1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn để xây dựng cơ chế tạo lập, quản lý và sử dụng nguồn hình thành quỹ phát triển khoa học và công nghệ trong doanh nghiệp

383 486 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 383
Dung lượng 3,35 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vấn đề đặt ra là để hình thành quỹ đầu tư phát triển khoa học và công nghệ ở doanh nghiệp trông cậy vào nguồn lực tài chính nào và phương thức quản lý, đầu tư sử dụng như thế nào sao cho

Trang 1

BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

BÁO CÁO TỔNG HỢP

ĐỀ TÀI ĐỘC LẬP CẤP NHÀ NƯỚC

NGHIÊN CỨU CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ĐỂ XÂY DỰNG

CƠ CHẾ TẠO LẬP, QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG NGUỒN HÌNH THÀNH QUỸ PHÁT TRIỂN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRONG

DOANH NGHIỆP

MÃ SỐ 002/2009

CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI: GS.TS NGÔ THẾ CHI

CƠ QUAN CHỦ TRÌ : HỌC VIỆN TÀI CHÍNH

9633

HÀ NỘI - 2012

Trang 2

DANH SÁCH CÁC THÀNH VIÊN THỰC HIỆN CHÍNH

10 PGS.TS Bùi Đường Nghiêu Thành viên

Trang 3

MỤC LỤC

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ,

VÀ CƠ CHẾ TẠO LẬP, QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG NGUỒN LỰC TÀI CHÍNH CHO PHÁT TRIỂN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRONG DOANH NGHIỆP

10

1.1 VAI TRÒ CỦA KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA NỀN KINH TẾ VÀ CỦA DOANH NGHIỆP 10

1.1.1 Khái quát chung về khoa học và công nghệ 10

1.1.2 Các phương thức phát triển KH&CN 13

1.1.3 Vai trò của phát triển khoa học và công nghệ với nền kinh tế và trong doanh nghiệp 13

1.1.4 Sự cần thiết phải đầu tư cho phát triển khoa học và công nghệ 21

1.2 TỔNG QUAN VỀ NGUỒN TÀI CHÍNH VÀ HUY ĐỘNG, SỬ DỤNG NGUỒN HÌNH THÀNH QUỸ PHÁT TRIỂN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CỦA DOANH NGHIỆP 23

1.2.1 Khái niệm chung về nguồn tài chính 23

1.2.2 Huy động và sử dụng nguồn tài chính cho nghiên cứu khoa học và công nghệ trong doanh nghiệp 25

1.2.3 Những nhân tố ảnh hưởng tới đầu tư nguồn lực tài chính, quản lý và sử dụng nguồn hình thành quỹ phát triển khoa học và công nghệ trong khu vực doanh nghiệp 33

1.2.4 Quỹ KH&CN và quản lý, sử dụng quỹ KH&CN trong các doanh nghiệp 42

1.3 KINH NGHIỆM ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN KHOA HỌC CÔNG NGHỆ TRONG DOANH NGHIỆP CỦA MỘT SỐ NƯỚC 48

1.3.1 Kinh nghiệm Nhật bản 48

1.3.2 Kinh nghiệm Hàn Quốc 50

1.3.3 Kinh nghiệm Singapore 52

1.3.4 Kinh nghiệm Canada 55

1.3.5 Kinh nghiệm Trung Quốc 57 1.3.6 Chi tiêu cho hoạt động R&D trong doanh nghiệp của các nước61

Trang 4

1.3.7 Tổng hợp chính sách thuế thúc đẩy chi tiêu cho hoạt động R&D

trong doanh nghiệp trên thế giới 63 1.3.8 Bài học kinh nghiệm 69

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

VÀ VIỆC TẠO LẬP, QUẢN LÝ, SỬ DỤNG QUỸ PHÁT TRIỂN KHOA HỌC

VÀ CÔNG NGHỆ TRONG DOANH NGHIỆP 712.1 KHÁI QUÁT VỀ THỰC TRẠNG VỀ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM 71

2.1.1 Những thành tựu 71 2.1.2 Những hạn chế, yếu kém trong khoa học và công nghệ 73 2.1.3 Nguyên nhân của tình trạng khoa học và công nghệ yếu kém77 2.2 HỆ THỐNG CHÍNH SÁCH CỦA NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ QUỐC GIA 79 2.2.1 Những chính sách chung về huy động và sử dụng nguồn tài chính đầu tư cho phát triển khoa học và công nghệ trong doanh nghiệp …79 2.2.2 Cơ chế chính sách về quỹ phát triển khoa học và công nghệ trong doanh nghiệp 96

2.3 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRONG DOANH NGHIỆP 102

2.3.1 Tổng quan về doanh nghiệp Việt nam hiện nay 102 2.3.2 Thực trạng khoa học và công nghệ trong doanh nghiệp 112 2.3.3 Nhân tố ảnh hưởng đến đổi mới Khoa học và công nghệ trong doanh nghiệp 116

2.4 THỰC TRẠNG TẠO LẬP, QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG NGUỒN HÌNH THÀNH QUỸ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TẠI DOANH NGHIỆP119

2.4.1 Thực trạng các nhân tố tác động đến hình thành quỹ Phát triển khoa học và công nghệ trong doanh nghiệp 120 2.4.2 Thực trạng tạo lập quỹ phát triển khoa học và công nghệ trong doanh nghiệp 123 2.4.3 Nguồn vốn hình thành Quỹ phát triển khoa học và công nghệ130 2.4.4 Thực trạng quản lý và sử dụng quỹ phát triển KH & CN trong daonh nghiệp 131

Trang 5

CHƯƠNG 3 QUAN ĐIỂM, ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP TẠO LẬP, QUẢN

LÝ VÀ SỬ DỤNG HIỆU QUẢ QUỸ PHÁT TRIỂN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRONG DOANH NGHIỆP 137

3.1 QUAN ĐIỂM, ĐỊNH HƯỚNG CHIẾN LƯỢC CHO VIỆC TẠO LẬP, QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG HIỆU QUẢ QUỸ PHÁT TRIỂN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRONG DOANH NGHIỆP 137

3.1.1 Quan điểm chung về hoàn thiện cơ chế tạo lập, quản lý sử dụng quỹ phát triển khoa học và công nghệ trong doanh nghiệp 137

3.1.2 Định hướng chiến lược về việc tạo lập, quản lý và sử dụng nguồn hình thành quỹ phát triển khoa học và công nghệ trong doanh nghiệp

138

3.2 GIẢI PHÁP CƠ BẢN NHẰM KHUYẾN KHÍCH SỰ TẠO LẬP, QUẢN

LÝ VÀ HOẠT ĐỘNG HIỆU QUẢ CỦA QUỸ PHÁT TRIỂN KHOA HỌC CÔNG NGHỆ TRONG DOANH NGHIỆP 140

3.2.1 Hoàn thiện cơ chế xây dựng và tổ chức thực hiện nhiệm vụ khoa học

3.3.2 Giải pháp nhằm hoàn thiện quy định về sử dụng quỹ phát triển KH &

CN trong doanh nghiệp 151

3.3.3 Thực hiện các chính sách khuyến khích sự hình thành các quỹ đầu tư mạo hiểm vào doanh nghiệp 155

3.3 4 Giải pháp về tín dụng hỗ trợ cho phát triển khoa học và công nghệ tại doanh nghiệp 156

3.3.5 Giải pháp khuyến khích đầu tư quốc tế cho hoạt động KH & CN trong doanh nghiệp 158

3.4 Giải pháp cụ thể nhằm tạo lập, quản lý sử dụng hiệu quả quỹ phát triển

KH & CN cho từng loại hình doanh nghiệp 160

3.4.1 Giải pháp khuyến khích tạo lập, quản lý và sử dụng quỹ phát triển

KH & CN trong doanh nghiệp vừa và nhỏ 160

Trang 6

3.4.2 Giải pháp khuyến khích tạo lập, quản lý và sử dụng quỹ phát triển

KH & CN trong doanh nghiệp quy mô lớn 164

3.4.3 Giải pháp cho doanh nghiệp chuyên về nghiên cứu và phát triển công nghệ mới 166

3.4.4 Đẩy mạnh liên kết giữa các tổ chức nghiên cứu và các cơ sở sản xuất, doanh nghiệp 168

3.5 Các giải pháp hỗ trợ nhằm thúc đẩy hoạt động khoa học và công nghệ tại doanh nghiệp 170

3.5.1 Phát triển cơ sở hạ tầng thông tin khoa học và công nghệ 170

3.5.2 Tăng cường hợp tác để phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ, đặc biệt là nhân lực công nghệ cao 172

3.5.3 Giải pháp phát triển thị trường công nghệ 173

3.5.4 Hoàn thiện cơ chế hoạt động của bộ máy quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ 175

3.6 Hoàn thiện cơ chế quản lý Quỹ phát triển khoa học và công nghệ 177

3.6.1 Hoàn thiện cơ chế quản lý thu chi, tài sản 177

3.6.2 Hoàn thiện cơ chế quản lý nhà nước với Quỹ phát triển khoa học

và công nghệ để thúc đẩy sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp179

Trang 7

MỞ ĐẦU

Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng của GDP hoặc GNP hoặc thu nhập bình quân đầu người trong một thời gian nhất định.Tăng trưởng kinh tế thể hiện sự thay đổi về lượng của nền kinh tế.Theo quan điểm của triết học biện chứng sự thay đổi

về lượng quyết định sự thay đổi về chất Một nền kinh tế có tăng trưởng mới có phát phát triển Phát triển chính là yếu tố quyết định đến sự tồn vong của một quốc gia Không thể có nền kinh tế tăng trưởng nếu như từng doanh nghiệp không có sự tăng trưởng

Tăng trưởng của nền kinh tế nói chung,của từng doanh nghiệp nói riêng phụ thuộc vào bốn yếu tố cơ bản: Nguồn nhân lực; nguồn tài nguyên thiên nhiên; tư bản; công nghệ.Trong bốn yếu tố trên mặc dầu yếu tố nguồn nhân lực là yếu tố quyết định cho tăng trưởng kinh tế ở mọi thời đại, song không thể thiếu vắng yếu

tố công nghệ Đặc biệt trong bối cảnh hội nhập, mở cửa, cạnh tranh khóc liệt ai nắm, sử dụng và sáng tạo được công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới…thì kẻ đó sẽ chiến thắng trong cuộc chơi không hồi kết Chính

vì lẽ đó, cho đến nay ở mọi quốc gia, mọi doanh nghiệp ngoài việc quan tâm cho đầu tư tạo ra nguồn nhân lực có chất lượng cao, người ta đều chú trọng nhiều đến vấn đề đầu tư phát triển khoa học và công nghệ Đầu tư cho phát triển khoa học và công nghệ không chỉ đầu tư cho khai thác sử dụng công nghệ hiện có mà còn đầu

tư sáng tạo ra công nghệ mới-một yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh của quốc gia nói chung và của từng doanh nghiệp nói riêng Trong điều kiện nguồn lực tài chính có hạn, không phải lúc nào cũng có sẵn nguồn lực tài chính dùng cho đầu tư phát triển khoa học và công nghệ đối với cả quốc gia cũng như đối với từng doanh nghiệp Một trong những cách thức để có nguồn lực tài chính dùng cho đầu tư phát

Trang 8

triển khoa học và công nghệ ở mỗi quốc gia cũng như ở mỗi doanh nghiệp là hình thành quỹ đầu tư phát triển khoa học và công nghệ

Vấn đề đặt ra là để hình thành quỹ đầu tư phát triển khoa học và công nghệ ở doanh nghiệp trông cậy vào nguồn lực tài chính nào và phương thức quản lý, đầu

tư sử dụng như thế nào sao cho có hiệu quả, đang là những vấn đề trăn trở đối với các nhà quản trị doanh nghiệp

Thực tế ở Việt Nam, tính riêng nguồn đầu tư cho khoa học và công nghệ từ ngân sách nhà nước cũng chỉ chiếm khoảng 2% tổng chi ngân sách, khoảng 0,5-0,6% GDP.Trong khi đó, tỷ trọng đầu tư của doanh nghiệp chưa đến 0,1% GDP Hầu hết doanh nghiệp vẫn ở quy mô nhỏ và siêu nhỏ, chưa có điều kiện đầu tư cho khoa học và công nghệ Việc huy động các nguồn lực từ khối kinh tế tư nhân vào phát triển khoa học và công nghệ còn rất hạn chế Thực trạng này kéo dài sẽ là cản trở lớn cho sự phát triển và tăng cường năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và các doanh nghiệp tư nhân nói riêng Nhằm động viên doanh nghiệp tích cực đầu tư cho khoa học và công nghệ , thời gian gần đây, Nhà nước đã ban hành một số chính sách ưu đãi mới cho doanh nghiệp Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp của Quốc hội thông qua ngày 3/6/2008, tại Điều 17 quy định:

“Doanh nghiệp được thành lập, hoạt động theo quy định của pháp luật Việt Nam được trích tối đa 10% thu nhập tính thuế hàng năm để lập Quỹ phát triển khoa học

và công nghệ của doanh nghiệp”

Tuy nhiên cơ sở lý luận và thực tiễn của những ưu đãi trên chưa được đánh

giá và xem xét đầy đủ Do đó, nhóm nghiên cứu đó chọn đề tài: “Cơ sở lý luận về tạo lập, quản lý và sử dụng quỹ phát triển khoa học và công nghệ trong doanh nghiệp để nghiên cưú

Mục tiêu của đề tài nhằm:

Xác lập luận cứ khoa học của việc tạo lập và sử dụng quỹ phát triển Khoa học và công nghệ trong doanh nghiệp ở Việt nam

Trang 9

Nghiên cứu kinh nghiệm các nước trong việc khuyến khích đầu tư cho khoa học và công nghệ tại doanh nghiệp

Đánh giá thực trạng nghiên cứu, đầu tư phát triển khoa học và công nghệ trong doanh nghiệp hiện nay

Đánh giá, phân tích thực trạng việc huy động nguồn tài chính cho đầu tư phát triển khoa học và công nghệ trong khu vực doanh nghiệp ở Việt Nam, tập trung vào phân tích thực trạng quản lý, sử dụng quỹ phát triển KH&CN trong các doanh nghiệp

Đề xuất giải pháp nhằm tăng cường đầu tư khoa học và công nghệ trong doanh nghiệp; cơ chế chính sách Nhà nước thúc đẩy việc huy động và quản lý, sử dụng nguồn tài chính cho khoa học và công nghệ đối với doanh nghiệp; cơ chế quản lý sử dụng nguồn quỹ phát triển khoa học và công nghệ tại doanh nghiệp

Trang 10

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ, VÀ CƠ CHẾ TẠO LẬP, QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG NGUỒN LỰC TÀI CHÍNH CHO PHÁT TRIỂN

KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRONG DOANH NGHIỆP

1.1 VAI TRÒ CỦA KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA NỀN KINH TẾ VÀ CỦA DOANH NGHIỆP

1.1.1 Khái quát chung về khoa học và công nghệ

- Khái niệm về Khoa học:

Đã có rất nhiều định nghĩa khác nhau về khoa học từ các nhà nghiên cứu, các học giả, giới chuyên môn, các nhà quản lý…

“Khoa học là một tập hợp tri thức đã được kiểm chứng bằng thực nghiệm về các sự kiện, sự vật và hiện tượng tuân theo một quy luật xác định”1

“Khoa học là những kiến thức về giới tự nhiên và hành vi của giới tự nhiên”, đồng thời cũng đưa ra định nghĩa thứ hai: “Khoa học là những tri thức đạt được từ công việc nghiên cứu”2

“Khoa học là lĩnh vực hoạt động nhằm mục đích sản xuất ra những tri thức mới

về tự nhiên, xã hội và tư duy bao gồm tất cả những điều kiện và những yếu tố của

sự sản xuất này”3

Khoa học là “any systematic field of study”, nghĩa là một lĩnh vực nghiên cứu

có hệ thống và “nhằm sản xuất ra (to produce) các tri thức”4

“Khoa học là lĩnh vực hoạt động của con người, có chức năng xử lý và hệ thống hóa về mặt lý thuyết các tri thức khách quan Là một trong những hình thái ý thức

xã hội, bao gồm trong đó cả những hoạt động nhằm thu nhận các kiến thức mới, và

cả những kết quả của các hoạt động đó”5

1 Từ điển Laroursse (2002)

2 Từ điển Cobuild Learner’s Dictionary (2001)

3 Từ điển Triết học của Liên Xô (1975)

4 Từ điển Hutchinson Dictionary of Ideas (1994)

5 Từ điển Bách khoa toàn thư của Liên Xô (1986)

Trang 11

“Khoa học là một hoạt động nghiên cứu và kiến thức về thế giới vật lý và hành

vi của nó, dựa trên các thực nghiệm và các sự kiện được kiểm chứng và được tổ chức thành hệ thống”6 Tiếp theo định nghĩa này, trong từ điển MacMillan tách ra hai từ mục: (1) Khoa học là một lĩnh vực nghiên cứu (an area of study) sử dụng các phương pháp khoa học, và (2) Khoa học là một chủ đề nghiên cứu (a subject), chẳng hạn, vật lý học, hóa học

Từ định nghĩa về khoa học theo các sách từ điển khác nhau, có thể tựu chung lại khi nói đến khoa học sẽ được hiểu theo một trong 4 khía cạnh đó là: một hệ thống tri thức; một hoạt động sản xuất tri thức; một h́nh thái ư thức xă hội; một thiết chế

xă hội Với mỗi tư duy khác nhau sẽ có cách hiểu khác nhau về khoa học, nhưng tổng kết lại có thể hiểu khoa học là hệ thống tri thức, là sản phẩm của con người trong hoạt động sản xuất tri thức

Ngoài ra, còn có những cách hiểu khác như khoa học (science) còn gọi là kiến thức hoặc hiểu biết, là những nỗ lực thực hiện những phát minh, và tăng lượng tri thức hiểu biết của con người về cách thức hoạt động của thế giới vật chất xung quanh Thông qua các phương pháp kiểm soát, nhà khoa học sử dụng cách quan sát các dấu hiệu biểu hiện mang tính vật chất và bất thường của tự nhiên nhằm thu thập dữ liệu, phân tích thông tin để giải thích cách thức hoạt động, tồn tại của sự vật hiện tượng Một trong những cách thức đó là phương pháp thử nghiệm nhằm

mô phỏng hiện tượng tự nhiên dưới điều kiện kiểm soát được và các ý tưởng được thử nghiệm Tri thức trong khoa học là toàn bộ lượng thông tin mà các nghiên cứu

đã tích lũy được Định nghĩa về khoa học được chấp nhận phổ biến rằng khoa học

là tri thức tích cực đã được hệ thống hóa”7

Tóm lại, khoa học là quá trình nghiên cứu nhằm khám phá những kiến thức mới, học thuyết mới trong lĩnh vực tự nhiên và xã hội Những kiến thức mới, học

6 Từ điển MacMillan English Dictionary for Advanced Learners (2006)

7 Từ điển Wikipedia

Trang 12

thuyết mới này có thể sẽ ưu điểm hơn, tốt hơn để thay thế dần những cái cũ, không còn phù hợp Khoa học bao gồm một hệ thống tri thức về quy luật của vật chất và

sự vận động của vật chất, những quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy Hệ thống tri thức này hình thành trong lịch sử và không ngừng phát triển trên cơ sở thực tiễn

xã hội

- Khái niệm công nghệ

Công nghệ là tập hợp những phương tiện, phương pháp, kiến thức, kỹ năng

và những thông tin cần thiết nhằm biến đổi các nguồn lực thành các sản phẩm và dịch vụ phục vụ cho nhu cầu của con người

Khi nói đến công nghệ người ta thường nêu lên 4 thành phần của công nghệ như sau:

+ Phần phương tiện (hay phần kỹ thuật) bao gồm: máy móc, thiết bị, công

cụ, nhà xưởng, cơ sở hạ tầng vật chất

+ Phần con người thể hiện ở trình độ, kỹ năng, kỹ xảo, kinh nghiệm, thói

quen

+ Phần thông tin bao gồm các bí quyết, qui trình, phương pháp được mô

tả trong các tài liệu và bản thiết kế

+ Phần tổ chức bao gồm cách thức phối hợp, quản lý và điều hành các phần

phương tiện, phần con người và phần thông tin nhằm đưa công nghệ vào thực tiễn hoạt động kinh tế

Trong bốn thành phần trên, phần phương tiện còn được gọi là "phần cứng", các thành phần còn lại được gọi là "phần mềm" Các thành phần đó tác động qua lại và tương thích lẫn nhau trong quá trình sản xuất Hiệu quả của công nghệ có phát huy được hay không là phụ thuộc trực tiếp vào sự kết hợp giữa các thành phần này của công nghệ Nếu thiết bị máy móc hiện đại mà không có đội ngũ lao động lành nghề, có trình độ, khả năng sắp xếp, tổ chức tốt, hoặc không nắm bắt được đầy đủ thông tin, bí quyết liên quan đến công nghệ thì khó có thể phát huy được hiệu quả của công nghệ

Trang 13

Khoa học và công nghệ có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Khoa học tạo cơ

sở lý thuyết cho việc sáng tạo và triển khai các hoạt động công nghệ Công nghệ tạo ra những phương tiện quan trọng hỗ trợ cho nghiên cứu, phát hiện những kiến thức khoa học mới

1.1.2 Các phương thức phát triển KH&CN

Phát triển khoa học và công nghệ sẽ được thực hiện có thể thông qua một quá trình nghiên cứu, triển khai ứng dụng hoặc có thể thông qua phương thức là chuyển giao công nghệ hoặc nhập khẩu công nghệ về áp dụng cho hoạt động sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp

Với phương thức đi từ nghiên cứu, thử nghiệm, triển khai ứng dụng thường

là rất tốn kém vì nó đòi hỏi phải có nguôn nhân lực có trình độ cao, phải được đầu

tư về cơ sở vật chất thích đáng và phải có sự tiếp cận được với thị trường khi sản phẩm hoàn thành Chính vì thế, phương thức phát triển khoa học và công nghệ này

sẽ rất khó thực hiện đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, khi mà nguồn lực đầu tư cho nghiên cứu khoa học còn rất khiêm tốn Chỉ những tập đoàn doanh nghiệp lớn mới có thể có đủ tiềm lực để phát triển khoa học và công nghệ theo phương thức này Đầu tư phát triển khoa học và công nghệ theo đó đòi hỏi có nguồn lực lớn và mức độ rủi ro cũng tương đối cao, trong khi kết quả lại không thể ứng dụng ngay vào thực tế mà nó có một độ trễ nhất định Tuy nhiên, nếu một công nghệ được tạo

ra thì sẽ mang lại lợi ích rất to lớn, làm tăng năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp – vấn đề cốt lõi và sống còn cho sự phát triển của các doanh nghiệp

1.1.3 Vai trò của phát triển khoa học và công nghệ với nền kinh tế và trong doanh nghiệp

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu và rộng thì năng lực cạnh tranh là nhân tố mang tính quyết định đến sự phát triển của mỗi doanh nghiệp nói riêng và của mỗi quốc gia nói chung Thông thường, các doanh nghiệp từ khi

Trang 14

mới hình thành thường là kế thừa những công nghệ sẵn có, trải qua quá trình phát triển lâu dài và bền vững sẽ tạo ra những công nghệ của riêng mình, khi đó năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp sẽ ngày càng mạnh lên Tuy nhiên, chỉ số ít các doanh nghiệp có thể tự mình phát triển được công nghệ phục vụ hoạt động sản xuất của mình như vậy do những hạn chế về nhân lực và tài chính Trong mỗi lĩnh vực sản xuất kinh doanh sẽ có những công nghệ riêng, nên trình độ phát triển khoa học

và công nghệ trong mỗi doanh nghiệp sẽ chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ trình độ phát triển KH&CN trong mỗi ngành sản xuất như công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ

Khoa học đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp

Sự khác biệt giữa các thời đại kinh tế không phải ở việc chúng ta sản xuất ra cái gì mà nó nằm ở chỗ chúng ta sản xuất bằng cách nào với những tư liệu lao động nào8 Chính vì thế, khoa học đóng vai trò như một lực lượng sản xuất trực tiếp Tức là khoa học đã phát triển đến trình độ trở thành điểm xuất phát trực tiếp cho những thay đổi lớn về kỹ thuật sản xuất và tạo ra những ngành sản xuất mới ưu việt hơn

Cuộc cách mạng khoa học-kĩ thuật hiện đại đã kết hợp khoa học và kĩ thuật thành một thể thống nhất không thể tách biệt được, đã đưa đến những phương pháp sản xuất mới Khoa học còn phát hiện và đề ra những phương pháp khai thác những nguồn năng lượng mới và chế tạo hàng loạt vật liệu nhân tạo có tác dụng nhiều mặt mà trước đây không thể biết được Khoa học lại đề ra hàng loạt phương tiện kỹ thật và quá trình công nghệ mới về chất lượng trong sản xuất

Tri thức khoa học được vật chất hoá, được kết tinh vào mọi nhân tố của lực lượng sản xuất từ trong đối tượng lao động, công cụ lao động, kỹ thuật và quá trình công nghệ và cả trong những hình thức tổ chức tương ứng của sản xuất Tri thức khoa học bao hàm trực tiếp trong hoạt động của người lao động sản xuất dần dần chiếm địa vị chủ đạo thay cho thói quen và kinh nghiệm thông thường Người lao

8 C Mac

Trang 15

động sản xuất tiến lên vận dụng tri thức khoa học để điều khiển, kiểm tra quá trình sản xuất (tự động hoá), đề xuất sáng kiến, sử dụng hợp lí thiết bị, nguyên liệu, năng lượng và tổ chức hoạt động của mình một cách có hiệu quả nhất Chức năng của con người trong sản xuất và sẽ có những biến đổi to lớn, con người không còn là nhân tố thao tác trực tiếp trong hệ thống kỹ thuật mà chủ yếu là sáng tạo và điều khiển quá trình đó Khoa học không còn đứng ở trên cao và bên ngoài sản xuất mà chuyển thành một mắt khâu bên trong, thống nhất chặt chẽ với những mắt khâu khác của lực lượng sản xuất

Khoa học và công nghệ với tăng năng suất và sức cạnh tranh của doanh nghiệp

Đổi mới công nghệ là điều kiện quan trọng nhất để phát triển nói chung, tăng năng suất và chất lượng sản phẩm nói riêng

Như phân tích ở trên, một công nghệ sản xuất bao gồm có 4 yếu tố là Thiết

bị (T), Lao động (H), Thông tin (I), và Tổ chức (O) Tỷ trọng của từng thành phần quyết định trình độ sản xuất và sản phẩm Ở trình độ công nghệ thấp thì thành phần

T và H chiếm tỷ trọng cao hơn so với 2 yếu tố I và O Khi công nghệ được đổi mới

và phát triển hơn thì tỷ trọng của O và I sẽ tăng lên Nâng cao mức sống và cải thiện chất lượng cuộc sống là mục tiêu cuối cùng mà các quốc gia theo đuổi, để đạt được mục tiêu này phải tăng tổng giá trị sản phẩm trong nước (GDP), tức là phải làm tăng giá trị gia tăng đối với các ngành kinh tế - kỹ thuật hay với các doanh nghiệp Theo cách tiếp cận hiện đại, tăng trưởng GDP phải đi cùng với tăng việc làm và tăng năng suất lao động (Biểu đồ số 1)

Biểu đồ số 1: Quy trình phát triển của một quốc gia

Trang 16

Nguồn: Kinh tế Phát triển (Vũ T.N.Phùng chủ biên)

Tăng năng suất lao động lại phụ thuộc vào tăng cường độ vốn IC (Capital Intencity) và tăng năng suất các yếu tố tổng hợp TFP (Total Factor Productivity) Trong đó, yếu tố TFP là năng suất được tạo nên bởi các yếu tố vô hình, bao gồm yếu tố phần mềm của công nghệ Theo Tổ chức Năng suất châu Á (APO) thì TFP tạo bởi các yếu tố chính: Thúc ép của thị trường (nhu cầu); chất lượng của thiết bị (tính đồng bộ, tính năng gia công - chế biến, tính an toàn…); chất lượng lao động (chủ yếu là kỹ năng, tức là tính thạo việc); vai trò của kỹ thuật tiến bộ (ứng dụng kết quả của R&D mà chủ yếu là các sản phẩm mới, phương pháp mới); hiệu lực của quản lý (khả năng kiểm soát cao của cách quản lý theo quá trình…)

Quá trình đổi mới công nghệ là quá trình chuyển hóa từ vai trò chủ đạo của yếu tố vốn CI dần sang vai trò chủ đạo của các yếu tố tổng hợp TFP Theo Tổ chức APO, tại thời điểm hiện nay, ở các nước đang phát triển (trong đó có Việt Nam) CI còn giữ vai trò chủ đạo, quyết định hiệu quả của sự phát triển; CI chiếm tỷ trọng tới 60-70% trong tổng mức tăng năng suất hay tăng GDP; yếu tố TFP đang tăng dần với tốc độ khá cao nhưng cũng chỉ mới chiếm tỷ trọng 30-40% trong tổng mức

Nâng cao mức sống và cải thiện chất lượng cuộc sống

Tăng trưởng kinh tế (GDP)

Tăng việc làm Tăng năng suất

Trang 17

tăng năng suất hay tăng GDP (đối với Việt Nam, TFP mới đạt 20-22% mức tăng năng suất chung, phần lớn còn phụ thuộc yếu tố CI9)

Rõ ràng, đổi mới công nghệ là điều kiện quan trọng nhất cho đầu tư phát triển nói chung và theo đó là cho tăng năng suất - chất lượng sản phẩm Đối với Việt Nam, do trình độ công nghệ còn thấp (và các nguyên nhân khác), nên năng suất lao động, năng suất vốn…đều thấp so với các nước trong khu vực Chất lượng sản phẩm cũng vậy, phần lớn sản phẩm chưa đạt vững chắc và ổn định theo tiêu chuẩn quốc gia (TCVN) Đó là chưa tính tới tiêu chuẩn quốc tế (ISO, IEC…) mà

về nguyên tắc khi đã hội nhập vào thị trường quốc tế thì sản phẩm phải đạt tiêu chuẩn quốc tế mới tạo được vị thế bình đẳng và đạt được mức giá hợp lý và vượt qua được rào cản về kỹ thuật

Phát triển khoa học và công nghệ thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế:

Thông thường một công nghệ sản xuất mới và hiện đại sẽ tạo ra các sản phẩm mới với giá trị gia tăng lớn hơn góp phần tăng cường tính cạnh tranh, thúc đẩy ngày càng nhanh quá trình công nghiệp hóa và hội nhập kinh tế quốc tế Sự thành công của công nghiệp hóa, hiện đại hóa rút ngắn phụ thuộc vào việc chủ động hội nhập kinh tế quốc tế kết hợp với tăng cường các yếu tố năng lực nội sinh của dân tộc như văn hóa, giáo dục, khoa học Không có đủ tri thức, không có đủ năng lực nội sinh về khoa học và công nghệ thì trong quá trình hội nhập đất nước

sẽ bị thua thiệt, bị bóc lột, chèn ép và sẽ trở thành bãi thải công nghệ của các nước khác

Công nghiệp hóa và hiện đại hóa là sử dụng tri thức khoa học và công nghệ mới nhất để phát triển nền kinh tế, chuyển nền kinh tế từ tình trạng năng suất, chất lượng, hiệu quả thấp sang nền kinh tế năng suất, chất lượng, hiệu quả cao Sản phẩm tạo ra sẽ đạt được các tiêu chuẩn quốc tế như ISO – một trong những nguyên

9 Theo tính toán của Viện Khoa học Thống kê trong giai đoạn 2000-2005

Trang 18

tắc của việc gia nhập thị trường quốc tế - từ đó sẽ thúc đẩy nhanh quá trình hội nhập

Khoa học và công nghệ và công nghiệp tiên tiến

Đặc biệt trong ngành công nghiệp, khoa học và công nghệ đóng vai trò vô cùng quan trọng đưa đến những đổi mới trong công nghiệp sản xuất cơ khí, công nghiệp chế tạo kết cấu, công nghiệp điện tử, công nghiệp đóng tàu, khai thác tài nguyên khoáng sản….Kinh nghiệm phát triển khoa học và công nghệ nhằm thúc đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa của các nước Đông Á là một trong những điển hình thể hiện vai trò to lớn của KH&CN đối với ngành công nghiệp Dựa vào phát triển khoa học và công nghệ mà các nước Đông Á đã nhanh chóng chuyển từ tăng trưởng dựa vào lực lượng lao động giá rẻ hay (phát triển những ngành sản xuất sử dụng nhiều lao động như dệt may, giày da, tóc giả…) sang tăng trưởng dựa trên hàm lượng khoa học và công nghệ rất cao

Tăng trưởng kinh tế của Hàn Quốc và Đài Loan chủ yếu dựa vào việc du nhập kiến thức khoa học và công nghệ nước ngoài và ứng dụng chúng vào sản xuất trong nước Nhật Bản và Mỹ là hai nước chính cung cấp công nghệ nhưng có vai trò khác nhau Mỹ là nhà cung cấp lớn nhất các công nghệ nguyên bản, còn Nhật Bản lại đứng đầu về cung cấp những công nghệ công nghiệp Để thực hiện việc tìm hiểu các công nghệ tiên tiến nước ngoài, NIEs cần có đủ nguồn ngoại tệ cung ứng cho quá trình nhập khẩu công nghệ bao gồm các chi phí sáng chế công nghệ, chi phí sản xuất, chi phí đàm phán và chi phí bán hàng Nguồn ngoại tệ này

đã được cân đối bằng chính sách đẩy mạnh xuất khẩu của cả Hàn Quốc và Đài Loan Trong giai đoạn công nghiệp hóa của mình từ năm 1962 đến 1985, Hàn Quốc đã sử dụng 3.538 giấy phép nhập khẩu công nghệ cho các sản phẩm chế tạo

Trang 19

lớn, còn Đài Loan, từ năm 1953 đến 1984, đã sử dụng 51.521 giấy phép công nghệ10

Đối với Việt Nam, những đổi mới trong công nghiệp, đặc biệt là sản xuất cơ khí, chế tạo kết cấu Việt Nam có khả năng thiết kế và chế tạo nhà máy ximăng công suất trên 1,4 triệu tấn /năm với tỉ lệ nội địa hoá cao trên 70% về khối lượng, chế tạo dây truyền đồng bộ sản xuất ximăng lò quay công suất 2.500 tấn klanhke/ngày với tỉ lệ nội địa hoá toàn bộ dây truyền đạt 70-75% về khối lượng và 45-50% về giá trị11 Nhiều doanh nghiệp cơ khí có năng lực thiết kế chế tạo thiết bị

cơ khí phức tạp mà trước đây phải nhập khẩu hoàn toàn, làm lợi cho đất nước hàng trăm triệu USD Ngoài ra, các lĩnh vực luỵên kim, hoá chất, chế biến thực phẩm, công nghiệp hàng tiêu dùng cũng đã có nhiều đổi mới về công nghệ, nâng cao công suất đáp ứng cơ bản nhu cầu tiêu dùng trong nước…

Khoa học và công nghệ góp phần phát triển ngành nông nghiệp

Trong thời kỳ đổi mới, khoa học và công nghệ đã có những đóng góp vô cùng to lớn trong phát triển nông nghiệp nông thôn Những thành tựu to lớn đó đã góp phần quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa bảo đảm an sinh xã hội và an ninh quốc phòng Đó là những nghiên cứu về giống cây, con nhằm tạo ra sự đột biến về năng suất, chất lượng của cây trồng, vật nuôi Công nghệ thông tin giúp cho nông dân tiếp cận được với khoa học và công nghệ và thị trường để phát triển sản xuất trong nông nghiệp Chính nhờ có sự phát triển khoa học và công nghệ mà ngành nông nghiệp ở hầu hết các nước trên thế giới hiện nay

đã phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, bảo đảm an ninh lương thực quốc gia Kinh tế nông thôn chuyển dịch theo

10 Ngô Tuấn Nghĩa (2008) và Nguyễn Văn Thu (2007)

11 Tạp chí Hoạt động KH&CN 2006

Trang 20

hướng tăng công nghiệp, dịch vụ ngành nghề, đời sống người nông dân ngày càng được cải thiện, cơ sở vật chất vùng nông thôn được nâng cấp và xây dựng mới

Đối với Việt Nam trong lĩnh vực nông nghiệp, từ năm 1995 trở lại đây, năng suất lúa tăng gần 30 tạ/ha lên gần 50 tạ/ha, đưa Việt Nam thành nước có năng suất lúa cao gấp 1,5 lần Thái Lan và đứng đầu Đông Nam Á Trong vòng 10 năm trở lại đây, các nhà khoa học đã chọn tạo và tuyển được gần 170 giống lúa mới, trong đó

có nhiều giống được phát triển trên diện rộng Nhờ đó, tới nay nông dân đã gieo trồng trên 80% diện tích bằng các giống lúa cải tiến Riêng các tiến bộ về giống lúa hàng năm đã làm lợi cho sản xuất hàng ngàn tỉ đồng Có tới trên 90% diện tích trồng ngô bằng giống ngô lai, trong đó ngô lai của Viện Nghiên cứu Ngô chiếm khoảng 40% diện tích cũng như thị phần cung ứng giống Trong thời gian từ năm

2005 đến 2009, ngành nông nghiệp đã tập trung nghiên cứu chọn tạo được 135 giống cây trồng mới, trong đó có 16 giống lúa, 23 giống ngô, bảy giống cây ăn củ, chín giống cây ăn quả, chín giống mía, năm giống rau, bảy giống hoa12

Các dự án khoa học và công nghệ cũng nhằm mục tiêu đào tạo nguồn nhân lực, từng bước nâng cao tri thức và kỹ năng cho người nông dân Do đó đã góp phần nâng cao chất lượng lao động nông nghiệp và tăng cường khả năng ứng dụng

KH & CN vào nông nghiệp, nông thôn

Nhìn chung, sự nghiệp phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn ở nước

ta đã đạt được nhiều thành tựu nổi bật Ngành nông nghiệp bước đầu đã phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, bảo đảm

an ninh lương thực Kinh tế nông thôn chuyển dịch theo hướng tăng công nghiệp, dịch vụ ngành nghề Ðời sống người nông dân ngàỳ càng được cải thiện

Công nghệ có vai trò quan trọng trong đối phó với vấn đề biến đổi khí hậu

Biến đổi khí hậu đã là một chủ để nóng bỏng được cộng đồng thế giới và các quốc gia rất quan tâm và đang có các biện pháp mạnh để đối phó với vấn đề này

12 www.nistpass.gov.vn, 2010

Trang 21

trong thời gian gần dây Trung Quốc là một trong những quốc gia rất coi trọng phát triển khoa học và công nghệ với mục tiêu để đối phó với vấn đề biến đổi khi hậu Quan điểm của Chắnh phủ Trung Quốc là công nghệ có vai trò quyết định trong cuộc chiến chống lại biến đổi khắ hậu tại Trung Quốc Trong năm 2007, Trung Quốc đã đặt ra kế hoạch quốc gia đầu tiên về biến đổi khắ hậu, trong đó cam kết chống lại khắ nhà kắnh nhưng không đánh đổi bằng sự phát triển kinh tế Bên cạnh

đó, sự hợp tác quốc tế trong việc giúp Trung Quốc bảo đảm một nền kinh tế cácbon thấp, bao gồm cả nhu cầu tiếp cận công nghệ liên quan đến biến đổi khắ hậu cũng được quốc gia này rất coi trọng Điều này cũng thể hiện cam kết của Trung Quốc trong việc biến những cố gắng cắt giảm khắ thải cácbon thành động lực phát triển kinh tế, một hướng phát triển tất yếu trong tương lai

Trung Quốc cũng đã tắch cực thăm dò sự cộng tác quốc tế trong việc nghiên cứu và chuyển giao công nghệ liên quan đến biến đổi khắ hậu Một chương trình nghiên cứu kết hợp với Mỹ về công nghệ than sạch, tập trung vào việc thu giữ và chôn lấp cácbon đang được đề xuất Sự hợp tác như vậy - nếu có - sẽ tạo nên một

vắ dụ điển hình về việc các nước đang phát triển và phát triển có thể phối hợp với nhau trong cuộc chiến chống lại biến đổi khắ hậu toàn cầu Điều này cũng sẽ thúc đẩy sự phát triển công nghệ xanh của Trung Quốc

1.1.4 Sự cần thiết phải đầu tư cho phát triển khoa học và công nghệ

Quá trình toàn cầu hoá và hội nhập đang làm nảy sinh những phạm vi mới

về nãng lực cạnh tranh, trong đó tri thức đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra những lợi thế cạnh tranh Thực tế ở các nền kinh tế mới nổi của châu Á và Thái Bình Dương (Hàn Quốc, Singapore, Malaysia, Trung Quốc, Ấn Độ) cho thấy công nghệ và đổi mới là một nhân tố chắnh của sự tăng trưởng và phát triển bền vững

Hội nhập kinh tế quốc tế buộc mỗi quốc gia phải coi đổi mới khoa học và công nghệ là một trong những mục tiêu chiến lược để đạt được những lợi ắch lâu

Trang 22

dài Ngày nay, quyền lực công nghệ quyết định đến vị trí và thứ bậc của các quốc gia trên trường quốc tế thay cho xu hướng trước đây coi một quốc gia giàu có thịnh vường là phải có nhiều đất đai, tài nguyên thiên nhiên Những quốc gia phát triển hàng đầu trên thế giới là những quốc gia có tiềm lực mạnh về khoa học và công nghệ

Lịch sử phát triển thế giới cho thấy, từ thế kỷ VII đến thế kỷ XVII, Trung Hoa thực sự là trung tâm và làm thay đổi thế giới nhờ 4 phát minh công nghệ là thuốc súng, kỹ thuật in, giấy và la bàn nam châm, thì từ thế kỷ XVIII, châu Âu đã vượt qua nước này về công nghệ bằng cuộc cách mạng công nghệ lần thứ nhất với phát minh ra máy hơi nước Nước Anh đã lên ngôi bá chủ thế giới nhờ biết thay thế lao động con người bằng lao động máy móc Sau một thế kỷ, cuộc cách mạng công nghệ lần thứ hai trong các lĩnh vực: điện, hóa chất, dược phẩm, ô tô, hóa dầu… đã khởi phát và tới lượt các nước Đức và Mỹ chiếm ưu thế, còn nước Anh bị bỏ rơi vì không bắt kịp sự phát triển của các ngành công nghiệp mới

Vào thời điểm chuyển giao hai thế kỷ XX và XXI, trong cuộc cách mạng công nghệ lần thứ ba, tri thức và việc ứng dụng tri thức vào việc sản xuất đã đóng vai trò quyết định cho sự giàu có của đất nước Nói cách khác, khoa học – tri thức

và công nghệ ứng dụng tri thức vào sản xuất chính là những yếu tố quyết định sự phồn vinh của một dân tộc, một đất nước Do đó, sự đổi mới khoa học và công nghệ là vô cùng cần thiết trong quá trình phát triển của mỗi quốc gia

Trong bối cảnh Việt Nam đã gia nhập Tổ chức thương mại Thế giới, năng lực cạnh tranh của mỗi doanh nghiệp sẽ lại càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết Phát triển KH&CN trong doanh nghiệp sẽ đặc biệt quan trọng quyết định sự thành công của mỗi doanh nghiệp

Hiện nay, Việt Nam đã trở thành một trong nước đứng đầu về xuất khẩu gạo trên thế giới Tuy nhiên, Việt Nam đang phải đối mặt với thâm hụt thương mại tương đối trầm trọng, đã tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế của Việt Nam

Trang 23

Trong năm 2007, thâm hụt thương mại của Việt Nam là 12,4 tỷ đô la Mỹ, ước vào khoảng 17,3% GDP13 Con số này cho thẩy rằng nó khá cao so với quy mô GDP Thêm vào đó, mặc dù xuất khẩu của Việt Nam cũng tăng lên đang kể nhưng phần lớn là do tăng về số lượng, giá trị gia tăng trong xuất khẩu còn rất khiêm tốn

Nguyên nhân cơ bản là do trình độ khoa học và công nghệ , chất lượng nguồn nhân lực của Việt Nam chỉ ở mức trung bình, nên giá trị gia tăng của hàng hóa và dịch vụ được sản xuất ra thường không cao So với các quốc gia có trình độ phát triển khoa học và công nghệ tương đối mạnh cho thấy, xuất khẩu sản phẩm công nghệ cao của những quốc gia này thường chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng giá trị hàng hóa chế tạo xuất khẩu, điển hình như Singapore, tỷ lệ này chiếm tới 59%, Hàn Quốc là 32%, Thái Lan là 30%, Trung Quốc là 27%, trong khi Việt Nam mới chỉ đạt 2%14 Như vậy, để cải thiện cán cân thương mại một trong những yếu

tố Việt Nam cần phải xem xét đó là phải thúc đẩy phát triển hoạt động nghiên cứu khoa học và công nghệ

1.2 TỔNG QUAN VỀ NGUỒN TÀI CHÍNH VÀ HUY ĐỘNG, SỬ DỤNG NGUỒN HÌNH THÀNH QUỸ PHÁT TRIỂN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CỦA DOANH NGHIỆP

1.2.1 Khái niệm chung về nguồn tài chính

Nguồn tài chính là khối lượng giá trị dưới hình thái tiền tệ trong quá trình tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ, phản ánh các mối quan hệ kinh tế xã hội trong phân phối nhằm đáp ứng nhu cầu tích lũy hay tiêu dùng của các chủ thể trong xã hội

Như vậy, bản chất của tài chính là phạm trù phân phối Đó là sự phân phối bằng giá trị chứ không phải bằng hiện vật và thông qua hiện vật

13 Tổng cục Thống kê (2007)

14 Chỉ số phát triển thế giới, Ngân hàng Thế giới, 2005

Trang 24

Nguồn tài chính được biểu hiện rất khác nhau, tùy theo nguồn gốc hình thành mà chủ thể có thể thực hiện để có được các quỹ tiền tệ tập trung Thông qua các nguồn tài chính mà những chủ thể trong xã hội có được hệ thống các quỹ tiền

tệ tập trung vận động độc lập với các chức năng cất trữ hay phương tiện thanh toán Nguồn tài chính là sự vận động của tiền tệ

Đối với doanh nghiệp, nguồn tài chính thực chất là luồng tiền vận động mà doanh nghiệp có thể sử dụng để phục vụ cho mục tiêu sản xuất kinh doanh của mình

Do đặc trưng sản xuất kinh doanh khác nhau, nguồn tài chính mà các doanh nghiệp có thể vận dụng không giống nhau Sự đa dạng của nguồn tài chính hay luồng tiền phản ánh sự đa dạng trong sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Trong bản thân mỗi doanh nghiệp thì tuỳ theo đặc điểm hoạt động kinh doanh luồng tiền vận động tạo lập các nguồn tài chính cũng có thể khác nhau trong những thời điểm khác nhau

Ứng với mỗi một nguồn tài chính khác nhau trong doanh nghiệp, là những mục đích sử dụng khác nhau Mặc dù trên thực tế, có khi việc phân biệt các nguồn tài chính hay luồng tiền không đặt thành vấn đề đối với mỗi doanh nghiệp, nhưng trên phân bố nguồn và cấu trúc nguồn tài chính luôn luôn thể hiện rõ hình thái từng loại nguồn tài chính mà doanh nghiệp có được

Về mặt lý thuyết, khái niệm nguồn tài chính có nội hàm phân biệt với khái niệm luồng tiền

Luồng tiền của doanh nghiệp bao gồm hai dòng vận động chủ yếu của tiền

tệ trong doanh nghiệp đó là luồng tiền vào và luồng tiền ra Trong khi đó, nguồn tài chính chủ yếu đề cập tới sự vận động của những lượng giá trị để hình thành những quỹ tiền tệ tập trung trong doanh nghiệp Nguồn tài chính gắn với hoạt động đầu tư sản xuất kinh doanh Luồng tiền phản ánh hoạt động sản xuất kinh doanh trong từng thời điểm cụ thể

Trang 25

1.2.2 Huy động và sử dụng nguồn tài chính cho nghiên cứu khoa học và công nghệ trong doanh nghiệp

1.2.2.1 Tổng quan về huy động nguồn tài chính

Huy động nguồn tài chính cho nghiên cứu khoa học và công nghệ của doanh nghiệp là quá trình tập trung các khối lượng tiền tệ nhằm mục đích phục vụ hoạt động nghiên cứu khoa học và công nghệ đáp ứng yêu cầu sản xuất kinh doanh và phát triển của doanh nghiệp Đối với doanh nghiệp, về lý thuyết có thể huy động được nguồn tài chính cho nghiên cứu khoa học và công nghệ từ những nguồn sau đây:

* Nguồn vốn khi hình thành doanh nghiệp

Khi hình thành doanh nghiệp đòi hỏi phải có một lượng vốn cần thiết tối thiểu cho hoạt động kinh doanh Thông thường nguồn vốn ban đầu này được hình thành từ các nguồn sau:

Nếu là doanh nghiệp nhà nước thì do Nhà nước cấp vốn đầu tư sản xuất ban đầu khi thành Nếu do sáp nhập các công ty lại là từ các nguồn của các công ty Nếu là công ty cổ phần hoặc liên doanh thì nguồn ban đầu do các cổ đông hoặc các bên tham gia liên doanh đóng góp

Vay ngân hàng: Thông thường các ngân hàng rất dè dặt cho các doanh nghiệp mới ra đời vay và thường đưa ra nhiều điều kiện ràng buộc chặt chẽ khi phải cho vay như yêu cầu bảo lãnh, ký quỹ, thế chấp tài sản…

Trong quá trình hoạt động kinh doanh, các doanh nghiệp luôn luôn phải tìm cách bổ sung vốn để tăng tài sản, mở rộng quy mô và phạm vi hoạt động, đổi mới công nghệ nhằm đầu tư phát triển doanh nghiệp theo một chiến lược phát triển dài hạn đã được xây dựng

Trang 26

Việc bổ sung vốn đầu tư phát triển thường xuất phát từ hai nguồn: Nguồn từ bên trong và nguồn từ bên ngoài doanh nghiệp

+ Nguồn vốn đầu tư từ bên trong doanh nghiệp (nguồn vốn tự bổ xung) Bao gồm: Lợi nhuận hàng năm để lại tăng vốn đầu tư phát triển Hàng năm, một phần lợi nhuận sau khi hoàn thành các nghĩa vụ đối với Nhà nước được để lại bổ sung vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp Khấu hao tài sản cố định cũng được coi là nguồn vốn tăng thêm trong điều kiện chưa sử dụng để tái sản xuất lại tài sản cố định đó

+ Nguồn tài chính từ bên ngoài doanh nghiệp

Sau khi đã huy động các nguồn vốn bên trong mà vẫn chưa đủ để đáp ứng nhu cầu thì doanh nghiệp phải tìm kiếm các nguồn vốn từ bên ngoài Trong nền kinh tế thị trường, phạm vi và quy mô hoạt động của các doanh nghiệp ngày càng

mở rộng Thị trường tài chính tiền tệ phát triển đã tạo ra cho các doanh nghiệp có nhiều hình thức tạo vốn từ bên ngoài như: vay ngân hàng và các tổ chức tín dụng trung gian, phát hành trái phiếu và cổ phiếu doanh nghiệp, góp vốn liên doanh và kêu gọi đầu tư

1.2.2.2 Các hình thức huy động nguồn tài chính cho nghiên cứu khoa học và công nghệ của doanh nghiệp

doanh nghiệp từ chính sách ưu đãi của Nhà nước đối với doanh nghiệp

+ Nguồn hỗ trợ trực tiếp từ ngân sách nhà nước

Đối với các công ty, tập đoàn kinh tế nhà nước, khi có những dự án nghiên cứu khoa học và công nghệ , nếu thuộc diện Nhà nước cấp đầu tư, thì có thể nhà nước cấp nguồn tài chính để nghiên cứu khoa học và công nghệ phục vụ mục tiêu sản xuất kinh doanh và phát triển doanh nghiệp Hình thức này chủ yếu được áp dụng với những doanh nghiệp có cổ phần Nhà nước chi phối

Trang 27

Thông qua kênh cấp phát vốn của ngân sách, Nhà nước cung cấp toàn bộ hoặc một phần vốn cho hoạt động nghiên cứu khoa học và công nghệ cho các doanh nghiệp Nhà nước Việc cấp vốn này có ý nghĩa quyết định đối với sự hình thành và khả năng tài chính của doanh nghiệp đó Lượng vốn mà ngân sách nhà nước cấp công ty, tổng công ty nói chung, phụ thuộc vào các nhân tố sau đây:

- Tầm quan trọng, mức độ ưu tiên của tổng công ty, tập đoàn kinh tế

- Quy mô do đặc điểm ngành kinh tế kỹ thuật đòi hỏi (do yêu cầu khách quan của ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh và do quy định của luật pháp về vốn pháp định)

- Nhiệm vụ được giao và phạm vi hoạt động (địa phương, vùng, toàn quốc hoặc quốc tế)

- Tình hình và khả năng của ngân sách nhà nước trong thời kỳ đó

+ Hỗ trợ gián tiếp qua thuế và các cơ chế, chính sách tài chính khác

- Nguồn tài chính mang tính chất khuyến khích thông qua công cụ thuế của Nhà nước

Hàng năm Nhà nước căn cứ vào kết quả hoạt động đầu tư cho hoạt động nghiên cứu triển khai của doanh nghiệp, tiến hành thực hiện chính sách miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp phần lợi nhuận do hoạt động nghiên cứu triển khai của doanh nghiệp mang lại Thực chất, đây cũng là hình thức huy động vốn từ NSNN mang tính chất tài trợ Song sự tài trợ này mang tính chất khuyến khích gắn với lợi nhuận tạo ra do kết quả hoạt động nghiên cứu triển khai của doanh nghiệp mang lại Chính vì vậy, mà có thể coi nguồn tài chính huy động vào quỹ nghiên cứu triển khai của doanh nghiệp do việc thực hiện chính sách miễm giảm thuế thu nhập doanh nghiệp là nguồn tài chính khuyến khích của nhà nước đối với doanh nghiệp Mức độ miển giảm thuế thu nhập doanh nghiệp phần lơi nhuận do hoạt động đầu

tư lớn hay nhỏ tùy thuộc vào nhiều yếu tố như : Quy mô lợi nhuận do hoạt động nghiên cứu triển khai trong doanh nghiệp mang lại; Chi phí đầu tư cho hoạt động

Trang 28

nghiên cứu triển khai ở từng doanh nghiệp và vị trí, vai trò, tầm quan trọng của doanh nghiệp đối với quá trình phát triển kinh kế, xã hội của đất nước; ngành nghề của doanh nghiệp…

Vì vậy, tỷ lệ miễn, giảm thuế thu nhập phần lợi nhuận do hoạt động nghiên cứu mang lại ở đây hoàn toàn không mang tính chất cào bằng, mà có sự phân biệt nhất định Đương nhiên, sự phân biệt ở đây không hàm chứa sự phân biệt tính chất

sở hữu,doanh nghiệp đó thuộc sở hữu nhà nước hay thuộc sở hữu phi nhà nước, mà

là sự phân biệt từ kết quả hoạt động nghiên cứu, triển khai mang lại, là sự phân biệt

vị trí tầm quan trọng của doanh nghiệp đối với quá trình phát triển kinh tế, xã hội của đất nước

Ngoài việc đầu tư vốn trực tiếp vào các tổng công ty, tập đoàn kinh tế cho các hoạt động nghiên cứu khoa học và công nghệ Nhà nước còn hỗ trợ cho các doanh nghiệp theo các hình thức sau:

- Nhà nước hỗ trợ nguồn tài chính đầu tư đối với các tổng công ty, tập đoàn kinh tế, nhằm nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh, Nhà nước áp dụng cơ chế hỗ trợ đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước cho tổng công ty, tập đoàn kinh tế

để mở rộng quy mô hoạt động hoặc đầu tư chiều sâu trong các trường hợp cần thiết Đặc biệt là những trường hợp cần nâng cao trình độ công nghệ

- Nhà nước hỗ trợ lãi suất tiền vay đối với các tổng công ty nhà nước Đây là một hình thức hỗ trợ tài chính của Nhà nước để giúp các tổng công ty trang trải một phần hoặc toàn bộ lãi vay đầu tư các dự án nghiên cứu khoa học và công nghệ quan trọng, có ảnh hưởng lớn đến hoạt động kinh tế-xã hội

- Hỗ trợ nguồn tài chính trả nợ vay vì mục đích nghiên cứu khoa học và công nghệ cho tập doanh nghiệp: Đây là hình thức hỗ trợ tài chính của ngân sách nhà nước để giúp doanh nghiệp trả các khoản nợ đến hạn khi doanh nghiệp vay vốn đầu

tư cho nghiên cứu khoa học phục vụ kinh doanh có hiệu quả nhưng tạm thời gặp khó khăn về tài chính

Trang 29

- Hỗ trợ từ tiền thu sử dụng vốn ngân sách đối với tổng công ty nhà nước, xét

về bản chất kinh tế, tiền thu sử dụng vốn là một hình thức thu về lợi tức trên vốn đối với người sử dụng vốn, nhằm hoàn trả một phần cho chủ sở hữu vốn; đối với doanh nghiệp sử dụng vốn thì số phải nộp đó cũng tương tự như lợi tức mà công ty

cổ phần phải trả cho cổ đông Điểm đặc biệt ở đây là người chủ sở hữu vốn là Nhà nước, người được sử dụng vốn là doanh nghiệp nhà nước Chủ sở hữu phải bỏ vốn đầu tư vào doanh nghiệp như vai trò của các cổ đông và họ nhận được cổ tức

(ii) Huy động các nguồn tài chính thuộc nội lực của doanh nghiệp

Từ tài trợ nghiên cứu khoa học và công nghệ bằng nguồn tài chính nội bộ là một phương thức tạo nguồn tài chính được áp dụng khá phổ biến, nhờ đó các doanh nghiệp phát huy được nguồn lực của chính mình, giảm bớt sự phụ thuộc vào bên ngoài nhất là khi có các biến động trên thị trường tài chính

Trên thế giới, nhiều công ty coi trọng biện pháp đầu tư cho nghiên cứu khoa học và công nghệ từ kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh; trong kế hoạch hàng năm họ đặt ra mục tiêu tỷ lệ phần trăm (%) nguồn tài chính để tái đầu tư cần đạt được nhằm tự đáp ứng nhu cầu vốn ngày càng tăng cho hoạt động nghiên cứu khoa học và công nghệ

Huy động và khai thác các nguồn tài chính nội bộ cho hoạt động nghiên cứu khoa học và công nghệ còn bao hàm việc điều chuyển vốn giữa các đơn vị thành viên của các tập đoàn, giữa công ty mẹ với các công ty thành viên dưới các hình thức khác nhau như: tín dụng nội bộ, trao đổi điều chuyển các tài sản, đầu tư nội bộ điều hoà vốn để đầu tư nghiên cứu khoa học và công nghệ mới, sản phẩm mới.v.v…Sự điều chuyển nguồn tài chính nội bộ tạo ra khả năng điều hoà và sử dụng tối ưu các nguồn lực tài chính của tập đoàn cho hoạt động nghiên cứu khoa học và công nghệ Đây là một trong những đặc trưng về tài chính chỉ có ở tập đoàn kinh tế mà các doanh nghiệp độc lập, quy mô nhỏ không có được

Trang 30

Về nguyên tắc nguồn tài chính nội bộ cho hoạt động nghiên cứu khoa học và công nghệ nhằm tạo sản phẩm mới là nguồn tài chính hết sức quan trọng mang tính quyết định đến sự phát triển nhanh, mạnh ổn định và lâu dài của doanh nghiệp

Tuy nhiên, để huy động tốt nguồn tài chính nội bộ cho nghiên cứu khoa học công nghệ đòi hỏi phải khai thác triệt để và sử dụng tiết kiệm, hiệu quả các nguồn vốn nội bộ doanh nghiệp Tổ chức tốt hoạt động sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả sản xuất kinh doanh cao, đạt tỷ lệ tăng trưởng cao, tăng tích luỹ trong nội bộ doanh nghiệp

(iii) Huy động nguồn nguồn tài chính cho nghiên nghiên cứu khoa học và công nghệ từ bên ngoài doanh nghiệp

Huy động nguồn tài chính từ bên ngoài doanh nghiệp cho nghiên cứu khoa học và công nghệ là một trong những nhiệm vụ của các doanh nghiệp Bởi lẽ để có vốn cho đầu tư phát triển theo chiến lược phát triển của doanh nghiệp thì riêng vốn chủ sở hữu không thể đảm đương nổi mà tất yếu phải có cả vốn đi vay Tuy nhiên, vay bao nhiêu, vay như thế nào, để đòn bẩy tài chính có tác dụng hiệu ứng tích cực nhất đến tỷ suất lợi nhuận của vốn chủ sở hữu đó là điều cần được cân nhắc trong quá trình điều hành của doanh nghiệp Khi huy động vốn cho nghiên cứu khoa học

và công nghệ của doanh nghiệp thường phải xem xét các vấn đề sau:

- Tỷ lệ thích hợp giữa vốn chủ sở hữu với vốn đi vay (nợ)

- Lựa chọn các kênh huy động vốn thích hợp và hiệu quả

- Mối quan hệ giữa tỷ suất lợi nhuận trên vốn kinh doanh với chi phí sử dụng vốn

(iv) Huy động nguồn tài chính cho nghiên cứu khoa học và công nghệ thông qua các ngân hàng thương mại

Nguồn vốn của các ngân hàng thương mại có vai trò hết sức quan trọng nhằm thoả măn nhu cầu bổ sung vốn đầu tư của các doanh nghiệp trong phạm vi toàn bộ nền kinh tế Các ngân hàng thương mại với chức năng trung gian huy động

Trang 31

vốn để đáp ứng cho nhu cầu đầu tư, giải quyết mối quan hệ cung, cầu về vốn trong phạm vi toàn xã hội và là trung gian thanh toán không những trong phạm vi nền kinh tế mà còn trên phạm vi quốc tế, là cầu dẫn các nguồn tín dụng và các nguồn tài chính đáp ứng cho nhu cầu đầu tư của nền kinh tế Đặc biệt là các nguồn vốn n-ước ngoài, điều đó sẽ góp phần đẩy nhanh quá trình tích tụ và tập trung vốn cho sự nghiệp ổn định và phát triển kinh tế

Tuy nhiên, trong điều kiện khả năng tài chính cũng như vốn điều lệ của các ngân hàng thương mại trong nước còn rất hạn chế, việc huy động vốn nhàn rỗi trong dân cư và trong nền kinh tế còn khó khăn và chủ yếu bằng nội tệ, thì việc vay các khoản vốn lớn, dài hạn để đầu tư cho những dự án nghiên cứu và phát triển sẽ

có thể được thực hiện thông qua các ngân hàng nước ngoài Vì vậy, sẽ phát sinh các vấn đề mâu thuẫn cần được giải quyết như sau:

Nguồn vay các ngân hàng trong nước thường đơn giản về thủ tục, kể cả vấn

đề bảo lãnh, chi phí thấp, việc quản lý, giải ngân, sử dụng thuận tiện, linh hoạt Tuy nhiên, nguồn cho vay có hạn, chủ yếu bằng nội tệ, khó đáp ứng nhu cầu vốn lớn bằng ngoại tệ trong cùng một thời gian cho nhiều dự án nghiên cứu khoa học

và công nghệ , nhiều ngành, cũng như cả nền kinh tế

Nguồn vay nước ngoài có nguồn vốn chắc chắn hơn, hạn mức cho vay lớn hơn, chủ yếu bằng ngoại tệ, nhưng sẽ phải tuân thủ các quy trình và thủ tục phức tạp, thời gian giải ngân rút vốn và trả nợ chặt chẽ, chi phí thường cao hơn vay trong nước với yêu cầu phải có bảo lãnh của Chính phủ, điều này liên quan đến hạn mức bảo lãnh của Chính phủ do Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) quy định và khống chế

Về cơ bản, việc vay để đầu tư cho nghiên cứu khoa học và công nghệ thường là những khoản vay mang tính rủi ro cao nên các ngân hàng thường quản lý rất chặt chẽ việc sử dụng những khoản vay này

(v) Huy động nguồn tài chính cho nghiên cứu khoa học và công nghệ của doanh nghiệp thông qua các định chế tài chính phi ngân hàng

Trang 32

Trong nền kinh tế thị trường, các định chế tài chính là các tổ chức tài chính phi ngân hàng đóng một vai trò quan trọng trong việc khơi các nguồn vốn từ những người cho vay, tới những người vay Hơn thế, quá trình đổi mới nền kinh tế đã làm tăng thêm tính quan trọng của các tổ chức tài chính phi ngân hàng Qua đổi mới, các tổ chức tài chính phi ngân hàng sẽ tăng cường tính cạnh tranh trực tiếp hơn với các ngân hàng trên thị trường tài chính, tiền tệ qua các dịch vụ tương tự như hoạt động ngân hàng Các tổ chức tài chính phi ngân hàng thường ra đời và hoạt động trên thị trường như: Các công ty bảo hiểm, công ty tài chính, các quỹ hỗ trợ của Chính phủ, các quỹ đầu tư mạo hiểm Thông qua các tổ chức tài chính này, các doanh nghiệp cũng có thể huy động được nguồn tài chính để đầu tư cho hoạt động nghiên cứu khoa học công nghệ phục vụ phát triển bền vững của doanh nghiệp

(vi) Trái phiếu – kênh huy động nguồn tài chính cho nghiên cứu khoa học

và công nghệ của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường

Việc huy động nguồn tài chính thông qua phát hành trái phiếu để tạo lập kinh phí cho các dự án nghiên cứu khoa học và công nghệ , tạo sản phẩm mới thường được ứng dụng đối với các tập đoàn lớn, có thương hiệu mạnh trên thế giới Đối với các nước đang phát triển, quy mô doanh nghiệp thuộc loại vừa và nhỏ thì việc ứng dụng hình thức huy động nguồn tài chính cho nghiên cứu khoa học và công nghệ là có khó khăn

Trái phiếu là một hình thức vay nợ, trong đó người vay (borrower) phát hành một chứng chỉ thường là với một lãi suất xác định, đảm bảo thanh toán vào một thời điểm xác định trong tương lai Trái phiếu được phát hành ở các thị trường vốn khác nhau bởi các tổ chức công cộng như: Các tổ chức đa quốc gia, các chính phủ của một nước hay chính quyền địa phương và các công ty Trái phiếu, về thực chất

là một tờ phiếu mà công ty phát hành để vay vốn và là vay dài hạn, hay còn gọi là văn tự nợ giữa con nợ là công ty và chủ nợ là những người cho vay vốn Người mua trái phiếu công ty gọi là trái chủ ở các nước phát triển, trái chủ thường là các

Trang 33

ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính trung gian như: Các công ty tài chính, công ty bảo hiểm…

Trái phiếu doanh nghiệp (công ty) là một trong những hình thức huy động vốn quan trọng và hiệu quả, thông qua việc phát hành trái phiếu các doanh nghiệp có điều kiện tham gia vào thị trường vốn trong nước và quốc tế cũng như khai thác và

sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế một cách chủ động

và ổn định

Trái phiếu công ty nếu phân theo thị trường phát hành có thể chia ra hai loại: Trái phiếu trong nước và trái phiếu quốc tế Mỗi loại trái phiếu có ưu và nhược điểm riêng.15

1.2.3 Những nhân tố ảnh hưởng tới đầu tư nguồn lực tài chính, quản lý và sử dụng nguồn hình thành quỹ phát triển khoa học và công nghệ trong khu vực doanh nghiệp

Đầu tư cho phát triển KH & CN của doanh nghiệp nói chung và hình thành quỹ phát triển KH & CN nói riêng Để có cơ sở lý luận cho việc phân tích thực trạng tạo lập, quản lý và sử dụng nguồn hình thành quỹ PTKH&CN, cũng như đề xuất các giải pháp về vấn đề này, cần nghiên cứu một số nhân tố chủ yếu sau:

1.2.3.1 Cạnh tranh trên thị trường (cả thị trường trong và ngoài nước)

Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của WTO, tác động của hội nhập kinh tế quốc tế (KTQT) đến nền kinh tế nói chung và thị trường KH&CN trong nông nghiệp nói riêng ngày càng sâu rộng Quá trình hội nhập KTQT là quá trình

mở rộng thị trường (cả trong nước và thế giới) và yêu cầu của thị trường về chất lượng, giá cả sản phẩm, dịch vụ ngày càng khắt khe và các sản phẩm, dịch vụ sản xuất ở Việt Nam phải đối mặt với cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt Đó là thách thức lớn đối với các doanh nghiệp và buộc họ muốn tồn tại và phát triển phải quan tâm đầu tư ứng dụng KH&CN

15 Xem thêm tài liệu Hoàng Trần Hậu et al (2010) Đầu tư tài chính – NXB Tài chính

Trang 34

Nhu cầu ứng dụng KH&CN ngày càng cao tác động đến các cơ sở nghiên cứu và sản xuất ra các sản phẩm KH&CN cũng như việc nhập khẩu CN từ nước ngoài (có cầu sẽ có cung) Như vậy, cạnh tranh trong tiêu thụ sản phẩm sẽ buộc các doanh nghiệp phải đầu tư cho cải tiến công nghệ sản xuất nhằm nâng cao chất lượng và hạ giá thành sản phẩm Tuy nhiên nhu cầu đầu tư nguồn tài chính cho hoạt động KH & CN còn phụ thuộc vào quy mô của thị trường, giá cả sản phẩm và dịch vụ mà thị trường có thể chấp nhận

Xu thế toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng gia tăng Đây vừa

là quá trình hợp tác để phát triển vừa là quá trình đấu tranh giữa các nước để bảo

vệ lợi ích quốc gia

Để tồn tại và phát triển trong môi trường cạnh tranh ngày càng quyết liệt, những yêu cầu về tăng năng suất lao động, thường xuyên đổi mới và nâng cao chất lượng sản phẩm, đổi mới công nghệ, đổi mới phương thức tổ chức quản lý, đang đặt ra ngày càng gay gắt hơn Đặc biệt, trong bối cảnh toàn cầu hoá kinh tế, các thành tựu to lớn của công nghệ thông tin - truyền thông, xu hướng phổ cập Internet, phát triển thương mại điện tử, kinh doanh điện tử, ngân hàng điện tử, Chính phủ điện tử, v.v đang tạo ra các lợi thế cạnh tranh mới của các quốc gia và từng doanh nghiệp

1.2.3.2 Những nhân tố thuộc bản thân doanh nghiệp

Bao gồm các nhân tố sau:

- Tính chất sản phẩm dịch vụ và nhu cầu nghiên cứu khoa học và công nghệ của doanh nghiệp

Tính chất này quyết định đến lựa chọn các kênh huy động nguồn tài chính của doanh nghiệp Chẳng hạn:

Nếu hàng hoá, dịch vụ cần sản suất và cung cấp theo yêu cầu công nghệ cao

và công nghệ đòi hỏi phải thường xuyên thích ứng với nhu cầu thị trường, bí quyết sản xuất cao, thì có thể lựa chọn các kênh huy động nguồn tài chính cho nghiên cứu

Trang 35

khoa học và công nghệ qua liên doanh liên kết với các doanh nghiệp có tiềm năng mạnh để cùng phát triển

Nếu sản phẩm hàng hoá sản xuất phục vụ nhu cầu xuất khẩu, có thể huy động nguồn tài chính thông qua vốn góp của các yếu tố nước ngoài nhằm tranh thủ công nghệ hiện đại để tăng giá trị sản phẩm

Nếu sản phẩm dịch vụ thông dụng đang sản xuất và tiêu dùng thì có thể lựa chọn kênh huy động nguồn tài chính ngay từ nội bộ doanh nghiệp hoặc từ các nhà đầu tư khác trong nước hoặc vay ngân hàng

- Mức độ rủi ro của từng dự án nghiên cứu khoa học và công nghệ phục

vụ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Đối với các dự án nghiên cứu khoa học và công nghệ có triển vọng cao, rủi

ro thấp thì việc huy động nguồn tài chính trong trường hợp này chủ yếu huy động thông qua các nhà đầu tư có kỳ vọng và “đặt cược” vào khả năng sinh lời của dự

án Trong trường hợp này các nhà đầu tư sẵn sàng chấp nhận các rủi ro có thể nảy sinh trong quá trình đầu tư và họ kỳ vọng vào khả năng thu lợi cao của các dự án khoa học và công nghệ cần đầu tư và tiến hành triển khai nghiên cứu

- Chính sách khoa học và công nghệ trong quá trình sản xuất kinh doanh

và chính sách quản lý tài chính cho nghiên cứu KH&CN của doanh nghiệp

Chính sách quản khoa học và công nghệ của doanh nghiệp phản ánh ý chí của bộ máy điều hành doanh nghiệp về hoạt động nghiên cứu khoa học và công nghệ phục vụ nhu cầu phát triển bền vững của doanh nghiệp Chính sách quản lý tài chính đối với hoạt động nghiên cứu khoa học và công nghệ là hệ quả trực tiếp của chính sách khoa học và công nghệ của doanh nghiệp bao gồm ba nội dung cơ bản: Phương thức huy động nguồn tài chính cho nghiên cứu khoa học và công nghệ , xác định cơ cấu nguồn tài chính tối ưu và duy trì cơ cấu huy động nguồn tài chính tối ưu, xác định quy mô nguồn tài chính tối ưu cho nghiên cứu khoa học và công nghệ của doanh nghiệp Tuỳ thuộc vào chính sách quản lý tài chính cho nghiên

Trang 36

cứu khoa học và công nghệ của doanh nghiệp để có thể tiếp cận với nguồn tài chính nào thì chi phí cho từng nguồn tài chính sẽ thay đổi, dẫn đến chi phí trung bình cho nghiên cứu khoa học và công nghệ thay đổi, do đó, cơ nguồn tài chính huy động sẽ thay đổi

- Năng lực quản lý hoạt động huy động nghiên cứu khoa học và công nghệ

của doanh nghiệp

Năng lực quản lý của các bộ phận quản lý của doanh nghhiệp có tác động lớn đến lựa chọn các giải pháp để huy động nguồn tài chính cho nghiên cứu khoa học và công nghệ của doanh nghiệp Lựa chọn kênh huy động như thế nào, đòi hỏi các nhà quản trị tài chính của các doanh nghiệp phải am hiểu sâu sắc về các nhân tố tác động đến chi phí biến đổi và nhiều rủi ro của các hoạt động nghiên cứu khoa học và công nghệ của chính bản thân doanh nghiệp: Lãi suất thị trường, chi phí phát hành, mức độ rủi ro của ngành, sự thay đổi các chính sách kinh tế Đồng thời, các nhà quản trị tài chính phải có khả năng dự báo được sự thay đổi của các yếu tố này để lường trước được sự tác động đến chi phí đầu tư và chi phí vốn của các các

dự án chương trình nghiên cứu triển khai trong doanh nghiệp, từ đó tác động đến việc lựa chọn các giải pháp và các kênh huy động tài chính cho nghiên cứu khoa học và công nghệ của doanh nghiệp

Khả năng đầu tư cho nghiên cứu KH & CN và hình thành quỹ phát triển KH

& CN phụ thuộc rất lớn vào quy mô sản xuất và trình độ phát triển của doanh nghiệp như : trình độ lao động, trình độ ứng dụng KH&CN, năng lực quản trị của doanh nghiệp, quy mô về vốn

Rõ ràng nếu ở các doanh nghiệp có quy mô lớn về vốn, doanh thu cao và người lao động có trình độ ứng dụng KH &CN, khả năng quản trị tốt thì nhu cầu các sản phẩm KH&CN sẽ cao Ngược lại, với các doanh nghiệp quy mô sản xuất nhỏ, phân tán, năng lực kinh doanh kém, thiếu vốn sẽ hạn chế đáng kể đến khả năng tạo lập và sử dụng nguồn hình thành quỹ phát triển KH&CN

Trang 37

Trong thực tế phát triển các doanh nghiệp ở nước ta những năm qua cho thấy hầu hết các hoạt động về KH & CN thuộc về các doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp có quy mô lớn, nhu cầu đầu tư cho nghiên cứu các sản phẩm KH&CN mới ở DNVVN là thấp, thậm chí không có nhu cầu

Nhân tố này muốn khẳng định một vấn đề là để khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư nguồn lực cho hoạt động KH & CN thì các chính sách và giải pháp của Nhà nước phải có sự mềm dẻo và linh động tùy i theo quy mô doanh nghiệp như doanh nghiệp lớn, DNVVN, doanh nghiệp có vốn FDI

1.2.3.3 Trình độ phát triển của nền KH&CN

Đây là nhân tố có ý nghĩa rất quyết định đến cung sản phẩm KH&CN cho doanh nghiệp, cung cấp các dịch vụ về nghiên cứu, triển khai công nghệ vào các doanh nghiệp, từ đó tác động đến quyết định cho việc huy động nguồn lực đầu tư cho KH & CN

Trình độ phát triển của KH&CN thể hiện ở trình độ đội ngũ cán bộ và nhân viên khoa học, ở hệ thống kết cấu hạ tầng cho phát triển KH&CN như hệ thống các phòng thí nghiệm, các cơ sở thực nghiệm, hệ thống máy móc, thiết bị trang bị cho các phòng thí nghiệm, các cơ sở thực nghiệm Trình độ phát triển về KH & CN của quốc gia còn thể hiện ở trình độ về cơ sở hạ tầng chung như: năng lượng, giao thông, công nghệ thông tin và viễn thông…

Trình độ phát triển của KH&CN còn thể hiện ở năng lực đầu tư, hệ thống tổ chức và cơ chế hoạt động của các tổ chức KH&CN, thể hiện ở sức mạnh (năng lực cạnh tranh) của các sản phẩm KH&CN trong nước so với nước ngoài và khả năng gắn kết các cơ sở nghiên cứu KH&CN với cầu sản phẩm KH&CN trên thị trường Trình độ phát triển KH&CN được đánh giá ở khả năng thẩm định, đánh giá chất lượng và giá cả các sản phẩm KH&CN trong quá trình chuyển giao các sản phẩm

đó vào sản xuất, nhất là các sản phẩm KH&CN nhập khẩu từ các nước

Trang 38

Điều đó lý giải vì sao ở những nước đang phát triển có thu nhập thấp thị trường KH&CN, nhất là thị trường KH&CN trong nông nghiệp còn kém phát triển, nguồn cung sản phẩm KH&CN phụ thuộc vào các nước phát triển Ngay cả việc nhập khẩu công nghệ từ các nước thì khả năng đánh giá, thẩm định CN còn hạn chế nên nhiều khi phải nhập cả những CN lạc hậu hoặc không phù hợp với điều kiện sản xuất trong nước

Trình độ KH&CN phát triển mới có khả năng chủ động nghiên cứu, sản xuất

ra những sản phẩm KH&CN đáp ứng yêu cầu sản xuất trong nước, mới có điều kiện gắn kết giữa nghiên cứu và ứng dụng, từ đó sản phẩm KH&CN mới trở thành hàng hoá Sự phát triển của thị trường KH&CN không chỉ thể hiện ở năng lực cạnh tranh của sản phẩm KH&CN mà còn phụ thuộc vào cơ chế hoạt động của các tổ chức KH&CN Nếu cơ chế hoạt động của các tổ chức KH&CN theo kiểu bao cấp (Nhà nước đầu tư nghiên cứu, trả lương cho cán bộ khoa học, tiền lương không tương xứng với cống hiến của họ…) thì thị trường KH&CN khó có thể có sản phẩm có chất lượng tốt

Trình độ phát triển của KH & CN còn thể hiện ở trình độ của thị trường về

KH & CN như các thông tin về KH & CN, nguồn lao động sẵn có cho việc thực hiện các nghiên cứu KH & CN, thị trường các sản phẩm KH & CN

1.2.3.4 Vai trò của Nhà nước

Vai trò của Nhà nước đối với đầu tư cho KH & CN tại doanh nghiệp là rất lớn Vai trò Nhà nước gồm:

+ Đầu tư trực tiếp của ngân sách nhà nước cho phát triển KH & CN của các đơn vị nghiên cứu và cả doanh nghiệp thông qua các khoản chi cho nghiên cứu và phát triển, chi hình thành các quỹ Nghiên cứu KH & CN ở quốc gia hay địa phương

+ Vai trò gián tiếp nhằm khuyến khích quá trình tạo lập, quản lý và sử dụng các nguồn tài chính cho KH & CN như thông qua cơ chế, chính sách và luật pháp

Trang 39

tác động vào các doanh nghiệp như : chính sách thuế, chính sách tiền tệ, chính sách quản lý với hoạt động KH & CN (bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, chống hàng giả hàng nhái, chống độc quyền trong sản xuất kinh doanh, chính sách đất đai…

Các hình thức huy động nguồn tài chính cho nghiên cứu khoa học và công nghệ của doanh nghiệp phụ thuộc vào các chính sách điều hành và kiểm soát nền kinh tế của Chính phủ Đó là chính sách xuất nhập khẩu, chính sách giá cả, chính sách kìm chế lạm phát, chính sách lãi suất, mức nợ nước ngoài, tỷ lệ thâm hụt ngân sách và dịch vụ hỗ trợ kinh doanh như: dịch vụ ngân hàng, dịch vụ thông tin

Chẳng hạn như chính sách lãi suất - Lãi suất chính là thước đo quan trọng nhất của chi phí huy động tài chính cho hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung

và cho hoạt động nghiên cứu khoa học và công nghệ của các doanh nghiệp nói riêng Lãi suất là yếu tố rất nhạy cảm của nền kinh tế, nó phản ảnh tất cả những yếu

tố tác động đến khả năng sinh lợi dự tính, là thước đo quan trọng để phản ảnh hiệu quả của hoạt động đầu tư nghiên cứu Trong từng thời kỳ, chính sách tiền tệ của một quốc gia là “nới lỏng” hay “thắt chặt” thì chính sách lãi suất cũng giảm hay tăng tương ứng Sự thay đổi của chính sách lãi suất ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp, vì thế nó cũng ảnh hưởng tới cơ chế huy động nguồn lực tài chính cho nghiên cứu khoa học của doanh nghiệp

Các mô hình lý thuyết về phát triển KH&CN trong doanh nghiệp cho thấy Nhà nước đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình phát triển KH&CN Để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tham gia vào nghiên cứu, chuyển giao các tiến bộ KH&CN, thì Nhà nước cần có chính sách đa dạng hoá các nguồn vốn đầu tư, có chính sách ưu đãi đối với hoạt động nghiên cứu, chuyển giao cũng như đối với người lao động trong lĩnh vực KH & CN

Quá trình phát triển KH&CN trong doanh nghiệp liên quan đến nhiều vấn đề như quyền sở hữu trí tuệ, việc thực hiện các hợp đồng chuyển giao công nghệ, việc quản lý chất lượng các sản phẩm KH&CN… Những vấn đề đó đòi hỏi phải có vai

Trang 40

trò quản lý của Nhà nước cũng như chính quyền địa phương Sản phẩm KH&CN

có thể bị sao chép, bắt chước nên tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, sản xuất hàng giả, chuyển giao các sản phẩm KH&CN chất lượng kém gây thiệt hại cho người sử dụng đòi hỏi Nhà nước phải có sự quản lý chặt chẽ thì các doanh nghiệp mới có động lực đầu tư cho nghiên cứu KH & CN

1.2.3.5 Sự phát triển của thị trường tài chính và hệ thống tài chính

Chức năng quan trọng nhất của mọi hệ thống tài chính là cung cấp các nguồn tài chính từ bên ngoài cho doanh nghiệp trong đó có cả nguồn tài chính cho nghiên cứu khoa học và công nghệ của doanh nghiệp, thông qua việc thu hút tiền tiết kiệm

và nhàn rỗi trong xã hội Trong nền kinh tế thị trường đối tượng quan tâm của hệ thống tài chính là tất cả các loại hình sản xuất - kinh doanh Do vậy, cơ cấu tổ chức của nó được thiết lập phù hợp với cơ cấu của khu vực phi tài chính Sự đa dạng của tất cả các loại hình doanh nghiệp cùng với những cấp độ nhu cầu vốn khác nhau trong khu vực này, đã đa dạng hoá những công cụ và thể chế tài chính “đối ứng”

Hệ thống tài chính trong cơ chế thị trường bao gồm các thực thể tài chính gắn liền với quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các nguồn tài chính hay cụ thể hơn là các quỹ tiền tệ biểu hiện giá trị các nguồn lực tài chính Tuy phạm vi cũng như khung cảnh diễn ra quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các nguồn lực tài chính của từng chủ thể kinh tế có khác nhau, song giữa chúng đều có mối quan hệ hữu cơ với nhau, cùng xoay quanh phạm vi các hoạt động kinh tế của thị trường tài chính, điều này được khái quát hóa bằng sơ đồ sau đây:

Trong hệ thống tài chính, thị trường tài chính thực hiện chức năng kinh tế cốt lõi trong việc dẫn nguồn tài chính từ những người thừa vốn tới những người thiếu vốn

Thị trường tài chính không phải là một khâu tài chính mà nó là môi trường cho sự hoạt động của các khâu tài chính và cho sự vận động của các nguồn tài chính Thị trường tài chính là nơi diễn ra việc mua bán trong lĩnh vực tài chính Đối

Ngày đăng: 09/03/2015, 22:49

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ Việt Nam đến năm 2010 (Ban hành kèm theo Quyết định số 272/2003/QĐ-TTg ngày 31 tháng 12 năm 2003 của Thủ tướng Chính phủ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ Việt Nam đến năm 2010
Nhà XB: Thủ tướng Chính phủ
Năm: 2003
2. Phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ Khoa học và Công nghệ chủ yếu giai đoạn 5 năm 2006-2010 (Ban hành kèm theo QĐ số: 67/2006/QĐ- TTg ngày 21/3/2006 của Thủ tướng Chính phủ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ Khoa học và Công nghệ chủ yếu giai đoạn 5 năm 2006-2010
Năm: 2006
4. “Hoạt động KH&CN trong doanh nghiệp công nghiệp”,Tạp chí Hoạt động khoa học số 8.2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động KH&CN trong doanh nghiệp công nghiệp
5. “Chính sách thuế khuyến khích hoạt động nghiên cứu khoa học công nghệ trong doanh nghiệp: kinh nghiêm các nước công nghiệp và bài học cho Việt Nam”, PGS, TS. Hoàng Trần Hậu, TS. Vũ Sỹ Cường Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách thuế khuyến khích hoạt động nghiên cứu khoa học công nghệ trong doanh nghiệp: kinh nghiêm các nước công nghiệp và bài học cho Việt Nam
6. “Vai trò của đầu tư nước ngoài đối với phát triển công nghệ ở Đông Á”, Nghiên cứu Kinh tế, số 2/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của đầu tư nước ngoài đối với phát triển công nghệ ở Đông Á
7. “Kinh nghiệm hỗ trợ đổi mới công nghệ ở các SMEs của Canada”, TS Nguyễn Văn Thu, Hoạt động Khoa học, số tháng 9.2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm hỗ trợ đổi mới công nghệ ở các SMEs của Canada
8. “Chính sách phát triển Khoa học và công nghệ và đổi mới của Trung Quốc”, Minh Hường Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách phát triển Khoa học và công nghệ và đổi mới của Trung Quốc
10. “Kinh nghiệm thế giới trong việc huy động và sử dụng nguồn tài chính phục vụ nghiên cứu khoa học công nghệ trong khu vực doanh nghiệp”, ThS Ngô Tuấn Nghĩa, Những vấn đề Kinh tế và Chính trị thế giới Số 7 (147), 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm thế giới trong việc huy động và sử dụng nguồn tài chính phục vụ nghiên cứu khoa học công nghệ trong khu vực doanh nghiệp
11. “Về chính sách hỗ trợ đổi mới công nghệ cho doanh nghiệp vừa và nhỏ”, TS Nguyễn Văn Thu, Tạp chí hoạt động khoa học, số tháng 2.2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về chính sách hỗ trợ đổi mới công nghệ cho doanh nghiệp vừa và nhỏ
12. “Khoa học và công nghệ: nền tảng phát triển kinh tế xã hội”, Lao động cuối tuần số 1, tháng 1/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa học và công nghệ: nền tảng phát triển kinh tế xã hội
13. “Chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp khoa học và công nghệ - kinh nghiệm các nước châu Âu”, Nguyễn Thị Minh Nga, Hoàng Văn Tuyên, Tạp chí Nghiên cứu chính sách khoa học và công nghệ, số 12(10/2006) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp khoa học và công nghệ - kinh nghiệm các nước châu Âu
14. “Chính sách phát triển khoa học – công nghệ và đổi mới ở Trung Quốc”, Minh Hường, Tạp chí công nghiệp, số 2 (6/2010) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách phát triển khoa học – công nghệ và đổi mới ở Trung Quốc
15. “Kinh nghiệm hỗ trợ đổi mới công nghệ đối với khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Canada”, TS Nguyễn Văn Thu, TC Hoạt động Khoa học số 9/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm hỗ trợ đổi mới công nghệ đối với khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Canada
16. “Kinh nghiệm hỗ trợ đổi mới công nghệ đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Singapore”, TS Nguyễn Văn Thu, TC Nghiên cứu chính sách khoa học và công nghệ, số 13(12/2006) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm hỗ trợ đổi mới công nghệ đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Singapore
17. “Phát triển khoa học công nghệ ở Nhật Bản”, Hà My Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển khoa học công nghệ ở Nhật Bản
20. “Hoạt động khoa học công nghệ trong doanh nghiệp công nghiệp”, Lê Thành Ý, Tạp chí Hoạt động khoa học công nghệ, số tháng 8.2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động khoa học công nghệ trong doanh nghiệp công nghiệp
21. “Nâng tầm doanh nghiệp phải đầu tư khoa học công nghệ”, Thành Nụ, Tạp chí Hoạt động khoa học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng tầm doanh nghiệp phải đầu tư khoa học công nghệ
22. “Đổi mới công nghệ - điều kiến quan trọng nhất để tăng năng suất và chất lượng sản phẩm, Văn Tình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới công nghệ - điều kiến quan trọng nhất để tăng năng suất và chất lượng sản phẩm
Tác giả: Văn Tình
23. “Khoa học công nghệ với thị trường, Vũ Xuân Nguyệt Hồng, Viện Chiến lược phát triển, BKHĐT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa học công nghệ với thị trường
Tác giả: Vũ Xuân Nguyệt Hồng
Nhà XB: Viện Chiến lược phát triển
24. “Phát triển khoa học công nghệ thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, Bùi Sĩ Tiếu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển khoa học công nghệ thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Tác giả: Bùi Sĩ Tiếu

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1 Tóm tắt chính sách thuế ở các nước  hỗ trợ cho hoạt động R&D trong DN những năm 2006-2009 - Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn để xây dựng cơ chế tạo lập, quản lý và sử dụng nguồn hình thành quỹ phát triển khoa học và công nghệ trong doanh nghiệp
Bảng 1 Tóm tắt chính sách thuế ở các nước hỗ trợ cho hoạt động R&D trong DN những năm 2006-2009 (Trang 67)
Hình 6 : Tỷ trọng lao động thuộc các khu vực doanh nghiệp - Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn để xây dựng cơ chế tạo lập, quản lý và sử dụng nguồn hình thành quỹ phát triển khoa học và công nghệ trong doanh nghiệp
Hình 6 Tỷ trọng lao động thuộc các khu vực doanh nghiệp (Trang 105)
Hình 7: Đại diện của các khu vực doanh nghiệp theo quy mô lao động - Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn để xây dựng cơ chế tạo lập, quản lý và sử dụng nguồn hình thành quỹ phát triển khoa học và công nghệ trong doanh nghiệp
Hình 7 Đại diện của các khu vực doanh nghiệp theo quy mô lao động (Trang 106)
Hình 9: Quy mô tổng tài sản trung bình của các doanh nghiệp (tỷđồng) - Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn để xây dựng cơ chế tạo lập, quản lý và sử dụng nguồn hình thành quỹ phát triển khoa học và công nghệ trong doanh nghiệp
Hình 9 Quy mô tổng tài sản trung bình của các doanh nghiệp (tỷđồng) (Trang 108)
Hình 11: Hình thức pháp lý và tổ chức của các DNNN - Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn để xây dựng cơ chế tạo lập, quản lý và sử dụng nguồn hình thành quỹ phát triển khoa học và công nghệ trong doanh nghiệp
Hình 11 Hình thức pháp lý và tổ chức của các DNNN (Trang 110)
Hình 12: Cơ cấu hình thức tổ chức của các doanh nghiệp khu vực tư nhân - Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn để xây dựng cơ chế tạo lập, quản lý và sử dụng nguồn hình thành quỹ phát triển khoa học và công nghệ trong doanh nghiệp
Hình 12 Cơ cấu hình thức tổ chức của các doanh nghiệp khu vực tư nhân (Trang 111)
Hình 12: Số lượng các doanh nghiệp FDI phân theo loại hình - Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn để xây dựng cơ chế tạo lập, quản lý và sử dụng nguồn hình thành quỹ phát triển khoa học và công nghệ trong doanh nghiệp
Hình 12 Số lượng các doanh nghiệp FDI phân theo loại hình (Trang 112)
Hình 13   Trình độ khoa học và công nghệ  trong các doanh nghiệp có Quỹ  PTKH&CN - Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn để xây dựng cơ chế tạo lập, quản lý và sử dụng nguồn hình thành quỹ phát triển khoa học và công nghệ trong doanh nghiệp
Hình 13 Trình độ khoa học và công nghệ trong các doanh nghiệp có Quỹ PTKH&CN (Trang 114)
Hình 14 Trình độ Khoa học và công nghệ trong các doanh nghiệp chưa có  Quỹ phát triển KH & CN - Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn để xây dựng cơ chế tạo lập, quản lý và sử dụng nguồn hình thành quỹ phát triển khoa học và công nghệ trong doanh nghiệp
Hình 14 Trình độ Khoa học và công nghệ trong các doanh nghiệp chưa có Quỹ phát triển KH & CN (Trang 115)
Hình 16 Tác động của quy mô doanh nghiệp và quy mô thị trường - Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn để xây dựng cơ chế tạo lập, quản lý và sử dụng nguồn hình thành quỹ phát triển khoa học và công nghệ trong doanh nghiệp
Hình 16 Tác động của quy mô doanh nghiệp và quy mô thị trường (Trang 117)
Hình 18 : Ảnh hưởng của thuế, tín dụng và tỷ giá tới  đổi mới công nghệ ( %  doanh nghiệp trả lời) - Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn để xây dựng cơ chế tạo lập, quản lý và sử dụng nguồn hình thành quỹ phát triển khoa học và công nghệ trong doanh nghiệp
Hình 18 Ảnh hưởng của thuế, tín dụng và tỷ giá tới đổi mới công nghệ ( % doanh nghiệp trả lời) (Trang 119)
Hình 20 : Tác động của một số yếu tố tới việc hình thành quỹ phát triển KH & - Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn để xây dựng cơ chế tạo lập, quản lý và sử dụng nguồn hình thành quỹ phát triển khoa học và công nghệ trong doanh nghiệp
Hình 20 Tác động của một số yếu tố tới việc hình thành quỹ phát triển KH & (Trang 122)
Hình 22 : Tỷ lệ doanh nghiệp có quỹ phát triển khoa học và công nghệ - Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn để xây dựng cơ chế tạo lập, quản lý và sử dụng nguồn hình thành quỹ phát triển khoa học và công nghệ trong doanh nghiệp
Hình 22 Tỷ lệ doanh nghiệp có quỹ phát triển khoa học và công nghệ (Trang 124)
Hình 24: Tỷ lệ doanh nghiệp có quỹ theo Quy mô vốn - Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn để xây dựng cơ chế tạo lập, quản lý và sử dụng nguồn hình thành quỹ phát triển khoa học và công nghệ trong doanh nghiệp
Hình 24 Tỷ lệ doanh nghiệp có quỹ theo Quy mô vốn (Trang 126)
Hình 29 : Tương quan giữa ROE và số lượng doanh nghiệp có quỹ phát triển  doanh nghiệp - Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn để xây dựng cơ chế tạo lập, quản lý và sử dụng nguồn hình thành quỹ phát triển khoa học và công nghệ trong doanh nghiệp
Hình 29 Tương quan giữa ROE và số lượng doanh nghiệp có quỹ phát triển doanh nghiệp (Trang 135)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm