Việc đổi mới phương pháp dạy học theo các định hướng trên đòi hỏi phải thực hiện được chức năng mới của giáo viên với vai trò là người tổ chức, kiểm tra, định hướng hoạt động của học sin
Trang 1SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP DỰ ÁN VÀO DẠY HỌC ĐỊA LÝ 9, THCS
2 Vai trò của giáo viên và học sinh trong phương pháp dạy học dự án 9
3 So sánh phương pháp dạy học dự án và phương pháp truyền thống 10
4 Ưu điểm và nhược điểm của dạy học theo dự án 10
Trang 2SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP DỰ ÁN VÀO DẠY HỌC ĐỊA LÝ 9, THCS
Quyết định số 16/2006/QĐ – BGDĐT ngày 5/5/2006 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào
tạo đã nêu rõ: “Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc trưng môn học, đặc điểm đối tượng học sinh, điều kiện của từng lớp học; bồi dưỡng cho học sinh phương pháp tự học, khả năng hợp tác; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú và trách nhiệm học tập cho học sinh”
Việc đổi mới phương pháp dạy học theo các định hướng trên đòi hỏi phải thực hiện được chức năng mới của giáo viên với vai trò là người tổ chức, kiểm tra, định hướng hoạt động của học sinh, dạy học sinh phương pháp tự học, tự nghiên cứu
Học sinh với vai trò là người chủ động thảo luận, tìm tòi, tích cực lĩnh hội kiến thức và giải quyết những vấn đề đặt ra
Việc học chỉ thực sự có ý nghĩa khi người học có được động cơ và hứng thú trong học tập Một trong những yếu tố quan trọng để duy trì sự hứng thú đó là làm cho các kiến thức gắn với thực tiễn của cuộc sống, làm cho quá trình học tập phải là quá trình tự khám phá của người học Trong các phương pháp dạy học theo hướng tích cực có một phương pháp rất có tiềm năng và có thể áp dụng được rất nhiều yêu cầu của việc đổi mới phương pháp dạy học, đặc biệt lại rất phù hợp với nội dung giảng dạy của môn Địa lý – đó là phương pháp dạy học dự án (Project Based Learning, PBL) là một trong các phương pháp rất đáng được các giáo viên quan tâm và vận dụng trong quá trình giảng dạy của mình
Bài viết này xin trình bày hiệu quả của việc “Vận dụng phương pháp dự án vào dạy học Địa lý 9, THCS nhằm phát huy tính tích cực, tự lực và kỹ năng làm việc theo nhóm của học sinh” mà tôi đã áp dụng trong thời gian vừa qua!
Trang 3II THỰC TRẠNG:
- Những tồn tại, hạn chế cần khắc phục:
Trong thời gian qua, việc dạy và học bộ môn Địa lí 9 ở Trường THCS Tân Xuân đã đạt nhiều kết quả đáng khích lệ so với các trường trong huyện Tuy nhiên, còn một số hạn chế cần phải khắc phục như: nhiều em còn thụ động, chưa có phương pháp tự học trong việc học tập bộ môn, chỉ dành thời gian học ở nhà những nội dung giáo viên ghi chép, làm một vài bài tập được giao mà ít khi kết hợp đọc bài ghi ở sách giáo khoa, ít khi chuẩn bị bài mới, suy nghĩ những câu hỏi liên quan đến bài học việc thực hành và thảo luận nhóm để giải quyết các bài tập chưa thực sự hiệu quả, nhiều em chưa chủ động tìm hiểu kiến thức chỉ trông chờ vào các nhóm trưởng hay những bạn học khá, kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, trình bày ý kiến trước tập thể còn hạn chế dẫn đến các em chưa có hứng thú với môn học
- Hiện trạng và kết quả mong muốn:
