đặc biệt khác

Tải lượng phát sinh

Các hệ số hiệu quả của hệ thống kiểm soát

Cách kiểm soát

Tải lượng

ô nhiễm (loads)

Trang 26

IPPS phân loại tải lượng từ các cơ sở sản xuất, dựa theo cách phân loại theo Hệ

thống phân loại công nghiệp chuẩn quốc tế (International Standard Industrial

Classification ISIC) Ước lượng các chỉ tiêu IPPS theo mức độ thống nhất với ISIC (2,

3, 4 chữ số) Mỗi mức độ bao gồm nồng độ ô nhiễm, lượng phát thải trên đơn vị sản

phẩm hoặc đơn vị hoạt động, theo 3 biến số kinh tế phổ biến nhất là: sản lượng, thặng

dư và số nhân viên Các chỉ tiêu IPSS được dự báo đơn lẻ hoặc kết hợp, tùy theo khả

năng thu thập dữ liệu, và được đưa vào ngưỡng giá trị trong hệ thống công cụ IPPS

Các doanh nghiệp cũ, lạc hậu, được gắn với ngưỡng trên của tải lượng chất ô nhiễm

Trong khi đó, các doanh nghiệp mới, công nghệ sản xuất hiện đại, được xếp theo

ngưỡng dưới Tuy nhiên, cần chú thích rằng ngưỡng dưới chỉ có giá trị tham khảo vì

nhiều doanh nghiệp đã phát triển theo hướng công nghiệp sinh thái và hướng tới chất

thải bằng 0 trong sản xuất, kinh doanh Mặt khác, để tránh nhầm lẫn và sai số lớn,

IPPS còn đưa vào ngưỡng trung bình, là số liệu tham khảo định hướng, được tổng hợp

từ tất cả các doanh nghiệp tham gia nghiên cứu

Bảng 2 Tải lượng ô nhiễm do nước thải trong một năm (kg/1000 nhân viên) của

một số ngành công nghiệp theo IPPS

324 Quần áo, trừ cao su và nhựa 1,494 2645,551 2594,052

331 Chế biến gỗ, không kể đồ gỗ nội thất 44,911 4085,488 19241,194

332 Đồ gỗ nội thất, trừ kim loại 31,330 0,103 0,785

372 Kim loại (non-ferrous) 10.218,131 260854,311 3770670,334

(Ghi chú: Các ngành công nghiệp được phân loại theo ISIC)

Nguồn: The World Bank, 1995, The Industrial Pollution Projection System

Trang 27

Bảng 3 và 4 giới thiệu tải lượng ô nhiễm do nước thải theo số nhân viên và sản

lượng/doanh thu theo các loại hình sản xuất của IPPS

Bảng 3 Tải lượng ô nhiễm do nước thải trong một năm (kg/1000 nhân viên) của

một số ngành công nghiệp theo IPPS

Loại hình công nghiệp ISIC

Code

BOD Ngưỡng dưới

BOD Mức TB

TSS Ngưỡng dưới

TSS Mức TB

Trang 28

Loại hình công nghiệp ISIC

Code

BOD Ngưỡng dưới

BOD Mức TB

TSS Ngưỡng dưới

TSS Mức TB

Máy công cụ cơ khí

chuyên dụng

Radio, TV, thiết bị viễn

Công nghiệp chế tạo khác 3909 3,084 18,824

Nguồn: The World Bank, 1995, The Industrial Pollution Projection System

Bảng 4 Tải lượng ô nhiễm do nước thải (kg/1 triệu USD doanh thu) của một số

ngành công nghiệp theo IPPS

Loại hình công nghiệp Code ISIC

BOD Ngưỡng dưới

BOD Mức TB

TSS Ngưỡng dưới

TSS Mức TB

Trang 29

Loại hình công nghiệp Code ISIC

BOD Ngưỡng dưới

BOD Mức TB

TSS Ngưỡng dưới

TSS Mức TB

Trang 30

Loại hình công nghiệp Code ISIC

BOD Ngưỡng dưới

BOD Mức TB

TSS Ngưỡng dưới

TSS Mức TB

Máy công cụ cơ khí chuyên

dụng

Điện máy khác, N.E.C 3829 0,739 0,045 17,459 4,291

Radio, TV, thiết bị viễn

Công nghiệp chế tạo khác 3909 0,041 0,236

Nguồn: The World Bank, 1995, The Industrial Pollution Projection System

Trang 31

1.1.3.2 Hệ thống mô phỏng ô nhiễm nông nghiệp (APPS)

Hệ thống mô phỏng ô nhiễm nông nghiệp tương tự như IPPS, trong đó tải lượng

ô nhiễm được tính toán bằng cách nhân mức độ của các hoạt động kinh tế với hệ số phản ảnh nồng độ ô nhiễm của các hoạt động này Tuy nhiên, thay vì nồng độ ô nhiễm của ngành, đối với nông nghiệp, nghiên cứu áp dụng nồng độ ô nhiễm cho một vụ mùa

cụ thể, nhân với tổng sản xuất của vụ mùa Ô nhiễm trong trường hợp này được ước tính bằng lượng thuốc trừ sâu hoặc phân bón hóa học áp dụng cho một vụ mùa cụ thể

Sự đa dạng của thuốc trừ sâu sử dụng tại các lưu vực khá đa dạng Do đó, trong trường hợp không có số liệu điều tra tổng quát ở mức độ cộng đồng về thuốc trừ sâu và phân bón sử dụng trong khu vực, có thể dựa vào thông tin thứ cấp được thu thập để tính toán Số liệu sử dụng cho tính toán có thể lấy tại các báo cáo thống kê

Ðể tính toán APPS, các số liệu về sản xuất được kết hợp với tỷ lệ sử dụng thuốc trừ sâu và phân bón được sử dụng trên trên một ha đất trồng trọt Số lượng sản xuất nhân với tỷ lệ sử dụng thuốc trừ sâu và phân bón sẽ là cơ sở để tính toán tổng tải lượng thuốc trừ sâu và phân bón cho một diện tích cụ thể

