Với kích thước cơ thể rất nhỏ bé, nhện gié lại có phương thức sống khác với nhóm côn trùng hại lúa đã biết như chúng sống trong tổ ở gân lá, gây hại ở mặt trong bẹ lá lúa, ống thân lúa v
Trang 1BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐỀ TÀI ĐỘC LẬP CẤP NHÀ NƯỚC
BÁO CÁO TỔNG HỢP KẾT QUẢ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ
TÊN ĐỀ TÀI: NGHIÊN CỨU BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ TỔNG HỢP
NHỆN GIÉ (Steneotarsonemus spinki Smiley) HẠI LÚA Ở VIỆT NAM
(MÃ SỐ: 20/2010/HĐ - ĐTĐL)
Chủ nhiệm đề tài: Cơ quan chủ trì đề tài:
(ký tên) (ký tên và đóng dấu)
GS.TS Nguyễn Văn Đĩnh
Ban chủ nhiệm chương trình Bộ Khoa học và Công nghệ
(ký tên) (ký tên và đóng dấu khi gửi lưu trữ)
HÀ NỘI, NĂM 2012
Trang 2DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
RCB Randomized Complete Blocks – Khối ngẫu nhiên đầy đủ
λ The finite rate of increase - Giới hạn tăng tự nhiên
Tc The mean length of a generation - Thời gian của một thế hệ
tính theo tuổi của mẹ (Tc = ∑x.lx.mx/∑lx.mx) STT Số thứ tự
TT Trưởng thành
Trang 3MỤC LỤC
CHƯƠNG 1 MỞ ĐẦU 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2 1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 3
2.2.1 Vị trí phân loại, tình hình phân bố, mức độ gây hại của nhện gié 4
2.2.2 Đặc điểm hình thái và sinh học 7
2.2.3 Đặc điểm sinh thái học 9
CHƯƠNG 3 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 19
3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 19
3.1.1 Thời gian nghiên cứu 19
3.1.2 Địa điểm nghiên cứu 19
3.2 Vật liệu và dụng cụ nghiên cứu 19
3.2.1 Vật liệu nghiên cứu 19 3.2.2 Dụng cụ nghiên cứu 20
Trang 43.3 Nội dung nghiên cứu 20
3.4 Phương pháp nghiên cứu 20
3.4.5 Biện pháp phòng chống 32
3.4.7 Phương pháp xử lý số liệu 45
3.4.8 Tổ chức chính phối hợp thực hiện đề tài 45
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 47
4.1 Mức độ gây hại của nhện gié Steneotarsonemus spinki Smiley 47
4.1.2 Diễn biến mật độ và mức độ gây hại của nhện gié tại 7 vùng sinh thái 48
4.3.1 Thời gian các pha phát triển 69
4.3.2 Nhịp điệu sinh sản 72 4.3.3 Tỷ lệ trứng nở 73
4.3.5 Bảng sống (life table) và tỷ lệ tăng tự nhiên của nhện gié 74
4.4.1 Diễn biến mật độ nhện gié gây hại lúa vụ xuân và vụ mùa 2010,
vụ xuân 2011 tại Cẩm Sơn, Cẩm Giàng, Hải Dương 85
Trang 54.4.2 Mức độ gây hại của nhện gié trên lúa cấy ở các chân đất khác
nhau tại Cẩm Sơn, Cẩm Giàng, Hải Dương 90
4.4.3 Diễn biến mật độ nhện gié trên lúa được bón các mức đạm khác nhau 92
4.4.4 Mối liên hệ giữa đặc điểm giải phẫu, hàm lượng Si lic của các
giống lúa với sự xâm nhiễm gây hại của nhện gié 94
4.4.6 Sự lây lan, phát tán của nhện gié trên đồng ruộng 101
4.5.2 Đặc điểm hình thái nhện bắt mồi Lasioseus chauhdrii W & W 110
4.5.3 Đặc điểm sinh học của nhện bắt mồi Lasioseus chauhdrii 112
4.5.4 Đánh giá bước đầu về sự nhiễm nhện gié của các giống phổ biến 125
4.5.5 Ngưỡng gây hại 136
4.5.6 Đánh giá hiệu lực của thuốc trừ nhện và thời điểm phun thuốc trừ
nhện gié hiệu quả 146
4.6.1 Mô hình quản lý tổng hợp nhện gié ở Đồng bằng sông Cửu Long 153
4.6.2 Mô hình quản lý tổng hợp nhện gié ở Bắc Trung bộ 160
4.6.3 Mô hình quản lý tổng hợp nhện gié ở Đồng bằng sông Hồng 168
4.6.5 Nội dung chính của Quy trình IPM nhện gié cho 3 vùng lúa 176
4.7 Danh mục các kết quả, sản phẩm khoa học công nghệ 183
Trang 6DANH MỤC BẢNG
3.1 Phân cấp mật độ và mức độ nhiễm nhện gié của các giống lúa 28
3.3 Số lượng nhện gié lây nhiễm cho các công thức 36
3.4 Các thuốc dùng trong thí nghiệm trong phòng 39
3.5 Các loại thuốc và liêu lượng sử dụng trong khảo nghiệm đồng ruộng 42
4.2 Thời gian phát sinh và đỉnh cao mật độ của nhện gié tại 7 vùng
4.3 Chiều dài vết hại của nhện gié trên giống Khang dân 18, vụ mùa
2010 tại Gia Lâm, Hà Nội 62
4.5 Kích thước các pha phát dục của nhện gié S spinki 66
4.6 Thời gian phát dục (ngày) của nhện gié ở các điều kiện nhiệt độ và
4.7 Tỷ lệ trứng nở của nhện gié ở các điều kiện nhiệt độ và ẩm độ 97% 73
4.8 Tỷ lệ đực/cái của nhện gié ở các điều kiện nhiệt độ và ẩm độ 97% 74
4.9 Bảng sống (life table) của nhện gié ở 28,5oC, ẩm độ 97% 75
4.10 Bảng sống (life table) của nhện gié ở 32,5oC, ẩm độ 97% 77
4.11 Các chỉ tiêu sinh học cơ bản của nhện gié S spinki ở 22,5oC,
25oC, 28, oC, 30oC, 32,5 oC, ẩm độ 97% 78
4.12 Tỉ lệ tăng tự nhiên của một số loài dịch hại ở Việt Nam 80
4.13 Tỷ lệ các pha phát dục của nhện gié theo các giai đoạn sinh
4.14 Diễn biến tỷ lệ hại, chỉ số hại, mật độ nhện gié trên giống Khang
dân 18 ở các chân đất khác nhau tại Cẩm Sơn, Cẩm Giàng, Hải
Trang 74.15 Diễn biến tỷ lệ hại, chỉ số hại, mật độ nhện gié trên giống Khang
dân 18 ở các mức đạm khác nhau tại Cẩm Sơn, Cẩm Giàng, Hải
4.16 Một số chỉ tiêu giải phẫu các giống lúa và mật độ nhện gié ở giai
đoạn trỗ 94 4.17 Hàm lượng Silic của các giống lúa và mật độ nhện gié 98
4.18 Khả năng hoàn thành vòng đời của nhện gié trên các loài cỏ
trong điều kiện thí nghiệm (Trường ĐH Nông nghiệp Hà Nội,
2010-2012) 100 4.19 Sự gây hại và số lượng nhện gié qua vết thương cơ học nhân tạo,
vụ mùa 2009 tại Gia Lâm, Hà Nội 102
4.20 Sự lây lan của nhện gié trong khay thí nghiệm về sự lan truyền
theo dòng nước 104
4.21 Tỷ lệ hại và chỉ số hại của nhện gié trong điều kiện gió thổi theo
một chiều trong nhà lưới 105
4.22 Ảnh hưởng của nguồn lúa chét có nhện gié tới giống lúa IR
50404 vụ hè thu 2010 tại Châu Thành, An Giang 107
4.23 Thành phần các loài thiên địch của nhện gié tại An Giang và Hải
4.24 Kích thước các pha phát dục của NBM Lasioseius chaudhrii ở
4.25 Thời gian phát dục (ngày) của nhện nhỏ bắt mồi Lasioseius
chaudhrii tại nhiệt độ 25oC, 30oC ẩm độ 97% 112
4.26 Tỉ lệ trứng nở của NBM Lasioseius chaudhrii ở các mức nhiệt độ
20oC, 25oC, 28,5oC, 30oC và 32,5oC, ẩm độ 97% 113
4.27 Tỉ lệ nhện đực/nhện cái của NBM Lasioseius chaudhrii ở các
mức nhiệt độ 25oC và 30oC, ẩm độ 97% 114
4.28 Bảng sống (life table) của NBM Lasioseius chaudhrii ở 25oC, 30oC 115
4.29 Các chỉ tiêu sinh học cơ bản của nhện bắt mồi Lasioseius
chaudhrii ở 25oC, 30oC và ẩm độ 97% 116
Trang 84.30 Sức ăn trứng nhện gié của các pha phát dục NBM L chaudhrii 117
4.31 Sức ăn của trưởng thành cái NBM Lasioseius chaudhrii với các
4.32 Thời gian sống (ngày) của NBM Lasioseius chaudhrii trong điều
kiện không thức ăn và bất lợi ở nhiệt độ 25oC, ẩm độ 97% 118
4.33 Hiệu quả khống chế (%) nhện gié của NBM Lasioseus chaudhrii 119
4.34 Tỷ lệ hạt bị hại (%) và khối lượng khô (g/bông) tại các công
thức thí nghiệm 121
4.35 Hiệu quả khống chế (%) nhện gié của NNBM Lasioseus
chaudhrii trong điều kiện thí nghiệm diện rộng 122
4.36 Năng suất lúa (tấn/ha) tại các công thức thí nghiệm 122
4.37 Mật độ nhện gié và mức độ nhiễm nhện gié trên 80 giống vào
giai đoạn lúa trỗ 127 4.38 Tổng hợp mức độ nhiễm nhện gié của các giống lúa 129
4.39 Chiều dài vết hại và mức độ nhiễm nhện gié của 49 giống lúa 131
4.40 Tổng hợp mức độ nhiễm nhện gié của 49 giống lúa 133
4.41 Mật độ nhện gié (con/dảnh) trên giống lúa Khang dân 18 và IR
50404 vào giai đoạn lúa trỗ 136
4.42a Khối lượng hạt chắc (g/bông) và tỉ lệ (%) hạt bị nhện hại trên
giống IR 50404 trong nhà lưới có mái che 138
4.42b Khối lượng hạt chắc (g/bông) và tỉ lệ (%) hạt bị nhện hại trên
giống Khang dân trong nhà lưới có mái che 138
4.43a Khối lượng hạt chắc (g/bông) và tỉ lệ (%) hạt bị nhện hại trên
giống IR 50404 trong điều kiện đồng ruộng 139
4.43b Khối lượng hạt chắc (g/bông) và tỉ lệ (%) hạt bị nhện hại trên
giống Khang dân 18 trong điều kiện đồng ruộng 140
4.44 Khối lượng hạt chắc và tỉ lệ hạt bị nhện hại trên giống IR 50404
trong điều kiện đồng ruộng t ại An Giang, vụ hè thu 2010 145
4.45 Hiệu lực của một số loại thuốc ở nồng độ 0,1% đối với pha
Trang 94.46 Hiệu lực của một số loại thuốc đối với pha trứng của nhện gié
trong phòng thí nghiệm 148 4.47 Hiệu lực của một số loại thuốc đối với nhện gié trên đồng ruộng
tại xã Cẩm Sơn, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương vụ mùa 2010 149
4.48 Hiệu quả phun thuốc tại các thời điểm khác nhau, vụ mùa 2010
tại Gia Lâm, Hà Nội 151 4.49 Diễn biến mật độ nhện gié trong và ngoài mô hình (con/dảnh),
4.50 Tổng hợp kết quả thực hiện mô hình tại Đồng bằng sông Cửu Long 159
4.51a Lượng phân bón cho các điểm mô hình trong năm 2010 161
4.51b Lượng phân bón cho các điểm mô hình trong năm 2011 163
4.52 Kết quả gặt ngẫu nhiên 100 dảnh tại Nghệ An (2011) 164
4.53 Bảng theo dõi cấp hại trên dảnh lúa/bông lúa (Thừa Thiên Huế) 165
4.54 Tổng hợp kết quả thực hiện mô hình tại Bắc Trung bộ 167
4.55 Diễn biến mật độ nhện gié trong mô hình và đối chứng tại Hà
4.56 Tỷ lệ hại, chỉ số hại của nhện gié ở các thời điểm điều tra trên
4.57 Tổng hợp kết quả thực hiện mô hình tại Đồng bằng sông Hồng 174
4.58 Tổng hợp kết quả Mô hình IPM tại 3 vùng 175
4.59 Danh mục sản phẩm khoa học và công nghệ dạng I, II 184
Trang 10DANH MỤC HÌNH
3.1 Ống thân cây lúa dùng để nuôi sinh học nhện gié 23
3.2 Lồng nuôi nhện bắt mồi (Munger F, 1942) 33
4.1 Diễn biến mật độ nhện gié hại lúa tại Sơn La vụ mùa 2010 và vụ
4.2 Tỷ lệ hại và chỉ số hại của nhện gié tại Sơn La vụ mùa 2010 49
4.3 Diễn biến mật độ nhện gié hại lúa tại Hà Nam vụ mùa 2010 và vụ
4.4 Tỷ lệ hại và chỉ số hại của nhện gié tại Hà Nam vụ mùa 2010 51
4.5 Diễn biến mật độ nhện gié hại lúa tại Nghệ An vụ mùa 2010 và vụ
4.10 Tỷ lệ hại, chỉ số hại của nhện gié hại lúa tại An Giang vụ hè thu
4.11 Diễn biến mật độ nhện gié trên lúa chét ở các vùng sinh thái 57
4.12 Chiều dài vết hại của nhện gié trên giống Khang dân 18, vụ mùa
2010 tại Gia Lâm, Hà Nội 63
4.13 Sơ đồ vị trí phân loại nhện gié Steneotarsonemus spinki Smiley 65
4.14 Hình thái nhện gié chụp dưới kính hiển vi 68
Trang 114.15 a Các quả trứng nhện gié dính với nhau thành cụm ; b Trứng nhện
gié S spinki (chụp qua kính lúp Carl zeiss) 68
4.16 a Nhện non di động 69 4.16 b Nhện non không di động 69
4.17.a Trưởng thành cái nhện gié Steneotarsonemus spinki Smiley 69
4.17.b Trưởng thành đực nhện gié Steneotarsonemus spinki Smiley 69
4.18 Nhịp điệu đẻ trứng của nhện gié ở nhiệt độ 22,5 oC, 25 oC, 28,5oC,
4.19 Tỉ lệ sống sót (lx) và sức sinh sản (mx) của nhện gié ở 28,5oC 76
4.20 Tỷ lệ sống sót (lx) và sức sinh sản (mx) của nhện gié ở 32,5oC 78
4.21 Phân bố mật độ nhện gié trên cây lúa, vụ mùa 2010 tại Gia Lâm,
4.22 Phân bố mật độ trứng nhện gié trên cây lúa, vụ mùa 2010 tại Gia
4.23 Sự phân bố của Nhện gié trên cây lúa giống IR50404 tại An
4.24 Tỷ lệ các pha phát dục của nhện gié phân bố trên cây lúa, vụ mùa
2010 tại Gia Lâm, Hà Nội (giống Khang dân 18) 83
4.25 Diễn biến mật độ nhện gié trên một số giống lúa vụ xuân 2010 tại
Cẩm Sơn, Cẩm Giàng, Hải Dương 85
4.26 Mật độ nhện gié trên lúa chét vụ xuân 2010 tại Cẩm Sơn, Cẩm
Giàng, Hải Dương 86 4.27 Diễn biến mật độ nhện gié trên một số giống lúa vụ mùa 2010 tại
Cẩm Sơn, Cẩm Giàng, Hải Dương 87
4.28 Diễn biến mật độ nhện gié trên giống Khang dân 18 ở vụ xuân và
vụ mùa 2010 tại Cẩm Sơn, Cẩm Giàng, Hải Dương 88
4.29 Diễn biến nhện gié trên lúa chét vụ mùa 2010 tại Cẩm Sơn, Cẩm
Giàng, Hải Dương 88 4.30 Diễn biến mật độ nhện gié trên giống Khang dân 18 ở vụ xuân
Trang 122010 và vụ xuân 2011 tại Cẩm Sơn, Cẩm Giàng, Hải Dương 89
4.31 Cấu tạo gân chính của lá lúa giống TBR1 (x40) 95
4.32 Cấu tạo gân chính của lá lúa giống Nam ưu 714 (x40) 95
4.33 Mối tương quan giữa diện tích khoang khí và mật độ nhện gié 96
4.34 Tương quan giữa chiều dày tầng mô cứng và mật độ nhện gié 97
4.35 Tương quan giữa chiều dày tầng cutin và mật độ nhện gié 97
4.36 Mối tương quan giữa hàm lượng Silic và mật độ nhện gié ở giai
đoạn lúa trỗ 99 4.37 Góc đòng Ω (o) và tỉ lệ hạt lép (%) do nhện gié gây ra tại các khoảng
cách khác nhau trên ruộng chính vụ tại Châu Thành, An Giang 108
4.38 Tương quan giữa khoảng cách từ điểm lấy mẫu tới nguồn lúa chét
4.39 Tương quan giữa khoảng cách từ điểm lấy mẫu tới nguồn lúa chét
và tỉ lệ hạt lép do nhện gié hại 109
4.40 Nhịp điệu sinh sản của NBM Lasioseius chaudhrii tại các mức
4.41 Trưởng thành nhện bắt mồi Lasioseius chauhdrii 123
4.42 Mối tương quan giữa chiều dài vết hại tổng số và mật độ nhện gié
giai đoạn lúa trỗ 134 4.43 Tương quan giữa mật độ nhện gié lây nhiễm với số nhện gié vào
giai đoạn lúa trỗ trên giống KD 18 và IR 50404 141
4.44 Tương quan giữa mật độ nhện lây nhiễm với khối lượng hạt chắc
4.45 Tương quan giữa mật độ nhện gié giai đoạn lúa trỗ với khối lượng
hạt chắc của giống lúa Khang dân 18 và IR 50404 143
4.46 Mật số nhện gié ở trong và ngoài mô hình IPM, An Giang 2011 158
4.47 Diễn biến mật độ nhện gié và quy luật phát sinh gây hại của nhện gié
trên giống KD 18 trong mô hình và ngoài mô hình (Hải Dương 2011) 173
Trang 13CHƯƠNG 1 MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Do canh tác bất hợp lý mà trong hơn 10 năm lại đây, loài nhện gié
Steneotarsonemus spinki Smiley hại lúa từ một loài ít phổ biến đã xuất hiện
và gây hại ngày một tăng, cùng với rầy nâu, nhện gié trở thành ví dụ điển hình của nhóm loài do con người tạo nên (Man-made pest)
Sự gây hại của nhện gié có chiều hướng gia tăng ở Đồng bằng sông Hồng, trung du miền núi phía Bắc (Nguyễn Văn Đĩnh và Trần Thị Thu Phương, 2006), (Nguyễn Văn Đĩnh và Vương Tiến Hùng, 2007)
Đối với Nam bộ, nhện gié với triệu chứng hại điển hình của “bệnh cạo gió” xuất hiện tương đối phổ biến
Theo báo cáo tổng kết của Trung tâm BVTV phía Bắc (2010) và số liệu thống kê của phòng BVTV (Cục BVTV) , năm 2010 nhện gié đã xuất hiện gây hại ở cả 3 vùng trồng lúa của nước ta (các tỉnh phía Bắc, Bắc Trung bộ và các tỉnh phía Nam) với tổng diện tích nhiễm nhện gié là 64848 ha, nhiễm nặng 2113 ha và diện tích phòng trừ là 11360 ha
Với kích thước cơ thể rất nhỏ bé, nhện gié lại có phương thức sống khác với nhóm côn trùng hại lúa đã biết như chúng sống trong tổ ở gân lá, gây hại ở mặt trong bẹ lá lúa, ống thân lúa và khả năng chịu nước và chịu lạnh cao, có sức sinh sản lớn, cho nên nhện gié là đối tượng rất khó phòng chống
Do không có nghiên cứu đầy đủ nên hiểu biết của cán bộ kỹ thuật và nông dân về triệu chứng gây hại, kỹ thuật phòng chống nhện gié rất hạn chế, người dân thường nhầm lẫn với bệnh “lem lép/đen lép hạt” do vi sinh vật gây nên làm cho tình hình gây hại của nhện gié ngày một tăng Hơn nữa do sức tăng quần thể cao, nên nhện gié thực sự đã trở thành mối lo của người trồng
lúa Xuất phát từ những yêu cầu thực tế đó đề tài “Nghiên cứu biện pháp
phòng trừ tổng hợp nhện gié (Steneotarsonemus spinki Smiley) hại lúa ở
Trang 14Việt Nam” đã được Bộ Khoa học và Công nghệ cho phép thực hiện
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở xác định một cách rõ ràng qui luật phát sinh và sự gây hại
của nhện gié Steneotarsonemus spinki Smiley, một loài dịch hại mới xuất hiện
gây hại mạnh trong một số năm gần đây, xây dựng được biện pháp phòng trừ tổng hợp chúng có hiệu quả và thân thiện với môi trường
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Xác định được qui luật phát sinh, gây hại của nhện gié hại lúa
Steneotarsonemus spinki Smiley
- Xây dựng được biện pháp phòng trừ tổng hợp nhện gié hiệu quả và thân thiện với môi trường
1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài
Cung cấp những dẫn liệu khoa học mới về đặc điểm gây hại, mức độ
hại, đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của loài nhện gié S spinki và ảnh
hưởng của điều kiện mùa vụ, chân đất, giống lúa, mức bón đạm đến diễn biến mật độ loài nhện gié
Đề tài đã cung cấp những dẫn liệu khoa học về thành phần các loài ký chủ, khả năng lây lan, phát tán của nhện gié trong tự nhiên và khả năng sử
dụng loài nhện bắt mồi Lasioseus chauhdrii Wu & Wang trong phòng chống
sinh học nhện gié
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Đề tài đã xây dựng thành công 6 mô hình IPM nhện gié trong cả nước từ đó đúc rút được quy trình IPM nhện gié hại lúa tại 3 vùng trồng lúa trọng điểm có hiệu quả và thân thiện môi trường
Trang 15CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài
Nhện gié Steneotarsonemus spinki Smiley lần đầu tiên được ghi nhận
gây hại trên lúa tại Thừa Thiên - Huế (Ngô Đình Hòa, 1992), ở vùng đồng bằng sông Hồng (Nguyễn Văn Đĩnh, 1994) Tại nhiều tỉnh phía Nam (An Giang, Đồng Tháp, Tiền Giang, Kiên Giang, ) đã ghi nhận triệu chứng “bệnh cạo gió” gây ra bởi loài này
Sự xuất hiện và gây hại mạnh của nhện gié cùng với nhện đỏ
Tetranychus cinnabarinus K và nhện trắng Polyphagotarsonemus latus B., từ
chỗ dịch hại thứ yếu (hoặc không biết đến) trở thành dịch hại quan trọng Nhóm dịch hại này có đặc điểm chung là sự gia tăng quần thể lớn, sinh sản mạnh, vòng đời ngắn và thường bị nhóm thiên địch phong phú khống chế Một khi nhóm thiên địch do các điều kiện bất thuận (thường là do phun thuốc trừ sâu hóa học) không phát huy được tác dụng thì nhện hại sẽ chiếm ưu thế và sự thiệt hại là rất lớn và khó kiểm soát
Nhện gié S spinki sống trong bẹ, trong gân lá lúa, có khả năng chịu
nước và chịu lạnh cao, sức sinh sản lớn, khác biệt so với nhiều loài nhện hại
cây trồng đã từng biết như nhện trắng Polyphagotarsonemus latus Banks, nhện đỏ son Tetranychus cinnabarius Boisduval, nhện đỏ hại chè Oligonychus coffeae Niet., nhện đỏ cam chanh Panonychus citri McG
Theo thống kê chưa đầy đủ của 11/25 tỉnh thành ở miền Bắc, diện tích lúa bị nhện gié gây hại trong 2 năm 2007, 2008 là trên 5000 ha Có nhiều tỉnh như Thái Nguyên, Phú Thọ diện tích lúa mùa bị hại nặng lên tới trên 500 ha, toàn thân cây lúa chuyến sang màu xám nâu hơi đen, mất màu vàng đặc trưng khi lúa chín, năng suất giảm đáng kể Các tỉnh miền núi cao như Điện Biên, Sơn La và ở đồng bằng sông Hồng như Hải Dương, Ninh Bình, Bắc Ninh,… cũng đã ghi nhận sự gây hại của nhện gié (Trung tâm Bảo vệ thực vật phía Bắc,
Trang 162008) Trong vòng 10 năm trở lại đây có sự gia tăng rõ rệt mức độ gây hại của nhện gié ở Đồng bằng sông Hồng và Trung du miền núi phía Bắc (Nguyễn Văn Đĩnh và Vương Tiến Hùng, 2007); (Đỗ Thị Đào và cs, 2008)
Một số tỉnh ở miền Bắc như Hà Nam, Hải Dương, Ninh Bình, Điện Biên, Hưng Yên, Bắc Ninh, Thái Nguyên, Yên Bái, Lai Châu, năm 2011 từ đầu tháng 9 đến đầu tháng 10, tỷ lệ hại của nhện gié phổ biến từ 3-7%, cao từ 20-40% và cục bộ tới 60% số dảnh bị hại Tổng diện tích nhiễm nhện gié là 1.871 ha, nhiễm nặng 270 ha, diện tích phòng trừ phòng trừ 62 ha (Trung tâm BVTV phía Bắc, 2011)
Như vậy, nghiên cứu để phòng chống thành công loài nhện gié S spinki
hại lúa cần phải tiến hành từ nghiên cứu cơ bản như xác định đặc điểm sinh học, quy luật phát sinh gây hại, mức độ gây hại và khả năng phát tán, kí chủ của nhện gié cũng như ảnh hưởng của giống lúa, phân bón, thời vụ gieo trồng, chân đất, thiên địch đến biến động số lượng nhện gié và nghiên cứu mang tính ứng dụng như biện pháp phòng chống, xây dựng qui trình quản lý tổng hợp (IPM) nhện gié theo hướng thân thiện với môi trường, hiệu quả để áp dụng cho các vùng trồng lúa trong cả nước
2.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
2.2.1 Vị trí phân loại, tình hình phân bố, mức độ gây hại của nhện gié
Nhện gié được mô tả lần đầu tiên năm 1967 (Smiley, 1967) ở Mỹ, sau
đó cộng hoà Đôminica, Haiti, Cu Ba, Costa Rica, Panama thông báo rằng loài nhện này đã làm giảm tới 70% năng suất lúa một số vùng ở các nước này (Ramos et al., 1998)
Nhện gié thuộc ngành chân đốt (Arthropoda), lớp hình nhện (Arachnida), bộ Ve bét (Acarina), tổng họ Tarsonemoidae, họ Tarsonemidae,
giống Steneotarsonemus Beer, 1954, loài Steneotarsonemus spinki Smiley,
1967 (Beer, 1954), (Mendonça et al., 2004) Trong họ Tarsonemidae có 3 loài
Trang 17Steneotarsonemus spirifex Trong đó loài S spinki là loài nguy hiểm nhất vì
ngoài những thiệt hại do nó trực tiếp gây ra, nó còn là môi giới truyền vi sinh vật gây bệnh cho cây lúa
Về phân bố địa lý, Rao et al., (2003) đã chỉ ra rằng có thể các tài liệu đầu
tiên về nhện gié S spinki là trong tài liệu tham khảo “động vật chân đốt nhỏ” đã
tấn công cây lúa ở Ấn Độ vào khoảng năm 1930 Việc xuất bản tài liệu tham
khảo đầu tiên nói đến S spinki như là một dịch hại của cây lúa là từ miền Nam
Trung Quốc năm 1968 (Ou et al., 1977) Tiếp theo là báo cáo ghi nhận nhện gié
ở Ấn Độ vào tháng 11 năm 1975 (Rao et al., 1977), ở Đài Loan, Kenya và Philippines năm 1977 (Lo et al., 1977), (Rao et al., 1977), (Sogawa, 1977), (Smiley et al., 1993) và tại Nhật Bản, nhện gié đã xâm nhiễm vào cây mạ trồng trong nhà kính năm 1984 (Shikata et al., 1984)
Năm 1999, nhện gié S spinki đã được tìm thấy tại Hàn Quốc, Thái Lan và
Sri Lanka (Cheng and Chiu, 1999), (Cho et al., 1999), (Cabrera et al., 2002b)
Các báo cáo đầu tiên về nhện gié S spinki như là một dịch hại lúa của châu Mỹ là ở Cu Ba vào năm 1997 (Ramos et al., 1998) Sau đó nhện gié S spinki nhanh chóng lan rộng khắp vùng Caribe và Trung Mỹ, tại Cộng hòa
Dominica vào năm 1999 (Ramos et al., 2001), Panama (Almaguel et al., 2005), Haiti (Herrera, 2005) và Costa Rica vào năm 2004 (Sanabria et al., 2005)
Nhện gié S spinki đã được ngăn chặn trong nhà kính vào năm 2004 tại Ohio, Hoa Kỳ (R Ochoa) Năm 2005, nhện gié S spinki đã được ghi nhận ở
Colombia (Instituto Colombiano Agropecuario, 2005), Guatemala, Honduras (Castro et al., 2006), Nicaragua và Venezuela (Aguilar et al., 2008) Năm 2006,
nhện gié S spinki đã có mặt tại bang Campeche, Mexico (Arriaga, 2007)
Về mức độ gây hại, nhện gié là loài dịch hại nguy hiểm ở các vùng trồng lúa ở châu Á như Trung Quốc, Ấn Độ, Đài Loan, Hàn Quốc, Philipin và Thái Lan từ những năm 1930 (Lo et al., 1979), (Xu et al., 2001) Những năm
1970, Trung Quốc và Đài Loan đã công bố thiệt hại do nhện gié gây ra làm
Trang 18giảm năng suất trung bình 5-20%, một số nơi bị hại nặng lên đến 70-90% (Jiang et al., 1994) Ở Đài Loan, nhện gié gây hại trên diện tích 17.000 ha năm 1976 và 19.000 ha năm 1977, thiệt hại do chúng gây ra ước tính là 9,2 triệu đô la Mỹ (Nguyễn Văn Đĩnh, 1994 dẫn)
Nhện gié được phát hiện ở Cu Ba năm 1997, sự gây hại năm đầu đã giảm năng suất lúa đáng kể từ 30 - 70% (Ramos et al., 1998, 2000), sau đó nó
đã nhanh chóng lan rộng ra các nước trồng lúa trong vùng Caribe và làm giảm năng suất từ 30-90% (Almaguel et al., 2000) Sau đó nhện gié lần lượt được phát hiện ở Cộng hoà Đôminica, Haiti, Nicaragua, Costa Rica và Panama làm thiệt hại khoảng 30% năng suất lúa (Fernando, 2007) Ở Brazil, nước đứng đầu về sản xuất lúa ở Nam Mỹ, thu hoạch trung bình là khoảng 12,7 triệu tấn/năm và thiệt hại được dự đoán là từ 30-70% hoặc từ 3,8-8,9 triệu tấn/năm, nhện gié là tác nhân gây hại chính đến an ninh lương thực và làm ảnh hưởng lớn đến nền công nghiệp lúa gạo của đất nước này (Mendonça et al., 2004), (Navia et al., 2005 )
Năm 2003 - 2004 nhện gié làm giảm từ 10 đến 60% năng suất lúa
một số nước ở Trung Mỹ như: Haiti, thiệt hại năng suất 60% do S spinki
(Almaguel et al., 2005) và thiệt hại năng suất tương tự từ 40-60% tại Panama (Garcı'a, 2005) Trong năm đầu tiên ở Costa Rica, nhện gié phá hoại làm thiệt hại năng suất lên đến 45%, trong đó mất 10,96 triệu đô la Mỹ (Barquero, 2004) Năm 2005 nhện gié gây thiệt hại kinh tế đến Côlombia, Hoduras và Guatemala (Castro et al., 2006)
Tháng 7 năm 2007, nhện gié đã được phát hiện ở bang Taxes - Mỹ và gần đây đã có những báo cáo chính thức về sự gây hại của nhện gié ở Mexico Năm 1997, vùng sản xuất lúa ở Cu Ba bị thiệt hại nặng do nhện gié gây nên, làm thiệt hại 15 - 20% năng suất do cả nhện và nấm gây ra Nhện gié còn
là trung gian truyền các bệnh nấm và vi khuẩn cho cây lúa như Fusarium
Trang 19Nhện gié được coi là loài mới xuất hiện trở lại ở Mỹ vào năm 2007 (Hummel
et al., 2009 dẫn)
2.2.2 Đặc điểm hình thái và sinh học
Những nghiên cứu về đặc điểm sinh học của loài nhện gié
Steneotarsonemus spinki cho thấy, nhện gồm các pha phát dục: trứng, nhện
non tuổi 1, nhện non tuổi 2 và nhện trưởng thành (Lindquist, 1986), (Ramos
et al., 2000), (Xu et al., 2001)
Theo Dossmann (2004) nhện gié có 4 pha phát dục: trứng, nhện non di động, nhện non không di động và trưởng thành
Kích thước cơ thể nhện cũng có thể là cơ sở phân biệt giới tính và tuổi nhện Con cái phần thân dài, bề mặt có đốm chấm mịn, chiều dài thân từ 222-
350 µm và chiều rộng từ 84-108 µm Đầu giả gần vuông, dài (24-30 µm), rộng (25 - 32 µm) Mặt lưng đầu giả có nhiều lông cứng mịn (11-15 µm), dài hơn so với lông cứng bụng Con đực phần thân mịn, có kích thước chiều dài 217µm (217 –244) µm, chiều rộng 121 (109-122) µm Đầu giả gần vuông, dài
30 (24-30) µm rộng 32 (25-32) µm Hàm trên có nhiều lông cứng, hàm dưới
có lông cứng mịn (Smiley, 1967)
Trưởng thành cái nhện gié S spinki sinh sản nhanh, đẻ được từ 50 đến
70 trứng (Lo and Ho, 1979), (Xu et al., 2001), (Castro et al., 2006)
Nghiên cứu của Zhang (1984) cho thấy tỷ lệ giới tính của nhện gié S spinki con cái: đực là 2,2:1; 3,2:1 và 1,8:1 trong điều kiện nhiệt độ tương ứng
32oC, 28oC và 20oC Con cái đã giao phối sinh sản trung bình 55,5 trứng tại 24,5oC-35,4oC trong điều kiện phòng thí nghiệm (Xu et al., 2001)
Trong điều kiện phòng thí nghiệm tại Cu Ba, ở nhiệt độ trung bình 24,42
± 1,1oC và độ ẩm trung bình 70,07 ± 4,7%, thời gian từ trứng đến trưởng thành
là 7,7 ngày, thấp nhất là 5,75 ngày và cao nhất là 9,64 ngày Thời gian phát triển của trứng, nhện non di động và nhện non không di động tương ứng là
Trang 202,94, 2,22 và 2,74 ngày (Ramos and Rodríguez, 2000, 2001)
Cabrera (1998) cho biết vòng đời nhện gié thay đổi theo nhiệt độ Ở
15oC, chúng chết gần như hoàn toàn, ở 16oC chúng giảm mọi hoạt động, ngừng phát triển và sinh sản, tỷ lệ chết cao Thời gian hoàn thành vòng đời là 11 ngày ở 20oC, 8 ngày ở 24 - 28oC và 3 - 4 ngày ở 28 - 29oC
Trong điều kiện phòng thí nghiệm, vòng đời của nhện gié tại các nhiệt
độ 20, 24, và 30ºC tương ứng là 11; 7 và 3 ngày (Navia et al., 2006)
Nhiệt độ tăng, thời gian 1 thế hệ ngắn hơn: 11,3 ngày ở 20oC, 7,8 ngày
ở 23,9oC, và 4,9 ngày ở 33,9oC và chúng có thể sinh sản 48-55 thế hệ /năm trong điều kiện khí hậu lý tưởng (Castro et al, 2006)
Những nghiên cứu tiến hành tại Cu Ba (Santos et al., 1998) cho thấy thời gian từ trứng đến trưởng thành ngắn nhất là 3 ngày ở 30oC và 20 ngày ở 20oC Theo Chen et al., (1979) nhện gié có khả năng đẻ trứng cao và tập trung, số trứng đẻ của một con cái lên tới 78 quả trong vòng 5-32 ngày Ở Trung Quốc, thời gian phát triển của một thế hệ phụ thuộc nhiệt độ Ở các nhiệt độ 30oC,
28oC và 25oC tương ứng là 8,5 ngày, 9,9 ngày và 13,6 ngày (Xu et al., 2001)
Trong tổng số trứng nở ra, con cái chiếm 52,7% (Xu et al., 2001) Trong điều kiện Đài Loan, trong phòng thí nghiệm chúng đẻ được 59,5 trứng/1 con cái ở 20oC (Lo et al., 1979) Ở Cu Ba, 1 con cái đẻ được tối đa là
78 trứng, trung bình là 30,8 ± 3,4 trứng (Ramos et al., 2000)
Thời gian đẻ trứng của nhện gié ở 30oC, 28oC và 25oC trong điều kiện thí nghiệm ở Trung Quốc tương ứng là 17,2 ngày, 20,2 ngày và 25,6 ngày (Xu
et al., 2001) Tại Đài Loan, thời gian này khoảng 10 ngày (Lo et al., 1979)
Nhện gié có 2 phương thức sinh sản là hữu tính và đơn tính Con cái không qua giao phối vẫn có thể đẻ trứng nhưng tỷ lệ nở ra con đực cao hơn so với trứng đã qua giao phối Trứng không qua giao phối tỷ lệ con cái/con đực
là 1,94/1 Tỷ lệ cái đực trong một quần thể nhện đẻ ra khoảng 3 con cái: 1 con
Trang 21et al., 1979)
Tuy vậy các nghiên cứu vẫn chưa đưa ra được tỷ lệ tăng tự nhiên (r) và thời gian nhân đôi quần thể (DT)
2.2.3 Đặc điểm sinh thái học
Điều kiện khí hậu thuận lợi cho sự phát triển và gây hại của nhện gié là khoảng 25,5-27,5oC, ẩm độ 83,8- 89,5% (Cabrera et al., 2003) Theo nghiên cứu của Fang (1980), mật độ nhện gié cao nhất khi có nhiệt độ cao, lượng mưa
ít, phân bón ni tơ cao Đối với các nước châu Á, nhện phát triển đạt mức độ tối
đa từ tháng tám đến tháng mười, trùng hợp với điều kiện có nhiệt độ cao và độ
ẩm thấp
Nghiên cứu biến động quần thể của nhện gié S spinki trong khu vực
phía Nam của Đài Nam và Bình Đông (Đài Loan) 1977-1978, Tseng (1984) cho thấy, trong vụ đầu tiên được trồng từ tháng Giêng đến tháng Năm, quần thể của nhện gié đạt đỉnh trong tháng 5 với mật độ quần thể từ 10-100 nhện mỗi dảnh Trong khi ở vụ thứ hai đã được gieo trồng từ giữa tháng Năm - tháng Mười, mật độ quẩn thể nhện gié đạt đỉnh điểm giữa tháng Tám và tháng Mười từ 600-1100 nhện mỗi dảnh, sau đó quần thể nhện bị giảm Sự tăng và giảm của quần thể này có thể liên quan đến nhu cầu nhiệt độ ấm áp và độ ẩm cao của nhện gié
Tại Trung Quốc, Lo và Ho (1977) đã ghi nhận rằng nhện gié được tìm thấy trên cây lúa giai đoạn trỗ, chín sữa, chín sáp và chín hoàn toàn và mật độ
của nhện gié S spinki khác nhau giữa các giai đoạn sinh trưởng của cây lúa
Sau ba năm nghiên cứu, Jiang et al., (1994) thấy rằng trong giai đoạn đầu phát triển của cây lúa, nhện gié đã có mặt trên lá thấp hơn và mật độ của nhện dần dần tăng lên Mật độ vụ lúa muộn là cao hơn so với vụ lúa sớm Lúa còn non rất ít khi bị thiệt hại Đến giữa tháng Sáu, khi lúa đang ở giai đoạn chín sữa, thiệt hại đã được thấy rõ cho một số giống mặc dù mật độ quần thể
là rất thấp (1,8 nhện/100 bông) Trong vụ muộn, khi lúa bắt đầu đứng cái và
Trang 22hạt đã chín từ chín sữa đến giai đoạn chín sáp, mật độ quần thể tăng tới 30 nhện/100 bông, và khi lúa đã hoàn toàn chín, mật độ giảm đáng kể Trưởng thành và trứng của nhện đã được quan sát với số lượng cao hơn vào đầu vụ trồng lúa, nhưng không có thiệt hại rõ ràng trước khi giai đoạn đẻ nhánh Mật
độ quần thể cao nhất ở giai đoạn trỗ và chín sáp (7775-13.000 nhện/100 bông) Sau chín sáp đến chín hoàn toàn, mật độ nhện bắt đầu giảm Sau khi lúa được thu hoạch, nhện gié di chuyển đến những nguồn có độ ẩm và thức ăn thay thế, bao gồm cả gốc rạ, lúa tái sinh (lúa trau), cây mạ từ hạt rơi xuống và các cây ký chủ họ hòa thảo, nơi mà nhện gié có thể tiếp tục phát triển và sinh sản
Quan sát biến động quần thể nhện gié trên đồng ruộng, Ou and Fang (1978) thấy rằng trong giai đoạn đẻ nhánh, trung bình tỷ lệ nhện đực: nhện non: nhện cái: trứng là 1:2:6:12 Vào giai đoạn đẻ nhánh, số lượng nhện gié lớn nhất
ở trên một hoặc hai lá ngoài cùng của cây lúa và nhỏ nhất là ở các lá trong cùng Trong giai đoạn trước đẻ nhánh, mật độ nhện gié thấp, nhưng trong giai đoạn lúa chín, mật độ S spinki (1.992,5 nhện mỗi cây) và tỷ lệ chết tự nhiên khá cao Nhiều nhện gié đã được tìm thấy bên trong và bên ngoài hạt và hơn nữa, một số lượng lớn nhện gié đã tìm thấy trong lá và vỏ trấu ở vụ thứ hai
Trong chồi cây, nhện gié đã tìm thấy trong mô trên chồi cây (75 nhện mỗi cây cùng vài trứng) Tỷ lệ nhện: trứng là 3:1 và tỷ lệ giới tính đực: con cái là 1:2 Số nhện trong lá đòng và lá thứ hai tính từ trên cao hơn nhiều so với lá khác của cây, nhện gié cũng được quan sát thấy ở vỏ trấu
Các nghiên cứu về biến động quần thể của nhện gié cũng đã được tiến hành tại Cu Ba, Ramos et al., (2001) đánh giá biến động mật độ nhện gié và cho rằng mật độ nhện gié là thấp trong giai đoạn đẻ nhánh, mật độ tăng nhanh
ở giai đoạn trỗ Mật độ đạt tối đa vào giai đoạn chín sữa và sau đó giảm xuống ở giai đoạn chín sáp, chín hoàn toàn
Nhện gié ưa thích phá hại hạt ở giai đoạn lúa chín sữa hơn giai đoạn
Trang 23ta dễ dàng bắt gặp quần thể nhện cao ở pha nhện non và trưởng thành Nhện cũng dễ thấy ở phần trong hạt lúa Đôi khi chúng rất khó phát hiện trên cánh đồng vì cơ thể trong suốt không màu, kích thước cơ thể nhỏ bé và vị trí sống
ở trong bẹ lá (Fernando, 2007)
Những nghiên cứu ở Cộng hoà Đôminica cho thấy, nhện gié có khả năng qua đông ở gốc rạ khi gặt lúa còn sót lại, những gốc rạ này vẫn còn dinh dưỡng
để phát triển lên thành cây lúa mới (lúa chét), tuy nhiên nhện gié tồn tại trong
đó và trong những mẩu thân gẫy rơi rụng trên đồng ruộng xâm nhập vào lúa chét, tồn tại trên cây lúa này cho đến khi nó gặp ký chủ khác
Trong điều kiện nhiệt độ phòng, nhện gié có khả năng chịu ngập trong điều kiện không có thức ăn, nhện trưởng thành và nhện non sống sót trong khoảng thời gian tương ứng là 23 và 25 ngày Trưởng thành cái chịu đựng ngập nước hơn so với trưởng thành đực và nhện non chịu đựng ngập nước hơn so với trưởng thành
Nhện gié có thể tồn tại khi tiếp xúc với nhiệt độ cao ở 37oC, 39oC, và
41oC Ở nhiệt độ 37oC, sau 36 giờ xử lý nhện không bị chết, sau 48 giờ, tỷ lệ chết là 21,1% và sau 96 giờ thì tỉ lệ chết là 97,7%
Ở 39oC, tỉ lệ chết sau 24 giờ là 15,57%, tỷ lệ chết tăng sau 36 giờ và sau 72 giờ, tỷ lệ chết 100%
Ở 41oC, sau 36 giờ tỷ lệ chết là 50%, sau 60 giờ tỷ lệ chết là 100% Nhện trưởng thành cái có sự chịu đựng đối với nhiệt độ cao hơn so với trưởng thành đực (Xu et al., 2002)
Trong điều kiện nhiệt độ không đổi 25oC và với các ngưỡng độ ẩm tương đối 70%, 97% và 100%, tỷ lệ trứng nở tương ứng trong bảy ngày là 0; 65% và 97% Tương tự, khi trứng được duy trì trong 7 ngày thường xuyên tại
độ ẩm tương đối, tỷ lệ trứng nở ở nhiệt độ 18oC, 25oC và 36oC tương ứng là 19,2%, 92% và 50% (Liang, 1980)
Nhện gié có tốc độ lan truyền rất nhanh, cuối những năm 1990 ghi nhận ở
Trang 24Cu Ba, Haiti và cộng hòa Đôminica, đến năm 2004 chúng có mặt tại Costa Rica, Nicaragua và Panama Nhện gié có thể được truyền lan nhờ gió (khoảng cách ngắn hoặc dài), chim, côn trùng, các tàn dư cây trồng có trong dòng nước cũng như thiết bị nông nghiệp cơ khí và phát tán theo con người (Navia
et al., 2006)
Ở Texas, Ron Ochoa (2007) quan sát thấy nhện gié đực nổi trong nước và
"bơi" để tìm con cái và con cái cố rơi xuống từ cây vào trong nước để tìm con đực
và ở những nơi gần nguồn nước ra vào, nhện gié phân bố với mật độ cao
Ký chủ chính của nhện gié là lúa (Oryzae sativae L.) Ngoài ra nhện gié cũng hoàn thành vòng đời trên một loài ký chủ phụ là một loài lúa dại (Oryzae latifolia) và Cynodon dactylon, Echinochloa colona, Digitaria spp và Cyperus iria (CRRI, 2006)
2.2.4 Thiên địch nhện gié
Các nghiên cứu về thành phần thiên địch bắt mồi nhện gié cho thấy ở các
vùng nhiệt đới có điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của nhện bắt mồi thuộc họ
Phytoseiidae, đây sẽ là biện pháp sinh học hiệu quả trong phòng chống nhện gié nếu tỷ lệ nhện bắt mồi/mật độ nhện hại thích hợp Các loài nhện trong họ Phytoseiidae, Ascidae, bộ Ve bét Acarina có khả năng khống chế được nhện gié
S spinki bao gồm cả Amblyseius taiwanicus Ehara (Acari: Phytoseiidae) và Lasioseius parberlesei Bhattacharyya (Acari: Ascidae) (Lo et al., 1979) Các loài khác ăn thịt nhện đã được tìm thấy gắn với nhện gié bao gồm Cheiroseius serratus (Halbert) và Cheiroseius napalensis (Evans & Hyatt) (Acari:
Trang 25Phytoseiidae (Galendromus alveolaris (DeLeon), Galendromus longipilus (Nesbitt), Galendromussp., Neoseiulus paraibensis (Moraes & Mc Murtry), Neoseiulus baraki Athias-Hen-riod, Neoseiulus paspalivorus De Leon, Proprioseiopsis asetus (Chant) và Typhlodromus sp đã được ghi nhận ăn thịt nhện gié S spinki (Ramos et al., 1998); (Cabrera et al., 2003); (Ramos et al., 2005)
Các nghiên cứu về ký sinh Cabrera (2005) cho biết nấm Hirsutela nodunosa có khả năng ký sinh gây chết nhện gié đến 71%, nấm kí sinh côn trùng khác tấn công S spinki bao gồm Penicillium spp Link, Cladosporium spp Link,
và Cephalosporium spp Corda
Navia et al., (2006) bổ sung thêm các loài nhện bắt mồi là thiên địch
của nhện gié bao gồm: Amblyseus taiwannicus, Lasioeius parberlesei, Aceodromus asternalis, Asca pineta, Hypoaspis sp., Proctolaelaps bickleyi, Galendrminus alveolaris, Galendromus longipilus, Galendromus sp., Neoseiulus parabensis, N, baraki, N paspalivorus, P.roprioseiopsis asetus, Typholodromus sp
2.2.5 Phòng trừ nhện gié
Phòng trừ nhện gié ở các vùng trồng lúa hiện nay gặp khá nhiều khó khăn vì cơ thể nhện nhỏ bé, không màu lại sống ở trong bẹ lá hay hạt lúa
Lo and Ho (1980) đã cho thấy rằng mật độ cao của S spinki có liên
quan đến mật độ cấy dầy và độ ẩm tương đối cao
Biện pháp canh tác là một tập hợp các quy trình canh tác đã được thiết lập ở các vùng bị nhiễm để giảm quần thể nhện gié (Ho et al., 1979), (Cabrera
et al., 1998), (Ramos et al., 2001), (Herna'ndez et al., 2003, 2005), (Sanabria
et al., 2005)
Để ngăn chặn sự gây hại của nhện gié lây lan từ vụ này sang vụ khác, việc làm cần thiết là tiêu diệt nguồn nhện tồn dư trong gốc rạ, trong tàn dư cây trồng và trên cây lúa chét Việc làm đất, vệ sinh đồng ruộng, cỏ dại đều có tác dụng diệt nhện gié không cho chúng có cơ hội lây lan từ vụ trước sang vụ
Trang 26sau Ngoài ra, biện pháp giãn khoảng cách giữa 2 vụ lúa cũng có tác dụng làm giảm khả năng tồn tại của nhện gié Khoảng cách giữa 2 vụ ít nhất là 25 ngày mới có khả năng làm chết và giảm khả năng tồn tại của nhện gié trên ruộng (Mendonça et al., 2004)
Mức độ bón phân đạm khác nhau, mật độ nhện gié gây hại khác nhau Nếu không bón đạm, mật độ nhện gié cao nhất 12,7 con/bẹ và 3,9 con/bẹ, ở mức 140 kgN/ha, mật độ nhện gié trên 2 giống là 13,7 và 7,6 con/bẹ, ở mức
160 kgN/ha, mật độ nhện gié là 26,1 và 12,2 con/bẹ (Mendonça et al., 2004)
Phản ứng kháng nhiễm của các giống lúa với nhện gié được quan sát trên 13 giống lúa nghiên cứu tại Trung Quốc cho thấy: có một số giống nhiễm nhện gié ở mức độ thấp như Chianung sen No.11, Tainung No.67 và Tainan No.6, trong khi đó những giống nhiễm cao hơn như Kaohsing sen No.2, Taichung sen No.2 và Tainan No.5 (Lo and Ho, 1979) Ở Costa Rica, một số giống được giới thiệu có khả năng kháng với nhện gié là FEDEAROZ 50, CFX 18 và CR 4477 (Mendonça et al., 2004)
Tại Dominica có 2 giống lúa kháng với nhện gié là Prosedoca-97 và Prosequisa- 4 (Ramos M., 2001) Hai giống này chỉ bị nhiễm nhẹ vào giai đoạn mẫn cảm của cây lúa, giai đoạn trổ đòng với tỷ lệ hại 33% và mật độ 0,26 con/dảnh (Prosedoca-97) và 0,55 con/dảnh (Prosequisa-4) Trong khi đó, giống ISA-40 và Jumba 57 bị nhiễm từ giai đoạn đẻ nhánh đến giai đoạn trỗ đòng với tỷ lệ hại trên 2 giống là 60 và 55% và mật độ nhện gié tương ứng là 0,9 và 0,75 con/dảnh
Sử dụng thuốc hóa học:
Sử dụng nhiều thuốc hóa học trong quản lý dịch hại lúa là nguyên nhân
chủ yếu liên quan đến bùng phát dịch S spinki tại Đài Loan (Ou et al., 1978)
Điều đó cũng đã được báo cáo ở Cu Ba là sự phụ thuộc vào thuốc trừ nhện
không phải là một cách hiệu quả để quản lý nhện gié S spinki và chỉ nên được
Trang 27(Ramos et al., 1998, 2000), (Cheng et al., 1999), (Almaguel et al., 2000)
Về việc sử dụng thuốc hoá học để phòng trừ nhện gié, tại Trung Quốc,
để trừ nhện S spinki người ta dùng các loại thuốc gốc Sulphua hoặc Clo Kết
quả cho thấy dùng thuốc Dimethion 30EC nồng độ 0,04% có thể trừ được
nhện S spinki Ở Cu Ba, người ta sử dụng thuốc Hostathion 40EC trừ nhện
gié trong điều kiện ở phòng thí nghiệm Hiệu lực của thuốc đạt tới 93% trong
15 ngày, thử hiệu lực của thuốc Bacillus thuringiensis sepa LBT-13, kết quả
là hiệu lực phòng trừ đạt 41,58% trong vòng 14 ngày Tuy nhiên các tác giả cũng khuyến cáo người nông dân nên thường xuyên thay đổi loại thuốc trong
xử lý và phòng trừ nhện gié để đạt hiệu quả cao nhất
Những nghiên cứu cho thấy, ở các vùng nhiệt đới đó có điều kiện thuận
lợi cho sự phát triển của nhện bắt mồi thuộc họ Phytoseiidae, đây sẽ là biện
pháp sinh học hiệu quả nếu tỷ lệ nhện bắt mồi và mật độ nhện hại thích hợp
Trong các loài thiên địch bắt mồi nhện gié, Lo và Ho (1979) cho biết
nhện bắt mồi A taiwanicus Ehara (Acarina: Phytoseiidae) là một loài thiên địch tự nhiên quan trọng của nhện gié S.spinki Tại các nhiệt độ 20oC, 25oC,
30oC và 35oC, tổng thời gian các giai đoạn phát triển của nhện bắt mồi cái A taiwanicus tương ứng là 14,00; 7,18; 4,24 và 4,04 ngày, nhện bắt mồi đực là
14,79; 7,14; 4,9; 4,20 ngày Số trứng đẻ trung bình tương ứng trên một con cái là 21,3; 25,5; 31,0 và 12,0 quả, tỷ lệ giới tính tương ứng của là 6:1; 7,2:1; 6,5:1 và 5:1, tỷ lệ chết tương ứng là 16; 12,4; 8,7 và 30%
Theo Lo và Ho (1984), loài nhện Lasioseius youcefi (Ascidae) cũng là
một trong những loài nhện bắt mồi quan trọng của nhện gié
Với thức ăn là nhện gié S spinki, vòng đời của nhện bắt mồi cái L youcefi tương ứng ở nhiệt độ 20oC, 25oC, 30oC là 10,69; 8,55; 6,40 ngày; nhện bắt mồi đực là 8,93; 5,90; 5,56 ngày Số lượng trứng đẻ trung bình tương ứng
trên một con cái là 12,0; 0,1; 7,5 quả Số lượng trứng nhện S spinki được ăn ở
các pha phát triển của nhện bắt mồi cái tương ứng với các nhiệt độ 20oC, 25oC,
30oC ở các pha là: nhện non ăn 12,4; 15,7; 21,2 quả; tiền trưởng thành ăn 17,3;
Trang 2820,0; 23,8 quả; trưởng thành ăn là 37,4; 25,7; 29,0 quả Số lượng này ở các pha của nhện đực tương ứng: nhện non ăn 8,4; 8,4; 23,9 quả; tiền trưởng thành ăn 16,3; 12,0; 15,6 quả và trưởng thành ăn 15,1; 13,6; 14,5 quả
Với thức ăn là Tarsonemus sp vòng đời của nhện bắt mồi cái là 8,5;
6,3; 6,3 ngày; nhện bắt mồi đực là 8,0; 5,6; 5,8 ngày Số lượng trứng đẻ trung bình tương ứng của một con cái là 36,8; 43,5; 28,0 quả Số lượng trứng nhện
Tarsonemus sp được tiêu thụ ở các pha phát triển của nhện bắt mồi cái tương
ứng với các nhiệt độ 20oC, 25oC, 30oC ở các pha là: nhện non tiêu thụ 21,5; 18,8; 7,0 quả; tiền trưởng thành tiêu thụ 42,0; 38,5; 37,0 quả và trưởng thành là 42,0; 38,5; 37,0 quả Số lượng này ở các pha của nhện đực là: nhện non tiêu thụ 14,5; 15,8; 15,8 quả; tiền trưởng thành tiêu thụ 29,5; 18,0; 32,6 quả; nhện trưởng thành tiêu thụ 27,5; 11,0; 30,8 quả Lo và Ho (1984)
Ngoài sử dụng nhện bắt mồi, người ta còn quan tâm đến sử dụng các chế
phẩm sinh học như từ Hirsutela nodulosa, Bacillus thuringiensis, Beauveria bassiana, Verticilin lecanii và Metazhizium anissopliae (Cabrera, 2003)
Ngoài ra, các biện pháp khác như: có khoảng thời gian bỏ hoang đất giữa các vụ, luân canh, cũng rất hiệu quả trong phòng trừ nhện gié Tuy nhiên, tốt nhất và hiệu quả nhất trong phòng trừ nhện gié hiện nay được các chuyên gia khuyến cáo là biện pháp phòng trừ tổng hợp nhện gié Phải khử trùng tất cả và thường xuyên các dụng cụ có khả năng tiếp xúc và lây nhện để hạn chế thấp nhất sự lây lan, phát tán của nhện gié Hạt đem sử dụng phải được khử trùng theo quy trình riêng bằng nhiệt độ cao, thấp, methy Bromine Thời gian cây không sinh trưởng cũng phải xử lý, ngăn chặn và tiêu huỷ tất cả nguồn bệnh của nhện gié, tiến hành khử trùng nếu thấy cần thiết
2.3 Tình hình nghiên cứu ở trong nước
2.3.1 Sự phát sinh gây hại của nhện gié
Tại Việt Nam, nhện gié đã xuất hiện và gây hại khá lâu, tuy nhiên những nghiên cứu về loài dịch hại này còn rất ít Năm 1992, Ngô Đình Hoà ghi nhận tại
Trang 29Thừa Thiên Huế có 40 ha lúa bị nhện gié hại và có đến 15% hạt bị lép
Ở Đồng bằng sông Hồng, về thành phần nhện hại lúa đã ghi nhận sự có
mặt 2 loài nhện hại là nhện gié và nhện củ cà rốt Aceria tulipae, cả 2 loài này
tác hại là không đáng kể (Nguyễn Văn Đĩnh, 1994)
Năm 1979, kết quả điều tra thành phần sâu bệnh hại lúa ở miền Nam, Viện
BVTV ghi nhận có 2 loài nhện nhện nhỏ hại lúa là S spinki thu mẫu tại Thừa Thiên - Huế và loài Oligonychus oryzae Hirst
Theo Phạm Văn Lầm (2000), ở Việt Nam, Bộ Ve bét (Acarina) hại lúa
gồm 3 loài là Steneotarsonemus spinki Smiley, Oligonychus oryzae Hirst và loài Aceria tulipae Kernel Trong đó, loài nhện gié S spinki gây hại trên lá và
bông, hai loài còn lại chủ yêu gây hại trên lá
Trong khoảng 10 năm trở lại đây, nhện gié S spinki đã trở thành đối
tượng gây hại khá phổ biến trên lúa, loài dịch hại này mới được quan tâm nghiên cứu, chủ yếu là ở Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội
Nguyễn Văn Đĩnh và Vương Tiến Hùng (2007) đã xác định trên lúa vùng Hà Nội có 8 loài nhện nhỏ gây hại thuộc 3 họ, họ Tetranychidae có 3 loài, họ Tarsonemidae có 3 loài và họ Eriophyidae có 2 loài
Nguyễn Đức Tùng và cs, (2005) đã nghiên cứu đặc điểm gây hại của 4 loài nhện nhỏ thuộc họ Nhện chăng tơ (Tetranychidae) trên lúa và ngô
Lần đầu tiên, Nguyễn Văn Đĩnh và Trần Thị Thu Phương (2006) đã xác định mức độ gây hại của nhện gié khi lây nhiễm trong phòng thí nghiệm và ghi nhận năng suất giảm 42,3-48,3% Đỗ Thị Đào và cs (2008) đã xác định nếu được phòng trừ nhện gié đúng kỹ thuật tại Cẩm Giàng, Hải Dương, năng suất tăng hơn so với đối chứng là 59,6% Từ những kết quả nghiên cứu mới đây, các tác giả đã cảnh báo mức độ nguy hiểm của loài nhện gié và bước đầu
đề xuất biện pháp để ngăn ngừa nhện gié trong sản xuất
2.3.2 Đặc điểm sinh học, sinh thái
Nhện thuộc họ Tarsonemidae, có sự khác nhau về hình thái rõ rệt giữa
Trang 30trưởng thành đực và cái Con đực phía cuối có cấu tạo đặc thù được gọi là u lồi sinh dục hay đĩa sinh dục Trong đĩa này có dương cụ hình kim Con cái có cấu tạo đặc trưng, hình chùy được gọi là lỗ thở giả nằm giữa đốt háng thứ I và II
Nhện gié trưởng thành cái có hình ô van, 2 đầu thon nhọn, màu trắng
hoặc trắng vàng, kích thước con cái 0,25 ± 0,03 mm và có 4 đôi chân Trưởng thành đực ngắn hơn con cái, màu trắng đến trắng vàng, kích thước 0,23 ± 0,02
mm Trứng có hình bầu dục màu trắng trong đến trắng sữa, trơn bóng, thường được đẻ tập trung thành cụm hoặc đôi khi đẻ rải rác (Nguyễn Văn Đĩnh và Vương Tiến Hùng, 2007)
Nhện gié có vòng đời ngắn, trung bình 9,33 ngày ở 24,6oC và 5,83 ngày ở 29,9oC (Nguyễn Văn Đĩnh và Trần Thị Thu Phương, 2006)
Cho đến khi đề tài tiến hành, nghiên cứu về các yếu tố sinh thái trong
đó có thiên địch ảnh hưởng đến sự phát sinh gây hại của nhện gié và các biện pháp phòng chống nhện gié chưa được đề cập
Trang 31CHƯƠNG 3 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
3.1.1 Thời gian nghiên cứu
Đề tài được thực hiện từ tháng 1 năm 2010 đến tháng 12 năm 2012
3.1.2 Địa điểm nghiên cứu
- Thí nghiệm ngoài đồng được thực hiện tại trường ĐHNN Hà Nội, Gia Lâm, Hà Nội; Cẩm Giàng, Hải Dương; Lý Nhân, Hà Nam; Châu Thành, An Giang
- Thí nghiệm trong phòng gồm nuôi sinh học, đặc điểm sinh thái học được thực hiện tại phòng Sinh thái Côn trùng và phòng IPM nhện gié, Khoa Nông học trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội
- Mô hình IPM nhện gié được thực hiện tại 7 điểm: HTX Cấm Sơn, Cẩm Giàng, Hải Dương; Mạc Hạ, Công Lý, Lý Nhân, Hà Nam; Nam Thanh, Nam Đàn và Nghi Mỹ, Nghi Lộc, Nghệ An; Hương Chữ, Hương Trà, Thừa Thiên-Huế; Hoà Bình Thạnh, Châu Thành, An Giang; An Phong, Thanh Bình, Đồng Tháp
3.2 Vật liệu và dụng cụ nghiên cứu
3.2.1 Vật liệu nghiên cứu
- Nhện gié Steneotarsonemus spinki Smiley
- Nhện bắt mồi Lasioseus chauhdrii Wu & Wang
- 80 giống lúa là những giống trồng phổ biến tại 3 vùng trồng lúa trọng điểm
- Các loại thuốc BVTV trừ sâu, nhện và trừ bệnh hại: Kinalux 25EC (Quinalphos); Comite 73EC (Propargite), Nissorun 5EC (Hexythoazox), Danitol 10EC (Fenropropathrin 10%), Catex 1,8EC (Abamectin 1,8%), Regent 800WG (Fipronil), Conphai 10WP (Imidacloprid), Tilt super 300EC (Difenoconazole 150g/l + Propiconazole 150g/l), Anvil 5SC (Hexaconazole)
Trang 323.2.2 Dụng cụ nghiên cứu
- Túi nilon các cỡ, giấy nilon, giấy lọc, giấy bản và bông thấm nước Hộp petri, khay, ống nghiệm, lồng nuôi sâu, bút lông, chổi lông, kim côn trùng số 00, kim mũi mác, panh, lam kính, dao lam, chậu vại, lưới cách li, lồng cách li côn trùng, ống đong, bình phun thuốc, máy bơm nước, quạt gió
- Kính lúp cầm tay, kính lúp soi nổi (Carl zeiss) cùng phụ kiện khác để chụp ảnh, tủ định ôn (RXZ Intelletual Artifical Climate Oven), tủ lạnh, máy ảnh và cân điện tử (Sartorius, Đức)
3.3 Nội dung nghiên cứu
Đề tài có các nội dung nghiên cứu bao gồm
1 Xác định mức độ gây hại của nhện gié
2 Đặc điểm hình thái nhện gié,
3 Đặc điểm sinh học nhện gié
4 Đặc điểm sịnh thái học nhện gié
5 Biện pháp phòng chống nhện gié
6 Xây dựng Qui trình phòng trừ tổng hợp nhện gié hại lúa hiệu quả
và thân thiện với môi trường cho 3 vùng sản xuất lúa chính
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Xác định mức độ gây hại của nhện gié
3.4.1.1 Điều tra diễn biến mật độ nhện gié
Điều tra được tiến hành vào 2 năm 2010 và 2011 tại 7 điểm đại diện cho 7 vùng sinh thái, bao gồm:
- Vùng miền núi Tây Bắc bộ: xã Chiềng Cơi, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La
- Vùng đồng bằng sông Hồng: xã Công Lý, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam
- Vùng Bắc Trung bộ: xã Hưng Đạo, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An
- Vùng Nam Trung bộ: xã Nghĩa Thương, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng
Trang 33- Vùng Tây Nguyên: thị trấn Liên Sơn, huyện Lăc, tỉnh Đắc Lắc
- Vùng Đông Nam bộ: xã Phú Lâm, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai
- Vùng Tây Nam bộ: xã Vĩnh Phú, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang Phương pháp điều tra nhện gié được áp dụng theo Quy chuẩn Việt nam (QCVN 1-38) (Bộ NN & PTNT, 2010) trong thời gian 2-3 vụ lúa của 1 năm
Cụ thể: Điều tra định kỳ 7 ngày một lần, trên mỗi ruộng điều tra 10 điểm theo đường chéo góc, mỗi điểm điều tra 10 khóm, mỗi khóm 1 dảnh, điểm điều tra phải cách bờ ít nhất 2 m Các dảnh lúa điều tra được thu cho vào túi nilon đem về phòng thí nghiệm soi trên kính lúp 40x, xác định mật độ nhện gié, trứng nhện có trên từng dảnh
Chỉ tiêu điều tra:
Tổng số nhện hại điều tra (con) Mật độ nhện =
(con/dảnh) Tổng số dảnh điều tra
3.4.1.2 Xác định mức độ gây hại
Trong quá trình điều tra thu mẫu ở ngoài đồng ruộng đưa về phòng thí nghiệm, cùng với việc xác định mật độ nhện gié tiến hành đánh giá xác định mức độ gây hại của nhện gié
Chỉ tiêu điều tra:
Trang 34N1 là số dảnh có nhện hại tương ứng ở cấp 1
N3 là số dảnh có nhện hại tương ứng ở cấp 3
Nn là số dảnh có nhện hại tương ứng ở cấp n Phân cấp hại: theo thang 9 cấp như với bệnh đạo ôn Trước trỗ:
3.4.2 Đặc điểm hình thái nhện gié
Thu các dảnh lúa có triệu chứng hại của nhện gié ở ngoài đồng đưa về phòng thí nghiệm, dùng dao lam cắt ống thân và quan sát mặt trong của bẹ lá dưới kính lúp độ phóng đại 40x Kết hợp với nhân nuôi nhện gié trong ống thân lúa ở phòng thí nghiệm, mô tả đặc điểm hình thái, màu sắc các pha phát dục: trứng, nhện non di động, nhện non không di động, nhện trưởng thành đực và trưởng thành cái của nhện gié
Mỗi pha phát dục lấy 30 cá thể, tiến hành đo kích thước chiều dài và
Trang 35Làm mẫu lam các pha phát triển, mô tả đặc điểm phân loại như lông, chân (Smiley, 1967), (Jeppson et al., 1975)
3.4.3 Đặc điểm sinh học nhện gié
3.4.3.1 Nuôi sinh học
Chuẩn bị vật liệu nuôi nhện: Lấy thân lúa giống Khang dân 18 sau trỗ 2-7 ngày, bóc hết bẹ lá gốc để lấy phần ống thân Dùng dao lam cắt 1 đoạn ống thân ở đốt thứ 2 từ gốc lên có chiều dài 6 cm Phần ống thân cách về phía đốt gốc 1,0 cm (1) - phần này được cắt vát tạo thành hình lòng máng và đây là nơi nuôi nhện gié, đốt (2) và ống thân trên (3), đoạn này dài 5 cm dùng để cắm vào xốp cắm hoa (hình 3.1)
1 cm
5 cm
Hình 3.1 Ống thân cây lúa dùng để nuôi sinh học nhện gié
(1) Phần ống thân dùng để nuôi sinh học nhện gié; (2) Đốt của thân cây lúa;
(3) Phần ống thân lúa để cắm vào xốp cắm hoa
(Nguồn: Lê Đắc Thủy, 2011) Buổi chiều, từ 16-18 giờ, dùng bút lông 01 sợi (kích thước 0,1 mm) chuyển 5-7 nhện cái trưởng thành di động chậm đang đẻ trứng vào phần ống thân lúa đã chuẩn bị như hình 2.1 để nuôi sinh học, cuốn kín nilon ở phần đầu ống thân đã có chứa nhện (từ 33-35 ống thân lúa đã được chuyển nhện để nuôi, các ống thân được dán giấy ghi số thứ tự) Cắm phần đầu ngọn của ống thân vẫn còn bẹ lá xuống tấm xốp cắm hoa được phun ẩm Đặt các tấm xốp
có các ống thân nuôi nhện trên giá đỡ trong hộp nhựa kích thước 50 x
35 x 25 cm có chứa dung dịch K2SO4 bão hòa Hộp nhựa được phủ nilon đen,
Trang 36đặt trong tủ định ôn ở các nhiệt độ khác nhau, cách nhau 2,5oC, ẩm độ 97% Sau 2 giờ khi đã chuyển nhện cái vào ống thân, lấy các ống thân và mở nilon, kiểm tra qua kính lúp độ phóng đại 40x Dùng bút lông 01 sợi chuyển tất cả nhện cái và trứng ra, chỉ để lại 1 quả trứng trong ống thân, cuốn nilon kín phần đầu ống thân, cắm các ống thân như hình 3.1, đặt trong hộp nhựa đưa vào tủ định ôn để theo dõi các chỉ tiêu sinh học Các trứng được giữ lại nuôi sinh học đảm bảo đều được đẻ trong cùng khoảng thời gian 2 giờ
Theo dõi được tiến hành ngày 1 lần xác định thời gian trứng nở, sự chuyển tuổi của nhện non Khi nhện chuyển sang giai đoạn nhện non không di động thì chuyển 1 nhện trưởng thành đực vào cho ghép đôi đến khi nhện non không di động chuyển sang pha trưởng thành thì chuyển nhện đực, cái sang ống thân mới
Sau khi ghép đôi, tiến hành theo dõi ngày 3 lần vào 6 giờ, 14 giờ và 22 giờ để xác định thời gian đẻ quả trứng đầu tiên Sau đó theo dõi được tiến hành ngày 1 lần xác định số lượng trứng đẻ hằng ngày, thời gian sống của nhện trưởng thành cái tới chết sinh lý
Trong thời gian nhện đẻ trứng, trứng được chuyển ra còn trưởng thành cái vẫn giữ lại trong ống thân Trứng đẻ ở các ngày thứ 2, thứ 4 và thứ 6 được giữ lại trong ống thân cũ để theo dõi tỷ lệ trứng nở và tiếp tục theo dõi tới pha trưởng thành để xác định giới tính, trưởng thành cái được chuyển sang ống thân mới Trong quá trình nuôi, 5 ngày thay ống thân lúa 1 lần, theo dõi tới khi trưởng thành cái chết sinh lý
Các chỉ tiêu theo dõi:
+ Thời gian phát dục trung bình của 1 cá thể
X =
N
ni Xi
(ngày) Trong đó: X là thời gian phát dục trung bình
Xi là thời gian phát dục của cá thể thứ i
ni là số cá thể phát dục ở ngày thứ i
N Tổng số cá thể theo dõi
Trang 37Tổng số trứng đẻ
+ Khả năng đẻ trứng trung bình: X =
Tổng số con cái thí nghiệm
+ Thời gian sống của trưởng thành nhện gié (ngày)
X =
N
ai ni
Trong đó: X là thời gian sống trung bình
ai là thời gian sống của các cá thể đến ngày thứ i
Tổng hợp các chỉ tiêu về sinh học của nhện gié như sức đẻ trứng, tỷ lệ trứng nở, tỷ lệ đực cái đã lập được bảng sống của nhện gié ở các mức nhiệt độ với ẩm độ 97%.
Tỷ lệ tăng tự nhiên (r) theo Birch (1948) được tính theo phương trình:
∑ lx mx e-r t = 1 (3)
Trang 38Trong đó: lx là tỷ lệ sống qua các tuổi x (tỷ lệ sống ở thời điểm ban đầu
lx0 = 100% = 1); mx số con cái sống sót trung bình được một cá thể mẹ ở tuổi
x đẻ ra trong một đơn vị thời gian
Hệ số nhân của một thế hệ Ro là tổng số con cái sinh ra sống sót trong một thế hệ do một mẹ đẻ ra: Ro = ∑lx.mx (4)
Thời gian của một thế hệ (generation time) là tuổi trung bình của tất cả các cá thể mẹ khi đẻ ra con cái Chỉ số này tính bằng các giá trị T và Tc T tính theo cơ sở của mẹ, Tc tính theo cơ sở con mới sinh ra (Nguyễn Văn Đĩnh, 1994)
Thời gian tăng đôi quần thể DT = ln(2)/r (8)
Sử dụng phần mềm tỷ lệ tăng tự nhiên trong Microsoft Excel để tính toán các chỉ số sinh học
3.4.3.2 Phân bố của nhện gié trên cây lúa
Thu cả dảnh lúa ngoài đồng ruộng, đưa vào túi nilon, soi dưới kính lúp với độ phòng đại 40x xác định mật độ nhện gié (trứng và các pha phát dục) trên từng bộ phận của cây lúa như phiến lá, gân lá, bẹ lá, hoa lúa, hạt lúa Dùng dao lam và kim côn trùng tách bẹ lá, gân lá, hoa lúa để xác định mật độ của nhện gié bên trong các bộ phận này
Mô tả các đặc điểm hình thái, màu sắc của bộ phận bị nhện gié hại
3.4.4 Đặc điểm sinh thái học của nhện gié
3.4.4.1 Điều tra diễn biến mật độ và mức độ gây hại của nhện gié theo các yếu tố (giống, chân đất, mùa vụ)
Phương pháp điều tra diễn biến mật độ và mức độ gây hại của nhện gié
Trang 39Địa điểm thực hiện tại Cẩm Sơn, huyện Cẩm Giàng, Hải Dương và Trâu Quỳ, Gia Lâm, Hà Nội
3.4.4.2 Ảnh hưởng của phân đạm
Diễn biến mật độ và mức độ gây hại của nhện gié ở các mức phân đạm khác nhau được bố trí trên giống Khang dân 18 vụ mùa chính vụ 2010, tại Cẩm Sơn, huyện Cẩm Giàng, Hải Dương với 3 công thức, mỗi công thức diện tích 300 m2, không nhắc lại
Công thức 1: 100 kgN/ha
Công thức 2: 120 kgN/ha
Công thức 3: 150 kgN/ha)
3.4.4.3 Mức độ nhiễm nhện gié của các giống lúa
Cấy 80 giống trên cùng 1 ruộng thí nghiệm, mỗi giống cấy trên 1 ô rộng 1 m2 (2 dảnh/khóm, 40 khóm/m2) Dùng nilon quây xung quanh mỗi ô thí nghiệm, phía trên dùng vải màn trắng phủ kín nhằm hạn chế tối đa sự gây hại của sâu bệnh
Sau cấy 30 ngày bắt đầu lây thả nhện cái trưởng thành ít di động, 20 con/dảnh Đầu tiên chuyển 20 nhện cái trưởng thành di động thả vào ống thân cây lúa dài 4 cm, sau khi thả nhện dùng giấy nilon mỏng (màng bọc thức ăn) bọc ống thân cây lúa-việc này được thực hiện dưới kính lúp Sau đó trước khi cắm ống thân có nhện vào nách dảnh lúa bỏ nilon ra để nhện tự di chuyển sang thân cây lúa Lây nhiễm toàn bộ số dảnh trong khóm lúa
Chỉ tiêu theo dõi mật độ nhện gié vào giai đoạn lúa trỗ trên dảnh Cắt
15 dảnh lúa mỗi giống, đem về phòng thí nghiệm đếm số nhện gié dưới kính lúp có độ phóng đại 40 lần
Mức độ nhiễm nhện gié của các giống lúa được chúng tôi qui ước, đánh giá dựa vào bảng phân cấp mật độ nhện và mức độ nhiễm nhện gié (bảng 3.1) Cùng các chỉ tiêu này chúng tôi đã sử dụng chiều dài vết hại để phân cấp mức
độ hại của các giống lúa (bảng 3.2)
Trang 40Bảng 3.1 Phân cấp mật độ và mức độ nhiễm nhện gié của các giống lúa
Bảng 3.2 Phân cấp mức độ hại theo chiều dài vết hại
STT Chiều dài vết hại (cm) Cấp hại Mức độ nhiễm Kí hiệu
Đồng thời tiến hành cấy các loài cỏ vào xô nhựa, tạo vết thương cơ giới sau đó lây nhiễm nhện gié (khoảng 100 cá thể) lên các loài cỏ dại, sau 30 ngày kiểm tra sự có mặt của nhện gié trên cỏ dại Quy ước chung là nếu nhện gié sinh sống và hoàn thành được vòng đời trên loài cỏ dại thì ta xác định loài
cỏ dại là ký chủ của chúng
3.4.4.5 Phương pháp xác định khả năng phát tán, lây lan của nhện gié
* Khả năng lây lan qua vết thương cơ học
Đánh giá khả năng xâm nhập lây lan của nhện gié qua vết thương cơ