Từ những hạn chế nêu trên, trong quá trình giảng dạy tôi luôn tìm hiểu và vận dụng những phương pháp dạy học tích cực vào môn học như: vận dụng kỹ năng khai thác kênh hình sách giáo khoa, thiết kế và sử dụng bản đồ tư duy, phương pháp thảo luận nhóm nhằm giúp các em cải thiện được năng lực tự học, khả năng hợp tác, nắm vững kiến thức, kỹ năng môn học Tuy nhiên, việc liên hệ nội dung học tập, nội dung nghiên cứu với vần đề thực tiễn, đặc biệt là những vấn đề của địa phương thuộc địa bàn học sinh đang sinh sống và học tập, những kỹ năng học sinh cần có trong thế kỷ 21 thì việc vận dụng phương pháp dạy học dự án là một trong những phương pháp đáp ứng được những yêu cầu trên
Trang 4III GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ:
1 Cơ sở lí luận:
1.1 Khái quát về phương pháp dạy học dự án
Thuật ngữ dự án - tiếng Anh là “Project”, có nguồn gốc từ tiếng La tinh Proicere – và ngày nay được hiểu theo nghĩa phổ thông là một đề án, một dự thảo hay một kế hoạch, cần được thực hiện nhằm đạt mục đích đề ra Khái niệm dự án được sử dụng phổ biến trong hầu hết các lĩnh vực kinh tế - xã hội: trong sản xuất, kinh doanh, trong nghiên cứu khoa học cũng như trong quản lí xã hội… Khái niệm dự án đã đi từ lĩnh vực kinh tế - xã hội vào lĩnh vực giáo dục – đào tạo không chỉ với ý nghĩa là các dự án phát triển giáo dục mà còn được sử dụng như một hình thức hay phương pháp dạy học
Phương pháp dự án (The Project Method) còn được gọi là Dạy học dự án /Dạy học theo
dự án/Dạy học dựa trên dự án – Project Based Learning được hiểu như một PP dạy học hướng học sinh đến việc tiếp thu tri thức và kĩ năng thông qua quá trình giải quyết một bài tập tình huống, được gọi là một dự án (project) mô phỏng môi trường các em đang sống và sinh hoạt
Phương pháp dự án là một PP phức hợp trong đó dưới sự hướng dẫn của giáo viên (GV), người học sẽ thực hiện một nhiệm vụ phức hợp, có sự kết hợp giữa lí thuyết và thực tiễn, thực hành Người học được yêu cầu thực hiện nhiệm vụ này với sự tự lực cao trong toàn
bộ quá trình học tập, từ việc xác định mục đích, lập kế hoạch, đến việc thực hiện dự án, kiểm tra, điều chỉnh, đánh giá quá trình và kết quả thực hiện
Trong cách học theo dự án, HS học tập theo nhóm để giải quyết những vấn đề có thật trong cuộc sống (authentic), những vấn đề ấy gắn với chương trình học (curriculum – based) và có phạm vi kiến thức liên môn (interdisciplinary) HS sẽ hóa thân vào các vai thuộc các ngành nghề khác nhau trong cuộc sống, tham gia giải quyết những vấn đề có thật thuộc lĩnh vực các ngành nghề ấy GV định hướng, gợi ý các vai có nội dung gắn với nội dung bài học cho HS và hỗ trợ HS hoàn thành tốt các vai trò ấy GV tạo điều kiện và hướng dẫn HS sử dụng các nguồn tư liệu như: sách giáo khoa; internet; CD hoặc DVD; sách, báo … và thậm chí, trao đổi với các chuyên gia Dự án có thể chỉ bó hẹp trong phạm
vi lớp học, trường học trong 1 tiết, 1 tuần hoặc 2 tuần Đồng thời dự án cũng có thể vượt
Trang 5ra ngoài phạm vi lớp học, trường học và kéo dài trong một tháng, một học kì hoặc cả khóa
học
1.2 Đặc điểm cơ bản của dạy học dự án
- Tính phức hợp của nhiệm vụ học tập: Nhiệm vụ học tập trong dạy học theo dự án
không giới hạn trong một đơn vị kiến thức của mỗi bài trong một môn học mà có thể xuyên suốt giữa các bài, giữa các chương trong một giáo trình, giữa các giáo trình trong một bậc học và giữa các môn học với nhau Ví dụ như khi thực hiện một dự án Địa lí về Phát triển bền vững kinh tế biển đảo Việt Nam –, HS lớp 9 có thể vận dụng những kinh nghiệm, kiến thức Địa lí đã được học về Vùng biển Việt Nam (lớp 8), nghiên cứu nội dung về Phát triển tổng hợp kinh tế và bảo vệ tài nguyên môi trường biển, đảo (bài 38, 39
và 40 – lớp 9)…đồng thời có thể liên kết kiến thức Lịch sử, Hóa học, Sinh học, … để giải quyết vấn đề
- Sự kết hợp giữa lí thuyết và thực hành: Trọng tâm của dạy học theo dự án là tạo điều
kiện cho HS vận dụng các tri thức lí thuyết vào hoạt động thực tiễn thông qua đó kiểm chứng và mở rộng kiến thức lí thuyết đồng thời bổ sung kinh nghiệm thực tiễn Vì vậy, HS
có điều kiện để thực hành những lí thuyết đã học và thông qua kết quả đạt được trong hoạt động thực tiễn, HS có thể rút ra được những nhận định, những kết luận của vấn đề nghiên cứu Trong dự án Phát triển bền vững kinh tế biển đảo như đã đề cập ở trên, trên cơ sở tư liệu thu thập được, HS thường xuyên vận dụng các kiến thức về cách đọc bảng Số liệu thống kê, Sơ đồ, Biểu đồ, Bản đồ … để phân tích, rút ra được những nhận định về tình hình phát triển các ngành kinh tế biển ở một vùng trong nước hoặc của một địa phương cụ thể Ngoài ra HS còn có thể chuyển kết quả nghiên cứu của mình thành biểu đồ, bản đồ trong các sản phẩm cuối cùng Như vậy kĩ năng Địa lí của HS thường xuyên được rèn luyện và phát triển
- Tạo ra sản phẩm: Sản phẩm là yêu cầu bắt buộc khi kết thúc các dự án Sản phẩm
được tạo ra trong quá trình HS thực hiện dự án Đó là kết quả của hoạt động và những kết quả ấy có thể công bố được Sản phẩm có thể là những đồ vật cụ thể, chẳng hạn: một ấn phẩm, các bài trình diễn Powerpoint tìm hiểu về tiềm năng, tình hình phát triển, những khó khăn và giải pháp phát triển bền vững các ngành kinh tế biển đảo theo lãnh thổ…trong dự án Địa lí về Phát triển bền vững kinh tế biển đảo Việt Nam; cũng có thể là những sản phẩm phi vật thể như thực hiện một tiểu phẩm kêu gọi bảo vệ tài nguyên, môi trường biển đảo
Trang 6- Tính tự tổ chức và tự chịu trách nhiệm của người học: Đây là một điểm đặc trưng
của phương pháp dự án, thể hiện xuyên suốt quan điểm dạy học hướng vào người học Trong quá trình thực hiện dự án, HS cần được tạo điều kiện để “tự định hướng” trong tất
cả các giai đoạn, đặc biệt trong việc xây dựng kế hoạch và thực hiện dự án Trong chừng mực nhất định, HS còn được tham gia xác định mục đích dự án và đánh giá kết quả của dự
án HS cần được rèn luyện kĩ năng “tự đánh giá” - Kĩ năng “Siêu nhận thức”- trong suốt quá trình làm dự án để hoàn thiện sản phẩm Từ đó, cùng với giáo viên, các nhóm HS có thể tham gia đánh giá sản phẩm của nhau, đặc biệt trong giai đoạn kết thúc dự án – cụ thể
ở thời điểm các nhóm trình bày sản phẩm
- Dạy học dự án gắn liền với hoàn cảnh: Các đề tài của dự án cần phải xuất phát từ
thực tế, từ hoàn cảnh gần gũi với cuộc sống, đó là những vấn đề cần phải giải quyết và phù hợp với điều kiện và khả năng của HS Trở lại ví dụ về dự án Phát triển bền vững kinh tế biển đảo Việt Nam, đề tài này cần gắn liền với tình hình thực tiễn của từng vùng Chẳng hạn HS tìm hiểu về tiềm năng, hiện trạng và những khó khăn của ngành du lịch biển đảo vùng Duyên hải Nam Trung Bộ, ngành Dầu khí vùng Đông Nam Bộ…; trên cơ sở đó và trong chừng mực nhất định, đề xuất giải pháp để phát triển bền vững các ngành kinh tế biển theo lãnh thổ
- Định hướng vào hứng thú của học sinh: Xuất phát từ những vấn đề thực tiễn, đề tài
của dự án tạo được hứng thú và giúp phát triển động cơ học tập của HS Hứng thú của HS cũng cần phải được duy trì và phát triển trong suốt quá trình thực hiện dự án Vì vậy, vai trò theo dõi, giám sát, hỗ trợ đúng lúc và đúng thời điểm của GV là rất quan trọng
- Dự án có ý nghĩa thực tiễn xã hội: Việc thực hiện các dự án có thể mang lại sự thay
đổi có ý nghĩa trong đời sống xã hội và trong bản thân của mỗi HS, chẳng hạn với dự án : Lao động và việc làm (Đia lí 9), sau khi tìm hiểu nhu cầu về lao động của địa phương trong mối tương quan với nhu cầu lao động của cả nước và trên thế giới; trên cơ sở xác định sở trường, sự hứng thú, niềm đam mê và điều kiện của bản thân, HS có thể có những hướng đi, những quyết định đúng đắn trong việc lựa chọn nghề nghiệp sau khi tốt nghiệp phổ thông, góp phần nâng cao năng suất lao động xã hội, …
- Việc học tập mang tính xã hội: Tổ chức cho HS làm việc nhóm là hình thức phổ biến
trong dạy học dự án Trong quá trình làm việc nhóm, các cá nhân trong nhóm tương tác với nhau để cùng thực hiện và hoàn thiện sản phẩm của nhóm Đồng thời giữa các nhóm cũng thường xuyên chia sẻ, đánh giá, đóng góp ý kiến cho nhau để nâng cao chất lượng
Trang 7sản phẩm GV, với vai trò người tổ chức, chỉ đạo, tư vấn, hỗ trợ, tạo điều kiện, … sẽ thường xuyên phối hợp nhịp nhàng với nhóm Ngoài ra, các nhóm còn có thể liên kết với các GV khác trong nhà trường, với các chuyên gia trong xã hội về lĩnh vực nhóm đang tìm hiểu để nhận được sự tư vấn chuyên nghiệp và kịp thời, … Dễ dàng nhận thấy rằng tính chất “xã hội” của học tập dự án được hình thành và phát triển, qua đó HS được rèn ý thức
và PP cùng cộng tác trong lao động
Tính chất xã hội còn được thể hiện rõ qua việc HS “đóng vai” trong quá trình thực hiện
dự án HS phải “hóa thân” vào các vai có thật trong cuộc sống Trong dự án Phát triển bền vững kinh tế biển đảo Việt Nam, HS có thể vào vai các thành viên của Viện nghiên cứu dầu khí việt nam, Viện nghiên cứu phát triển du lịch, …Việc đóng vai ngoài ý nghĩa giúp cho HS nghiên cứu sâu và sát với thực tiễn hơn một vấn đề học tập, còn giúp HS bước đầu tiếp cận với những công việc thật ngoài xã hội, qua đó góp phần giúp HS định hướng nghề nghiệp
Ngoài ra, tính chất xã hội trong dạy theo dự án còn thể hiện ở khả năng tận dụng những thành tựu mới nhất về khoa học và công nghệ trong xã hội, đặc biệt những thành tựu về CNTT CNTT là nguồn lực hỗ trợ tối quan trọng, tối cần thiết trong suốt quá trình thực hiện dự án Có thể nói, khó lòng hình dung, việc thiết kế và thực hiện các dự án dạy học trong thế kỉ 21 lại tách biệt hoàn toàn với CNTT, đặc biệt là Internet
1.3 Khái quát về quá trình phát triển của phương pháp dự án
Mặc dù vẫn chưa có câu trả lời thật chính xác về tác giả và thời điểm ra đời của thuật ngữ
PP dự án, nhưng các nghiên cứu trước đây chỉ ra rằng khái niệm dự án đã được sử dụng từ lâu trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo trên thế giới, đặc biệt ở các nước phát triển, bắt đầu
từ nước Pháp và Ý (thế kỉ 17, 18), từ đó lan rộng ở Đức và một số nước châu Âu và ở Mỹ (khoảng giữa thế kỉ 19) PP dự án được ứng dụng khá rộng và khá hiệu quả ở các nước phương Tây từ cuối thế kỉ 19 và về sau ngày càng phát triển Cụ thể, ở Đức giai đoạn 1895 – 1933 các nhà sư phạm đã phát triển quan điểm dạy học mới liên quan đến ứng dụng PP
dự án ở trường đại học và phổ thông Họ cho rằng cần phải thực hiện trên thực tế cách học tập mới với điểm trọng tâm là thực hiện các dự án Các nhà sư phạm nổi tiếng lúc bấy giờ: Georg Kochenteiner, Hugo Gaudig, Berthold Otto, Petersen là những nhà tiên phong về
PP dự án Tại Mỹ, dạy học dự án đã được vận dụng ở Học viện kĩ thuật Massachuset, sinh viên tại học viện phải thực hiện các công việc gắn với thực tiễn như: lập kế hoạch, nghiên cứu nhu cầu thị trường, tìm hiểu điều kiện thực tế, … để quyết định các mẫu thiết kế máy
Trang 8móc chất lượng tốt nhằm đáp ứng được yêu cầu của người tiêu dùng Vào những năm đầu của thế kỉ 20, các nhà sư phạm Mỹ đã có nhiều đóng góp to lớn cho việc xây dựng cơ sở
lý luận của phương pháp dự án (The Project Method) trong đó nổi bật lên vai trò của John Dewey (1859 – 1952), được xem là cha đẻ của những bài học theo phương pháp dự án (PPDA) Châm ngôn hành động của ông là “Learning by doing” - học thông qua làm thực
tế Năm 1918, Kelpatrick (1871 – 1965), “hậu duệ” xuất sắc của John Dewey đã viết bài báo với tiêu đề “Phương pháp dự án” gây tiếng vang trong các cơ sở đào tạo giáo viên và các trường học Ông và các nhà nghiên cứu của trường đại học Colombia đã có những đóng góp lớn để truyền bá phương pháp này trong các giờ học, qua các hội nghị Kelpatrich cho rằng dự án là một hoạt động có mục đích cụ thể, có cam kết với tất cả những người thực hiện và diễn ra trong môi trường xã hội Makarenko, nhà sư phạm xuất sắc của Nga (Liên xô cũ) cũng đã ứng dụng thành công tư tưởng của PPDA trong việc giáo dục các thanh thiếu niên hư hỏng trong các trường đặc biệt của Nga vào đầu thế kỉ
20 Cuối thế kỉ 20 xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu về dự án và PP dự án tại Áo Năm 1984, Viện sư phạm ở Viên đã thành lập một trung tâm về dự án với mục đích khuyến khích các giáo viên áp dụng PP dự án và động viên học sinh tích cực tham gia thực hiện các dự án Hiện nay, ở CHLB Đức, có đến hàng trăm các công bố nghiên cứu lí luận và thực tiễn về dạy học dự án hàng năm Và trường ĐH Roskilde (RUC) của Đan Mạch hiện đang dành trên 50% thời gian đào tạo cho dạy học theo dự án
Như vậy, khái niệm dự án và PP dự án đã xuất hiện từ rất lâu và ngày một phổ biến trong lĩnh vực dạy học và đào tạo từ phổ thông đến đại học ở các nước phát triển trên TG Các nhà sư phạm ở châu Âu và Mỹ đã có công rất lớn trong việc sáng tạo, xây dựng và ứng dụng lí thuyết PP dự án chủ yếu trong các trường đại học và tại các nước phát triển Tuy nhiên, việc phổ biến khái niệm PPDA và tạo điều kiện ứng dụng nó rộng rãi trên phạm vi toàn cầu lại thuộc về công lao của dự án giáo dục Việt Bỉ, các tập đoàn Intel và Microsoft,
… Đặc biệt là tập đoàn Intel với chương trình Intel Teach….(Chương trình dạy học của Intel…) trong đó PP dạy học theo dự án (Project Based Learning - PBL) hoặc PP dạy học tiếp cận dự án (Project Based Approaching - PBA) được dành một vị trí thích đáng bên cạnh việc tạo điều kiện tối đa cho giáo viên(GV), học sinh (HS), sinh viên (SV) hình thành, rèn luyện, phát triển kĩ năng công nghệ thông tin (CNTT) và ứng dụng CNTT trong dạy học Có thể nói, chương trình Intel Teach …đã góp phần “hiện đại hóa” PPDA, giúp cho GV, HS, SV trên cơ sở tận dụng được những thành tựu mới của CNTT thiết kế và
Trang 9thực hiện các “dự án” học tập đa dạng, phong phú, hấp dẫn, linh hoạt thông qua đó các kĩ năng “mềm”, kĩ năng thế kỉ 21 được hình thành và phát triển một cách tự nhiên
2 Vai trò của giáo viên và học sinh trong phương pháp dạy học dự án:
2.1 Vai trò của học sinh:
- Học sinh quyết định cách tiếp cận vấn đề và các hoạt động cần phải tiến hành để giải quyết vấn đề
- Chính học sinh là người thu thập dữ liệu từ nhiều nguồn khác nhau, rồi tổng hợp (synthesize), phân tích (analyze) và tích lũy kiến thức từ quá trình làm việc của các em
- Bằng cách này mỗi bài học đều thật sự hấp dẫn đối với học sinh vì vấn đề mà họ đang giải quyết là vấn đề có thật trong đời sống, và việc giải quyết vấn đề đòi hỏi những kỹ năng của “người lớn” như sự cộng tác và diễn giải
- Cuối cùng, chính HS trình bày kiến thức mới mà họ đã tích lũy thông qua dự án và được đánh giá dựa trên những gì đã thu thập được và tính khúc chiết và hợp lý trong cách thức trình bày của các em
2.2 Vai trò của giáo viên:
- Trong suốt quá trình dạy học, vai trò của giáo viên là định hướng, tổ chức, tư vấn, giám sát, giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho người học thực hiện dự án và thông qua
đó phát triển các năng lực của bản thân
- Giáo viên tạo điều kiện cho người học lựa chọn và thể hiện vai trò phù hợp với nội dung chủ đề học; hỗ trợ người học hoàn thành vai trò đó
- Tạo môi trường học tập, chỉ dẫn, gợi lên những nghi vấn và thúc đẩy sự hiểu biết sâu hơn của người học
- Hướng dẫn người học tập trung vào tìm hiểu, giải quyết vấn đề và thực hiện những nhiệm vụ cụ thể của dự án
- Cho phép và khuyến khích người học tự kiến tạo nên kiến thức của họ
Trang 103 So sánh phương pháp dạy học dự án và phương pháp truyền thống
Dạy học truyền thống Dạy học dự án
Mục tiêu
Học sinh thuộc và nhớ kiến thức, biết vận dụng kiến thức để giải bài tập
Học sinh hiểu kiến thức và biết vận dụng kiến thức để giải quyết những nhiệm vụ thực tiễn
Do sách giáo khoa và giáo viên quyết định
Do học sinh hoặc giáo viên đề xuất trên cơ sở năng lực và hứng thú của học sinh
Người học là trung tâm, thực hiện các nhiệm vụ dưới sự hỗ trợ của giáo viên để xây dựng kiến thức
Có sẵn và do giáo viên lựa chọn Được lựa chọn và xây dựng bởi
học sinh trong quá trình dạy học
Sản phẩm
Không có sản phẩm hoặc nếu có thì sẽ có sau quá trình học và học sinh không có dự định trước về sản phẩm
Học sinh hình dung trước về sản phẩm và hiện thực hoá nó trong quá trình học
Học nhóm Rất ít hoặc nếu có thì cũng do giáo
viên chia nhóm
Học sinh tự thành lập nhóm
Đánh giá
Sự đánh giá chỉ tập trung đến kết quả cuối cùng
Là việc của giáo viên
Sự đánh giá được thực hiện trong suốt quá trình học tập
Bao gồm đánh giá của giáo viên, tự đánh giá của học sinh và đánh lẫn nhau giữa các học sinh
4 Ưu điểm và nhược điểm của dạy học theo dự án:
Trang 11- Kích thích động cơ, hứng thú học tập của người học;
- Phát huy tính tự lực, tính trách nhiệm;
- Phát triển khả năng sáng tạo;
- Rèn luyện năng lực giải quyết những vấn đề phức hợp;
- Rèn luyện tính bền bỉ, kiên nhẫn;
- Rèn luyện năng lực cộng tác làm việc;
- Phát triển năng lực đánh giá
- DHTDA đòi hỏi phương tiện vật chất và tài chính phù hợp
5 Quy trình và thời gian thực hiện:
5.1.Qui trình của dạy học theo dự án:
Nhìn chung, dạy học theo dự án có thể được triển khai theo các bước sau:
- Xác định vấn đề trong thực tiễn: Trên cơ sở nội dung chương trình học, GV gợi ý và
tạo điều kiện cho HS phát hiện những vấn đề có liên quan đến nội dung môn học trong cuộc sống Nhiệm vụ dự án cần chứa đựng những vấn đề phù hợp với trình độ và khả năng của người học Ví dụ: Với bài 4: Lao động và việc làm Chất lượng cuộc sống – Địa lí 9,
GV có thể yêu cầu HS tìm hiểu các vấn đề về nguồn lao động và nhu cầu lao động, vấn đề việc làm và hướng giải quyết việc làm ở một địa phương cụ thể, …
- Phát hiện dự án: Trên cơ sở những vấn đề đã phát hiện trong thực tiễn, GV gợi ý,
hướng dẫn HS xác định dự án có thể thực hiện, cụ thể là xác định tên đề tài, và dự kiến các vai cần đóng trong dự án GV cũng có thể giới thiệu một số đề tài để HS lựa chọn
- Xác định mục tiêu dự án: Dựa vào tên đề tài và các vai có liên quan trong xã hội, GV
hỗ trợ HS xác định mục tiêu của dự án Mục tiêu dự án phải thể hiện mục tiêu chương trình nội dung môn học, liên quan đến hoàn cảnh thực tiễn của xã hội đồng thời phát triển các kĩ năng của thế kỉ 21
Các khâu xác định vấn đề thực tế, phát hiện đề tài và xác định mục tiêu dự án có thể do
GV thực hiện Tuy nhiên với quan điểm dạy học hướng vào người học, tạo điều kiện cho
Trang 12HS cùng tham gia sẽ tốt hơn Dù thực hiện theo cách nào thì GV vẫn luôn là người “cầm chịch” trong các giai đoạn đầu tiên; luôn chỉ đạo, điều chỉnh kịp thời và đúng lúc
- Lập kế hoạch thực hiện dự án: GV định hướng cho HS lập kế hoạch thực hiện dự án
Phân nhóm và xác định nhóm trưởng Các nhóm xác định những công việc cần làm, tiến trình thực hiện, nguồn tài nguyên cần khai thác, trên cơ sở đó phân công công việc cụ thể cho từng thành viên trong nhóm Đặc biệt cần khuyến khích tính tự lực của HS trong giai đoạn lập kế hoạch
- Hiện thực hóa/triển khai dự án: Dưới sự đôn đốc, chỉ đạo, hỗ trợ của GV các thành
viên thực hiện công việc theo kế hoạch đã đề ra cho nhóm và cá nhân Trong giai đoạn này
HS thực hiện song song các hoạt động trí tuệ và thực hành Hai hoạt động này được tiến hành đồng thời hoặc xen kẻ qua lại lẫn nhau Trong quá trình đó, thông tin mới được tạo ra
và sản phẩm dự án dần hoàn thiện
- Trình bày và đánh giá kết quả dự án: GV tổ chức cho HS trình bày kết quả dự án
Dự án thường được trình bày giữa các nhóm HS trong một lớp Dự án có thể được giới thiệu trong trường học, với cha mẹ HS Dự án cũng có thể được giới thiệu rộng rãi trong
xã hội qua các phương tiện thông tin Song song với việc trình bày sản phẩm, thường trong phạm vi một lớp học, GV và HS cùng đánh giá quá trình thực hiện cũng như kết quả
và kinh nghiệm đạt được Từ đó rút ra kết luận và định hướng cho các dự án tiếp theo Việc phân chia các giai đoạn trên đây chỉ có ý nghĩa tương đối Trong thực tế chúng có thể xen kẽ và thâm nhập lẫn nhau Cũng tương tự như vậy với các đặc điểm của dạy học
dự án, chúng có mối quan hệ chặt chẽ, mỗi đặc điểm có thể thể hiện trong tất cả các giai đoạn; hoặc trong một giai đoạn, có thể chứa đựng nhiều đặc điểm Cũng như các PPDH khác, PPDA không phải là một PPDH vạn năng, chỉ thích hợp với một số đề tài nhất định
Vì vậy việc vận dụng cần phải hết sức linh hoạt Không nhất thiết mọi đặc điểm của dự án đều phải và đều có thể thực hiện mà áp dụng tùy từng đề tài, tùy hoàn cảnh cụ thể
5.2 Thời gian thực hiện:
Dự án dạy học: “Phát triển bền vững kinh tế biển – đảo Việt Nam” ở Trường THCS Tân Xuân
Trong dạy học nội dung: Phát triển tổng hợp kinh tế và bảo vệ tài nguyên môi trường
biển, đảo (Bài 38, 39 và 40 Địa lý 9) chúng tôi đã triển khai dự án “Phát triển bền vững kinh tế biển – đảo Việt Nam” cho 4 nhóm học sinh từ 2 lớp 9/6 và 9/9 lựa chọn để