Tổng sản xuất nông nghiệp trên một vụ mùa (kg) x hệ số thuốc trừ sâu (phân bón hóa

học) (kg/ha) = tổng lượng thuốc trừ sâu (phân bón hóa học) (kg)

1.1.3.3 Hệ thống mô phỏng ô nhiễm từ sinh hoạt (DPPS)

Trong trường hợp thiếu các số liệu về nồng độ các chất thải từ sinh hoạt, có thể

sử dụng các số liệu giả định để tính toán, như đối với nước thải sinh hoạt, nồng độ BOD5 và SS được giả định tương ứng là là 200 mg/l và 150 mg/ Lượng nước thải một người/ngày có thể tham khảo từ các báo cáo hoặc nghiên cứu liên quan Kết hợp hệ số BOD5 và SS với thông tin về dân số, nước thải hàng năm trên đầu người thì công thức tính toán là:

Tải lượng BOD và SS:

Tải lượng ô nhiễm BOD5 hoặc SS trong một năm (kg) = Dân số x hệ số nước thải sinh hoạt (m3 nước thải/người/ ngày) x 365 (số liệu năm) x 1.000 (chuyển từ m3 sang lít) x

200 (hoặc 150) / (BOD5 hoặc SS theo mg/l) x 1,000,000 (chuyển từ mg sang kg)

1.1.3.4 Hệ thống mô phỏng ô nhiễm từ làng nghề (CVPPS)

Ðiều tra dân số nông nghiệp do Tổng cục thống kê thực hiện năm 2006 đưa ra thông tin về các mô đun về các làng nghề, đặc biệt đưa ra các thông tin về số lượng các hộ gia đình, địa điểm và các số liệu về lao động của các làng nghề và miêu tả các loại hình làng nghề Theo đó, mỗi loại hình làng nghề có các hoạt động cụ thể khác nhau Ðể tổng hợp các hoạt động khác nhau trong làng nghề, các làng nghề được phân loại như sau:

• Chế biến thực phẩm và nông nghiệp

• Dệt nhuộm

Trang 32

• Tái chế kim loại

• Sản xuất gỗ

• Sơn tượng, tre

• Các loại khác

Tải lượng ước tính của các chất ô nhiễm của làng nghề được tính toán như sau:

Số công nhân trong hộ gia đình * nước thải (m3/người/ngày)*nồng độ chất ô nhiễm xung quanh (mg/l) * 100 (chuyển từ m3 sang lít) * 1.000.000 (chuyển sang kg) * 365

(số liệu hàng năm) = kg chất ô nhiễm

Việc tính tải lượng ô nhiễm dựa trên số lượng nhân công có thể được xem là cách đánh giá thay thế thích hợp theo năng lực sản xuất của làng nghề Cách tiếp cận này dựa trên giả thuyết rằng năng lực sản xuất là đồng nhất trong tất cả các làng nghề (hoặc năng suất lao động của công nhân là giống nhau) mặc dù giả thuyết này có thể đúng hoặc không đúng Trong trường hợp thiếu cơ sở dữ liệu tổng quát về hệ số ô nhiễm của các làng nghề, phương pháp tính này được hiểu là cách tính toán ước tính

về mức độ ô nhiễm

1.1.3.5 Đánh giá mức độ ô nhiễm của nguồn thải

Theo nghiên cứu của Nguyễn Thanh Hùng, Huỳnh Thị Minh Hằng, Nguyễn Văn Dũng4, để đánh giá một cách khoa học và khách quan một nguồn thải nào đó về mặt tác động đến môi trường, thường người ta dựa vào các tiêu chí sau đây:

a) Loại và lượng chất ô nhiễm có trong dòng thải

Tiêu chí này sẽ quyết định mức độ và khả năng gây ô nhiễm nguồn nước nhiều hay ít Có những loại nguồn thải tuy có lưu lượng lớn nhưng không có chứa các chất ô nhiễm hay nguy hại thì khả năng gây ô nhiễm nguồn nước rất hạn chế Tuy nhiên, có những dòng thải mặc dù được thải ra với lưu lượng nhỏ nhưng trong đó có chứa nhiều chất nguy hại thì khả năng gây ô nhiễm nguồn nước lại rất lớn Vì vậy có thể coi đây

là một tiêu chí hết sức quan trọng trong việc xem xét đánh giá mức độ ô nhiễm của một dòng thải

b) Nồng độ các chất ô nhiễm có trong dòng thải

Để đánh giá hoặc xác định mức độ gây ô nhiễm của bất kỳ một đối tượng nguồn thải nào, thông thường người ta xem xét, đối sánh nồng độ của các chất gây ô nhiễm hiện diện trong dòng thải so với phông môi trường tự nhiên hoặc so với tiêu chuẩn thải cho phép ứng với từng chất ô nhiễm Hiện nay, việc xác định, đánh giá phông môi trường tự nhiên cho từng nguồn tiếp nhận nước thải rất khó khăn, bởi lẽ hầu hết các chủ nguồn thải không có điều kiện xác định số liệu nền và quan trắc chúng trước khi thải bỏ nước thải vào nguồn nước Vì vậy, đại đa số áp dụng biện pháp so sánh với tiêu chuẩn thải cho phép

4 Quản lý thống nhất và tổng hợp các nguồn thải gây ô nhiễm trên lưu vực hệ thống sông Đồng Nai

Trang 33

Khi hàm lượng chất ô nhiễm trong dòng thải vượt quá tiêu chuẩn cho phép, điều đó đủ để nói lên rằng nguồn tiếp nhận nước thải đã bị tác động xấu hoặc bị phá hoại Mặc dù đối với các chất gây ô nhiễm khác nhau thì mức độ vượt giới hạn cho phép khác nhau sẽ gây tác động môi trường rất không giống nhau Song, để thuận lợi cho việc đánh giá, thông thường người ta phân định mức độ ô nhiễm của một dòng thải theo các cấp bậc như ô nhiễm, ô nhiễm mạnh và ô nhiễm rất mạnh

Trong thực tế, sự biến đổi các chất trong môi trường rất phức tạp Có những chất hàm lượng biến thiên rất lớn, nhưng ngược lại có những chất biến thiên trong giới hạn rất hẹp Vì vậy, việc đánh giá theo phương thức này đôi khi còn phải căn cứ vào đặc điểm thực tế chất lượng môi trường và quy định giới hạn cho phép của mỗi quốc gia, mỗi vùng và mỗi đối tượng mà vận dụng cho hợp lý

c) Mức độ nguy hại của các chất ô nhiễm có trong dòng thải

Các chất nguy hại cho dầu chỉ tồn tại trong các dòng thải với một số lượng không lớn cũng đủ để gây nên các vấn đề môi trường nghiêm trọng khi nguồn thải được đưa vào môi trường

d) Đặc điểm của nguồn tiếp nhận nước thải

Mỗi dòng sông, đoạn sông hay vực nước nói chung đều có một khả năng tự làm sạch nhất định của nó Khi xả nước thải vào một nguồn nước, các chất gây ô nhiễm trong dòng thải sẽ được pha loãng với lượng nước nguồn và ở đó cũng đồng thời diễn

ra các quá trình vật lý, hóa học, sinh học phức tạp

Một dòng thải mặc dù chỉ với lưu lượng nhỏ và nồng độ các chất gây ô nhiễm không quá cao nhưng có thể đủ để làm cho nguồn tiếp nhận nước thải bị ô nhiễm do khả năng tự làm sạch kém Ngược lại, một dòng thải với lưu lượng lớn, tải lượng ô nhiễm cao nhưng khi thải ra môi trường chưa đủ sức gây nên vấn đề ô nhiễm nguồn nước do khả năng tự làm sạch của nguồn tiếp nhận lớn Vì vậy, để đánh giá mức độ ô nhiễm của một dòng thải, đôi khi người ta phải căn cứ vào đặc điểm hiện trạng của nguồn tiếp nhận

e) Phạm vi tác động của dòng thải

Thành quả nghiên cứu của nhiều tác giả trước đây trên thế giới đều cho rằng, các dòng thải đối với sự ô nhiễm môi trường nước đứng về quan điểm khu vực mà xét thì phạm vi của nó rất nhỏ Nhưng trên thực tế, đối với mỗi khu dân cư, mỗi khu đô thị thì sự tập trung nhiều cơ sở sản xuất gây ô nhiễm ở một vùng thì khi đó phạm vi và qui

mô của nó lại rất có ý nghĩa trong vấn đề gây ô nhiễm môi trường nói chung Chính vì vậy, ngoài việc xác định mức độ còn phải đánh giá cả khả năng, hướng lan truyền mở rộng hay phạm vi và qui mô có thể gây ô nhiễm môi trường

Trang 34

1.2 Kinh nghiệm quốc tế về xác định thiệt hại dân sự do ô nhiễm môi trường 1.2.1 Nhật Bản

1.2.1.1 Quy định của luật pháp Nhật Bản liên quan đến thiệt hại dân sự do ô nhiễm môi trường

Bộ Luật dân sự của Nhật Bản, có hiệu lực năm 1889, không quy định chính xác

và cụ thể về các phương pháp xác định đền bù tổn thất dân sự Tuy nhiên, Luật quy

định rõ “Một người, do vô tình hoặc cố ý, có hành vi xâm phạm đến bất kỳ quyền hay lợi ích hợp pháp của người khác, phải có trách nhiệm pháp lý trong việc bồi thường những tổn thất do mình gây ra” (Điều 709) Đồng thời, Luật quy định về phương pháp

xác định tổn thất và hành vi bất cẩn gây tổn hại, theo đó, tổng giá trị tổn thất dân sự được xác định căn cứ theo giá trị tiền tệ là chủ yếu (Điều 722 và 417)

Bộ Luật cơ bản về kiểm soát ô nhiễm môi trường năm 1967 gồm 05 nội dung chính như sau:

- Kiểm soát ô nhiễm: trong đó gồm 2 phần chính là kiểm soát ô nhiễm nước và đất; kiểm soát ô nhiễm không khí và các vấn đề ô nhiễm khác

- Đền bù thiệt hại sức khỏe: gồm luật về các biện pháp đặc biệt đền bù thiệt hại

về sức khỏe do ô nhiễm gây ra; và luật liên quan tới đền bù và ngăn ngừa ô nhiễm gây thiệt hại về sức khỏe

- Giải quyết tranh chấp: Luật giải quyết các tranh chấp về ô nhiễm môi trường;

và luật về thiết lập các ủy ban điều phối tranh chấp môi trường

- Về vấn đề tài chính: Thành lập công ty giải quyết ô nhiễm Nhật Bản; và Luật

về các gánh nặng tài chính liên quan tới kiểm soát ô nhiễm của các doanh nghiệp

- Thể chế: Luật về thành lập các cơ quan môi trường; và hệ thống kiểm soát ô nhiễm

Hệ thống pháp luật tại địa phương bao gồm hệ thống văn bản luật qui định về kiểm soát ô nhiễm Từ năm 1962, số qui định này là 4, thì đã tăng lên đến 341 vào năm 1972 Ngoài ra, các chính quyền địa phương còn xây dựng các kế hoạch kiểm soát ô nhiễm hàng năm Tất cả những hoạt động và văn bản luật này của chính quyền địa phương đều nhằm hỗ trợ cho các luật về kiểm soát ô nhiễm của chính phủ (về nước, đất, không khí và các vấn đề ô nhiễm khác)

Trang 35

Hệ thống pháp luật của Nhật Bản có những quy định rõ ràng liên quan đến vấn

đề bồi thường thiệt hại:

- Luật xác định mức độ hỗ trợ thiệt hại về sức khỏe do ô nhiễm gây ra (the Law

Concerning Relief of Pollution-related Health Damage) ban hành năm 1970: Luật qui

định đối với khoản chi phí thuốc men, bệnh xá…cấp cho người mắc các bệnh do ô

nhiễm gây ra

- Luật Bồi thường thiệt hại sức khỏe liên quan đến ô nhiễm (The

pollution-related Health Damage Compensation Law) ban hành năm 1974: Luật qui định việc

bồi thường thu nhập cũng phải được thực hiện cùng với các chi phí y tế cho bệnh

nhân Theo đó, các đối tượng gây ô nhiễm phải chi trả cho những người mắc bệnh nếu

các nạn nhân chứng minh được nguyên nhân gây bệnh là do ô nhiễm (thông qua việc

khám sức khỏe và cơ quan chức năng cấp giấy chứng nhận mắc bệnh do nguyên nhân

ô nhiễm)

Tại Nhật Bản, tòa án là đơn vị xem xét và phán quyết một đối tượng có gây ra

những tổn thất dân sự liên quan đến ô nhiễm hay không thông qua các chứng cứ và kết

quả xác minh liên quan Quá trình ra quyết định của Tòa án tuân theo các nguyên tắc:

- Nguyên tắc phán quyết công bằng: Khi thực hiện phán quyết, “tòa án xem xét

toàn bộ các thông tin tranh luận và kết quả kiểm tra chứng cứ một cách rõ ràng và dựa

trên nguyên tắc phán quyết công bằng, sẽ quyết định những cáo buộc của nguyên đơn

trên thực tế là đúng hay không đúng sự thật” (Điều 247, Bộ Luật dân sự)

Luật cơ sở về Kiểm soát ONMT (1993)

Kế hoạch Kiểm soát ON

Pháp luật kiểm soát ON 1962: 4 quy định -> 1972: 341 quy định

Kiểm soát ON Bồi thường

thiệt hại sức khỏe

Giải quyết tranh chấp Tài chính

Luật xác định

hỗ trợ thiệt hại sức khỏe do ON

Luật về bồi thường và ngăn ngừa ô nhiễm liên quan đến thiệt hại sức khỏe

Luật giải quyết tranh chấp do ONMT

Luật thành lập

Ủy ban điều phối tranh chấp môi trường

Thể chế

Tập đoàn

về ON Nhật Bản

Luật về gánh nặng chi phí của doanh nghiệp đối với các dự án kiểm soát ON

Luật về thiết lập

cơ quan môi trường

Hệ thống quản lý kiểm soát

ô nhiễm

Bổ sung

Không khí và lĩnh vực khác

Luật kiểm soát ON không khí

Luật vận tải đường bộ

Luật về tiếng ồn

Luật kiểm soát mùi

Trang 36

- Nguyên tắc tranh luận: Nguyên đơn bào chữa và chứng minh tổng thiệt hại của mình

- Nguyên tắc xác định tổng thiệt hại: “Trường hợp phát hiện tổn thất xảy ra, nếu khó khăn trong xác định tổng thiệt hại, từ bản chất của thiệt hại để chứng minh tổng thiệt hại Theo đó, tòa án, căn cứ trên các chứng cứ của các cuộc tranh luận và kết quả điều tra chứng cứ, có thể xác định tổng mức tổn thất phù hợp” (Điều 248, Bộ Luật dân sự)

1.2.1.2 Phương pháp ước tính bồi thường thiệt hại được áp dụng tại Nhật Bản

02 phương pháp được áp dụng để ước tính bồi thường thiệt hại được áp dụng bao gồm:

a) Phương pháp khái quát hóa từ các trường hợp trong quá khứ: Đây là phương

pháp đặc trưng được tòa án sử dụng để ước lượng tổn thất tổng quát thông qua việc tổng hợp các trường hợp đã xảy ra trong quá khứ (các trường hợp đã có tiền lệ)

b) Phương pháp xác định thiệt hại cụ thể

Theo quy định của Bộ Luật dân sự của Nhật bản, tổng thiệt hại được ước lượng bằng cách cộng tổng các thiệt hại cá nhân trong từng trường hợp cụ thể Thiệt hại dân

sự bao gồm có thiệt hại về tinh thần và thiệt hại về tài sản Trong đó, thiệt hại về tài sản có thiệt hại trực tiếp (chi phí chữa bệnh, sửa chữa và thay thế…) và thiệt hại gián tiếp (mất mát thời gian, thu nhập…)

- Các thiệt hại trực tiếp bao gồm: chi phí y tế (chi phí thuốc men, chi phí chăm sóc y tế, chi phí thăm khám bệnh…); chi phí cần thiết cho dụng cụ cần thiết cho việc chữa bệnh; chi phí sửa chữa nhà cửa, ô tô, đồ đạc để hỗ trợ người tàn tật; chi phí trợ cấp mai táng; chi phí học hành (chi phí do phải học lại để bù đắp những khóa học bị trì hoãn); chi phí kiện tụng và các chi phí khác

- Các thiệt hại gián tiếp: Các thiệt hại do mất thu nhập liên quan đến ô nhiễm

môi trường được xếp vào dạng này Chi phí đền bù cho các thiệt hại này bao gồm: tiền đền bù cho việc mất thu nhập, đền bù việc giảm thu nhập do giảm thời gian làm việc, tiền đề bù cho việc suy giảm khả năng lao động với mức đền bù phụ thuộc vào mức độ suy giảm khả năng lao động (5%-100%) Thời gian trả tiền đền bù bắt đầu từ thời điểm bị suy giảm khả năng lao động tới 67 tuổi

Ngoài ra còn tiền đền bù cho việc mất tính mạng, việc đền bù được tính cho toàn bộ thu nhập bị mất tính từ khi chết cho đến năm 67 tuổi (tính toán với tỷ lệ chiết khấu 5%)

Tiền đền bù cho việc suy giảm khả năng lao động được xác định theo công thức: Thiệt hại do suy

x

Tỷ lệ khấu trừ lãi suất trung bình)

Trang 37

(Tỷ lệ khấu trừ lãi suất trung bình))

- Thiệt hại về tinh thần: Việc bồi thường cho thiệt hại về tinh thần được quy

định trong Bộ luật dân sự “Người chịu trách nhiệm về thiệt hại theo quy định của điều này cũng phải bồi thường các thiệt hại khác ngoài thiệt hại về tài sản, bất kể về cơ thể,

tự do hay uy tín của người khác đã bị xâm hại, hoặc quyền tài sản của người khác bị vi

phạm” (Điều 710)

Các yếu tố được xem xét khi tính toán bao gồm có: Bằng chứng về mức độ thương tật của nạn nhân; chứng nhận tài sản của nạn nhân; nghề nghiệp và vị trí xã hội của nạn nhân; tuổi của nạn nhân; các lỗi của nạn nhân; lợi ích của nạn nhân (lợi ích bảo hiểm); ý định hay lỗi của người gây tổn hại; động cơ, nguyên nhân của sai lầm cá nhân

1.2.1.3 Nghiên cứu cụ thể về xác định thiệt hại do ô nhiễm trường hợp bệnh Minamata

Với trường hợp bệnh nhân mắc bệnh Minamata, căn bệnh phát hiện lần đầu tiên trên người vào năm 1956, và phải mất 12 năm sau, chính quyền địa phương mới công bố chính xác nguyên nhân và đối tượng gây bệnh là do ô nhiễm thủy ngân tích tụ tại lưu vực vịnh Minamata của công ty Chisso Việc đánh giá thiệt hại do bệnh Minamata gây nên bao gồm ba phần đánh giá Việc đánh giá có tính đến yếu tố thời gian của tiền tệ:

- Đánh giá thiệt hại liên quan đến sức khỏe: Được xác định thông qua số tiền hỗ trợ và bồi thường tích lũy qua các năm cho các bệnh nhân mắc bệnh

- Đánh giá thiệt hại liên quan đến ô nhiễm đáy vịnh Minamata: Được xác định thông qua chi phí nạo vét và xử lý môi trường của đáy vịnh qua các năm

- Đánh giá thiệt hại liên quan đến ngành ngư nghiệp: Được xác định thông qua chi phí bồi thường cho ngành ngư nghiệp

Bên cạnh những biện pháp khắc phục hậu quả ô nhiễm và các biện pháp chăm sóc sức khỏe khác, phương án giải quyết bồi thường ban đầu theo hình thức hỗ trợ theo “thỏa thuận bồi thường giữa công ty gây ô nhiễm và người dân” Thời gian ban đầu khi Luật hỗ trợ sức khỏe và luật bồi thường chưa ra đời, số tiền bồi thường do công ty tự nguyện bỏ ra với một khoản ước tính Tuy nhiên sau khi có sự ra đời của Luật, thỏa thuận này căn cứ vào Luật để thực hiện một cách linh hoạt

1.2.2 Trung Quốc

Trung Quốc hiện là quốc gia có tình trạng ô nhiễm nước cao nhất thế giới Ô nhiễm nước có ảnh hưởng rất lớn đến các vùng nông thôn của Trung Quốc, nơi có khoảng 300 triệu người đang thiếu tiếp cận đường nước sạch, cũng như giữa các nhóm

Trang 38

dễ bị tổn thương ví dụ trẻ em dưới 5 tuối và phụ nữ Ngân hàng thế giới ước tính thiệt hại sức khỏe do ô nhiễm nước tại Trung Quốc năm 2003 xấp xỉ 2% GDP Ngoài ra, ô nhiễm nước cũng gây ra các thiệt hại khác cho xã hội Sử dụng nước ô nhiễm gây ra tổn hại giá trị sản xuất nông nghiệp là 7 tỷ NDT/năm trong khi đó thiệt hại nuôi trồng thủy sản là 4 tỷ NDT/năm

Ở Trung Quốc, hầu hết các nghiên cứu về các tác động sức khoẻ từ ô nhiễm nước đều thấy hiện tượng ô nhiễm nước uống và các bệnh ung thư Su De-long (1980)

5tìm hiểu nguyên nhân của bệnh ung thư gan ở khu vực Qidong của tỉnh Giang Tô, và phát hiện rằng tử vong do ung thư gan có liên hệ mật thiết với sự ô nhiễm nước uống

Xu Houquan et al (1995) nghiên cứu bệnh – chứng (case-control study) của các yếu tố nguy cơ của bệnh gan xung quanh hồ Nansi, tỉnh Sơn Đông6 và chỉ ra rằng uống nước

hồ, uống các đồ có cồn, và ăn cá là tất cả các yếu tố nguy cơ cho bệnh ung thư gan Xu Houquan et al (1994) nghiên cứu đoàn hệ hồi cứu (retrospective cohort study) trong mối quan hệ giữa ô nhiễm nước và các khối u7 và chỉ ra rằng tỷ lệ tử vong của bệnh ung thư gan, thực quản và dạ dày với những người uống nước hồ thì cao hơn những người uống nước sạch Các tỉ số nguy cơ (RR) là 1,56; 1,50; và 1,63

Rất nhiều các nghiên cứu cũng đã phát hiện ra liên hệ đặc biệt giữa nồng độ vi khuẩn thuộc nhóm trực khuẩn ruột trong nước uống với các tỉ lệ lây nhiễm bệnh tiêu chảy, và giữa chỉ số chất lượng nước tổng hợp (IWQI) và tỉ lệ lây nhiễm bệnh thương hàn/phó thương hàn và tiêu chảy cho cả nam giới và nữ giới

1.2.2.1 Đánh giá thiệt hại sức khỏe do ô nhiễm nước

Tại Trung Quốc, việc đánh giá thiệt hại sức khỏe do ô nhiễm nước được thực hiện thông qua 3 phương pháp chính gồm:

