MỤC LỤC MỤC LỤC 1 MỞ ĐẦU 3 CHƯƠNG I: NGHIÊN CỨU THỊ TRƯỜNG DƯỢC LIỆU THẾ GIỚI - MỘT SỐ CHÍNH SÁCH VÀ KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN DƯỢC LIỆU MỘT SỐ NƯỚC CHÂU Á 10 I Nguồn dược liệu thế giớ
Trang 1HỘI ĐỒNG CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ QUỐC GIA
BÁO CÁO TỔNG HỢP
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN CẤP BỘ 2011-2012
NGHIÊN CỨU, XÂY DỰNG CƠ CHẾ CHÍNH SÁCH LIÊN KẾT 4 NHÀ: NHÀ NƯỚC
- NHÀ DOANH NGHIỆP - NHÀ KHOA HỌC VÀ NHÀ NÔNG ĐỂ PHÁT TRIỂN VÀ
SỬ DỤNG HIỆU QUẢ CÂY THUỐC VIỆT NAM
Chủ nhiệm đề tài: PGS TS Trần Ngọc Ca
Cơ quan: Văn phòng Hội đồng Chính sách Khoa học
và Công nghệ Quốc gia
9711
Hà Nội 2012
Trang 2THÀNH VIÊN THAM GIA NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
1 PGS.TS Trần Ngọc Ca Chủ nhiệm đề tài
2 TS Hồ Thị Mỹ Duệ Thư ký khoa học đề tài
3 TS Dương Quốc Sỹ Thành viên đề tài
4 TS Trần Đức Chính Thành viên đề tài
5 TS Phùng Minh Lai Thành viên đề tài
6 TS Lưu Hoàng Ngọc Thành viên đề tài
7 ThS Vũ Thị Thuận Thành viên đề tài
8 TS.DS Nguyễn Tiến Hùng Thành viên đề tài
9 CN Nguyễn Tiến Vinh Thành viên đề tài
Trang 3MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
MỞ ĐẦU 3 CHƯƠNG I: NGHIÊN CỨU THỊ TRƯỜNG DƯỢC LIỆU THẾ
GIỚI - MỘT SỐ CHÍNH SÁCH VÀ KINH NGHIỆM PHÁT
TRIỂN DƯỢC LIỆU MỘT SỐ NƯỚC CHÂU Á
10
I Nguồn dược liệu thế giới 10
III Chính sách, kinh nghiệm phát triển nguồn dược liệu của Thái Lan
và Malaysia
31
IV Chính sách, kinh nghiệm phát triển nguồn dược liệu của Ấn Độ 39
V Chính sách, kinh nghiệm phát triển nguồn dược liệu của Hàn
Quốc
55
CHƯƠNG II: NGHIÊN CỨU KHẢO SÁT HIỆN TRẠNG PHÁT
TRIỂN DƯỢC LIỆU Ở NƯỚC TA
64
I Nghiên cứu điều kiện tự nhiên cho phát triển dược liệu Việt Nam 64
II Tổng quan hiện trạng phát triển dược liệu ở nước ta 73
III Phân tích hiện trạng một số vùng trồng dược liệu trọng điểm ở
miền Bắc, miền Trung, miền Nam và Tây Nguyên
86
IV Phân tích hiện trạng phát triển dược liệu của một số doanh nghiệp
lớn
89
V Hiện trạng phát triển dược liệu ở một số Viện nghiên cứu, trường
Đại học, Hiệp hội và Bệnh viện
I Các cơ chế, chính sách, rà soát các văn bản của Nhà nước liên
quan đến hỗ trợ phát triển sản xuất và sử dụng sản phẩm dược liệu
ở Việt Nam
112
Trang 4II Kết quả khảo sát các cơ sở chế biến/sản xuất dược liệu 133
III Tổng hợp ý kiến của các nhà quản lý, các nhà khoa học về định
hướng cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất và sử dụng sản
V Tổng hợp ý kiến đề xuất tạo môi trường chính sách hỗ trợ phát
triển dược liệu ở nước ta
151
CHƯƠNG IV: PHÂN TÍCH HIỆN TRẠNG MỐI LIÊN KẾT
GIỮA NHÓM ĐỐI TÁC (4 NHÀ) VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ
CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ ĐỂ PHÁT TRIỂN CÁC VÙNG DƯỢC
LIỆU
159
I Hiện trạng mối liên kết 4 nhà : Nhà nước – Nhà Doanh nghiệp –
Nhà Khoa học và Nhà Nông trong việc phát triển các vùng dược
liệu
159
II Một số giải pháp nhằm đẩy mạnh việc liên kết giữa 4 Nhà trong
việc phát triển các vùng Dược liệu ở Việt Nam
184
III Kiến nghị và đề xuất 192
CHƯƠNG V: XÂY DỰNG MỘT SỐ MÔ HÌNH THÚC ĐẨY
LIÊN KẾT 4 NHÀ LÀM CƠ SỞ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
VÙNG DƯỢC LIỆU
200
II Xây dựng mô hình phát triển bền vững vùng dược liệu trên cơ sở
liên kết 4 nhà : Nhà nước – Nhà Doanh nghiệp – Nhà Khoa học -
Nhà Nông
202
III Xây dựng quy trình vận hành mô hình thí điểm sản xuất thử
nghiệm một số vùng dược liệu
206
KẾT LUẬN 247 CÁC PHỤ LỤC 249
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Khi nghiên cứu sự phát triển dược liệu của một số nước châu Á, đặc biệt là ở Trung Quốc - Một nước có “Ngành công nghiệp dược liệu” (Pharmaceutical Material Industry) phát triển, họ đã hoàn thiện Hệ thống tổng thể, chính sách đồng bộ với việc Quy hoạch tổng thể và Quy hoạch vùng/địa phương Đồng thời chuẩn hóa và đồng bộ Quy trình, từ khâu chọn tạo giống, nuôi trồng, thu hái, chế biến, bảo quản, bảo tồn
Còn Việt Nam, từ một nước xuất khẩu đã trở thành một nước nhập khẩu dược liệu để phục vụ thị trường trong nước Trong khi đó, khó khăn cơ bản cho các đơn vị sản xuất là nguồn nguyên liệu đầu vào cho nhà máy không ổn định, không có khả năng truy nguyên nguồn gốc xuất xứ và không kiểm soát được bảo quản đến nhà máy Dược liệu chất lượng kém, dược liệu "rác" từ biên giới nhập khẩu không kiểm soát được, giá
rẻ cho nên dược liệu trong nước có giá cao không cạnh tranh được Các giải pháp vềvùng trồng, cây trồng, diện tích và sản lượng dược liệu đang bỏ ngỏ; Các chính sách khuyến khích sản xuất dược liệu, đầu tư nâng cấp trang thiết bị và công nghệ sản xuất các mặt hàng thuốc từ dược liệu vừa thiếu, vừa kém hiệu quả; Hoạt động quản lý Nhà nước về chất lượng dược liệu và thuốc từ dược liệu chưa động bộ Đó là những vấn đề lớn đặt ra, Nhóm nghiên cứu sẽ có sự lựa chọn những vấn đề thích hợp để triển khai nghiên cứu nhằm đạt được mục tiêu đề ra
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
2.1.Tình hình nước ngoài: Theo tổ chức Y tế Thế giới (WHO), khoảng 80%
dân số hiện nay trên thế giới vẫn dựa vào thuốc có nguồn gốc tự nhiên trong chăm sóc sức khoẻ cộng đồng WHO luôn khuyến nghị dùng các loại thuốc cổ truyền vào việc chăm sóc sức khoẻ ban đầu vì mức độ an toàn,
hiệu quả cũng như bảo đảm nguồn cung cấp các loại thuốc này
Chỉ tính riêng trong khu vực Châu Á, các nước như Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan đều có nguồn tài nguyên dược liệu phong phú, đa dạng và được sử dụng hiệu quả trong chăm sóc sức khoẻ cộng đồng của mỗi nước Mối quan hệ của các nước này trong “Cộng đồng dược liệu“ khá chặt chẽ để hỗ trợ nhau trong nghiên cứu và phát triển nguồn dược liệu của mỗi nước, điều này được thể hiện rõ là gần đây nhất Hội
Trang 6nghị Dược Đông Dương lần thứ 6 (Pharma-Indochina 6th Conference) được tổ chức tại Thừa Thiên Huế (Việt Nam) từ ngày 16 đến 17 tháng 12 năm 2009 Tham dự Hội nghị
có các đại biểu từ Thái Lan, Nhật Bản, Hàn Quốc, Pháp, Hà Lan, Việt Nam và Tổ chức Y tế Thế giới Tại Hội nghị đã có tới 45 báo cáo đã được trình bày về bào chế và quản lý dược phẩm cũng như phát triển ngành dược phẩm trong tình hình suy thoái kinh tế toàn cầu Các đại biểu đã đánh giá cao hai báo cáo của Việt Nam về gìn giữ và phát triển nguồn tài nguyên dược liệu bền vững ở Việt Nam và công nghiệp dược phẩm thế giới trong thập niên đầu của thế kỷ 21 Trong số các nước Châu Á có nguồn dược liệu phát triển, chúng ta không thể không đề cập đến Trung Quốc- Một nước có tiềm năng dược liệu đứng đầu thế giới Ở Trung Quốc có khoảng 300 vùng nguyên liệu và huy động được trên 340.000 nông dân chuyên sống bằng nghề trồng cây thuốc Trung Quốc có những chính sách rất cụ thể để tạo điều kiện cho người nông dân yên tâm chăm sóc, phát triển cây thuộc như bằng các ưu đãi về cách giao đất, giao rừng, cử chuyên gia về hướng dẫn cách chăm sóc, chế biến, cho vay vốn, miễn thuế Đây là kinh nghiệm quý báu, khi Đề tài được triển khai sẽ có điều kiện nghiên cứu sâu hơn về các chính sách này
2.2 Tình hình trong nước: Nước ta nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa
nóng ẩm nên có nguồn tài nguyên thực vật phong phú và đa dạng với khoảng 12.000 loài thực vật bậc cao, 800 loài rêu, 600 loài nấm và hơn hai nghìn loài tảo Kết quả điều tra, cả nước ghi nhận được 3.948 loài thực vật và nấm lớn có thể sử dụng làm thuốc, trong đó có hàng chục loại có giá trị chữa bệnh cao Một số dược liệu quý được thế giới công nhận và có tiềm năng phát triển rất lớn như: hồi, trinh nữ hoàng cung, quế, a-ti-sô, sâm Ngọc Linh, tràm, thanh hao hoa vàng, hoa hòe
Theo ước tính, nguyên liệu làm thuốc có nguồn gốc thảo mộc được sử dụng hàng năm tại cộng đồng, tại các cơ sở y tế, phòng khám đông y, sản xuất và kinh doanh khoảng 50.000 tấn/năm, trong đó 1/3 nguyên liệu do thu hái và khai thác tự nhiên, 1/3 do trồng trọt và còn lại là nhập khẩu chủ yếu từ Trung Quốc, Đài Loan, Hồng Công Thực trạng của nguyên liệu này hiện nay: (i) Đối với nguyên liệu tự nhiên, mọc hoang dại vấn đề khai thác quá mức, không có sự kiểm soát của các cấp, các ngành đã làm cho không phát triển và bảo tồn bền vững được (ii) Đối với nguồn nguyên liệu được trồng trọt tại các khu vực, làng nghề truyền thống như Thanh Trì,
Trang 7Nam), Núi Mẫu Sơn (Lạng Sơn), Sa Pa (Lào Cai), Sìn Hồ (Lai Châu), Đà Lạt (Lâm Đồng) do không có kế hoạch điều tiết nên việc trồng trọt biến thiên tăng, giảm thất thường theo cơ chế thị trường, có khi đột biến về giá cả tăng gấp hai, ba chục lần vì trồng ít mà nhu cầu sử dụng và xuất khẩu tăng dẫn đến việc tư thương làm hàng giả để chạy theo lợi nhuận, dẫn đến chất lượng dược liệu giảm và không an toàn cho người sử dụng Khi bị mất mối nhập khẩu nguyên liệu (ví dụ như: Quế, Sả) thì người dân lại phá
đi một diện tích lớn cây thuốc đã đựơc trồng lâu đời vì ế không có ai mua (iii) Đối với dược liệu nhập từ Trung Quốc hay còn gọi là thuốc bắc thì tình hình còn tồi tệ hơn Dường như việc nhập các vị thuốc bắc qua biên giới Trung Quốc và Việt Nam, Nhà nước chỉ coi là một loại hàng hóa bình thường như đồ gia dụng, chứ không tính đến đó
là một sản phẩm đặc biệt, đó là thuốc ảnh hưởng đến tính mệnh của con người Theo đánh giá của các nhà kiểm nghiệm dược liệu thì trên thị trường thuốc đông dược (nguyên liệu thô) hiện nay có rất nhiều vị dược liệu chỉ là hàng trung phẩm hay thứ phẩm của Trung Quốc được bán sang Việt Nam và do thiếu nguyên liệu nên rất nhiều dược liệu bị dùng thay thế bởi các nguyên liệu rẻ tiền hơn, chất lượng kém hơn
Việc trồng cây thuốc nói riêng và sản xuất dược liệu nói chung mới có quy hoạch vùng trồng hạn chế cho khoảng 30 loại dược liệu và chưa thực sự triển khai Tuy thế, quy hoạch trồng cũng bị gặp khó khăn do sự không thống nhất giữa điều tra tài nguyên dược liệu (theo địa lý hành chính) với phân bố và phát triển cuả cây thuốc (theo vùng sinh thái) Cây thuốc được trồng tự phát, phương pháp canh tác truyền thống chưa thực hiện theo hướng dẫn GACP-WHO do đó sản lượng và chất lượng không ổn định, ảnh hưởng đến sản xuất công nghiệp Việc khai thác dược liệu chưa có
tổ chức, không có kế hoạch, không có hướng dẫn khai thác gắn với bảo tồn, phát triển bền vững, dẫn đến một số loài cây thuốc có nguy cơ cạn kiệt hoặc tiệt chủng (Bảy lá một hoa, Ba kích, Hà thủ ô đỏ ) Chất lượng dược liệu chưa được kiểm soát chặt chẽ
từ khâu chọn giống, nuôi trồng đến thu hái, chế biến, bảo quản Mặt khác khung pháp
lý cho công tác bảo tồn chưa được đồng bộ Các chủ trương, chính sách của Nhà nước chưa được cụ thể hoá dẫn đến lúng túng trong triển khai do hiện tượng chồng chéo Nguồn lực về tài chính còn hạn hẹp so với tiềm năng và tầm quan trọng của công tác bảo tồn Hiện tại, công tác bảo tồn các cây thuốc, mới chú trọng đến bảo tồn nguồn gen, chưa chú trọng đến phát triển và thương mại hoá các loài được bảo tồn Bằng thực
tế và qua nhiều kênh thông tin, tất cả các cấp quản lý và lãnh đạo từ dưới các cơ sở,
Trang 8các công ty lên đến Nhà nước đều có thể nhìn thấy còn nhiều vấn đề bất cập trong sản xuất, phát triển dược liệu, trong đó vấn đề nổi cộm vẫn là cơ chế, chính sách chưa đầy
đủ và kém hiệu lực Bên cạnh đó, mối quan hệ quản lý giữa ngành với ngành (Công nghiệp, Nông nghiệp, Lâm nghiệp, Dược, Y ) với quản lý vùng, lãnh thổ, giữa Trung ương và địa phương thiếu liên kết, chưa có sự tập trung và phối hợp đa ngành Vì vậy, việc nghiên cứu xây dựng một môi trường chính sách, liên kết có hiệu quả quá trình: sản xuất giống, nuôi trồng, thu hái, chế biến, bảo quản mới có thể phát huy giá trị của nguồn tài nguyên dược liệu quý báu trong chăm sóc sức khỏe nhân dân và đóng góp vào sự phát triên kinh tế - xã hội của đất nước
Phát biểu ý kiến tại “Hội nghị phát triển Dược liệu và sản phẩm thuốc Quốc
gia”, Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân đã nhận định: “Đánh giá cao những kết quả
phát triển, ứng dụng dược liệu trong sản xuất thuốc chăm sóc sức khỏe nhân dân, song những kết quả đó chưa tương xứng với tiềm năng, đồng thời tình trạng dược liệu trong nước đang có xu hướng suy giảm, đòi hỏi sự vào cuộc mạnh mẽ của bốn nhà: Nhà nước, nhà khoa học, doanh nghiệp và nhà nông Cần tổ chức điều tra tổng thể về tình hình dược liệu trong nước để đánh giá tính khoa học, hiệu quả và tiềm năng của từng loại; tổ chức bảo quản và phát triển gien cũng như giống loại dược liệu quý Tăng cường sự phối hợp doanh nghiệp và nhà khoa học để ngày càng có nhiều sản phẩm thuốc quốc gia từ dược liệu Việc phát triển dược liệu luôn gắn với dược phẩm thời mới có kết quả mang tính bền vững Các cơ quan quản lý nhà nước tổ chức rà soát văn bản liên quan để bổ sung thực tiễn, tạo điều kiện để dược liệu trong nước phát triển”
Trước thực trạng còn nhiều bất cập trong sự phát triển dược liệu của đất nước, dưới sự chỉ đạo của Chủ tịch Hội đồng Chính sách KH&CN Quốc gia, GS.TSKH Đỗ Trung Tá, nhóm nghiên cứu của Hội đồng đã lựa chọn Đề tài “Nghiên cứu xây dựng
cơ chế, chính sách liên kết 4 nhà: Nhà Nước - Nhà Doanh nghiệp - Nhà Khoa học - Nhà Nông để phát triển và sử dụng hiệu quả cây thuốc Việt Nam”
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
- Về đối tượng: Đề tài nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn trực tiếp liên quan đến dược liệu để hoàn thiện các cơ chế, chính sách về dược liệu
- Về phạm vi nghiên cứu: Phạm vi các doanh nghiệp, các trường Đại học, Hội
Trang 9số vùng trồng dược liệu Nghiên cứu dựa trên việc khảo sát về sự liên kết giữa 4 nhà: Nhà nước, Nhà doanh nghiệp, Nhà Khoa học và Nhà nông
- Về thời gian: Đề tài nghiên cứu những vấn đề liên quan từ năm 1990 đến nay
4 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
Nghiên cứu xây dựng cơ chế, chính sách liên kết “4 nhà”: Nhà nước - Nhà Doanh nghiệp - Nhà khoa học và Nhà Nông để phát triển và sử dụng hiệu quả cây thuốc Việt Nam
Nghiên cứu Đề xuất một số Mô hình liên kết “4 Nhà” để duy trì và phát triển
một số sản phẩm dược liệu
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu :
5.1 Phương pháp nghiên cứu, kỹ thuật sử dụng:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: sưu tầm các tài liệu, dịch các tài liệu có liên quan tới mục đích nghiên cứu của Đề tài Đặc biệt là xây dựng kho tư liệu liên quan đến kinh nghiệm phát triển dược liệu của nhiều nước, nhất là các nước châu Á Bên cạnh đó đã sưu tầm và nghiên cứu nhiều tư liệu, văn bản chính sách, cơ chế phát triển dược liệu trong nước
- Phương pháp khảo sát thực tế: Khảo sát điều tra thực tế trong nước (làm việc với hàng lọat các cơ quan như doanh nghiệp, Viện, Trường, Hiệp hội, Bệnh viện, cơ quan quản lý, chính quyền địa phương, v.v trong lĩnh vực dược liệu tại 3 Miền: Bắc, Trung, Nam), có kết hợp điều tra nhanh khoảng 100 doanh nghiệp dược liệu bằng phiếu hỏi và phỏng vấn sâu
- Phương pháp chuyên gia: đã tổ chức lấy ý kiến Chuyên gia, Hội thảo, Tọa đàm khoa học (6 Hội thảo)
- Phương pháp thực nghiệm
- Phương pháp nghiên cứu sâu trường hợp cụ thể, tập trung vào xây dựng một
số mô hình
5.2.Tính mới, tính độc đáo, tính sáng tạo:
Đây là lần đầu tiên một đề tài được đề xuất để nghiên cứu “Xây dựng cơ chế , chính sách liên kết 4 Nhà: Nhà nước - Nhà doanh nghiệp - Nhà khoa học và Nhà nông
để phát triển và sử dụng hiệu quả cây thuốc Việt Nam”, góp phần vào quá trình phát triển một số cây thuốc có thế mạnh của Việt Nam để bảo đảm nguồn dược liệu trong sản xuất thuốc Đông Nam dược
Trang 106 Đóng góp của đề tài
Các sản phẩm chính:
1 Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu của Đề tài và kiến nghị
2 Bộ dữ liệu về nghiên cứu khảo sát hiện trạng phát triển Dược liệu ở nước ta trong thời gian qua
3 Đánh giá tình hình và nhu cầu về dược liệu ở nước ta
4 Đánh giả một số vùng về sản xuất dược liệu của Việt Nam
5 Đề xuất một số cơ chế chính sách liên kết “4 nhà”: Nhà nước – Nhà Doanh nghiệp - Nhà Khoa học và Nhà Nông để phát triển và sử dụng hiệu quả cây thuốc Việt Nam
6 Đề xuất thử một số mô hình liên kết 4 Nhà trên cơ sở vùng dược liệu phát triển bền vững
7 Xây dựng quy trình tổ chức vận hành mô hình sản xuất thử nghiệm một số cây thuốc mang tính bền vững qua sự liên kết 4 Nhà tại 3 địa bàn cụ thể
7 Ý nghĩa của đề tài
Lợi ích của đề tài:
a) Tác động đến xã hội:
- Khả năng ứng dụng các kết quả nghiên cứu xây dựng Mô hình nuôi trồng các cây thuốc có thế mạnh của Việt Nam là khả thi tại một số doanh nghiệp cụ thể
- Các kết quả nghiên cứu có lợi cho các doanh nghiệp nuôi trồng dược liệu
- Đóng góp vào việc hoàn thiện xây dựng cơ chế chính sách liên kết 4 Nhà để triển khai thực nghiệm cây thuốc có thế mạnh của Việt Nam và đề xuất cơ chế, chính sách cho Mô hình này phát triển
- Kết quả của Đề tài có tác động đến tổ chức chủ trì là thực hiện một đề tài nghiên cứu có tính thực tiễn và khả thi Đối với doanh nghiệp được thụ hưởng Mô hình mẫu và chính sách hỗ trợ của Nhà nước trong việc nuôi trồng các cây thuốc Việt Nam có thế mạnh, có khả năng đột phá tạo ra các vùng dược liệu giàu có cho đất nước
- Có tác động tích cực đến sức khỏe cộng đồng và khả năng mang lại lợi ích kinh tế vì sẽ giảm dần nhập khẩu nguyên liệu dược, khả năng tạo ra các vùng dược liệu bền vững và ý thức của các nhà khoa học trong quá trình nghiên cứu, triển khai thực nghiệm Mô hình sẽ coi trọng môi trường xanh, sạch
Trang 11b) Nâng cao năng lực nghiên cứu: Của tổ chức, cá nhân thông qua tham gia
thực hiện đề tài
8 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần Mục lục, mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phần nội dung đề tài gồm năm chương
Trang 12CHƯƠNG I NGHIÊN CỨU THỊ TRƯỜNG DƯỢC LIỆU THẾ GIỚI - MỘT SỐ CHÍNH SÁCH VÀ KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN DƯỢC LIỆU MỘT SỐ NƯỚC
CHÂU Á
I Nguồn dược liệu thế giới và châu Á
I.1.Tổng hợp tình hình dược liệu thế giới:
Như chúng ta đã biết thế kỉ 21 là thế kỉ của sinh học và công nghệ sinh học và dược liệu cũng được coi như là một nguồn tài nguyên di truyền - tài nguyên tái tạo vô cùng quý giá và quan trọng
Ước tính trên thế giới có khoảng 422.000 loài cây có hoa Khoảng từ 35.000 đến 70.000 loài được dùng với mục đích chữa bệnh trong đó ít nhất 6.500 loài có ở Châu Á (Karki và Williams, 1995) Đây là một trong những vùng sinh thái lớn nhất trên thế giới mà có những nước giàu tài nguyên thực vật nhất Châu lục này có hệ thực vật đa dạng, sự phong phú chỉ tập trung chủ yếu ở những vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới 6 trong số 18 điểm nóng cụ thể là phía đông Himalaya, Bắc Mã Lai, bán đảo Malaysia, Sri Lanka, Philippines và phía tây hai dãy núi miền Nam Ấn Độ ở Châu Á Những quốc gia thuộc vùng này có hệ thực vật rộng lớn, ví dụ như Trung Quốc (30.000 loài cây mọc trên cao), Indonesia (20.000), Ấn Độ (17.000), Myanma (14.000), Malaysia (12.000) và Thái Lan (12.000) Đảo Mã Lai có khoảng từ 20.000 đến 25.000 loài (Anonymous, 2004).Số lượng các loài thực vật và các loài đặc hữu trong khu vực là:
Bảng 1: Phân bổ các loài thực vật châu Á
Trung Quốc và Đông Á 45.000 18.650
Tây Nam Á 23.000 7.100
Trang 13Các cây hương, dược liệu là cơ sở chăm sóc sức khỏe ban đầu cho đại đa số người dân ở Châu Á và là nguồn thu chủ yếu của những người sống ở nông thôn Họ kiếm sống bằng việc bán cây nguyên liệu hoang dã hoặc trồng cây thuốc Khoảng 90% cây được hái lượm ở rừng Chỉ một số nước chủ yếu là Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Nepal, Thái Lan và Việt Nam sản xuất cây hương, dược liệu về mặt thương mại Một
số nước khác sản xuất trên quy mô thương mại nhưng với số lượng nhỏ và chủ yếu tiêu thụ nội địa Một số loại cây thuốc chủ yếu cho giao dịch thương mại là ở Châu Á
Y học cổ truyền có đóng góp lớn trong mục tiêu chung của ngành y học và nó
có khả năng duy trì sức khỏe con người và điều trị nhiều loại bệnh hiểm nghèo Nhiều loại y học cổ truyền đã được đưa vào thử nghiệm và thực hành thành công ở khu vực Tây Thái Bình Dương Việc sử dụng dược liệu và các chế phẩm của chúng cũng như
kỹ thuật châm cứu là một trong các hình thức quan trọng nhất của ngành y học cổ truyền được sử dụng trong khu vực này và cũng là một phần di sản văn hóa – xã hội của nhiều Quốc gia khác trên thế giới
Tổ chức y tế thế giới WHO đã chỉ ra tầm quan trọng của ngành y học cổ truyền trong hệ thống y tế của các quốc gia thành viên trong nhiều Nghị quyết khác nhau
Ngày nay, thị trường dược liệu toàn cầu đóng góp 62,0 tỉ USD, trong đó Ấn Độ chiếm 1 tỉ USD Liên minh Châu Âu là thị trường lớn nhất chiếm 45% trong tổng thị phần về dược liệu trên toàn thế giới, Bắc Mỹ chiếm 11%, Nhật Bản chiếm 16%, các nước ASEAN chiếm 19%
Các quốc gia như Nhật Bản và Trung Quốc gần đây đã thành công trong việc đưa dược liệu của mình ra thị trường nước ngoài Các liệu pháp thay thế của họ đã được thị trường Châu Âu và Châu Mỹ chấp nhận Các sản phẩm như nhân sâm (Ginseng) – một loại chất kích dục nổi tiếng ở Trung Quốc cũng có các tính chất tương
tự như Ashwagandha – một loại thuốc cổ truyền, tuy nhiên, nó cũng chiếm hơn 800 triệu USD trên thị trường Quốc tế
so với tất cả các loại thảo mộc khác cộng lại (chưa đầy 1 triệu USD)
Tuy nhiên, có nhiều tín hiệu tích cực cho chúng ta thấy trong thị trường toàn cầu, Ấn Độ có 16 vùng khí hậu nông nghiệp, 10 khu thực vật, 15 tỉnh sinh học, 426 quần xã sinh vật, 45.000 loài thực vật khác nhau và 15.000 cây thuốc bao gồm 7000 cây Ayurveda, 700 trong y học Unani, 600 trong y học Siddha và 30 trong y học hiện đại Điều này khiến Ấn Độ trở thành một trong 12 quốc gia có đa dạng sinh học lớn
Trang 14của thế giới, mặc dù chỉ chiếm có 2,5% trong tổng diện tích đất, chiếm trên 8% các loài được ghi nhận của thế giới
Tổ chức y tế thế giới WTO ước tính đến 80% dân số thế giới sử dụng thảo mộc
để chăm sóc sức khỏe ban đầu Thảo mộc hay còn gọi là dược liệu, là thành phần chính trong y học cổ truyền của người dân bản xứ và là yếu tố phổ biến trong ayurvedic, thiên nhiên liệu pháp (naturopathic), y học cổ truyền phương Đông và y học của người bản xứ Mỹ Ấn Sự tinh vi của các biện pháp chữa trị sử dụng thảo mộc phát triển cùng với sự tiến bộ về công nghệ của các nước sản xuất và sử dụng chúng
Thuốc được sử dụng ở Châu Âu có nguồn gốc thực vật cũng tương tự như các loại thuốc mới ở Mỹ, nơi mà các loại thuốc được xem như là an toàn, hiệu quả và chất lượng Đặc điểm của việc điều tiết thuốc của Châu Âu là làm sao cho thị trường đó trở lên thân thiện hơn với các phương pháp trị liệu sử dụng các nguồn tự nhiên
Ở châu Âu, để chứng nhận một loại thuốc an toàn và hữu hiệu thì người ta mất
ít thời gian hơn Theo cách làm này, một khi một liệu pháp được cho là an toàn, thì các nhà chức trách theo tiêu chuẩn về bằng chứng đó để quyết định xem loại thuốc đó có chắc chắn an toàn sử dụng và mang lại hiệu quả hay không Quy trình này giúp giảm rất nhiều đối với chi phí chứng nhận thuốc mà không cần phải hứa hẹn xem loại thuốc
đó có an toàn hay không
Cộng đồng kinh tế Châu Âu, nhận định rằng nhu cầu tiêu chuẩn hóa quá trình phê chuẩn thuốc dược liệu, đưa ra một loạt các hướng dẫn, chất lượng các phương pháp trị bệnh bằng dược liệu Những hướng dẫn này chỉ ra các tiêu chuẩn về chất lượng, số lượng và sản xuất dược liệu và đưa ra các yêu cầu về dán nhãn mà các nước thành viên phải đáp ứng
Ở châu Âu, các phương pháp chữa bệnh sử dụng thảo mộc được chia theo 3 loại Việc nghiêm ngặt nhất là kiểm soát thuốc theo toa, trong đó bao gồm các hình thức tiêm phytomedicines và được sử dụng để điều trị các bệnh đe dọa đến tính mạng con người Các thể loại thứ hai là OTC phytomedicines, tương tự như các thuốc OTC
Mỹ Thể loại thứ ba là các biện pháp nhằm khắc phục những hậu quả mà thảo dược truyền thống gây ra, các sản phẩm thường không trải qua thử nghiệm lâm sàng rộng lớn nhưng được đánh giá an toàn trên cơ sở của các thế hệ sử dụng mà không có sự cố nghiêm trọng
Trang 15Châu Á là châu lục lớn nhất chiếm 60% dân số toàn cầu Vùng này gồm cả lục địa của Châu Á cộng với các quần đảo ở Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương Châu Á
có nhiều loài cây dược liệu và hương liệu; y học cổ truyền được dùng từ thời cổ đại Châu lục có tri thức truyền thống được ghi chép đầy đủ, áp dụng lâu đời y học cổ truyền và tiềm năng phát triển về mặt xã hội cũng như kinh tế các loại cây hương, dược liệu trong việc chăm sóc sức khỏe ban đầu và quy mô sản xuất công nghiệp
I.2.Nghiên cứu thị trường dược liệu toàn cầu:
Trong giai đoạn 1991 – 2003, tổng giá trị xuất khẩu cây dược liệu trung bình toàn cầu đạt 467.000 tấn, tương đương 1,2 tỷ USD Một đặc điểm lớn của thương mại quốc tế về dược liệu là sự thống trị của một số ít quốc gia: khoảng 80% sản lượng xuất nhập khẩu toàn thế giới được phân bổ cho 12 quốc gia, chủ yếu là các nước ôn đới Châu Á và Châu Âu Các nước ôn đới Châu Á chiếm 41% sản lượng nhập khẩu toàn cầu/năm và 48% sản lượng xuất khẩu toàn cầu/năm Trong khi đó, thị phần nhập khẩu của Châu Âu chiếm 1/3 tổng thị phần toàn cầu Về mặt quốc gia, thị phần nhập khẩu của Mỹ đạt 12%, Đức và Nhật Bản đạt 11% Trong danh sách 12 quốc gia nhập khẩu nhiều nhất, Hồng Kông là nước nhập khẩu cây dược liệu lớn nhất, với tổng sản lượng trung bình năm xấp xỉ đạt 59.950 tấn Tiếp theo là Mỹ và Nhật Bản, với tổng sản lượng trung bình lần lượt là 51.200 tấn và 46.450 tấn/năm Đức xếp vị trí thứ 4, tổng sản lượng trung bình/năm 44.750 tấn Ngoài ra còn khoảng 5 quốc gia Châu Âu khác, tất cả đều là thành viên khối Liên minh Châu Âu, cũng nằm trong top 12 nước nhập khẩu lớn nhất
Về xuất khẩu, Trung Quốc đứng đầu danh sách 12 nước xuất khẩu nhiều nhất Tổng sản lượng xuất khẩu cây dược liệu trung bình/năm trong giai đoạn 1991 – 2003 của quốc gia này đạt khoảng 150.600 tấn, chiếm 1/3 tổng giá trị xuất khẩu toàn cầu Con số này cao gấp 3 lần so với khối lượng xuất khẩu của Hồng Kông (tính cả tái xuất khẩu), gấp 4 lần Ấn Độ và Mexico, và gấp 10 lần Đức và Mỹ Những quốc gia xuất khẩu lớn gồm Ai Cập, Bulgaria và Chile Hai quốc gia khu vực Đông Nam Châu Âu là Bulgaria và Albania cũng nằm trong danh sách này Từ năm 1991 đến 2003, tổng sản lượng xuất khẩu thế giới đã tăng 55%, từ 377.300 tấn lên 584.700 tấn
Cùng xếp thứ hạng cao cả về xuất khẩu lẫn nhập khẩu, Hoa Kỳ, Đức và Hồng Kông là những trung tâm thương mại lớn và quan trọng về cây dược liệu Cả 3 nước đều có khối lượng xuất nhập khẩu thảo dược lớn Trong thời kỳ 1992 – 2003, Mỹ nhập
Trang 16khẩu trung bình 51.200 tấn cây dược liệu, tương đương giá trị 1,4 tỷ USD; trong khi sản lượng xuất khẩu là 13.050 tấn, tương đương giá trị 1,05 tỷ USD Sự chênh lệch rõ ràng giữa giá trị hàng hóa nhập khẩu và xuất khẩu của Mỹ cho thấy, quốc gia này chủ yếu nhập khẩu nguyên liệu tự nhiên, hoặc ít nhất đã sơ chế qua, và xuất khẩu sau khi
đã chế biến kỹ hơn Không có bất kỳ xu hướng nhập khẩu mới nào được ghi nhận; sản lượng nhập khẩu dao động từ 45.000 tấn đến 62.300 tấn và đạt đỉnh gần 71.000 tấn năm 1997; sản lượng xuất khẩu dao động trong khoảng 9000 – 18.000 tấn Năm 2003,
Ấn Độ là quốc gia cung cấp nguyên liệu thảo dược quan trọng nhất của Mỹ, với thị phần nhập khẩu chiếm 28%, theo sau là Trung Quốc 12%, Azerbaijan 10%, Mexico 8,5% và Ai Cập 6% Ngoài ra, những quốc gia có khối lượng xuất khẩu sang Mỹ trên
1000 tấn còn có Turkmenistan, Uzbekistan, Đức, Albania, Morocco và Thổ Nhĩ Kỳ Ngược lại với nhập khẩu, 44% giá trị hàng hóa của Hoa Kỳ được xuất khẩu sang các quốc gia Châu Mỹ, 26% sang Canada, 7% sang Mexico và 10% sang Nam Mỹ Trong
số này, đích xuất khẩu quan trọng nhất là Đức, chiếm thị phần 17%, Hàn Quốc 12,5%
và Nhật Bản 10%
Đức nhập khẩu trung bình 44.750 tấn/năm, tương đương giá trị 1,04 tỷ USD; trong khi đó, sản lượng xuất khẩu là 15.100 tấn, tương đương 68 triệu USD Giống như Mỹ, sự chênh lệch giữa giá trị xuất khẩu với nhập khẩu hàng hóa của Đức cho thấy quốc gia này chủ yếu nhập nguyên liệu tự nhiên, hoặc đã sơ chế và xuất khẩu sau khi đã chế biến kỹ hơn Từ 1991 – 2003, sản lượng nhập khẩu cây dược liệu của Đức
đã tăng 23%, từ 37.860 tấn lên 46.750 tấn Mức tăng này thấp hơn rất nhiều so với mặt bằng tăng chung toàn cầu Tuy nhiên, trong thời kỳ điều tra, có 2 năm trong đó khối lượng nhập khẩu đã tăng vượt quá 50.000 tấn, đó là: 1996: 51.440 tấn và 1998: 53.350 tấn Trong khi đó, sản lượng xuất khẩu chỉ tăng 20%, từ 14.440 tấn năm 1991 lên 17.260 tấn năm 2003 Tương tự như Mỹ, Đức đang nhập khẩu cây dược liệu từ khắp mọi nơi trên thế giới; trong suốt thời kỳ 1991 – 2000, cây dược liệu được nhập khẩu từ
ít nhất 142 quốc gia khác nhau
Bulgaria là quốc gia cung cấp nguyên liệu thảo dược quan trọng nhất của Đức, với tổng sản lượng 5220 tấn, tiếp theo là Ấn Độ 4240 tấn và Balan 3850 tấn Ngoài ra, Đức còn nhập khẩu trung bình hơn 2000 tấn thảo dược từ các nước như: Sudan, Chile, Hungary, Ai Cập và Trung Quốc Theo một phân tích về số liệu nhập khẩu theo vùng,
Trang 17Châu Âu Đức xuất khẩu cây dược liệu cho 147 nước trên thế giới, nhưng 75% tổng giá trị lại chỉ gói gọn trong 12 quốc gia, trong đó Áo là nước nhập khẩu nhiều nhất, kế đến là Thụy Điển, Mỹ và Italia Trong số 12 quốc gia nói trên, chỉ có một nước duy nhất thuộc Châu Âu là Hoa Kỳ, và 8 quốc gia khác là thành viên của Liên Minh Châu
Âu, chiếm 52% tổng giá trị xuất khẩu của Đức Nhìn chung, không dưới 75% giá trị xuất khẩu cây dược liệu đến từ các quốc gia Châu Âu
Như đã trình bày trên đây, phân tích về số liệu xuất nhập khẩu cây dược liệu theo vùng của Đức cho thấy có sự phân chia thị phần rõ ràng trong nội bộ Châu Âu Bên cạnh đó, theo phân tích số liệu xuất nhập khẩu cây dược liệu của Châu Âu, sự thống trị về thương mại của Đức trong nội bộ khu vực càng được khẳng định thêm vì (1) 1/3 tổng khối lượng thảo dược nhập khẩu vào Châu Âu có nguồn gốc từ Đức; (2) thị phần xuất khẩu của quốc gia này chiếm xấp xỉ 1/5, xét về khối lượng; (3) Đức là một quốc gia nhập khẩu cây dược liệu quan trọng của các nước Đông và Nam Đông
Âu (2/3 tổng sản lượng xuất khẩu) Như vậy, Đức là một trung tâm quan trọng về xuất nhập khẩu thảo dược trong nội bộ các quốc gia Châu Âu, đặc biệt, quốc gia này còn là cầu nối giữa các thị trường Đông và Nam Đông Âu với thị trường Đông và Trung Âu, chủ yếu cung cấp cây dược liệu cho các nước thành viên EU
Trung tâm thương mại thứ 3 về mặt hàng thảo dược là Hồng Kông, hoạt động chủ yếu trong khu vực Đông và Đông Nam Á Hàng năm, Hồng Kông nhập khẩu trung bình 59.950 tấn thảo dược, tương đương giá trị 263 triệu USD, và xuất khẩu trung bình 55.000 tấn, đạt giá trị 201 triệu USD Khác với Đức và Mỹ, 92% khối lượng thảo dược nhập khẩu của Hồng Kông được tái xuất khẩu Điều này cho thấy sự chênh lệch về giá giữa xuất và nhập khẩu Bên cạnh đó, 80 – 90% lượng thảo dược của Hồng Kông được nhập từ một quốc gia đơn lẻ như Trung Quốc (85% năm 2003), Indonesia, Canada, Hàn Quốc, Ấn Độ và Thái Lan Ngược lại, nguyên liệu thảo dược của Hồng Kông được xuất khẩu đến nhiều quốc gia trên toàn thế giới, đặc biệt là các nước Đông và Đông Nam Á; năm 2003, thị phần xuất khẩu cây dược liệu trong khu vực Đông Nam
Á đạt 86%; khoảng 50% lượng xuất khẩu đến các quốc gia Châu Á khác, 10% đến Trung Quốc và Hàn Quốc, 6% đến Mỹ và Canada Tuy nhiên, tầm quan trọng của trung tâm thương mại Hồng Kông đã giảm đi trong thời kỳ thống kê do thay đổi về chính trị Ngày 01/07/1997 đảo Hồng Kông thuộc địa của Hoàng gia Anh đã được trao trả và trở thành Đặc khu Hành chính của Trung Quốc Điều này đã ảnh hưởng nghiêm
Trang 18trọng đến hoạt động kinh doanh cây dược liệu của Hồng Kông, làm sụt giảm 71% sản lượng từ 83.400 tấn năm 1991 xuống còn 24.200 tấn năm 2003 Cùng thời gian đó, lượng xuất khẩu của Trung Quốc đã tăng 57%
Bình quân nhập khẩu ròng của tất cả các quốc gia được chia thành 2 nhóm: nhóm nước tiêu thụ và nhóm nước xuất khẩu cây dược liệu Nhóm nước tiêu thụ nhiều nhất có giá trị nhập khẩu ròng dương, còn những nước cung cấp nguyên liệu chính có giá trị nhập khẩu ròng âm Theo đó, Nhật Bản là quốc gia tiêu thụ nhiều nhất, lượng nhập khẩu ròng của nước này đã vượt quá ngưỡng trung bình 46.200 tấn trong thời kỳ
1991 – 2003 Sau Nhật Bản là Mỹ, Hàn Quốc và Đức, lượng nhập khẩu ròng trung bình của 3 nước này nằm trong khoảng 31.500 – 38.000 tấn Một quốc gia khác của Châu Âu là Pháp cũng nằm trong top tiêu thụ nhiều nhất, với lượng nhập khẩu ròng trung bình đạt 14.200 tấn Các quốc gia tiêu thụ thường nhập khẩu nguyên liệu tự nhiên hoặc đã sơ chế một phần từ ngành công nghiệp phát triển nhất của mình, ví dụ như chiết xuất, hương liệu, trà, mỹ phẩm hoặc dược phẩm, sau đó bán lại dưới dạng thành phẩm cho thị trường trong nước hoặc xuất khẩu ra nước ngoài
Đức và Mỹ, ngoài vai trò trung tâm thương mại, cũng nằm trong nhóm những quốc gia tiêu thụ nguyên liệu thảo dược nhiều nhất thế giới Mặt khác, Trung Quốc là nước cung cấp nguyên liệu tự nhiên quan trọng nhất cho thị trường cây dược liệu và hương thảo thế giới, giá trị xuất khẩu ròng của quốc gia này trung bình đạt 135.000 tấn Ấn Độ, với giá trị xuất khẩu ròng trung bình 34.250 tấn, xếp vị trí thứ 2 Trong khu vực Châu Âu, Bulgaria và Albania là những quốc gia xuất khẩu cây dược liệu nhiều nhất; trong khu vực Châu Mỹ là Mexico và Chile; còn ở Châu Phi là Ai Cập và Morocco Giá trị nhập khẩu ròng trung bình của những nước này dao động trong khoảng 7950 – 10.000 tấn
Từ năm 1991 đến 2003, trung bình Nhật Bản nhập khẩu 46.450 tấn cây dược liệu/năm, tương đương giá trị 131 triệu USD Hơn 50% nguyên liệu của quốc gia này,
và 53% năm 2003, được nhập khẩu từ Trung Quốc Các nước xuất khẩu nguyên liệu quan trọng khác cho Nhật Bản gồm Ấn Độ (17% năm 2003) và Thái Lan (15% năm 2003) Năm 2003, Nhật còn nhập khẩu từ Việt Nam (3,3%) và Sudan (3%)
Mỗi năm, Hàn Quốc nhập khẩu trung bình 33.500 tấn thảo dược, đạt giá trị 50 triệu USD Năm 2003, nguyên liệu này được nhập từ ít nhất 49 quốc gia, tuy nhiên,
Trang 19từ Uzbekistan (3%) và Myanmar (2%) Khối lượng xuất khẩu của Hàn Quốc tương đối thấp, trung bình là 1990 tấn, nhưng mang lại giá trị cao, 66 triệu USD Điều này có liên quan đến việc Hàn Quốc là một trong những quốc gia xuất khẩu rễ cây nhân sâm lớn nhất thế giới
Quốc gia dẫn đầu thế giới về cây dược liệu là Trung Quốc, với lượng xuất khẩu trung bình 150.600 tấn/năm, đạt giá trị 266 triệu USD Mặc dù xuất khẩu tới ít nhất 65 nước trong thời kỳ này, nhưng khoảng 90% giá trị xuất khẩu của Trung Quốc tập trung
ở thị trường Đông và Đông Nam Á: năm 2003, 35% lượng nguyên liệu được xuất sang Hồng Kông, 21% sang Hàn Quốc, 10% sang Nhật Bản, 7,7% sang Việt Nam và 10% sang các quốc gia Châu Á khác Thị phần xuất khẩu trên 2 thị trường lớn Mỹ và Đức lần lượt là 2,4% và 1,7% Lượng xuất khẩu của Trung Quốc đã tăng 57%, từ gần 110.000 tấn năm 1991 lên 168.300 tấn năm 2003, và đạt đỉnh 186.400 tấn năm 2000 Điều này có được là nhờ thị trường xuất khẩu của Hồng Kông suy giảm trong suốt thập niên 90 Lượng nhập khẩu trung bình chỉ bằng vỏn vẹn 10% so với xuất khẩu (15.550 tấn, tương đương giá trị 41,6 triệu USD)
Ấn Độ xếp thứ 2 thế giới về nguồn cung cây dược liệu, với lượng xuất khẩu trung bình/năm đạt 40.400 tấn, tương đương 61,7 triệu USD Sản lượng xuất khẩu của quốc gia này dao động trong khoảng 31.000 – 49.000 trong thời kỳ 1991 – 2003 Ấn
Độ đã xuất khẩu sang ít nhất 95 quốc gia Hai thị trường lớn nhất là Mỹ và Châu Âu;
cụ thể, năm 2003, thị phần xuất khẩu của Mỹ đạt 31%, xét về khối lượng hàng hóa, và của Châu Âu là 25% Những quốc gia nhập khẩu với khối lượng trên 1000 tấn gồm Nhật Bản, Đức, Tây Ban Nha, Trung Quốc, Pakistan, Pháp, Mexico, Anh, Bangladesh
và Hồng Kông Lượng nhập khẩu trung bình của Ấn Độ là 6150 tấn; phần lớn có nguồn gốc từ những quốc gia láng giềng như Nepal, Sri Lanka, Pakistan, Afghanistan
và Myanmar Qua đó, có thể coi Ấn Độ là một trung tâm thương mại nhỏ của khu vực Nam Á
Ở châu Mỹ La tinh, Mexico nhập khẩu trung bình 37.600 tấn cây dược liệu/năm, với giá trị nhập rất thấp: 143 triệu USD Trong khi đó, khối lượng xuất khẩu trung bình của quốc gia này lại cao, nhờ sự tăng trưởng đáng kể về khối lượng xuất khẩu từ năm 2000 Trong thập niên 90, xuất khẩu chỉ dao động từ 4700 – 17.600 tấn, nhưng sau đó, đã tăng lên 42.550 tấn năm 2000, 81.550 tấn năm 2001, 130.150 tấn
Trang 20năm 2002 và 147.300 tấn năm 2003 Nhìn chung, sản lượng xuất khẩu đã tăng gấp 16 lần so với trước đó Có đến 99% giá trị xuất khẩu là của thị trường Mỹ
Đứng thứ hai về nguồn cây dược liệu là Chile, mỗi năm xuất khẩu trung bình
9850 tấn, và dao động trong khoảng 9000 – 16.000 trong cả thời kỳ điều tra thống kê Tổng giá trị thu được trung bình lên tới 26,4 triệu USD Mỗi năm, trung bình Chile chỉ phải nhập khẩu 320 tấn nguyên liệu thảo dược Mặt hàng này được xuất khẩu đến ít nhất 35 quốc gia, trong đó Đức là nước nhập khẩu nhiều nhất, chiếm 38% thị phần năm 2003, theo sau là Nam Mỹ 35%, Brazil 14% và Argentina 13%
Theo thống kê trong cơ sở dữ liệu COMTRADE, ở lục địa Phi Châu, Ai Cập là quốc gia có lượng xuất khẩu cây dược liệu trung bình cho thị trường thế giới cao nhất
Từ 1991 đến 2003, Ai Cập đã xuất khẩu trung bình 11.800 tấn/năm, tương đương giá trị 13,5 triệu USD, cho ít nhất 66 quốc gia Đối tác kinh doanh chính của Ai Cập là Đức, chiếm 26% thị phần xuất khẩu năm 2003, và Mỹ 20% Ngoài ra, một số quốc gia nhập khẩu nguyên liệu từ Ai Cập với số lượng lớn còn có BaLan, Anh, Hà Lan, Italia
và Pháp Khối lượng xuất khẩu của nước này dao động trong khoảng 6000 – 16.000 tấn Trong khi đó, lượng nhập khẩu trung bình là 3520 tấn, tương đương giá trị 2,4 triệu USD Ngoài Ai Cập, một quốc gia Châu Phi khác là Morocco cũng có khối lượng xuất khẩu cây dược liệu trung bình/năm cho thị trường thế giới cao, đạt 8500 tấn, tương đương giá trị 13,7 triệu USD Từ 1991 đến 2003, khối lượng xuất khẩu đã tăng
từ 6700 tấn lên 10.750 tấn
I.3 Vấn đề giá thành xuất - nhập khẩu cây dược liệu:
Giá thành giúp đưa ra những nhận xét, đánh giá về loại hình hàng hóa, mức độ được chế biến của những hàng hóa đó, và tình hình đời sống kinh tế xã hội của người thu hoạch Hai ví dụ về trường hợp giá thành xuất nhập khẩu cây thuốc đến nhiều nước khác nhau của Đức và một số quốc gia khác sẽ minh chứng cho điều này
Giá thành xuất nhập khẩu cây dược liệu của Đức cho nhiều nước khác nhau được lấy trong thời kỳ 1991 – 2000 Trung bình, giá nhập khẩu của quốc gia này là
2430 USD/tấn, và xuất khẩu là 4580 USD/tấn Như vậy, trung bình mỗi tấn thảo dược lãi 2150 USD Phần giá trị thặng dư này cho thấy hàng hóa xuất khẩu đã được xử lý khá nhiều so với nhập khẩu Các nước cung cấp cây nguyên liệu xuất khẩu sang Đức được chia thành 2 nhóm Một nhóm gồm các nước Thổ Nhĩ Kỳ, Balan, Albania,
Trang 21Giá thành thấp do thị phần nguyên liệu thảo dược và thị phần hàng hóa thu hoạch ngoài tự nhiên lớn; tuy nhiên, điều này còn lệ thuộc vào các điều kiện chính trị hoặc kinh tế xã hội của nước xuất khẩu, ví dụ như tỷ lệ thất nghiệp cao, nghèo đói hoặc thu nhập thấp Nhóm khác gồm Chile, Mỹ, Hồng Kông, Áo và Nhật Bản Với nhóm này, Đức phải trả một mức giá cao hơn mức bình quân để nhập hàng hóa, đặc biệt riêng với Đài Loan, mức giá còn cao hơn gấp 10 lần Giá thành cao được áp dụng với những sản phẩm đã qua sơ chế hoặc bán thành phẩm (ví dụ: trà túi lọc thành phần là các bộ phận của cây hoặc toàn bộ một cây), sản phẩm thảo dược hữu cơ đã được chứng nhận (như trường hợp của Áo), hoặc các loại thảo dược có giá trị kinh tế lớn như rễ nhân sâm
So với bình quân của một số quốc gia trên thế giới, giá xuất khẩu sản phẩm thảo dược của Đức cũng gần tương đương Bình quân trong thời kỳ điều tra thống kê, giá xuất khẩu hàng năm của thế giới là 2550 USD/tấn Nhìn chung, những quốc gia tiêu thụ nhiều thảo dược và những nước có ngành công nghiệp chế biến cây dược liệu phát triển mạnh thường có giá xuất khẩu cao hơn; chẳng hạn, thảo dược nguồn gốc từ Pháp
có giá 4980 USD/tấn, từ Thụy Điển giá 7790 USD/tấn, Nhật Bản 20.810 USD/tấn và Hàn Quốc 33.230 USD/tấn Hàng hóa xuất khẩu chủ yếu là sản phẩm đã chế biến hoặc thảo mộc có giá trị kinh tế lớn (như rễ nhân sâm của Hàn Quốc) So với những con số thống kê trên đây, giá xuất khẩu bình quân của Đức là tương đối thấp, khoảng 4520 USD Đây là một thực tế đáng kinh ngạc, mặc dù vậy, nó càng làm nổi bật vai trò trung tâm thương mại của Đức trên phạm vi toàn thế giới và Châu Âu là khu vực có thị phần xuất khẩu nguyên liệu tự nhiên hoặc sản phẩm đã sơ chế qua tương đối lớn Những quốc gia xuất khẩu nguyên liệu thảo dược nhiều nhưng giá thấp hơn bình quân thế giới gồm có: Trung Quốc 1770 USD/tấn, Ấn Độ 1530 USD/tấn, Albania 1450 USD/tấn, Bulgaria 1400 USD/tấn và Ai Cập 1150 USD/tấn Ngoài ra, còn một nước xuất khẩu cây dược liệu khác với giá thành vô cùng rẻ là Mexico, chỉ 380 USD/tấn Giá những loài thảo dược xuất xứ từ Azerbaijan, Bangladesh, Belize và Niger cũng thấp tương tự, dao động từ 250 – 350 USD/tấn Giá thấp chứng tỏ rằng hàng hóa được xuất khẩu chủ yếu dưới dạng thô tự nhiên (chưa qua chế biến), và hầu hết là cây dại Lãi chênh lệch giữa xuất và nhập cũng tương đối thấp Do vậy, chỉ những người thất nghiệp hoặc nhân công không có tay nghề hoặc thu nhập thấp mới đi thu hái thảo dược Thông thường, hoạt động này hay phổ biến ở những nước có thu nhập trung bình thấp, điều kiện kinh tế xã hội khó khăn, và/hoặc đời sống người dân nghèo khổ
Trang 22Các quốc gia có nhu cầu sử dụng lớn thường mua nguyên liệu từ những nước bán giá thấp để kiếm lời chênh lệch Điều này đã giúp giải thích cho việc kim ngạch xuất khẩu cây dược liệu của Mexico tăng mạnh kể từ năm 2000
Thông qua phân tích số liệu thống kê thương mại quốc tế của 110 quốc gia về hàng hóa cây dược liệu trong giai đoạn 1991 – 2003, có thể rút ra một số kết luận như sau:
+ Việc kinh doanh cây dược liệu chủ yếu do một số nước chi phối Có 12 quốc gia mạnh nhất chiếm 80% cả kim ngạch xuất khẩu lẫn nhập khẩu trên thị trường thế giới Ba trung tâm thương mại lớn về cây dược liệu đã được xác định, đó là: Đức – cung cấp cho thị trường Châu Âu, Hoa Kỳ - cung cấp cho Nam Mỹ, và Hồng Kông – cung cấp cho các nước Đông và Đông Nam Á Những quốc gia hoạt động nhiều trong lĩnh vực thương mại về cây dược liệu có thể chia thành 2 nhóm: nhóm các nước tiêu thụ, với kim ngạch nhập khẩu ròng dương; và nhóm cung cấp nguyên liệu, với kim ngạch xuất khẩu ròng âm Trong 2 nhóm này:
- Nhật Bản, Mỹ, Hàn Quốc, Đức và Pháp là những quốc gia dẫn đầu về lượng tiêu thụ thảo dược
- Trung Quốc, Ấn Độ, Mexico, Bulgaria, Chile, Ai Cập, Morocco và Albania dẫn đầu thế giới về nguồn cung nguyên liệu
+ Nhìn chung, những thị trường lớn đều tập trung ở các nước phát triển, ngược lại, phần lớn cây dược liệu được xuất khẩu từ các nước đang phát triển Những nước cung cấp nguyên liệu chủ yếu xuất khẩu nguyên liệu thô tự nhiên, thường là cây dại; lãi chênh lệch thu được do vậy tương đối thấp lợi nhuận chủ yếu thu được từ một số rất ít nước tiêu thụ Việc chế biến, chủ yếu được thực hiện tại các nước tiêu thụ và các trung tâm thương mại về cây dược liệu
Theo quy định quốc tế, toàn thế giới không được khai thác tài nguyên cây dược liệu hoang dã Do vậy, việc khai thác chỉ gói gọn trong một vài khu vực, nên dễ dẫn đến tình trạng khai thác quá mức Hiện nay, chúng ta đang phải đối mặt với sức ép ngày càng lớn về bảo tồn các quần thể thực vật hoang dã do tình trạng thu hái tràn lan
để bán, kinh doanh không kiểm soát, và mất sinh cảnh Như đã đề cập trong phần mở đầu, những thống kê chi tiết cần thiết về số liệu thương mại (quốc tế) về cây dược liệu (kích thước, cấu trúc, dòng giống, số lượng giao dịch và nguồn gốc) là (1) rất cần thiết
Trang 23vật liên quan; và (2) đòi hỏi phải có kế hoạch và biện pháp bảo tồn để đảm bảo nguồn cung và dự trữ những loài cần bảo tồn cho tương lai Để giảm áp lực tác động lên những quần thể thực vật này, cần tăng giá trị nguyên liệu thảo dược xuất khẩu bằng cách thực hiện công đoạn sơ chế ban đầu ngay tại quốc gia xuất xứ và/hoặc tăng thu nhập cho nhân công thu hái
II Chính sách, kinh nghiệm phát triển nguồn dược liệu của Trung Quốc
II.1.Tiềm năng dược liệu và hệ thống Y học cổ truyền Trung Quốc
Đã từ lâu, y học cổ truyền đã được đưa vào hệ thống chăm sóc sức khỏe quốc gia Trung Quốc có hệ thực vật rất đa dạng và phong phú, với rất nhiều loài dược liệu
và thảo mộc, phần lớn những loài này được người dân gieo trồng
Y học cổ truyền Trung Hoa có lịch sử hơn 4000 năm phát triển Hiện nay, nó đã trở thành một bộ phận quan trọng trong hệ thống chăm sóc sức khỏe quốc gia cùng với
y học phương Tây Việc chữa bệnh bằng y học cổ truyền thường dựa trên đánh giá toàn diện về người bệnh và các triệu chứng bệnh Các liệu pháp điều trị trong y học cổ truyền Trung Quốc bao gồm: thuật châm cứu, thuốc thảo dược, trị liệu bấm huyệt (manual therapies), tập thể dục, kỹ thuật hít thở và chế độ ăn uống Châm cứu là liệu pháp được sử dụng nhiều nhất và phổ biến rộng rãi ở khắp mọi nơi trên thế giới Gần 40% trong tổng số các dịch vụ chăm sóc sức khỏe là dịch vụ y cổ truyền Ở các khu đô thị, dịch vụ y tế chủ yếu do bệnh viện cung cấp và hầu hết theo hệ thống y học phương tây, mặc dù vậy, ở khu vực nông thôn, khả năng tiếp cận với hệ thống bệnh viện còn khá thấp, do vậy thầy lang y cổ truyền là người cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho họ Trung Quốc có hơn 1,3 triệu thầy lang y cổ truyền, trong đó khoảng 450.000 người đang làm việc tại các bệnh viện và các tổ chức Nhà nước Từ điển Y dược Trung Hoa được xuất bản lần đầu năm 1963 và được coi là tài liệu có tính chất ràng buộc pháp lý Cuốn sách bao gồm 992 chuyên khảo cấp quốc gia về thảo dược Những yêu cầu về quy định đối với thuốc thảo dược bao gồm cả việc tuân thủ thông tin có trong Từ điển và các chuyên khảo Có hơn 9000 loại thuốc thảo dược đã được đăng ký bảo hộ tính đến cuối năm 2002, trong đó 1242 loại đã được đưa vào danh mục thuốc thiết yếu của quốc gia Hệ thống giám sát hậu tiếp thị quốc gia đã đưa thêm mục theo dõi tác dụng phụ của thuốc kể từ năm 1984
Trang 24Trung Quốc là một trong những quốc gia có hệ đa dạng thực vật lớn nhất thế giới Đất nước sở hữu hơn 30.000 loài thực vật bậc cao, trong đó có 17.300 loài đặc hữu, chiếm 57% tổng số loài thực vật bậc cao của Trung Quốc Hơn 11.000 loài là cây dược liệu Hơn 300 loài thảo mộc đang được gieo trồng tại thành phố Vũ Hán thuộc tỉnh Hồ Bắc với diện tích canh tác lên tới 8670 ha Trung quốc cũng đồng thời dẫn đầu trong việc sản xuất những loài thảo mộc có nhu cầu sử dụng lớn như rễ sa sâm (Adenophora triphylla (Thunb.), thân rễ cây tri mẫu (Anemarrhena asphodeloides Bunge), hoa cúc (Dendranthema ×grandiflorum (Ramat.) Kitam.), thân rễ cây khoai lang Trung Quốc (Diosco-rea oppositifolia L.), rễ bạch chỉ (Angelica dahurica (Fisch.) Benth & Hook f ex Franch & Sav.) và hạt bo bo (Coix lacryma-jobi L.) Bên cạnh phục vụ nhu cầu sử dụng trong nước, những loài kể trên còn được xuất khẩu sang Nhật Bản, các nước Đông Nam Á và Tây Âu Mỗi năm, Vũ Hán sản xuất được 25.000 tấn thảo dược
Có gần 1000 loài thảo mộc được sử dụng phổ biến trong các bài thuốc dân gian Trung Quốc, trong đó hơn ¾ được thu hoạch từ tự nhiên Từ năm 1979, nhu cầu khám chữa bệnh bằng y học cổ truyền đã tăng 9%/năm Chính sự tăng lên về nhu cầu cả ở trong nước và nước ngoài này đã dẫn đến tình trạng khai thác quá mức và đẩy nhanh tốc độ thoái hóa nguồn tài nguyên cây dược liệu và thảo mộc tự nhiên của quốc gia Một số loài dược liệu và thảo mộc quan trọng của Trung Quốc bao gồm:
Nhân sâm châu Á (Panax quinquefolius ) du nhập vào Trung Quốc từ năm
1975 Loài cây này được gieo trồng tại hơn 10 tỉnh thành và cho sản lượng thu hoạch hàng năm hơn 50 tấn Văn phòng Kiểm lâm Mục Lăng (Muling Forestry Bureau) thuộc tỉnh Hắc Long Giang là cơ sở sản xuất loài cây này lớn nhất Trung Quốc, với 47.000 m2 diện tích đất gieo trồng nhân sâm
Cây Macrocarpium (Macrocarpium officinalis (Sieb.et Zucc.) Nakai.) được trồng phổ biến ở nhiều tỉnh như Triết Giang, An Huy, Hà Nam, Sơn Đông, Sơn Tây và
Tứ Xuyên Sản lượng thu hoạch hàng năm của quốc gia đối với loài cây này dao động trong khoảng 600 – 900 tấn Tổng diện tích đất canh tác Macrocarpium năm 1987 là
1333 ha, cho sản lượng hàng năm 160 tấn
Cây Bạch quả (Ginkgo biloba L.) được phân bố trên khắp 20 tỉnh thành quốc gia với khoảng 0,7 – 0,8 triệu cây Sản lượng thu hoạch hàng năm: nhân hạt đạt 5000 –
Trang 25Nhân sâm (Panax ginseng C A Mey.) là một trong những loài chủ lực của vùng phía Bắc Trung Quốc Tỉnh Cát Lâm là nơi sản xuất nhiều nhân sâm nhất, chiếm 80% tổng sản lượng quốc gia và 40% tổng sản lượng thế giới Văn phòng Kiểm lâm thành phố Bạch Sơn thuộc tỉnh Cát Lâm đã quy hoạch được 20 ha diện tích đất trồng nhân sâm, cho sản lượng 175 tấn/năm
Tổng sản lượng tinh dầu hàng năm của Trung Quốc đạt khoảng 20.000 – 30.000 tấn Màng tang (Litsea cubeba (Lour.) Pers.) là một loài thảo mộc quan trọng và phân
bố rộng rãi ở hầu hết các tỉnh thành trong cả nước Gần như toàn bộ bộ phận của cây, bao gồm rễ, thân, lá, vỏ cây và quả, đều chứa dầu thơm, đặc biệt là quả cây – nguồn nguyên liệu chính chiết xuất tinh dầu cubeba Quy trình xử lý (secondary processing) cubeba cũng mang lại lợi nhuận đáng kể Cây Bạch đàn (Eucalyptus) du nhập vào Trung Quốc từ hơn 100 năm trước, hiện đang được gieo trồng trên hiện tích hơn 670.000 ha và phân bố tại 16 tỉnh thành
Từ những năm 1980, lượng gieo trồng cây dược liệu đã tăng lên nhanh chóng
Có gần 340.000 nông dân đã tham gia vào canh tác cây dược liệu và thảo mộc trên tổng số diện tích khoảng 137.594 ha Hơn 250 loài thảo mộc đang được gieo trồng vì mục đích thương mại và khoảng 60 loài trong số đó được chú ý đặc biệt khi canh tác Nhiều loài ngoại lai cũng được đưa vào canh tác, trong đó khoảng 30 loài đã được trồng thành công từ 30 năm nay Gần 2000 loài dược liệu ngoại lai đang được bảo tồn tại nhiều khu vườn bách thảo
Viện Nghiên cứu Cây thảo dược (Institute of Medicinal Plant) thuộc Học viện Khoa học Y dược Trung quốc (Chinese Academy of Medical Sciences) đã và đang chuẩn bị một loạt chuyên khảo về những loài dược liệu phổ biến của quốc gia Những tài liệu này được chia thành 3 tập, cung cấp những thông tin về môi trường sống, phân
bố, tình hình thu hái, đơn thuốc, thành phần, hoạt động dược lý, cách sử dụng, liều dùng cùng những hình ảnh về cây dược liệu
II.2 Quy hoạch các vùng dược liệu và thảo mộc ở Trung Quốc
Ở Trung Quốc, nguồn dược liệu được tập trung phát triển theo quy hoạch các vùng/miền mà điều kiện thiên nhiên phù hợp nhất với các loại dược liệu, đó là các miền/vùng cụ thể như sau:
II.2.1 Miền núi:
Trang 26Khu vực miền núi rất giàu tài nguyên sinh học Trong số 32.800 loài thực vật và
4400 loài động vật của Trung Quốc, phần lớn đều sinh sống ở khu vực miền núi Khoảng 90% diện tích rừng của Trung Quốc (117 triệu ha) đều nằm ở vùng núi với tổng trữ lượng gỗ là 8142 triệu (chiếm 80% tổng trữ lượng quốc gia) Một phần diện tích rừng rộng lớn là nơi cung cấp lâm sản ngoài gỗ cho hàng loạt sản vật như trái cây, chè, dầu thực vật, thảo dược, mây và nhiều sản phẩm khác Bên cạnh các nguồn tài nguyên sinh học, khu vực miền núi còn rất phong phú về tài nguyên khoáng sản và thủy văn
Từ thời xa xưa, người Trung Quốc đã biết sử dụng các loài thảo mộc vào hệ thống Y học cổ truyền của mình Số lượng các loài thảo mộc được ghi nhận hiện đã xấp xỉ đạt 6000, trong đó có 250 loài là cây dược liệu Đối với y học Trung Quốc, khu vực núi Tây Himalaya giữ vai trò vô cùng quan trọng vì đây là khu vực có trữ lượng các loài thảo dược vô cùng lớn
Có 3 tỉnh Trung Quốc nằm trong khu vực núi Tây Himalaya, gồm: Tứ Xuyên, Vân Nam và Tây Tạng Người Trung Quốc thường sử dụng từ ngữ để chỉ nguồn gốc của các loài thảo mộc, ví dụ như “Yun” trong Yunnan (Vân Nam) hay “Chuan” trong Sichuan (Tứ Xuyên) Ngoài ra, khu vực còn là nơi sinh sống của gần một nửa các cộng đồng người thiểu số Trung Quốc: riêng tỉnh Vân Nam đã có 23 cộng đồng người dân tộc thiểu số, mỗi cộng đồng trong số đó lại có những cách thức sử dụng cây dược liệu riêng biệt
II.2.2 Khu vực Đông Bắc:
Khu vực này bao gồm 128 huyện miền núi thuộc 3 tỉnh Đông Bắc và vùng Nội Mông Cổ Phương hướng phát triển của khu vực là thành lập một cơ sở sản xuất kinh doanh lâm sản gỗ và cơ sở công nghiệp chế biến lâm sản Việc phát triển và sử dụng rộng rãi những loài thực vật, hoa quả dại, nấm ăn được và các loại thực phẩm xanh khác cùng cây dược liệu (đặc biệt là nhân sâm) cũng được liệt kê vào danh sách những đối tượng chính cần ưu tiên phát triển
II.2.3 Khu vực Tây Nam:
Có tất cả 323 huyện trực thuộc nằm trong khu vực này Đây là khu vực nguồn của các sông Yantze và Zhujiang, đồng thời là cơ sở sản xuất lâm sản gỗ chính Phương hướng phát triển cho khu vực kết hợp sản xuất với bảo vệ môi trường Các dự
Trang 27nguyên liệu công nghiệp và cây dược liệu, cũng như một số lâm sản gỗ đặc biệt và có giá trị cùng các loại trái cây nhiệt đới
II.2.4 Khu vực Tây Bắc:
Đây là khu vực khô hạn và bán khô hạn, bao gồm 26 huyện miền núi Nhiệm vụ phát triển chính của khu vực là bảo tồn nguồn nước và các hoạt động bảo vệ rừng khác, và thành lập một số cơ sở chế biến trái cây và cây dược liệu
II.2.5 Khu vực cao nguyên Thanh Hải – Tây Tạng:
Khu vực miền cao và lạnh này có 86 huyện trực thuộc và rất giàu tài nguyên động thực vật hoang dã và quý hiếm Phương hướng phát triển của khu vực là phát triển nguyên liệu thảo dược vùng cao cùng các loại trái cây tươi và khô, kết hợp với bảo tồn hiệu quả tài nguyên đa dạng sinh học hoang dã Như vậy, trồng trọt và chăn nuôi là 2 hướng tiếp cận chính
II.3.Chính sách phát triển nguồn dược liệu của Trung Quốc
II.3.1 Chính sách đầu tư cho nghiên cứu và phát triển (R&D) để phát triển dược liệu
Sau khi nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được thành lập, đặc biệt là từ năm
1978, công tác nghiên cứu về các loại thuốc chữa bệnh nguồn gốc tự nhiên cùng với ngành khoa học và công nghệ y dược cổ truyền Trung Quốc đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể Trung Quốc đã thiết lập nhiều mối quan hệ hợp tác Chính phủ và phi Chính phủ trong lĩnh vực y cổ truyền với hầu hết mọi quốc gia trên thế giới, đã thực hiện trao đổi, hợp tác phát triển y cổ truyền Trung Hoa với hơn 40 quốc gia và khu vực khác nhau Trong mối quan hệ hợp tác với Tổ chức Y tế Thế giới WHO, 7 trung tâm hợp tác về Y học Cổ truyền Trung Hoa đã được thành lập tại Trung Quốc Một số tổ chức tại Hoa Kỳ, Anh, Việt Nam, Australia, Bỉ, Malaysia và nhiều quốc gia khác đã tham gia phối hợp nghiên cứu về y cổ truyền Trung Quốc với các nhà nghiên cứu
Tổ chức WHO phối hợp với Viện Dược liệu Trung Quốc đã xuất bản một cuốn sách có tựa đề “Cây dược liệu Trung Hoa” Cuốn sách đã liệt kê 150 loài thảo mộc được sử dụng nhiều nhất trong y cổ truyền Trung Hoa đi kèm với tên thường gọi, tên tiếng Anh và tiếng Trung, bộ phận được sử dụng và chi tiết hình dáng, môi trường sống, phân bổ theo vùng địa lý, chỉ dẫn lâm sàng, liều sử dụng và hình ảnh của chúng
Trang 28Các nhà khoa học của Học viện Khoa học Trung Hoa tại Bắc Kinh mới đây đã phát triển một Cơ sở dữ liệu về các loại thuốc của Trung Quốc, cách sử dụng hợp lý và nghiên cứu hiệu quả những loại dược phẩm này Cơ sở dữ liệu chứa thông tin mô tả chi tiết về 885 loại thuốc có sẵn phổ biến và được sử dụng nhiều nhất tại Trung quốc,
về 120 loài thảo dược quan trọng nhất, và 150 căn bệnh cùng các biện pháp điều trị tương ứng Sách Dược điển của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa năm 2000 gồm 2 tập, là tuyển tập 2691 chuyên khảo về thuốc Tập I gồm 992 chuyên khảo về thuốc thô
và các loại thuốc cổ truyền đã đăng ký sáng chế của Trung Quốc, tập II gồm 1699 chuyên khảo về các loại thuốc hóa học Mới đây, trường Đại học Macao đã xuất bản tập I sách hướng dẫn canh tác 50 loài thảo dược của Đặc khu Hành chính Macao bằng tiếng Trung và tiếng Anh đầu tiên
Đối với một số loại dược liệu, Trung quốc tập trung đối chiếu và đánh giá các
sản phẩm thảo dược từ những chủng loại bài thuốc hoặc công thức kê đơn trong y học
cổ truyền; Phát triển lý thuyết và phương pháp thích hợp để phát triển bài thuốc FuFang (là những bài thuốc thảo dược hỗn hợp); Tập trung vào ứng dụng lý thuyết của
y học Trung Quốc vào phát triển những sản phẩm từ bài thuốc FuFang
Quy định liều lượng sử dụng FuFang theo từng kết quả thực nghiệm để đảm bảo kê đơn đúng những bài thuốc dân gian có hiệu quả điều trị, độ ổn định và chất lượng cao Đây cũng là nhằm mục đích cung cấp các sản phẩm “3 hiệu quả” (hiệu quả điều trị, hiệu quả khởi phát hoạt động nhanh và hiệu quả thời gian thích hợp), “3 thấp” (liều lượng thấp, độc tính thấp, tỷ lệ phản ứng phụ thấp), và “3 dễ dàng” (dễ cất trữ, dễ mang đi xa và dễ sử dụng)
Trung quốc cũng ứng dụng công nghệ hiện đại đang áp dụng cho dược phẩm chính thống để nghiên cứu và phát triển liều lượng sử dụng đối với dược phẩm thảo dược Cần nói rõ thêm là việc thiết kế những dạng thuốc bào chế mới phải giữ được những đặc tính vốn có của dược phẩm thảo dược Trung Quốc
II.3.2.Cơ chế khung dành cho R&D về dược phẩm thảo dược Trung Quốc:
Một số định hướng cho phát triển R&D dược liệu gồm:
- Tiếp thu, tận dụng những tiến bộ trong các lĩnh vực vật lý, hóa học hiện đại, khoa học máy tính và thông tin để xây dựng các phương pháp tách chiết thành phần
Trang 29- Thiết lập các mô hình phòng thí nghiệm đạt chuẩn phục vụ cho công tác đánh giá phương pháp và cung cấp những chỉ số phù hợp dành cho sàng lọc dược lý đối với cây dược liệu của Trung Quốc
- Tăng cường phát triển, bảo vệ và canh tác cây dược liệu Trung Quốc thông qua hướng dẫn Thực hành Nông nghiệp Tốt (GAP)
- Xây dựng và củng cố những nghiên cứu mang tính lý thuyết và phương pháp luận về độc tính trong thảo dược Trung Quốc
- Tăng cường nghiên cứu về chế biến nguyên liệu thảo dược thô
- Phát triển phương pháp kiểm soát chất lượng đối với nguyên liệu thảo dược Trung Quốc và các sản phẩm sản xuất thông qua xây dựng những chỉ dẫn thực hành tốt như GAP, GSP, GLP, GMP và GCTP phù hợp cho sản xuất dược phẩm nguồn gốc thảo dược Trung Quốc
- Thiết lập các hệ thống phát triển để đảm bảo chất lượng cho toàn bộ dược phẩm Trung Quốc, bao gồm trung tâm sàng lọc quốc gia, các trung tâm tiêu chuẩn hóa, trung tâm GMP và trung tâm GCTP về dược phẩm thảo dược Trung Quốc
- Thiết lập hệ thống thông tin Internet về Y học Trung Quốc bằng cách sử dụng Knowledge of Database Discovery (KDD) – mô hình nhận diện chiết xuất thảo dược phục vụ cho công tác xác định và đảm bảo chất lượng sản phẩm…
II.3.3 Chính sách bảo tồn dược liệu:
Ngày nay, công tác bảo tồn tài nguyên cây dược liệu ở Trung quốc khỏi tình trạng khai thác quá mức và phá hủy môi trường sống đang gặp phải nhiều thách thức Chẳng hạn, 70 – 80% nguyên liệu đủ để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ hàng năm gần 1 triệu tấn đều được thu hoạch ngoài tự nhiên Lượng tiêu thụ hàng năm đối với nguồn tài nguyên này đã tăng gấp 100 lần so với năm 1980 Nhiều nguyên liệu còn có nguồn gốc
từ những loài đang bị đe dọa, hoặc những loài hiếm hay có nguy cơ tuyệt chủng do tình trạng khai thác ồ ạt trên quy mô lớn Ví dụ, những loài như nhân sâm Trung Quốc
và Dendrobium ngày nay rất hiếm khi còn gặp trong tự nhiên Một số loài khác đã bị tuyệt chủng, như Panax notoginseng dại đã không còn tìm thấy được ngoài tự nhiên từ nhiều thập kỷ nay và được cho là đã tuyệt chủng Do thiếu quy định được ban hành nên nguồn tài nguyên thảo dược của Trung Quốc hiện đang trải qua một cuộc khủng hoảng khai thác không bền vững Tình trạng này không chỉ diễn ra tại Trung Quốc
Trang 30Theo Báo cáo của Quỹ Bảo tồn Thiên nhiên hoang dã Thế giới (2004), hầu hết những loài thảo dược đang được con người sử dụng đều được thu hái ngoài tự nhiên Tại Châu Âu, có hơn 1300 loài thảo mộc đang được sử dụng, trong đó 90% là cây dại Việc thu hoạch và tiêu thụ thảo dược của con người đã đang gây ảnh hưởng nghiêm trọng và đe dọa tuyệt chủng đối với 20% trong tổng số loài đã biết đến ngày nay Để đối mặt với những vấn đề này, chính phủ Trung Quốc đã nhanh chóng có kế hoạch hành động Chính phủ đã xuất bản cuốn “Guideline for Modern Development of Chinese Medicines (2002 – 2010)” (Hướng dẫn Phát triển Y học Trung Hoa trong thời
kỳ hiện đại), trong đó có đoạn: “Vừa toàn dụng tài nguyên, chúng ta vừa phải chú ý bảo vệ tài nguyên và môi trường; Chúng ta còn phải bảo tồn đa dạng sinh học và cân bằng sinh thái, đặc biệt là phục hồi và tái tạo tài nguyên cây dược liệu Trung Quốc đang bị đe dọa nghiêm trọng hoặc nguồn cung có hạn Bên cạnh đó, việc bảo vệ và khuyến khích sử dụng bền vững tài nguyên dược liệu Trung Hoa đã được đưa vào danh mục 6 nhiệm vụ chủ lực cần thực hiện” Cùng với việc phát hành cuốn sách hướng dẫn này, công tác nghiên cứu bảo tồn cây dược liệu cũng trở thành một ưu tiên hàng đầu
Hiện tại, mạng lưới bảo tồn gồm có 4 trung tâm: trên cao nguyên Tây Tạng bảo tồn thảo mộc núi; tỉnh Tân cương bảo tồn cây dược liệu vùng Tây Bắc; vùng núi Trường Bạch bảo tồn cây dược liệu vùng Đông Bắc; và tỉnh Quảng Tây bảo tồn cây dược liệu vùng phía Nam Trung Quốc Một mạng lưới Bảo tồn ngoại vi cũng đã được thành lập, bao gồm 9 vườn thảo dược quốc gia và các trung tâm thu hoạch nguyên liệu
ở Bắc Kinh, Quảng Tây, Hải Nam, Vân Nam, Tân Cương, Tây Tạng, Cát Lâm và Nam Kinh, nhằm mục đích mở rộng nghiên cứu khoa học, làm vườn và giáo dục Cuối cùng, việc thành lập Ngân hàng Hạt giống Cây dược liệu Quốc gia Bắc Kinh đã giúp cung cấp một giải pháp đơn giản và hiệu quả về mặt chi phí cho công tác bảo tồn hạt giống
II.3.4 Chính sách thương mại hóa sản phẩm dược:
Theo Hội đồng Phát triển thương mại Hồng Kông (Hong Kong Trade Development Council), tổng giá trị thị trường toàn cầu về y cổ truyền Trung quốc hàng năm đạt 20 tỷ USD Có 800 nhà sản xuất dược phẩm thảo dược tại Trung Quốc,
Trang 31với tổng giá trị sản lượng hàng năm 1800 triệu USD và 13.000 nông trang trung ương được khoanh vùng để sản xuất và cung cấp nguyên liệu thuốc dùng trong y cổ truyền
Lấy sản xuất làm cơ sở, công nghiệp làm chủ quản và thương mại là cầu nối, một hệ thống sản xuất và lưu thông thuốc thảo dược Trung Quốc đã được thành lập
Có hơn 600 cơ sở sản xuất nguyên liệu thảo mộc, cho sản lượng khoảng 400.000 tấn/năm Hơn 4000 loại thuốc thảo dược đã đăng ký ở 40 dạng được sản xuất tại 684 nhà máy dược trên cả nước Bên cạnh đó, có hơn 1500 nhà máy bào chế nguyên liệu thảo mộc sơ chế Có hơn 30.000 cửa hàng bán buôn và bán lẻ thuốc thảo dược, với tổng doanh thu trong nước năm 1995 đạt 1,62 tỷ USD Năm 1997, tổng giá trị sản lượng ngành công nghiệp thuốc thảo dược Trung Quốc đạt 3,37 tỷ USD Hàng năm, Trung Quốc dành một khoản ngoại hối lớn để nhập khẩu gần 100 giống nguyên liệu thảo dược Nhờ gieo trồng thành công một số loài dược liệu và bảo vệ được nguồn tài nguyên tự nhiên và môi trường sinh thái của chúng nên lượng nhập khẩu đã giảm dần Theo Trung tâm Thương mại Quốc tế, giá trị nhập khẩu của Trung Quốc về cây và bộ phận của cây bao gồm hạt và quả sử dụng làm hương liệu, dược phẩm hoặc thuốc trừ sâu… ở dạng tươi hoặc khô trong giai đoạn 1997 – 2001 lần lượt đạt 9273, 12.514,
8541, 8210 và 9565 USD
Sản lượng trung bình hàng năm của sản phẩm dầu bạch đàn là khoảng 3000 tấn, 1/3 trong đó dành để xuất khẩu, chủ yếu sang 2 nước Pháp và Đức Sản lượng mặt hàng tinh dầu của Nhà máy Nước hoa Côn Minh, tỉnh Vân Nam, đạt khoảng 500 tấn/năm, trong đó có thương hiệu nước hoa “Nghi Lan” (Yilan) chứa hơn 80% tinh dầu bạch đàn và có uy tín cao trên thị trường quốc tế Tinh dầu bạch đàn chanh (Eucalyptus citriodora Hook) sản xuất tại Nhà máy Nước hoa Baihua thuộc tỉnh Quảng Châu, cùng các thành phần citronellal citronellol và rhodinol tinh chế từ tinh dầu thô tại Phúc Châu và Nhà máy Nước hoa Zhangzhou là những sản phẩm mang lại lợi nhuận kinh tế cao
Bên cạnh thị trường chính thức dưới sự kiểm soát của nhà nước còn có một thị trường y học cổ truyền không chính thức rất lớn, có khả năng cung cấp thậm chí cả những nguyên liệu bị cấm Chuỗi thành phẩm nguyên liệu thuốc cổ truyền chính thức
do nhà nước kiểm soát cũng tồn tại một thị trường không chính thức Tuy nhiên, hiện không có bất kỳ thông tin đáng tin cậy nào về xu hướng giá cả, phạm vi và động lực của thị trường này Tổng cầu về nguyên liệu thảo dược ước tính đạt 1,6 triệu tấn mỗi
Trang 32năm Trong số đó, chỉ có gần 0,3 triệu tấn là nguyên liệu từ cây trồng Mặc dù vậy, những thông tin trong lĩnh vực này vẫn chưa phải đáng tin cậy
II.3.5 Chính sách phát triển bền vững nguồn dược liệu:
Để đảm bảo sử dụng bền vững nguồn dược liệu, những biện pháp sau đây được thực hiện ở Trung quốc:
Tăng cường giáo dục và nâng cao nhận thức cho người dân địa phương về tầm quan trọng của việc sử dụng bền vững nguồn dược liệu có giá trị kinh tế,
Thu hoạch nguồn tài nguyên dược liệu một cách bền vững trên cơ sở có kế hoạch quản lý, dự trữ, bảo quản lâu bền và quy định lượng xuất khẩu hàng năm hợp lý
Thiết lập những khu bảo tồn dược liệu khoa học và có kế hoạch, nghiêm cấm mọi hoạt động của con người làm ảnh hưởng đến việc bảo tồn nguồn dược liệu và phát triển nhiều chương trình nghiên cứu khoa học và thiết lập cơ chế thu hoạch, bảo quản, dự trữ, sơ chế, sử dụng hợp lý nguồn dược liệu
II.3.6 Chính sách phát triển nguồn dược liệu bền vững khu vực miền núi:
Công tác phát triển bền vững ngày một trở nên quan trọng hơn, nhất là phát triển bền vững các nguồn dược liệu quý ở miền núi Xây dựng năng lực cho những người tham gia vào một dự án phát triển miền núi nhưng đồng thời cũng phải giúp chính quyền địa phương thiết lập những cơ chế thể chế cần thiết để học tập và phát triển bền vững Trước hết là những người quản lý, kỹ thuật trồng, chăm sóc, thu hoạch,
sơ chế nguồn dược liệu phải có kiến thức, tri thức nhất định
Tri thức chính là một động lực phát triển Để quản lý tốt nguồn tài nguyên dược liệu, thì tự thân tri thức về nền tảng nguồn tài nguyên dược liệu và tri thức về phương cách quản lý nền tảng đều phải giữ vai trò quan trọng như nhau Do đó, các nhà nghiên cứu cần phải thu thập kiến thức bản địa từ cả người dân địa phương lẫn tri thức khoa học thông qua thực hiện nghiên cứu để hiểu rõ hơn nhu cầu của người dân Theo cách này, một số công nghệ mới giúp giải quyết những vấn đề về sử dụng đất sẽ có thể được phát triển Khi đó, kết quả thu được từ nghiên cứu thực địa (on-farm) sẽ hữu ích hơn rất nhiều so với nghiên cứu trong phòng thí nghiệm (on-station)
Từ những thông tin trên đây, có thể thấy rằng Chính phủ Trung Quốc có trách
Trang 33khu vực miền núi Dược liệu là một trong những tài nguyên lâm nghiệp phi gỗ chính của Trung Quốc Tại một số hội thảo quốc gia mới đây về phát triển miền núi, việc phát triển các sản phẩm lâm nghiệp phi gỗ đã được xác định là bước tạo đột phá trong phát triển khu vực miền núi
Mây, tre và cây dược liệu đều là những nguồn tài nguyên có giá trị hỗ trợ cho công tác phát triển miền núi, vì phần lớn những loài này đều sống trên núi Phát triển mây, tre và cây dược liệu đang diễn ra khá nhanh Nguồn dược liệu là nguồn tài nguyên quý, hiếm có giá trị kinh tế cao nên mỗi vùng, miền, địa phương, người dân tham gia vào hoạt động quản lý, trồng, chăm bón, bảo tồn, sơ chế,… đều có nhận thức cao về vai trò quan trọng của nguồn dược liệu trong việc chăm sóc sức khỏe cộng đồng và phát triển kinh tế- xã hội
III Chính sách, kinh nghiệm phát triển nguồn dược liệu của Thái Lan và Malaysia
III.1 Chính sách, kinh nghiệm phát triển nguồn dược liệu của ThaiLan
III.1.1.Y học cổ truyền và tài nguyên dược liệu ở Thái Lan:
Thuốc thảo dược được sử dụng rất phổ biến tại Thái Lan và Chính phủ đã thực hiện nhiều sáng kiến để thúc đẩy sử dụng dược liệu trong chăm sóc sức khỏe và mang lại hiệu quả kinh tế
a Các trường phái Y học cổ truyền:
Y học cổ truyền Thái Lan có lịch sử bắt đầu từ năm 1182 – 1186, vào thời điểm
đó có 102 bệnh viện được xây dựng trên khắp cả nước và có khoảng 27 loài thảo dược
đã được sử dụng để chữa bệnh Hiện nay, các dịch vụ y học phương Tây chủ yếu chỉ giới hạn trong phạm vi các bệnh viện và phòng khám hiện đại tại các thành phố và thị
xã Tuy nhiên, tại các làng bản và khu vực nông thôn, phần lớn người dân vẫn sử dụng nhiều dịch vụ y cổ truyền và các phương pháp chữa bệnh chứa đựng trong đó một triết
lý tổng thể, được rút ra từ các trường phái y cổ truyền của Trung Quốc và Ấn Độ Y cổ truyền Thái Lan chủ yếu sử dụng các loại thảo dược để chữa bệnh, trong đó có tắm hơi thảo dược, thuốc thảo dược, xông hơi, chườm thảo dược nóng, massage cổ truyền,
Trang 34châm cứu và bấm huyệt Các bác sĩ y cổ truyền đóng vai trò rất quan trọng trong hệ thống chăm sóc sức khỏe quốc gia Có hơn 2000 loại thuốc thảo dược đã được đăng ký
ở Thái Lan; tổng cộng 16 bài thuốc thảo dược đã được đưa vào danh mục thuốc thiết yếu của quốc gia Một hệ thống giám sát hậu marketing dành để theo dõi những phản ứng bất lợi với thảo dược đã được thành lập vào năm 2001
b.Tài nguyên thảo dược và hương liệu:
Thái Lan có khoảng 11.000 loài thực vật có mạch (vascular plants), trong đó 10.200 loài có hoa Khoảng 1.400 loài đã được đưa vào danh mục cây thảo dược và hương liệu bản địa sử dụng trong Y Cổ truyền Thái Lan Phần lớn các loài thảo dược
và hương liệu làm nguyên liệu được sản xuất và sử dụng trong các ngành dược phẩm, nước hoa, mỹ phẩm, hóa chất thơm (aroma-chemicals) và các ngành công nghiệp liên quan khác Một vài cây dược liệu đang sử dụng trên thị trường trong nước còn được xuất khẩu dưới dạng nguyên liệu thô tự nhiên hoặc hóa chất trung gian (intermediary chemicals) sang Châu Âu, Nhật Bản và Hoa Kỳ Việc canh tác cây dược liệu phụ thuộc chủ yếu vào nhu cầu thị trường ngoài quốc gia
Kể từ khi bắt đầu khôi phục hệ thống y cổ truyền năm 1978, nhiều khía cạnh và phương pháp thực hành khám chữa bệnh bằng y cổ truyền đã và vẫn đang được khuyến khích nhằm thúc đẩy phát triển hệ thống khám chữa bệnh cho người dân Thái Lan và kết hợp với hệ thống dịch vụ y tế của quốc gia Những phương pháp này bao gồm:
+ Dược liệu và thuốc cổ truyền,
+ Massage kiểu Thái, hay còn gọi là nuad thai,
+ Chườm nóng bằng thảo dược (hot herbal compresses) và tắm thảo dược Khám chữa theo phương pháp dhammanamai gồm:
+ Kayanamai (thân thể khỏe mạnh):
+ Ăn những thức ăn có lợi cho sức khỏe, đặc biệt là các loại trái cây và
rau củ bổ dưỡng, phù hợp với thể trạng từng người, hoặc thậm chí với cả người đang ủ mầm bệnh, và sử dụng thuốc hoặc thực phẩm đông dược có khả năng điều trị chứng mất cân bằng thể trạng, giúp duy trì sức khỏe
+ Thường xuyên tập thể dục thể thao, ví dụ như tập ruesi-dud-ton – những bài
Trang 35+ Jitanamai (tâm trí minh mẫn), hay luyện tập thiền
+ Chevitanamai (lối sống lành mạnh), ví dụ: trường phái “Trung Đạo” (Middle Path) của Phật giáo
III.1.2 Quá trình phát triển dược liệu và thuốc cổ truyền trong khám chữa bệnh
Có thể nói cây dược liệu là một phần trong đời sống thường nhật của người Thái vì các loại thực phẩm địa phương ở nhiều vùng khác nhau trên khắp cả nước đều
có thành phần chủ yếu là cây gia vị, rau củ và trái cây, một vài trong số những nguyên liệu này còn được dùng làm thuốc vì có giá trị dược tính lớn Như vậy, có thể nói người Thái thường xuyên sử dụng nhiều loại thảo dược khác nhau làm thức ăn và gia
vị
Việc khuyến khích sử dụng cây dược liệu trong Chăm sóc Sức khỏe Ban đầu là nhiệm vụ mở đầu cho quá trình khôi phục Y học cổ truyền của Thái Lan và đã được định rõ trong chính sách quốc gia là kết quả của bản Tuyên ngôn Alma Ata Theo đó,
57 loài dược liệu đã được lựa chọn và chỉ định trong điều trị và khám chữa 19 nhóm triệu chứng và bệnh phổ biến Ngoài ra, một số loại trái cây, rau củ, ngũ cốc và phẩm màu tự nhiên có lợi cho sức khỏe cũng được chỉ định dùng “Dự án Cây dược liệu và Chăm sóc Sức khỏe” có sự phối hợp giữa Bộ Y tế Cộng đồng, các trường đại học và
Bộ Nông nghiệp và Hợp tác xã, do tổ chức UNICEF tài trợ trong giai đoạn 1983 –
1985 và tổ chức GTZ thuộc chính phủ Đức tài trợ trong giai đoạn 1986 – 1988, chính
là bước đệm giúp thực hiện thành công nhiệm vụ trên đây Những hoạt động chính trong dự án được UNICEF tài trợ gồm:
- Đào tạo và phổ biến thông tin về sử dụng và canh tác những loài thảo dược đã được chỉ định trong điều trị và chăm sóc sức khỏe cho từng cá nhân và cộng đồng;
- Thành lập các trung tâm thông tin về cây dược liệu và y học cổ truyền Thái Lan;
- Sản xuất và phân phối 8 bài thuốc gia truyền cho quỹ cấp thuốc và các dịch vụ
y tế ở các làng bản;
- Hỗ trợ tài chính cho 44 dự án nghiên cứu về cây dược liệu;
Trang 36- Xuất bản 3 tập Sổ tay Cây thuốc (Medicinal Plants Manual), cung cấp thông tin đầy đủ về 57 loài dược liệu và 28 loại rau quả và phẩm màu tự nhiên tốt cho sức khỏe, dành cho các đối tượng là công nhân và cộng đồng
Năm 1988, Văn phòng Ủy ban Chăm sóc Sức khỏe đã xuất bản một đầu sách khác tựa đề Cây dược liệu trong Chăm sóc Sức khỏe cho Cán bộ công nhân viên (Medicinal Plants in Primary Health Care for Healthcare Personnel), cung cấp thông tin về hơn 60 loài thảo dược, nhằm khuyến khích sử dụng những loài này trong chăm sóc sức khỏe ban đầu ở nhiều nhóm cộng đồng khác nhau
Trong giai đoạn 1986 – 1988, dưới sự hỗ trợ của tổ chức GTZ, “Dự án Cây dược liệu và Chăm sóc Sức khỏe” đã đi sâu nghiên cứu toàn chu kỳ của 5 loài thảo dược, gồm: Turmeric (nghệ) chữa chứng khó tiêu, Andrographis paniculata (xuyên tâm liên) chữa viêm hầu họng (pharyngotonsillitis) và Senna alata (muồng trâu) chữa táo bón do Sở Khoa học Y dược (Department of Medical Sciences) thực hiện; Zingiber cassumunar (gừng tía) chữa đau cơ và bong gân do Viện Nghiên cứu Khoa học và Công nghệ Thái Lan thực hiện; và Aloe vera (lô hội) chữa bỏng Ba loài thảo dược đầu tiên đã được tiến hành thử nghiệm lâm sàng nhiều lần trên cơ thể người, dưới sự giám sát của nhiều trung tâm, tại 5 bệnh viện thuộc 5 tỉnh Thái Lan Kết quả thu được đã đóng góp không nhỏ vào thúc đẩy sử dụng cả 3 loài trong Chăm sóc sức khỏe ban đầu
và đưa những chế phẩm thuốc từ 4 loài Turmeric, Andrographis paniculata, Senna alata và Zingiber cassumunar vào Danh mục Các loại Thiết yếu Quốc gia năm 1999 Bên cạnh đó, những kết quả nghiên cứu về 2 loài Turmeric và Andrographis paniculata cũng chính là cơ sở minh chứng lâm sàng để đưa 2 loài này vào các chuyên khảo về các loài dược liệu được chỉ định của WHO
Ngoài Bộ Y tế Cộng đồng, “Dự án Cây dược liệu Tự canh tác”, một trong những dự án phi chính phủ, cũng có vai trò thúc đẩy sử dụng cây dược liệu trong Chăm sóc sức khỏe ban đầu Những hoạt động trong khuôn khổ dự án bao gồm: giáo dục cho người dân về những lợi ích đối với sức khỏe của cây dược liệu thông qua tập huấn, phát hành tạp chí theo quý, xuất bản sách về cây dược liệu, và làm trung gian trao đổi kinh nghiệm giữa những người trồng thuốc
Năm 1994, trên cơ sở bằng chứng nghiên cứu mới nhất, danh mục cây dược liệu được chỉ định dùng trong Chăm sóc sức khỏe ban đầu đã được sửa đổi thành 61
Trang 37số chế phẩm dược thảo khác dưới dạng thảo mộc thuốc, nước uống thảo mộc, hoặc thực phẩm bồi bổ sức khỏe dựa trên các nguyên tắc và dự liệu nghiên cứu mới về Y cổ truyền Thái Lan
Các loại thảo mộc thuốc trong Danh mục Thuốc Quốc gia và thảo dược thô làm thuốc trong những bài thuốc gia truyền
III.1.3 Chính sách của Chính phủ Thái Lan về phát triển ngành công nghiệp dược liệu
Chính phủ Thái Lan đã nhận thức được tầm quan trọng của sản phẩm dược thảo đối với sức khỏe của người dân và đối với nền kinh tế với nhu cầu tiêu thụ trong nước
và trên thị trường toàn cầu ngày một tăng Do đó, ngày 10/04/2001, chính phủ đã quyết định thành lập “Ủy ban Phát triển Công nghiệp Sản phẩm Dược thảo” (Committee for the Development of Herbal Products Industry) do Bộ Y tế Cộng đồng đứng đầu và thành lập Ủy ban cùng các tiểu ban thực hiện “Kế hoạch Chiến lược Phát triển Công nghiệp Sản phẩm Dược thảo” (Strategic Plan for the Development of the Herbal Products Industry) trong giai đoạn 2005 – 2009, và đã được Chính phủ phê chuẩn thành Kế hoạch Quốc gia vào 29/06/2004 Kế hoạch Chiến lược được chia thành 8 giai đoạn, gồm: R&D, sản xuất nguyên liệu thô chất lượng cao, đặt tiêu chuẩn
và quản lý chất lượng, nâng cao tiêu chuẩn sản xuất, marketing, sửa đổi/ bổ sung luật, quản lý kiến thức và, cơ chế hợp tác Kế hoạch đã chỉ định một số Văn phòng Chính phủ thuộc các bộ ngành và trường đại học khác nhau chịu trách nhiệm thực hiện và hoàn thành những mục tiêu đã đề ra trong mỗi giai đoạn phát triển Sở Khoa học Y dược thuộc Bộ Y tế giữ vai trò trung tâm phối hợp hành động Trong bản Kế hoạch này, 11 loài dược liệu và một bài thuốc thảo dược đã được lựa chọn làm đối tượng R&D để phát triển thêm những chế phẩm dược thảo mới
Ngoài ra, ngày 29/06/2004, chính phủ cũng đã phê duyệt “Kế hoạch Chiến lược Phát triển Thái Lan thành Trung tâm Chăm sóc Sức khỏe chất lượng Vượt trội tại Châu Á” cho 5 năm tiếp theo, và dự kiến sẽ triển khai trong giai đoạn 2004 – 2008 Một trong những mục tiêu của Kế hoạch này là phát triển Thái Lan trở thành “Nguồn cội của Thảo dược quý Tăng cường thể lực” (The Origin of Precious Herbs for Superior Health) Kế hoạch tập trung thúc đẩy lượng tiêu thụ sản phẩm dược thảo Thái Lan trong nhóm đối tượng khách du lịch thông qua cải thiện chất lượng của chúng tại
Trang 3810 tỉnh có nhiều địa điểm du lịch lớn và có tiềm năng sản xuất dược phẩm bổ sung chế
độ ăn, thực phẩm có lợi cho sức khỏe, mỹ phẩm, các sản phẩm chăm sóc cá nhân và sản phẩm spa
Theo những chính sách chính phủ trình lên Quốc hội ngày 23/03/2005, Y học
cổ truyền Thái Lan sẽ vẫn là một phần quan trọng trong chính sách y tế quốc gia vì chính phủ sẽ tiếp tục “phát triển, chuyển giao, và bảo tồn những tinh hoa tri thức trong
y học cổ truyền, y học địa phương, y học thay thế và về cây dược liệu” Như vậy cơ quan Phát triển Y học cổ truyền và Y học thay thế Thái Lan (DTAM) phối hợp với những tổ chức liên quan khác sẽ chịu trách nhiệm thực thi chính sách này thông qua các hoạt động sau:
+ Củng cố kiến thức về y cổ truyền/ y học địa phương/ y học bổ sung và thay thế thông qua R&D,
+ Chuyển giao những kiến thức nhất định về y cổ truyền/ y học địa phương/ y học bổ sung và thay thế cho cộng đồng và nhân viên y tế thông qua đào tạo, trưng bày, triển lãm, ấn phẩm và nhiều kênh truyền thông khác,
+ Phát triển thêm nhiều chế phẩm dược thảo và các dịch vụ chăm sóc sức khỏe bằng y cổ truyền/ y học địa phương/ y học bổ sung và thay thế theo tiêu chuẩn quốc tế
+ Sản xuất thảo mộc thuốc trong ngành công nghiệp dược phẩm và trong các bệnh viện
Do việc khuyến cáo sử dụng thảo dược cho Chăm sóc sức khỏe ban đầu đã giúp nâng cao nhận thức cho cộng đồng về những lợi ích đối với sức khỏe của các loại thảo mộc Thái Lan, cùng với xu hướng “trở về thiên nhiên” trong 10 năm trở lại đây, nhu cầu sử dụng thuốc thảo dược Thái Lan đã tăng lên đáng kể Do vậy, các nhà sản xuất y học cổ truyền, Tổ chức Dược phẩm thuộc Chính phủ, cùng một số bệnh viện đã phát triển đơn lẻ từng loại thuốc thảo mộc thành dạng bào chế dễ sử dụng để đáp ứng nhu cầu cho người tiêu dùng Tổng số lượng các nhà sản xuất thuốc cổ truyền đã tăng 39,8% từ con số 616 năm 1997 lên 861 năm 2003, trong đó 279 doanh nghiệp có trụ
sở tại Bangkok và 582 doanh nghiệp ở các tỉnh Theo thông tin từ Cơ quan Quản lý Dược phẩm và Thực phẩm Hoa Kỳ (FDA), lượng tích trữ thuốc cổ truyền sản xuất ở địa phương và nhập khẩu để sử dụng trong khám chữa bệnh cho người và động vật đã đăng ký trong giai đoạn 1983 – 2004 là hơn 10.000 đơn vị; trong số đó, có 5816 bài
Trang 39Tuy nhiên, so với thuốc tân dược, trong năm 2001, tổng giá trị sản xuất và nhập khẩu thuốc cổ truyền chỉ bằng khoảng 2% so với giá trị của thuốc tân dược Một phần nguyên nhân là do hầu hết các nhà sản xuất y học cổ truyền tại Thái Lan đều hoạt động trên quy mô nhỏ và vừa, chỉ có một số rất nhỏ doanh nghiệp phát triển thành công nghiệp quy mô lớn Do vậy, cả khu vực công lẫn tư nhân sẽ vẫn tiếp tục phải nỗ lực nhiều hơn để thúc đẩy được ngành công nghiệp này phát triển và tăng lượng cầu tiêu thụ sản phẩm cho ngành
Về công tác sản xuất thuốc thảo mộc tại các bệnh viện, năm 2000 có 168 bệnh viện cộng đồng, 22 trung tâm y tế và 7 bệnh viện đa khoa cấp vùng đã tiến hành sản xuất thuốc thảo mộc và một số chế phẩm dược thảo khác để phục vụ cho nhu cầu sử dụng của cộng đồng và các bệnh viện lân cận trong khu vực Song song với đó, các bệnh viện trên còn chuẩn bị những bài thuốc thảo chỉ gồm 1 loại thảo dược từ hơn 35 cây dược liệu dưới dạng nhiều bào chế khác nhau để phục vụ nhu cầu sử dụng trong và ngoài nước Trong một số trường hợp, nguyên liệu thô dùng trong sản xuất là do người dân ở các vùng lân cận trồng và xử lý theo nguyên tắc hợp đồng sản xuất (contract farming), theo các thông số do bệnh viện chỉ định Do vậy, việc sản xuất thuốc thảo mộc không chỉ tạo ra thu nhập cho bệnh viện, mà còn giúp tạo công ăn việc làm, thu nhập và sự tự chủ trong chăm sóc sức khỏe đối với cộng đồng
III.2 Chính sách, kinh nghiệm phát triển nguồn dược liệu của Malaysia:
Malaysia đã xây dựng một chính sách vừa cho phép bảo tồn và đa dạng sinh học, vừa duy trì đà phát triển kinh tế cho đất nước Trong thời gian diễn ra Hội nghị Thượng đỉnh về Trái Đất tại Rio (Rio Earth Summit) năm 1992, đại diện của Malaysia đã ủng hộ mạnh mẽ sự gia tăng hỗ trợ trở lại về mặt kinh tế cho phát triển các tài nguyên di truyền và sinh học, cũng như tri thức về y cổ truyền Tiềm năng phát triển tài nguyên di truyền mới từ hệ thực vật và các trường phái y cổ truyền đã dẫn đến sự xuất hiện của hàng loạt các công trình nghiên cứu về công nghệ sinh học do chính phủ hỗ trợ và phát triển ngành công nghiệp theo hướng thương mại hóa trong nước
Trang 40III.2.1 Hướng tới xây dựng khung pháp lý:
Từ năm 1992, toàn bộ sản phẩm thảo dược dành cho nhu cầu tiêu dùng hàng ngày của người dân, cho thị trường trong nước và thị trường nhập khẩu, phải được đăng ký qua Bộ Y tế Malaysia để đảm bảo chất lượng, độ an toàn,
và hiệu quả của chúng Cơ quan Kiểm soát Thuốc (Drug Control Authority) thuộc Bộ Y tế Malaysia có trách nhiệm cấp giấy phép cho nhà sản xuất, nhà nhập khẩu, người bán buôn và các nhà cung cấp khác Các chỉ dẫn của Tổ chức Y tế Thế giới chính là nền tảng xây dựng nên Bộ Luật về Thực hành Sản xuất tốt (Code of Good Manufacturing Practices) của Malaysia Những quy định pháp lý khác, với đối tượng là thuốc thảo dược, bao gồm: Luật về Thuốc (Medicines Act) (ban hành năm 1956, sửa đổi năm 1983, quy định về quảng cáo và kinh doanh thuốc), Luật kiểm soát các loại Thuốc Độc (Poisons Act) năm 1952 (sửa đổi năm 1989), Luật về Kinh doanh Thuốc (Drug Sales Act) năm 1952 (sửa đổi năm 1989), và Luật về Các loài Hoang dã (Wild Species Act) năm 1972 Luật Kiểm soát Thuốc nghiêm cấm mọi hình thức quảng cáo công dụng chữa và ngăn ngừa một số bệnh của các sản phẩm thuốc cổ truyền Tuy nhiên, những công dụng truyền thống liên quan đến chức năng, như tăng cường sức khỏe và mang lại sức sống, lại được phép công bố Ngoài ra, những sản phẩm thảo dược đã qua kiểm nghiệm lâm sàng về độ an toàn và hiệu quả cũng được phép công bố công dụng
Ủy ban Khoa học về Chuyên khảo Dược liệu Malaysia (Scientific Committee of Malaysian Herbal Monographs) đang phát triển một tiêu thức tiêu chuẩn để kiểm soát chất lượng và làm tiêu chuẩn nhận dạng Tập đầu tiên gồm 20 chuyên khảo đã được xuất bản năm 1999 Năm 2001, Viện Nghiên cứu Y khoa thuộc Viện Y tế Quốc gia, Bộ Y tế Malaysia, cũng thành lập Trung tâm Nghiên cứu về Y học Thảo dược (Herbal Medicine Research Centre) Trung tâm có nhiệm vụ chứng minh độ an toàn và hiệu quả của thuốc thảo dược một cách khoa học, chuẩn hóa các sản phẩm nguồn gốc thảo dược, phối hợp nghiên cứu về thuốc thảo dược ở Malaysia và hỗ trợ hoạt động cho các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực, và soạn thảo Từ điển Dược thảo Malaysia Trung tâm Nghiên cứu về Y học Thảo dược gồm các đơn vị Thông tin, Thử