1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

skkn hướng dẫn học sinh cách cảm thụ thơ để rèn kỹ năng viết văn

17 554 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 155,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, muốn có được như thế thì đòi hỏi sự nỗ lực từ nhiều phía kể cả người học, người dạy, và phụ huynh, cả người quản lí chuyên môn chứ không chỉ phía người dạy, do đó mong muốn ch

Trang 1

PHÒNG GD&ĐT THANH OAI CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIẾT NÀM

-ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

Năm học 2012-2013

SƠ YẾU LÍ LỊCH

- Họ và tên: NGUYỄN THỊ HỒNG NHIÊN

- Ngày , tháng, năm sinh: 09/06/1978

- Nguyên quán: Tổ 4, Phú Lãm, Hà Đông, Hà Nội

- Trú quán : Tổ 4, Phú Lãm, Hà Đông, Hà Nội

- Dân tộc: Kinh

- Nơi công tác: Trường THCS Cao Viên, Thanh Oai, Hà Nội

- Chức vụ: Tổ phó tổ Xã Hội, Bí thư đoàn Trường

- Chuyên môn đào tạo: Văn - CTĐ

- Trình độ chuyên môn: Đại học Văn

- Trình độ chính trị: Sơ cấp

- Ngày vào đảng: 20/7/2009

- Năm vào ngành GD & ĐT: 1999

- Số năm trực tiếp giảng dạy: 14 năm

- Khen thưởng:

+ Năm học 2009-2010 đạt chiến sĩ thi đua cấp cơ sở

+ Năm học 2010-2011 đạt chiến sĩ thi đua cấp cơ sở

+ Năm học 2011-2012 đạt chiến sĩ thi đua cấp cơ sở

+ Năm 2012 được tặng giấy khen của Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Huyện về thành tích thi đấu thể dục thể thao cấp thành phố

Trang 2

A ĐẶT VẤN ĐỀ

I TÊN ĐỀ TÀI:

“HƯỚNG DẪN HỌC SINH CÁCH CẢM THỤ THƠ ĐỂ RÈN KỸ NĂNG VIẾT

VĂN”

II LÍ DO CHỌN ĐỂ TÀI:

Làm nghề dạy học, ai cũng muốn học sinh yêu và học môn của mình, có học sinh giỏi, đặc biệt là với những người tâm huyết với nghề nghiệp, họ luôn dồn hết sức lực và trí tuệ của mình để đạt được những mong muốn đó Tuy nhiên, muốn có được như thế thì đòi hỏi sự nỗ lực từ nhiều phía (kể cả người học, người dạy, và phụ huynh, cả người quản lí chuyên môn) chứ không chỉ phía người dạy, do đó mong muốn chính đáng của người thầy giáo không chỉ dựa vào sự nỗ lực của chủ quan mà thành hiện thực được (và giáo viên văn cũng không phải là ngoại lệ, đó là chưa nói đến để có được học sinh giỏi văn còn có nhiều cái khó hơn các môn khác)

Thực tế cho thấy, hiện nay số học sinh học văn và giỏi văn có chiều hướng ngày càng giảm đi, mà chất lượng của những em được công nhận cũng không cao,

số bài viết giàu “chất văn” ngày càng hiếm mà nguyên nhân một phần là do học sinh không muốn học môn văn vì sau này ít có cơ hội chọn nghề; phần vì học sinh thì không có hứng thú, không tìm thấy sự hấp dẫn ở môn văn, hơn nữa học môn văn thường điểm không cao ( giáo viên chỉ hay cho thang điểm 5-6-7, hiếm khi được điểm 8 điểm 9 cho dù học sinh đã có những cố gắng) Còn người dạy thì cứng nhắc, rập khuôn, làm hạn chế sức sáng tạo của học sinh, ( em nào viết văn phải theo như đáp án mới cao điểm) Thế nên tôi muốn cùng các đồng nghiệp trao đổi một số kinh nghiệm trong công tác bồi dưỡng môn văn cho học sinh lớp 9 Tuy nhiên

trong khuôn khổ của một đề tài, tôi chỉ dám đề cập đến vấn đề : Hướng dẫn học

sinh cách cảm thụ thơ để rèn kỹ năng viết văn.

III PHẠM VI, THỜI GIAN THỰC HIỆN ĐỂ TÀI.

Trang 3

Trên cơ sở những kinh nghiệm đã tích lũy được của cá nhân qua nhiều năm dạy học tôi đã mạnh dạn nghiên cứu đề tài này để áp dụng vào giảng dạy và ôn luyện cho học sinh lớp 9 hiện tại và những khóa học sau

Đề tài của được thực hiện tại trường THCS Cao Viên, huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội trong thời gian một năm học (2012-2013)

B NỘI DUNG CHÍNH CỦA ĐỂ TÀI

I KHẢO SÁT THỰC TẾ

Hiện nay, phần lớn học sinh trường tôi nói riêng và các trường khác nói chung không thích học văn nên thường học qua loa, đối phó, không nắm được các giá trị nội dung, giá trị nghệ thuật của các tác phẩm, không nhớ tác phẩm đó của ai, hoàn cảnh sáng tác như thế nào? Thậm chí nếu văn tác phẩm là thơ thì cũng không thèm học thuộc (cho dù những bài thơ thật hay) Những nét khái quát của tác phẩm không nắm được thì không có gì để viết, dẫn đến bài viết thiếu ý; văn viết khô khan; nghĩ sao viết vậy chứ không biết gọt dũa, không biết dùng các biện pháp tu từ thích hợp để cho bài viết sinh động Thực trạng này đã được nhiều giáo viên tâm huyết với nghề trao đổi trên diễn đàn của báo Giáo dục & Thời đại, báo Văn vn net (Cơ quan ngôn luận của Hội nhà văn Việt Nam) và lý do đưa ra cũng khá phong phú, đa dạng, “Có thể là do yếu tố khách quan như cơ chế thị trường, do nhận thức lệch lạc của gia đình, của không ít người về vị trí của các môn Khoa học xã hội nói chung, của môn văn nói riêng trong xã hội; do học trò còn lười học, mải chơi ” ( trích trong bài viết “Vì sao học sinh không thích học văn” của Nguyễn Thị

Hoài-HT trường THCS Khoái Châu - Hưng Yên) song theo tôi tập trung chủ yếu vào các nguyên nhân sau:

* Nguyên nhân

-Người dạy văn chưa truyền được cái hay của tác phẩm văn chương sang cho người học (kể cả cách cảm thụ cũng như kỹ năng viết những câu văn giàu hình tượng)

Trang 4

-Chưa trang bị những kiến thức cơ bản về các thể loại văn học cho học sinh nên phần lớn học sinh hiểu trong văn học cũng như ngoài đời, do đó dẫn đến tình trạng khi làm văn thấy sao viết vậy ( nhất là trong văn miêu tả và văn tường thuật) mà thiếu đi sự chọn lọc, làm cho bài văn trở nên trần trụi, sa vào “chủ nghĩa tự nhiên” -Chưa phân biệt được ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết nên khi viết văn vẫn dùng

từ như ngôn ngữ nói

-Một số giáo viên chưa nêu cao tinh thần trách nhiệm khi chấm, trả bài nên học sinh không nhận ra thiếu sót để sửa chữa cho những bài sau ; thậm chí đọc bài hờì hợt, không phát hiện ra những tứ văn mới, những sáng tạo (dù nhỏ) của học sinh,

do đó không có sự khuyến khích kịp thời và đó cũng là lý do làm thui chột lòng ham thích học văn của các em

Tất cả những lý do trên đây đã “góp phần không nhỏ” vào việc làm cho học sinh thích học văn ngày càng ít đi, vì thế mà trong một khoá học có hàng trăm em, nhưng để chọn 3-5 em đi bồi dưỡng học sinh giỏi văn thì đúng là “Nhân tài như lá mùa thu” (đó là chưa kể có em giỏi văn nhưng lại muốn đi học bồi dưỡng kiến thức cho những môn “thời thượng” hơn) cho nên để có học sinh giỏi văn thật khó!

Từ thực tế trên, qua những việc đã làm của bản thân, tôi muốn được cùng các đồng nghiệp chia sẻ, trao đổi để ngày càng có nhiều học sinh thích học văn hơn Do

đó, tôi mạnh dạn đề xuất một số biện pháp mà bản thân tôi đã làm trong thời gian qua

II SỐ LIỆU ĐIỀU TRA TRƯỚC KHI THỰC HIỆN ĐỂ TÀI

Vào đầu năm học 2012-2013 tôi được phân công dạy lớp 9A- Trường THCS Cao Viên, lớp có 45 học sinh Mặc dù là lớp đứng đầu của trường nhưng điểm văn của các em không cao và đặc biệt là không hào hứng, thích thú khi học môn văn Trong giờ học, học sinh rất trật tự và chăm chú nghe giảng nhưng khi được hỏi thì không trả lời được

Khảo sát thực tế bằng bài kiểm tra viết cho thấy:

Trang 5

Sĩ số học sinh Giỏi Khá Trung bình Yếu

45 7 30 7 0 Khảo sát bằng kiểm tra thuộc lòng những tác phẩm đã học không học sinh nào thuộc nội dung bài giảng cũng như nội dung văn bản

Trước thực trạng đó tôi đã tìm hiểu: thực tế các em không thích văn bằng các môn học tự nhiên vì không nắm được cách làm bài

III CÁC BIỆN PHÁP THỰC HIỆN (Nội dung chủ yếu của đề tài)

- Bước 1: Phân loại những học sinh có khả năng cảm thụ văn học và những học sinh chưa có khả năng cảm thụ văn học:

( Vì trên thực tế có những học sinh chưa xác định rõ cách học và làm bài chứ không phải là học sinh không học được)

Qua một thời gian dạy, sau những bài kiểm tra và bài viết, em nào có cách diễn đạt linh hoạt, không viết lại những nội dung mà giáo viên đã cho ghi khi học, không theo khuôn mẫu nào thì giáo viên nên khuyến khích, động viên (có thể cho

điểm cao, mặc dù bài viết chưa xứng đáng như thế) để các em mạnh dạn viết theo cách hiểu, cách cảm của mình, có như thế mới phát huy được tính sáng tạo trong học sinh Mà muốn cho học sinh biết cảm thụ thì trước hết người dạy phải đem được cái hay của văn chương đến cho người học, giúp cho học sinh kỹ năng cảm thụ cái hay cái đẹp của tác phẩm qua những biện pháp tu từ mà tác giả đã dụng công sử dụng (Lưu ý là những em đạt điểm cao trong các bài kiểm tra và các bài làm văn không đồng nhất với những em ta sẽ chọn đi bồi dưỡng văn Vì điểm cao

là chỉ mới biểu hiện của việc nắm được kiến thức và đạt chuẩn theo đáp án chứ chưa hẳn là biết cảm thụ)

Thường, những em học giỏi là những em luôn khát khao bay vào thế giới tri thức, ham hiểu biết, muốn khám phá và đó cũng chính là những em biết thưởng thức cái đẹp, có tâm hồn trong sáng, lãng mạn nên bài viết thường đậm chất nhân văn, vì thế sau khi được tiếp xúc với những tác phẩm giàu tính nghệ thuật, thấm đẫm tinh thần nhân đạo thì các em đã phần nào cảm thụ được cái hay của tác phẩm,

Trang 6

chỉ cần giáo viên hướng dẫn các em cách tiếp cận, cách khai thác là các em có thể chiếm lĩnh tác phẩm(ở đây chỉ bàn về việc tiếp cận các tác phẩm là thơ)

-Bước 2: Giúp học sinh nhận biết mối quan hệ giữa “cảnh” và “tình” trong tác phẩm để có cơ sở hiểu các tầng nghĩa mà người viết muốn gửi gắm

Để có quan điểm đúng khi tiếp cận tác phẩm, giáo viên cần cho học sinh thấy

được mối quan hệ giữa “cảnh” và “tình” trong dụng ý tả cảnh của tác giả.

Quan điểm đó đã được đại thi hào Nguyễn Du viết:

“Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu

Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ?”

Ví dụ, khi miêu tả nỗi buồn, muốn làm cho người đọc thấy được nỗi buồn đang từng ngày từng giờ gặm nhắm tâm hồn con người, làm cho người ta có cảm giác thời gian trôi đi chậm chạp, dài lê thê thì Nguyễn Du viết :

“Sầu đong càng lắc, càng đầy

Ba thu dọn lại một ngày dài ghê”

Nhưng nếu tâm trạng vui thì thường chúng ta lại thấy nó trôi qua rất nhanh, cho nên mới có cảm giác “ Ngày xuân con én đưa thoi/ Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi” hay “Ngày xuân ngắn chẳng tày gang” ( Truyện Kiều- Nguyễn Du) là vì vậy

Hoặc khi đọc Chùm thơ thu “ Thu ẩm, Thu điếu, Thu vịnh” của Nguyễn Khuyến, ta không thấy câu từ nào miêu tả nỗi buồn của tác giả nhưng đọc cả bài thơ lên ta lại cảm nhận được nỗi buồn man mác đang bàng bạc khắp cỏ cây mây nước, như trùm lấy không gian tĩnh lặng của làng quê nơi tác giả đang ngồi câu cá bởi cái vần “eo”(nước trong veo, bé tẻo teo, khẽ đưa vèo) cùng với cách gieo vần độc đáo trong khuôn khổ của một bài thất ngôn bát cú Đường luật Và với cảnh đó, tình đó; phần nào giúp ta thấy được thế sự của đất nước mình hồi bấy giờ

Một ví dụ khác: trong “Ông đồ” của Vũ Đình Liên, để khắc hoạ đậm nét thời tàn tạ của Nho học (khi mà xu hướng Tây học đang dần dần lấn át xu hướng Nho

Trang 7

học), tác giả chỉ cần sử dụng một lát cắt của cuộc sống qua hình ảnh ông đồ cùng

“mực tàu, giấy đỏ” vào những ngày tết đến xuân về, nhưng ở những khổ thơ khác nhau thì ông đồ cũng hiện lên khác nhau Người đọc sẽ nhận thấy thời hoàng kim của ông đồ khi mà “Bao nhiêu người thuê viết/ Tấm tắc ngợi khen tài/ Hoa tay thảo những nét / Như phượng múa rồng bay” và cũng dễ dàng nhận ra cái thời huy hoàng đó đang dần lùi xa, nhường chỗ cho sự tàn lụi: “Ông đồ vẫn ngồi đấy/ Qua đường không ai hay/ Lá vàng rơi trên giấy/ Ngoài trời mưa bụi bay” qua hình ảnh

“lá vàng rơi”, “mưa bụi bay” cùng với sự thời ơ, vô cảm của dòng người đang hối

hả đi sắm tết

Tóm lại giữa “cảnh” và “tình” có mối quan hệ mật thiết, hữu cơ với nhau, cho nên qua “cảnh” ta có thể hiểu “tình” và ngược lại qua “tình” ta cũng có thể hiểu

“cảnh” để từ đó có định hướng hiểu đúng tác phẩm

- Bước 3: Yêu cầu học sinh nắm chắc tiểu sử tóm tắt của các tác giả và cung cấp một số kiến thức lịch sử liên quan để có cơ sở hiểu đúng tác phẩm:

Nếu không nắm được tiểu sử tác giả và hoàn cảnh sáng tác thì khi phân tích thơ dễ có sự lệch lạc, không hiểu đúng tác phẩm và nhất là không có kiến thức để viết phần mở bài (nếu không nhớ năm sinh – năm mất thì cũng phải nhớ được thời đại tác giả sống).Còn nếú không nắm được các mốc lịch sử thì sẽ không có cơ sở để hiểu một số tác phẩm Nếu không biết nhà thơ Chính Hữu đã hoạt động trong quân đội suốt hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ ; hầu như ông chỉ viết về đề tài người lính và chiến tranh Không biết hoàn cảnh ra đời của bài “ Đồng chí” (đầu những năm kháng chiến chống Pháp- 1948) thì khi đi tìm hiểu phân tích bài thơ này khó mà thấy hết được về chất thực của đời sống kháng chiến và vẻ đẹp của tình đồng chí, đồng đội của những người nông dân mặc áo lính trong thời

kì đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp Hay, nếu không nắm được tiểu sử của nhà thơ Thanh Hải và hoàn cảnh ra đời của bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” thì các em khó mà hiểu sâu sắc được vẻ đẹp tâm hồn và ý nguyện của ông qua bài thơ (Nếu

Trang 8

không biết năm 1954, nước ta tạm thời chia làm hai miền bằng giới tuyến quân sự

tạm thời ở sông Bến Hải thì sẽ không hiểu được những câu thơ trong bài “Ta đi tới” của Tố Hữu :

“Lòng ta không giới tuyến

Lòng ta chung một Cụ Hồ

Lòng ta chung một thủ đô

Lòng ta chung một cơ đồ Việt Nam.”

Hoặc không nắm được nhân dân ta phải trải qua cuộc kháng chiến chống Pháp trường kỳ từ 1946-1954 thì cũng không hiểu tại sao lại có “Chín năm làm một Điện Biên/ Nên vành hoa đỏ nên thiên sử vàng” và cũng không hiểu đầy đủ “56 ngày đêm khoét núi ngủ hầm, mưa dầm cơm vắt/ Máu trộn bùn non, gan không núng chí không mòn” của quân dân ta trong chiến dịch Điện Biên phủ lịch sử.)

Đối với các tác giả: tương tự như vậy, nếu ta không hiểu về quá trình hoạt động; về thời đại tác giả sống; về phong cách, thể loại viết; về những đóng góp cho nền văn học nước nhà thì cũng hạn chế đến việc hiểu đúng tác phẩm Ví dụ: nếu như Tố Hữu là người sớm bắt gặp lý tưởng của Đảng, sớm đi theo cách mạng “ Mặt trời chân lí chói qua tim/ Hồn tôi là một vườn hoa lá…” thì Chế Lan Viên lại phải

mất một thời gian để “tìm đường, nhận đường” cho nên khi đến với cách mạng, khi

được trở về với vòng tay dang rộng của nhân dân đã phải thốt lên:

“Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ

Cỏ đón giêng hai chim én gặp mùa

Như đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa

Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa”

Nhìn chung lại, muốn có kiến thức để viết bài và hiểu đúng tác phẩm thì việc hiểu tác giả và nắm chắc các mốc lịch sử là điều không thể thiếu

- Bước 4: Cho học sinh tiếp cận với những bài thơ, đoạn thơ hay:

Trang 9

Mục đích của việc này là tạo hứng thú và niềm đam mê học văn cho các em ( giáo viên nên phân tích và chỉ cho học sinh thấy cái hay của những bài đó) Đặt ra cho học sinh câu hỏi: Bài thơ hay là do đâu? Những hình ảnh, những câu từ nào đã góp phần làm nổi bật cái hay ? Nhờ biện pháp tu từ nào mà họ làm cho ta thấy được

cái hay của bài thơ, đoạn thơ đó v.v Muốn thế, khi tiếp cận đoạn thơ, ta hãy chú ý

đến : màu sắc, hình khối, đường nét, âm thanh mà tác giả đã sử dụng Gọi tên được các biện pháp tu từ và thấy được tác dụng của biện pháp tu từ đó, đồng thời chú ý đến nhịp thơ: cách ngắt nghỉ, nhịp thơ dài hay ngắn; cách dùng các từ láy (từ láy tượng hình hay tượng thanh) v.v

Ví dụ: học sinh sẽ thấy được hương vị ấm nồng của chớm thu ở một miền quê nhỏ qua đoạn thơ:

“ Bỗng nhận ra hương ổi Phả vào trong gió se Sương chùng chình qua ngõ Hình như thu đã về”

Tín hiệu đầu tiên để tác giả nhận ra hương vị ổi phả vào trong gió Mùi hương quê nhà mộc mạc được gió đưa trong không gian cứ lan tỏa, thoang thoảng bay Rồi cảm giác bất chợt “ bỗng nhận ra”, một sự bất ngờ như đã đợi sẵn… và gió, và sương Những giọt sương thu mềm mại, ươn ướt giăng màn trước ngõ… “ Hình như thu đã về” Nhà thơ giật mình, hơi bối rối không biết tự bao giờ nhỉ ? Thu đã

về trên quê hương, trên cả những con sông, cánh chim trời

Nhưng lại có cảm giác éo le trắc trở của số phận một con người cũng như cảm giác gập ghềnh, quanh co khúc khuỷu, nhiều ghềnh thác của con đường đời khi ta bắt gặp những câu thơ: “Tài cao phận thấp chí khí uất” hoặc “ Vó câu khấp khểnh ngựa xe gập ghềnh” Hoặc người đọc sẽ có cảm giác tự tin, thong dong khi

“Ta đi giữa ban ngày/Trên đường cái ung dung ta bước” đồng thời cũng thấy được khí thế cuồn cuộn như thác đổ triêu dâng của bộ đội ta qua nhịp thơ dồn dập: “Ta đi

Trang 10

tới trên đường ta bước tiếp/ Rắn như thép, vững như đồng/ Đội ngũ ta trùng trùng điệp điệp/ Cao như núi dài như sông/ Chí ta lớn như biển đông trước mặt” như ở trong bài Ta đi tới của Tố Hữu

Tương tự thế, hình tượng mang tính đặc trưng của người miền ngược, có sức gợi lớn cho người đọc như thơ của Y Phương:

“ Người đồng mình yêu lắm con ơi Đan lờ cài nan hoa

Vách nhà ken câu hát Rừng cho hoa

Con đường cho những tấm lòng”

Đọc lên, ta như thấy bức tranh có cảnh có hoạt động của người miền núi Đan lờ đánh cá, dưới bàn tay người dân tộc Tày, nan nứa, nan tre, trúc đã trở thành

“ nan hoa” Vách nhà không chỉ ken bằng gỗ mà còn ken bằng “ câu hát” Rừng đâu chỉ nuôi sống con người bằng những sản vật quý mà còn “cho hoa” Con đường đâu chỉ để đi mà còn “cho những tấm lòng” nhân hậu bao dung, đó là con đường tình nghĩa

Ta biết “Thi trung hữu họa” (trong thơ có hoạ) nên cách miêu tả màu sắc, âm thanh, đường nét, hình khối cũng góp phần làm nên hình tượng thơ thật đặc sắc Thử đọc khổ đầu của bài “Mùa xuân nho nhỏ” của Thanh Hải:

“Mọc giữa dòng sông xanh Một bông hoa tím biếc

Ơi con chim chiền chiện Hót chi mà vang trời Từng giọt long lanh rơi Tôi đưa tay tôi hứng.”

Ta như thấy trước mắt là một bức tranh thơ được vẽ bằng nét bút tài hoa của người nghệ sĩ, bằng một niềm yêu mến thiết tha cảnh sắc thiên nhiên đất nước,

Ngày đăng: 09/03/2015, 21:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w