- Hàm liều lượng – đáp ứng (dose- response function)

- Giá trị cuộc sống con người (VSL)

- Vốn con người (Human capital approach)

a) Xác định thiệt hại thông qua hàm liều lượng đáp ứng

Hàm liều lượng đáp ứng là một hàm số cho biết mối quan hệ nhân quả giữa tác nhân gây ô nhiễm thường là nồng độ các loại chất ô nhiễm xác định và hậu quả gia tăng mà nó gây ra cho xã hội Thước đo hậu quả có thể bao gồm là số ca mắc bệnh, số

ca tử vong, sự suy giảm số ngày lao động do ô nhiễm nước gây ra Sau khi hàm liều lượng đáp ứng được xác lập và ước lượng được hậu quả đầu ra thì các nhà kinh tế sẽ

sử dụng các mức giá thị trường có điều chỉnh để tính toán thiệt hại kinh tế của ô nhiễm

5 Su De-long, 1980, Drinking water and liver cell cancer, Chinese preventive medical journal

6 Xu Houquan, HAN Yurong, Hu Ping et al, 1995, “The case-control study on the human liver cancer risk factors in the Nansihu

7 Xu Houquan, Yurong Han, Fabin Han et al, 1994, “The retrospective cohort study on the water pollution and tumor

in Nansihu

Trang 39

nước Các bước tiến hành xác định tổn thất sức khỏe tại Trung Quốc do ô nhiễm được thể hiện theo sơ đồ sau:

Hình 2 Qui trình xác định thiệt hại do ô nhiễm nước bằng phương pháp liều lượng

đáp ứng tại Trung Quốc

Nguồn: Ngân hàng thế giới (2003)

Bước 1: Xác định các nhân tố gây ô nhiễm, khu vực ô nhiễm và các điều kiện liên quan

Bước 2: Xác định các điểm ảnh hưởng và thiết lập mối quan hệ liều lượng – đáp ứng cho tổn thất ô nhiễm

Bước 3: Ước lượng lượng dân cư (hay yếu tố khác) bị ảnh hưởng trong khu vực

b) Phương pháp lượng giá cuộc sống con người (VSL)

Trung Quốc cũng sử dụng phương pháp VSL để đo lường giá trị cuộc sống của con người VSL về bản chất là sự sẵn sàng chi trả của xã hội để giảm bớt đi một ca tử vong do một yếu tố nguy cơ nào đó (trong trường hợp cụ thể là ô nhiễm nước)

Trên thực tế, để biết được mỗi người sẽ chấp nhận trả bao nhiêu tiền cho 1/10.000 nguy cơ giảm nguy cơ tử vong, có thể sử dụng những ước lượng thường xuyên từ chênh lệch tiền lương đền bù (compensating wage differentials) trên thị trường lao động, hoặc tùy thuộc vào giá trị cuộc khảo sát trong đó mỗi người được trực tiếp hỏi họ sẽ trả bao nhiêu để giảm nguy cơ tử vong cho bản thân mình Ý tưởng

cơ bản đằng sau việc tính toán chênh lệch tiền lương đền bù là công việc thường được đặc trưng bởi những đặc điểm khác nhau, bao gồm cả những nguy cơ tử vong ngẫu nhiên Nếu công nhân có thông tin về rủi ro dẫn đến tử vong và thương tật, và nếu thị

Trang 40

trường lao động là cạnh tranh, những công việc mang nhiều rủi ro hơn sẽ được trả lương cao hơn, trong điều kiện số lượng công nhân và công việc là không đổi Theo kinh nghiệm, để ước lượng chênh lệch tiền lương đền bù, một phương trình đã được lập ra để ước lượng sự thay đổi trong tiền lương nhận được của các công nhân như là một hàm “đặc điểm công nhân” (tuổi, giáo dục, vốn con người) và “đặc điểm công việc”, bao gồm những rủi ro dẫn đến tử vong và thương tật (Viscusi 1993) Trên lý thuyết, ảnh hưởng của một thay đổi nhỏ về nguy cơ tử vong trong tiền lương sẽ ngang bằng với số lượng công nhân đồng ý với việc đền bù nguy cơ này Với những sự thay đổi nhỏ về nguy cơ, nó cũng dẫn đến sự thay đổi trong việc công nhân sẽ trả bao nhiêu cho việc giảm rủi ro Trong phương pháp đền bù tiền lương để ước lượng VSL sử dụng chênh lệch tiền lương, những công nhân cần được biết về nguy cơ tử vong trong công việc của mình Để đo lường sự chênh lệch cần có sự ước lượng chính xác đối với nguy

cơ tử vong trong từng loại công việc, liên quan đến ngành nghề kinh doanh và tính chất công việc Nhà nghiên cứu phải đồng thời có được những yếu tố quyết định của tiền lương, nguy cơ tử vong trong công việc không ảnh hưởng tới những công nhân khác hoặc đặc điểm công việc Ví dụ, vì dữ liệu về nguy cơ của chấn thương thường được thu thập bởi ngành nghề kinh doanh, điều quan trọng là phải kiểm soát đầy đủ những nguồn khác nhau của sự chênh lệch tiền lương đền bù

c) Phương pháp đánh giá thiệt hại sử dụng vốn con người

Phương pháp vốn con người được dụng để thay thế VSL dùng khả năng sản xuất bị mất liên quan tới số trường hợp tử vong sớm (nghĩa là mức thu nhập mất đi – forgone earning) để đánh giá giá trị tuổi thọ bị mất Giá trị của một cá nhân tạo ra và giá trị đó đo lường chính xác thu nhập của anh ta Phương pháp điều chỉnh vốn con người (Adjust Human Capital – AHC), rất phổ biến ở Trung Quốc, những bước ban đầu trong việc thay thế phương pháp vốn con người truyền thống Trên thực tế, AHC lượng giá tuổi thọ bị mất tại tất cả các lứa tuổi theo giá trị hiện tại của GDP đầu người trên tuổi thọ còn lại của từng cá nhân Trong tính toán AHC, GDP đầu người trên thực

tế hàng năm được giả định là α%, tỷ lệ chiết khấu là r% Điều chỉnh vốn con người, ký hiệu là HCm, được tính toán trong phương trình sau:

Trong đó:

‚ HC là giá trị một mạng sống được qui đổi bằng tiền ở thời điểm hiện tại

Ngày đăng: 09/03/2015, 22:49

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
6. Công ty Cổ phần Sonadezi Long Thành, 2003, Báo cáo thuyết minh kỹ thuật Nhà máy xử lý nước thải tập trung KCN Long Thành (giai đoạn 1), công suất 5.000 m 3 /ngày.đêm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo thuyết minh kỹ thuật Nhà máy xử lý nước thải tập trung KCN Long Thành (giai đoạn 1), công suất 5.000 m"3
7. Công ty Cổ phần Sonadezi Long Thành, 2007, Báo cáo thuyết minh kỹ thuật Nhà máy xử lý nước thải tập trung KCN Long Thành (giai đoạn 2), công suất 5.000 m 3 /ngày.đêm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo thuyết minh kỹ thuật Nhà máy xử lý nước thải tập trung KCN Long Thành (giai đoạn 2), công suất 5.000 m"3
13. Hội Đập lớn và Phát triển nguồn nước Việt Nam. Hiện trạng môi trường lưu vực sông Cầu, website www.vncold.vn tra cứu tháng 7/2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiện trạng môi trường lưu vực sông Cầu
14. Huỳnh Thị Minh Hằng, Nguyên Thanh Hùng và CTV, Điều tra, thống kê và lập danh sách các nguồn thải gây ô nhiễm đối với lưu vực sông Đồng Nai-Sài Gòn, Báo cáo tổng hợp, nhiệm vụ KHCN của Cục Bảo vệ Môi trường 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra, thống kê và lập danh sách các nguồn thải gây ô nhiễm đối với lưu vực sông Đồng Nai-Sài Gòn
15. Huỳnh Thị Minh Hằng, Nguyễn Thanh Hùng, Nguyễn Văn Dũng, Quản lý thống nhất tổng hợp các nguồn thải gây ô nhiễm trên lưu vực hệ thống sông Đồng Nai.Viện Môi trường và Tài nguyên, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, 2006 16. Luật bảo vệ môi trường 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý thống nhất tổng hợp các nguồn thải gây ô nhiễm trên lưu vực hệ thống sông Đồng Nai
30. Viện Khoa học và Kỹ Thuật Môi trường (IESE), 2009, Điều tra, thống kê, phân loại nguồn thải, xác định tải lượng nước thải từ các thành phần làm cơ sở cho việc xây dựng Đề án “Kiểm soát ô nhiễm môi trường do nước thải tại Hà Nội, Hải Phòng và thành phố Hồ Chí Minh” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra, thống kê, phân loại nguồn thải, xác định tải lượng nước thải từ các thành phần làm cơ sở cho việc xây dựng Đề án “Kiểm soát ô nhiễm môi trường do nước thải tại Hà Nội, Hải Phòng và thành phố Hồ Chí Minh
31. Viện Môi trường & Tài nguyên, 2012, Báo cáo kết quả nhiệm vụ Xác định nguyên nhân, phạm vi, mức độ chịu ản hưởng về môi trường trên lưu vực rạch Bà Chèo.Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả nhiệm vụ Xác định nguyên nhân, phạm vi, mức độ chịu ản hưởng về môi trường trên lưu vực rạch Bà Chèo
20. Michael Bowman and Alan Boyle. Environmental damage in international and comparative law: Problems of definition and valuation. Oxford university Press 2002.21. Minamata Disease: The History and Measures(http://www.env.go.jp/en/chemi/hs/minamata2002/) Link
2. Bộ KH&CN, 2003, Báo cáo kết quả KHCN cấp Nhà nước: Môi trường lưu vực sông Cầu Khác
3. Bộ Tài nguyên & Môi trường. QCVN 08:2008/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt Khác
4. Bộ Tài nguyên và Môi trường, Báo cáo hiện trạng môi trường Quốc gia 2010 Khác
5. Công ty Cổ phần Sonadezi Long Thành, 2003, Báo cáo Đánh giá tác động môi trường của Dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng KCN Long Thành, qui mô 448 ha, tại xã Tam An, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai Khác
10. Cục Quản lý Tài nguyên Nước, 2007, Báo cáo điều tra mục tiêu chất lượng nước lưu vực sông Nhuệ-Đáy Khác
11. Cục Quản lý Tài nguyên Nước, 2010, Báo cáo Xây dựng mục tiêu chất lượng nước cho sông Nhuệ - sông Đáy Khác
12. Chi cục thống kê tỉnh Đồng Nai, 2011, Niên giám thống kê tỉnh Đồng Nai năm 2010 Khác
2010, Một số kinh nghiệm trong việc tính toán bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường ở lưu vực sông Thị Vải Khác
20. Quy hoạch khung lưu vực sông Đáy – Quản lý môi trường nền chất lượng nước lưu vực sông Đáy – Dự án ADB TA 3892-VIE: Giai đoạn 3 – Hợp phần 3, Việt Nam tháng 8/2007 Khác
21. Sở Kế hoạch & Đầu tư tỉnh Đồng Nai, 2010 Báo cáo đánh giá môi trường chiến lược Dự án Quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Đồng Nai đến năm 2020 Khác
22. Sở Tài nguyên & Môi trường Đồng Nai, 2011, Báo cáo hiện trạng môi trường tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2006- 2010 Khác
23. Sở Tài nguyên và Môi trường Thái Nguyên, Báo cáo hiện trạng môi trường Thái Nguyên, 2005 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3 và 4 giới thiệu tải lượng ô nhiễm do nước thải theo số nhân viên và sản - Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn, đề xuất phương pháp xác định thiệt hại dân sự do ô nhiễm, suy thoái môi trường gây ra trên một số dòng sông ở Việt Nam
Bảng 3 và 4 giới thiệu tải lượng ô nhiễm do nước thải theo số nhân viên và sản (Trang 27)
Hình 4. Bản đồ các lưu vực sông chính ở Việt Nam - Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn, đề xuất phương pháp xác định thiệt hại dân sự do ô nhiễm, suy thoái môi trường gây ra trên một số dòng sông ở Việt Nam
Hình 4. Bản đồ các lưu vực sông chính ở Việt Nam (Trang 62)
Hình 5. Diễn biến hàm lượng BOD5 năm 2007-2009 dọc theo lưu vực sông Cầu 14 - Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn, đề xuất phương pháp xác định thiệt hại dân sự do ô nhiễm, suy thoái môi trường gây ra trên một số dòng sông ở Việt Nam
Hình 5. Diễn biến hàm lượng BOD5 năm 2007-2009 dọc theo lưu vực sông Cầu 14 (Trang 63)
Hình 6. Diễn biến dầu mỡ năm 2007-2009 dọc lưu vực sông Cầu - Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn, đề xuất phương pháp xác định thiệt hại dân sự do ô nhiễm, suy thoái môi trường gây ra trên một số dòng sông ở Việt Nam
Hình 6. Diễn biến dầu mỡ năm 2007-2009 dọc lưu vực sông Cầu (Trang 64)
Hình 7. Tổng lượng nhu cầu sử dụng nước phân theo ngành - Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn, đề xuất phương pháp xác định thiệt hại dân sự do ô nhiễm, suy thoái môi trường gây ra trên một số dòng sông ở Việt Nam
Hình 7. Tổng lượng nhu cầu sử dụng nước phân theo ngành (Trang 68)
Hình 8. Diễn biến hàm lượng N-NH4+ năm 2007-2009 trên sông Nhuệ - Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn, đề xuất phương pháp xác định thiệt hại dân sự do ô nhiễm, suy thoái môi trường gây ra trên một số dòng sông ở Việt Nam
Hình 8. Diễn biến hàm lượng N-NH4+ năm 2007-2009 trên sông Nhuệ (Trang 69)
Hình 9. Giá trị 75% của COD trên sông Nhuệ qua các năm - Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn, đề xuất phương pháp xác định thiệt hại dân sự do ô nhiễm, suy thoái môi trường gây ra trên một số dòng sông ở Việt Nam
Hình 9. Giá trị 75% của COD trên sông Nhuệ qua các năm (Trang 71)
Hình 11. Giá trị 75% của BOD5 các sông khác qua các năm - Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn, đề xuất phương pháp xác định thiệt hại dân sự do ô nhiễm, suy thoái môi trường gây ra trên một số dòng sông ở Việt Nam
Hình 11. Giá trị 75% của BOD5 các sông khác qua các năm (Trang 72)
Bảng 6. Phân bố lưu lượng nước thải sinh hoạt trên lưu vực sông Nhuệ-Đáy - Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn, đề xuất phương pháp xác định thiệt hại dân sự do ô nhiễm, suy thoái môi trường gây ra trên một số dòng sông ở Việt Nam
Bảng 6. Phân bố lưu lượng nước thải sinh hoạt trên lưu vực sông Nhuệ-Đáy (Trang 73)
Bảng 7. Phân bố tải lượng ô nhiễm do nước thải sinh hoạt trên lưu v ực sông Nhuệ- Đáy - Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn, đề xuất phương pháp xác định thiệt hại dân sự do ô nhiễm, suy thoái môi trường gây ra trên một số dòng sông ở Việt Nam
Bảng 7. Phân bố tải lượng ô nhiễm do nước thải sinh hoạt trên lưu v ực sông Nhuệ- Đáy (Trang 73)
Hình 12. Diễn biến hàm lượng BOD5 năm 2006-2009 dọc sông Sài Gòn - Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn, đề xuất phương pháp xác định thiệt hại dân sự do ô nhiễm, suy thoái môi trường gây ra trên một số dòng sông ở Việt Nam
Hình 12. Diễn biến hàm lượng BOD5 năm 2006-2009 dọc sông Sài Gòn (Trang 77)
Bảng 9. Phân bố tải lượng ô nhiễm do nước thải đô thị - Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn, đề xuất phương pháp xác định thiệt hại dân sự do ô nhiễm, suy thoái môi trường gây ra trên một số dòng sông ở Việt Nam
Bảng 9. Phân bố tải lượng ô nhiễm do nước thải đô thị (Trang 79)
Hình 15. Sơ đồ vị trí rạch Bà Chèo  3.2.2.2 Điều kiện kinh tế - xã hội tại lưu vực rạch Bà Chèo - Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn, đề xuất phương pháp xác định thiệt hại dân sự do ô nhiễm, suy thoái môi trường gây ra trên một số dòng sông ở Việt Nam
Hình 15. Sơ đồ vị trí rạch Bà Chèo 3.2.2.2 Điều kiện kinh tế - xã hội tại lưu vực rạch Bà Chèo (Trang 106)
Hình 17. Bản đồ phân vùng ô nhiễm rạch Bà Chèo - Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn, đề xuất phương pháp xác định thiệt hại dân sự do ô nhiễm, suy thoái môi trường gây ra trên một số dòng sông ở Việt Nam
Hình 17. Bản đồ phân vùng ô nhiễm rạch Bà Chèo (Trang 112)
Hình 18. Sơ đồ quy trình xác định thiệt hại dân sự do ô nhiễm, suy thoái môi trường - Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn, đề xuất phương pháp xác định thiệt hại dân sự do ô nhiễm, suy thoái môi trường gây ra trên một số dòng sông ở Việt Nam
Hình 18. Sơ đồ quy trình xác định thiệt hại dân sự do ô nhiễm, suy thoái môi trường (Trang 124)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm